Đề tài đã đạt được các kết quả sau: - Xác định có 3 yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi của các hoạt động sản xuất lâm nghiệp tại công ty lâm nghiệp Quy Nhơn là i chính sách của nhà nước và
Trang 1i
PHÂN TÍCH TIẾN TRÌNH VÀ KẾT QUẢ ĐỔI MỚI CÁC HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2003 – 2008 TẠI CÔNG TY LÂM NGHIỆP QUY NHƠN,
TỈNH BÌNH ĐỊNH
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
Hội đồng chấm luận văn:
1 Chủ tịch: TS LƯƠNG VĂN NHUÂN
2 Thư ký: TS PHAN TRIỀU GIANG
3 Ph ản biện 1: TS TR ẦN ĐẮC DÂN
4 Phản biện 2: TS NGUYỄN NGỌC THÙY
5 Ủy viên: TS BÙI VIỆT HẢI
Đại học Nông lâm TP HCM
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HI ỆU TRƯỞNG
Trang 2ii
Tên tôi là Nguyễn Thị Minh Nguyệt, sinh ngày 05 tháng 08 năm 1964, tại Huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Con Ông Nguyễn Văn Vàng và Bà Đỗ Thị Lải
Tốt nghiệp Tú tài tại Trường Trung học phổ thông Nho Quan B, tỉnh Ninh Bình, năm 1982
Tốt nghiệp trung cấp ngành lâm sinh hệ tập trung tại trường Trung học lâm nghiệp I TW, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh năm 1986
Sau đó làm việc tại Trường cao đẳng nghề Cơ điện – Xây dựng và Nông lâm trung bộ, chức vụ Giáo viên
Tốt nghiệp Đại học ngành Lâm sinh hệ Tại chức tại Đại học Lâm Nghiệp
Việt Nam, tỉnh Hà Tây năm 1996
Tháng 09 năm 2006 theo học Cao học ngành Lâm học tại Đại học Nông Lâm, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Tình trạng gia đình: Chồng Triệu Văn Trường năm kết hôn 1989 Con Triệu Nguyễn Kiều Trinh, sinh năm 1990
Địa chỉ liên lạc: Nguyễn Thị Minh Nguyệt - Khoa Nông Lâm, Trường cao đẳng nghề Cơ điện – Xây dựng và Nông lâm Trung bộ, phường Bùi Thị Xuân, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
Điện thoại: Telephone: 0563510264; Mobiphone: 0905450247
Email: Nguyetcdn@yahoo.com.vn
Trang 3iii
L ỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Trang 4iv
LỜI CẢM TẠ
Với những kết quả có được ngày hôm nay, tôi vô cùng biết ơn công sinh thành
và dưỡng dục của bố mẹ, ơn dạy dỗ của thầy cô trường Đại học Nông Lâm, sự quan tâm, giúp đỡ của những người thân trong gia đình
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến thầy giáo – Giảng viên chính– TS Bùi Việt Hải đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm, phòng Sau Đại học, Khoa Lâm nghiệp, Bộ môn Lâm nghiệp xã hội đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn quý thầy, cô trong Khoa Lâm nghiệp, đã có những ý kiến đóng góp cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Xin cảm ơn Ban giám hiệu cùng các đồng nghiệp ở Trường cao đẳng nghề cơ điện- xây dựng & nông lâm Trung bộ đã tạo điều kiện để tôi tham gia học và hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp trong lớp Cao học Lâm nghiệp khóa 2006 đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn
Xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, phòng QLBVR, phòng Kế hoạch CTLN Quy Nhơn và UBND xã Phước Mỹ đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình đặc biệt là con gái Triệu Nguyễn Kiều Trinh đã động viên, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Học viên: Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Trang 5v
Đề tài “Phân tích tiến trình và kết quả đổi mới các hoạt động sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2003 – 2008 tại Công ty lâm nghiệp Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” được tiến hành tại xã Phước Mỹ và phường Bùi Thị Xuân thuộc thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Mục tiêu chung của đề tài là đánh giá được các yếu tố dẫn đến đổi mới các hoạt động sản xuất ở rừng tự nhiên và rừng trồng, tác động của đổi mới đến sự thay đổi đời sống cộng đồng dân cư địa phương, đồng thời tìm ra những thuận lợi cũng như khó khăn để đề xuất các giải pháp phù hợp, tạo điều kiện cho CTLN Quy Nhơn sản xuất và kinh doanh đạt kết quả cao hơn
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài thực hiện thu thập số liệu từ tháng 02 đến tháng 06 năm 2009 Số liệu được thu thập qua điều tra trên 1.173,3 ha rừng tự nhiên và phỏng vấn 47 hộ gia đình nhận khoán trồng rừng và nhận khoán khoanh
nuôi XTTS rừng tự nhiên Đề tài cũng sử dụng một số công cụ của bộ PRA để thu
thập các dữ liệu liên quan Xử lý thông tin có được từ điều tra rừng tự nhiên bằng phương pháp thống kê mô tả, việc phân tích số liệu dựa vào phần mềm Excel 2003
Xử lý thông tin thu được từ phỏng vấn bằng phương pháp đối chiếu và so sánh từ các nguồn khác nhau, phân tích số liệu bằng phương pháp tần số hay quy ra tỷ lệ (%) và phương pháp trắc nghiệm bởi phần mềm SPSS 15.0
Đề tài đã đạt được các kết quả sau:
- Xác định có 3 yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi của các hoạt động sản xuất lâm nghiệp tại công ty lâm nghiệp Quy Nhơn là (i) chính sách của nhà nước và UBND tỉnh về đổi mới tổ chức sản xuất và kinh doanh, (ii) dự án quy hoạch đầu tư và phát triển của tỉnh Bình Định, (iii) cần có một doanh nghiệp lâm nghiệp làm nhiệm vụ vừa kinh doanh rừng sản xuất, vừa trồng và QLBV rừng phòng hộ tại thành phố Quy Nhơn
- Người dân nhận khoán, diện tích rừng và đất rừng mà họ nhận khoán không phải là nguyên nhân của vấn đề chuyển đổi hoạt động SXLN của CTLN Đã có
Trang 6vi
sự tham gia của người dân địa phương trong các hoạt động sản xuất lâm nghiệp
mà đặc biệt là trong giao đất khoán rừng Công ty lâm nghiệp vẫn đóng vai trò chỉ đạo nhưng đã có sự kết hợp với phường hoặc xã liên quan Người dân được quyền chủ động về kế hoạch trồng và chăm sóc rừng trồng, nhưng vẫn chịu sự ràng buộc về sản phẩm với CTLN
- Việc nhận đất lâm nghiệp và trồng rừng NLG giúp hộ nhận khoán có thu nhập cao, nhờ đó sự hợp tác của hộ nhận khoán trong QLBV rừng tự nhiện tăng lên tăng lên, tài nguyên rừng tự nhiên được duy trì về số lượng, chất lượng rừng được cải thiện Hiệu quả của hoạt động trồng rừng NLG phụ thuộc nhiều vào số tiền vốn đưa vào trồng rừng, không phụ thuộc vào diện tích trồng
Đề tài cũng đưa ra 3 nhóm giải pháp: (i) Giải pháp về cách tổ chức quản lý
hoạt động sản xuất của CTLN, (ii) Giải pháp về xã hội, chính sách và sự tham gia của người dân, (iii) Giải pháp để cải thiện đời sống các hộ gia đình Một số giải pháp cụ thể như cần mở rộng hơn nữa các đối tượng được nhận khoán, giao khoán đồng thời cho nhiều hộ và mỗi hộ sẽ có diện tích khoán ít hơn và đồng đều sẽ là một đảm bảo cho phát triển kinh tế xã hội cũng như môi trường tại địa phương một cách bền vững
Các kết quả của đề tài hy vọng sẽ cung cấp thông tin thực tiễn về tiến trình
và kết quả đổi mới quá trình tổ chức sản xuất của công ty lâm nghiệp Quy Nhơn, những nguyện vọng của người dân sống trong khu vực nghiên cứu mà sinh kế của
họ còn phụ thuộc nhiều vào rừng Từ đó đề xuất các biện pháp tổ chức sản xuất kinh doanh và một số giải pháp cho việc quản lý bền vững tài nguyên rừng phù hợp với bối cảnh địa phương
Trang 7The study applied a participatory approach though interviews, group discussions and several information collection on 1173.3 ha of forest area and 47 forest tending families Information was collected though interviews and participatory rural appraisal tools and techniques Information from the interviews was compiled in MS Excel 2003, SPSS 15.0 and was analyzed based on frequencies of the respondents
focused-In the studied period, changes were observed in the enterprise’s structure and management Its activities were grouped into categories that have involved the active participation of local villagers in various degrees, such as tending, management and forest fire control
The results shown that local villagers have received benefits from various supports also Benefits from forestry activities were ranked as adequate, although information was lacking to assess the sharing of benefits from forest business Improvements were observed in the enterprise’s performances, which were reflected in profits and budget contribution, and average income generated from the enterprise’s business Local Villagers perceptions and expectations in forest management were also provided
Trang 8viii
The cause of producing changes was few related to Benefit from forest tending and management The enterprise play role of guiding and the Local villagers would be the participants only
Based on the analysis of five assets and the ways they were incorporated to develop livelihood strategies in a context of high vulnerability, the analysis help to explain conditions for sustainable resource management Possible solutions to enhance sustainability, including local capacity and community institution and external organizational, policy and process interferences to generate motivations towards sustainable livelihoods in researcher area, were discussed
Trang 9ix
MỤC LỤC
Trang chuẩn y i
Lý lịch cá nhân ii
Lời cam đoan iii
Lời cảm tạ iv
Tóm tắt v
Mục lục ix
Danh sách các bảng xii
Danh sách các hình xiv
Danh sách các chữ viết tắt xv
Chương 1: MỞ ĐẦU 1.1 Lý do nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 3
1.3 Phạm vi, giới hạn và đối tượng nghiên cứu của đề tài 3
1.4 Câu hỏi cho nghiên cứu 4
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Quá trình phát triển và đổi mới các Lâm trường quốc doanh ở Việt Nam 5
2.2 Vai trò của các LTQD và cộng đồng dân cư trong TCSX lâm nghiệp 6
2.3 Quá trình tổ chức quản lý sản xuất và kinh doanh lâm nghiệp ở tỉnh Bình Định 8
2.3.1 Tình hình tổ chức quản lý sản xuất và kinh doanh ở Bình Định 8
2.3.2 Một số chính sách có ảnh hưởng tới phương án đổi mới sản xuất kinh doanh giai đoạn 2003 – 2008 tại Công ty Lâm nghiệp Quy Nhơn 9
2.4 Những nghiên cứu về đổi mới và cải thiện cuộc sống người dân ở Việt Nam 12 2.5 Thảo luận chung về các vấn đề liên quan 13
Trang 10x
Chương 3: ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm nghiên cứu 16
3.1.1 Tiêu chí lựa chọn địa điểm 16
3.1.2 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 17
3.1.3 Hiện trạng, tài nguyên rừng và đất rừng của CTLN Quy Nhơn 18
3.1.4 Tình hình dân sinh kinh tế xã hội 19
3.2 Nội dung nghiên cứu 21
3.3 Phương pháp nghiên cứu 22
3.3.1 Cách tiếp cận 22
3.3.2 Xác định đối tượng nghiên cứu 23
3.3.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 23
3.3.4 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 26
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đổi mới hoạt động sản xuất lâm nghiệp trước và sau năm 2006 28
4.1.1 Hiện trạng tài nguyên rừngvà tình hình sử dụng đất lâm nghiệp 28
4.1.2 Các chính sách của nhà nước và môi trường xã hội 31
4.1.3 Đánh giá chung về các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đổi mới 33
4.2 Hiện trạng các hoạt động sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2003 - 2005 và giai đoạn 2006 - 2008 38
4.2.1 Qúa trình tổ chức hoạt động sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2003-2005 37
4.2.2 Qúa trình tổ chức hoạt động sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2006-2008 42
4.2.3 Những thay đổi về cách tổ chức sản xuất kinh doanh trước và sau 2006 45
4.3 Kết quả của các hoạt động sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2003 -2008 và tác động của nó tới tài nguyên rừng 47
4.3.1 Kết quả của các hoạt động sản xuất lâm nghiệp trước và sau 2006 48
4.3.2 Ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất tới thay đổi tài nguyên rừng 52
4.3.3 Những thuận lợi và khó khăn của các hoạt động sản xuất 55
4.4 Đánh giá những kết quả đạt được của quá trình đổi mới 58
Trang 11xi
4.4.1 Xây dựng các tiêu chí để đánh giá kết quả 58
4.4.2 Kết quả đánh giá và phân tích sự hưởng lợi của người dân 62
4.4.3 Vai trò và sự tham gia của người dân trong các hoạt động phát triển sản xuất lâm nghiệp 66
4.5 Một số giải pháp nhằm góp phần phát triển và quản lý bền vững 69
4.5.1 Giải pháp về cách tổ chức hoạt động sản xuất lâm nghiệp của Công ty 71
4.5.2 Giải pháp về mặt xã hội, thực hiện chính sách và sự tham gia của người dân trong các hoạt động 72
4.5.3 Giải pháp liên quan đến việc cải thiện đời sống của người dân 74
Chương 5: KẾT LUẬN 5.1 Kết luận 78
5.2 Kiến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
P HẦN PHỤ LỤC 84
Trang 12xii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG TRANG
Bảng 3.1: Tóm tắt phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp 24
Bảng 3.2: Tóm tắt phương pháp thu thập dữ liệu tại hiện trường 25
Bảng 3.3: Tóm tắt các phương pháp xử lý và phân tích thông tin 27
Bảng 4.1: Hiện trạng quản lý đất đai của lâm trường Quy Nhơn năm 2005 28
Bảng 4.2: Hiện trạng quản lý đất đai của CTLN Quy Nhơn năm 2008 30
Bảng 4.3: Những điều kiện xã hội ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi 34
Bảng 4.4: Những điều kiện KTXH ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi 36
Bảng 4.5a: Tình hình sản xuất cây giống trồng rừng trong các năm 2003 - 2005
39
Bảng 4.5b: Tình hình trồng rừng sản xuất trong các năm 2003 - 2005 39
Bảng 4.6: Tình hình khoanh nuôi xúc tiến tái sinh trong các năm 2003 - 2005 40 Bảng 4.7: Các hình thức tổ chức khoán sử dụng đất giai đoạn 2003 – 2005 41
Bảng 4.8a: Tình hình sản xuất cây giống trồng rừng trong các năm 2006 - 2008 43
Bảng 4.8b: Diện tích trồng rừng sản xuất trong các năm 2006 - 2008 43
Bảng 4.9: Diện tích đất nhận khoán trồng rừng ở các hộ gia đình điều tra 44
Bảng 4.10: Diện tích nhận khoán KNXTTS ở các hộ gia đình điều tra 45
Bảng 4.11: Mức tăng trưởng H (m) và D (cm) của rừng trồng NLG 49
Bảng 4.12: Kết quả của công tác QLBVR và khoanh nuôi XTTSTN 53
Bảng 4.13a: Đối chiếu kết quả ở trạng thái IIA giữa hai thời điểm điều tra 54
Bảng 4.13b: Đối chiếu kết quả ở trạng thái IIB giữa hai thời điểm điều tra 54
Bảng 4.14: Các yếu tố kinh tế xã hội thuận lợi cho hoạt động sản xuất 55
Bảng 4.15: Các yếu tố điều kiện tự nhiên khó khăn cho hoạt động sản xuất 57
Bảng 4.16: Tiêu chí cho các điều kiện và cách hoạt động sản xuất lâm nghiệp 59 Bảng 4.17: Tỷ lệ hưởng lợi trong QLBV theo trạng thái rừng (theo 178) 61
Bảng 4.18: Tỷ lệ hưởng lợi trong trồng rừng NLG theo thoả thuận 62
Trang 13xiii
Bảng 4.19: Kết quả cho các điều kiện và hoạt động sản xuất lâm nghiệp 62
Bảng 4.20: So sánh thu nhập từ sản xuất lâm nghiệp giữa hai khu vực 65
Bảng 4.21: Vai trò của người dân địa phương trong các hoạt động 67
Bảng 4.22: Phân bố số nhân khẩu và số lao động ở các hộ điều tra 68
Bảng 4.23: Các hình thức và cách sử dụng lao động trong các hoạt động 69
Bảng 4.24: Những khó khăn trong cuộc sống và các hoạt động sản xuất 70
Bảng 4.25: Những khó khăn và giải pháp cho tổ chức sản xuất kinh doanh 71
Bảng 4.26a: Mức độ quan hệ tương quan giữa các nguồn cho thu nhập 75
Bảng 4.26b: Mức độ quan hệ tương quan giữa các yếu tố tạo thu nhập 75
Bảng 4.26c: Kết quả trắc nghiệm Chi-square cho các mối quan hệ 75
Trang 14xiv
DANH SÁCH CÁC HÌNH
HÌNH TRANG Hình 4.1: Cơ cấu tổng thu nhập của các hộ gia đình điều tra 64
Hình 4.2: Cơ cấu thu nhập từ rừng của các hộ gia đình điều tra 66
Trang 15xv
BVR : Bảo vệ rừng
CBCNV : Cán bộ công nhân viên
CTLN : Công ty lâm nghiệp
DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
DNTN : Doanh nghiệp tư nhân
ĐTQH : Điều tra quy hoạch
FAO : Food and Agriculture Organization(Tổ chức nông lương Liên hiệp
Quốc)
GDP : Gross Domestic Product (Tổng sản lượng nội địa)
HTX : Hợp tác xã
KH HGĐ : Kế hoạch hóa gia đình
KNXTTS : Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh
LNXH : Lâm nghiệp xã hội
LSNG : Lâm sản ngoài gỗ
LTQD : Lâm trường quốc doanh
NLG : Nguyên liệu giấy
NLT : Nông lâm trường
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PCCR : Phòng chống cháy rừng
PRA : Participatory Rural Appraisal (Đánh giá nông thôn có sự tham gia)
Trang 16UBND : Ủy ban nhân dân
WWF : World Wide Fund for Nature (Qũy Quốc tế bảo vệ thiên nhiên)
XTTS : Xúc tiến tái sinh
XTTSTN : Xúc tiến tái sinh tự nhiên
Trang 17Đứng trước xu thế chung của các doanh nghiệp nhà nước trong những năm gần đây
luôn ở trong tình trạng làm ăn thua lỗ, hoạt động trì trệ kéo dài Tỉnh Bình Định đã từng bước thay đổi cách tổ chức sản xuất trong các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các lâm trường quốc doanh, nhằm thoát khỏi những khó khăn trước mắt Trong vòng quay chung
đó, phương án sắp xếp, đổi mới và phát triển các lâm trường quốc doanh (LTQD) thành các công ty lâm nghiệp (CTLN) cũng được triển khai Căn cứ nền tảng là Nghị định 200/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004, quyết định 187/1999/QĐ-TTg ngày 16/9/1999 của Thủ tướng chính phủ và các văn bản chính sách của Nhà nước Theo quyết định 830/QĐ-UBND ngày 07/2/2006 của UBND tỉnh Bình Định, công ty lâm nghiệp Quy Nhơn mà tiền thân là lâm trường Quy Nhơn ra đời với những chức năng chính là: trồng và chăm sóc rừng phòng hộ phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, chắn gió, chống cát bay cho vùng đồi núi
và cát ven biển thành phố Quy Nhơn; đồng thời kinh doanh rừng trồng gỗ nguyên liệu giấy; quản lý bảo vệ và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên rừng tự nhiên; không có khai thác gỗ rừng tự nhiên Do đó, để có đủ điều kiện cho sự phát triển bền vững của một CTLN trong tương lai, lâm trường Quy Nhơn cần thiết phải xây dựng cho đơn vị một vùng rừng trồng gỗ nguyên liệu trên hai địa bàn đang quản lý là thành phố Quy Nhơn và
Trang 18huyện Vân Canh với quy mô trên 5.000 ha
Năm 2001, lâm trường Quy Nhơn chính thức được cấp giấy chứng nhận giao quyền sử dụng đất là 12.154,1 ha Để thực hiện kế hoạch trồng rừng nguyên liệu giấy với diện tích tập trung, lâm trường đã được UBND tỉnh cho thuê 514,6 ha đất trống đồi núi trọc và 7,54 ha đất chuyên dùng khác Tuy nhiên, từ năm 2001 đến 2005 do yêu cầu sử dụng đất vào mục đích khác, nhà nước đã thu hồi của Lâm trường 1.351,65 ha Như vậy, tổng diện tích đất lâm nghiệp mà Lâm trường đang quản lý sử dụng là 11.324,59 ha (có 514,6 ha được giao sử dụng thông qua hình thức hợp đồng thuê đất), diện tích đất sản xuất của Lâm trường bị thu hẹp hơn Đây sẽ là một bước ngoặt hết sức quan trọng, mở ra nhiều cơ hội để công ty lâm nghiệp Quy Nhơn chứng tỏ sự nhận thức và hoạt động đúng theo đường lối của Đảng và Nhà nước, đồng thời chứng tỏ vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn hội nhập kinh tế Bên cạnh đó, sự chuyển đổi này cũng đặt ra những thách thức cho các hoạt động sản xuất lâm nghiệp và những tác động quan trọng của nó đối với đời sống của các cộng đồng dân cư trên địa bàn Dưới cơ chế quản lý mới, kinh phí hoạt động và các khoản chi phí được phân bổ vào giá thành sản phẩm trên cơ sở hiệu quả sản xuất kinh doanh của lâm trường, nhà nước không bao cấp Nhưng việc đưa rừng vào sản xuất kinh doanh phải đảm bảo luận chứng kinh tế kỹ thuật, phương án điều chế rừng, hồ sơ thiết kế sản xuất Chính vì thế, lâm trường Quy Nhơn phải có những thay đổi
về cách tổ chức sản xuất và các hoạt động kinh doanh để phù hợp với tình hình mới
Từ những thay đổi trong bối cảnh đã nêu trên, với mong muốn đánh giá được các yếu tố dẫn đến đổi mới các hoạt động sản xuất ở rừng tự nhiên và rừng trồng, tác động của công cuộc đổi mới đến sự thay đổi đời sống cộng đồng dân cư địa phương, đồng thời tìm
ra những thuận lợi cũng như khó khăn để đề xuất các giải pháp phù hợp, tạo điều kiện cho Công ty lâm nghiệp Quy Nhơn sản xuất đạt kết quả cao hơn Chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: Phân tích tiến trình và kết quả đổi mới các hoạt động sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2003 đến 2008 tại công ty lâm nghiệp Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Việc đánh
giá tiến trình và kết quả của các hoạt động sản xuất lâm nghiệp và quản lý rừng trong mối quan hệ với các cộng đồng địa phương có thể cung cấp các bài học quan trọng cho việc triển khai chủ trương sắp xếp và đổi mới quản lý các công ty lâm nghiệp khác trong tỉnh
đã và đang có hướng chuyển đổi thành doanh nghiệp hạch toán độc lập
Trang 191.2 Mục tiêu của đề tài
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng (trực tiếp và gián tiếp) dẫn đến sự thay đổi của tài nguyên rừng trước 2006 và từ đó dẫn đến sự thay đổi của các hoạt động sản xuất lâm nghiệp tại công ty lâm nghiệp Quy Nhơn giai đoạn 2006 - 2008
- Phân tích tiến trình thực hiện hoạt động khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên và giao đất cho người dân trồng rừng nguyên liệu mà lâm trường Quy Nhơn đã làm trong giai đoạn từ 2003 - 2005 và những kết quả về mặt lâm sinh mà công ty lâm nghiệp Quy Nhơn đạt được giai đoạn 2006 - 2008
- Đánh giá kết quả đạt được về mặt xã hội và mức độ tham gia của cộng đồng người dân vào các hoạt động sản xuất của công ty lâm nghiệp Quy Nhơn sau khi thay đổi cách tổ chức sản xuất
1.3 Phạm vi, giới hạn và đối tượng nghiên cứu của đề tài
Vì thời gian có hạn nên đề tài không thể đi bao quát toàn bộ những vấn đề liên quan tới đổi mới quá trình tổ chức sản xuất như tổ chức nhân lực và cơ cấu nguồn vốn, đề tài cũng không thể đánh giá hiệu quả kinh tế về mặt doanh thu và lợi nhuận của công ty lâm nghiệp Quy Nhơn, ở đây đề tài giới hạn:
Về nội dung: Đề tài chỉ đi sâu phân tích những kết quả có quan hệ trực tiếp tới tài nguyên rừng và hoạt động sản xuất lâm nghiệp, những kết quả này phải gắn liền với sự tham gia của người dân
Về đối tượng nghiên cứu: Đề tài sẽ nhắm vào hai đối tượng tài nguyên khác nhau
mà ở đấy diễn ra các hoạt động sản xuất lâm nghiệp, đó là: (i) hoạt động khoanh nuôi xúc tiến tái sinh ở rừng tự nhiên phòng hộ đầu nguồn, và (ii) hoạt động trồng rừng kinh doanh
gỗ nguyên liệu ở rừng trồng
Về phạm vi nghiên cứu: Đề tài sẽ lấy hai cụm dân cư là xã Phước Mỹ và khu vực 8
- phường Bùi Thị Xuân - thành phố Quy Nhơn - tỉnh Bình Định làm điểm nghiên cứu Cả hai nơi đều thuộc địa phận của công ty lâm nghiệp Quy Nhơn và coi đây là những nghiên cứu điển hình mang tính đại diện cho toàn CTLN
1.4 Câu hỏi cho nghiên cứu
Trang 20- Những yếu tố nào dẫn đến phải thay đổi các hoạt động sản xuất lâm nghiệp cho phù hợp với điều kiện tài nguyên rừng hiện tại và các hoạt động ấy diễn ra như thế nào?
- Sự đổi mới các hoạt động sản xuất lâm nghiệp và các hoạt động này dựa trên sự tham gia của người dân địa phương giai đoạn 2006 - 2008 tại công ty lâm nghiệp Quy Nhơn được tiến hành ra sao và đã ảnh hưởng tới diễn biến rừng và đất rừng như thế nào?
- Tác động của tiến trình đổi mới các hoạt động sản xuất của công ty lâm nghiệp Quy Nhơn tới đời sống cộng đồng người dân địa phương, những người trực tiếp tham gia vào các hoạt động sản xuất lâm nghiệp của CTLN là như thế nào?
Trang 21Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Qúa trình phát triển và đổi mới các LTQD ở Việt Nam
Lâm trường quốc doanh (LTQD) là một tổ chức kinh tế do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng Việc bảo vệ, gây trồng rừng phòng hộ ở vùng rất xung yếu và xung yếu được coi là hoạt động công ích, do lâm trường thực hiện theo nhiệm vụ nhà nước giao (Ngô Đình Thọ và các cộng sự, 2006)
Giai đoạn 1990 – 1999, thực hiện nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991 về thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước, cả nước có 412 lâm trường Sau thời gian hoạt động, các LTQD phân hóa thành ba hướng: lâm trường còn rừng đến tuổi khai thác và được phép khai thác gỗ nên có thu nhập để chi phí sản xuất, tái tạo rừng và làm nghĩa vụ tài chính với nhà nước; lâm trường được giao nhiệm vụ QLBVR và nuôi dưỡng rừng, ngân sách do tỉnh cấp kinh phí như đơn vị sự nghiệp bảo vệ rừng; lâm trường chỉ có rừng nghèo kiệt hoặc đất trồng rừng nhưng không có vốn để đầu tư, không có thị trường tiêu thụ sản phẩm, không có nguồn thu nên không thể hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường được kiên quyết giải thể (Ngô Đình Thọ và các cộng sự, 2006)
Theo Cục phát triển lâm nghiệp (2004), các LTQD giữ một vai trò quan trọng trong
sự phát triển lâm nghiệp của Việt Nam, đã gánh chịu nhiều ảnh hưởng của sự biến đổi về
cơ bản trong nền kinh tế do các cuộc đổi mới theo hướng thị trường từ đầu thập niên
1990 Trong tiến trình cải cách này, Chính phủ chuyển phần lớn các LTQD cho chính quyền cấp tỉnh để tái cấu trúc chúng
Kế thừa Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, bộ Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã xác lập khái niệm “chủ rừng” Chương V của luật này dành 20 điều cho các quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng (bao gồm các LTQD) Những quy định này đã làm sáng tỏ quyền và nghĩa vụ của từng chủ rừng đối với các trường hợp được giao đất, được thuê (thời hạn thuê không quá 50 năm) ba loại rừng và đất để phát triển rừng
Trang 22Có thể nói, những quy định này là cơ sở của các hoạt động nhằm thúc đẩy việc đổi mới cơ chế quản lý của các LTQD
Mục tiêu đổi mới lâm trường quốc doanh (theo QĐ 187/QĐ-TTG ngày 16/9/1999) là: Đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý LTQD nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả SXKD của lâm trường, làm tốt vai trò nòng cốt trong sản xuất lâm nghiệp, là trung tâm dịch vụ vật tư, kỹ thuật, chế biến, tiêu thụ sản phẩm cho các tổ chức, cá nhân sản xuất nông - lâm nghiệp, góp phần bảo vệ và phát triển rừng, phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn Đổi mới LTQD phải gắn với đổi mới về cơ chế quản lý theo hướng phân biệt rõ nhiệm vụ SXKD
và nhiệm vụ công ích Những lâm trường tuy đã chuyển sang kinh doanh nhưng còn phải đảm nhận một phần chức năng xã hội, an ninh - quốc phòng thì Nhà nước có chính sách
hỗ trợ thích hợp
Theo QĐ 187/QĐ-TTG ngày 16/9/1999, đổi mới lâm trường quốc doanh trên nguyên tắc: Duy trì, củng cố các LTQD ở những vùng đất lâm nghiệp tập trung quy mô lớn Bảo đảm cho LTQD phát huy được quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, người lao động lâm nghiệp thật sự là người chủ cụ thể của từng khu rừng nhận khoán, xóa bỏ hoàn toàn bao cấp của Nhà nước trong các hoạt động kinh doanh của lâm trường Bảo đảm giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa người lao động với Nhà nước và lâm trường, giữa lâm trường với địa phương
2.2 Vai trò của các LTQD và cộng đồng dân cư trong TCSX lâm nghiệp
Mối quan hệ giữa các lâm trường và các cộng đồng địa phương đã được đặt ra từ năm 1992 với Quyết định số 327-CT của Chủ tịch hội đồng bộ trưởng (nay là chính phủ) Xác lập mối quan hệ hợp tác và tham gia của các cộng đồng trong lâm nghiệp cũng đòi hỏi sự quy định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước của các cấp chính quyền địa phương trong việc bảo vệ và phát triển rừng, tạo động lực kinh tế để thu hút mọi tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ, phát triển rừng; góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho đồng bào sống ở vùng rừng núi và người lao động làm nghề rừng
Khi chúng ta tạo điều kiện cho người dân địa phương, đặc biệt là người nghèo tham gia vào quản lý bảo vệ và phát triển rừng nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của họ như chất đốt, lương thực… và khi nhu cầu, nguyện vọng của người dân được đáp ứng thì người dân
sẽ tham gia tích cực hơn vào quản lý bảo vệ và phát triển rừng một cách bền vững (Võ Văn Thoan, 2002)
Theo Bùi Việt Hải (2006), nghiên cứu về quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng đòi hỏi phải phân tích sự tham gia của các thành viên hay các bên liên quan Những
Trang 23ai tham gia? Họ tham gia vào công tác quản lý và phát triển rừng như thế nào? Các động
cơ nào chi phối đến sự tham gia của họ? Câu trả lời phụ thuộc vào bối cảnh tự nhiên và xã hội của cộng đồng Do đó, không có một mô hình chung cho việc quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng, mặc dù có nhiều nguyên tắc có thể rút ra nhằm thúc đẩy sự tham gia
Ở Việt Nam, các chiến lược chính để huy động sự tham gia của cộng đồng địa phương được thực hiện chủ yếu thông qua các hình thức giao khoán quản lý bảo vệ rừng
và giao đất lâm nghiệp Mặc dù đảm bảo và từng bước nâng cao đời sống của các cộng đồng đã được chú ý đúng mức, việc kết hợp hài hòa giữa các mục tiêu cải thiện đời sống người dân và bảo tồn tài nguyên vẫn còn là một thử thách Edmunds và Wollenberg (CIFOR) đã biên tập một ấn bản đặc biệt về lịch sử môi trường, trong đó chú trọng đến các chiến lược thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong việc quản lý rừng (Lâm Quang Hiền, 2002)
Trong khi đó, động cơ thúc đẩy sự tham gia của người dân trong công tác quản lý tài nguyên chính là động cơ kinh tế Điều này có nghĩa là các chiến lược thúc đẩy sự tham gia phải giúp tạo ra những tình huống quản lý mà tất cả các bên liên quan đều cảm thấy cùng có lợi Giải quyết các vấn đề về quyền lợi chính đáng của các bên liên quan trong quản lý và phát triển tài nguyên rừng trở thành một yếu tố quan trọng Tuy nhiên, lợi ích
mà các bên liên quan nhận được không phải chỉ là lợi ích kinh tế trực tiếp, các cộng đồng muốn bảo vệ rừng vì muốn tạo ra một cơ sở tài nguyên, một môi trường tự nhiên đảm bảo cho các sinh kế của họ và một bối cảnh văn hóa, gắn liền môi trường sống với các giá trị văn hóa mà các cộng đồng đã gắn bó lâu dài Sự hưởng dụng các lợi ích này có thể liên quan đến công bằng xã hội (Hoàng Hữu Cải, 2006)
Thực tế cho thấy nơi nào rừng và đất lâm nghiệp được giao cho hộ gia đình, người chủ quản lý cụ thể thì việc đầu tư, quản lý bảo vệ, trồng rừng, kinh doanh và sử dụng đất đạt hiệu quả hơn so với hình thức bao tiêu sản phẩm Trong tình hình hiện nay, khả năng đầu tư của nhà nước có hạn thì việc huy động sức mạnh tổng hợp của nhân dân tham gia quản lý, bảo vệ rừng, trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng (Cao Đức Phát, 2006)
Trang 242.3 Quá trình tổ chức quản lý sản xuất và kinh doanh lâm nghiệp ở tỉnh Bình Định
2.3.1 Tình hình tổ chức quản lý sản xuất và kinh doanh ở Bình Định
Định hướng phát triển lâm nghiệp của tỉnh Bình Định nói chung và thành phố Quy Nhơn nói riêng như sau: từ năm 1992, quy mô quản lý của mỗi lâm trường chỉ còn khoảng 15.000 ha, bố trí gọn trong ranh giới hành chính của một huyện, thành phố Trong lâm trường, nếu có xen một số ít diện tích rừng tự nhiên thì những diện tích này cũng không được khai thác lâm sản và được quản lý theo quy chế khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên hoặc rừng phòng hộ, thực hiện theo dự án 327 Lâm trường hoạt động theo hướng
lâm nghiệp xã hội, thực hiện khoán đất lâm nghiệp, khoán bảo vệ rừng cho nhân dân địa phương và chuyển một bộ phận cán bộ, công nhân viên thành cư dân làm công tác lâm sinh Số diện tích rừng và đất rừng dôi ra giao trách nhiệm cho huyện hoặc thành phố quản lý để giao cho các hộ dân Phát triển lâm nghiệp là đẩy mạnh công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng, mở rộng quy mô trồng rừng sản xuất, đầu tư thâm canh, nâng cao năng suất rừng trồng bằng cách chọn các loài cây, xuất xứ, giống và đưa công nghệ mới vào sản xuất Quy trình trồng rừng phòng hộ được cải tiến, thay đổi phương pháp sản xuất và thâm canh cây giống Tập trung củng cố và đầu tư xây dựng hệ thống vườn ươm, ngân hàng dòng cây lâm nghiệp Cùng với đẩy mạnh công tác trồng và khoanh nuôi rừng, chú trọng công tác bảo vệ rừng và chống cháy rừng một cách hiệu quả, đảm bảo các loại rừng vừa làm tốt chức năng bảo vệ môi trường và cảnh quan, vừa nâng cao hiệu ích phát triển rừng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và nâng cao thu nhập cho nông hộ (Sở NN&PTNT tỉnh Bình Định, 2006)
Trong 5 năm qua, từ năm 2001 – 2005, tăng trưởng kinh tế Bình Định đạt bình quân 9,0%, cao hơn so với bình quân chung của cả nước Trong đó, ngành lâm nghiệp có tốc độ phát triển 1,4 %/ năm (Sở NN&PTNT tỉnh Bình Định, 2006)
Khi tiến hành tổ chức sản xuất lâm nghiệp, Hạt kiểm lâm có vai trò là tổ chức mạng lưới bảo vệ rừng, UBND cấp xã hướng dẫn cộng đồng dân cư xây dựng và thực hiện quy ước bảo vệ rừng Bố trí kiểm lâm viên về địa bàn xã theo sự chỉ đạo của Chi cục
kiểm lâm giúp UBND xây dựng phương án quản lý bảo vệ rừng, phát triển và sử dụng vốn
Trang 25rừng Chi cục kiểm lâm là cơ quan tham mưu giúp UBND cấp tỉnh trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch, phương án bảo vệ rừng của tỉnh, trong đó có rừng của cộng đồng dân cư thôn Cơ quan này còn có vai trò tham mưu cho UBND tỉnh trong việc lập kế hoạch hướng dẫn thôn xây dựng quy ước bảo vệ rừng của cộng đồng dân cư, chỉ đạo Hạt kiểm lâm triển khai thực hiện và bố trí kiểm lâm địa bàn đến các xã (Nguyễn Hồng Quân
và cộng sự, 2006)
2.3.2 Một số chính sách có ảnh hưởng tới phương án đổi mới sản xuất kinh doanh
giai đoạn 2003 – 2008 tại công ty lâm nghiệp Quy Nhơn
Để quản lý bảo vệ và phát triển rừng, nhà nước đã xây dựng hệ thống luật pháp, chính sách và các văn bản pháp quy nhằm bảo vệ và phát triển rừng như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng (1991 và 2004), Luật Đất đai (1993 và 2003), các nghị quyết của Quốc hội
và nghị định của Chính phủ, các quyết định của Thủ tướng, nhiều quy định, thông tư của các bộ, ngành liên quan Ngoài ra còn nhiều văn bản về miễn giảm thuế đất trồng rừng, thuế nhập khẩu nguyên liệu gỗ v.v nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia sản xuất, kinh doanh, bảo vệ và phát triển rừng Những cơ chế, chính sách trên đã bước đầu tạo sự chuyển biến theo hướng xã hội hóa nghề rừng, làm cho rừng có chủ và người dân được chủ động tham gia các hoạt động Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ngày càng tốt hơn, thể hiện qua kết quả thực hiện một số chương trình lớn như giao đất khoán rừng, chương trình 327, 661 (Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành, 1999)
Chính sách giao đất giao rừng đã được thực thi ở nhiều khu vực Nhiều hộ gia đình
đã được giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp Các nghị định 01/CP, 02/CP và 163 đã huy động được đông đảo lực lượng nhân dân tham gia vào xây dựng và phát triển rừng Lâm nghiệp xã hội phát triển mạnh mẽ dựa trên kinh tế hộ gia đình Các chính sách về đất đai, đầu tư tín dụng đã tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển lâm nghiệp khu vực nhà nước
Trước những đòi hỏi cấp bách đó, Chính phủ đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách mới nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ nguồn tài nguyên vô cùng phong phú và đa dạng đang ngày một suy giảm
Trang 26Ngày 3 tháng 12 năm 2004, Chính phủ đã ra nghị định số 200/2004/NĐ-CP về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh Đối tượng áp dụng nghị định này là các
lâm trường quốc doanh và Doanh nghiệp nhà nước được giao, được thuê đất để sử dụng vào mục đích quản lý, bảo vệ rừng và sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp nhằm mục tiêu sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất; quản lý bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững tài nguyên rừng; nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh ở các LTQD; tạo thêm việc làm và thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế
- xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng trên địa bàn
Cũng theo nghị định số 200/2004/NĐ-CP, việc sắp xếp các LTQD dựa trên các nguyên tắc: (1) Sắp xếp, đổi mới các lâm trường phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch về phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phương, nhất là quy hoạch, kế hoạch phát triển lâm nghiệp; (2) Phân biệt rõ loại hình lâm trường thực hiện nhiệm vụ công ích và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh Trong đó, các lâm trường thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh là chủ yếu thì phải hoạt động sản xuất và hạch toán theo cơ chế thị trường
Nghị định cũng quy định về đổi mới cơ cấu tổ chức LTQD thành công ty lâm nghiệp trên cơ sở phương án sản xuất, kinh doanh Và điều quan trọng để quản lý và sử dụng rừng hợp lý là cần xác định rõ diện tích, ranh giới, trạng thái các loại rừng của lâm trường đang quản lý trên bản đồ và thực địa Đối với rừng trồng phải xác định giá trị của rừng để làm cơ sở xây dựng phương án sắp xếp, đổi mới và phát triển
Quyết định số 1873/QĐ-UB ngày 27/6/2001 của UBND tỉnh Bình Định phê duyệt
đề án tổng thể về sắp xếp, đổi mới tổ chức và quản lý các LTQD trên địa bàn tỉnh Bình Định
Thông tư số 46/TT-BTC ngày 8/6/2005 của Bộ tài chính về việc hướng dẫn một số vấn đề về tài chính khi sắp xếp, đổi mới và phát triển LTQD
Thông tư số 02/2005/TT-NHNN ngày 11/4/2005 của Ngân hàng nhà nước về việc hướng dẫn thực hiện giao nợ của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bằng vốn vay từ các tổ chức tín dụng trong quá trình sắp xếp, đổi mới và phát triển
Trang 27Thông tư số 16/2005/TT-BLĐTBXH ngày 19/4/2005 của Bộ Lao động thương binh & xã hội về việc hướng dẫn một số điều về chính sách lao động
Thông tư số 04/2005/TT-BTNMT ngày18/7/2005 của Bộ Tài nguyên & môi trường về việc hướng dẫn các biện pháp quản lý, sử dụng đất đai khi sắp xếp đổi mới và phát triển các LTQD
Thông tư số 21/2005 TT-KHCN ngày 26/12/2005 của Bộ Khoa học và công nghệ
về hướng dẫn thực hiện một số điều về chính sách khoa học và công nghệ
2.4 Nh ững nghiên cứu về đổi mới và cải thiện cuộc sống người dân ở Việt Nam
Nhận thức được vai trò của việc chuyển đổi tổ chức sản xuất và những ảnh hưởng
to lớn của rừng đối với đời sống của con người, trong những năm qua, nhà nước ta đã có
hàng loạt chủ trương, chính sách ban hành nhằm đáp ứng những vấn đề trên Trong đó Nghị định 64/CP ban hành năm 1993, trao cho người dân quyền sử dụng đất lâu dài Nghị định 163/NĐ-CP (sửa đổi của nghị định 02/CP), cho phép giao đất rừng đến các hộ ở miền núi trong thời hạn 50 năm Đặc biệt là quyết định 187/QĐ-TTg ngày 16/9/1999 của Chính phủ về đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý LTQD Theo nhiều nhà quan sát, hiệu quả chung nhất của những chính sách này là sự suy giảm của hoạt động canh tác nương rẫy ở nhiều vùng miền núi Việt Nam (Trần Đức Viên và các cộng sự, 2005)
Các chính sách đổi mới, khuyến khích kể trên đã đem lại một số kết quả đáng khả quan trong việc phát triển miền núi; tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân trong vùng đã có nhiều biến đổi: (1) sản xuất nông lâm nghiệp tăng lên, tình trạng phá rừng hạn chế dần trong khi rừng trồng mới tăng nhanh, bình quân trồng thêm 35,8 nghìn ha trong khi bị phá 3,23 nghìn ha/năm; (2) kết cấu hạ tầng nông thôn cải thiện rõ rệt; (3) đời sống nông dân được cải thiện đáng kể: trên 50% có thu nhập cao hơn, 58% có nhà kiên cố và bán kiên cố, 34% số hộ được dùng điện, số hộ đói nghèo giảm dần với mức 2-3%/năm (Đặng Kim Sơn, 2001)
Khi nghiên cứu về “Phân cấp trong quản lý tài nguyên rừng và sinh kế người dân” tại Nghệ An, Trần Đức Viên (2005) đã chỉ ra rằng, việc phân chia đất rừng cho các cộng đồng người Thái tại Nghệ An đã giúp cộng đồng này ổn định thu nhập và do đó việc bảo
Trang 28vệ rừng có tăng lên Tuy nhiên, vẫn cần có những thay đổi để đạt mục đích quản lý và bảo tồn tài nguyên rừng, đem lại những sinh kế thay thế bền vững cho người dân sống gần rừng Đó là phải phân quyền, tập trung nhiều hơn vào cải thiện sinh kế của người dân gần rừng và nâng cao vai trò của tổ chức cộng đồng
Trong nghiên cứu “Đánh giá kết quả thực hiện dự án tổ chức sản xuất kinh doanh của lâm trường Bảo Lâm (tỉnh Lâm Đồng) giai đoạn 1999 đến 2005”, Nguyễn Thị Thu (2007) đã đưa ra một vài kết luận sau:
- Từ sau đổi mới, cơ cấu tổ chức của lâm trường thay đổi phụ thuộc vào nhu cầu sản xuất kinh doanh, cơ cấu sản xuất phân thành các nhóm hoạt động rõ ràng, chuyển tự hạch toán bao cấp sang tự hạch toán trong phạm vi đơn vị
- Có ba nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tình hình bố trí tổ chức sản xuất nông lâm nghiệp là: tài nguyên rừng, điều kiện tự nhiên và nguồn lực lao động của người dân tại địa phương Ảnh hưởng của nhân tố tài nguyên rừng gồm rừng, đất rừng và tình hình sử dụng
có lẽ là quan trọng nhất
- Căn cứ vào các tiêu chí đã định, đề tài đã đánh giá và xếp hạng các hạng mục chi tiết của hai hoạt động sản xuất chính (lâm nghiệp và nông nghiệp) Nhìn chung, việc đánh giá cho thấy có kết quả từ trung bình trở lên và tốt hơn ở hoạt động sản xuất lâm nghiệp
2.5 Thảo luận chung về các vấn đề liên quan
Thứ nhất, qua những chính sách LNXH ở nước ta cho thấy, sự ra đời và phát triển của các chiến lược mang tính chất xã hội ngày càng được chú trọng và phát triển, và để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao trong quá trình sản xuất và phát triển thì LNXH phải đóng một vai trò quan trọng Những cơ chế và chính sách của nhà nước đưa ra để từng bước chuyển từ hoạt động sản xuất Lâm nghiệp nhà nước là chính sang LNXH, nơi
mà vai trò của người dân là yếu tố quan trọng nhất Khi chú trọng tới phát triển LNXH, tức là thu hút và huy động nguồn lực của toàn thể người dân sống trong và gần rừng cùng tham gia trong sản xuất cũng như trong quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng Đây cũng là đòn bẩy giúp các hộ gia đình có thêm công ăn việc làm và gia tăng thu nhập Để
có kết quả tốt thì LNXH luôn đặt lợi ích của người dân lên hàng đầu, tìm mọi biện pháp
Trang 29cải thiện và nâng cao đời sống kinh tế xã hội, văn hoá tinh thần cho người dân, góp phần bảo vệ đất nước, bảo vệ nguồn tài nguyên rừng và đất rừng bền vững
Thứ hai, việc thu hút sự tham gia của người dân chính là sự chia sẻ trách nhiệm và nghĩa vụ giữa các doanh nghiệp nhà nước và nhân dân, để đảm bảo sự tham gia của người dân thì trước tiên chúng ta phải tính đến vấn đề kinh tế cho hộ gia đình Khuyến khích người dân tham gia trồng rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý bảo vệ rừng cũng chính
là một hình thức tạo ra thu nhập cho người dân Khi trao cơ hội có thêm thu nhập cho những người dân địa phương nghèo và khi nhu cầu ngày càng được đáp ứng thì họ sẽ tích cực tham gia hơn trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng Khi thúc đẩy người dân tham gia vào các hoạt động LNXH cần gắn liền các hoạt động trồng rừng, chăm sóc
và bảo vệ rừng với các hoạt động sản xuất nông nghiệp, vì đây là nguồn lực kinh tế chính của hộ gia đình và cộng đồng Các lâm trường quốc doanh đóng vai trò chủ đạo trong giai đoạn cải cách đổi mới theo hướng thị trường Trong khi đó, cộng đồng dân cư địa phương đóng vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của các hình thức tổ chức sản xuất lâm nghiệp trong giai đoạn đổi mới này
Thứ ba, tỉnh Bình Định cũng như thành phố Quy Nhơn đã không ngừng từng bước nâng cao vai trò và ý thức của các cán bộ công nhân viên cũng như cộng đồng cư dân trong khu vực để phù hợp với cơ chế thị trường trong giai đoạn hội nhập với cả nước như hiện nay Thay đổi và sắp xếp lại cơ cấu tổ chức sản xuất, nâng cao trình độ quản lý để đáp ứng những đòi hỏi hiện tại Phân cấp, phân ngành và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng tổ chức, cá nhân trong công tác tổ chức sản xuất lâm nghiệp Thúc đẩy người dân tự nguyện tham gia trong các hoạt động xây dựng, quản lý và phát triển rừng
Cuối cùng, về các chính sách có ảnh hưởng tới quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh tại các công ty lâm nghiệp trong tỉnh Từ những cơ sở lý luận trên, các đơn vị sản xuất nông lâm nghiệp trong tỉnh Bình Định đã vận dụng nhiều chính sách của nhà nước và địa phương, và chính nó tạo nền tảng vững chắc cho công ty lâm nghiệp Quy Nhơn phấn đấu và không ngừng thay đổi, cơ cấu lại các hình thức tổ chức sản xuất sao cho phù hợp với tình hình hiện tại, đồng thời nhanh chóng chuyển đổi doanh nghiệp, tổ chức sản xuất với sự tham gia tích cực của người dân cho mục đích quản lý, bảo vệ và phát triển tài
Trang 30nguyên thiên nhiên một cách bền vững, nâng cao đời sống cả về vật chất lẫn tinh thần của người dân nơi đây
Để góp phần đánh giá quá trình tổ chức sản xuất của công ty lâm nghiệp Quy Nhơn qua các hoạt động sản xuất lâm nghiệp gắn liền với sự tham gia của cộng đồng cư dân,
chúng tôi sẽ mô tả, phân tích, so sánh và đánh giá hiệu quả mà các hoạt động sản xuất lâm nghiệp của công ty lâm nghiệp đã đạt được trong giai đoạn từ 2003 đến 2008 để cùng với
công ty xác định những mặt mạnh và mặt yếu, từng bước hoàn thiện phương án tổ chức sản xuất kinh doanh của mình
Trang 31Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Tiêu chí lựa chọn địa điểm
Khu vực nghiên cứu được tiến hành tại xã Phước Mỹ và phường Bùi Thị Xuân thuộc thành phố Quy nhơn, tỉnh Bình Định Việc lựa chọn này đảm bảo cho các tiêu chí như sau:
- Dù có nhiều chuyển đổi trong phương thức canh tác và phát triển cây trồng hàng hóa, kinh doanh dịch vụ; nhưng đa số cộng đồng xã Phước Mỹ và khu vực 8 - phường Bùi Thị Xuân còn sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng Rừng đã và đang mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng, cả về đời sống vật chất cũng như môi trường Ngoài ra, cũng có một
số lâm sản ngoài gỗ được thu hoạch từ rừng để bán lấy tiền, nhằm đảm bảo vấn đề sinh
- Cả xã Phước Mỹ và khu vực 8 - phường Bùi Thị Xuân đều nằm trong khu vực rừng do các phân trường trực tiếp quản lý Đây cũng là một trong các đơn vị được công ty lâm nghiệp Quy Nhơn chọn làm thí điểm về tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh trong thời gian qua, đồng thời cũng là nơi có nhiều loại hình hoạt động, thành phần dân cư đa dạng, cộng đồng người dân đã và đang tham gia vào các hoạt động sản xuất trên diện tích đất nằm trong khu vực quản lý của công ty lâm nghiệp Quy Nhơn
Trang 32- Người dân ở đây đã từng bước thích ứng với những điều kiện, hoàn cảnh đang thay đổi, góp phần cùng công ty lâm nghiệp Quy Nhơn thực hiện QLBV rừng ngày một bền vững theo xu thế đổi mới cách sản xuất Đây cũng là cơ hội tốt để người dân tiếp cận với hình thức tổ chức sản xuất mới: quản lý rừng có sự tham gia và sản xuất kinh doanh mang tính hàng hóa
3.1.2 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
+ Vị trí địa lý và điều kiện khí hậu
Địa bàn CTLN Quy Nhơn nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Bình Định và phía Bắc đèo Cù Mông, cách trung tâm thành phố Quy Nhơn 10 km Là khu vực có chế độ nhiệt, bức xạ dồi dào và tương đối ổn định trong năm Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.600 – 3.000 mm Nhiệt độ trung bình năm từ 27 – 27,6 0C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 34,9 0C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 20,6 0C Tổng nhiệt tích ôn trung bình trên 9.000 0C Chế độ mưa, nhiệt độ, ẩm độ và bức xạ nhìn chung rất thuận lợi cho sinh trưởng, phát triển của các loài cây trồng nhiệt đới Tuy nhiên, mưa nhiều và tập trung vào bốn tháng mùa mưa cũng thường gây hại cho sản xuất và đời sống, vì vậy nhu cầu phòng
hộ rất lớn Ngược lại, mùa khô kéo dài tới tám tháng, mưa ít và thiếu ẩm gây ra tình trạng
khô hạn cục bộ, thiệt hại cho sản xuất
+ Điều kiện đất đai
Trong phạm vi khu vực nghiên cứu, chủ yếu là đất feralit có màu xám vàng, thành phần cơ giới từ đất thịt nhẹ đến đất thịt trung bình, hàm lượng mùn từ nghèo đến trung bình và phụ thuộc vào quá trình mùn hóa lớp thảm mục, độ sâu tầng đất mặt tùy thuộc vào địa hình khu vực Nhìn chung, đất còn mang tính chất đất rừng, thuận lợi cho cây rừng sinh trưởng và phát triển (Đoàn ĐTQH rừng Nam Trung Bộ, 1999)
- Đất feralit phát triển trên đá sét và biến chất thường có thành phần cơ giới trung bình, tính giữ nước tốt, khả năng liên kết cao, ít bị xói mòn rửa trôi
- Đất feralit phát triển trên đá granit có thành phần cơ giới nhẹ, kết cấu rời rạc, tính thấm nước tốt, đất dễ bị xói mòn rửa trôi
- Đất mùn vàng nhạt phát triển trên đá granit có thành phần cơ giới thịt nhẹ, xốp,
Trang 33khả năng liên kết hạt đất kém, dễ bị xói mòn rửa trôi, quá trình feralit xảy ra yếu
3.1.3 Hiện trạng tài nguyên rừng và đất rừng của CTLN Quy Nhơn
Từ năm 2001 đến nay, tổng diện tích đất lâm nghiệp mà CTLN Quy Nhơn đang quản lý sử dụng là: 11.324,59 ha Trong đó, để thực hiện kế hoạch trồng rừng nguyên liệu giấy với diện tích tập trung, CTLN đã được UBND tỉnh cho thuê 514,6 ha đất trống đồi núi trọc tại 2 xã Canh Hiển và Canh Vinh và 7,54 ha đất chuyên dùng khác Công ty Lâm nghiệp cũng thuê để trồng rừng sản xuất bằng nguồn vốn vay ở các xã Phước Mỹ, Canh Giao và Canh Vinh Ngoài ra, diện tích đất rừng phòng hộ ở 3 xã Nhơn Hải, Nhơn Hội, Nhơn Lý đều nằm trong vùng quy hoạch khu kinh tế mở Nhơn Hội và dự án môi trường cảnh quan kết hợp du lịch sinh thái Quy Nhơn – Cát Tiến, tổng diện tích này là 2.093,66
ha (trong đó diện tích có rừng là 727,36 ha; diện tích đất trống là 1.366,3 ha)
Tổng diện tích đất lâm nghiệp mà CTLN Quy Nhơn quản lý (sau khi đã trừ diện tích khu kinh tế Nhơn Hội) là 9.721,09 ha, bao gồm:
- Đất sản xuất lâm nghiệp 4.768,02 ha, trong đó rừng trồng 3.403,82 ha, đất chưa
- Diện tích đất mua: 1,32 ha
3.1.4 Tình hình dân sinh kinh tế xã hội
Công ty lâm nghiệp Quy Nhơn hoạt động trên địa bàn thành phố Quy Nhơn bao gồm 4 xã đảo là Nhơn Châu, Nhơn Hải, Nhơn Lý, Nhơn Hội và 8 phường nội ngoại thành
là Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu, Nhơn Phú, Đống Đa, Lê Hồng Phong, Quang Trung, Ghềnh Ráng, Ngô Mây và xã Phước Mỹ Ngoài ra, Công ty còn hoạt động trên một phần diện tích ở 2 huyện Tuy Phước (xã Phước Hòa) và Vân Canh (gồm xã Canh Vinh và xã
Canh Hiển)
Trang 34Nghề nghiệp chính của người dân trong khu vực nghiên cứu chủ yếu là canh tác nông lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp và chăn nuôi Trình độ canh tác còn lạc hậu, ít vốn đầu tư nên năng suất thấp, số hộ đói nghèo còn khá cao Trong thời gian trước đây, tình trạng chặt củi, đốt than phá rừng rất phổ biến Trong những năm trở lại đây, được sự quan tâm và hỗ trợ của nhà nước nên việc thực hiện chủ trương giao đất, khoán rừng cho đồng bào xây dựng kinh tế mới, đồng bào dân tộc đã và đang được nhân dân địa phương chấp hành tốt, nâng cao một bước đời sống kinh tế và xã hội trên địa bàn
Như đã giới thiệu trong phần mở đầu, hai địa phương được chọn làm điểm nghiên cứu là xã Phướpc Mỹ và phường Bùi Thị Xuân:
Tôn giáo, gồm có: Thiên chúa: 5,21%; Cao đài: 5%; Phật giáo: 3,75%
Dân trí: mù chữ: 1,25%; tiểu học: 38,12%; THCS: 46,45%; THPT: 11.03%; trung cấp: 1,60%; đại học: 1,55%
Toàn xã có 264 hộ nghèo, chiếm 18,32%
Đời sống của người dân trong xã từ năm 2003 đến nay ngày càng ổn định và được nâng lên rất nhiều, đặc biệt là từ khi khu công nghiệp Long Mỹ được hình thành (năm 2005) và hoạt động Khu công nghiệp đã giải quyết được công lao động nông nhàn trong nhân dân, tạo thu nhập cao cho một số lao động có tay nghề, tạo việc làm cho lao động phổ thông, giúp người lao động có thêm thu nhập để đầu tư vào sản xuất nông nghiệp và cải thiện chất lượng cuộc sống Cụ thể, bình quân lương thực năm 2005: 317 kg/người/năm; năm 2008 là: 436 kg/người/năm; thu nhập trung bình của người lao động năm 2005 là: 412.000 đ/người/tháng; năm 2008 là 617.000 đ/người/tháng Hiện nay, có 99% số hộ dân trong xã đã và đang sử dụng lưới điện quốc gia Mặc dù là xã miền núi
Trang 35song hệ thống đường giao thông liên thôn, liên xã về cơ bản đã được bê tông hóa
Hiện trạng sử dụng đất: tổng diện tích đất tự nhiên là 6.820 ha, trong đó:
- Đất sản xuất nông nghiệp: 821,11 ha (lúa nước, cây hàng năm, đất trồng cỏ chăn nuôi, cây lâu năm)
- Đất lâm nghiệp: 5.277,2 ha; trong đó: rừng phòng hộ: 3.011,8 ha; rừng sản xuất: 2.265,4 ha
- Đất nuôi trồng thủy sản: 2,17 ha
- Đất trống, đồi núi chưa sử dụng: 271,82 ha
- Đất ở, đất quốc phòng, đất nghĩa địa: 448,06 ha
+ Phường Bùi Thị Xuân
Phường Bùi Thị Xuân là một phường miền núi, cách trung tâm thành phố Quy Nhơn 20 km Phường có diện tích tự nhiên 4.965 ha, địa hình chủ yếu là đồi và núi thấp, trong đó đất nông nghiệp 691 ha, đất lâm nghiệp 2.267 ha nhưng không còn rừng tự
nhiên, chủ yếu là rừng trồng và đất trống
Phường Bùi Thị Xuân có đường quốc lộ IA đi qua nên giao thông rất thuận lợi Phường có 2.087 hộ với 14.695 nhân khẩu, có 7.324 lao động, trong đó sinh sống bằng nghề nông - lâm nghiệp là 874 hộ (chiếm 31,4%)
Phường Bùi Thị Xuân gần khu công nghiệp Phú Tài, nơi hiện có trên 30 doanh nghiệp, công ty TNHH chế biến gỗ đang hoạt động Từ năm 2000, UBND thành phố Quy Nhơn thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế VAC, kinh tế trang trại của phường Bùi Thị Xuân đến năm 2010 Do đó, địa phương đã làm mới 3,6 km đường giao thông nông thôn, xây dựng đập Suối Bông ngăn giữ nước để tưới cho 160 ha đất nông nghiệp, cung cấp một phần nước sinh hoạt phục vụ đời sống
3.2 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu chi tiết các nội dung sau:
Trang 36(1) Các yếu tố có ảnh hưởng đến quá trình đổi mới hoạt động sản xuất lâm nghiệp trước năm 2006
- Điều kiện tài nguyên rừng và tình hình sử dụng đất lâm nghiệp
- Các chính sách của nhà nước và môi trường xã hội
- Ảnh hưởng của các yếu tố đến quá trình đổi mới
(2) Hiện trạng các hoạt động sản xuất lâm nghiệp giai đoạn từ 2003 - 2005 và từ
2006 - 2008
- Hoạt động sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2003 - 2005
- Hoạt động sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2008
- Ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất tới thay đổi tài nguyên rừng
(3) Kết quả của các hoạt động sản xuất lâm nghiệp giai đoạn từ 2003 -2005 và từ
2006 - 2008
- Kết quả hoạt động sản xuất tại rừng tự nhiên
- Kết quả hoạt động sản xuất tại rừng trồng
- Những thuận lợi và khó khăn của các hoạt động sản xuất
(4) Đánh giá những kết quả mà CTLN Quy Nhơn đạt được trong giai đoạn từ 2006 đến 2008
- Xây dựng các tiêu chí cho đánh giá kết quả
- Sự hưởng lợi của người dân tham gia trong các hoạt động lâm nghiệp
- Vai trò và sự tham gia của người dân trong các hoạt động lâm nghiệp
(5) Đề xuất một số giải pháp đối với các hoạt động sản xuất lâm nghiệp từ sau 2008
- Giải pháp về tổ chức các hoạt động sản xuất lâm nghiệp
- Giải pháp về xã hội, thực hiện chính sách và sự tham gia của người dân
- Giải pháp để cải thiện đời sống của người dân
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Cách tiếp cận
Trang 37Nghiên cứu sẽ được tiến hành dựa trên những nhân tố chính như: điều kiện xã hội (dân số, lịch sử dân cư, văn hóa, trào lưu phát triển kinh tế), điều kiện tự nhiên (địa hình, đất đai, khí hậu, thủy văn,…) và điều kiện sản xuất (cơ chế, chính sách và công nghệ) trong giai đoạn đổi mới Đây là những nhân tố có mối quan hệ hỗ trợ và tương tác lẫn nhau tạo nên một sinh cảnh mang tính tổng thể và có tính đặc thù riêng trong khu vực
Với các mục tiêu và nội dung như trên, đề tài thực hiện các phương pháp nghiên cứu phát triển theo quan điểm đánh giá tổng hợp các điều kiện môi trường, sinh thái, dân sinh, luận cứ phát triển kinh tế - xã hội của vùng trên cơ sở phát triển tổ chức sản xuất kinh doanh của CTLN Quy Nhơn
Trong đề tài này có đánh giá kết quả và tác động của các hoạt động sản xuất lâm
nghiệp giai đoạn 2006 đến 2008 tại CTLN Quy Nhơn đối với đời sống cộng đồng cư dân
tại chỗ Việc đánh giá được dựa trên những tiêu chí thống nhất và có thể định lượng được Phương pháp thực hiện ở đây là: (i) Đánh giá kết quả tổ chức sản xuất nhìn từ phía lãnh đạo CTLN Quy Nhơn, (ii) Đánh giá tác dụng của các hoạt động sản xuất nhìn từ phía công nhân công ty và người dân Hai đánh giá này sẽ được tiến hành độc lập với nhau, nhưng dữ liệu được gộp chung để phân tích kết quả và đưa ra kết luận cuối cùng
3.3.2 Xác định đối tượng nghiên cứu
Đề tài xác định có hai loại đối tượng nghiên cứu: Một là, tài nguyên rừng (cả rừng
tự nhiên và rừng trồng) của khu vực nghiên cứu Hai là, những người đã và đang tham gia
và hưởng lợi trực tiếp từ các hoạt động sản xuất lâm nghiệp tại CTLN Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
(1) Căn cứ vào hiện trạng tài nguyên rừng và các hoạt động lâm nghiệp diễn ra trên các đối tượng này, đề tài phân ra hai nhóm đối tượng rừng khác nhau để thu thập thông tin là:
- Đối tượng đất trống và rừng trồng, nơi thực hiện giao khoán diện tích đất trồng rừng, khoán chăm sóc và bảo vệ rừng phòng hộ (phường Bùi Thị Xuân)
- Đối tượng rừng tự nhiên với hoạt động giao khoán khoanh nuôi xúc tiến tái sinh
tự nhiên trên 200 ha ở trạng thái rừng IC và rừng IIA (xã Phước Mỹ)
Trang 38(2) Căn cứ vào chức năng, công việc của những người tham gia, đề tài phân ra hai nhóm đối tượng để phỏng vấn là:
- Nhóm người có chức năng điều hành và quản lý công việc, bao gồm CBCNV của CTLN Quy Nhơn và CBNV của UBND các xã liên quan
- Nhóm người dân, gồm cả người Kinh và người dân tộc thiểu số tại hai đơn vị được chọn làm điểm nghiên cứu
Đối tượng phỏng vấn chính ở đây là những hộ dân nhận khoán thuộc khu vực 8- phường Bùi Thị Xuân và xã Phước Mỹ Hộ gia đình là đơn vị điều tra và số dung lượng mẫu quan sát là toàn bộ số hộ gia đình nhận khoán hiện có tại đây (phường Bùi Thị Xuân:
20 hộ và xã Phước Mỹ: 27 hộ) Tổng cộng số hộ đã điều tra bằng bảng câu hỏi đóng là 47
hộ (xem phụ lục 1)
3.3.3 Phương pháp thu thập dữ liệu
+ Thu thập dữ liệu thứ cấp:
Các loại thông tin và cách thu thập chúng như tóm tắt trong bảng 3.1:
Bảng 3.1: Tóm tắt các phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Loại thông tin Cách thu thập Nguồn thông tin
Dân số Ghi chép UBND xã Phước Mỹ và P.Bùi Thị Xuân
Kinh tế – xã hội Photo UBND xã, phường, thành phố Quy Nhơn
Điều kiện tự nhiên Photo Phòng ban chức năng của CTLN Quy
Nhơn và thành phố Quy Nhơn Phương thức sản xuất Ghi chép CTLN, các phòng ban của huyện, xã
+ Phương pháp thu thập dữ liệu tại đối tượng rừng tự nhiên:
- Điều tra, phân loại đất rừng và trạng thái rừng trên toàn bộ diện tích hiện có bằng phương pháp truyền thống Việc phân loại dựa theo các tiêu chuẩn cơ bản của phân loại đất và rừng trong lâm nghiệp, cụ thể như đất có rừng và đất trống, các trạng thái rừng như
IA, IIA, IIB, … (Sổ tay Điều tra quy hoạch rừng, 1998)
Trang 39- Dùng phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn điển hình cho từng kiểu trạng thái rừng Diện tích ô tiêu chuẩn 500 m2 Nội dung mô tả bao gồm các chỉ tiêu: kiểu trạng thái, tổ thành, giai đoạn tuổi, HTB, DTB, N/ha, lâm sản phụ, loại đất, độ dốc, độ cao, tình hình sinh trưởng, tái sinh Các chỉ tiêu đo đếm được tuân thủ theo các hướng dẫn tiêu chuẩn của ngành lâm sinh
- Thu thập đầy đủ số liệu trên các ô tiêu chuẩn , sau đó tiến hành chỉnh lý, tổng hợp kết quả theo các đặc trưng mẫu cơ bản, lập bảng biểu tổng hợp
+ Phương pháp thu thập dữ liệu tại đối tượng rừng trồng
Về nguyên tắc dựa trên phương pháp có sự tham gia của người dân, bao gồm: (i)
Quan sát trực tiếp giúp thu thập và kiểm chứng thông tin liên quan đến tổ chức sản xuất và cách thức sử dụng tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng; (ii) Sử dụng một số công cụ của
bộ PRA (Participatory Rural Appraisal) để thu thập và phân tích thông tin, cụ thể như sau:
- Lập sơ đồ phác thảo khu vực nghiên cứu, bản đồ tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Đi lát cắt tìm hiểu hiện trạng sử dụng đất đai và các loại tài nguyên thiên nhiên trong khu vực
- Tìm hiểu dòng thời gian để thấy được những sự kiện xảy ra trong quá khứ và ảnh hưởng của nó đến đời sống, sản xuất và sử dụng nguồn lực
- Phỏng vấn người cung cấp thông tin chủ chốt tại địa phương, đối tượng là những người am hiểu các vấn đề nhiều hơn (cán bộ xã hay thôn)
Một bảng câu hỏi được thiết kế nhằm phục vụ cho việc phỏng vấn đóng cho hai nhóm đối tượng: nhóm hộ trồng rừng và QLBV rừng ở xã Phước Mỹ, nhóm hộ trồng rừng nguyên liệu giấy tại phường Bùi Thị Xuân Các thông tin thu được từ bảng hỏi sẽ được kiểm tra và tổng hợp theo từng biến chỉ tiêu trước khi xử lý và phân tích bằng phần mềm Excel và SPSS (xem phụ lục)
Phương pháp thu thập dữ liệu theo loại thông tin được tóm tắt như sau:
Bảng 3.2: Tóm tắt các phương pháp thu thập dữ liệu tại hiện trường
Trang 40Loại thông tin Mục tiêu Cách thực hiện
Diễn biến thay đổi
hoạt động sản xuất
lâm nghiệp
Tìm hiểu hiện trạng sử dụng đất và các loại tài nguyên trong khu vực
Lập bản đồ tài nguyên
Đi lát cắt
Phỏng vấn mở Thu nhập Tìm hiểu về mức sống của
người dân
Phỏng vấn đóng Quan sát bằng trực giác Thực hiện chính
sách
Xem xét các chính sách có liên quan đã và đang được vận dụng
Phỏng vấn bán cấu trúc (câu hỏi đóng và mở)
Thảo luận nhóm quan tâm
Mức độ tham gia
Xác định mức độ tham gia của các hộ dân trong các hoạt động sản xuất
Phỏng vấn đóng Thảo luận nhóm mở rộng Thuận lợi, khó
khăn
Xác định thuận lợi và khó khăn của vấn đề quan tâm
Phỏng vấn mở Thảo luận nhóm quan tâm
3.3.4 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin
Xử lý thông tin có được từ điều tra rừng tự nhiên bằng phương pháp thống kê mô
tả, việc phân tích số liệu dựa vào phần mềm Excel 2003 Để xác định được diễn biến của rừng và đất rừng phải dựa trên các so sánh, đối chiếu với dữ liệu trước đây (từ tài liệu thứ cấp)
Kiểm tra thông tin thu được từ phương pháp có sự tham gia bằng phương pháp
“tam giác”, đối chiếu và so sánh từ các nguồn khác nhau Xử lý thông tin theo số đông bằng phương pháp tần số hoặc quy ra tỷ lệ (%) bởi SPSS 15.0
Tiến hành thảo luận các nhóm liên quan tham gia trong dự án nhằm xác định vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của các nhóm người dân trong mối quan hệ với nguồn tài nguyên cũng như mối quan hệ về mặt xã hội trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng