1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG RESPISUREONE KẾT HỢP DRAXXIN TRONG PHÒNG BỆNH VIÊM PHỔI ĐỊA PHƯƠNG VÀ ĐIỀU TRỊ BẰNG DRAXXIN TRÊN HEO BỆNH Ở ĐƯỜNG HÔ HẤP

109 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 780,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH ************** NGUYỄN VĂN NHÃ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG RESPISURE-ONE KẾT HỢP DRAXXIN TRONG PHÒNG BỆNH VIÊM PHỔI ĐỊA PHƯƠNG VÀ ĐIỀU TRỊ BẰNG DRAXXIN TRÊN HEO BỆNH Ở ĐƯỜNG HÔ HẤP LUẬ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

**************

NGUYỄN VĂN NHÃ

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG RESPISURE-ONE KẾT HỢP DRAXXIN TRONG PHÒNG BỆNH VIÊM PHỔI ĐỊA PHƯƠNG VÀ ĐIỀU TRỊ BẰNG DRAXXIN TRÊN HEO BỆNH Ở ĐƯỜNG HÔ HẤP

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

**************

NGUYỄN VĂN NHÃ

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG RESPISURE-ONE KẾT HỢP DRAXXIN TRONG PHÒNG BỆNH VIÊM PHỔI ĐỊA PHƯƠNG VÀ ĐIỀU TRỊ BẰNG DRAXXIN TRÊN HEO BỆNH Ở ĐƯỜNG HÔ HẤP

Trang 3

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG RESPISURE-ONE KẾT HỢP DRAXXIN TRONG PHÒNG BỆNH VIÊM PHỔI ĐỊA PHƯƠNG VÀ ĐIỀU TRỊ BẰNG DRAXXIN TRÊN HEO BỆNH Ở ĐƯỜNG HÔ HẤP

NGUYỄN VĂN NHÃ

Hội đồng chấm luận văn:

Công ty Thuốc Thú Y TW - NAVETCO

Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

Hội Thú Y Việt Nam

Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HIỆU TRƯỞNG

Trang 4

Tình trạng gia đình: chưa kết hôn.

Địa chỉ liên lạc: Số 140, ấp Đồng Chèo, xã Lai Uyên, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Điện thoại: 0989876405

Email: nhadhnl@gmail.com

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan tôi đã tham gia công trình nghiên cứu này và được sự cho phép của nhóm nghiên cứu cho tôi sử dụng số liệu để viết luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai

công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nguyễn Văn Nhã

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Lòng biết ơn sâu sắc gửi đến giáo viên hướng dẫn TS Nguyễn Tất Toàn và PGS.TS Trần Thị Dân đã hết lòng tận tình dìu dắt, hướng dẫn, động viên và giúp

đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Phòng Đào Tạo Sau Đại Học, Ban Giám Hiệu trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt kiến thức quý báu cho em trong thời gian học tập tại trường

Xin chân thành ghi ơn TS Nguyễn Thị Phước Ninh, PGS.TS Nguyễn Văn Khanh, ThS Nguyễn Thị Thu Năm, ThS Hồ Thị Nga, BSTY Đỗ Hữu Ngọc, anh Nguyễn Tiên Hoàng Nguyên và chị Nguyễn Thị Kim Anh đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài

Cảm ơn ban lãnh đạo, anh chị đang công tác tại công ty Pfizer, các anh chị lớp Cao học Thú Y khóa 2007 và các em sinh viên khoa Chăn Nuôi Thú Y trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã động viên và hỗ trợ tôi trong thời gian thực hiện đề tài

Cảm ơn và chia sẻ những thành quả đạt được với cha mẹ, các em đã tạo nguồn động viên lớn cho tôi

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài “Hiệu quả sử dụng Respisure-one kết hợp Draxxin trong phòng bệnh viêm phổi địa phương và điều trị bằng Draxxin trên heo bệnh ở đường hô hấp” được tiến hành tại 2 trại chăn nuôi heo công nghiệp từ ngày 05/12/2008 đến 15/04/2010 Mục tiêu của đề tài nhằm đánh giá hiệu quả về lâm sàng, kinh tế khi dùng vắc xin

Respisure-one kết hợp tiêm Draxxin trong việc phòng bệnh do Mycoplasma hyopneumoniae (MH), đồng thời tìm hiểu hiệu quả điều trị của Draxxin ở heo có

biểu hiện bệnh trên đường hô hấp Thí nghiệm được bố trí trên hai lô, lô thí nghiệm (TN) sử dụng vắc xin Respisure-one kết hợp tiêm Draxxin trong phòng bệnh do MH,

lô đối chứng (ĐC) sử dụng vắc xin phòng bệnh do MH tại trại Heo lô thí nghiệm đợt 1 ở trại B có biểu hiện bệnh trên đường hô hấp trong giai đoạn 60 đến 90 ngày tuổi được điều trị bằng Draxxin để đánh giá hiệu quả điều trị của Draxxin Kết quả thí nghiệm thu được như sau:

Ở trại A, tỷ lệ con ho và ngày con ho trong cả hai giai đoạn cai sữa đến chuyển thịt, giai đoạn chuyển thịt đến xuất chuồng của lô TN (2,38%; 0,11% và 3,7%; 0,11%) thấp hơn lô ĐC (12,94%; 0,59% và 12,96%; 0,39%) (P<0,05) Ở trại

B, tỷ lệ con ho và tỷ lệ con thở thể bụng qua 3 giai đoạn cai sữa đến 60 ngày tuổi,

60 đến 90, 90 đến 150 ngày tuổi ở lô TN (3,51%; 60%; 17,65% và 0%; 3,64%; 0%) cũng thấp hơn lô ĐC (10,53%; 60%; 23,53% và 3,51%; 5,45%; 1,96%) nhưng không ý nghĩa thống kê Kết quả tương tự với tỷ lệ ngày con ho và tỷ lệ ngày con thở thể bụng ở lô TN (0,29%; 7,67%; 1,23% và 0%; 0,66%; 0%) thấp hơn lô ĐC (1,81%; 10,86%; 2,01% và 1,1%; 1,59%; 0,17%) (P<0,05)

Tỷ lệ chết và loại thải của hai lô ở hai trại thí nghiệm không khác biệt thống

kê (P>0,05), ngoại trừ giai đoạn 90 đến 150 ngày tuổi ở trại B lô TN có tỷ lệ chết và loại thải (5,88%) cao hơn lô ĐC (0%) (P<0,05) Tỷ lệ chết và loại thải do bệnh lý hô hấp trong tổng số heo chết và loại thải ở thí nghiệm trại A và trại B của lô TN (0%

Trang 8

Thí nghiệm ở trại A, trọng lượng (kg/con) ở các thời điểm cai sữa và chuyển thịt; tăng trọng (g/con/ngày) và HSCHTA (kgTĂ/kgTT) giai đoạn cai sữa đến chuyển thịt của lô TN tương đương với lô ĐC Trọng lượng xuất chuồng và tăng trọng giai đoạn chuyển thịt đến xuất chuồng ở lô TN (80,80 kg/con và 726,09 g/con/ngày) cao hơn lô ĐC (78,54 kg/con và 697,72 g/con/ngày) và HSCHTA (kgTĂ/kgTT) giai đoạn này của lô TN và lô ĐC lần lượt là 2,36 và 2,44 Kết quả thí nghiệm ở trại B tương tự như trại A, lô TN có tăng trọng cao hơn và HSCHTA cải thiện hơn so với lô ĐC

Lợi nhuận (đồng) trên kilogam trọng lượng xuất chuồng ở trại A và trại B của lô TN (5.564 và 9.220) đều cao hơn lô ĐC (5.478 và 8.644)

Mức độ tổn thương chung, tổn thương do nhục hóa của các phổi mổ khảo sát trên phổi heo thí nghiệm ở trại A và trại B của lô TN (11,89%; 2,03% và 32,80%; 2,13%) thấp hơn lô ĐC (13,27%; 4,23% và 35,31%; 2,97%) (P>0,05) Điểm trung bình bệnh tích vi thể của lô TN (1,83 và 1,21) thấp hơn lô ĐC (2,17 và 2,25)

Trong dịch rửa phế quản - phế nang, số lượng tế bào (tb/mm3) và tỷ lệ bạch cầu trung tính (%) của lô TN ở 2 trại (578; 1050 và 4,75; 6,73) thấp hơn lô ĐC (594;

1913 và 14,92; 11,17), tỷ lệ đại thực bào lô TN (53,75%; 60,80%) cao hơn lô ĐC (49,33%; 53,08%); tỷ lệ bạch cầu lympho, tế bào biểu mô, bạch cầu ái toan và tế bào mast không có sự khác biệt giữa hai lô (P>0,05)

Thí nghiệm ở trại A, hàm lượng IgA tổng số trong dịch rửa phế quản - phế nang lô TN (1137,50 ng/ml) thấp hơn lô ĐC (1182,23 ng/ml) (P>0,05) Tuy nhiên,

ở trại B hàm lượng IgA tổng số lô TN (886,1 ng/ml) cao hơn lô ĐC (739,7 ng/ml) (P>0,05)

Tỷ lệ điều trị khỏi ở lô TN (86,36%) cao hơn lô ĐC (83,33%), tỷ lệ tái phát

và thời gian điều trị trung bình khi dùng Draxxin (10,53% và 4 ngày) thấp hơn lô

Trang 9

SUMMARY

Study "Effectiveness of combination Respisure-one with Draxxin in the prevention of enzootic pneumonia and treatment with Draxxin in pig showing respiratory syndroms" was conducted at two pig farms from 05/12/2008 to 15/04/2010 The objective of the study was to assess the clinical and economic effectiveness of combination vaccine Respisure-one with Draxxin in the prevention

of disease caused by Mycoplasma hyopneumoniae (MH), and to evaluate efficacy of

Draxxin in the treatment of pig manifestation of respiratory diseases The experiment was arranged in two plots, experimental plot using vaccine Respisure-one combined with Draxxin, control plot using a vaccine prophylaxis of farm Pigs

of experimental plot at farm B observed respiratory syndromes in the period 60 to

90 days of age were treated with Draxxin to evaluate the efficacy of this antibiotic Experimental results obtained as follows:

At farm A, the rate of cough pig and day-cough pig in both periods (weaning

to fattening and fattening to market) of the experimental plot (2.38%, 0.11% and 3.7%; 0 , 11%) were lower than the control plot (12.94%, 0.59% and 12.96%, 0.39%) (P<0.05) At farm B, the rate of pig cough and pig abdominal breathing through the three periods (the weaning period to 60, 60 to 90, 90 and 150 days old)

in experimental plot (3.51%, 60% 17.65% and 0%, 3.64%, 0%) were lower than the control plot (10.53%, 60%, 23.53% and 3.51%, 5.45%, 1.96) but not significantly statistic Similar results at farm A, the rate of day cough pig and abdominal breathing pig of experimental plot (0.29%, 7.67%, 1.23% and 0%, 0.66%, 0%) were lower than control plot (1.81%, 10.86%, 2.01% and 1.1%, 1.59%, 0.17%) (P<0.05)

The mortality and culling rate of two plots at the two farms did not differ statistically (P>0.05), except for the period 90 to 150 days old at farm B The mortality and culling rate due to respiratory disorders in experimental plot (0% and

Trang 10

33.33%) were lower than the control plot (33.33% and 100%) in both farms (P<0.05)

At farm A, body weight (kg/head) at weaning and transfering to fattening, average daily gain-ADG (g/head/day) and feed conversion ratio (FCR) in the period from weaning to fattening of experimental plot was equivalent to control plot Body weight (kg/head) and ADG (g/head/day) in the period from fattening to market of experimental plot (80.80; 726.09) were higher than control plot (78.54, 697.72) and FCR of experimental plot was 2.36 and control plot was 2.44 in this period The results of farm B were similar to farm A, experimental plot had more growth and improvement of FCR than the control plot

Profit (VND) per kilogram of marketed weight at farm A and farm B of experimental plots (5564 and 9220) were higher than the control plots (5478 and 8644)

Lung lesion scores and lesions due to consolidation in experimental plot at both farms (11.89%, 2.03% and 32.80%, 2.13%) were lower than the control plot (13.27%, 4.23% and 35.31%, 2.97%) (P>0.05) Average scores assessed by microscopic method in experimental plots (1.83 and 1.21) were lower than the control plots (2.17 and 2.25) at two farms

In the bronchoaveolar lavage fluid, total cell count (cell/mm3) and neutrophils percentage (%) in the experimental plot (578, 1050 and 4.75, 6.73) were lower than the control plot (594, 1913 and 14.92 ; 11.17) at two farms, the percentage of macrophages in experimental plot (53.75%, 60.80%) were higher than the control plot (49.33%, 53.08%); however, the percentage of lymphocytes, epithelial cells, eosinophils and mast cells were not different significantly between the two plots (P>0.05)

At farm A, the total IgA concentration in bronchoaveolar lavage fluid of experimental plot (1137.50 ng/ml) was lower than the control plot (1182.23 ng/ml) (P>0.05) However, at farm B the total IgA concentration of experimental plot (886.1 ng/ml) was higher than control plot (739.7 ng/ml) (P>0.05)

Trang 11

The recovery rate in experimental plot (86.36%) was higher than control plot (83.33%), the recurrence rate and average duration of treatment in experimental plot (10.53% and 4 days) were lower than control plot (13.33%, and 5 days)

In summary, use of vaccine Respisure-one in combination with Draxxin in preventing disease caused by MH was more effective than control plot implemented vaccine prophylaxis of farm

Trang 12

MỤC LỤC

TRANG

Trang chuẩn y i

Lý lịch cá nhân ii

Lời cam đoan iii

Lời cảm ơn iv

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu 3

1.2.1 Mục tiêu 3

1.2.2 Yêu cầu 3

Chương 2 TỔNG QUAN 4

2.1 Cấu tạo hệ thống hô hấp 4

2.2 Hệ thống miễn dịch đường hô hấp 5

2.3 Các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh trên đường hô hấp 9

2.4 Tỷ lệ nhiễm một số mầm bệnh đường hô hấp 9

2.5 Giới thiệu về bệnh do Mycoplasma hyopneumoniae 10

2.5.1 Căn bệnh 11

2.5.2 Đặc điểm dịch tễ 11

2.5.3 Cách sinh bệnh 12

2.5.4 Triệu chứng 13

2.5.5 Bệnh tích 14

2.5.6 Chẩn đoán 15

2.5.7 Điều trị 16

2.5.8 Phòng bệnh 18

2.6 Giới thiệu về vắc xin Respisure-one 21

2.7 Giới thiệu về Draxxin - kháng sinh tulathromycin 21

2.7.1 Cấu tạo 21

Trang 13

2.7.2 Tên hóa học 23

2.7.3 Tính chất lý hóa 23

2.7.4 Dược động 23

2.7.5 Dược lực 24

2.7.6 Phổ kháng khuẩn và chỉ định 25

2.7.7 Tương tác với các thuốc khác 26

2.7.8 Tác dụng phụ 26

2.7.9 Đề kháng 27

2.8 Một số thử nghiệm sử dụng Respisure-one và tulathromycin - Draxxin 27

2.8.1 Vắc xin Respisure-one 27

2.8.2 Tulathromycin - Draxxin 29

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 33

3.2 Đối tượng khảo sát 33

3.3 Nội dung nghiên cứu 33

3.4 Bố trí thí nghiệm 33

3.5 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 36

3.5.1 Các chỉ tiêu theo dõi 36

3.5.2 Phương pháp thực hiện 37

3.6 Dụng cụ, vật liệu và hóa chất thí nghiệm 41

3.6.1 Dụng cụ 41

3.6.2 Vật liệu và hóa chất thí nghiệm 41

3.7 Phương pháp xử lý số liệu 41

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42

4.1 Hiệu quả phòng bệnh do MH của quy trình sử dụng vắc xin Respisure-one kết hợp tiêm Draxxin so với quy trình ở trại thử nghiệm 42

4.1.1 Các biểu hiện bệnh lý lâm sàng 42

4.1.2 Tỷ lệ chết và loại thải qua các đợt thí nghiệm 45

Trang 14

4.1.4 Hiệu quả kinh tế 50

4.1.5 Đánh giá bệnh tích phổi 52

4.1.6 Số lượng và tỷ lệ các loại tế bào trong dịch rửa phế quản - phế nang 58

4.1.7 Hàm lượng kháng thể IgA tổng số trong dịch rửa phế quản - phế nang 60

4.2 Hiệu quả điều trị của Draxxin ở heo có biểu hiện bệnh lý lâm sàng trên đường hô hấp 61

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 63

5.1 Kết luận 63

5.2 Đề nghị 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 74

Trang 15

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADI Acceptable daily intake (lượng ăn vào hằng ngày chấp nhận được)

BALT Bronchus-associated lymphoid tissue (mô lympho phế quản)

BHI Brain heart infusion

CFU Colony forming unit

CVM College of Veterinary Medicine

ĐC Đối chứng

ELISA Enzyme linked immunosorbent assay (xét nghiệm hấp phụ miễn dịch liên

kết enzyme)

EmeA European Medicines Agency

FDA Food and Drug Administration

MIC Minimum inhibitory concentration (nồng độ ức chế tối thiểu)

MRL Maximum residue limit (giới hạn tồn dư tối đa)

PCR Polymerase chain reaction

PCV Porcine circovirus

PRRS Porcine reproductive and respiratory syndrome (hội chứng rối loạn sinh

sản hô hấp ở heo)

SIV Swine influenza virus

SPF Specific pathogen free

Trang 16

DANH SÁCH CÁC BẢNG

TRANG

Bảng 2.1 Thành phần tế bào dịch phế quản - phế nang ở heo khỏe 7

Bảng 2.2 Thành phần tế bào dịch phế quản - phế nang ở heo 8

Bảng 2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ bệnh hay tỷ lệ tái nhiễm bệnh trên đường hô hấp ở heo 9

Bảng 2.4 Tỷ lệ đàn heo nhiễm một số vi sinh vật gây bệnh đường hô hấp ở một vài quốc gia 10

Bảng 2.5 So sánh hiệu quả điều trị viêm phổi địa phương do MH của một số kháng sinh 17

Bảng 2.6 Các vắc xin sử dụng phòng MH 19

Bảng 2.7 So sánh hiệu quả phòng bệnh viêm phổi địa phương do MH của một số kháng sinh 20

Bảng 2.8 Phân loại kháng sinh nhóm macrolide dựa vào số nguyên tử vòng lactone 21

Bảng 2.9 Nồng độ tulathromycin (ng/ml) ở phổi và huyết tương qua các giờ sau khi tiêm 24

Bảng 2.10 Nồng độ ức chế thối thiểu (MIC90) của tulathromycin (µg/ml) chống lại một số vi khuẩn và Mycoplasma gây bệnh 25

Bảng 2.11 Giới hạn tồn dư tối đa - maximum residue limits (MRL) của tulathromycin trong các mô 27

Bảng 3.1 Quy trình thử nghiệm tại trại A 34

Bảng 3.2 Quy trình thử nghiệm đợt 1 tại trại B 35

Bảng 3.3 Quy trình thử nghiệm đợt 2 tại trại B 35

Bảng 4.1 Tỷ lệ con ho và thở thể bụng của heo thí nghiệm trại A 42

Bảng 4.2 Tỷ lệ con ho và thở thể bụng của heo thí nghiệm trại B 43

Bảng 4.3 Tỷ lệ con tiêu chảy và viêm khớp của heo thí nghiệm trại B 45

Trang 17

Bảng 4.4 Tỷ lệ chết và loại thải qua các giai đoạn của hai lô 45

Bảng 4.5 Tỷ lệ chết và loại thải do bệnh trên đường hô hấp 46

Bảng 4.6 Tăng trọng và hệ số chuyển hóa thức ăn của thí nghiệm trại A 47

Bảng 4.7 Tăng trọng và hệ số chuyển hóa thức ăn của thí nghiệm trại B 48

Bảng 4.8 Hiệu quả kinh tế thí nghiệm trại A 51

Bảng 4.9 Hiệu quả kinh tế thí nghiệm trại B 51

Bảng 4.10 Mức độ tổn thương và phân bố điểm bệnh tích vi thể của phổi khảo sát 52

Bảng 4.11 Mức độ tổn thương của các phổi có bệnh tích nhục hóa 53

Bảng 4.12 Tỷ lệ (%) các bệnh tích đại thể kết hợp với bệnh tích nhục hóa 55

Bảng 4.13 Tỷ lệ (%) các bệnh tích đại thể 55

Bảng 4.14 Số lượng và tỷ lệ các loại tế bào trong dịch rửa phế quản - phế nang 56

Bảng 4.15 Hàm lượng IgA tổng số trong dịch rửa phế quản - phế nang 58

Bảng 4.16 Tỷ lệ điều trị khỏi, thời gian điều trị trung bình và tỷ lệ tái phát heo bệnh đường hô hấp ở thí nghiệm đợt 1 trại B 59

Trang 18

DANH SÁCH CÁC HÌNH

TRANG

Hình 2.1 Hai đồng phân của tulathromycin trong môi trường thủy dịch: đồng phân

A (90±3%) và đồng phân B (10±3%) 22

Hình 4.1 Phổi có bệnh tích nhục hóa đối xứng 56

Hình 4.2 Viêm dính màng phổi 56

Hình 4.3 Phổi trái bị xẹp 57

Hình 4.4 Phổi có ổ viêm 57

Trang 19

Một số vi sinh vật gây bệnh trên đường hô hấp ở heo như: Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome Virus (PRRSV), Porcine Circovirus

(PCV), Swine Influenza Virus (SIV), Mycoplasma, Streptococcus suis, Pasteurella multocida, Actinobacillus pleuropneumoniae, Haemophilus parasuis, Actiomyces pyogenes, Bordertella bronchiseptica… Trong đó, bệnh viêm phổi địa phương do Mycoplasma hyopneumoniae (MH) gây ra là bệnh phổ biến ở heo, khoảng 80% đàn

heo trên toàn thế giới nhiễm MH (Fano và ctv, 2005; trích dẫn Phatsara, 2007) Ở

Mỹ, chưa tính đến chi phí thuốc điều trị hay phòng bệnh này, ước tính thiệt hại khoảng 4,08 USD/heo (Lawhorn, 1998) Thiệt hại hằng năm ở Mỹ ước tính khoảng

330 triệu USD (Nicholas, 1998) Nguyễn Thị Phước Ninh (2007) đã xác định tỷ lệ nhiễm MH là 68,71% tại 3 trại chăn nuôi công nghiệp thuộc tỉnh Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh và đã gây thiệt hại kinh tế cho trại chăn nuôi

Điều trị MH bằng kháng sinh làm giảm các triệu chứng bệnh, không có hiệu quả loại trừ MH trên heo đã nhiễm bệnh (Harris, 2000), do đó phòng bệnh đã trở thành vấn đề quan trọng hơn bao giờ hết Sử dụng vắc xin là chiến lược tốt để kiểm soát bệnh viêm phổi địa phương (Siugdaite và ctv, 2006), góp phần làm giảm số heo

Trang 20

đồng thời làm giảm tỷ lệ chết, chuyển hóa thức ăn tốt hơn, và giảm chi phí điều trị (Jackson và Cockcroft, 2007) Hiện nay, một số vắc xin phòng bệnh viêm phổi địa phương được sử dụng với một lần tiêm duy nhất, trong đó có vắc xin Respisure-one

Bên cạnh việc sử dụng vắc xin trong kiểm soát bệnh thì sử dụng các kháng sinh để phòng bệnh như bổ sung lincomycin, tetracycline, tiamulin vào thức ăn trong vòng 7-10 ngày (Desrosiers, 2001), chlortetracycline (550 mg/kg thức ăn) trong vòng 14 ngày liên tục (Stipkovits và ctv, 2001), tiêm tulathromycin với liều 2,5 mg/kg thể trọng (Hellmann và ctv, 2008; Salvini và Guadagnini, 2008; Waag và ctv, 2008; Bermúdez và ctv, 2008; Garlaite và ctv, 2008; Past, 2008; Keane và ctv, 2008) cũng cho kết quả phòng bệnh khả quan Theo Thacker (2006), cùng với biện pháp quản lý tốt, chủng ngừa vắc xin kết hợp sử dụng kháng sinh một cách đúng

đắn sẽ làm giảm thiệt hại do MH gây ra Tuy nhiên ở nước ta chưa có nghiên cứu

nào đánh giá hiệu quả phòng bệnh do MH khi dùng phối hợp vắc xin Respisure-one

và kháng sinh tulathromycin, là một kháng sinh có tác động kéo dài với chỉ 1 lần tiêm duy nhất, được chỉ định kiểm soát hay điều trị các bệnh trên đường hô hấp ở heo và đã được chứng minh không gây ra hiện tượng đề kháng kháng sinh trên các

vi khuẩn gây bệnh ở người

Xuất phát từ thực tế trên, được sự chấp nhận của khoa Chăn Nuôi – Thú Y, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Tất Toàn và PGS.TS Trần Thị Dân, cùng sự hỗ trợ của công ty Pfizer, kết hợp nghiên cứu với các trại chăn nuôi và các Bộ môn: Nội Dược, Sinh Lý – Sinh Hóa, Bộ môn Vi Sinh Truyền Nhiễm và Bệnh viện Thú

Y, chúng tôi thực hiện đề tài: “HIỆU QUẢ SỬ DỤNG RESPISURE-ONE KẾT

HỢP DRAXXIN TRONG PHÒNG BỆNH VIÊM PHỔI ĐỊA PHƯƠNG VÀ ĐIỀU TRỊ BẰNG DRAXXIN TRÊN HEO BỆNH Ở ĐƯỜNG HÔ HẤP”

Trang 21

1.2 Mục tiêu và yêu cầu

1.2.1 Mục tiêu

Đánh giá hiệu quả khi phòng bệnh do MH bằng vắc xin Respisure-one kết hợp tiêm Draxxin, đồng thời tìm hiểu khả năng điều trị của Draxxin ở heo có biểu hiện bệnh trên đường hô hấp

1.2.2 Yêu cầu

Bố trí thí nghiệm với 2 lô: lô thí nghiệm và lô đối chứng Lô thí nghiệm sử dụng vắc xin Respisure-one kết hợp tiêm Draxxin phòng bệnh do MH Lô đối chứng sử dụng vắc xin phòng bệnh do MH theo quy trình tại trại thử nghiệm

So sánh hiệu quả phòng bệnh do MH ở hai lô dựa trên các chỉ tiêu như biểu hiện bệnh lý lâm sàng, sinh trưởng và hiệu quả kinh tế, mức độ tổn thương phổi qua bệnh tích đại thể - vi thể, tỷ lệ các loại tế bào và hàm lượng IgA tổng số trong dịch rửa phế quản - phế nang

Các heo thí nghiệm có biểu hiện bệnh lý lâm sàng trên đường hô hấp thì điều trị bằng Draxxin (lô thí nghiệm) hay theo quy trình điều trị tại trại thực hiện thử nghiệm (lô đối chứng) và được theo dõi thời gian có triệu chứng bệnh, tỷ lệ điều trị khỏi bệnh và tỷ lệ tái phát

Trang 22

Chương 2 TỔNG QUAN

2.1 Cấu tạo hệ thống hô hấp

Hệ thống hô hấp gồm có đường dẫn khí và vùng hô hấp ở phổi Đường dẫn khí bao gồm xoang hốc mũi, xoang miệng, vùng hầu, thanh quản, khí quản, phế quản và các nhánh nhỏ hơn Vùng hô hấp để trao đổi khí, gồm các chùm phế nang

có thành mỏng Trao đổi khí diễn ra giữa không khí ở trong phế nang và mạng mao mạch bao quanh (Dương Nguyên Khang, 2006)

Để đảm bảo cho sự dẫn không khí được liên tục, trên đường dẫn khí có những cấu tạo đặc biệt giúp cho lòng ống luôn mở rộng, co giãn một cách nhịp nhàng như mô sụn, sợi đàn hồi, sợi tạo keo và sợi cơ trơn Mô sụn có tác dụng giúp cho lòng ống luôn mở rộng, chúng có thể hiện diện dưới dạng những mảng rời rạc hay thành vòng hình chữ C Sợi đàn hồi hiện diện khắp các đoạn ống hô hấp kể cả phần hô hấp trong phổi nhằm giúp cho các cấu tạo này có thể co lại sau khi đã giãn

ra lúc không khí đi vào phổi Ống càng nhỏ thì sợi đàn hồi càng nhiều Các sợi cơ trơn chạy quanh các ống dẫn khí từ khí quản đến ống phế nang để điều khiển lượng không khí vào phổi trong quá trình hít vào và thở ra (Lâm Thị Thu Hương, 2005)

Phần lớn đường dẫn khí được viền bởi biểu mô trụ giả kép có lông rung, có chứa nhiều tế bào đài Càng vào sâu các đoạn ống trong phổi thì biểu mô biến dần thành biểu mô khối đơn rồi lát đơn Tế bào đài dần dần biến mất ở những đoạn ống nhỏ nhưng các tế bào trụ có lông rung vẫn hiện diện cho đến đoạn tiểu phế quản trong phổi (Lâm Thị Thu Hương, 2005)

Trang 23

2.2 Hệ thống miễn dịch đường hô hấp

Hệ thống hô hấp chịu áp lực tấn công của các kháng nguyên như vi khuẩn, vi rút… đi kèm với không khí trong quá trình hít thở Hệ thống hô hấp thực hiện nhiều

cơ chế khác nhau để trung hòa hay loại trừ các kháng nguyên này

Phần lớn các kháng nguyên bị bắt giữ bởi chất nhầy niêm mạc, lông rung tế bào biểu mô của xoang mũi, hầu, thanh quản, khí quản Xoang mũi bắt giữ các kháng nguyên có kích thước lớn (>10µm) nhờ vào hệ thống lông mũi, các xương sụn xoắn và chất nhờn niêm mạc mũi (Christensen, 1999; Oliveira, 2006) Các kháng nguyên có kích thước khoảng 10µm bị bắt giữ ở các nhánh phế quản và tiểu phế quản Nhờ sự di động của các lông rung trên tế bào biểu mô đường hô hấp, hình thành dòng chảy chất nhầy theo hướng từ phế nang ra phế quản - khí quản - thanh quản - hầu, các kháng nguyên bị bắt giữ sẽ được đẩy ngược ra ngoài đến vùng hầu, tại đây hình thành phản xạ ho đẩy kháng nguyên ra ngoài môi trường hay kháng nguyên sẽ được nuốt vào đường tiêu hóa (Oliveira, 2006)

Các kháng nguyên có kích thước nhỏ hơn 5µm có thể đến được phế nang và các kháng nguyên này sẽ bị thực bào bởi các đại thực bào phế nang Hoạt động thực bào sẽ xảy ra nhanh và mạnh hơn nếu kháng nguyên đã bị nhận biết từ lần tấn công trước đó Đồng thời kích hoạt đáp ứng miễn dịch đặc hiệu với quá trình tổng hợp kháng thể của tương bào dưới sự điều phối của lympho T

Bordetella bronchiseptica là tác nhân phá hủy lông rung tế bào niêm mạc

xoang mũi và làm hư hại các xương sụn xoắn, mở đường cho các tác nhân khác gây

bệnh như Pasteurella multocida MH và vi rút cúm heo phá hủy lông rung tế bào

biểu mô khí quản và phế quản mở đường cho sự tấn công của các vi khuẩn vào đường hô hấp dưới (Oliveira, 2006)

Hệ thống phòng vệ ở phổi bao gồm 3 nhóm thành phần: tổ chức lympho, lý hóa học và tế bào

 Tổ chức lympho

Gồm có mô lympho xoang mũi và mô lympho khí phế quản

Trang 24

 Lý hóa học

Gồm có lông mũi, cấu trúc xoang mũi, cấu trúc niêm mạc đường hô hấp và dịch nhầy niêm mạc (chứa lysozym, thành phần bổ thể, interferon, lactoferrin, interleukin, cytokin, kháng thể đặc hiệu…)

Lysozym được sản xuất bởi đại thực bào, bạch cầu trung tính, tế bào biểu mô… Enzym này có hoạt tính cao tiêu diệt các vi khuẩn gram dương nhờ tác động làm hư hại lớp peptidoglycan (Oliveira, 2006)

Lactoferrin được sản xuất bởi bạch cầu trung tính và tế bào biểu mô Chất này tác động lên quá trình sinh trưởng của vi khuẩn vì ngăn không cho vi khuẩn sử dụng sắt

Đáp ứng miễn dịch dịch thể cũng đóng vai trò quan trọng bảo vệ phổi chống lại các tác nhân gây bệnh xâm nhập Kháng thể chiếm tỷ lệ cao trong niêm mạc đường hô hấp trên là IgA (Delventhal và ctv, 1992), có nhiều nhất trong chất tiết của mũi và khí quản (Lóper, 2001) IgA giữ vai trò quan trọng ở đường hô hấp trên

và IgG giữ vai trò quan trọng ở đường hô hấp dưới Theo Stevension (1998), màng nhầy phế quản được IgA che phủ, IgA được sản xuất và tiết tại chỗ do tác nhân gây bệnh kích thích khi tiếp xúc trực tiếp với niêm mạc đường hô hấp IgA có khả năng trung hòa vi rút, ngưng kết vi khuẩn và trung hòa độc tố vi khuẩn, và góp phần vào quá trình opsonin hóa vi khuẩn bởi các tế bào thực bào Trong phổi khỏe mạnh chỉ

có một ít IgG ở phế nang, trong giai đoạn sớm của viêm IgG sẽ tăng lên lượng lớn IgG đặc hiệu trực tiếp chống vi khuẩn trong phế nang, tăng sự thực bào thông qua opsonin hóa, trung hòa độc tố vi khuẩn, kết dính và ngăn cản sự phát triển của vi sinh vật, hoạt hóa bổ thể và những tế bào miễn dịch khác (trích dẫn Nguyễn Thị Phước Ninh, 2007)

 Tế bào

Bao gồm đại thực bào phế nang, đại thực bào mạch máu, tế bào biểu mô, bạch cầu trung tính, bạch cầu ưa acid, các lympho B từ tủy xương, tương bào, các lympho T từ tuyến ức… (Christensen, 1999)

Trang 25

Đại thực bào phế nang là hàng rào phòng thủ đầu tiên của phế nang, đảm nhận một số chức năng sau: thực bào tiêu diệt các kháng nguyên, trình diện kháng nguyên, điều hòa đáp ứng miễn dịch và phản ứng viêm nhờ sự phân tiết các cytokin như interleukin-1 (IL-1), tumor necrosis factor-alpha (TNF-α), interferon (IFN)

Đại thực bào mạch máu phổi nằm ở thành mạch máu của phổi, có khả năng thực bào, giữ vai trò quan trọng trong việc loại bỏ vi khuẩn từ dòng máu đến phổi (Olivera, 2006) Đại thực bào mạch máu phổi có khả năng ly giải các vi khuẩn đã bị thực bào mạnh hơn so với đại thực bào phế nang Ngược lại đại thực bào phế nang

có khả năng thực bào vi khuẩn mạnh hơn đại thực bào mạch máu phổi (Pabst, 1996)

Nếu đại thực bào không phân hủy được kháng nguyên, hiện tượng viêm xảy

ra Các tế bào bạch cầu trung tính từ dòng máu xâm nhập vào phế nang hỗ trợ hoạt động của đại thực bào (Delclaux và Azoulay, 2003) Cùng lúc đó có sự xuất hiện của các tế bào khác, bao gồm bạch cầu ưa acid, tế bào mast (Thacker, 2006)

Nếu phản ứng viêm cấp tính không đủ khả năng để loại bỏ kháng nguyên và các mô tổn thương thì hiện tượng viêm sẽ chuyển sang dạng mãn tính Các tế bào trong viêm mãn tính bao gồm: tế bào lympho, đại thực bào, tương bào, bạch cầu trung tính… (Deventhal và ctv, 1992)

Bảng 2.1 Thành phần tế bào dịch phế quản - phế nang ở heo khỏe

(Ganter và Hensel, 1997)

Đại thực bào 93,1 (90-99) Bạch cầu trung tính 2,9 (0-8) Bạch cầu acid 0,1 (0-1)

Trang 26

Bảng 2.2 Thành phần tế bào dịch phế quản - phế nang ở heo

(Famillie, 2006)

Đối tượng Đại thực bào (%)

Bạch cầu trung tính (%)

Tế bào lympho (%)

bệnh

15-20 kg

Heillman và Muller, 1987Heo sạch

Leengoed

và Kamp, 1989Heo sạch

bệnh

19-30 kg

90,1 ± 6,4 5,9 ± 5,8 3,0 ± 3,3 0,3 ± 0,9 Ganter và ctv, 1990 Heo khỏe

Charley, 1977Heo khỏe

bình thường 70 – 80 8 – 12 11 – 18 0 – 5

Neumann

và ctv, 1985

So với heo sạch bệnh thì số lượng tế bào trong 1ml dịch phế quản - phế nang

ở heo có dáng vẻ khỏe mạnh cao hơn 1,2 – 4 lần và heo viêm phổi thì cao hơn gấp

23 lần Số lượng tế bào trong 1ml dịch phế quản - phế nang ở heo sạch bệnh khoảng

107 tế bào (Gehrke và Pabst, 1990)

Mặc dù tỷ lệ đại thực bào trong dịch phế quản - phế nang ở heo bị viêm phổi chiếm khoảng 50% thấp hơn so với heo sạch bệnh hay heo không có triệu chứng bệnh chiếm khoảng 80%, nhưng số lượng cao hơn 3-9 lần (Gehrke và Pabst, 1990)

Tế bào lympho trong dịch phế quản - phế nang heo viêm phổi chiếm tỷ lệ khoảng 20% và số lượng cao hơn 11-12 lần so với heo sạch bệnh hay heo không có triệu chứng bệnh (Gehrke và Pabst, 1990)

Trang 27

Các tế bào bạch cầu đa nhân thường vắng mặt trong dịch phế quản - phế nang ở heo sạch bệnh và heo không có triệu chứng bệnh, nhưng đối với heo viêm phổi thì chiếm tỷ lệ khoảng 30% (Gehrke và Pabst, 1990) Tổng số tế bào và số bạch cầu trung tính ở nhóm heo có sức khỏe kém thì cao hơn so với nhóm heo có trạng thái sức khỏe tốt (Jolie và ctv, 2000)

2.3 Các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh trên đường hô hấp

Bệnh trên đường hô hấp ở heo là hậu quả tác động của nhiều yếu tố nguy cơ khác nhau như vi sinh vật gây bệnh, yếu tố di truyền, môi trường, quản lý… Trong

đó vi sinh vật gây bệnh là yếu tố nguy cơ giữ vai trò quan trọng nhất

Bảng 2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ bệnh hay tỷ lệ tái nhiễm bệnh trên đường

hô hấp ở heo (Stark, 1998)

không khí Nhiệt độ, ẩm độ, chất lượng khí, bụi và mật độ vi khuẩn

Các trại gần kề Khoảng cách, kích cỡ, mật độ nuôi trong vùng

2.4 Tỷ lệ nhiễm một số mầm bệnh đường hô hấp

Bệnh trên heo chủ yếu là bệnh đường hô hấp chiếm tỷ lệ 55,1%, kế đến là bệnh đường tiêu hóa 16,8%, bệnh hệ thống 16,3%, xáo trộn sinh sản 2,8%, rối loạn thần kinh 2,3% và các bệnh khác 6,4% (Swist, 2008) Điều này cho thấy bệnh đường hô hấp có vị trí khá quan trọng, gây thiệt hại kinh tế trong ngành chăn nuôi heo

Trang 28

Bảng 2.4 Tỷ lệ đàn heo nhiễm một số vi sinh vật gây bệnh đường hô hấp ở một vài

quốc gia (trích dẫn Đặng Thị Thu Hường, 2005) Mầm bệnh

Tỷ lệ đàn

bị nhiễm (%)

Schultz và ctv, 1982 Falk và ctv, 1990 Anderson và ctv,

1990

Haemophilus parasuis 69* Đan Mạch Mousing và ctv, 1990

Mycoplasma hyopneumoniae 85** Úc Mercy và Brennan, 1988

Pasteurella multocida 11** Missouri, Mỹ Madec và ctv, 1990

Vi rút cúm H1N1 70* Đan Mạch Mousing và ctv, 1990

Chú thích: *: huyết thanh học

**: dấu hiệu lâm sàng Khoảng 80% đàn heo trên toàn thế giới (Fano và ctv, 2005; trích dẫn Phatsara, 2007), 70-90% đàn heo ở Anh nhiễm MH (Pemberton, 2009) Nguyễn Thị Phước Ninh (2007) đã xác định tỷ lệ nhiễm MH tại 3 trại chăn nuôi công nghiệp

ở thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương là 68,71%

2.5 Giới thiệu về bệnh do Mycoplasma hyopneumoniae

Bệnh viêm phổi địa phương do MH trên heo còn gọi là bệnh suyễn heo

Bệnh thường xảy ra ở thể mãn tính với đặc điểm viêm phế quản, viêm phổi tiến triển chậm, tỷ lệ mắc bệnh khá cao nhưng tỷ lệ chết thấp, khoảng 16 % nếu không ghép với bệnh truyền nhiễm khác (Trần Thanh Phong, 1996)

Bệnh không gây tỷ lệ chết cao nhưng heo bệnh chậm lớn, tăng tỷ lệ loại thải, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn, kéo dài thời gian nuôi và làm tăng chi phí thuốc điều trị (Ross, 1999) Cứ mỗi 10% bệnh tích nặng hơn ở phổi bệnh làm tăng trọng hằng ngày của heo giảm 23-37g (Jackson và Cockcroft, 2007) Ở Mỹ, chưa tính đến chi phí thuốc sử dụng điều trị hay phòng bệnh, ước tính thiệt hại khoảng 4,08

Trang 29

USD/heo (Lawhorn, 1998) Thiệt hại hằng năm ở Mỹ ước tính khoảng 330 triệu USD (Nicholas, 1998)

2.5.1 Căn bệnh

Theo Razin (1992), MH thuộc giới Procaryotae, ngành Firmicutes, lớp Mollicutes, bộ Mycoplasmatales, họ Mycoplasmataceae, giống Mycoplasma Trong nhóm giống Mycoplasma ngoài MH còn có 2 loài khác gây bệnh phổ biến ở heo là

M hyorhinis, M hyosynoviae (Frey, 2002)

Theo Waites và ctv (2004), Mycoplasma dạng hình cầu có đường kính

0,2-0,3µm, dạng gậy thon có chiều dài 1-2µm và chiều rộng 0,1-0,2µm Vì kích thước nhỏ nên chúng có khả năng qua màng lọc vô trùng có đường kính lỗ lọc 0,45µm

Do đó không thể quan sát Mycoplasma bằng kính hiển vi quang học và MH có khả

năng phát triển trong môi trường canh nhưng không làm đục môi trường

MH đề kháng yếu khi bên ngoài cơ thể vật chủ, tồn tại chỉ vài ngày nhưng nếu được bảo vệ bởi chất tiết hay nhiệt độ môi trường lạnh sẽ sống sót lâu hơn (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2007) MH rất mẫn cảm với tia tử ngoại, sự khô hạn và chất sát trùng Trong phổi, MH tồn tại 2 tháng ở -250C, 9-11 ngày ở 1-60C và chỉ 3-

7 ngày ở nhiệt độ 17-250C Các nhóm kháng sinh phong bế tổng hợp protein hay acid nhân như tetracycline, phenicol, aminoglycosid ức chế sự nhân lên của MH Ngược lại, kháng sinh tác động ở thành tế bào thì không có tác dụng (Tô Minh Châu và Vũ Thị Lâm An, 2006)

2.5.2 Đặc điểm dịch tễ

Theo Switzer và Ross (1975), tỷ lệ mắc bệnh do MH có thể thay đổi từ 80%, tỷ lệ chết do bệnh 1-5%, tỷ lệ loại thải 5-15%, số heo chậm lớn 20-30% (trích dẫn Nguyễn Thị Phước Ninh, 2007)

10-2.5.2.1 Cách lây lan

Chất chứa MH bao gồm phổi, hạch phổi và chất tiết đường hô hấp (Trần

Thanh Phong, 1996) MH lây lan qua hai con đường chính: lây trực tiếp và lây gián

tiếp qua đường không khí (Batista và ctv, 2004; trích dẫn Sibila, 2009)

Trang 30

Lây trực tiếp do nuôi nhốt chung heo bệnh hoặc heo mang trùng với heo khỏe Heo bệnh khi ho sẽ bài thải một lượng lớn MH ra ngoài môi trường Heo

khỏe mạnh khi hít thở không khí có những hạt khí dung chứa MH, từ đó MH xâm

nhập sâu vào trong đường hô hấp (phế quản và tiểu phế quản), và gây bệnh Trong thời gian cho con bú, heo mẹ mắc bệnh có thể truyền bệnh sang heo con (Morris và ctv, 1995) Trong giai đoạn cai sữa hoặc vỗ béo, heo bệnh, heo mang trùng truyền bệnh sang heo khỏe (Maes và ctv, 1996; trích dẫn Sibila, 2009)

Lây gián tiếp qua đường không khí ít xảy ra do sức đề kháng MH rất yếu đối

với ngoại cảnh (Trần Thanh Phong, 1996) Theo Zhuang và ctv (2002), để tránh sự truyền lây MH thì khoảng cách tối thiểu giữa các trại là 3 km

2.5.2.2 Lứa tuổi mắc bệnh

Mức độ nhạy cảm với MH ở các độ tuổi là như nhau (Ross, 1999) Tiến trình của bệnh chậm nên nhiều heo không biểu hiện triệu chứng cho đến khi 3-6 tháng tuổi Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất (40-60%) lúc 4-6 tháng tuổi (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2007)

Stipkovits (1995) cho rằng heo sơ sinh bị nhiễm trùng từ mẹ ngay những ngày tuổi đầu tiên, và bắt đầu có triệu chứng lâm sàng của bệnh lúc 2-3 tuần sau cai sữa Heo theo mẹ được bảo vệ nhờ miễn dịch thụ động từ sữa đầu (trích dẫn Nguyễn Thị Phước Ninh, 2007)

Joo (1999) kiểm tra huyết thanh học của heo ở các tuần tuổi 4, 8, 12, 16, 20,

và phát hiện heo có huyết thanh dương tính với MH ở độ tuổi khoảng 10-16 tuần Điều này gợi ý thời gian nhiễm xảy ra ở giai đoạn cai sữa, khoảng 4-12 tuần tuổi

2.5.3 Cách sinh bệnh

MH theo không khí đi vào đường hô hấp và định cư ở lông rung tế bào biểu

mô khí quản, phế quản và tiểu phế quản (Cowart và Casteel, 2001) MH liên kết dính với lông rung tế bào biểu mô đường hô hấp bằng protein kết dính p97 Khoảng

48 giờ sau khi gắn kết với các tế bào biểu mô¸ MH làm tê liệt các lông rung (Debey

và Ross, 1994), các lông rung kết thành nhóm hay bị phá hủy (Young và ctv, 2001)

MH sử dụng nhiều chất dinh dưỡng trong đó có arginine, MH còn sản sinh ra các

Trang 31

chất oxi hóa làm hư hại tế bào biểu mô và lông rung (Niang và ctv, 1998; trích dẫn Withear và Browning, 2004)

Những nghiên cứu gần đây cho thấy độc tố của MH làm gia tăng nhanh chóng nồng độ ion calci trong tế bào biểu mô, là nguyên nhân dẫn đến sự tê liệt các lông rung (Withear và Browning, 2004) Các lông rung bị tê liệt và phá hủy nên giảm khả năng loại thải các vật lạ ra khỏi đường hô hấp và tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm trùng kế phát (Cowart và Casteel, 2001; Done, 2002)

MH làm giảm đáp ứng miễn dịch, làm tăng khả năng nhiễm Pasteurella multocida, vi rút PRRS (Done, 2002) MH ngăn ngừa các tế bào miễn dịch nhận

biết nó như một kháng nguyên, nhờ vậy MH vẫn tồn tại được trong heo nhiễm bệnh (Thacker và Thanawongnuwech, 2002)

Theo Lóper (2001), MH kích động bạch cầu trung tính xâm nhập vào niêm mạc khí phế quản, gây mất một lượng lớn lông rung, kích thích sự tăng sản bạch cầu lympho trong mô lympho vùng phế quản (bronchus associated lymphoid tissue

- BALT) và lôi cuốn các tế bào đơn nhân vào mô kẽ của tiểu phế quản - phế nang Ngoài ra những yếu tố độc lực của MH làm giảm hoạt động thực bào của bạch cầu trung tính trong phổi và làm thay đổi cấu tạo hóa học của chất nhầy, dẫn đến nhiễm trùng phổi thứ phát

Nếu heo có sức đề kháng tốt thì vi khuẩn tạm thời bị cô lập Ngược lại, MH

sẽ sản sinh nhanh, tăng độc lực và tấn công từ thùy giữa sang thùy đỉnh rồi đến thùy hoành cách mô (Trần Thanh Phong, 1996)

2.5.4 Triệu chứng

Bệnh thường xảy ra ở thể mãn tính, có tỷ lệ bệnh cao, tỷ lệ chết thấp, với triệu chứng ho khan kéo dài, giảm tăng trọng (Jones và ctv, 1997)

Theo Trần Thanh Phong (1996), triệu chứng nghi ngờ heo nhiễm MH là thở

há mồm, ngồi thở dốc, thở nhanh và tần số hô hấp cao 60-100 lần/phút, ho có thể vài tiếng ho / lần ho hoặc liên tục 15 đến 30 tiếng ho/lần ho Ho có thể kết hợp hoặc không kết hợp với thở thể bụng

Trang 32

2.5.5 Bệnh tích

Kwon và ctv (2002) mô tả bệnh tích đại thể trên heo bệnh viêm phổi địa phương gồm những vùng rắn chắc có màu từ đỏ sậm đến tím (nhục hóa) Các bệnh tích này thường xuất hiện ở các thùy đỉnh, thùy tim, thùy phụ và phần đỉnh của thùy hoành cách mô Trên các heo bệnh khác nhau, mức độ và phạm vi bệnh tích cũng khác nhau Dịch nhầy trắng được tìm thấy trong lòng khí quản, phế quản và tiểu phế quản Các hạch lympho quanh phế quản, tiểu phế quản và mạch máu triển dưỡng Phổi phải thường bị nặng hơn phổi trái, vùng phổi có bệnh tích khác biệt rất rõ so với vùng phổi bình thường Đôi khi có sự xuất hiện của các bệnh tích khác như: viêm màng phổi sợi huyết, viêm phúc mạc, viêm màng bao tim (Jones và ctv, 1997)

Nguyễn Phước Ninh (2007) khảo sát 143 phổi heo giết thịt từ 2 trại chăn nuôi công nghiệp có tỷ lệ huyết thanh dương tính với MH lần lượt là 85,99% và 93,33% Hầu hết các phổi khảo sát đều có bệnh tích (99,30%) Nhiều bệnh tích quan sát được như nhục hóa, xẹp, viêm dính, ổ mủ trong đó bệnh tích nổi bật là nhục hóa Tỷ lệ phổi có bệnh tích nhục hóa là 76,92% Mức độ tổn thương phổi bình quân là 41,27%

Whittlestone (1972) (trích dẫn Nguyễn Thị Phước Ninh, 2007) mô tả chi tiết bệnh tích vi thể trên phổi heo bệnh ở các giai đoạn Giai đoạn sớm của bệnh, có những vùng tích tụ nhỏ bạch cầu trung tính trong lòng và xung quanh ống dẫn khí cũng như trong phế nang, đồng thời tăng số lượng tế bào lympho ở các mô quanh mạch máu, phế quản, tiểu phế quản và lớp đệm của đường dẫn khí Sau khi bệnh khoảng 15-20 ngày, có sự tăng sản mô lympho hay tích tụ tế bào lympho thành một khối dầy đặc rõ ràng xung quanh đường dẫn khí, có sự tích tụ lan rộng của dịch phù, các tế bào đơn nhân lớn, các tế bào viêm khác ở phế nang và vách liên phế nang dầy lên Đến giai đoạn kế tiếp (17-40 ngày sau nhiễm trùng) tăng sinh rộng hơn mô lưới bạch huyết ở những vùng quanh mạch máu và phế quản Đến giai đoạn hồi phục sức khỏe biểu hiện phổi xẹp, khí thủng phế nang và tăng sinh các nốt lympho khá rộng

Theo Jones và ctv (1997), bệnh tích vi thể thường thấy trên phổi heo bệnh bao gồm sự tích tụ số lượng lớn các tế bào lympho, tương bào quanh phế quản, tiểu

Trang 33

phế quản Các tế bào tiết chất nhầy ở biểu mô phế quản và tiểu phế quản tăng sản và tiết quá nhiều chất nhầy Lòng phế nang có sự gia tăng các tế bào bạch cầu trung tính, tế bào lympho và đại thực bào

2.5.6 Chẩn đoán

Do MH gây bệnh cục bộ trên đường hô hấp và chúng có khả năng thay đổi

để phù hợp với đáp ứng miễn dịch của heo bệnh nên việc chẩn đoán MH rất khó khăn (Thacker, 2004) Các phương pháp được sử dụng chẩn đoán MH: dựa vào triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể, bệnh tích mô học, nuôi cấy phân lập, các phương pháp huyết thanh học và phản ứng nhân gien (PCR) PCR là phương pháp thường được dùng hiện nay dùng để chẩn đoán MH từ mẫu bệnh phẩm phổi, dịch mũi heo, dịch phế quản - phế nang (Nguyễn Tất Toàn, 2004) Một số phương pháp chẩn đoán trong phòng thí nghiệm được trình bày tóm lược sau đây

2.5.6.1 Nuôi cấy phân lập

Nuôi cấy phân lập được xem như là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán MH Tuy nhiên MH rất khó nuôi cấy do MH không có hầu hết các gien cho sinh tổng hợp các acid amin, acid béo và vitamin MH phụ thuộc vào môi trường vật chủ để phát triển

Đến nay chỉ có số ít loài Mycoplasma trong tự nhiên có thể được nuôi cấy, nhưng mọc rất chậm và ít trên môi trường nuôi cấy Mycoplasma tốt nhất (Nguyễn Thị

Phước Ninh và ctv, 2006)

2.5.6.2 Các phương pháp huyết thanh học

Phương pháp huyết thanh học là phương pháp phổ biến nhất được sử dụng để xác định sự hiện diện của một mầm bệnh nào đó trong đàn vật nuôi Tuy nhiên phương pháp này gặp rất nhiều khó khăn trong chẩn đoán MH

Có 3 phương pháp ELISA gián tiếp được dùng ở Mỹ để kiểm tra kháng thể

chống MH trong huyết thanh: Tween 20 ELISA, HerĐChek Mycoplasma hyopneumoniae ELISA và DAKO Mycoplasma hyopneumoniae ELISA Cả 3

phương pháp này có độ đặc hiệu cao - làm giảm kết quả dương tính giả, nhưng lại

có độ nhạy thấp khoảng 39-47% dẫn đến tăng kết quả âm tính giả Nguyên nhân dẫn

Trang 34

hấp, tương tác yếu với hệ thống miễn dịch của cơ thể nên kết quả huyết thanh học thay đổi; mặc khác kháng nguyên protein bề mặt của MH thay đổi dẫn đến kháng thể đáp ứng cũng thay đổi (Thacker, 2004)

2.5.6.3 Kiểm tra kháng nguyên MH

Có thể dùng kỹ thuật hóa mô miễn dịch hay phản ứng kháng thể huỳnh quang gián tiếp - indirect fluorescent antibody (IFA) để phát hiện MH ở mô phổi hay trên vết phết Tuy nhiên các kỹ thuật này có trở ngại là được dùng để kiểm tra trên heo đã giết mổ, đồng thời gia tăng nguy cơ âm tính giả do chỉ một mẫu nhỏ mô phổi được dùng để kiểm tra (Cai và ctv, 2007) Chất lượng của kháng thể dùng trong các kỹ thuật này có độ đặc hiệu thấp, chúng có thể liên kết với các loài

Mycoplasma khác (Bouh và ctv, 2003) Kỹ thuật IFA có độ nhạy thấp khi số lượng

Sự phát triển kỹ thuật PCR làm gia tăng mức độ chính xác chẩn đoán MH

Có hai phương pháp được dùng gồm PCR và nested PCR Nested PCR có độ nhạy cao và có thể phát hiện sự hiện diện của MH với số lượng thấp (Thacker, 2004)

2.5.7 Điều trị

Bệnh do MH tạo điều kiện thuận lợi cho những bệnh kế phát khác gây bệnh,

do đó cần phát hiện nhanh để cách ly điều trị sớm Sử dụng kháng sinh kết hợp tăng cường trợ lực, trợ sức, cải thiện điều kiện môi trường trong điều trị heo bệnh

Theo Ross (1999) và (Done, 2002), có ba nhóm kháng sinh điều trị MH hiệu quả Nhóm tetracycline gồm oxytetracycline, chlotetracycline Nhóm macrolide gồm tylosin, lincomycin ; nhóm quinolone thế hệ II gồm enrofloxacin, norfloxacin, ofloxacin

Trang 35

Theo Harris (2000), kháng sinh trong điều trị sẽ mang lại hiệu quả giảm các triệu chứng bệnh, không có hiệu quả loại trừ MH trên heo đã nhiễm bệnh Sử dụng kháng sinh tetracycline, tylosin, tiamulin, lincomycin (200g/tấn thức ăn) bổ sung vào thức ăn, nước uống trong 21 ngày cho thấy làm giảm bệnh tích phổi và tăng năng suất (Cowart và Casteel, 2001) Các kháng sinh mới như florfenicol, tulathromycin có hiệu quả tốt trong điều trị bệnh viêm phổi địa phương do MH gây

ra (Jackson và Cockcroft, 2007)

Một số thí nghiệm sử dụng kháng sinh để điều trị đã được tiến hành Kết quả thí nghiệm được trình bày qua bảng 2.6, hiệu quả điều trị được đánh giá dựa vào phần trăm giảm tổn thương phổi (Burch, 2004)

Bảng 2.5 So sánh hiệu quả điều trị viêm phổi địa phương do MH của một số

kháng sinh (Burch, 2004)

Kháng sinh

Thời gian sử dụng (ngày sau khi gây bệnh)

Hàm lượng trong thức

ăn (ppm)

Phần trăm giảm tổn thương phổi (%)

Lincomycin +

Stipkovits và ctv, 2001 Chlortetracycline

Thacker và ctv, 2000

Trang 36

lượng) Phác đồ 2 phối hợp Baytril với dexamethason và ADE, B complex cho kết quả điều trị tốt nhất, chi phí điều trị khá cao (345 đồng/1 kg trọng lượng) Phác đồ 3 dùng tiamulin kết hợp với ADE, B complex cho kết quả điều trị thấp

2.5.8 Phòng bệnh

Để kiểm soát bệnh này cần phối hợp thực hiện nhiều biện pháp như quản lý đàn, vệ sinh chuồng trại, cải thiện tiểu khí hậu chuồng nuôi, tiêm phòng bệnh bằng vắc xin, sử dụng kháng sinh… (Maes và ctv, 2008)

2.5.8.1 Phòng bệnh bằng biện pháp quản lý và vệ sinh chuồng trại

Biện pháp hạn chế và ngăn chặn một cách hiệu quả bệnh viêm phổi địa phương là tạo môi trường tối ưu cho đàn heo như cung cấp không khí sạch, cải thiện

vệ sinh để giảm khí độc, nhiệt độ thích hợp, mật độ đàn thích hợp và cung cấp đầy

đủ dinh dưỡng Ngoài ra, quản lí đàn theo nguyên tắc “cùng vào cùng ra”, khi nhập đàn heo có nguồn gốc bên ngoài phải chọn cơ sở sản xuất giống có uy tín và thực hiện cách li theo dõi trước khi nhập đàn cũng mang lại hiệu quả tích cực trong việc phòng bệnh (Thacker, 2006)

Sử dụng các vắc xin chết có chứa chất bổ trợ chống MH đã giúp phòng ngừa hiệu quả bệnh viêm phổi địa phương Có một số loại vắc xin chỉ tiêm một lần vào khoảng 1 tuần tuổi, một số loại khác thì tiêm hai lần: lần 1 khoảng 1 tuần tuổi và lần

2 lập lại hai tuần sau đó Các thử nghiệm sử dụng vắc xin đã cho thấy hiệu quả làm giảm tỷ lệ chết, chuyển hóa thức ăn tốt hơn và giảm chi phí (Jackson và Cockcroft, 2007)

Hiệu quả vắc xin mang lại bao gồm cải thiện tăng trọng (2-8%), chuyển hóa thức ăn tốt hơn (2-5%), có thể giảm tỷ lệ chết và loại thải, đạt trọng lượng xuất

Trang 37

chuồng thời gian ngắn hơn, giảm triệu chứng lâm sàng liên quan đến bệnh, giảm bệnh tích phổi và chi phí điều trị thấp hơn (Maes và ctv, 1998-1999), giảm số lượng

MH trong đường hô hấp (Thacker và ctv, 1998), giảm mức độ nhiễm của đàn (Sibila và ctv, 2007; trích dẫn Maes, 2008)

2 liều 2ml tiêm bắp: liều 1 lúc tối thiểu 7 ngày tuổi và tiêm lập lại 2 tuần sau đó

M+Pac Intervet/Schering Plough 2 liều 1ml tiêm bắp: liều 1 lúc 7 ngày tuổi và tiêm lập lại 2 tuần sau đó Porcilis Mhyo Intervet/Schering

Plough

2 liều 2ml tiêm bắp: liều 1 lúc tối thiểu 7 ngày tuổi và tiêm lập lại 3 tuần sau đó

Stellamune

Mycoplasma Pfizer

2 liều 2ml tiêm bắp: liều 1 lúc tối thiểu 7 ngày tuổi và tiêm lập lại 2-4 tuần sau đó

Stellamune

(Respisure) Once Pfizer

1 liều 2ml tiêm bắp: lớn hơn 7 ngày tuổi

Suvaxyn Mhyo Fort Dodge

2 liều 2ml tiêm bắp: liều 1 lúc tối thiểu 7 ngày tuổi và tiêm lập lại 2 tuần sau đó

Suvaxyn MH-one Fort Dodge 1 liều 2ml tiêm bắp: lớn hơn 3 tuần

tuổi

2.5.8.3 Phòng bệnh bằng kháng sinh

Để kiểm soát bệnh trên đường hô hấp trong đó có bệnh viêm phổi địa phương, nhóm tetracycline và macrolide thường được sử dụng nhất Ngoài ra các kháng sinh khác có tác động lên MH cũng được sử dụng như: lincosamid,

Trang 38

Walter và ctv (2000) báo cáo hiệu quả phòng MH tốt khi sử dụng tiamulin 38,5 ppm và chlotetracycline 22 mg/kg trọng lượng trộn vào thức ăn trong 7 ngày của tuần 2, 4, 7, 10 và 13 sau khi chuyển thịt Có một số báo cáo cho thấy hiệu quả phòng bệnh tốt khi sử dụng các kháng sinh: lincomycin, tetracycline, tiamulin trộn vào thức ăn trong vòng 7-10 ngày Thời điểm bắt đầu cho ăn vào khoảng 1-3 tuần trước khi bệnh có thể xảy ra (Desrosiers, 2001)

Theo Stipkovits và ctv (2001), chlotetracycline bổ sung vào thức ăn (550 mg/kg thức ăn) từ lúc 3 ngày trước khi gây nhiễm MH và cho ăn trong vòng 14 ngày liên tục Kết quả cho thấy viêm phổi do MH gây ra giảm 95% và số lượng MH

ở phổi giảm so với nhóm heo không sử dụng kháng sinh

Liệu pháp kháng sinh có thể áp dụng như sau: nếu heo con có nguy cơ nhiễm bệnh khi cai sữa, có thể tiêm oxytetracycline ngay khi cai sữa hoặc một tuần sau cai sữa; hoặc sử dụng oxytetracycline hoặc chlotetracycline ở giai đoạn sau cai sữa đến

16 tuần tuổi trong thức ăn với liều lượng 500 g/tấn từ 4 – 8 tuần, sau đó giảm còn

200 – 300 g/tấn hoặc tiamulin 100 g/tấn trong 14 ngày Nếu đàn bị bệnh mãn tính thì sử dụng tetracycline 500 – 800 g/tấn, lincomycin 220 g/tấn hoặc tiamulin 100 g/tấn từ 7 đến 10 ngày (Thepigsite, 2009)

Bảng 2.7 So sánh hiệu quả phòng bệnh viêm phổi địa phương do MH của một số

kháng sinh (Burch, 2004)

Kháng sinh Thời gian sử dụng

Hàm lượng trong thức ăn (ppm)

Phần trăm giảm tổn thương phổi

Trang 39

2.6 Giới thiệu về vắc xin Respisure-one

Respisure-one là vắc xin vô hoạt chứa toàn bộ tế bào MH kết hợp với chất bổ trợ amphigen, dùng để phòng bệnh viêm phổi địa phương trên heo Amphigen có tác dụng tăng cường và kéo dài kích thích miễn dịch, không gây tổn hại mô tại vị trí

tiêm Thành phần Respisure-one gồm có: Mycoplasma hyopneumoniae, amphigen,

EDTA, polysorbate 80, sorbitan oleate, dầu khoáng trắng (Pfizer, 2009) Heo được tiêm một liều Respisure-one duy nhất lúc heo con được một tuần tuổi hoặc lớn hơn, tạo đáp ứng miễn dịch kéo dài khoảng 25 tuần

2.7 Giới thiệu về Draxxin - kháng sinh tulathromycin

Draxxin chứa tulathromycin là hoạt chất chính và các tá dược như monothioglycerol, propylene glycol, citric acid, hydrochlorid acid, sodium hydroxide

2.7.1 Cấu tạo

Tulathromycin là kháng sinh bán tổng hợp thuộc nhóm macrolide Trong môi trường lỏng, tulathromycin là hỗn hợp cân bằng và ổn định của hai đồng phân: 90±3% đồng phân A (vòng lacton có 15 nguyên tử) và 10±3% đồng phân B (vòng lacton có 13 nguyên tử) (Nowakowski và ctv, 2004)

Bảng 2.8 Phân loại kháng sinh nhóm macrolide dựa vào số nguyên tử vòng lactone

Azithromycin

Tulathromycin (90%)

Spiramycin Josamycin Tylosin Tilmicosin Miokamycin Rokitamycin

Trang 40

Cấu trúc phân tử của tulathromycin gồm có aglycon (vòng lacton 13 nguyên

tử hay vòng lacton 15 nguyên tử) và hai phân tử đường liên kết với aglycon bằng liên kết ether (EmeA, 2002) Do tulathromycin chứa ba nhóm amin nên được xếp vào phân nhóm triamilid của nhóm macrolide, một nhóm amin nằm ở aglycon, hai nhóm còn lại nằm ở hai phân tử đường Nitrogen của mỗi nhóm amin đều mang một điện tích dương, do đó trong dung dịch phân tử tulathromycin có thể có 3 điện tích dương (Evans, 2005)

Hình 2.1 Hai đồng phân của tulathromycin trong môi trường lỏng: đồng phân A

(90±3%) và đồng phân B (10±3%) (Nowakowski và ctv, 2004)

Ngày đăng: 14/03/2019, 10:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w