1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỈ TIÊU SẢN XUẤT VÀ TỶ LỆ NHIỄM VE CỦA ONG APIS MELLIFERA Ở TỈNH ĐỒNG NAI

87 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 847,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối tương quan giữa sức đẻ trứng của ong chúa với tỷ lệ sống của ấu trùng trên các đàn ong .... Được sự đồng ý của Bộ môn Bệnh Lý – Ký Sinh Trùng thuộc Khoa Chăn Nuôi – Thú Y, Trường Đại

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Trọng Hải Âu

Trang 2

KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỈ TIÊU SẢN XUẤT VÀ TỶ LỆ NHIỄM VE

CỦA ONG APIS MELLIFERA Ở TỈNH ĐỒNG NAI

Tác giả

NGUYỄN TRỌNG HẢI ÂU

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu

cấp bằng kỹ sư chăn nuôi

Giáo viên hướng dẫn:

TS NGUYỄN QUANG TẤN

Tháng 06/2009

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn:

- Ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM

- Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi – Thú y

- Ban chủ nhiệm Bộ môn Bệnh lý – Truyền nhiễm – Ký sinh trùng

- Quý Thầy Cô Khoa Chăn nuôi – Thú y

- Các bạn và các anh em công nhân ở trại ong

Đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài này

Xin cảm ơn ông Nguyễn Thọ Thanh – Công Ty TNHH SX & TM Ong Mật Thanh Nam Thắng, là chủ trại ong mật đã nhiệt tình hướng dẫn, truyền dạy kinh nghiệm trong nghề và tạo điều kiện tốt cho tôi hoàn thành nghiên cứu

Đặc biệt, xin cảm ơn TS Nguyễn Quang Tấn, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Nguyễn Trọng Hải Âu

Trang 4

Chúng tôi đã khảo sát một số chỉ tiêu liên quan đến khả năng sản xuất và tỷ lệ nhiễm ve ký sinh trên một số đàn ong tốt của trại Các chỉ tiêu theo dõi gồm:

 Sức đẻ trứng của ong chúa

 Tỷ lệ sống của ấu trùng

 Năng suất mật

 Tỷ lệ nhiễm ve Varroa destructor và Tropilaelaps clareae trên nhộng ong

Qua kết quả thu được chúng tôi rút ra một số kết luận:

- Sức đẻ trứng trung bình của ong chúa của 10 đàn ong khảo sát là 1.286,4 trứng/ngày

- Trung bình tỷ lệ sống của ấu trùng của các đàn ong đã khảo sát là 79,2 %

- Năng suất mật trung bình của các đàn ong đạt 4,9 kg/lần thu hoạch, lượng mật thu được trung bình là 14,7 kg/đàn/3 lần thu hoạch

- Tỷ lệ nhiễm ve Varroa destructor ở nhộng ong đực (2,65 %) cao hơn ở nhộng

ong thợ (1,05 %) Tỷ lệ nhiễm ve Tropilaelaps clareae ở nhộng ong thợ (1,99 %) cao hơn ở nhộng ong đực (1,36 %)

- Giữa sức đẻ trứng của ong chúa với năng suất mật của đàn ong có mối tương quan thuận

- Giữa sức đẻ trứng của ong chúa với tỷ lệ sống của ấu trùng trên đàn ong có mối tương quan thuận

- Giữa sức đẻ trứng của ong chúa với tỷ lệ nhiễm ve ký sinh trên nhộng của đàn ong có mối tương quan nghịch

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Chương 2 TỔNG QUAN 3

2.1 Tổng quan về thế giới loài ong 3

2.1.1 Loài ong mật 3

2.1.2 Loài Apis mellifera 5

2.1.3 Phân loài Apis mellifera ligustica 5

2.1.4 Các thành viên trong một đàn ong 6

2.1.4.1 Ong thợ 6

2.1.4.2 Ong đực 7

2.1.4.3 Ong chúa 7

2.1.5 Thời gian phát triển của ong 10

2.2 Nghề nuôi ong và khai thác mật ong 11

2.2.1 Mật ong 11

2.2.1.1 Nguồn gốc mật ong 11

2.2.1.2 Khai thác mật ong hoang dã 11

2.2.1.3 Cách khai thác mật ong nuôi 11

2.2.2 Nghề nuôi ong mật trên thế giới 12

2.2.3 Nghề nuôi ong mật ở Việt Nam 12

2.3 Sơ lược về ve ký sinh trên ong Apis mellifera 15

2.3.1 Ve Varroa destructor 15

2.3.1.1 Phân loại 15

2.3.1.2 Hình thái học 15

2.3.1.3 Đặc điểm sinh học của ve Varroa destructor 16

2.3.1.4 Tác hại của ve Varroa destructor đối với ong 19

2.3.2 Ve Tropilaelaps clareae 20

Trang 6

2.3.2.1 Phân loại 20

2.3.2.2 Hình thái học 20

2.3.2.3 Đặc điểm sinh học của ve Tropilaelaps clareae 21

2.3.2.4 Tác hại của ve Tropilaelaps clareae đối với ong 24

2.4 Giới thiệu sơ lược về trại ong thực hiện khảo sát 25

2.4.1 Lịch di chuyển của trại trong một năm 25

2.4.2 Phương thức chăm sóc và nuôi dưỡng 26

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Thời gian, địa điểm thực hiện và dụng cụ cần thiết 27

3.1.1 Thời gian thực hiện 27

3.1.2 Địa điểm thực hiện 27

3.2 Phương pháp nghiên cứu 27

3.2.1 Phương pháp chọn mẫu và chu kỳ khảo sát 27

3.2.2 Dụng cụ cần thiết 28

3.2.3 Những lưu ý khi tiến hành khảo sát 28

3.2.4 Chỉ tiêu theo dõi và cách thực hiện 28

3.2.4.1 Sức đẻ trứng của ong chúa 28

3.2.4.2 Tỷ lệ sống của ấu trùng 30

3.2.4.3 Năng suất mật 30

3.2.4.4 Tỷ lệ nhiễm ve ký sinh trên nhộng ong 30

3.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 31

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Sức đẻ trứng của ong chúa 32

4.1.1 So sánh sức đẻ trứng của ong chúa giữa các đàn ong 33

4.1.2 So sánh sức đẻ trứng của ong chúa qua các tháng khảo sát 34

4.2 Tỷ lệ sống của ấu trùng 36

4.2.1 So sánh tỷ lệ sống của ấu trùng giữa các đàn ong 36

4.2.2 So sánh tỷ lệ sống của ấu trùng giữa các tháng 38

4.3 Năng suất mật trong thời gian khảo sát 40

4.4 Tỷ lệ nhiễm ve ký sinh trên nhộng ong 42

4.4.1 Tỷ lệ nhiễm ve chung của 10 đàn ong khảo sát 42

Trang 7

4.4.2 Tỷ lệ nhiễm theo đàn ong 44

4.4.3 Tỷ lệ nhiễm theo tháng 45

4.5 Mối tương quan giữa sức đẻ trứng của ong chúa với năng suất mật

của các đàn ong 47

4.6 Mối tương quan giữa sức đẻ trứng của ong chúa với tỷ lệ sống của ấu trùng

trên các đàn ong 49

4.7 Mối tương quan giữa sức đẻ trứng của ong chúa với tỷ lệ nhiễm ve ký sinh

trên nhộng của các đàn ong 50

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53

5.1 Kết luận 53

5.2 Đề nghị 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH

Trang

Bảng 2.1 Công việc của ong thợ theo tuổi 6

Bảng 2.2 Sức đẻ của một số loài ong đã được nghiên cứu 9

Bảng 2.3 Thời gian phát triển của ong 10

Bảng 2.4 Tỷ lệ nhiễm Varroa destructor ở nhộng ong đực và nhộng ong thợ 17

Bảng 2.5 Thời gian phát triển của Varroa destructor 18

Bảng 2.6 Thời gian phát triển của Tropilaelaps clareae 22

Bảng 2.7 Kích thước của ve Tropilaelaps clareae ở các giai đoạn biến thái 22

Bảng 2.8 Tỷ lệ nhiễm ve Tropilaelaps clareae trên ong Apis mellifera 24

Bảng 4.1 Sức đẻ trứng của ong chúa ở các đàn ong qua thời gian khảo sát 32

Bảng 4.2 So sánh kết quả nghiên cứu về sức đẻ trứng của ong chúa Apis mellifera 34

Bảng 4.3 Tỷ lệ sống của ấu trùng trên các đàn ong qua thời gian khảo sát 36

Bảng 4.4 So sánh kết quả nghiên cứu tỷ lệ sống của ấu trùng ong Apis mellifera 37

Bảng 4.5 Năng suất mật của các đàn ong trong thời gian khảo sát 40

Bảng 4.6 Tỷ lệ nhiễm ve chung của 10 đàn ong khảo sát 42

Bảng 4.7 So sánh kết quả tỷ lệ nhiễm ve ký sinh của một số nghiên cứu 44

Bảng 4.8 So sánh tỷ lệ nhiễm ve giữa các đàn ong 44

Bảng 4.9 So sánh tỷ lệ nhiễm ve giữa các tháng 45

Bảng 4.10 Sức đẻ trứng trung bình của ong chúa và năng suất mật của các đàn ong 47 Bảng 4.11 Sức đẻ trứng trung bình của ong chúa và tỷ lệ sống của ấu trùng trên các đàn ong 49

Bảng 4.12 Sức đẻ trứng trung bình của ong chúa và tỷ lệ nhiễm ve ký sinh trên nhộng của các đàn ong 51

Hình 2.1 Ong chúa và các ong thợ 10

Hình 2.2 Ve Varroa destructor và Tropilaelaps clareae 16

Hình 2.3 Vòng đời của ve Varroa destructor 19

Hình 2.4 Ve Tropilaelaps clareae 21

Hình 2.5 Hình thái của ve Tropilaelaps clareae ở các giai đoạn phát triển 23

Hình 2.6 Bước di hoa của trại trong một năm 25

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 4.1 Sức đẻ trứng trung bình của ong chúa ở các đàn ong 33

Biểu đồ 4.2 Sức đẻ trứng trung bình của ong chúa qua các tháng khảo sát 35

Biểu đồ 4.3 Trung bình tỷ lệ sống của ấu trùng trên các đàn ong 37

Biểu đồ 4.4 Trung bình tỷ lệ sống của ấu trùng qua các tháng khảo sát 39

Biểu đồ 4.5 Năng suất mật của các đàn ong trong thời gian khảo sát 41

Biểu đồ 4.6 Tỷ lệ nhiễm ve Varroa destructor và Tropilaelaps clareae 43

Biểu đồ 4.7 Tỷ lệ nhiễm ve trên các đàn ong 45

Biểu đồ 4.8 Tỷ lệ nhiễm ve chung của các tháng điều tra 46

Biểu đồ 4.9 Tương quan giữa sức đẻ trứng của ong chúa với năng suất mật

của các đàn ong 48

Biểu đồ 4.10 Tương quan giữa sức đẻ trứng của ong chúa với tỷ lệ sống của ấu trùng

trên các đàn ong 50

Biểu đồ 4.11 Tương quan giữa sức đẻ trứng của ong chúa với tỷ lệ nhiễm ve ký sinh

trên nhộng của các đàn ong 52

Trang 10

Bên cạnh những thuận lợi và thành quả nhất định đó, nghề nuôi ong và người nuôi ong vẫn còn gặp nhiều khó khăn Đó là sự thiếu thông tin khoa học, thiếu tài liệu tham khảo và chưa nhận được sự quan tâm đúng mức như các ngành chăn nuôi khác

Năng suất của đàn ong do nhiều yếu tố như: di truyền, sự chăm sóc quản lý, điều kiện thiên nhiên thuận lợi, … Có một điều dễ nhận thấy là nếu một đàn ong có đông quân, sẽ có nhiều ong thợ làm việc, sản phẩm tạo ra sẽ nhiều hơn, đàn ong sẽ phát triển mạnh Và đàn ong mạnh thì sẽ chống chọi tốt với bệnh tật Ngược lại, nếu một đàn có năng suất cao, phẩm chất tốt nhưng quân ít thì thật khó để phát huy được những ưu điểm đó, và cũng dễ dàng cho các bệnh phát triển

Hiện nay ở nước ta, những người nuôi ong mật ít khi nhập khẩu giống mới mà thường chọn những đàn tốt của mình hoặc mua giống lại của nhau để nhân giống Tiêu chí hàng đầu khi lựa chọn của họ là đàn ong quân đông, năng suất mật cao, không bị bệnh tật Chính vì vậy, việc làm thế nào chọn được một đàn ong tốt là rất cần thiết, giúp người nuôi ong có kế hoạch chọn giống nhân đàn để đạt hiệu quả sản xuất cao nhất

Trang 11

Từ nhiều năm qua, bệnh ve ký sinh vẫn luôn là mối lo của người nuôi ong, tuy bệnh này không gây tác hại lớn nhưng nó lại có ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất sản xuất và sức khỏe của đàn ong Nếu theo dõi tình hình nhiễm ve của các đàn ong thường xuyên sẽ giúp chúng ta nắm được quy luật phát triển của bệnh, có biện pháp phòng trừ hữu hiệu nhất

Được sự đồng ý của Bộ môn Bệnh Lý – Ký Sinh Trùng thuộc Khoa Chăn Nuôi – Thú Y, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, với sự hướng dẫn của

TS Nguyễn Quang Tấn, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Khảo sát một số chỉ tiêu sản

xuất và tỷ lệ nhiễm ve của ong Apis mellifera ở tỉnh Đồng Nai”

1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU

1.2.1 Mục đích

Mục đích của đề tài là khảo sát một số chỉ tiêu sản xuất và tỷ lệ nhiễm ve ký

sinh của một trại nuôi ong Apis mellifera ở tỉnh Đồng Nai và mối tương quan giữa các

chỉ tiêu này Đề tài sẽ cung cấp những số liệu khoa học để tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu, đồng thời giúp trại ong đánh giá tình hình các đàn ong của trại

1.2.1 Yêu cầu

- Khảo sát để ghi nhận sức đẻ trứng của ong chúa, tỷ lệ sống của ấu trùng, tỷ lệ nhiễm ve ký sinh trên nhộng, và năng suất mật của các đàn ong

- Thống kê và so sánh kết quả giữa các đàn, giữa các tháng

- Phân tích mối tương quan giữa sức đẻ trứng của ong chúa với năng suất mật, tỷ

lệ sống của ấu trùng, tỷ lệ nhiễm ve của các đàn ong

Trang 12

Tương tự như loài kiến và mối, tổ ong có ong chúa chuyên đẻ trứng, ấu trùng

do trứng nở ra được nuôi bởi ong thợ, những ấu trùng này sẽ phát triển thành nhộng và nhộng thành ong non Trong đàn ong còn có ong đực, có số lượng rất ít trong tổ, chúng chết đi sau khi giao phối với ong chúa

Phân loại khoa học ong mật:

Giới (Kingdom): Animalia

Ngành (Phylum): Arthropoda

Phân lớp (Subclass): Pterygota

Dưới lớp (Infraclass): Neoptera

Siêu bộ (Superorder): Endopterygota

Trang 13

Hiện nay trên thế giới có 4 loài ong mật chính:

 Apis mellifera, còn gọi là ong mật phương Tây (Western honey bee) hoặc ong

châu Âu (European honey bee) Ở Việt Nam thường gọi là ong Ý

 Apis cerana, còn gọi là ong phương Đông (Eastern honey bee) hoặc ong châu Á (Asian honey bee) Ở Việt Nam, người nuôi ong gọi là ong Nội địa để phân biệt với ong Ý ngoại nhập

 Apis dorsata, hay còn gọi là ong mật khổng lồ châu Á (Giant honey bee) vì nó

có kích thước lớn nhất trong các loài ong mật Loài này chỉ có ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu Á Ở Việt Nam thường gọi là ong Khoái hay ong Gác kèo

 Apis florea, hay là ong tí hon (Dwarf honey bee) Nó có kích thước nhỏ nhất trong các loài ong mật và hiện diện ở những vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu Á Người dân Việt Nam thường gọi là ong Ruồi hay ong Hoa

Gần đây các nhà khoa học đã phát hiện được thêm 3 loài ong mật mới:

 Apis koschevnikovi (hoặc Apis vechti) ở Sabah, đảo Borneo, miền Đông Indonesia, có đặc điểm gần giống với ong Apis cerana

 Apis laboriosa ở vùng núi Hymalaya, Nepal gần giống với ong Apis dorsata

 Apis andreniformis gần giống với Apis florea, ở Thái Lan, Malaysia và Việt

Nam, …

Ngoài 7 loài ong mật nêu trên (Honey bees), còn có một số loài ong tạo ra được mật ong, đó là các loài ong không có ngòi đốt (Stingless bees) Những loài này được nuôi khá phổ biến ở vùng nhiệt đới của châu Úc, Trung và Nam Mỹ Ở Việt Nam, một

số người cũng nuôi và lấy mật từ một số loài ong không ngòi đốt (Trigona species) và

người ta gọi là ong Vú bởi vì mật được dự trữ trong những lỗ tổ có hình dạng giống như núm vú của người mẹ

Hiện nay Apis mellifera có vai trò quan trọng nhất trong ngành nuôi ong trên

thế giới Tuy có nguồn gốc từ châu Âu và châu Phi nhưng ngày nay chúng đã được nuôi khắp thế giới Châu Mỹ và châu Úc trước kia chỉ có các loài ong không ngòi đốt

nhưng khi người châu Âu đến, họ đã mang theo ong Apis mellifera cùng với các loài gia súc Châu Á không có ong Apis mellifera nhưng dần dần nhiều nước đã nhập loài

ong này để phát triển nghề nuôi ong hiện đại và gia tăng sản xuất mật

Trang 14

2.1.2 Loài Apis mellifera

Apis mellifera là loài ong có vị trí quan trọng nhất trong nghề nuôi ong, hiện

nay được nuôi khắp thế giới Vai trò của nó giống như giống heo Yorkshire trong

ngành chăn nuôi heo

Ong Apis mellifera mà người nuôi ong nước ta thường gọi là ong Ý, hay còn gọi là ong Châu Âu, ong Phương Tây, là một trong nhiều loài ong mật Loài này có

nguồn gốc ở châu Âu, châu Phi và Tây Á Apis là một từ Latinh để chỉ giống ong, và

mellifera có nguồn gốc từ tiếng Latinh: meli – “mật ong” và ferre – “sinh lợi”, vì vậy

tên khoa học của nó có nghĩa là “ong sinh ra mật” (honey-bearing bee) Tên này được đặt từ năm 1758 bởi Carolus Linnaeus (http://en.wikipedia.org/wiki/Apis_mellifera)

Trong những năm đầu thập niên 1960, loài ong Apis mellifera đã được nhập vào

Việt Nam từ Hong Kong bởi những người Hoa ở Sài Gòn Đây là những đàn thuộc

chủng ong Ý (Apis mellifer ligustica) nên người nuôi ong ở nước ta quen gọi là ong Ý

2.1.3 Phân loài Apis mellifera ligustica

Nguồn gốc: nước Ý, ngoại trừ đảo Sicily

Hình dạng: màu vàng tươi, hơi nhỏ, bụng hơi to, lưỡi dài (6,3 mm – 6,6 mm)

− Tập tính: hiền lành, đàn phát triển rất nhanh, chỉ đàn lớn mới qua đông được và tiêu thụ nhiều đường, nếu nguồn hoa kém đàn ong khó tồn tại được vì chúng tiêu thụ

nhiều thức ăn, dễ cướp mật giữa các đàn

Nhìn chung ong ligustica là đứa con của Địa Trung Hải ấm áp và nguồn hoa

phong phú Chúng khó có thể tồn tại ở những nơi khắc nghiệt (mùa đông dài) hoặc nguồn hoa rải rác, vì vậy nhiều nỗ lực để mang chủng ong này vượt qua dãy Alpes lên phía Bắc châu Âu đều không thành công

Tuy nhiên chủng ong này phát huy được ưu điểm rất lớn khi nguồn hoa tốt hoặc khi được con người nuôi dưỡng theo lối công nghiệp Vì vậy, trong nghề nuôi ong hiện đại chủng này được ưa chuộng ở hầu hết các nước Từ vùng Bologna của Ý và ở Mỹ,

những trại ong giống đã đưa những con ong chúa vàng ligustica này đi khắp thế giới

Ở nhiều nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, người ta nhập chủng ong Ý này vào nuôi nhưng bị thất bại Nguyên nhân có thể do dịch hại, do nguồn hoa không tập trung và do người ta không biết cách quản lý chúng

Trang 15

2.1.4 Các thành viên trong một đàn ong

Một đàn ong gồm có: ong chúa, ong đực và ong thợ Mỗi thành viên trong đàn ong đảm nhận trách nhiệm khác nhau, nhưng gắn bó chặt chẽ với nhau

2.1.4.1 Ong thợ

Hình dáng: thân hình nhỏ hơn ong chúa và ong đực, trọng lượng trung bình khoảng 100 mg (Chế Quang Diệp, 1991) Cánh dài chấm đuôi, phần đầu có tuyến hàm trên tiết ra sữa ong chúa Phía đuôi ong thợ hình nhọn, dưới bụng có tuyến sáp, trên bụng có tuyến Nassanoff tiết ra một mùi đặc trưng để báo động tình trạng nguy hiểm

và kích thích những con ong khác tập trung quanh nó, trong bụng có một túi mật dùng

để chứa mật hoa hay nước, một túi chứa nọc độc, một ngòi chích và bộ phận sinh dục

Ong thợ cũng là ong cái nhưng bộ phận sinh dục phát triển chưa đầy đủ vì bị pheromone của ong chúa kìm hãm Ong thợ cũng phát triển từ trứng thụ tinh (2n = 32) Trứng nở ra ấu trùng và được nuôi dưỡng bằng sữa ong chúa trong 3 ngày đầu Khi lổ

tổ được ong thợ tiết sáp xây bít lại thì ấu trùng bắt đầu hóa nhộng Khi nhộng phát triển thành ong trưởng thành thì nó cắn nắp sáp chui ra ngoài Ong thợ đảm đương hầu hết các nhiệm vụ trong tổ

Bảng 2.1 Công việc của ong thợ theo tuổi (Nguyễn Quang Tấn, 2003)

Hoàn thành sự phát triển của cơ thể

Nuôi ấu trùng tuổi lớn

Nuôi ấu trùng tuổi nhỏ

Trang 16

Tuổi thọ của ong thợ từ 30 – 50 ngày Tuy nhiên tuổi thọ này còn tùy thuộc ở sức lao lực ít hay nhiều của ong mà tăng hay giảm Trong thời gian có nguồn mật và phấn dồi dào, công việc của ong thợ quá bận rộn và mệt nhọc thì tuổi thọ của chúng ngắn Hay vào thời điểm trời mưa bão, giá lạnh, ong thợ không còn bận rộn, sinh lực ít

bị suy giảm nên tuổi thọ của chúng dài hơn (Quách Đại Cương và Nguyễn Huy Du, 1963)

2.1.4.2 Ong đực

Hình dáng: đầu to, đuôi tròn, thân thể thô lớn chậm chạp; không có kim chích, túi nọc, giỏ phấn và tuyến hàm trên; lông ở bụng rất dài Trọng lượng trung bình khoảng 230 mg (Chế Quang Diệp, 1991) Thường trong một đàn ong có từ vài chục đến vài trăm ong đực

Nhiệm vụ của ong đực là giao phối với ong chúa và tham gia điều hòa nhiệt độ trong tổ Ong đực chỉ xuất hiện khi đàn ong phát triển mạnh và có khuynh hướng chia đàn Ong đực được phát triển từ trứng không thụ tinh, vì vậy bộ nhiễm sắc thể của nó chỉ có 1n = 16

Tuổi thọ của ong đực có thể từ 3 – 4 tháng nhưng vào lúc cây cối không trổ hoa, nguồn mật giảm sút và bầy ong không chia đàn thì ong đực bị ong thợ xua đuổi ra khỏi tổ, rồi chết Ngược lại, nếu bầy ong không có ong chúa hay ong chúa đã già yếu, cho dù nguồn mật bị thiếu thì ong thợ cũng không xua đuổi ong đực mà còn ưu đãi và bảo vệ ong đực (Quách Đại Cương và Nguyễn Huy Du, 1963)

2.1.4.3 Ong chúa

Hình dáng: thân ong chúa lớn khoảng gấp rưỡi ong thợ và dài hơn, màu vàng hoặc xám đen Trọng lượng trung bình khoảng 220 mg, kích thước dài từ 20 – 25 mm (Chế Quang Diệp, 1991) Ong chúa không có tuyến hàm trên, giỏ phấn và tuyến sáp Cánh ong chúa chỉ che phủ nửa bụng, 6 chân tương đối dài nhưng không to, cứng và mạnh bằng chân ong thợ

Mỗi đàn chỉ có một ong chúa (đôi khi có hai chúa, nhưng rất hiếm) Nó là ong cái có bộ phận sinh dục phát triển hoàn chỉnh Ong chúa chính là mẹ của cả đàn ong,

nó đẻ trứng và cai quản cả đàn nhờ các pheromone của nó tiết ra Ong chúa phát triển

từ trứng thụ tinh (2n = 32) và được nuôi dưỡng bằng sữa chúa suốt đời Thời gian phát

triển từ trứng đến trưởng thành của ong chúa Apis mellifera khoảng từ 15 – 17 ngày

Trang 17

(Eva Crane, 1990) Trứng ong chúa phát triển trong một lổ tổ có hình dạng đặc biệt gọi

là mũ chúa, có kích thước lớn hơn ô lăng ong đực và ong thợ, hình trứng và thông thường nó ở phần rìa của bánh tổ Trứng nở ra ấu trùng và lớn lên rất nhanh Khi lổ tổ được ong thợ tiết sáp xây bít lại thì ấu trùng hóa thành nhộng Khi nhộng trở thành ong chúa trưởng thành thì nó cắn nắp sáp chui ra ngoài Sau khi nở ong chúa cần 3 – 5 ngày để phát triển cơ thể hoàn chỉnh Sau đó nó tập bay và giao phối với ong đực ở ngoài trời, thời gian bay đi giao phối là khoảng 9 giờ sáng – 3 giờ chiều Ong chúa giao phối với 7 – 10 ong đực và sau khi giao phối 3 – 5 ngày thì bắt đầu đẻ trứng Thông thường trong suốt đời, ong chúa chỉ giao phối một lần

Số trứng đẻ trong 24 giờ của ong chúa tùy thuộc vào độ tuổi của nó, vào thế đàn

và các điều kiện khác của đàn, vào tình hình không gian các cầu ong, và vào điều kiện bên ngoài, trong đó có độ dài ngày (độ dài chiếu sáng) và mức tăng hay giảm của độ

dài ngày Số trứng đẻ còn tùy thuộc từng loài ong, ong Apis cerana đẻ ít hơn ong Apis

mellifera Nolan (1925) đã theo dõi trong 12 ngày liền mùa hè ở Mỹ, khả năng đẻ trung bình đạt cao nhất được 1.600 trứng Đó là trường hợp thật đặc biệt Tuy nhiên, đôi khi cũng có những kỷ lục một ngày một ong chúa đẻ 2.000 trứng Gary (1975) cũng ở Mỹ, cho biết một cong ong chúa tốt trong một đàn ong mạnh có thể đẻ tới 200.000 trứng trong một năm (như vậy ong đẻ trong 200 ngày, trung bình mỗi ngày 1.000 trứng) Mức đẻ 150.000 trứng một năm thì thông thường hơn, tức là trong cả cuộc đời ong chúa có thể đẻ tới nửa triệu trứng Moeller (1958) đã nghiên cứu về mối tương quan giữa khả năng đẻ trứng của ong chúa với khả năng sản xuất mật của đàn ong

Khả năng đẻ của ong chúa giảm đi khi nó 2 hoặc 3 tuổi, cũng có thể sớm hơn nếu trong khi giao phối nó nhận được quá ít tinh dịch Đi đôi với tuổi già, khả năng sinh ra những chất pheromone của ong chúa cũng giảm đi, và nó không có khả năng gắn bó cả đàn lại với nhau như lúc còn trẻ Khi ong chúa về già, cũng có tình trạng không bình thường, tỷ lệ trứng không thụ tinh cao, làm số ong đực trong đàn tăng lên nhiều Kết quả là ong thợ muốn tạo chúa mới, để thay thế nó hoặc để chuẩn bị chia đàn, nếu không có sự can thiệp của người nuôi ong bằng cách thay chúa già bằng chúa trẻ cho đàn ong Khả năng đẻ trứng của ong chúa chỉ cao ở năm đầu, tuổi thọ trung

Trang 18

bình của một ong chúa từ 3 – 4 năm Nhưng để duy trì sự phát triển thế đàn mạnh người nuôi ong sau mỗi vụ thu hoạch mật thường hay thay chúa mới

Bảng 2.2 Sức đẻ của một số loài ong đã được nghiên cứu

Apis mellifera (Gary, 1975)

Apis cerana (Nguyễn Quang Tấn và Phạm

có thể uốn mình rồi nhanh chóng (trong 9 – 12 giây) đưa bụng vào lỗ tổ mà nó vừa kiểm tra, và đẻ một trứng vào đáy lỗ tổ Sau đó nó quay sang một bên, rồi chui ra Koeniger (1970) nhận xét rằng ong chúa đã dùng hai chân trước của nó để xác định kích thước xem đó là lỗ tổ ong thợ hay lỗ tổ ong đực Nếu là lỗ tổ ong thợ, nó nhả tinh

từ túi trữ tinh ra, và một trong những tinh trùng được nhả ra sẽ thụ tinh cho trứng Nếu

là lỗ tổ ong đực thì nó không nhả tinh Người ta không biết được cơ chế nhả tinh này, nhưng khi người ta không cho nó đưa hai chân trước vào một lỗ tổ ong đực trước khi

đẻ thì nó vẫn đẻ trứng thụ tinh vào lỗ tổ đó

Taranov và Ivanova (1946) nhận xét thấy khi phải đẻ nhiều trứng, ong chúa ngừng lại, nghỉ 10 – 15 phút và nhận thức ăn của 5 – 7 con ong nuôi dưỡng cho ăn Khi có ít lỗ tổ trống, ong chúa phải dạo tới 60 cm mới tìm được một lỗ tổ để đẻ

Trang 19

Hình 2.1: Ong chúa và các ong thợ

2.1.5 Thời gian phát triển của ong

Ong là loài côn trùng biến thái hoàn toàn Sự phát triển của nó trải qua 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành

Bảng 2.3 Thời gian phát triển của ong (Nguyễn Quang Tấn, 2003)

Giai đoạn Loài

Trứng (ngày)

Ấu trùng (ngày)

Nhộng (ngày)

Tổng (ngày)

Apis

mellifera

Chúa Thợ Đực

3,0 2,9 3,0

5,0 5,8 6,7

7 – 9 11,8 14,7

15 – 17 20,5 24,4

Thời gian phát triển của ong còn tùy theo đàn ong mạnh hay yếu , nhiệt độ cao hay thấp mà thời gian phát triển có thể sớm hay trễ

Nhiệt độ bên ngoài cũng có ảnh hưởng lớn đến thời gian phát triển của ấu trùng ong thợ Nhiệt độ thích hợp cho ong phát triển tốt nhất là: nhiệt độ trong thùng từ 20 –

30 oC và ở giữa bánh tổ 35 – 36 oC Nếu nhiệt độ thấp ong sẽ nở trễ, nhiệt độ cao ong

sẽ nở sớm Nở sớm hay trễ đều ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của ong (Hồ Sĩ Phấn, 1978)

Trang 20

2.2 NGHỀ NUÔI ONG VÀ KHAI THÁC MẬT ONG

2.2.1 Mật ong

2.2.1.1 Nguồn gốc mật ong

Mật ong là nguồn thức ăn cung cấp năng lượng cho ong Mật ong có nguồn gốc

từ hoa (dừa, nhãn, chôm chôm, …), từ lá (cao su, đay, …), hoặc các chất tiết của một

số loài côn trùng Thành phần chính của mật hoa là nước, chiếm 40 – 80 % và các loại đường, đa số là đường đôi saccharose Trong khi đó mật ong có thành phần chính là đường, tỷ lệ nước chỉ có 16 – 21 % Đường trong mật ong chủ yếu là đường đơn glucose và fructose

Sau khi lấy các mật này về tổ thì ong sẽ chế biến thành mật ong dự trữ trong các

lỗ tổ để làm thức ăn Để làm ra 1 kg mật ong, con ong phải thu thập 4 – 5 kg mật hoa, phải bay tới hàng triệu bông hoa

2.2.1.2 Khai thác mật ong hoang dã

Thu lượm mật từ những đàn ong hoang là một trong những hoạt động của người thời cổ và vẫn còn duy trì ở một số cộng đồng thổ dân ở một số nơi ở châu Phi, châu Á, châu Úc và Nam Mỹ Một vài bằng chứng sớm nhất của việc thu lượm mật từ ong hoang tìm thấy trên các bức tranh trên đá, có niên đại khoảng 13.000 năm trước Công nguyên Việc lấy mật ong này thực hiện bằng cách hun khói rồi cắt tổ khỏi cành

cây hay mỏm đá mà tổ ong đóng, kết quả là tiêu diệt cả đàn ong

2.2.1.3 Cách khai thác mật ong nuôi

Chỉ nên tiến hành khai thác khi mật đã chín (hơn 70 % số lổ tổ mật được vít nắp) Bằng cách sử dụng thùng quay ly tâm đặt vào trong mùng để tránh hiện tượng ong cướp mật và bay vào thùng quay mật Lực ly tâm làm mật văng ra ngoài còn phấn, trứng và ấu trùng vẫn còn nằm trong lỗ tổ Để tránh hiện tượng ong cướp mật của nhau

và ong bay vào thùng quay mật thì việc khai thác nên được làm nhanh và thùng quay nên đặt vào trong mùng Mật ong phải được lọc sạch và chứa trong các vật dụng kín Nếu không mật sẽ hút ẩm làm tăng thủy phần và lên men

Trường hợp muốn thu hoạch mật nhưng không có thùng quay ly tâm thì có thể dùng dao cắt phần mật rồi băm thật nhỏ sau đó đặt lên miếng vải lưới Sau 1 đêm mật

sẽ chảy xuống gần như hoàn toàn Nếu dùng tay vắt bánh tổ thì không hợp vệ sinh mà mật còn chảy ra ít vì chính tay người vắt đã bóp kín miệng ô lăng rồi

Trang 21

2.2.2 Ngh ề nuôi ong mật trên thế giới

Ở một vài nơi người ta bắt đầu thuần dưỡng ong hoang nuôi trong những cái tổ nhân tạo làm bằng khúc cây rỗng, thùng gỗ, chậu đất, hay những chiếc giỏ đan bằng rơm Sự thuần dưỡng ong hoang phát triển mạnh ở Ai Cập, bằng chứng là người ta tìm thấy nhiều chiếc bình bịt kín đựng mật ong bên trong trong số những đồ vật táng theo các Pharaoh như là Tutankhamun Nghề nuôi ong còn được dẫn chứng bởi tư liệu của nhiều tác giả La Mã như Virgil, Gaius Julius Hyginus, Varro, và Columella Đời sống của loài ong và cuộc sống của người nuôi ong đã được miêu tả rất chi tiết bởi Aristotle (http://en.wikipedia.org/wiki/Beekeeping)

Thế kỷ 19 chứng kiến một cuộc cách mạng trong ngành nuôi ong nhờ sự phát minh và hoàn thiện kiểu thùng nuôi ong có khung cầu di động được bởi Lorenzo Lorraine Langstroth – một người Ý nhập cư đến Mỹ, mà ngày nay đã được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới

Ngày nay, nghề nuôi ong mật đã trở nên phổ biến trên thế giới, sản phẩm từ ong được người tiêu dùng ưa chuộng Một số nước đứng đầu về sản lượng mật như Trung Quốc, Argentina, … có trình độ nuôi ong rất cao, Việt Nam cũng là một trong những nước sản xuất mật ong hàng đầu của châu Á Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, … là các thị trường nhập khẩu nhiều sản phẩm ong nhất

2.2.3 Nghề nuôi ong mật ở Việt Nam

Từ xưa người Việt Nam đã biết săn ong lấy mật và xem mật ong như một vị thuốc quý Dần dần người ta bắt ong về nuôi trong những thùng đõ nằm ngang hoặc thùng đõ đứng (đõ: thùng nuôi ong làm bằng thân cây rỗng) Người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc có rất nhiều kinh nghiệm tìm bắt ong rừng Họ nắm được quy luật di chuyển của đàn ong, tìm ra dụng cụ bắt ong tốt và hàng năm tổ chức các cuộc thi bắt ong bằng đõ (Vũ Văn Luyện, 1990; Muller, 1991)

Tuy nhiên hình thức nuôi ong nội địa trước năm 1960 còn rất thô sơ, năng suất thấp (2 – 5 kg/đàn) và ong thường dễ bốc bay hoặc chia đàn Từ năm 1960 nhờ áp

dụng kỹ thuật nuôi ong tiên tiến của Trung Quốc, ong nội địa Apis cerana ở miền Bắc

được chuyển vào nuôi trong những thùng gỗ có khung cầu di động Tầng chân, máy quay mật và phương pháp tạo chúa nhân tạo được áp dụng, vì vậy số lượng đàn ong tăng lên một cách nhanh chóng Năm 1974, ở miền Bắc có 110.000 đàn ong nội địa,

Trang 22

sản lượng mật 412 tấn, sữa ong chúa 300 kg và năng suất mật trung bình là 15 kg/đàn/năm

Ở các tỉnh phía Nam, người dân cũng có truyền thống săn ong lấy mật từ lâu

đời Đặc biệt ở rừng U Minh, kỹ thuật nuôi ong gác kèo Apis dorsata đã đem lại mỗi

năm hàng trăm tấn mật

Những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, một số người Hoa ở Sài Gòn đã

nhập một số đàn ong Ý Apis mellifera về nuôi và họ trở thành những nhà nuôi ong Ý

chuyên nghiệp đầu tiên ở Việt Nam Tuy nhiên do tình hình chiến tranh, ngành nuôi ong nói chung và nuôi ong Ý nói riêng vẫn chưa được phát triển Số người nuôi ong Ý còn ít, đa số là người Hoa Quy mô nuôi ong còn nhỏ, di chuyển ít, sản phẩm chính là mật Sữa ong chúa cũng được khai thác nhưng với số lượng không đáng kể Giá các loại sản phẩm trong thời gian này rất cao

Sau năm 1975, nhiều đàn ong nội địa Apis cerana được mang từ các tỉnh phía

Bắc vào và kỹ thuật nuôi ong nội địa cũng được phổ biến vào miền Nam Đồng thời ong Ý cũng được giới thiệu ra phía Bắc Trong thời gian này hệ thống nuôi ong

chuyên nghiệp ở miền Nam tồn tại cả hai loài: ong nội địa Apis cerana và ong Ý Apis

mellifera

Năm 1982, dịch bệnh trên ong nội địa bắt đầu nổ ra ở các tỉnh phía Nam gây thiệt hại nghiêm trọng cho những trại quốc doanh và tư nhân Năm 1986 dịch bệnh lại một lần nữa bùng phát Các trại nuôi ong nội địa hầu như bị thiệt hại hoàn toàn

Từ năm 1987, các trại nuôi ong có quy mô lớn hoặc nuôi ong chuyên nghiệp đều giải thể ong nội địa để chuyển sang nuôi ong Ý Ong nội địa được chuyển sang hình thức chăn nuôi gia đình Hiện nay nuôi ong nội địa là một nghề phụ nhưng mang lại hiệu quả đáng kể cho rất nhiều người

Từ năm 2002 Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu mật ong lớn thứ hai ở châu

Á Đó là thời điểm mà mật ong Trung Quốc bị thị trường EU, Mỹ, Canada cấm nhập

do có dư lượng kháng sinh cao Chính vì vậy thị trường thế giới thiếu hụt 50.000 tấn mật, giá mật ong tăng nhanh từ 1,2 USD/kg lên đến 1,5 USD/kg, thậm chí trên 2 USD/kg Từ tình hình đó, sang năm 2003, số người nuôi ong đã tăng nhanh

Theo ông Đinh Quyết Tâm - Tổng thư ký Hội nuôi ong Việt Nam, năm 2007 cả nước xuất khẩu được 14.000 tấn mật ong với kim ngạch đạt 25 triệu USD, giảm 2.000

Trang 23

– 3.000 tấn so với các năm trước Nguyên nhân một phần do sản lượng mật ong giảm, đồng thời từ giữa năm 2006, EU tạm dừng nhập khẩu mật ong của VN Năm 2002 VN đứng thứ 2 châu Á về xuất khẩu mật ong, nay “tụt dốc” 5 – 6 bậc

Cũng theo ông Đinh Quyết Tâm, sở dĩ sản lượng mật ong trong nước giảm do thời tiết bất thuận và một số địa phương … cấm nuôi ong Đến nay nhiều người vẫn chưa nhận thức được rằng, con ong là một trong những loại côn trùng có ích cho cây trái Ở một xã tại tỉnh Đaklak đã ra hẳn một “Nghị quyết” lạ đời, cấm nuôi ong trong phạm vi xã Nhiều vùng nông thôn ở Lâm Đồng như xã Phước An (Lâm Hà), Đinh Lạc (Di Linh), nông dân còn đốt lửa, phun thuốc trừ sâu để xua đàn ong mật khi chúng đến vườn hoặc nhất quyết không cho người khác nuôi ong trong vườn (http://www.daktra.com.vn/Print.asp?id_tin=5304&lg=1)

Trong mùa mật năm nay (2008), do dịch bệnh thối ấu trùng xảy ra ở các tỉnh Tây Nguyên nên sản lượng có giảm đôi chút Một số người nuôi ong đi đánh mật ở các tỉnh này đã gặp phải dịch bệnh bị thua lỗ nặng Và đầu mùa, những người đánh mật

tràm ở Long An cũng gặp phải hoàn cảnh khó khăn tương tự khi tràm không có mật,

số quân bị tiêu hao rất lớn Nghiêm trọng hơn là một số người do quá nóng ruột nên đã dùng nhiều kháng sinh để trị bệnh cho ong, điều này rất nguy hại đến chất lượng sản phẩm, nhất là khi chúng ta đang được các khách hàng đánh giá cao về chất lượng sản phẩm

Hiện nay, mặc dù các sản phẩm từ ong đã có mặt ở nhiều siêu thị lớn trên cả nước nhưng sức tiêu thụ sản phẩm trong nhân dân vẫn chưa cao vì tâm lý người dân sợ mật không đảm bảo chất lượng: “mật giả”, mật của ong nuôi không tốt, … và lại thích mật của ong rừng hơn Vì vậy sản phẩm trong nước chủ yếu là xuất khẩu Sản phẩm của Việt Nam được ưa chuộng ở châu Âu và Hoa Kỳ nhờ chất lượng tốt và giá thành thấp Người nuôi ong Việt Nam rất hiếm khi sử dụng hóa chất để trị ve ký sinh, vì vậy sản phẩm từ ong của Việt Nam không có lẫn hóa chất

Trang 24

2.3 SƠ LƯỢC VỀ VE KÝ SINH TRÊN ONG APIS MELLIFERA

Ở Việt Nam cũng như ở hầu hết các nước trên thế giới, ve ký sinh (mà trước đây bị gọi nhầm là “chí” và hiện nay người nuôi ong vẫn quen gọi như vậy) là mối lo ngại hàng đầu của những người nuôi ong Ý Trước khi ong Ý được nhập vào Việt Nam thì các giống ong nội bị các loài ve ký sinh như sau:

− Ve Varroa destructor (chí lớn) ký sinh trên ong Apis cerana (trước năm 2000 được gọi là Varroa jacobsoni)

− Ve Tropilaelaps clareae (chí nhỏ) ký sinh trên ong Apis dorsata

− Ve Euvanoa sinhai ký sinh trên ong Apis florae

Mỗi loài ve chỉ ký sinh trên một loài ong khác nhau, không có sự nhiễm qua lại

và không có hiện tượng hai loài ve cùng ký sinh trên một loài ong Từ khi ong Ý được

nhập vào, hai loài ve Varroa destructor và Tropilaelaps clareae cùng tấn công loài

ong này gây thiệt hại nghiêm trọng

Hiện nay ve Varroa destructor đã lây lan ra khắp thế giới Hầu hết các nghiên cứu về ve ký sinh trên ong Ý đều tập trung vào ve Varroa destructor

2.3.1 Ve Varroa destructor

2.3.1.1 Phân loại

Phân loại khoa học ve Varroa destructor:

Giới (Kingdom): Animalia

Ngành(Phylum): Arthropoda

Lớp (Class): Arachnida

Bộ (Order): Parasitiformes

Họ (Family): Varoidae

Giống (Genus): Varroa

Loài (Species): Varroa destructor

2.3.1.2 Hình thái học

Ve cái trưởng thành có hình elip ngang, cơ thể dẹp theo hướng lưng bụng, màu sắc từ xám đến đỏ nâu, chiều ngang khoảng 1,5 mm và chiều dài khoảng 1,1 mm

Trang 25

Hình 2.2 Ve Varroa destructor (trái) và Tropilaelaps clareae

Varroa destructor ngắn, to, khỏe, có 6 đốt và giác bám Ve Varroa destructor di

chuyển chậm chạp, lây lan chủ yếu qua sự tiếp xúc giữa những con ong với nhau Ve cái non có màu nâu nhạt hơn, lông cứng và dày đặc trên lưng (Chế Quang Diệp, 1991)

Ve đực có hình dạng gần giống như hình tam giác, đầu hơi nhọn nhô về phía trước Ve đực có màu trắng xám hoặc màu vàng nhạt, kích thước nhỏ hơn ve cái Chiều dài khoảng 0,8 mm, chiều rộng khoảng 0,9 mm Ve đực có 4 đôi chân dài và mảnh hơn ve cái nên di chuyển nhanh hơn ve cái Thường thì chỉ gặp ve đực trong ô lăng vít nắp mà

ít gặp ve đực trên ong trưởng thành

2.3.1.3 Đặc điểm sinh học của ve Varroa destructor

Sự phát triển của ve Varroa destructor trải qua bốn giai đoạn: trứng - ấu trùng

(vì ấu trùng phát triển bên trong vỏ trứng), tiền nhộng protonymph, hậu nhộng deutonymph và trưởng thành Ve cái sau khi được thụ tinh thì nó chui vào ô lăng sắp

Trang 26

vít nắp Ve sống nhờ vào bạch huyết của nhộng ong Có thể một hoặc nhiều ve cùng vào một ô lăng Ve thích ký sinh ở nhộng ong đực hơn nhộng ong thợ Vì vậy, khi cả hai loại nhộng cùng hiện diện trong tổ thì ở ô lăng nhộng ong đực có nhiều ve ký sinh

hơn They Woyke (1995), tỷ lệ ve Varroa ký sinh trên nhộng ong đực cao gấp 4 – 5

lần so với ký sinh trên nhộng ong thợ Theo Lương Văn Huấn (1991), khi khảo sát 186

đàn ong tại Đồng Nai có tỷ lệ nhiễm Varroa trong 3 năm từ 1989 đến 1991 như sau:

Bảng 2.4 Tỷ lệ nhiễm Varroa destructor ở nhộng ong đực và nhộng ong thợ

Năm Tỷ lệ nhiễm Varroa destructor (%)

Nhộng ong đực Nhộng ong thợ

Theo Phan Địch Lân (Viện Thú Y, 2002), khi nghiên cứu khả năng sinh sản

của ve Varroa đã cho biết tỷ lệ sinh sản của Varroa trên nhộng ong đực Apis mellifera

là 4,63 ± 0,55 và trên nhộng ong thợ Apis mellifera là 2,64 ± 0,45 Sự khác biệt giữa hai tỷ lệ trên có ý nghĩa thống kê (P < 0,01) Ve Varroa xâm nhập vào các lỗ tổ trước

khi ong thợ vít nắp và đẻ trứng đầu tiên sau khoảng 60 giờ kể từ thời điểm ô lăng được vít nắp, rồi theo chu kỳ sau 30 giờ đẻ một trứng khác Một ve cái đẻ khoảng 3 – 5 trứng trong ô lăng ong thợ và 5 – 7 trứng trong ô lăng ong đực Theo Ifantidis (1983),

ve mẹ đẻ trứng đầu tiên là trứng cái, trứng thứ hai là trứng đực, sau đó đều là trứng cái Toàn bộ thời gian phát triển từ trứng đến trưởng thành của ve đực là 5 – 6 ngày, của ve cái là từ 7 – 8 ngày Tuy nhiên Rehn và Ritter (1989) bằng phương pháp đếm số lượng nhiễm sắc thể đã xác định lại rằng trứng đẻ đầu tiên là trứng đực, còn lại là trứng cái

Vì vậy thời gian phát triển của ve được tính lại là: 6,9 ngày cho ve đực và 6,1 ngày cho

ve cái Trứng có hình bầu dục, màu trắng sữa, dài khoảng 0,6 mm và rộng khoảng 0,45

mm Bên dưới lớp vỏ trứng có thể nhìn thấy phôi với kích thước 0,54 mm x 0,4 mm

Ve có thể đẻ trứng ngay trên mình nhộng ong, trên thành ô lăng hoặc dưới đáy lỗ tổ

Ấu trùng hoàn thành sự phát triển ngay bên trong trứng, có ba đôi chân chưa phân đốt, chưa di chuyển được Ấu trùng có màu trắng sữa, sau khi đẻ từ 32 – 36 giờ thì trứng -

ấu trùng nở thành protonymph Protonymph có màu trắng sữa, có bốn đôi chân chưa

Trang 27

phân đốt do đó chưa di chuyển được nhưng protonymph có phần miệng rất phát triển nên có thể hút bạch huyết của ấu trùng hoặc nhộng ong Protonymph đực và cái khá giống nhau, tuy vậy con đực nhỏ hơn và có chân dài hơn con cái Cuối giai đoạn này thì protonymph trở nên bất động và chuyển qua giai đoạn deutonymph Deutonymph

có bốn đôi chân được phân đốt rõ nên di chuyển khá nhanh Trong giai đoạn này con đực ít thay đổi về hình dạng còn con cái thì thay đổi nhiều, từ dạng dài thành dạng trứng và dần dần chuyển thành dạng elip ngang Cuối giai đoạn này deutonymph lột xác thành dạng trưởng thành, ve đực có màu trắng sữa, đầu hơi nhọn nhô ra phía trước, còn ve cái lớn hơn ve đực và có màu nâu

Bảng 2.5 Thời gian phát triển của Varroa destructor (ngày) (Quan Đình Hưng, 1991)

Trứng - ấu trùng

Protonymph

Deutonymph

1,3 – 1,5 2,5 – 3 2,5 – 3

1 – 1,2 1,5 2,4 – 3

Ve đực và ve cái giao phối với nhau trong ô lăng nhộng chưa vít nắp Bình thường một ve đực giao phối với 3 – 5 ve cái rồi sau đó chết luôn trong ô lăng Khi nhộng phát triển thành ong chui ra khỏi ô lăng thì cũng là lúc ve cái non đã được thụ tinh và ve già chui ra bám vào ong trưởng thành đế sống nhờ vào bạch huyết của ong Những ve khác trưởng thành muộn, chưa giao phối cũng theo ong ra ngoài sống ký sinh trên ong trưởng thành Đến lúc sinh sản, ve cái chưa được thụ tinh chui vào ô lăng sắp vít nắp nhưng chỉ đẻ được một trứng và trứng này sẽ nở thành ve đực Khi ve đực này trưởng thành sẽ giao phối với ve mẹ và tiếp tục chu kỳ mới Những ve khác, sau 1 – 13 ngày sẽ chui vào ô lăng ấu trùng sắp vít nắp và chu kỳ lại tiếp tục Đời sống của

ong thợ kéo dài từ 50 – 60 ngày vào mùa hè, khi đó ve Varroa bám vào ong trưởng

thành sống nhờ bạch huyết của ong được vài tháng Ve tồn tại được vài tuần khi không

có nhộng ong hoặc ong trưởng thành (Qua Đình Hưng, 1991)

Trang 28

Hình 2.3 Vòng đời của ve Varroa destructor

(http://www.biosecurity.govt.nz/files/pests/varroa/images/varroa-lifecycle.gif)

2.3.1.4 Tác hại của ve Varroa destructor đối với ong

Ve gây hại cho cả ấu trùng, nhộng lẫn ong thợ trưởng thành Có thể đến 12 ve được tìm thấy trong ô lăng nhộng ong thợ và đến 20 ve trong ô lăng nhộng ong đực Mỗi ong thợ trưởng thành có thể bị 5 con ve bám trên mình và 1 con đực trưởng thành

có thể bị 12 con ve bám trên mình nó Tổng số ve trong một đàn ong có thể lên đến 3.000 – 5.000 con

Khi ấu trùng hoặc nhộng bị nhiễm 1, 2, 3, 4, 6 – 8 ve thì ong thợ trưởng thành sau khi chui ra khỏi ô lăng sẽ có trọng lượng nhẹ đi tương ứng 5, 6, 9 – 11, 14, 17, 25

% so với trọng lượng bình thường Kết quả là tuổi thọ của ong trưởng thành bị ký sinh

Trang 29

bởi 1 con ve sẽ giảm xuống còn 18 ngày và nếu bị ký sinh bởi 2 con ve thì tuổi thọ giảm xuống còn 9 ngày

Khi có nhiều ve ký sinh trên 1 ấu trùng hoặc nhộng thì ong non chui ra khỏi ô lăng sẽ có chân và cánh phát triển không bình thường hoặc ấu trùng và nhộng sẽ chết trong ô lăng Ong trưởng thành bị nhiễm ve thì mọi hoạt động của chúng cũng trở nên yếu đi và tuổi thọ cũng giảm

Tóm lại, ảnh hưởng của ve Varroa trên ong Ý là trầm trọng Nếu nhiễm ở mức

độ nhẹ và trung bình thì ảnh hưởng đến năng suất, nếu nhiễm nặng thì đàn ong có thể bốc bay (Bùi Đình Phương, 1995)

2.3.2 Ve Tropilaelaps clareae

2.3.2.1 Phân loại

Phân loại khoa học ve Tropilaelaps clareae:

Giới (Kingdom): Animalia

Ngành(Phylum): Arthropoda

Lớp (Class): Arachnida

Bộ (Order): Parasitiformes

Họ (Family): Laelaptidae

Giống (Genus): Tropilaelaps

Loài (Species): Tropilaelaps clareae

2.3.2.2 Hình thái học

Ve Tropilaelaps clareae trưởng thành có hình oval dọc, màu nâu lợt, dài 1 mm

và rộng 0,6 mm Ve dẹp theo hướng lưng bụng, có 4 đôi chân, trong đó đôi chân đầu tiên biến thành hai sợi râu dài

Trang 30

Hình 2.4 Ve Tropilaelaps clareae

(http://www.culturaapicola.com.ar/fotos/Tropilaelaps_clareae1.jpg)

Ve trưởng thành di chuyển rất nhanh Ve đực nhỏ hơn ve cái và có màu trắng hơn nên rất khó phát hiện được chúng

2.3.2.3 Đặc điểm sinh học của ve Tropilaelaps clareae

Sự biến thái của ve Tropilaelaps clareae gồm 5 giai đoạn: trứng, ấu trùng, tiền

nhộng, hậu nhộng và trưởng thành

Ve đực và ve cái giao phối với nhau trong ô lăng vít nắp Sau khi giao phối ve cái không đẻ ngay mà đợi 1 – 2 ngày sau chúng sẽ chui vào những ô lăng sắp vít nắp Một hay nhiều ve cái có thể cùng chui vào một ô có ấu trùng, bình thường ve thích ký sinh trên nhộng ong thợ hơn nhộng ong đực Ve cái đẻ từ 3 – 4 trứng Trứng có màu trắng, kích thước khoảng 0,55 mm x 0,3 mm Sau một ngày, ấu trùng nở và phá vỡ vỏ trứng chui ra Ấu trùng có màu trắng sữa, kích thước 0,6 mm x 0,4 mm, có 3 đôi chân chưa phân đốt nên chưa thể tự di chuyển được Sau hai ngày, ấu trùng lột xác thành protonymph có màu trắng, kích thước 0,7 mm x 0,45 mm, có 4 đôi chân phân đốt nên

di chuyển rất nhanh Hai ngày sau thì protonymph lột xác thành deutonymph nhưng lớn hơn protonymph: kích thước 0,9 mm x 0,5 mm và di chuyển rất nhanh Bốn ngày

Trang 31

sau deutonymph lột xác thành ve trưởng thành có màu nâu lợt (Chế Quang Diệp,

1991)

Bảng 2.6 Thời gian phát triển của Tropilaelaps clareae (ngày)

Trứng

Ấu trùng Protonymph Deutonymph

Phạm Phước Khánh (2005) đã khảo sát kích thước và đặc điểm hình thái của ve

ở mỗi giai đoạn biến thái Kết quả được trình bày qua bảng 2.6 và hình 2.5

Bảng 2.7 Kích thước của ve Tropilaelaps clareae ở các giai đoạn biến thái

0,71 0,51 0,55 0,54 0,55

0,85 0,7 0,92 0,96 0,97

0,57 0,44 0,55 0,53 0,54

Trang 33

Tuy nhiên, theo Rath và Trần Đức Hà (1992), thời gian phát triển từ trứng đến

trưởng thành của ve Tropilaelaps clareae là 5 – 6 ngày Ngoại trừ giai đoạn trứng, các

giai đoạn còn lại của ve đều sống nhờ vào bạch huyết của ấu trùng, nhộng và ong trưởng thành Các ve cái sau khi giao phối ở lại trong ô lăng hút bạch huyết của ấu trùng ong và nhộng cho đến khi ong trưởng thành chui ra khỏi ô lăng thì các ve này chui ra theo và tiếp tục sống bám vào ong trưởng thành từ 1 – 2 ngày, sau đó chúng

chui vào ô lăng sắp vít nắp và bắt đầu một chu kỳ mới Ve Tropilaelaps clareae chỉ có

thể sống trên ong trưởng thành khi không có nhộng ong trong vòng 2,5 ngày, còn theo Lương Văn Huấn và Nguyễn Quang Tấn (1991) thì không quá 2,3 ngày

2.3.2.4 Tác hại của ve Tropilaelaps clareae đối với ong

Ve chủ yếu sống ký sinh trong ô lăng nhộng đã được vít nắp, ve thích ký sinh trên nhộng ong thợ, hiếm khi hoặc không thấy được ve này trên ong trưởng thành Theo Lương Văn Huấn (1991), khi điều tra 186 đàn ong tại Đồng Nai có tỷ lệ nhiễm

Tropilaelaps clareae trong 3 năm 1989 – 1991 như sau:

Bảng 2.8 Tỷ lệ nhiễm ve Tropilaelaps clareae trên ong Apis mellifera

(Lương Văn Huấn (1991)

Năm Tropilaelaps clareae (%)

Có thể có đến 14 ve Tropilaelaps clareae hoặc nhiều hơn nữa ký sinh trong một

ô lăng nhộng ong thợ Khi có một vài ve ký sinh trong một ô lăng nhộng ong thợ thì ong thợ sinh ra sẽ phát triển không bình thường, giảm trọng lượng, chân và cánh bị biến dạng làm cho ong thợ khó hoặc không thể đi làm được (không bay được) Điều này làm cho sản lượng mật và phấn giảm, thế đàn yếu hẳn Khi có nhiều ve ký sinh trong một ô lăng thì ấu trùng không hóa nhộng được, sẽ chết hoặc ấu trùng hóa nhộng rồi sau đó nhộng chết, kết quả là số quân của đàn giảm nhanh Khi đàn ong nhiễm ve nặng thì cầu nhộng có mùi hôi thối, nhiều ô lăng trống, quân ít, nhiều ong bị cụt cánh,

Trang 34

dễ bị phụ nhiễm các bệnh khác, dẫn đến đàn ong suy sụp nhanh chóng và có thể bốc bay hoặc diệt vong (Bùi Đình Phương, 1995)

2.4 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ TRẠI ONG THỰC HIỆN KHẢO SÁT

Các khảo sát được thực hiện tại trại ong Ý (Apis mellifera) của ông Nguyễn

Thọ Thanh, là một người nuôi ong đã lâu năm ở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai

2.4.1 Lịch di chuyển của trại trong một năm

Hình 2.6 Bước di hoa của trại trong một năm

Tháng 7 Xuân Đà (Tràm)

Tháng 9 Xuân Phú (Bắp vụ 2)

Tháng 5 Xuân Phú (Bắp vụ 1)

Tháng12

Bù Nho (Điều)

Trang 35

Cụ thể như sau:

 Mùa dưỡng và nhân đàn:

- Cuối tháng 5, khi mùa khai thác mật cao su đã hết thì trại di chuyển về khu vực Xuân Phú (ấp Bình Tiến, xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai) bắt đầu mùa dưỡng đàn Đây là vùng trồng nhiều bắp và lúa Trại đến đây để tận dụng phấn bắp

và lúa, cho ăn thêm đường để giữ đàn

- Giữa tháng 7, đã cuối vụ, không còn phấn bắp nên trại chuyển đến Xuân Đà (ấp

4, xã Xuân Thành, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai) Mùa tràm ra hoa là tháng 7 – 8, khu vực này có nhiều tràm Trong thời gian ở đây thì người nuôi bắt đầu nhân đàn

- Đến tháng 9, tràm đã hết hoa và lại vào vụ bắp nên trại trở về lại Xuân Phú Từ lúc này bắt đầu mùa nhân đàn mạnh, đến cuối mùa sẽ có khoảng 400 đàn để bắt đầu

vụ khai thác mật năm sau

 Mùa khai thác mật:

- Giữa tháng 12 trại chuyển về Bù Nho (Bình Phước) để đánh mật điều, cao su

- Giữa tháng 2 năm sau, trại về Di Linh (Lâm Đồng) để đánh mật cà phê

- Đến khoảng giữa tháng 3 trại về nông trường Cù Bị (huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), bắt đầu vào vụ mật cao su (vụ 2) cho đến tháng 5

- Cuối tháng 5, đã hết mùa mật cao su thì trại sẽ lại về Xuân Phú, bắt đầu mùa dưỡng

2.4.2 Phương thức chăm sóc và nuôi dưỡng

- Trại ong do một công nhân quản lý và chăm sóc Do tính chất của nghề nuôi ong nên trại không đặt cố định tại một chỗ mà luôn di chuyển theo nguồn hoa quanh năm

- Công việc của công nhân này là hằng ngày kiểm tra tình hình các đàn ong, phát hiện kịp thời các vấn đề bất thường để kịp thời xử lý (bệnh, mất chúa, chia đàn, bốc bay, …) hoặc cho ong ăn trong mùa dưỡng

- Việc tạo mũ chúa nhân tạo (di trùng) là một việc khó, đòi hỏi kỹ thuật cao nên

có một kỹ thuật viên nhiều kinh nghiệm riêng thực hiện

Trang 36

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN VÀ DỤNG CỤ CẦN THIẾT

3.1.1 Thời gian thực hiện

Các khảo sát tiến hành trong khoảng thời gian 15/03/2008 – 01/08/2008

3.1.2 Địa điểm thực hiện

Vì đặc thù của nghề nuôi ong mật là phải di chuyển ong theo nguồn hoa nên địa điểm khảo sát tùy thuộc vào sự di chuyển của trại

Trong khoảng thời gian này trại ong đặt ở địa bàn:

- Tháng 3 – 5 đặt tại đội 4, nông trường cao su Cù Bị, thuộc địa bàn huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Đây là thời gian mùa khai thác mật cao su

- Tháng 5 – 7 trại chuyển đến ấp Bình Tiến, xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

- Từ tháng 7 đặt tại ấp 4, xã Xuân Thành, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1 Phương pháp chọn mẫu và chu kỳ khảo sát

Phương pháp chọn mẫu:

Trại này vào lúc cao điểm có tới 400 đàn, đó là đầu mùa khai thác mật Cứ sau một vụ hoa thì số lượng đàn giảm đi một phần Vì vậy khi bắt đầu tiến hành khảo sát này trại còn khoảng 260 đàn

Chúng tôi chọn mẫu là 10 đàn ong tốt của trại Việc chọn đàn tốt dựa trên tiêu chí

là đàn có quân đông, số cầu nhiều, cầu nhiều mật, ấu trùng phát triển tốt Một điều dễ nhận thấy ở các đàn này là khi mở nắp thùng thì ong xây sáp lưỡi mèo rất nhiều, bám lên cả trên nắp thùng Các đàn được đánh số thứ tự từ 1 – 10 để theo dõi trong suốt quá trình thực hiện

Trang 37

Chu kỳ khảo sát:

Theo chu kỳ 30 ngày, chúng tôi tiến hành một đợt khảo sát để thu thập số liệu cần thiết trên các đàn ong Khoảng thời gian này đủ để một đợt trứng (kể cả trứng ong đực) phát triển thành ong trưởng thành và ong chúa đẻ trứng mới

3.2.2 Dụng cụ cần thiết

Trang phục bảo hộ, bình khói, pinch, cân đồng hồ, bìa nhựa trong khổ A3, bút

lông, thước, kim đính

3.2.3 Những lưu ý khi tiến hành khảo sát

Thời gian tiến hành:

Buổi sáng: khi trời đã ấm, để không làm lạnh ấu trùng ong trên các cầu

Buổi chiều: khi trời đã râm mát, tránh không cho ánh nắng chiếu vào ấu trùng

Và không được thực hiện khi trời có mưa, tránh không để ánh nắng chiếu trực tiếp lên cả cầu đang thao tác lẫn các cầu còn lại trong thùng

Cách tiến hành:

− Mang, mặc trang phục bảo hộ, tay cầm bình phun khói chuyên dụng

− Đứng một bên hông thùng, mở nắp thùng và đặt nắp ra phía sau thùng, thổi một

ít khói vào mặt trên các khung cầu để xua bớt ong thợ và làm cho ong bớt dữ

− Lấy từng cầu lên nhẹ nhàng, thao tác cần nhanh chóng và dứt khoát nhưng phải chính xác Nếu đang tiến hành mà ong quá dữ thì phải đóng ngay nắp lại, chờ một lát sau mới thử làm lại Sau khi xong thì đóng nắp thùng trở lại cẩn thận Trong mùa dưỡng, vì phải cho ăn siro đường, mùi đường dễ kích thích các đàn khác đến cướp mật nên khi lấy một cầu ra thì phải đóng nắp lại ngay

3.2.4 Chỉ tiêu theo dõi và cách thực hiện

3.2.4 1 Sức đẻ trứng của ong chúa

Sức đẻ trứng của ong chúa thể hiện qua số trứng đẻ hằng ngày của ong chúa

Số trứng đẻ hằng ngày của ong chúa được ước lượng bằng:

Trang 38

Tổng số con non của đàn ong được tính bằng:

 Cách tính t ổng diện tích bề mặt có con non trên các khung cầu:

− Sử dụng tấm bìa nhựa trong khổ A3, dùng viết lông kẻ chia thành những ô vuông kích thước 50 mm x 50 mm

− Ướm tấm bìa đó lên khung cầu cần khảo sát, ghi nhận bề mặt có con non chiếm bao nhiêu ô vuông trên tấm bìa nhựa để ước lượng diện tích vùng có con non Thực hiện tương tự cho cả 2 mặt của khung cầu, và trên tất cả các cầu có con non của đàn

Tổng diện tích bề mặt có con non trên các khung cầu:

Diện tích con non = Số ô vuông x 2.500 mm 2

Phương pháp tính diện tích bề mặt của một ô lăng ong thợ (Nguyễn Quang Tấn, 2007):

− Bề mặt một ô lăng ong thợ có dạng hình lục giác và diện tích bề mặt của nó được tính bằng bình phương đường kính ô lăng nhân với 0,866:

3 x AH2 = 3/2 x AC2 = AC2 x 0,866

− Theo Quách Bảo Cọt (2005), đường kính của một ô lăng ong thợ là 5,25 mm

Vậy diện tích của một ô lăng ong thợ: S ABCDEF = 5,25 2 x 0,866 = 23,87 mm 2

Trang 39

Như vậy: Công thức tính số trứng ong chúa đẻ mỗi ngày là:

 Cách thực hiện:

Vào lúc chiều tối khi ong đã về hết trong tổ thì đóng cửa thùng lại Dùng cân đồng hồ cân tất cả các cầu có mật chín sẽ quay mật của mỗi đàn trước và sau khi quay để tính lượng mật thu được của mỗi lần quay mật

Trang 40

3.2.4.4 Tỷ lệ nhiễm ve ký sinh trên nhộng ong

 Cách thực hiện:

− Dùng bình khói để khống chế ong

− Lấy lần lượt từng cầu ong khảo sát ra và giũ hết ong ra khỏi cầu

− Dùng pinch khui nắp nhộng ngẫu nhiên theo đường chéo, đường dọc và ngang của mặt cầu và khui đều ở tất cả các cầu có nhộng Khui khoảng 50 – 100 nhộng ong đực và 100 – 150 nhộng ong thợ tùy vào tình hình phát triển của đàn ong lúc khảo sát; quan sát và ghi nhận:

− Để so sánh nhiều số trung bình quan sát, trắc nghiệm F được sử dụng

− Để so sánh hai số trung bình quan sát, trắc nghiệm t được sử dụng

Ngày đăng: 14/03/2019, 10:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w