Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tài sản sinh kế con người, tự nhiên, xã hội, tài chính và vật chất, các hoạt động sử dụng tài nguyên của cộng đồng và các chính sách,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
**********************
TÔN THẤT MINH
PHÂN TÍCH TÌNH TRẠNG SINH KẾ VÀ SỰ PHỤ THUỘC
VÀO RỪNG CỦA NGƯỜI DÂN XÃ ĐA NHIM
TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Trang 2PHÂN TÍCH TÌNH TRẠNG SINH KẾ VÀ SỰ PHỤ THUỘC
VÀO RỪNG CỦA NGƯỜI DÂN XÃ ĐA NHIM
TỈNH LÂM ĐỒNG
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Hướng dẫn khoa học: TS PHAN TRIỀU GIANG
Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 3TRANG CHUẨN Y
PHÂN TÍCH TÌNH TRẠNG SINH KẾ VÀ SỰ PHỤ THUỘC VÀO RỪNG
CỦA NGƯỜI DÂN XÃ ĐA NHIM, TỈNH LÂM ĐỒNG
Đại học Nông Lâm TP HCM
3 Phản biện 1: TS NGUYỄN NGỌC THÙY
Đại học Nông Lâm TP HCM
4 Phản biện 2: TS LA VĨNH HẢI HÀ
Đại học Nông Lâm TP HCM
5 Ủy viên: TS ĐẶNG MINH PHƯƠNG (vắng mặt)
Đại học Nông Lâm TP HCM
Trang 4Quá trình công tác (cơ quan công tác và chức vụ theo thời gian):
Năm 1985 - 2005: cán bộ kỹ thuật Xí nghiệp giống lâm nghiệp vùng Tây Nguyên Năm 2005 - tháng 8 năm 2011: chuyên viên Phòng kế hoạch và hợp tác quốc tế, Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng
Tháng 9 năm 2011 đến nay: Giám đốc Trung tâm nghiên cứu quốc tế rừng nhiệt đới, Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng
Tháng 11 năm 2009 theo học Cao học ngành lâm học tại Đại học Nông Lâm, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Điạ chỉ liên lạc: số 2 hẻm 1/6 đường Lữ Gia, phường 9, Đà Lạt
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Ký tên
TÔN THẤT MINH
Trang 6LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành cám ơn:
- Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
- Ban Giám Hiệu Trung Tâm đào tạo bồi dưỡng tại chức Tỉnh Lâm Đồng
- Quí thầy cô của Trường Đại học Nông Lâm và khoa Lâm nghiệp đã tận tình truyền đạt kiến thức cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập của lớp Cao học Lâm nghiệp K.2009 Lâm Đồng
- Tiến sĩ Phan Triều Giang, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
- Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà đã giúp đỡ và tạo điều kiện trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
- Dự án JICA- Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà đã hỗ trợ công tác thu thập số liệu
để thực hiện luận văn
- Tất cả đồng nghiệp và gia đình đã hỗ trợ và động viên tôi hoàn thành luận văn
Tôn Thất Minh
Trang 7TÓM TẮT
Đề tài “Phân tích tình trạng sinh kế và sự phụ thuộc vào rừng của người dân
xã Đa Nhim, tỉnh Lâm Đồng” được thực hiện từ năm 2010 đến 2011 Sử dụng công
cụ PRA và dựa trên phân tích tài sản sinh kế, sự phụ thuộc vào rừng để tìm ra nguyên nhân- hậu quả Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tài sản sinh kế (con người, tự nhiên, xã hội, tài chính và vật chất), các hoạt động sử dụng tài nguyên của cộng đồng và các chính sách, định chế ảnh hưởng đến sinh kế Nghiên cứu này nhằm trình bày sự chuyển đổi của một cộng đồng từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa trong bối cảnh tác động của các chính sách phát triển Luận văn nhằm đóng góp thêm tư liệu cho Ban quản lý Vườn Quốc Gia Bidoup Núi Bà làm cơ sở kiến tạo giải pháp cải thiện đời sống người dân địa phương và tăng hiệu quả bảo vệ rừng
Kết quả luận văn cho thấy đất canh tác và quyền sử dụng đất đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống nông hộ và xu thế tách hộ tăng nguy cơ gây áp lực lên đất rừng Các chương trình giao khoán quản lý bảo vệ rừng mang lại lợi ích có ý nghĩa cho người dân địa phương và giúp giảm áp lực vào rừng nhưng còn nhiều điều bất cập cần được đáp ứng Nhờ vào các chương trình của nhà nước hỗ trợ nên cơ sở hạ tầng công cộng đã được cải thiện, đảm bảo cho phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn nhưng cũng tác động lên bản sắc văn hóa của người K’Ho Tài sản tư nhân chủ yếu
là tài sản tiêu dùng chứ không phải tài sản sản xuất; kỹ năng sử dụng tiền và quản lý tài chính có hiệu quả là các điểm yếu và thiếu của người dân Với thu nhập nông nghiệp là 87 triệu đồng/năm và giao khoán quản lý bảo vệ rừng 26 triệu đồng/năm nên đây là 2 nguồn thu chính của các thôn Lực lượng lao động dồi dào nhưng học vấn thấp, thiếu kỹ năng nên cần đào tạo nghề để cải thiện sinh kế Do ảnh hưởng lối sống truyền thống nên đa phần người dân vẫn vào rừng lấy củi và khai thác lâm sản ngoài gỗ, gây ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên Các dự án không phải từ nguồn vốn chính phủ thường là các dự án ngắn hạn tập trung vào nâng cao năng lực thay vì những sự đầu tư mang lại tác động kinh tế tức thời và rõ rệt Đôi khi các
Trang 8công ty tư nhân thuê hay mua đất của người dân để làm nông nghiệp công nghệ cao,
có nhiều tác động tiêu cực đến đời sống người dân
Tóm lại, các vấn đề về quyền sử dụng đất, thiếu đất sản xuất, thiếu vốn sản xuất, thiếu kỹ năng quản lý tài chính đã gây tác động bất lợi đến sinh kế của người dân Áp lực lấn chiếm đất rừng, khai thác gỗ củi và một số loại lâm sản ngoài gỗ đã làm ảnh hưởng đến tài nguyên đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà
Trang 9SUMMARY
The thesis “Analysis of livelihoods and forest dependency of local people in
Da Nhim commune, Lam Dong province” was conducted in 2010 - 2011 Several Participatory Rural Appraisal (PRA) tools and a framework of livelihood assets analysis were used to highlight forest dependency and to find out cause-effect relationships The thesis focuses on studying people’s livelihood assets (human, natural, social, financial and physical capital); their natural resource usage activities and impact of policies and institutions on their livelihoods This study is a typical example of transformation from self-subsistence to a commodity-oriented economy
in the context impacted by development policies The thesis provided additional information for the Management Board of Bidoup Nui Ba National Park to create a basis solution to improve the livelihoods of local people and to increase the effectiveness of forest protection
Results of the research revealed that cultivation land and land tenure play essential role in the life of farming households and that the trend of family splitting has caused meaningful pressure on forest land Even though the contractual forest protection programs have brought significant benefits to local people and reduced pressures on forest resources, but there are still issues to be addressed Thank to the state-supported programs, public infrastructures have been improved ensuring socio-economic development of the area, but they also caused negative impact on the culture of the K'Ho people Household assets are mainly consuming products rather than production ones Meanwhile, local people are lack of financial management skills, especially how to effectively use their money The main income
of the people comes from agricultural activities (87 millions/year) and their participation in forest protection (26 millions/year) The labor force is plentiful but low-educated People need more occupational training to improve their livelihoods Under the influence of the traditional living style, most of people still go to the
Trang 10forest to collect fire-wood and non-timber forest products (NTFPs), creating adversed effects on nature resources Non-government projects are usually short-term, focusing on capacity improvement rather than the investments to create immediate and concrete economic impacts In some cases, private companies rent or buy the land from local people to carry out hi-tech agricultural production resulting some negative impacts on local livelihoods
In conclusion, local livelihoods are negatively affected by the insecurity of land use right, lack of land for cultivation, shortage of capital and financial management skills In this context, pressures caused by forest encroachment, wood exploitation and NTFPs collection have affected the biodiversity of the Bidoup Nui
Ba National Park
Trang 11MỤC LỤC
TRANG
TRANG CHUẨN Y i
LÝ LỊCH CÁ NHÂN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM TẠ iv
TÓM TẮT v
SUMMARY vii
MỤC LỤC ix
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT xi
DANH SÁCH CÁC BẢNG xiii
DANH SÁCH CÁC HÌNH xiii
MỞ ĐẦU xv
Đặt vấn đề xv
Mục đích và ý nghĩa xviii
Mục tiêu xviii
Phạm vi nghiên cứu xviii
Chương 1 TỔNG QUAN 1
1.1 Điều kiện tự nhiên, xã hội 1
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1
1.1.2 Kinh tế xã hội 2
1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 5
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 16
2.2 Đối tượng nghiên cứu 16
2.3 Nội dung nghiên cứu 16
2.3.1 Đánh giá thực trạng sinh kế của cộng đồng 17
2.3.2 Đánh giá sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng của cộng đồng 18
2.3.3 Xác định ảnh hưởng của các chương trình, dự án liên quan đến sinh kế của cộng đồng và quản lý bảo vệ tài nguyên rừng 18
2.4 Phương pháp nghiên cứu 19
Trang 122.4.1 Cách tiếp cận 19
2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin 19
2.5 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 22
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 Thực trạng sinh kế của cộng đồng 25
3.1.1 Đánh giá tài sản tự nhiên 25
3.1.2 Đánh giá tài sản vật chất 37
3.1.3 Đánh giá tài sản bằng nguồn tài chính 44
3.1.4 Tài sản con người 52
3.1.5 Đánh giá tài sản xã hội 55
3.2 Đánh giá sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng của cộng đồng 58
3.2.1 Tình trạng khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ và săn bẫy chim thú 58
3.2.2 Thu nhập từ giao khoán QLBVR và các hoạt động lâm nghiệp 61
3.2.3 Tình trạng lấn chiếm đất rừng để canh tác nông nghiệp 63
3.3 Ảnh hưởng trong các chương trình, dự án liên quan đến sinh kế của cộng đồng và quản lý bảo vệ tài nguyên rừng 64
3.3.1 Ảnh hưởng của các chương trình, chính sách của nhà nước 64
3.3.2 Ảnh hưởng của các doanh nghiệp tư nhân 69
3.3.3 Ảnh hưởng các dự án hợp tác có vốn nước ngoài: 69
3.4 Tương tác của các yếu tố ảnh hưởng đến hiện trạng sinh kế và sự phụ thuộc vào rừng của người dân 72
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 77
Kết luận 77
Đề nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 80
Phụ lục 1: Bảng câu hỏi phỏng vấn thôn 83
Phụ lục 2: Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ gia đình 90
Phụ lục 3: Số liệu điều tra thôn 96
Phụ lục 4: Các loại đất trong thôn theo điều tra hộ 102
Phụ lục 5: Lượng tài nguyên rừng bị khai thác trong địa bàn 106
Trang 13DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
nhà ở huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
Organization
Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
IUCN International Union for
NTFP Non timber forest product Lâm sản ngoài gỗ
Envinronmental Services
Chi trả dịch vụ môi trường rừng
PRA Participatory Rural Appraisal Đánh giá nông thôn có sự tham gia
Trang 14VCF Vietnam Conservation Fund Quỹ Bảo tồn Việt Nam
Trang 15DANH SÁCH CÁC BẢNG BẢNG TRANG
Bảng 2.1 Tóm tắt nội dung và các phương pháp nghiên cứu 24
Bảng 3.1 Đất canh tác trong thôn 27
Bảng 3.2 Nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt tại xã Đa Nhim 32
Bảng 3.3 Nguồn nước tưới các thôn 33
Bảng 3.4 Diện tích giao khoán bảo vệ rừng ở các thôn năm 2010 34
Bảng 3.5 Nhà ở và nhà vệ sinh 37
Bảng 3.6 Tài sản tiêu dùng 39
Bảng 3.7 Tài sản sản xuất 39
Bảng 3.8 Vật nuôi 41
Bảng 3.9 Điện và hệ thống giao thông 43
Bảng 3.10 Dịch vụ y tế nhà nước 43
Bảng 3.11 Các nguồn vay vốn 45
Bảng 3.12 Nguồn thu của cộng đồng 49
Bảng 3.13 Lịch thời vụ của các hoạt động nông nghiệp chính 50
Bảng 3.14 Bình quân thu nhập và chi phí sản xuất của hộ 52
Bảng 3.15 Cơ cấu độ tuổi 53
Bảng 3.16 Số liệu học sinh các cấp học 53
Bảng 3.17 Các nhân tố thúc đẩy và cản trở trong tài sản sinh kế 58
Bảng 3.18 Lượng lâm sản bị khai thác năm 2010 59
Bảng 3.19 Số liệu giao khoán QLBVR trên địa bàn xã Đa Nhim năm 2011 62
Bảng 3.20 Phân tích SWOT về thực trạng sinh kế xã Đa Nhim 72
Trang 16DANH SÁCH CÁC HÌNH
HÌNH TRANG
Hình 1.1 Khung sinh kế bền vững (DFIF, 1999) 6
Hình 1.2 Năm loại tài sản sinh kế (Norman và Philip, 2003) 7
Hình 3.1 Biến động định canh định cư theo thời gian của cộng đồng 26
Hình 3.2 Phân bố các loại đất nông nghiệp của xã Đa Nhim 27
Hình 3.3 Phân bố các loại sử dụng đất 29
Hình 3.4 Hệ thống canh tác- sinh kế của người dân Đa Nhim 30
Hình 3.5 So sánh tài sản tiêu dùng và tài sản sản xuất 40
Hình 3.6 Tỉ lệ các nguồn thu nhập chính của hộ gia đình 51
Hình 3.7 Sơ đồ VENN về quan hệ giữa các tổ chức trong xã với người dân 57
Hình 3.8 Lát cắt hiện trạng sử dụng tài nguyên 60
Hình 3.9 Tỉ lệ hộ nhận khoán trên các thôn của VQG quản lý 62
Trang 17
MỞ ĐẦU Đặt vấn đề
Tình trạng đói nghèo là một vấn đề toàn cầu (Shah, 2011) và đặc biệt, các nước đang phát triển như Việt Nam đang quan tâm giải quyết Xóa bỏ đói nghèo là mục tiêu đầu tiên trong tám mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc, cùng với nó là mục tiêu đảm bảo tính bền vững của môi trường (UN, 2010) Sự gắn kết hai mục tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa đói nghèo và môi trường; nhất là ở vùng nông thôn, miền núi là nơi đời sống phụ thuộc vào các sản phẩm tự nhiên hay bán tự nhiên Đồng thời, người dân thường phải đối mặt với vòng luẩn quẩn của tình trạng đói nghèo và sự xuống cấp của môi trường Do đó, suy giảm tài nguyên thiên nhiên
và môi trường có tác động trực tiếp và mạnh mẽ lên đời sống của từng người cũng như điều kiện kinh tế - xã hội của toàn cộng đồng
Trong khi phấn đấu cho các mục tiêu xóa đói giảm nghèo và đảm bảo tính bền vững của môi trường thì hàng loạt mâu thuẫn nảy sinh: Mâu thuẫn giữa bảo tồn tài nguyên và phát triển kinh tế - xã hội, mâu thuẫn về quyền sở hữu và sử dụng đất đai, mâu thuẫn giữa lợi ích trước mắt và lâu dài; đang là các vấn đề phức tạp đặt ra cho những người làm công tác bảo tồn tài nguyên và phát triển kinh tế- xã hội Để giải quyết các vấn đề này, cần nhấn mạnh rằng người dân trong các cộng đồng địa phương vừa là tác nhân, vừa là nạn nhân của sự xuống cấp cơ sở tài nguyên mà họ phụ thuộc Điều này có thể nhận thấy rõ nhất trong các cộng đồng dân tộc thiểu số miền núi, nơi đang có sự chuyển đổi từ nền kinh tế tự túc tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa Đối với các cộng đồng này, nghèo đói không chỉ là do việc thiếu nguồn tài chính mà còn do nhiều nguyên nhân khác như rào cản ngôn ngữ, thiếu thông tin
kỹ thuật, bệnh tật, bùng nổ dân số Ngoài ra, việc thiếu đất sản xuất và quyền sở hữu đất cũng là nguyên nhân gây ra sự bấp bênh về sinh kế (Huynh, Duong, 2002; Bui, 2005)
Trang 18Vào năm 2003, Chính phủ Việt Nam ban hành một Chiến lược toàn diện về giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế (Socialist Republic of Vietnam, 2003) Chiến lược này đã nhấn mạnh các nỗ lực cải thiện sinh kế của người nghèo trên cơ sở duy trì các tiến trình chức năng và sức sản xuất của đất đai và các loại tài nguyên thiên nhiên khác (Đặng Kim Sơn, 2001) Để cụ thể hóa chiến lược này, Chính phủ đã ban hành một số chính sách về tài chính và tín dụng; về khuyến khích đầu tư; về định canh định cư; về y tế giáo dục nhằm giúp đỡ, hỗ trợ người dân địa phương có được những nguồn lực để tạo ra sinh kế bền vững nhằm cải thiện lâu dài đời sống của người dân và duy trì năng lực của các hệ thống tài nguyên thiên nhiên Gần đây nhất, chương trình phát triển nông thôn toàn diện nhấn mạnh ba khía cạnh: Nông nghiệp, nông thôn và nông dân đang được triển khai trong cả nước
Trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, cụ thể là bảo vệ và phát triển rừng, các chính sách có liên quan đã gắn liền với các chương trình giảm nghèo Đáng chú ý nhất là chính sách giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho người dân theo chương trình 661 là chương trình nối tiếp Chương trình 327/CT (1992), một cơ chế thu hút sự tham gia của người dân địa phương trong việc bảo vệ rừng đã được xác lập thông qua các hợp đồng giao khoán Gần đây hơn, chính phủ đã thể chế hóa cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) cho các tổ chức và cá nhân bảo vệ và phát triển rừng Như vậy là ở Việt Nam cùng với phương thức bảo vệ rừng theo cách tiếp cận điều khiển và kiểm soát, cách tiếp cận thu hút sự tham gia (thông qua cơ chế giao khoán) và cách tiếp cận dựa vào thị trường (thông qua cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng) cũng đã được áp dụng Những cách tiếp cận này, cùng với sự hỗ trợ mạnh mẽ của Chính phủ như các chương trình 135 và 30A,
đã góp phần tạo ra sự thay đổi lớn trong việc cải thiện đời sống của người dân có cuộc sống phụ thuộc vào rừng và tăng độ che phủ rừng trên toàn quốc Kết quả đạt được từ việc thực hiện những chính sách này đã góp phần đáng kể vào chiến lược phát triển bền vững của quốc gia (William và Huỳnh Thu Ba, 2005)
Mối quan hệ giữa sinh kế và quản lý tài nguyên đã được nghiên cứu nghiêm túc
từ hơn mười năm qua Nguyên nhân chủ yếu của nạn phá rừng ở Việt Nam là do sự
Trang 19gia tăng dân số; tăng trưởng kinh tế và nhu cầu ngày càng gia tăng về lương thực, xuất khẩu nông nghiệp và các sản phẩm rừng - chủ yếu là gỗ cho công nghiệp giấy
và bột giấy, xây dựng và nguyên liệu Bốn vấn đề cơ bản gây ra nạn phá rừng của Việt Nam bao gồm: (1) một số dân tộc thiểu số dựa quá nhiều vào du canh du cư; (2) mở rộng đất làm nông nghiệp; (3) khai thác gỗ, cả hợp pháp lẫn không hợp pháp; và (4) thu hái các loại sản phẩm rừng phục vụ cho nhu cầu sinh sống (De Koninck, 2000)
Theo Báo cáo sàng lọc xã hội Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà (2009) thì các
xã nằm trong vùng lõi và vùng đệm của Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà có 78,8% dân số là đồng bào dân tộc bản địa K’Ho Nguồn thu nhập chính của các hộ trong vùng chủ yếu là từ nông nghiệp trong đó cà phê và bắp là hai loài cây trồng chính Song hầu hết các hộ có diện tích đất nông nghiệp rất ít nên đã mở rộng đất canh tác trên diện tích đất lâm nghiệp Các hộ nghèo có tỉ lệ mù chữ cao (>30%), học tối đa đến hết cấp I và họ cũng chính là các hộ sống phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên (VCF, 2009) Trên địa bàn huyện Lạc Dương bao gồm sáu xã và một thị trấn thì dân tộc K’Ho là người bản địa có cuộc sống phụ thuộc vào rừng Người K’Ho theo chế độ mẫu hệ nên phụ nữ thường đóng vai trò là chủ hộ, nhưng trên thực tế việc quyết định sử dụng mua bán tài sản trong gia đình lại do người đàn ông quyết định (VCF, 2009) Ngoài ra, do trình độ dân trí thấp, khả năng nói tiếng phổ thông kém,
ít khi tiếp xúc với người ngoài nên họ ít tham gia các chương trình tập huấn, khuyến nông, khuyến lâm để nắm bắt thông tin về sản xuất, thị trường, cuộc sống chính trị xã hội Cuộc sống của họ dựa vào rừng thông qua các hoạt động khai thác trái phép (gỗ, các lâm sản ngoài gỗ), săn bẫy thú để cải thiện đời sống của họ và một phần thu nhập từ các chương trình giao khoán bảo vệ rừng như chương trình
661, 30A, chi trả dịch vụ môi trường rừng và một số nguồn khác
Do đó, tìm hiểu sinh kế của người dân dựa vào tài nguyên thiên nhiên và các bất cập trong hệ thống các chương trình chính sách hiện hành là tiền đề để thực hiện các nỗ lực quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững Đề tài “Phân tích tình trạng sinh kế và sự phụ thuộc vào rừng của người dân xã Đa Nhim, tỉnh Lâm
Trang 20Đồng” được thực hiện để xem xét mối quan hệ giữa sinh kế và quản lý tài nguyên rừng thông qua nghiên cứu ở cấp vi mô các cộng đồng sống chung quanh Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà
Mục đích
- Mục đích: Nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa các hoạt động sống của người dân, hiện trạng sử dụng tài nguyên rừng và ảnh hưởng của các chương trình, chính sách đến đời sống cộng đồng để đánh giá các giải pháp giảm nghèo và thực trạng phụ thuộc vào rừng của cộng đồng
- Ý nghĩa thực tiễn: Đóng góp thêm tư liệu cho Ban quản lý Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà làm cơ sở trong tiến trình nghiên cứu và thiết kế các hệ thống quản
lý nhằm tăng cường công tác quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng và nâng cao đời sống người dân thông qua các hoạt động sinh kế thân thiện với môi trường
Mục tiêu
- Mô tả và phân tích thực trạng sinh kế của cộng đồng
- Mô tả và phân tích sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng của cộng đồng
- Xác định mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế từ đó xác định căn nguyên hiện trạng sinh kế của người dân
Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian và kinh phí có hạn nên đề tài tập trung vào điều tra bốn thôn của xã Đa Nhim nằm trên địa bàn quản lý của Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà để tìm ra các loại tài sản sinh kế, sự phụ thuộc vào rừng, các chương trình, chính sách
có liên quan đến sinh kế và tương tác giữa các yếu tố này
Tài liệu liên quan đến đề tài còn rất ít ở Việt Nam nên là một vấn đề khó khăn trong quá trình tham khảo, tìm tòi kinh nghiệm cho việc triển khai thực hiện
đề tài
Trang 21Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Các thôn nghiên cứu nằm trên địa bàn xã Đa Nhim, huyện Lạc Dương là nơi
có tỉ lệ rừng che phủ lớn ở phía Bắc tỉnh Lâm Đồng, có độ cao bình quân khoảng 1.500 m so với mực nước biển Địa hình đồi núi chia cắt bởi nhiều sông suối Vùng này có khí hậu ôn hòa với nhiệt độ trung bình từ 160C đến 200C Đặc tính quan trọng nhất của chế độ nhiệt là biến động nhiệt giữa ngày và đêm lớn từ 6oC đến
13oC nên gây một số khó khăn cho các hoạt động nông nghiệp Một năm có hai mùa
rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa bình quân 1.800 mm/năm Mặc
dù mùa khô khá dài nhưng tác động của hạn hán không đáng kể đối với sản xuất nông nghiệp vì mưa cũng thường xuất hiện rải rác trong mùa khô (UBND Lạc Dương , 2006)
Hai nhóm đất chính là đất Feralit chiếm khoảng 78 % diện tích và nhóm đất
đỏ vàng chiếm 18 % Trong khi nhóm đầu có hiện trạng và tiềm năng cho phát triển rừng, bảo vệ đa dạng sinh học, nhóm sau phù hợp cho các cây công nghiệp lâu năm như cà phê, tiêu, cây ăn quả và rau màu Đứng về góc độ phát triển nông nghiệp thì
bị ảnh hưởng bởi địa hình dốc và bị chia cắt mạnh nên làm cho canh tác nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do xói mòn đất, khó cơ giới hóa và chi phí đầu tư cao (UBND Lạc Dương, 2006)
Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà có khí hậu giao thoa giữa vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và vùng ven biển Nam Trung Bộ nên sở hữu các vùng sinh thái đa
Trang 22dạng với tính đa dạng sinh học cao Các nhà khoa học đã ghi nhận 1.923 loài thực vật có mạch, trong đó 96 loài đặc hữu và 62 loài quý hiếm nằm trong danh lục của IUCN Với 14 loài cây lá kim trên tổng số 33 loài có mặt ở Việt Nam, trong đó có
những loài đặc hữu, quý hiếm như thông hai lá dẹt (Pinus krempfii), thông năm lá
Đà Lạt (Pinus dalatensis), thông đỏ (Taxus wallichiana),… Nơi đây cũng là vương
quốc các loài lan Việt Nam với trên 297 loài mà du khách có thể bắt gặp nhiều loài
nở hoa ở bất cứ mùa nào trong năm Là nơi sinh sống của hơn 422 loài động vật có xương sống thuộc 98 họ, 30 bộ Có 32 loài nằm trong sách đỏ của IUCN Nhiều loài
quý, hiếm như cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus), chà vá chân đen (Pygathrix
nigripes), vượn đen má vàng (Nomascus gabriellae), gấu chó (Heloarctos malaysanus), gấu ngựa (Ursus thibetanus), bò tót (Bos gaurus), sơn dương
(Naemorhedus sumatraensis) (VCF, 2009) Với số lượng các loài đã được định
danh cho thấy rằng Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà có nhiều loài đặc hữu và là nơi
cư ngụ của nhiều loài được liệt kê trong Sách đỏ nên đây được xem là một trong bốn trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam (VCF, 2009)
Sự phát triển kinh tế của huyện Lạc Dương rất ấn tượng với GDP tăng hơn 22% trong ba năm vừa qua Mặc dù có tốc độ phát triển kinh tế cao nhưng theo quyết định 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 08 tháng 7 năm 2005
về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010 thì Lạc Dương vẫn là một huyện nghèo Theo quyết định này thì những hộ nghèo là những hộ có
Trang 23mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng trở xuống đối với khu vực nông thôn và ở khu vực thành thị dưới 260.000 đồng/người/tháng Đa số các hộ nghèo là người dân tộc thiểu số Vào năm 2009, huyện Lạc Dương có 907 hộ sống dưới mức nghèo, trong đó 879 hộ là người dân tộc thiểu số tương ứng 97% (UBND Lạc Dương, 2009)
Việc dân số tăng nhanh được cho là một trong số các nguyên nhân mất rừng đặc biệt ở các vùng đệm và dọc theo các con đường mới mở nối Đà Lạt với Đăk Lăk và Khánh Hòa Mặt khác, cà phê là nguồn thu nhập chính của nông hộ được xem là nguyên nhân của việc lấn chiếm đất rừng và các xung đột tài nguyên diễn ra ngày càng nghiêm trọng hơn giữa người dân và chính quyền địa phương (PTK Lạc Dương, 2009)
Một trong những thách thức lớn nhất của Vườn quốc gia là phương án quản
lý bảo vệ rừng trước những áp lực lên tài nguyên thiên nhiên do cháy rừng và lấn chiếm đất rừng cũng giống như các hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ (VCF, 2009) Với tốc độ tăng dân số nhanh và sự phát triển thị trường cà phê thì áp lực vào đất rừng và tài nguyên rừng là khó tránh khỏi Trong 2.840 hộ sống gần VQG thì có 30% số hộ nghèo và mỗi năm bị thiếu ăn từ một đến hai tháng nên đời sống của họ vẫn phải dựa vào rừng (VCF, 2009) Tình trạng thiếu đất là một vấn đề chung của gần 1.000 hộ nghèo nên áp lực lên tài nguyên thiên nhiên ở địa phương là rất đáng quan ngại
Mật độ dân số bình quân trong vùng là 11,2 người/km2 Trong đó, có những
xã có mật độ dân số thấp như Đa Chais (3,9 người/km2), Xã Lát (6 người/km2) (PTK Lạc Dương, 2009; VCF, 2009) Tại Đa Chais do trước đây chưa có đường nên số dân cư ngụ và sinh sống tại đây thấp vì rất khó tiếp cận được với thị trường bên ngoài Xã Lát là một xã có diện tích theo ranh giới hành chính khá lớn do vậy khi tính mật độ thì tỉ số giữa dân số và diện tích là nhỏ so với các xã còn lại Tuy vậy, dân số không phân bố đều mà thường phân bố theo cụm nên khi cụm dân cư đông thường kéo theo hệ lụy phá rừng nhiều hơn bởi nhiều tác nhân khác nhau
Trang 24Theo kết quả tổng điều tra dân số huyện Lạc Dương tháng 4 năm 2009 thì trên toàn huyện có 99,5% dân số đã học đến cấp I; 96,8 % đã học đến cấp II và 9,1 % học đến cấp III (PTKLD, 2009) Tuy nhiên, trong quá trình phỏng vấn thì đề tài thấy rằng có rất nhiều người không biết đọc, biết viết thậm chí là không biết nói tiếng phổ thông nên họ khó tiếp cận được với các kiến thức, thông tin
Nguồn lao động là khá lớn (có 8.900 lao động chiếm 62,49% dân số đang trong tuổi lao động), trong đó có 4.313 nam và 4.587 nữ Số người ngoài độ tuổi lao động là 5.342 người chiếm 37,51% Tuy nhiên hầu hết lao động đều là lao động phổ thông chưa được đào tạo nghề, công việc chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, đánh bắt cá, tham gia tổ giao khoán quản lý bảo vệ rừng, làm thuê theo thời vụ (VCF,2009)
Người K’Ho theo chế độ mẫu hệ Phụ nữ thường sinh rất nhiều con và làm chủ gia đình Họ có quyền kiểm soát các nguồn lực của gia đình như đất đai, vật nuôi, tiền bạc nhưng trên thực tế việc quyết định sử dụng mua bán tài sản trong gia đình lại do người đàn ông quyết định Người vợ tham gia hầu hết các hoạt động kinh tế bao gồm cả các công việc nặng nhọc cần nhiều cơ bắp như làm rẫy, lấy củi
và họ cũng là người chăm lo con cái, chăm lo bữa cơm trong gia đình Ngoài ra, do trình độ dân trí thấp hơn, khả năng nói tiếng phổ thông kém, ít khi được đi chợ huyện, chợ tỉnh nên phụ nữ K’Ho thường ngại tiếp xúc với người ngoài Do đó, họ hầu như không tham gia các chương trình tập huấn, khuyến nông, khuyến lâm để
nắm bắt thông tin về sản xuất, thị trường, cuộc sống chính trị xã hội
Nguồn thu nhập chính của các hộ trong vùng chủ yếu từ nông nghiệp (chiếm khoảng 3/4 tổng thu nhập) Trong đó cà phê và bắp là hai loài cây trồng chính Song hầu hết các hộ có diện tích đất nông nghiệp rất ít, nhập lượng cho nông nghiệp thấp (phân bón, nước tưới, thuốc bảo vệ thực vật), kỹ thuật canh tác yếu, nguồn giống không đảm bảo dẫn đến năng suất cây trồng thấp, cộng với chi phí sản xuất cao nên tiền lãi hàng năm rất thấp, thậm chí còn bị lỗ (VCF, 2009)
+ Sự phụ thuộc vào rừng
Trang 25Với gần 30% số hộ nghèo (có thu nhập dưới 200.000 đồng/người/tháng) có nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Gia đình thường đông con, trình độ học vấn thấp nên khi thiếu ăn thì cuộc sống của họ phụ thuộc vào rừng thông qua việc khai thác gỗ, củi, nấm, hạt dẻ, dớn, lan, măng, rau rừng và đốt than Trong đó được xếp quan trọng nhất là củi, kế đến là gỗ và thực phẩm như măng, rau rừng Ngoài ra, họ còn săn bẫy chim thú để làm thực phẩm và bán lấy tiền (VCF, 2009)
Ngoài nguồn thu từ sản xuất nông nghiệp thì nguồn thu từ nhận khoán quản
lý bảo vệ rừng cũng là nguồn thu quan trọng của các hộ Các hộ nhận khoán theo chương trình chi trả dich vụ môi trường với mức 400.000 đồng/ha/năm thì bình quân hàng quý có thể được nhận tới 3 triệu đồng Đối với các vùng không được chi trả dịch vụ môi trường thì hưởng theo chương trình 30A là chương trình theo Nghị quyết số 30ª/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về “Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo”; trong đó tiền khoán quản lý bảo vệ rừng là 200.000 đồng/ha/năm; hộ nghèo được trợ cấp 15 kg gạo/khẩu/tháng Tổng kinh phí chi trả cho người dân để quản lý bảo vệ rừng của Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà lên đến 8 tỉ trong năm 2009
Đề tài nhận ra rằng quản lý diện tích rừng đặc dụng có tính đa dạng sinh học cao và thực trạng kinh tế - xã hội trong khu vực như đã nêu thì áp lực của cộng đồng lên tài nguyên rừng là rất lớn và lựa chọn phương án phát triển kinh tế - xã hội nhưng không làm mất đi tính đa dạng sinh học và tài nguyên rừng là rất cần thiết
1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Các nghiên cứu về sinh kế
Khung sinh kế bền vững được Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFIF, 1999) xây dựng, đã nêu lên một số nhân tố chính ảnh hưởng đến sinh kế của người dân theo khung sinh kế bền vững Khung này không chỉ đơn thuần là công cụ phân tích mà nó chính là nền nền tảng cho các hoạt động hướng đến sinh kế như hình 1.1 dưới đây:
Trang 26Hình 1.1 Khung sinh kế bền vững (DFIF, 1999)
Trong phân tích sinh kế của FAO thì sinh kế bao gồm năng lực, tài sản và các hoạt động cần thiết mà con người dùng để kiếm sống Tài sản sinh kế của người dân được chia thành năm loại tài sản Thứ nhất là tài sản tự nhiên gồm đất đai, rừng cây, nguồn nước và đồng cỏ Thứ hai là tài sản vật chất gồm (i) tài sản tư nhân được
sử dụng để gia tăng sức sản xuất của lao động và đất đai như gia súc, công cụ, máy móc; (ii) tài sản công cộng như cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế (như đường
sá, nguồn điện) và xã hội (như trường học, trạm y tế) Thứ ba là tài sản bằng tiền gồm nguồn tài chính mà con người có được như tiền tiết kiệm, nguồn tín dụng và vốn có thể chuyển thành tiền Thứ tư là nguồn nhân lực gồm tình trạng sức khỏe, dinh dưỡng, giáo dục và kỹ năng làm việc Thứ năm là tài sản xã hội gồm tập hợp các mối quan hệ xã hội mà người dân có thể dựa vào đó để mở rộng các phương thức sinh sống như quan hệ dòng tộc, thân hữu, quan hệ chủ và người làm công, quan hệ tương hỗ, thành viên của các tổ chức quần chúng có thể hỗ trợ cho việc vay mượn và các đảm bảo khác Để giải quyết các mục tiêu đề ra thì đề tài tập trung vào năm thứ “tài sản” như là phương tiện để tạo ra sinh kế như hình dưới đây:
Trang 27Hình 1.2 Năm loại tài sản sinh kế (Norman và Philip, 2003)
Đề tài sử dụng năm loại tài sản cho sinh kế theo Norman và Philip (2003) để phân tích sinh kế vì nó bao gồm tất cả các yếu tố tài sản khác nhau góp phần ảnh hưởng đời sống của hộ gia đình
Phương thức mà các hộ nghèo tạo thu nhập và đáp ứng nhu cầu sống cơ bản của mình thường là những hoạt động sinh kế có liên quan tới môi trường tự nhiên như khai thác lâm sản và lâm sản ngoài gỗ, săn bẫy chim thú, chăn thả gia súc trong rừng Do đó người nghèo thường bị ảnh hưởng nặng nề khi môi trường bị xuống cấp, đa dạng sinh học bị mất đi, hoặc khả năng tiếp cận của họ tới những nguồn tài sản chung đó bị hạn chế (Roe, 2004) Theo qui chế quản lý rừng hiện hành tại Việt Nam thì người dân sống gần rừng bị hạn chế khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là ở các khu rừng đặc dụng đã làm người dân đối mặt với đói nghèo vì mất đi một hoạt động sinh kế khi bị túng quẫn Tìm phương thức giải quyết hài hòa mục tiêu xóa đói giảm nghèo và bảo tồn nguồn tài nguyên là một bài toán nan giải nhằm xóa bỏ mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển
Trong nghiên cứu “Ảnh hưởng khả năng tiếp cận đến sự lựa chọn sinh kế đối với các nông hộ ở miền núi phía Bắc Việt Nam” thì Alther và các cộng sự (2002) nhận thấy khi hệ thống giao thông thuận tiện sẽ giúp tiếp cận thị trường dễ dàng nên
có ảnh hưởng tích cực đến kinh tế nông hộ vì khi nông dân tiếp cận thị trường tốt hơn sẽ có nhiều khả năng tăng thu nhập hơn ở những vùng hẻo lánh, và theo đó có
Trang 28chiều hướng giàu hơn Tuy nhiên, đôi khi đường giao thông cũng mang lại một số bất lợi cho người dân như khi ở gần đường thì người dân cảm thấy sự tự chủ của họ
bị giảm sút vì chính quyền có thể giám sát họ chặt chẽ hơn Họ có thể không thấy việc ở gần đường có lợi ích gì nếu như họ cảm thấy lối sống và hệ thống sản xuất truyền thống của mình đang bị đe dọa (Alther, 2002) Thực vậy, hiện nay cái giá phải trả cho sự phát triển kinh tế mà không tính đến hướng bền vững đã làm lu mờ nét văn hóa bản địa khi người dân tộc thiểu số hòa nhập với văn hóa người Kinh và làm mai một bản sắc văn hóa của dân tộc mình
Trong nghiên cứu giao rừng tại Việt Nam như là một giải pháp phát triển bền vững, Nguyễn Quang Tân (2006) cho thấy các hộ giàu và những người có vị thế chính trị nắm hầu hết các lợi ích Nhân lực lao động của hộ cũng đóng vai trò quan trọng trong phân phối quyền hưởng lợi từ rừng Bốn yếu tố quan trọng trong phân phối lợi ích là khả năng lao động, sự giàu có, vị thế chính trị và quyền sở hữu hợp pháp rừng của các hộ Đồng thời, cũng có sự khác biệt giữa người dân bản xứ và người nhập cư vì người dân bản địa phụ thuộc nhiều hơn vào tài nguyên rừng, đặc biệt là lâm sản ngoài gỗ và đất trồng trọt
Sản phẩm nông nghiệp phụ thuộc vào 3 nhân tố: sở hữu đất, sử dụng đất và giá cả nông sản Trong tài sản đất thì được phân thành 3 loại đất khác nhau là đất trồng cây ngắn ngày, đất trồng cây lâu năm/cây công nghiệp và đất rừng trong tổng quỹ đất của nông hộ Thu nhập từ nông sản phụ thuộc vào khả năng thị trường hóa sản phẩm đồng thời cũng phụ thuộc vào điều kiện hạ tầng giao thông nông thôn vì
hệ thống giao thông khác nhau dẫn đến ảnh hưởng khả năng tiếp cận thị trường của người dân Nước sạch và nước tưới tiêu cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân Điện có liên quan đến cơ giới hóa trong nông nghiệp và ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần của cộng đồng (Phạm Thái Hưng và cộng sự, 2008)
Qua những tài liệu trên đã cho thấy cách tiếp cận sinh kế của người nghèo luôn đa dạng và bị tác động của nhiều yếu tố khác nhau Thường các nhóm hộ khác
Trang 29nhau sẽ có những phương thức sinh kế khác nhau để tăng thu nhập, giảm nghèo và tăng chất lượng cuộc sống Các phương thức sinh kế của người dân thường bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau nên việc tìm ra nhân tố nào là thuận lợi, nhân tố nào gây cản trở sinh kế của người dân là cần thiết để có thể tìm ra nhóm giải pháp phù hợp trong phát triển sinh kế cộng đồng
Sử dụng tài nguyên và sự phụ thuộc vào rừng
Nghiên cứu sử dụng tài nguyên giữa người dân và chính quyền tại Papua New Guinea cho thấy người dân sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên kết hợp với tăng trưởng kinh tế kém do hệ thống quản lý và chính sách không phù hợp với thực tiễn nên đã tạo ra xung đột trong sử dụng tài nguyên Có rất nhiều xung đột giữa người dân và các công ty tư nhân trong sở hữu đất đai do có nhiểu điểm yếu trong quá trình thực thi pháp luật nhằm giải quyết các xung đột và phân chia công bằng (Banks, 2008) Qua nghiên cứu này cho thấy cần phải hiểu biết về bản chất các tranh chấp và quy trình giải quyết tranh chấp trong xã hội Khi người dân bị mất đất sản xuất dưới nhiều hình thức khác nhau thì sẽ ảnh hưởng đến sinh kế của họ và hình thức đền bù chính là tạo ra sự cân bằng nhằm duy trì mối quan hệ giữa các cá nhân và các nhóm lợi ích
Trần Đức Viên (2005) cho rằng sinh kế của hầu hết người nghèo phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất canh tác, tài nguyên rừng và nước Sự sống của họ phụ thuộc vào việc quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên này Thật vậy, tài nguyên rừng có vai trò rất quan trọng vì ngoài việc cung cấp đất sản xuất thì rừng cũng là nơi cung cấp các nguồn năng lượng, lương thực, thuốc chữa bệnh cũng như các vật liệu xây dựng Người dân sống dựa vào rừng ở hai khía cạnh: Thứ nhất
là phụ thuộc vào thu nhập có được từ khai thác lâm sản; và thứ hai là sự phụ thuộc
về sinh kế, được tính toán bằng các loại sản phẩm rừng sử dụng hàng ngày Ngoài
ra, rừng cũng đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa của người dân vì thông qua tôn giáo, văn hóa và truyền thống thì các cộng đồng bản địa đã tạo ra một vành đai bảo vệ xung quanh rừng nhằm duy trì sự ổn định và thịnh vượng cho chính
Trang 30cộng đồng của mình Như vậy, việc thừa nhận và hiểu rõ giá trị của tài nguyên rừng giúp mang lại các cơ hội kiếm sống, cải thiện điều kiện dinh dưỡng, sức khỏe và nước sinh hoạt cho người nghèo Nhìn chung, giá trị của tài nguyên rừng được đánh giá thông qua các chức năng mà chúng cung cấp Chức năng của môi trường nói chung và tài nguyên rừng nói riêng được chia thành các nhóm sau: (1) chức năng sản xuất; (2) chức năng tải; (3) chức năng điều hòa; và (4) chức năng văn hóa và thông tin (Trần Đức Viên, 2005)
Sunderline và Huỳnh Thu Ba (2005) cho rằng các nguyên nhân chính của nạn phá rừng ở Việt Nam là do sức ép dân số đã làm gia tăng nhu cầu về các sản phẩm rừng, đất nông nghiệp và do việc các Lâm trường quốc doanh khai thác gỗ từ các diện tích rừng lớn Bốn yếu tố cơ bản gây ra nạn phá rừng của Việt Nam: (1) một số dân tộc thiểu số dựa quá nhiều vào du canh du cư; (2) lấn chiếm đất rừng để canh tác nông nghiệp; (3) khai thác gỗ, cả hợp pháp lẫn không hợp pháp; và (4) thu hoạch các loại sản phẩm rừng phục vụ cho nhu cầu sinh sống Phần lớn các vùng có
tỉ lệ đói nghèo cao là những nơi có độ che phủ rừng lớn tập trung vùng Tây Bắc và Tây Nguyên Trước kia, người ta thường chú trọng vào khai thác lâm sản và các tài nguyên khác của rừng có giá trị trực tiếp nhưng đã quên đi việc khai thác các giá trị phi trực tiếp như du lịch, giải trí, nghỉ dưỡng và các dịch vụ môi trường rừng khác như chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, chi trả cacbon Đến nay, để hướng đến sử dụng rừng bền vững và giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa đói nghèo và môi trường thì nhiều nước đã hướng đến việc sử dụng các dịch vụ và giá trị phi trực tiếp chứ không còn tập trung vào khai thác tài nguyên là một hướng tiếp cận mới trong
xu thế phát triển toàn cầu mà Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ
Động cơ để những người sử dụng tài nguyên đầu tư vào việc quản lý nếu như nguồn tài nguyên này có thể đáp ứng nhu cầu của những người sử dụng như tại Nepal Kết quả của cuộc điều tra cho thấy các nhóm sử dụng có khả năng quản lý tích cực khi tài nguyên phong phú và cung cấp những lợi ích đáng kể Nếu những người sử dụng cảm nhận rằng tài nguyên địa phương nghèo nàn hay quá nhỏ để có
Trang 31thể tạo ra lượng bù đắp cho các nỗ lực cần thiết nhằm bảo vệ và quản lý nó thì họ không tập trung vào lĩnh vực quản lý tài nguyên nữa (Hoàng Hữu Cải, 2006)
Tại Việt Nam, đói nghèo và rừng thường có mối liên hệ mật thiết với nhau, phần lớn các vùng có rừng với tỉ lệ che phủ cao thì cộng đồng nơi đó có nhiều người nghèo là người dân tộc thiểu số vùng cao Mặc dù Việt Nam đã có nhiều chính sách hỗ trợ để phát triển vùng sâu vùng xa nhưng họ vẫn nghèo do khó tiếp cận thị trường, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, đất đai xấu Người nghèo thường có khuynh hướng tập trung vào các vùng rừng vì không có nhiều cơ hội sinh sống ở các vùng đồng bằng đông đúc bời khó tìm ra phương thức sinh kế phù hợp Những người này không chỉ là những người dân tộc thiểu số mà còn có cả người Kinh (Sunderlin và Huỳnh Thu Ba, 2005)
Có một số phương thức giảm nghèo dựa vào tài nguyên rừng là: chuyển đổi đất rừng thành đất nông nghiệp, khai thác gỗ, thu hái lâm sản ngoài gỗ, việc làm từ các hoạt động lâm nghiệp và chi trả dịch vụ môi trường (FAO, 2003) Tuy nhiên, có một số hoạt động giảm nghèo bền vững và tuân theo pháp luật là thu nhập từ các hoạt động lâm nghiệp và chi trả dịch vụ môi trường rừng Nhà nước không khuyến khích việc chuyển đổi đất rừng thành đất nông nghiệp cũng như các hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ của người dân
Vậy, có thể thấy rằng tại Việt Nam thì chính quyền và Ban quản lý các Khu rừng đặc dụng chưa quan tâm nhiều đến việc giao đất giao rừng cho cộng đồng và
đã có nhiều nỗ lực đưa người dân trong vùng lõi ra vùng đệm để bảo tồn rừng nhưng không hướng đến việc phát triển bền vững và làm thay đổi lối sống, tập quán canh tác truyền thống của người dân Tiền đền bù thường không tương xứng với giá trị thị trường và do người dân chưa biết cách chi tiêu hợp lý nên họ sử dụng tiền đền
bù để mua sắm tài sản tiêu dùng Đồng thời, khi mất đất sản xuất và phải định cư ở vùng đất mới thì họ phải đối mặt với nhiều khó khăn để tìm cách thích nghi với cuộc sống mới và tìm phương thức sinh kế thay thế Mặt khác, cũng cần tập trung vào nhóm giải pháp sử dụng lợi ích gián tiếp của rừng chứ không nên khai thác trực
Trang 32tiếp các sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ Vì vậy, đây cũng là một nội dung mà đề tài cần tìm hiểu về giải pháp và hướng quản lý rừng bền vững để phù hợp với cộng đồng vùng nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu này sẽ định hướng trong việc xây dựng giải pháp giảm nghèo cho cộng đồng sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng tại
xã Đa Nhim, Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà
Các mối tương quan giữa tài sản sinh kế và chính sách ảnh hưởng đến sinh kế của cộng đồng
Ở Việt Nam, khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến lâm nghiệp và đói nghèo, một số tác giả đã chỉ ra một số bất cập hiện nay là chính sách lâm nghiệp chưa rõ ràng đối với người dân Người nghèo ít nhận được các lợi ích từ các chương trình khuyến nông - khuyến lâm, thu nhập từ lâm sản ngày càng giảm, có sự mâu thuẫn giữa bảo tồn và bảo vệ rừng với cải thiện sinh kế của người dân sống phụ thuộc vào rừng (Đinh Đức Thuận và cộng sự, 2005)
Theo Rodolphe (2000), trong “Lý thuyết và thực hành ranh giới phát triển với đóng góp của Việt Nam” đã trình bày một số khái niệm chủ yếu và các giải thích việc mở rộng đất nông nghiệp liên quan đến địa chính trị, nhân văn và dân tộc học Có nhiều chương trình ảnh hưởng đến mở rộng đất canh tác gắn với phát triển
và chính sách tái định cư có vai trò làm giảm áp lực dân số nhưng cũng có thể bởi tình trạng di cư tự do Các gia đình nghèo nhất và những nông dân trẻ thường đi tiên phong đến các vùng đất mới để thoát cảnh đói nghèo làm tác động đến đời sống chính trị xã hội ở khu mới định cư Phát triển cơ sở hạ tầng như mở đường giao thông, xây dựng nhà cửa cũng là một nguyên nhân dẫn đến mất rừng bởi canh tác nông nghiệp Trong thập niên 1990 tại Việt Nam thì việc mở rộng đất nông nghiệp
ở Tây nguyên diễn ra mạnh mẽ bởi nhiều nguyên nhân như gia tăng dân số và ảnh hưởng của kinh tế xã hội, địa chính trị và mở rộng đất canh tác của người dân tộc thiểu số làm môi trường bị suy thoái Cũng trong tài liệu này đã cho thấy gia tăng dân số tại Lâm Đồng trong những năm vừa qua là động lực mở rộng đất canh tác trồng cà phê Tuy nhiên, một số hộ thuộc dân tộc K’Ho đã không thích ứng với
Trang 33phương thức canh tác thâm canh này nên quay lại đời sống phụ thuộc vào rừng như khai thác gỗ, loài lâm sản ngoài gỗ hoặc săn bẫy thú Môi trường bị ảnh hưởng và suy thoái bởi việc mở rộng đất canh tác là nguyên nhân của hạn hán, lũ lụt vì khi chặt hạ cây rừng để mở rộng đất canh tác thì chức năng phòng hộ của rừng cũng bị suy giảm theo tỉ lệ mất rừng
Trong một nghiên cứu khác thì cho rằng cần quan tâm đến nhóm người thiếu khả năng tiếp cận tài nguyên bởi một số rào cản liên quan đến giới, dân tộc hay đẳng cấp của họ đã làm ảnh hưởng đến quyền tiếp cận tài nguyên của nhóm này Cách thức duy nhất để đảm bảo tránh được các sai lầm khi xây dựng các chương trình, dự án hay các tác động tiêu cực thì cần tham vấn cộng đồng thông qua tiến trình có sự tham gia Trong đó người dân và đặc biệt là phụ nữ được tạo điều kiện
để đóng góp ý kiến và tham gia vào tiến trình nhằm làm sáng tỏ các nhu cầu về tài nguyên cũng như các hạn chế và cơ hội của họ Muốn các nỗ lực phát triển dài hạn nhằm mang lại lợi ích thực sự trong tương lai thì các nhu cầu và ưu tiên của người dân địa phương cũng phải được xem xét trong toàn bộ bối cảnh phát triển vì nhiều yếu tố của nó xuất phát từ bên ngoài cộng đồng (Vicki Wilde, 2001)
Trong nghiên cứu giao rừng tại Việt Nam, Nguyễn Quang Tân (2006) đã nghiên cứu về phân phối lợi ích tài nguyên rừng và vai trò của hộ gia đình về quyền
sở hữu và khả năng hưởng lợi từ tài nguyên Qua nghiên cứu cho thấy người dân sống gần rừng có hai nguồn thu từ rừng là tiền giao khoán quản lý bảo vệ và từ việc khai thác lâm sản Bằng chứng thực nghiệm từ công tác giao khoán rừng cho thấy các hộ giàu và những người có vị trí chính trị có khả năng nắm hầu hết các lợi ích Nhân lực lao động của hộ cũng đóng vai trò quan trọng trong phân phối quyền hưởng lợi từ rừng Bốn yếu tố quan trọng trong phân phối lợi ích là khả năng lao động, sự giàu có, vị trí chính trị và quyền sở hữu hợp pháp rừng của các hộ Đồng thời, cũng có sự khác biệt giữa người dân bản xứ và người nhập cư vì người dân bản địa phụ thuộc nhiều hơn vào tài nguyên rừng, đặc biệt là lâm sản ngoài gỗ và đất trồng trọt Ngoài các yếu tố gia đình, tài liệu này cũng cho thấy lợi ích từ giao quyền sử dụng rừng có xu hướng thay đổi theo ranh giới địa lý và các hình thức
Trang 34quản lý rừng ở cấp địa phương có thể có tác động về lợi ích mà hộ gia đình địa phương có thể có được trong thực tế
Phát triển bền vững ở Tây Nguyên cũng có vấn đề Về xã hội, nạn mất rừng đưa lại hậu quả xấu đến dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Địa bàn sinh sống của đồng bào ở đây bị thu hẹp do nạn mất rừng, đời sống mất ổn định nên phải di dời dần vào vùng sâu, vùng xa hơn Nguồn sống từ rừng ngày càng ít vì gỗ và lâm sản ngoài gỗ ngày càng khan hiếm Cuộc mưu sinh vất vả hơn, thiếu việc làm, thu nhập thấp dẫn đến đói nghèo tăng thêm Tất cả điều này góp phần tạo ra xung đột của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, là một trong những nguyên nhân góp phần gây sự bất ổn về an ninh chính trị và xã hội Về văn hóa, khi mất rừng thì ảnh hưởng đến đời sống, văn hóa, nhân văn, tâm linh Đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên bị suy thoái Khả năng giữ nước và ngăn lũ của rừng Tây Nguyên suy yếu, không còn
đủ sức chống lũ, hạn hán cho bản thân Tây Nguyên và cả các tỉnh miền duyên hải Nam Trung Bộ (Nguyễn Trần Trọng, 2010)
Theo Trần Thái Học (2007), đói nghèo của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên xuất phát từ việc thiếu hụt nguồn lực và kỹ thuật; việc làm không ổn định; thu nhập thấp; dễ gặp rủi ro do điều kiện ngoại cảnh; hạn chế về cơ sở hạ tầng và ảnh hưởng bởi tính biệt lập về địa bàn cư trú; nhận thức và năng lực tự vươn lên thoát nghèo của người dân cũng như công tác xóa đói, giảm nghèo còn hạn chế
Chính sách làm ảnh hưởng đến sự lựa chọn mà các hộ gia đình thực hiện khi
sử dụng hoặc tiếp cận các loại tài sản của họ Nó sẽ ảnh hưởng lên cách thức mà các
hộ gia đình có thể đưa ra các quyết định hay sử dụng của các tài sản của họ cho hoạt động sinh kế Các chính sách bảo vệ môi trường bằng cách kiểm soát việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho người nghèo gặp khó khăn hơn trong việc tiếp cận các tài nguyên để cải thiện sinh kế Xét đến các tài sản sinh kế nằm trong kiểm soát của các hộ gia đình và các bối cảnh dễ bị tổn thương đến sinh kế hộ gia đình cũng như các chính sách, định chế và tiến trình thì người dân có xu hướng tìm kiếm
phương thức sinh kế phù hợp nhất (Wilde, 2001)
Trang 35Thảo luận chung:
Về mặt tổng thể, các nghiên cứu đã cho thấy người dân, đặc biệt là người nghèo đều có cuộc sống phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên nên cần phải tìm các giải pháp sinh kế thay thế cho họ nhằm giảm thiểu tác động bất lợi vào nguồn tài nguyên để phát triển bền vững Nhiều chương trình dự án đã lấy đất sản xuất của cộng đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng hoặc cho các dự án đầu tư, cho dù có đền bù
và cấp đất khác cho người dân nhưng thường mức đền bù không thỏa đáng Bên cạnh đó, nhiều người dân xưa nay phụ thuộc vào nông nghiệp đã bị mất đất sản xuất nên bị tước mất sinh kế truyền thống và họ đối mặt với muôn vàn khó khăn để tìm kiếm một phương thức sinh kế khác và cũng mất đi phong tục tập quán và lối sống truyền thống
Đồng thời, khi nghiên cứu cần tập trung phân tích nhiều khía cạnh khác nhau
về các loại tài sản sinh kế, chính sách, phương pháp tiếp cận, đảm bảo sự cân bằng giới cũng như sử dụng nhiều công cụ khác nhau nhằm đảm bảo kết quả phân tích mang tính toàn diện và thực tiễn vì phương thức sinh kế của người dân rất đa dạng
Nó tùy thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia, từng địa phương và tùy vào môi trường kinh tế xã hội, chính trị khác nhau Điều này cũng cho thấy trước khi đưa ra chiến lược hay kế hoạch hoạt động cho một chương trình phát triển bền vững thì nên tham vấn cộng đồng với phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân để chương trình/ dự án có tính khả thi cao và phù hợp với cộng đồng để cộng đồng tiếp nhận dự án/ chương trình có liên quan Thật vậy, trong bối cảnh Việt Nam hiện nay thì chính quyền và các chương trình dự án thường tiếp cận theo hướng từ trên xuống, mang tính áp đặt nhiều và đôi khi không phù hợp với thực trạng và nhu cầu của địa phương nên hiệu quả đầu tư không cao và không mang tính bền vững Tuy nhiên, không phải tất cả các chương trình hay dự án liên quan đến sự tham gia đều thành công, và lâm nghiệp xã hội nói chung hay lâm nghiệp cộng đồng nói riêng không phải là một thứ thuốc bách bệnh Vì vậy, việc nghiên cứu tìm hướng phát triển bền vững cho cộng đồng, nhất thiết phải xuất phát từ địa phương
và nghiên cứu này cũng không nằm ngoài phạm vi đó
Trang 36Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiến hành ở các thôn Đa Tro, Đa Ra Hoa, Đa Bla và Liêng Bông nằm trong vùng đệm của Vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà thuộc xã Đa Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng Tổng diện tích cũa xã Đa Nhim là 23.903
ha Người dân trong xã chủ yếu thuộc nhóm dân tộc Cil - K’Ho Theo Báo cáo sàng lọc xã hội (VCF, 2009) có 22% hộ khá, 38% hộ trung bình và 40% hộ nghèo Số hộ
và số khẩu của các thôn khá khác biệt Thôn Đa Tro có 595 khẩu/95 hộ, Đa Ra Hoa
có 608 khẩu/118 hộ, Đa Bla có 447 khẩu/88 hộ, Liêng Bông có 858 khẩu/150 hộ Nghiên cứu được bắt đầu từ tháng 9 năm 2010 và kết thúc phần ngoại nghiệp vào tháng 4 năm 2011
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào các vấn đề liên quan đến sinh kế và quản lý rừng tự nhiên; và ảnh hưởng các chương trình, chính sách đến sinh kế của người dân ở xã Đa Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng Hộ gia đình và thôn là các đối tượng nghiên cứu chính
2.3 Nội dung nghiên cứu
Sử dụng Khung phân tích sinh kế của DFID (1999) Khung này phân chia năm loại tài sản sinh kế: tài sản tự nhiên, tài sản vật chất, tài sản tài chính, tài sản con người và tài sản xã hội Thông qua đó nhằm xác định các tham số hay thuộc tính của năm loại tài sản này ở cấp độ nông hộ
Trang 372.3.1 Đánh giá thực trạng sinh kế của cộng đồng
Theo khuôn khổ phân tích sinh kế đã nêu trên, sinh kế nông hộ được quyết định dựa vào năm loại tài sản sinh kế, bao gồm:
2.3.1.1 Đánh giá tài sản tự nhiên: Tài sản tự nhiên được đánh giá thông qua sự tiếp cận và sử dụng đất canh tác, rừng và nguồn nước Trong bối cảnh cụ thể của khu vực nghiên cứu, chúng được xác định như sau:
- Đất canh tác nông nghiệp: Đất mà nông dân đang sử dụng để canh tác hoa màu dài ngày hay ngắn ngày
- Nguồn nước: Nguồn nước mặt hay nước ngầm mà nông dân sử dụng để sinh hoạt, canh tác và chăn nuôi
- Đất giao khoán quản lý bảo vệ rừng: Diện tích rừng mà các hộ nhận khoán quản lý bảo vệ rừng với đơn vị chủ rừng Ngoài thu nhập từ hợp đồng giao khoán quản lý bảo vệ rừng, các hộ có thể tiến hành một số hoạt động sinh kế mà luật pháp cho phép
2.3.1.2 Đánh giá tài sản vật chất
Tài sản vật chất ở đây được chia thành hai phần:
- Tài sản tư nhân: gia súc, công cụ, máy móc, nhà cửa,
- Tài sản công cộng: cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế (đường sá, nguồn điện) và xã hội (trường học, trạm y tế) Sự tiếp cận các cơ sở này có ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định sinh kế của nông dân
2.3.1.3 Đánh giá tài sản bằng nguồn tài chính
Tài sản tài chính là các tham số trực tiếp nhất phản ánh mức sống của nông
hộ và cộng đồng nói chung sau khi chuyển đổi nền kinh tế tự cấp tự túc sang nền kinh tế thị trường và được phân thành hai nhóm:
- Tiền tiết kiệm, nguồn tín dụng và vốn có thể chuyển thành tiền
Trang 38- Tiền thu từ các hoạt động nông nghiệp, dịch vụ và các hoạt động lâm nghiệp, giao khoán QLBVR
2.3.1.4 Tài sản con người
Đánh giá nguồn nhân lực gồm nguồn lao động, trình độ học vấn và kỹ năng làm việc, kỹ năng quản lý nông hộ để tạo sinh kế hiệu quả và bền vững
2.3.1.5 Đánh giá tài sản xã hội
- Chính sách, phúc lợi xã hội
- Quan hệ dòng tộc, xã hội
2.3.2 Đánh giá sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng của cộng đồng
Đây là một khía cạnh chuyên biệt của sự phân tích tài sản tự nhiên, nhưng đề tài tập trung phân tích theo hướng xác định hai loại áp lực:
- Tình trạng khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ và săn bẫy chim thú
- Tình trạng lấn chiếm đất rừng để canh tác nông nghiệp
Ngoài ra, phân tích thêm thu nhập từ giao khoán quản lý bảo vệ rừng và các hoạt động lâm nghiệp
2.3.3 Xác định ảnh hưởng của các chương trình, dự án liên quan đến sinh kế của cộng đồng và quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Trong khuôn khổ phân tích sinh kế, thì các chương trình, chính sách và dự án
có thể được xem là bối cảnh của sự hình thành chiến lược sinh kế Do đó, trong mục này tập trung vào hai khía cạnh:
- Ảnh hưởng về các chính sách của nhà nước (bối cảnh chính sách của chiến lược sinh kế)
- Ảnh hưởng các chương trình, dự án được triển khai ở địa phương (tùy vào tính chất của dự án, chúng có thể tác động trực tiếp lên năm loại tài sản sinh kế đã nêu trên)
Trang 392.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Cách tiếp cận
2.4.1.1 Kế thừa các tài liệu hiện có
Thu thập các tài liệu thứ cấp như báo cáo từ chính quyền địa phương, các kết quả điều tra trước đây của các chương trình, dự án có liên quan đến vùng nghiên cứu, các tạp chí và phương tiện thông tin đại chúng khác
2.4.1.2 Tiến hành điều tra, khảo sát
+ Điều tra sơ lược về thôn: phỏng vấn một số nhân vật chủ chốt như trưởng thôn, già làng cùng với vợ của họ để biết tình hình chung về cơ sở hạ tầng, giao thông, y
tế, giáo dục, lịch sử thôn buôn, sản phẩm và cây trồng chính, cơ cấu tổ chức của thôn, sự phụ thuộc vào tài nguyên bằng cách sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc với các bản hướng dẫn phỏng vấn đơn giản
+ Kết hợp phỏng vấn chuyên sâu để thu thập thông tin từ những người đưa tin then chốt như chủ tịch xã, các trưởng thôn, già làng, … và các cá nhân khác ở địa phương theo các chủ đề cụ thể mà họ được giả định là người biết rõ nhất
+ Điều tra phỏng vấn hộ: dựa trên bản câu hỏi được soạn trước tập trung vào các nội dung về kết cấu hộ, nghề nghiệp, thu nhập, điều kiện sống, đất đai, cây trồng, vật nuôi, các sản phẩm từ rừng (gỗ, lâm sản ngoài gỗ), các hoạt động lâm nghiệp và chương trình giao khoán quản lý bảo vệ rừng, thị trường tiêu thụ sản phẩm và các khó khăn mà hộ đang gặp phải Đơn vị hỏi là hộ gia đình Các câu hỏi phần lớn được thiết kế ở dạng đóng để có thể định lượng (xem phần phụ lục)
+ Quan sát trực tiếp giúp thu thập thông tin và kiểm chứng một số thông tin thu thập được liên quan đến hiện trạng sử dụng đất và cách thức quản lý tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng tại khu vực nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin
Việc nghiên cứu trải qua bốn bước chính là chuẩn bị, thu thập số liệu, xử lý
số liệu và viết báo cáo Đọc tất cả các tài liệu thứ cấp có liên quan để nắm rõ bối
Trang 40cảnh chung và tránh điều tra lặp lại các số liệu đã có Công cụ chính trong điều tra
là bảng câu hỏi thiết kế phù hợp với nơi nghiên cứu Các câu trả lời được viết sau
đó nhập dữ liệu trong ngày vào máy tính xách tay để thuận tiện cho việc tổng hợp
và xử lý số liệu
Điều tra phỏng vấn hộ: Sử dụng bảng câu hỏi nhằm thu thập thông tin về hộ; phương thức canh tác và sản lượng; quyền sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất; nghề nghiệp của các thành viên trong gia đình; nguồn lao động trong nông nghiệp; vật nuôi; nguồn và mức độ thu nhập; khả năng biết đọc biết viết của người dân; mức
độ di dân và nhận thức của người dân khi tham gia vào hoạt động các dự án đang có trên địa bàn
Các phần chính trong điều tra là kết cấu hộ, nghề nghiệp, thu nhập, tình trạng
cơ sở hạ tầng trong khu vực Điều tra kết cấu hộ để nắm vững hộ về giới tính, tuổi, cũng như nghề nghiệp Đối với nghề nghiệp thì tìm hiểu các hoạt động sinh kế, nơi làm việc, thời gian làm việc và mức thu nhập của từng thành viên trong hộ Các câu hỏi và trình tự hỏi thường được gắn kết với nhau theo chuỗi logic vấn đề để người phỏng vấn tránh bỏ sót thông tin và người được hỏi dễ trả lời Trong quá trình điều tra thì ăn ở cùng với người dân để tạo mối quan hệ và hiểu rõ hơn cuộc sống của người dân
Điều tra thu nhập là vấn đề quan trọng nên cũng đã thiết kế nhiều câu hỏi tập trung chủ đề này và phân tích các thu nhập đột xuất của các khẩu trong hộ hoặc thu nhập theo mùa vụ vì sẽ làm tăng mức thu nhập bình quân của hộ trên mức bình thường Đồng thời, phân tích thu nhập trong năm để tìm hiểu tổng thu nông nghiệp, đối với các phương thức canh tác các loài cây ngắn ngày thì tổng hợp các vụ thu hoạch trong năm để tính mức tổng thu nhập nông nghiệp Các thu nhập ngoài nông nghiệp cũng được điều tra và tính toán trong tổng thu của hộ
Trước khi chính thức điều tra trên diện rộng, chúng tôi kiểm tra phỏng vấn
10 hộ, sau đó phân tích bảng câu hỏi xem có gỉ cần chỉnh sửa, bổ sung không dựa theo kết quả phân tích 10 bảng này