1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP BAO PHỦ HẠT LÚA GIỐNG BẰNG CHITOSAN VÀ POLYMER ĐẾN MỘT SỐ LOÀI NẤM VÀ VI KHUẨN GÂY HẠI PHÂN LẬP TRÊN HẠT

99 109 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  NGUYỄN THỊ LÊ XUYÊN ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP BAO PHỦ HẠT LÚA GIỐNG BẰNG CHITOSAN VÀ POLYMER ĐẾN MỘT SỐ LOÀI NẤM V

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



NGUYỄN THỊ LÊ XUYÊN

ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP BAO PHỦ HẠT LÚA GIỐNG BẰNG CHITOSAN VÀ POLYMER ĐẾN MỘT SỐ LOÀI NẤM VÀ VI KHUẨN GÂY

HẠI PHÂN LẬP TRÊN HẠT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



NGUYỄN THỊ LÊ XUYÊN

ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP BAO PHỦ HẠT LÚA GIỐNG BẰNG CHITOSAN VÀ POLYMER ĐẾN MỘT SỐ LOÀI NẤM VÀ VI KHUẨN

GÂY HẠI PHÂN LẬP TRÊN HẠT

Trang 3

ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP BAO PHỦ HẠT LÚA GIỐNG BẰNG CHITOSAN VÀ POLYMER ĐẾN MỘT SỐ LOÀI NẤM VÀ VI KHUẨN GÂY

HẠI PHÂN LẬP TRÊN HẠT

NGUYỄN THỊ LÊ XUYÊN

1 Chủ tịch: GS.TS PHẠM VĂN BIÊN

Viện Khoa Học Kỹ thuật Nông Nghiệp Miền Nam

2 Thư ký: PGS.TS TRẦN VĂN HAI

Đại Học Cần Thơ

3 Phản biện 1: GS.TS NGUYỄN THƠ

Viện Công Nghệ Sau Thu Hoạch

4 Phản biện 2: TS TỪ THỊ MỸ THUẬN

Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

5 Uỷ viên: PGS.TS LÊ ĐÌNH ĐÔN

Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 09 năm 2011

Nguyễn Thị Lê Xuyên

Trang 6

LỜI CẢM TẠ

 Chân thành cảm ơn:

Quý Thầy Cô trong Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, Quý Thầy Cô trong Ban Chủ Nhiệm Khoa Nông Học đã truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian tôi theo học tại trường, các Thầy Cô cùng các Anh Chị ở Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi thực hiện đề tài

 Lời cảm ơn sâu sắc:

Thầy Lê Đình Đôn đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thiện đề tài tốt nghiệp

 Lời ghi nhớ công ơn:

Con cảm ơn ba mẹ đã sinh thành và nuôi dạy con khôn lớn

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài “Ảnh hưởng của biện pháp bao phủ hạt lúa giống bằng chitosan và

polymer đến một số loài nấm và vi khuẩn gây hại phân lập trên hạt” được thực

hiện từ tháng 6 – 2009 đến tháng 8 – 2010, tại Bộ môn Bảo vệ Thực vật – Trường Đại học Nông Lâm, TP Hồ Chí Minh Đề tài được tiến hành trên giống lúa Jasmine

85 thu hoạch vụ Đông Xuân tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Giống lúa Jasmine

85 được xử lý với chitosan ở các nồng độ 100 ppm, 200 ppm và 300 ppm, polymer có nồng độ 800 ppm Mục tiêu đề tài là xác định ảnh hưởng của các nồng độ chitosan

và polymer đối với nấm bệnh và vi khuẩn gây hại phân lập trên hạt, nghiên cứu tác động chitosan và polymer đến sức khỏe hạt lúa giống theo các thời gian bảo quản

Đề tài nghiên cứu này đã ghi nhận được một số kết quả như sau:

Nồng độ chitosan 200 ppm và chitosan 300 ppm có khả năng gây ức chế sự

sinh trưởng, phát triển của nấm Alternaria padwickii, Curvularia lunata, riêng đối với nấm Fusarium moniliforme cho hiệu quả chưa rõ rệt Nghiệm thức polymer

không có khả năng ngăn ngừa sự gây hại của nấm bệnh trên hạt lúa giống Jasmine

85

Chitosan các nồng độ 100 ppm, 200 ppm, 300 ppm chưa có khả năng ức chế

hoàn toàn sự phát triển của Xanthomonas sp Riêng polymer không có khả năng

kháng khuẩn so với đối chứng không xử lý

Biện pháp áo hạt với chitosan và polymer có tác động rất rõ rệt đến sức khỏe hạt lúa giống Jasmine 85, thông qua việc gia tăng tỉ lệ nảy mầm, giảm tỉ lệ bệnh, tăng chiều dài chồi và rễ mầm, đặc biệt là giúp gia tăng cường lực hạt với thời gian bảo quản là 2 tháng, 4 tháng, 6 tháng Tuy nhiên, đối với chitosan nồng độ 300ppm

sẽ làm ức chế chiều dài chồi mầm so với nồng độ 200ppm và 100ppm

Trang 8

Jasmine 85 rice seeds were treated with chitosan at concentrations of 100 ppm, 200 ppm and 300 ppm and with polymer at concentrations of 800 ppm Purposes of the subject determined the effect of chitosan and polymer concentration for fungal and bacteria pathogens isolated from rice seed variety - Jasmine 85, tested the impact of chitosan and polymer on seed rice health according to the time storage The results are as follows:

Chitosan 200 ppm and chitosan 300 ppm can inhibit the growth and

development of the fungus Alternaria padwickii, Curvularia lunata, but Fusarium

moniliforme particularly for the less pronounced effect Polymer treatments cannot

prevent the damage of fungal diseases on rice seed varieties - Jasmine 85

Chitosan 100 ppm, 200 ppm, 300 ppm cannot completely inhibit the growth

of Xanthomonas sp Polymer cannot the antibacterial activity compared to controls

without treatment

The method of coating rice seed with chitosan, polymer have affected to the health of rice seed - Jasmine 85, by increasing the rate of germination, reduce the incidence of disease, increasing the length of shoot and root sprouts, especially to increase the strength of particle in 2 months, 4 months and 6 months storage However, for chitosan concentration 300 ppm would inhibit bud sprout length compared to the concentration of 200 ppm and 100 ppm

Trang 9

MỤC LỤC

Trang Trang tựa i

Trang chuẩn y ii

Lý lịch cá nhân iii

Lời cam đoan iv

Cảm tạ v

Tóm tắt vi

Mục lục viii

Danh sách các chữ viết tắt xi

Danh sách các bảng xii

Danh sách các hình xiii

MỞ ĐẦU Đặt vấn đề 1

Mục đích – yêu cầu của đề tài 2

Mục đích của đề tài 2

Yêu cầu của đề tài 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Hệ thống sản xuất hạt giống và khái niệm về sức khỏe, chất lượng hạt giống 3

1.2 Các bệnh truyền qua hạt của cây lúa và sự xuất hiện nguồn bệnh ở hạt 4

1.3 Mối quan hệ giữa nguồn bệnh xuất hiện ở hạt với sự nảy mầm của hạt giống 5

1.4 Ảnh hưởng của việc bảo quản sau thu hoạch đến sức khoẻ hạt giống 6

1.5 Các biện pháp xử lý hạt giống làm giảm sự phát triển của nguồn bệnh có nguồn

gốc từ hạt 7

1.6 Xử lý hạt bằng hóa chất kích kháng, hợp chất sinh học 10

1.7 Ứng dụng của chitosan trong nông nghiệp 11

1.8 Công nghệ áo hạt giống bằng hợp chất polymer tổng hợp 15

Trang 10

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17 2.2 Nội dung – Phương pháp nghiên cứu 17 2.2.1 Nội dung 1: Ảnh hưởng của chitisan và polymer đến tác nhân nấm bệnh gây hại phân lập trên hạt lúa giống Jasmine 85 17 2.2.1.1 Kiểm tra thành phần nấm bệnh gây hại sau thu hoạch trên hạt giống lúa Jasmine 85 18 2.2.1.2 Ảnh hưởng của chitosan và polymer đối với sinh trưởng của một số loài nấm gây bệnh phân lập trên hạt 18 2.2.1.3 Ảnh hưởng của nấm bệnh gây hại đến sức khỏe hạt giống sau khi xử lý với chitosan và polymer 19 2.2.1.4 Ảnh hưởng của chitosan và polymer đến sức khỏe hạt giống qua các thời gian bảo quản 21 2.2.2 Nội dung 2: Ảnh hưởng của chitosan và polymer đến tác nhân vi khuẩn gây hại phân lập trên hạt lúa giống Jasmine 85 22 2.2.2.1 Phân lập và lưu trữ vi khẩn gây hại trên hạt lúa giống Jasmine 85 22 2.2.2.2 Ảnh hưởng của chitosan và polymer đối với sinh trưởng của vi khuẩn gây

hại phân lập trên hạt lúa giống Jasmine 85 23 2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 24

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Ảnh hưởng của chitosan và polymer đến tác nhân nấm bệnh gây hại phân lập

trên hạt lúa giống Jasmine 85 25 3.1.1 Thành phần nấm bệnh sau thu hoạch trên hạt giống lúa Jasmine 85 25 3.1.2 Ảnh hưởng của chitosan và polymer đối với sinh trưởng của một số loài nấm gây bệnh phân lập trên hạt 30 3.1.3 Ảnh hưởng của nấm bệnh gây hại đến sức khỏe hạt giống sau khi xử lý với chitosan và polymer 34 3.1.4 Ảnh hưởng của chitosan và polymer đến sức khỏe hạt giống qua các thời gian bảo quản 39

Trang 11

3.1.4.1 Thời gian theo dõi 7 ngày sau khi xử lý với chitosan và polymer 39

3.1.4.2 Thời gian theo dõi 2 tháng, 4 tháng và 6 tháng sau khi xử lý với chitosan và polymer 45

3.1.5 Sự tương quan giữa khả năng nảy mầm của hạt và mức độ nhiễm nấm 55

3.2 Ảnh hưởng của chitosan và polymer đến tác nhân vi khuẩn gây hại phân lập trên hạt lúa giống Jasmine 85 56

3.2.1 Phân lập vi khẩn gây hại trên hạt lúa giống Jasmine 85 56

3.2.2 Ảnh hưởng của chitosan và polymer đối với sinh trưởng của vi khuẩn gây hại phân lập trên hạt lúa giống Jasmine 85 trong điều kiện in vitro 57

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ Kết luận 61

Đề nghị 61

Tài liệu tham khảo 62

Phụ lục

Trang 12

DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT

ISTA (International Seed Testing Association)

IRRI (international rice research institute)

Trang 13

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Một số nấm và bệnh hại trên hạt quan trọng trên cây lúa 4

Bảng 2.1: Kí hiệu và nồng độ xử lý thuốc 20

Bảng 3.1: Tỉ lệ hạt bị nhiễm nấm ở giống lúa Jasmine 85 25

Bảng 3.2: Độ hữu hiệu (%) của chitosan và polymer đối với mẫu nấm Alternaria padwickii 31

Bảng 3.3: Độ hữu hiệu (%) của chitosan và polymer đối với mẫu nấm Curvularia lunata 31

Bảng 3.4: Độ hữu hiệu (%) của chitosan và polymer đối với mẫu nấm Fusarium moliniforme 31

Bảng 3.5: Tỉ lệ hạt nhiễm bệnh 34

Bảng 3.6: Tỉ lệ hạt nảy mầm của hạt giống sau khi chủng nấm Alternaria padwickii 35

Bảng 3.7: Tỉ lệ hạt nảy mầm của hạt giống sau khi chủng nấm Curvularia lunata 36

Bảng 3.8: Tỉ lệ hạt nảy mầm của hạt giống sau khi chủng nấm Fusarium moniliforme 36

Bảng 3.9: Chiều dài chồi và rễ mầm sau khi và chủng nấm Alternaria padwickii 37

Bảng 3.10: Chiều dài chồi và rễ mầm sau khi và chủng nấm Curvularia lunata 37

Bảng 3.11: Chiều dài chồi và rễ mầm sau khi và chủng nấm Fusarium moniliforme 38

Bảng 3.12: Tỉ lệ hạt nảy mầm của hạt giống sau khi xử lý thuốc 10

Bảng 3.13: Ảnh hưởng của việc xử lý chitosan và polymer lên sự nảy mầm của hạt 42

Bảng 3.14: Các chỉ tiêu thể hiện cường lực hạt giống 43

Bảng 3.15: Tỉ lệ hạt bị nhiễm bệnh sau khi xử lý thuốc 45

Bảng 3.16: Tỉ lệ hạt nảy mầm không bình thường sau khi xử lý thuốc 47

Bảng 3.17: Tỉ lệ (%) hạt nảy mầm bình thường của hạt giống sau khi xử lý thuốc 48

Bảng 3.18: Ảnh hưởng của việc xử hạt đến chiều dài chồi mầm 49

Bảng 3.19: Ảnh hưởng của việc xử lý hạt đến chiều dài rễ mầm 51

Bảng 3.20: Cường lực hạt qua thời gian tồn trữ 52

Bảng 3.21: Chỉ số cường lực hạt 54

Trang 14

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 3.1: Hình thái Alternaria padwickii sau khi ủ bằng phương pháp Blotter 28

Hình 3.2: Hình thái Bipolaris oryzae sau khi ủ bằng phương pháp Blotter 29

Hình 3.3: Hình thái Curvularia lunata sau khi ủ bằng phương pháp Blotter 29

Hình 3.4: Hình thái Fusarium moniliforme sau khi ủ bằng phương pháp Blotter 30

Hình 3.5: Môi trường đối chứng khi ủ Fusarium moliniforme; Curvularia lunata; Alternaria padwickii 32

Hình 3.6: Môi trường Polymer khi ủ Fusarium moliniforme; Curvularia lunata; Alternaria padwickii 32

Hình 3.7: Môi trường chitosan nồng độ 100ppm khi ủ Fusarium moliniforme; Curvularia lunata; Alternaria padwickii 33

Hình 3.8: Môi trường chitosan nồng độ 200ppm khi ủ Fusarium moliniforme; Curvularia lunata; Alternaria padwickii 33

Hình 3.9: Môi trường chitosan nồng độ 300ppm khi ủ Fusarium moliniforme; Curvularia lunata; Alternaria padwickii 33

Hình 3.10: Các dạng nảy mầm của hạt lúa sau khi ủ bằng phương pháp Blotter 39

Hình 3.11: Các dạng nảy mầm của hạt lúa 7 ngày sau xử lý 53

Hình 3.12: Hình thái khuẩn lạc và kết quả nhuộm Gram của Xanthomonas oryzae 56

Hình 3.13: Ảnh hưởng của chitosan và polymer đối với sự phát triển của Xanthomonas oryzae sau 24 giờ bằng phương pháp giấy thấm 57

Hình 3.14: Ảnh hưởng của chitosan và polymer đối với sự phát triển của Xanthomonas oryzae sau 48 giờ bằng phương pháp giấy thấm 58

Hình 3.15: Sự phát triển của Xanthomonas oryzae sau 24 giờ trên môi trường NA có phối trộn chitosan và polymer ở các nồng độ khác nhau 58

Hình 3.16: Sự phát triển của Xanthomonas oryzae sau 48 giờ trên môi trường NA có phối trộn chitosan và polymer ở các nồng độ khác nhau 59

Trang 15

MỞ ĐẦU

Đặt vấn đề

Bệnh lan truyền qua hạt giống đã gây hại và tàn phá hơn 90% cây trồng trên thế giới Theo các nghiên cứu khoa học cho thấy có ít nhất 10 loại nấm bệnh và vi khuẩn có khả năng tấn công và lưu tồn trong hạt lúa giống (Vũ Triệu Mân, 2005) Các loài tác nhân gây hại này tiết ra các độc chất làm hạt giống mất sức nẩy mầm hoặc làm cho cây mạ suy yếu, hậu quả là lúa phát triển không đều, năng suất tụt giảm Cụ thể như nấm bệnh lúa von làm cho cây lúa bị chết trước lúc trổ, hay nấm gây bệnh than vàng, bệnh đốm nâu, bệnh bạc lá lúa v.v… Tình trạng hạt giống bị nhiễm bệnh là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến suy thoái giống và giảm phẩm chất chất lượng hạt gạo (Hewett, 1987) Kết quả nghiên cứu cho thấy nếu trồng lúa bằng hạt giống tốt (hạt chắc, mẩy, tỉ lệ hạt nẩy mầm hơn 90% và được xử

lý diệt mầm bệnh trước khi gieo) sẽ cho năng suất cao hơn hạt giống bình thường 0,7 tấn /ha

Hiện nay, nền nông nghiệp nước ta đang đi vào mức độ thâm canh cao với việc sử dụng ngày càng nhiều phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật hóa học với mục đích khai thác, chạy theo năng suất và sản lượng Tuy nhiên, việc sử dụng hóa chất đã tác động đến môi trường, gây ra hoặc là trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến con người và các sinh vật sống Tất cả các loại thuốc trừ bệnh có thể cũng ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn, các hệ sinh thái ở và có thể làm gia tăng tính kháng của mầm bệnh (Ester và ctv, 2003) Chính vì vậy, xu hướng quay trở lại nền nông nghiệp hữu cơ với việc tăng cường sử dụng chế phẩm sinh học, phân bón hữu cơ trong canh tác cây trồng đang là xu hướng chung của Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung

Việc áp dụng các chế phẩm sinh học trong phòng trừ bệnh hại cây trồng là một biện pháp quan trọng nhằm thay thế cho các thuốc hóa học độc hại tổng hợp

Trang 16

trong việc phát triển nền nông nghiệp bền vững (Burt và Reinders, 2003) Một số hợp chất trừ bệnh có nguồn gốc sinh học được nghiên cứu nhằm kiểm soát dịch bệnh gây hại trên hạt giống, trong đó chitosan là một trong những hợp chất có tiềm năng kiểm soát bệnh hại trong nông nghiệp Chitosan đã được chứng minh là có khả năng ức chế sự sinh trưởng và phát triển của nấm bệnh Ngoài ra, hợp chất chitosan còn có khả năng chống lại vi khuẩn, virus và các loài gây hại khác Chitosan còn có tác dụng như một chất kích thích sinh trưởng của cây và trực tiếp tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh do hủy hoại màng tế bào vi sinh vật Với các tác dụng trên, chitosan phòng trừ được các bệnh cây do các nhóm vi sinh vật như nấm, vi khuẩn, tuyến trùng và cả virus, có thể xem chitosan như một loại vắc-xin thực vật (Velluti và ctv, 2004)

Việc áp dụng công nghệ áo hạt giống bằng polymer đã giúp hạt giống nhanh chóng hấp thụ các loại thuốc bảo vệ thực vật và các hóa chất khác ngay từ khi mới được xử lý, phần còn lại được lưu giữ trong màng polymer bao phủ bảo vệ hạt giống trong suốt quá trình lưu thông – bảo quản – gieo trồng Nhờ vậy khi hạt giống nảy mầm thành cây non, cây con đã có khả năng chống lại sự tấn công của sâu bệnh trên đồng ruộng nên cây con mọc mạnh, đồng đều, sống khỏe và sinh trưởng tốt tạo nền tảng cho một mùa màng bội thu Chính với những ý tưởng trên tôi đã thực hiện

đề tài “Ảnh hưởng của biện pháp bao phủ hạt lúa giống bằng chitosan và

polymer đến một số loài nấm và vi khuẩn gây hại phân lập trên hạt”

Mục tiêu – Yêu cầu của đề tài

Mục tiêu của đề tài

Đánh giá hiệu quả của việc xử lý hạt bằng hợp chất chitosan và polymer đối với nấm và vi khuẩn gây bệnh phân lập trên hạt giống lúa

Yêu cầu của đề tài

- Ảnh hưởng của chitosan và polymer đối với tác nhân nấm và vi khuẩn gây hại hạt lúa giống Jasmine 85

- Xác định nồng độ hiệu quả của chitosan, polymer trong bảo quản hạt giống lúa Jasmine 85

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Hệ thống sản xuất hạt giống và khái niệm về sức khỏe, chất lượng hạt giống

Hệ thống sản xuất hạt giống lúa hiện nay ở nước ta được chia thành 3 cấp: giống tác giả, giống nguyên chủng và giống xác nhận (hay thương mại) Từ giống xác nhận, người ta chỉ được phép nhân ra không quá hai lần nửa Thực tế điều này rất khó thực hiện bởi hai yếu tố là tập quán tự để giống của nông dân và khả năng cung ứng của các cơ sở sản xuất giống đạt tiêu chuẩn Như vậy vấn đề quan trọng cần đặt ra là cần nâng cao nhận thức của nông dân cũng như nhà sản suất giống về tầm quan trọng của sức khỏe hạt giống

Theo định nghĩa của Hội kiểm nghiệm hạt giống quốc tế (ISTA, 1995), sức khỏe hạt giống trước hết nói lên sự hiện diện hay vắng mặt của vi sinh vật gây bệnh như nấm, vi khuẩn, virus và tuyến trùng, côn trùng, những điều kiện sinh lý cây trồng như thiếu các nguyên tố vi lượng cũng được xem xét Theo Islam (2000), có 3 khía cạnh chính của chất lượng hạt giống:

- Độ thuần khiết về mặt vật lý và di truyền

- Tỉ lệ và cường lực nảy mầm cao

- Mức độ sạch các nguồn bệnh truyền qua hạt cũng như các dịch hại khác tồn tại theo hạt

Chất lượng hạt giống hay tình trạng sức khỏe hạt giống thường được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như tỉ lệ mạ mọc bình thường, tỉ lệ hạt chết vì nhiễm bệnh,

độ sạch, tỉ lệ hạt lép, tỉ lệ hạt biến màu và trọng lượng 1000 hạt Hai khái niệm sức khỏe hạt giống có mối quan hệ chặt chẽ với nhau bởi sự có mặt của các vi sinh vật gây bệnh trên hạt là một nguyên nhân quan trọng làm suy giảm tỉ lệ nảy mầm của

Trang 18

hạt Ngược lại, hạt biến màu, không chắc trong chất lượng hạt giống có thể là biểu hiện của sức khỏe hạt giống vì ở đó thường có một tỉ lệ nhiễm bệnh khá cao

1.2 Các bệnh truyền qua hạt của cây lúa và sự xuất hiện nguồn bệnh ở hạt

Nấm là nhóm có nhiều bệnh truyền qua hạt nhất bên cạnh tác nhân vi khuẩn gây hại truyền qua hạt Agarwal và ctv (1989) đã nêu ra một số tác nhân quan trọng trong các bệnh truyền qua hạt như sau:

Bảng 1.1: Một số tác nhân và bệnh hại trên hạt quan trọng trên cây lúa

Alternaria padwickii Aspergillus sp

Bipolaris oryzae Cercospora janseana Curvularia sp

Fusarium moniliforme Mucor sp

Pyricularia grisea Rhizoctonia solani Xanthomonas sp

Pseudomonas glumae Acidivorax avenae

Bệnh đốm lá nhỏ Bệnh đen hạt Bệnh đốm nâu lúa Bệnh gạch nâu lá lúa Bệnh đen vỏ hạt Bệnh lúa von, thối gốc Bệnh đốm hạt

Bệnh đạo ôn Bệnh đốm vằn Bệnh bạc lá lúa

Bệnh thối vi khuẩn Bệnh sọc vi khuẩn (Nguồn International Rice Research Institute, 2001) Cây lúa là cây kí chủ cho nhiều loài vi sinh vật gây bệnh, trong đó có nhiều loài nấm và vi khuẩn có liên quan đến bệnh lem lép hạt lúa Có thể chia thành 2 nhóm chính: nhóm 1 bao gồm những loài nấm, vi khuẩn ký sinh và xâm nhiễm vào hạt lúa trước khi thu hoạch và nhóm 2 bao gồm những loài nấm mốc hoại sinh xâm nhiễm

và gây hại sau thu hoạch Pathak (2002), ghi nhận tần suất xuất hiện của nấm

Alternaria padwickii cao hơn nấm Curvularia lunata và nấm Bipolaris oryzae Tại

Malaysia, Johnston và Booth (1983), tìm thấy 9,1% số hạt đã bị nhiễm bởi nấm

Trang 19

Aspergillus sp., 7,9% bị nhiễm bởi Alternaria padwickii và 14,6% bị nhiễm bởi Fusarium moniliforme Ngoài ra còn sự hiện diện của nấm Cercospora janseana, Ephelis oryzae, Curvularia lunata

Theo cách đánh giá và phân loại về bệnh nấm gây hại trên lúa có nguồn gốc từ hạt của Kato và ctv (1998), chia thành 4 nhóm:

i Các loại nấm như Pyricularia grisea, Bipolaris oryzae, Fusarium

moniliforme, Alternaria padwickii, Ephelis oryzae chúng xâm nhập qua vỏ

trấu và mày lúa gây ra bệnh trên cây mạ

ii Nấm Curvularia lunata, Alternaria padwickii và Bipolaris oryzae chúng xâm

nhập qua vỏ trấu và mày lúa gây ra bệnh lem lép hạt và giảm chất lượng hạt lúa

iii Các loại nấm mà chúng tạo ra một khối bào tử trên bông, khi thu hoạch và chế biến các bào tử này nhiễm, đính vào gây giảm giá trị chất lượng lúa gạo

iv Các loại nấm mà chúng chỉ xâm nhiễm qua vỏ trấu gây ra hiện tượng đen hạt lúa, lem hạt làm giảm giá trị và chất lượng hạt giống Những tác nhân nấm

gây bệnh như Nigrospora sp., Phyllostica sp., Fusarium sp., Septoria sp.,

Trematosphaeropris sp., Phaeoseptoria sp., Diplodia oryzae được coi là

mầm bệnh chủ và các loại nấm kho vựa cũng gây hiện tượng như vậy, chúng thường phát triển trên mày lúa

1.3 Mối quan hệ giữa nguồn bệnh xuất hiện gây hại ở hạt với sự nảy mầm của hạt giống

Nhìn chung các bệnh truyền qua hạt thường biểu hiện qua một số triệu chứng

ở hạt như hiện tượng lem lép hạt, hạt bị chết hoặc thối không nảy mầm được, có nảy mầm nhưng cây mạ biểu hiện không bình thường hoặc gây bệnh cho mạ ngay thời

kì đầu, gây cháy hoặc chết mạ Hạt lúa giống nhiễm bệnh không những là nguồn bệnh cung cấp cho vụ sau mà chúng còn làm giảm tỉ lệ nảy mầm của hạt giống Imolehin (1983) đã ghi nhận sự ảnh hưởng của các loài nấm khác nhau có nguồn gốc từ hạt đến sự nảy mầm của hạt Tác giả thấy rằng có mối tương quan nghịch

Trang 20

giữa hạt nhiễm nấm và sự nảy mầm (r = -0,79) Nấm Fusarium moniliforme có mối

tương quan nghịch rất rõ giữa tỉ lệ nhiễm nấm và sự nảy mầm Những tác động của

Alternaria padwickii đến sự nảy mầm được Gora và ctv (1987) nghiên cứu cho thấy

nấm này xuất hiện rất phổ biến trên hạt giống Hạt giống nhiễm bệnh có biểu hiện tỉ

lệ nảy mấm giảm rất rõ rệt và khả năng kéo dài thân mạ cũng giảm đáng kể Kết quả nghiên cứu của Reddy và Khare (1977) khi thu thập 42 mẫu hạt và tìm hiểu ảnh hưởng của nấm đến sự nảy mầm thì thấy 10% hạt nhiễm nấm không nảy mầm do

nhiễm Bipolaris oryzae và 26% cây mạ nhiễm nấm này có biểu hiện kém sức sống

khi so với cây khỏe, nấm còn có thể tấn công cây mạ và làm chết cây sau vài tuần Dùng hạt giống sạch, khỏe, chất lượng tốt là một khởi đầu tốt để đạt năng suất cao (Mew và Misra, 1994) và đây cũng là cách tốt để giảm chi phí đến mức thấp nhất

mà nông dân có thể làm được

1.4 Ảnh hưởng của việc bảo quản sau thu hoạch đến sức khoẻ hạt giống

Điều kiện bảo quản gọi là tối hảo khi mà hoạt động biến dưỡng trong hạt giống được giữ ở mức tối thiểu hầu hết hạt giống được bảo quản trong điều càng khô ráo và nhiệt độ càng thấp thì giữ được sức sống càng lâu dài Không phải tất cả các loại hạt đều yêu cầu điều kiện bảo quản như nhau mà phải phù hợp với đặc điểm sinh học của nó Theo Bains (1971), bảo quản trung hạn hoặc dài hạn đối với một số hạt giống cần phải loại trừ các tác hại của sâu bệnh, phải phơi sấy hạt giống đến thủy phần 4 – 8 % Tác giả đã đánh giá sự mất mát và khôi phục hoạt động nảy mầm khi hạt lúa giống được bảo quản trong điều kiện ẩm độ môi trường được kiểm soát Hạt lúa giống thủy phần 10 – 14 % có thể bảo quản trên hai năm ở điều kiện nhiệt độ là 18oC Tuy nhiên ở cùng điều kiện nếu thủy phần của hạt trên 19 %, tỉ lệ nảy mầm của hạt giảm sau 1 năm Nếu thủy phần của hạt giống khoảng 5 – 6 % thì

tỉ lệ nảy mầm rất thấp nhưng tỉ lệ nảy mầm không thay đổi trong 9 tháng và quá trình nảy mầm sẽ trở lại bình thường khi hạt giống được hồi ẩm Thủy phần hạt lúa giống thường được sử dụng là 13 % và bảo quản kín để có thể duy trì thủy phần hạt giống không thay đổi trong quá trình bảo quản Khả năng lan truyền của nguồn bệnh từ hạt giống sang mạ tùy thuộc vào khả năng sống và tồn tại của vi sinh vật

Trang 21

gây bệnh trong quá trình bảo quản nếu không cùng một biện pháp xử lý nào trên hạt Nấm bệnh lây nhiễm hoặc tạp nhiễm trên hạt có tuổi thọ rất khác nhau tùy thuộc rất nhiều yếu tố như vị trí lây nhiễm bên trong hạt hay trên vỏ hạt, điều kiện bảo quản,

độ ẩm hạt…

Theo Iguchi (1964), nấm Bipolaris oryzae có thể sống được 28 đến 29 tháng

ở nhiệt độ 30oC nhưng không thể sống hơn 5 tháng ở nhiệt độ 35oC, nấm Fusarium

moniliforme có thể tồn tại trong hạt ít nhất 3 năm với điều kiện trong hạt ít nhất 3

năm với điều kiện bảo quản khô ráo trong phòng Độ sạch thấp của hạt giống do lẫn tạp hạt cỏ dại hay các tạp chất khác cũng là một nguy cơ làm ảnh hưởng đến sức

khỏe hạt giống bởi các hạt cỏ có tỉ lệ nhiễm nấm bệnh khá cao, Bipolaris oryzae là

21 %, Alternaria padwickii là 43 % (Nguyễn Quốc Lý, 2003)

1.5 Các biện pháp xử lý hạt giống làm giảm sự phát triển của nguồn bệnh có nguồn gốc từ hạt

Các biện pháp xử lý hạt giống với thuốc trừ nấm đã được nghiên cứu sâu rộng ở nhiều nước khác nhau gồm:

- Xử lý ướt

Hạt giống lúa khi ngâm vào dung dịch muối ăn thông thường hoặc dung dịch (NH4)2SO4 giảm đáng kể nguồn bệnh Sau khi ngâm thì vớt bỏ hạt nổi và rửa hạt chìm bằng nước trước khi gieo

- Xử lý khô

Theo Kato và ctv (1988), một phương pháp phòng ngừa nấm mốc gây hại thường được áp dụng trong bảo quản là sử dụng thuốc phòng trừ nấm bệnh xử lý hạt giống Mew và Gonzales (2002) đã xác nhận xử lý hạt giống có ảnh hưởng đến chất lượng hạt khi bảo quản trong thời gian dài Tuy nhiên, xử lý hạt với dung dịch xử lý nấm thường không bị ảnh hưởng

Cũng theo Mew và Misra (1994), thuốc trừ bệnh dùng xử lý hạt giống có các tác dụng là phòng trừ các nấm bệnh ở ngoài (hoặc ở trong) hạt giống Căn cứ vào thành phần, thuốc nấm bệnh có thể là thuốc vô cơ, hữu cơ hoặc không thủy ngân, có

Trang 22

hoặc không kim loại (sunfat sắt, copper A) Các loại thuốc dùng để xử lý nấm bệnh như hợp chất thủy ngân hữu cơ như ceresan (granosan), semesan là những loại thuốc ngừa trị bệnh tốt nhất Các hợp chất này có thể bốc hơi và xâm nhập mạnh vào các bào tử của nấm trước khi bào tử nảy mầm sinh khuẩn ty Thuốc dùng trị bào

tử nấm đã vào hạt như bào tử bệnh than Tuy nhiên, cần chú ý là trong một số điều kiện sức sống của hạt giống suy giảm hoặc làm tăng cây mạ bất bình thường sau khi

xử lý hạt Do vật các loại thuốc này thích hợp cho việc khử độc hạt giống trước khi trồng hơn xử lý để bảo tồn hạt giống

Các loại thuốc xử lý để bảo tồn hạt giống như hợp chất hữu cơ không thủy ngân, nhóm dithiocarbomat như arasan, thiram, thiuram, nhóm phtalimit ít độc hơn hợp chất có thủy ngân, do đó hạt giống có xử lý thuốc này thường có thể bảo quản lâu mà vẫn an toàn Nhiều hợp chất hữu cơ không thủy ngân trị một loại nấm riêng biệt trong khi hợp chất hữu cơ thủy ngân lại có khả năng phòng trừ nhiều loại nấm bệnh

Theo Mew và Misra (1994), các hợp chất thủy ngân hữu cơ như seresan dry hoặc agrosan SN hoặc mancozeb, captan nồng độ 0,25% dùng xử lý cho lúa có thể kiểm soát sự lây nhiễm của bệnh đốm nâu lúa Xử lý hạt với hợp chất phòng trừ nấm hữu cơ 1% hoặc trộn lẫn mancozeb theo tỉ lệ 2,5 gam/ kg hạt giống sẽ làm giảm sự lây nhiễm của bệnh đốm lá nhỏ

Theo Mew và Misra (1994), xử lý hạt bằng thiamethoxam tỉ lệ 5 g / kg hoặc agrosan GN theo tỉ lệ 2,5 g / kg hạt giống lúa sẽ giảm được sự lây nhiễm của bệnh đốm nâu Theo nghiên cứu của Mew và Gonzales (2002), thuốc trừ nấm có tác dụng đối với sự nảy mầm, sự kéo dài rễ mầm, thân mầm của cây con Trong số 6 loại thuốc được kiểm tra hiệu quả xử lý hạt giống bằng phương pháp Blotter thì thấy Dithane M – 45 và Bavistin, Derosal làm tăng tỉ lệ nảy mầm 3 – 4 % so với đối chứng, nhưng thí nghiệm trong chậu thì làm giảm tỉ lệ nảy mầm 3 % Thuốc trừ nấm Thride –75 và Vitavax làm tăng chiều dài rễ của cây mạ theo thứ tự 21,5; 18,4; 18,8; và 12,2 mm ở phương pháp Blotter và 10,0 mm trong chậu Đối với phương pháp Blotter thì tất cả các loại thuốc trừ nấm đều làm giảm chiều dài thân mầm,

Trang 23

ngoại trừ thuốc Vitavax làm tăng chiều dài thân mầm trong chậu

Đối với Fusarium equiseti và Pyricularia grisea thì thuốc có gốc mancozeb

và gốc đồng có hiệu quả phòng trừ cao Thuốc có hoạt chất carbendazim dùng để

trừ Fusarium solani, Fusarium moniliforme, Cladosporium sp làm cải thiện sự nảy mầm của hạt Dưới áp lực của Sarocladium oryzae, mancozeb và carbendazim có

hiệu quả trừ nấm cao Thuốc carbendazim thấy có hiệu quả đối với áp lực của

Alternaria padwickii (Kato và ctv, 1988)

Theo kết quả của Mathur và Kongsdal (2000), thuốc Dithane và Ceresan trừ hoàn

toàn được Alternaria padwickii nhiễm ở hạt giống lúa, trong khi đó Benlate và Dichlora

không có hiệu quả mặc dù quan sát thấy phần trăm nhiễm có giảm

Quimio (2001) cho rằng có thể trừ hoàn toàn Alternaria padwickii, Bipolaris

oryzae, Fusarium moniliforme, Curvularia sp nhiễm ở hạt bằng cách xử lý hạt

giống lúa với Benlate 0,3 % và Dithane – M 45 0,3 %, tuy nhiên xử lý thuốc này có ảnh hưởng nhẹ đến cây mạ

Xử lý hạt với thuốc trừ nấm có hiệu quả trừ nguồn bệnh ở hạt và làm tăng sự nảy mầm của hạt, tuy nhiên thuốc trừ nấm nếu lạm dụng sẽ gây ô nhiễm môi trường

và có hại cho sức khỏe con người nên các biện pháp xử lý hạt khác cũng cần được suy xét (Phạm Văn Biên và ctv, 2003)

- Xử lý bằng nhiệt

Ngoài các biện pháp hóa học xử lý hạt giống thì biện pháp vật lý như sử dụng nhiệt, nước nóng, hơi nóng cũng có hiệu quả trừ nguồn bệnh ở hạt giống lúa

Theo báo cáo của Kato và ctv (1988), xử lý nhiệt khô hoặc nước nóng có

hiệu quả trừ bệnh cao đối với bệnh khô đầu lá do tuyến trùng Aphelenchoides bessyi

và một số loài vi khuẩn như: Acidivorax avenae gây bệnh sọc vi khuẩn lá lúa,

Xanthomonas sp gây bệnh bạc lá lúa và Pseudomonas glumae gây bệnh thối vi

khuẩn Cũng theo Kato và ctv (1988), hạt giống có độ ẩm 13 – 14 % khi ngâm trực tiếp vào nước nóng 56 – 57oC trong 10 – 15 phút hoặc hạt có độ ẩm này khi xử lý hơi nóng 70 –75oC trong 6 – 7 ngày thì có hiệu quả trừ nguồn bệnh từ hạt giống, nhưng xử lý nhiệt như vậy thì có ảnh hưởng nhẹ đến sự nảy mầm của hạt

Trang 24

1.6 Xử lý hạt bằng hóa chất kích kháng, hợp chất sinh học

Mục tiêu của việc cải thiện sức khỏe hạt giống là có được cây trồng khỏe mạnh, đề kháng tốt với bệnh hại từ đó giảm được nguồn bệnh truyền từ cây sang hạt giống Việc xử lý hạt bằng các hóa chất trừ nấm chỉ đáp ứng được một phần nhỏ của mục tiêu này hơn nữa nó cũng phát sinh những vấn đề về môi trường và sức khỏe con người Vì vậy việc sử dụng một số dạng hóa chất kích kháng để xử lý hạt giống có thê là một hướng quan trọng để giải quyết vấn đề này Tính kháng lưu dẫn

là kiểu tính kháng bệnh của cây hình thành sau khi được chủng bằng những vi sinh vật hay những hóa chất xác định Trên thế giới tính kháng lưu dẫn chủ yếu được nghiên cứu ở cây hai lá mầm và một số ít ở cây một lá mầm Một số hóa chất trừ nấm như Fosethyl-Al, metalaxil và triazoles cũng có hoạt tính kích kháng, thuốc trừ nấm và vi khuẩn probenazole chỉ độc nhẹ trong in vitro, nhưng kích hoạt các phản ứng phòng vệ khác nhau trong cây lúa (Agrios, 1997) Kế thừa một nghiên cứu sử dụng chất kích kháng trên cây lúa, trên thế giới đã áp dụng các hóa chất như SA, ASA, K2HPO4 và một số chất khác cũng đã được nghiên cứu, trong đó đăc biệt là việc ứng dụng hợp chất sinh học chitosan sử dụng làm chất kích kháng đối với các bệnh gây hại trên lúa

Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2005), trong số các thuốc trừ bệnh cây tác động theo cơ chế kích kháng hiện nay đáng chú ý là chất chitosan (còn gọi là oligo - sacarit) Chitosan là một chất hữu cơ cao phân tử được điều chế từ vỏ tôm, cua và một số loài rong biển Ngoài tác dụng kích thích hoạt động của hệ thống kháng bệnh trong cây, chitosan còn có tác dụng như một chất kích thích sinh trưởng của cây và trực tiếp tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh do hủy hoại màng tế bào vi sinh vật Với các tác dụng trên, chitosan phòng trừ được các bệnh cây do các nhóm vi sinh vật như nấm, vi khuẩn, tuyến trùng và cả virus Có thể xem chitosan như một loại vắc-xin thực vật Những nghiên cứu về chất kích kháng có thể xem là cơ sở thiết thực cho việc tìm tòi các biện pháp quản lý sức khỏe hạt giống từ biện pháp xử lý hạt giống

Trang 25

1.7 Các nghiên cứu chiết xuất và sử dụng chitosan

1.7.1 Nguồn gốc và cấu tạo hóa học của chitosan trong tự nhiên

Chitosan là polyme sinh học có nhiều trong thiên nhiên chỉ đứng sau

xenluloza Cấu trúc hóa học của chitosan gần giống với xenluloza (xellulose)

1.7.2 Ứng dụng của chitosan trong nông nghiệp

Chitin và chitosan là các hợp chất tự nhiên có nhiều tiềm năng trong nông nghiệp, chúng được sử dụng để phòng trừ các bệnh do nấm và vi khuẩn gây nên chitin và chitosan có khả năng ức chế sự sản sinh độc tính, tăng trưởng và phát triển của nấm bệnh Chúng được ghi nhận là có khả năng kháng lại virus, vi khuẩn và các loài gây hại khác (Abdelbasset và ctv, 2010) Chitin và cũng được ghi nhận là đã tạo

Trang 26

ra các phản ứng kích kháng trong cây ký chủ nhằm kháng lại các bệnh do nấm,vi khuẩn gây ra Các phản ứng này tạo nên sự tích lũy các chất kháng thể thực vật kháng lại mầm bệnh liên quan đến (PR) protein và các chất ức chế proteinase, chất lignin tổng hợp và hình thành callose Nhận thấy được lợi ích và tầm quan trọng của chúng trong nông nghiệp đã giúp giảm thiểu việc sử dụng thuốc hóa học trong phòng trừ các tác nhân gây hại cây trồng, bảo vệ môi trường, sức khỏe con người và cộng đồng, đồng thời giảm thiểu tính kháng thuốc của các tác nhân gây bệnh

Tính kháng khuẩn, kháng nấm của chitin và các dẫn xuất của chitin đã được chứng minh trong thực tế về hiệu quả phòng ngừa bệnh hại qua các thí nghiệm và qua nhiều ứng dụng trong nông nghiệp Chúng đã sử dụng để kiểm soát dịch bệnh, giảm lây lan mầm bệnh, giúp cây trồng tăng hấp thu chất dưỡng chất, ngăn chặn mầm bệnh xâm nhập vào cây ký chủ, tăng cường sức đề kháng của cây trồng Khi cây trồng được bảo vệ bởi chitin và chitosan chúng tạo ra các phản ứng kích kháng trong cây ký chủ trên cả hai nhóm thực vật một lá mầm và hai lá mầm Những phản

đó ứng bao gồm sự hóa gỗ, sự thay đổi hàm lượng các ion, axit hóa tế bào chất, khử cực màng và phosphoryl hóa protein, kích hoạt glucanase và chitinase, sinh tổng hợp phytoalexin và axit jasmonic

Ngoài ra, chitosan còn được ghi nhận khả năng kháng lại sự gây hại của nấm bệnh và nhóm nấm Oomycetes Chúng ức chế tốc độ tăng trưởng của nấm bệnh ở nồng độ tối thiểu từ 10 - 5.000 ppm Các hoạt động kháng nấm của chitosan được quan sát xung quanh pKa của nó (pH 6,0) Theo Rabea và ctv (2007), hoạt động diệt

nấm của 24 dẫn xuất chitosan mới (N-alkyl, N-benzylchitosans) trên Bibolaris

cinerea và Pyricularia grisea, cho hiệu quả phòng ngừa bệnh rất cao,

N-dodecylchitosan, N-(p-isopropylbenzyl) chitosan và N-(2,6-dichlorobenzyl),

chitosan cho hiệu quả diệt nấm nhiều nhất đối với Bipolaris cinerea, với giá trị EC50 của 0,57, 0,57 và 0,52 GL-1, tương ứng Khả năng kháng nấm Pyricularia

grisea có N-(m-Nitrobenzyl) của chitosan là năng động nhất, với hiệu quả ức chế

đạt 77% tại 5 GL-1 Ngoài ra, O-(decanoyl) chitosan là hợp chất hoạt động mạnh

nhất đối với Bipolaris cinerea (EC50 = 1,02 GL-1) và O-(hexanoyl) chitosan hiển

Trang 27

thị hoạt động cao nhất so với Pyricularia grisea (EC50 = 1,11 GL-1) Một số các

dẫn xuất khác của chitosan cũng hạn chế sự hình thành bào tử ở nồng độ khá cao (1,0, 2,0 và 5,0 GL-1) Gần đây, Palma-Guerrero et al đã chứng minh rằng chitosan

có thể thẩm thấu qua màng plasma của Neurospora crassa và giết chết các tế bào

một cách nhanh chóng Nói chung, chitosan áp dụng ở nồng độ 1 mg/ml, có thể làm giảm sự phát triển của một số nấm và Oomycetes trong ống nghiệm trừ Zygomycetes

Khả năng kiểm soát mầm bệnh của chitosan trên cây trồng đã được nghiên cứu rộng rãi và hiệu quả ngăn ngừa bệnh còn tùy thuộc vào mầm bệnh, việc sử dụng các dẫn xuất và phương pháp áp dụng Muzzarelli (2004) đã thử nghiệm hiệu quả

năm dẫn xuất hoá học chitosan trong việc hạn chế sự tăng trưởng của Saprolegnia

parasitica Ứng dụng của các chế phẩm chitosan đã cho hiệu quả thúc đẩy tăng

trưởng cây trồng và ngăn chặn một số bệnh truyền qua đất quan trọng Trong sản

xuất cà chua sạch bệnh, bệnh thối gốc do Fusarium oxysporum đã bị ức chế bằng

cách sử dụng chế phẩm chitosan Tương tự như vậy, để kiểm soát các bệnh sau thu hoạch, bổ sung chitosan đã làm giảm sự tấn công của vi khuẩn gây bệnh Kết quả này là ứng dụng rất quan trọng bởi vì nó cho thấy khả năng thay thế việc sử dụng thuốc trừ sâu trên sản phẩm tươi sống trong lưu trữ Những điều tra gần đây trên cây

cà chua với việc áo chitosan đã làm chậm quá trình chín bằng cách thay đổi nhiệt độ, giảm tác hại do các mầm bệnh gây ra Các phương pháp áp dụng chitosan trong nông nghiệp được nghiên cứu nhằm kiểm soát hoặc ngăn chặn sự phát triển của các tác nhân gây bệnh thực vật hoặc kích hoạt khả năng kháng lại mầm bệnh của thực vật

Guan (2003) đã nghiên cứu việc sử dụng chitosan áo hạt giống ngô lai Kết quả cho thấy chitosan không gây ảnh hưởng đến sự nảy mầm dưới nhiệt độ thấp, nó giúp nâng cao chỉ số nảy mầm, làm giảm thời gian nảy mầm, làm tăng chiều dài chồi và rể mầm Một nghiên cứu khác cũng cho thấy, chitosan giúp cải thiện sinh lực của cây ngô, làm tăng khả năng kháng lại tác nhân gây bệnh trên hạt giống lúa

mì, cải thiện chất lượng và khả năng nảy mầm của hạt giống Tương tự như vậy, hạt đậu phộng ngâm trong chitosan được ghi nhận hiệu quả giúp tăng tỉ lệ nảy mầm,

Trang 28

tăng khả năng hoạt động của lipase, acid gibberellic và mức độ axit indole acetic Theo Ruan và Xue (2001), hạt giống lúa áo với chitosan có thể tăng tốc độ nảy mầm, giúp sinh trưởng phát triển tốt Đối với cà rốt, hạt giống áo với chitosan giúp hạn

chế sự phát triển hơn của Sclerotinia sp gây thối củ Chitosan cũng đã được sử dụng rộng rãi như một chế phẩm xử lý hạt giống nhằm kiểm soát Fusarium

oxysporum trên nhiều loài cây kí chủ

Theo nghiên cứu của Reddy (1999), hạt giống lúa mì sau khi được xử lý với

chitosan nồng độ 100 ppm sẽ tạo ra tính kháng Fusarium sp gây hại và cải thiện

chất lượng hạt giống Kết quả cho thấy, tốc độ nảy mầm trên hạt có xử lý chitosan > 85% so với đối chứng < 80% Trên cây cà chua, theo kết quả nghiên cứu của Borges và ctv (2002) đã kết luận chitosan và menadione sodium bisulphite (MSB)

đã giúp kìm chế tốc độ phát triển của Fusarium oxysporum Bên cạnh đó Aulakh và

ctv (2003) cho thấy áp dụng phương pháp áo hạt giống lúa Khao Dawk Mali - 105 với chitosan nồng độ 200 ppm và Polymer tổng hợp đã cho kết quả làm gia tăng thời gian bảo quản, cải thiện chất lượng hạt giống Theo nghiên cứu của Halina Kurzawińska (2007), hạt giống rau diếp sau khi xử lý với chitosan 200 ppm thì tốc

độ nảy mầm đạt 96% so với đối chứng là 72% Ngoài ra chitosan còn làm ngăn ngừa sự gây hại của các loài nấm bệnh như Phytophthora, Fusarium oxysporum, Sphaerotheca pannosa var rosae, Peronospora sparsa và Botrytis spp

Theo Katsumi Ohta (2004), chitosan 100 ppm có khả năng làm gia tăng mật

độ các vi sinh vật có lợi đối với một số loại hoa và cây cảnh Kết quả nghiên cứu cho thấy hạt giống sau khi xử lý chitosan từ 6 - 13 tuần, hàm lượng nitrogen trong đất gia tăng hơn so với đối chứng Theo Nguyễn Anh Dũng và ctv (2004), chế phẩm chitosan có ảnh hưởng tích cực đến hàm lượng diệp lục, số lượng nốt sần của lạc Chế phẩm có tác dụng kích thích sinh trưởng, gia tăng tích luỹ sinh khối và làm tăng năng suất từ 19,34 - 40,65% so với đối chứng Nồng độ thích hợp của chế phẩm với cây lạc là 40 ppm

Trang 29

1.8 Công nghệ áo hạt giống bằng hợp chất polymer tổng hợp

Áo hạt giống bằng hợp chất polymer tổng hợp là phương pháp làm tăng sự mọc mầm đồng đều của hạt Polymer có các đặc tính như dễ hoà tan trong dung môi, không gây ngộ độc cho hạt giống, sau xử lý không bị kết dính, không biến tính trong suốt quá trình tồn trữ khi hạt được bao phủ, có thể tạo màng ở nhiệt độ thường, màng bao phủ có tính mềm dẻo và đàn hồi tốt, có độ chống thấm khí, khả năng phân hủy sinh học tốt và đặc biệt là khả năng hoạt hoá ẩm trở lại để tạo điệu kiện thuận lợi cho hạt nẩy mầm cũng như khả năng trơ với các chất khác để không thể kết hợp hoặc làm biến tính các hoá chất có trong thuốc bảo vệ thực vật dùng cho xử

lý hạt giống kèm theo

1.8.1 Tác động của polymer tổng hợp

Các nghiên cứu của phòng thí nghiệm công ty Cổ phần giống cây trồng miền Nam đã ghi nhận các đặc tính sau của polymer:

- Điều hòa về sự hút ẩm của hạt giống: Trong giai đoạn nhạy cảm từ gieo hạt đến

khi hạt nảy mầm, hạt giống sẽ chỉ cùng nẩy mầm khi có đủ độ ẩm cần thiết để tác động đến lớp màng polymer Vì thế, hạt giống bao phủ polymer sẽ nẩy mầm nhanh, đều, mật độ cây đồng thời tăng cao Trong bảo quản lớp bao phủ polymer sẽ ngăn cản sự trao đổi ẩm giữa không khí môi trường bên ngoài và hạt giống, do đó hạt giống sẽ được bảo quản tốt hơn

- Bảo lưu lâu dài thuốc bảo vệ thực vật: polymer hòa tan tốt thuốc bảo vệ thực vật

kèm theo và tạo màng bền vững bao quanh hạt nên thuốc bảo vệ thực vật sẽ được hạt hấp thu ngay từ khi tạo màng, phần còn lại luôn hiện hữu trong màng Khi tiếp xúc với ẩm trong đất, lớp màng phân hủy chậm có tác động duy trì thuốc ở vùng rể trong giai đoạn cây con, giúp cây con có khả năng chống lại sự tấn công của sâu bệnh, làm tăng mật độ cây trồng Ngoài ra, lớp màng có khả năng phòng chống lại sâu bệnh trong bảo quản không làm giảm chất lượng, kéo dài tuổi thọ hạt giống

- Tạo màng bền vững: Do tạo màng bền vững nên màu xử lý không dính tay, tạo

tính thẩm mỹ cho hạt giống và giảm tối đa lượng ô nhiễm trong quá trình chế biến

Trang 30

- Tác động làm cây con khỏe, cứng cáp Khi xử lý hạt giống với polymer, thực tế đã

công nhận rằng: hạt nảy mầm sớm hơn, rễ phát triển hơn

1.8.2 Ưu điểm của việc áo hạt giống với polymer

- Thời gian mọc mầm nhanh hơn, gia tăng tỉ lệ nảy mầm, rễ phát triển mạnh hơn

- Thuốc bảo vệ thực vật được tiếp nhận và lưu giữ theo hệ thống màng nên toàn bộ thuốc được tập trung bảo vệ ngay từ ban đầu khi mới gieo nên đã chống được sâu bệnh là cơ sở cho một mùa màng bội thu; giảm việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

- Ngăn chặn khả năng xâm nhập và phát triển của nấm mọt vào hạt trong quá trình bảo quản

- Cải thiện khả năng tương thích của hạt với điều kiện bất lợi của mội trường

- Gia tăng việc bảo vệ hạt toàn diện trong lưu thông – bảo quản - ngoài đồng

Trang 31

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian, địa điểm và vật liệu nghiên cứu

- Thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 6/2009 đến tháng 8/2010

- Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại nhà máy Công ty Giống cây trồng miền Nam và phòng thí nghiệm Bệnh cây, khoa Nông học trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

+ Lấy mẫu hạt giống Jasmine 85, tiến hành áo polymer và chitosan tại nhà máy chế biến hạt giống Củ Chi – Công ty Cổ phần Giống cây trồng miền Nam

+ Phân lập và định danh nấm, vi khuẩn được thực hiện tại phòng thí nghiệm bệnh cây, bộ môn Bảo vệ Thực vật, khoa Nông học trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

- Vật liệu nghiên cứu:

+ Giống lúa Jasmine 85

+ Giấy thấm thử độ nảy mầm, thước đo

+ Khay nhựa, hộp nhựa và các dụng cụ phòng thí nghiệm

+ Hợp chất sinh học: chitosan, polymer tổng hợp

+ Hóa chất: nutrient agar, glucose, pepton, beef extract, các hóa chất nhuộm

và nước cất

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Nội dung 1: Ảnh hưởng của chitosan và polymer đến tác nhân nấm bệnh gây hại phân lập trên hạt lúa giống Jasmine 85

Trang 32

2.2.1.1 Kiểm tra thành phần nấm bệnh gây hại sau thu hoạch trên hạt giống lúa Jasmine 85

Phương pháp: Xác định thành phần nấm bệnh trên hạt theo phương pháp

Blotter (Mathur và Olga Kongsdal, 2000, Neergard, 1998, Mew và Gonzale, 2002) Phương pháp này được thực hiện theo tiêu chuẩn của Hội kiểm nghiệm hạt giống Quốc Tế (ISTA, 1999) và Viện nghiên cứu bệnh hạt giống chính phủ Đan Mạch cho các nước đang phát triển (DGISP) Mỗi mẫu giống lúa được lấy từ kho giống về, lấy ngẫu nhiên 200 hạt Chuẩn bị các đĩa petri (đường kính 9cm), đặt vào mỗi đĩa 3 lớp giấy thấm đã được làm ẩm no nước bằng nước cất vơ trùng Dùng kẹp gắp đặt vào mỗi đĩa 25 hạt lúa (15 hạt vịng ngồi, 9 hạt vịng trong và 1 hạt ở giữa tâm của đĩa) Sau đĩ tiến hành ủ hạt, các đĩa petri được xếp vào khay và mang vào ủ ở nhiệt độ

25oC trong 7 ngày với chu kì 12 giờ sáng 12 giờ tối Kiểm tra sau khi ủ xong, cứ 2 ngày theo dõi 1 lần, các hạt trong đĩa được kiểm tra lần lượt từ vịng ngồi cho đến vịng trong dưới kính lúp Xác định thành phần nấm dựa vào đặc điểm hình thái sợi nấm, bào tử dưới kính hiển vi quang học Thành phần nấm được xác định dựa theo

tài liệu của Mew và Gonzales (A Handbook of Rice Seedborne Fungi – IRRI, 2002),

Malone và Muskett (1977), Singh và ctv (1991)

Ghi nhận kết quả: Đếm tồn bộ các đánh dấu về tác nhân trên nền đĩa hoặc

trong bảng ghi kết quả, tính phần trăm hạt nhiễm đối với từng loại nấm

Tỉ lệ hạt nhiễm bệnh (%) =

nghiệmthí

hạt sốTổng

hhạt bệnsố

Sau khi phân lập, chọn ra 3 lồi nấm cĩ tần suất xuất hiện cao nhất, tiến hành làm thuần và nhân số lượng 3 lồi nấm trên mơi trường PGA để chuẩn bị cho thí nghiệm kế tiếp

2.2.1.2 Ảnh hưởng của chitosan và polymer đối với sinh trưởng của một số lồi nấm gây bệnh phân lập trên hạt lúa giống

Phương pháp: Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp Shew (1985)

Pha mơi trường PGA nuơi cấy nấm cĩ bổ sung chitosan ở các nồng độ 100 ppm,

Trang 33

200 ppm, 300 ppm và polymer nồng độ 800 ppm trong các đĩa petri Nguồn nấm dùng để thử là nguồn nấm thuần đã phân lập trước 48 giờ Đặt những mẩu nhỏ môi trường có chứa sợi nấm vào chính giữa đĩa petri Lấy mẫu nấm sao cho chúng có cùng độ tuổi (lấy trên những đường cách đều tâm đĩa)

Ghi nhận kết quả: Đo đạc đường kính khuẩn lạc của nấm ở các thời điểm

24, 48, 72 giờ sau cấy Mỗi nồng độ được bố trí 1 đĩa petri, lập lại 3 lần Đánh giá tính kháng của nấm theo thang chuẩn dựa vào độ hữu hiệu theo Ngô Thị Xuyên và Hoàng Văn Thọ (2006) với công thức xác định độ hữu hiệu:

ĐHH (%) = ((D-d)/D)*100 Trong đó: D: đường kính tản nấm (mm) trên môi trường PGA không chứa thuốc, d

là đường kính tản nấm (mm) trên môi trường PGA chứa thuốc

Nếu ĐHH ≥ 60% ký hiệu là S: mẫn cảm với thuốc

Nếu ĐHH ≤ 10% ký hiệu là R: kháng thuốc

Nếu 10% < ĐHH < 60% ký hiệu là I: phản ứng trung bình với thuốc

2.2.1.3 Ảnh hưởng của nấm bệnh gây hại đến sức khỏe hạt giống sau khi xử lý với chitosan và polymer

Phương pháp: Giống lúa Jasmine 85 được xử lý với chitosan ở các nồng độ

100 ppm, 200 ppm và 300 ppm, polymer có nồng độ 800 ppm Hạt giống được xử lý bằng phương pháp xử lý khô Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên

2 yếu tố, với 3 lần lặp lại, tổng số có 16 nghiệm thức Mỗi nghiệm thức chia thành 10 mẫu nhỏ (1 kg/mẫu), mỗi mẫu đựng trong bao PE loại 1 kg có chiều dày là 0,052 mm,

ép kín, bảo quản trong điều kiện kho không được kiểm soát (nhiệt độ: 22 - 340C, ẩm độ: 60 – 90 %)

Trang 34

Ghi nhận kết quả:

- Tỉ lệ hạt bệnh (%) =

nghiệmthí

hạt sốTổngTổngsố hạt bệnh x 100

- Tỉ lệ nảy mầm bình thường (%) =

nghiệmthí

hạt sốTổng

thườngbình

mầmnảyhạt số

- Tỉ lệ hạt khơng bình thường (%) =

nghiệmthí

hạt sốTổng

thườngbình

nghạt khôsố

- Chiều dài chồi mầm: Đo từ phần gốc sát hạt lúa đến phần chĩp lá dài nhất

- Chiều dài rễ mầm: Đo từ phần gốc sát hạt lúa đến phần chĩp rễ dài nhất

Trang 35

Với: - Cây mạ bình thường: bao gồm những cây mạ mọc nguyên vẹn hoặc chỉ có khuyết tật nhẹ

- Cây mạ không bình thường: bao gồm những cây mạ bị hư hại nặng do nấm hoặc do yếu tố khác, những cây mạ quăn queo biến dạng, những cây còi cọc

- Hạt bị nhiễm bệnh: bao gồm những hạt có dấu hiệu nhiễm nấm bệnh

2.2.1.4 Ảnh hưởng của chitosan và polymer đến sức khỏe hạt giống qua các thời gian bảo quản

Phương pháp: Giống lúa Jasmine 85 được xử lý với chitosan ở các nồng độ

100 ppm, 200 ppm và 300 ppm, polymer có nồng độ 800 ppm Hạt giống được xử lý bằng phương pháp xử lý khô với các ký hiệu như mục 2.2.1.3 Đánh giá thí nghiệm

bằng phương pháp giấy thấm cuộn xếp khe - pleated paper method (20 khe/cuộn,

100 hạt/cuộn, 3 cuộn/mẫu) theo tiêu chuẩn của ISTA (1999) Hạt giống sau xử lý với chitosan và polymer (với các nồng độ như bảng 2.1) được bảo quản trong kho không kiểm soát (nhiệt độ: 22 - 340C, ẩm độ: 60 - 90%) với các mốc thời gian: 7 ngày, 2 tháng, 4 tháng và 6 tháng

Cách làm như sau: Dùng 2 tờ giấy thấm (725 x 230 – 265 mm), xếp gấp thành 20 khe đều nhau, cho cuộn giấy trên vào hộp nhựa (16 x 10 mm), sau đó dùng ống đong (100 ml) lấy 21 ml nước cất vô trùng cho vào hộp nhựa sao cho cuộn giấy được làm ẩm no nước

Dùng kẹp gắp hạt đặt vào cuộn giấy thấm, cứ mỗi khe đặt 5 hạt lúa cách đều nhau, mày lúa cùng nằm về một hướng và cùng hướng lên trên Mỗi nghiệm thức (bảng 2.1 ) được lặp lại 3 lần Sau khi gieo xong mang vào ủ ở nhiệt độ 25oC trong

7 ngày với chu kì 12 giờ sáng 12 giờ tối luân phiên nhau Đánh giá sự nhiễm nấm của hạt giống, kiểm tra nảy mầm ở ngày thứ 7 sau khi đếm số hạt nảy mầm bình thường, hạt không nảy mầm (do bệnh hoặc lý do khác) và những hạt nảy mầm bất thường, ghi nhận các số liệu, những hạt nảy mầm bất thường do bệnh được chuyển sang đĩa petri có giấy thấm ẩm nước, ủ 2 ngày, sau đó kiểm tra trên kính hiển vi để phát hiện nấm bệnh

Trang 36

Ghi nhận kết quả:

- Tỉ lệ nảy mầm bình thường (%) =

nghiệmthí

hạt sốTổng

thườngbình

mầmnảyhạt số

- Tỉ lệ hạt khơng bình thường (%) =

nghiệmthí

hạt sốTổng

thườngbình

nghạt khôsố

- Tỉ lệ hạt bệnh (%) =

nghiệmthí

hạt sốTổng

hhạt bệnsố

- Chiều dài mầm: Đo từ phần gốc sát hạt lúa đến phần chĩp lá dài nhất

- Chiều dài rễ mầm: Đo từ phần gốc sát hạt lúa đến phần chĩp rễ dài nhất

- Cường lực hạt giống được quyết định bởi 3 yếu tố:

Thời gian nảy mầm trung bình (D) =  (d*n)/ n

Tốc độ nảy mầm (R, ngày) = 1/D

Chỉ số cường lực VI = (chiều dài chồi mầm + chiều dài rễ mầm ) x tỉ lệ nảy mầm Trong đĩ: d là số ngày từ khi bắt đầu nảy mầm

n là số hạt nảy mầm vào ngày d

2.2.2 Nội dung 2: Ảnh hưởng của chitosan và polymer đến tác nhân vi khuẩn gây hại phân lập trên hạt lúa giống Jasmine 85

2.2.2.1 Phân lập và lưu trữ vi khẩn gây hại trên hạt lúa giống Jasmine 85

Phân lập: Lấy 50 g hạt đã thu thập được mang đi rửa sạch dưới vịi nước

trong 10 phút, sau đĩ cho vào bình tam giác loại 500 ml cĩ chứa 100 ml nước cất vơ trùng cĩ thêm 0,025 Tween 20, sau đĩ đem ly tâm với tốc độ 120 vịng/phút trong

24 giờ ở nhiệt độ phịng, lấy 1ml dịch trích này đem pha lỗng dung dịch đến 104 –

105 rồi dung que cấy tam giác trải đều trên bề mặt mơi trường NA Sau đĩ đem ủ ở nhiệt độ 25oC trong vịng 48 giờ

Lưu trữ: Khi thấy khuẩn lạc đã phát triển tiến hành chuyển sang mơi trường

NA để làm thuần, đồng thời nhân số lượng và lưu trữ ở nhiệt độ -70oC

Trang 37

Phương pháp định danh vi khuẩn

Phân loại vi khuẩn thường dựa trên hình thái tế bào, tính di động, đặc tính ăn màu khi nhuộm và các phản ứng sinh lý, sinh hóa học khác Đối với vi khuẩn thông thường việc nhận dạng bước đầu quan sát bằng mắt có thể dựa trên hình dạng màu

sắc khuẩn lạc mọc trên các loại môi trường khác nhau (Schaad, 1988) Đặc điểm

khuẩn lạc thường được quan sát dựa vào một số đặc điểm sau:

- Hình dạng khuẩn lạc: tròn, phân nhánh, dạng bất định, chấm nhỏ, rễ cây

- Độ cao khuẩn lạc: phẳng, hơi nhô cao, nhô cao phân tâm

- Hình thái tế bào vi khuẩn thường được quan sát sau khi nhuộm màu, tế bào

vi khuẩn cũng rất đa dạng: que, cầu, xoắn

- Đặc tính ăn màu là một trong những đặc tính quan trọng khi định danh vi khuẩn bao gồm nhuộm Gram, thử với KOH 3%, nhuộm bào tử (endospore staining)

- Nhu cầu oxygen: Dựa vào đặc tính này vi khuẩn được chia làm 3 nhóm: vi khuẩn yếm khí, vi khuẩn hiếu khí và vi khuẩn có khả năng sống trong cả 2 điều kiện yếm khí và hiếu khí

2.2.2.2 Ảnh hưởng của chitosan và polymer đối với sinh trưởng của vi khuẩn gây hại phân lập trên hạt lúa giống Jasmine 85

Nội dung thí nghiệm được đánh giá qua 2 thí nghiệm độc lập:

* Thí nghiệm 1: Chuẩn bị môi trường NA nuôi cấy vi khuẩn, lấy 2 ml dịch vi khuẩn, dung que cấy tam giác trải đều vi khuẩn vào đĩa môi trường NA Dùng giấy thấm đục lỗ tròn đã vô trùng nhúng vào dung dịch chitosan ở các nồng độ 100 ppm,

200 ppm, 300 ppm và polymer nồng độ 800 ppm, đối chứng nhúng vào nước cất vô

Trang 38

trùng đặt vào môi trường đã cấy vi khuẩn (mỗi đĩa 3 – 5 lỗ tròn) Sau đó tiến hành ủ trong 24 và 48 giờ

Ghi nhận kết quả: Quan sát và tiến hành đo đường kính vòng vô khuẩn và

đọc kết quả (nếu có xuất hiện vòng vô khuẩn)

Đường kính vòng vô khuẩn

Ghi nhận kết quả: Quan sát sự phát triển khuẩn lạc của vi khuẩn ở các thời

điểm 24, 48 giờ sau cấy Mỗi nồng độ được bố trí 1 đĩa petri, lập lại 4 lần Xác định

vi khuẩn mọc nhiều, ít hay không mọc để kết luận vi khuẩn có nhạy cảm với chitosan và polymer

2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Các số liệu sau khi thu thập được phân tích ANOVA – FACTOR bằng phần mềm xử lý thống kê Statgraphic 7.0, dùng phép thử Duncan’s để so sánh mức có ý nghĩa giữa các nghiệm thức

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Ảnh hưởng của chitosan và polymer đến tác nhân nấm bệnh gây hại phân

lập trên hạt lúa giống Jasmine 85

3.1.1 Kiểm tra thành phần nấm bệnh gây hại sau thu hoạch trên hạt giống lúa

Jasmine 85

Dùng phương pháp ủ Blotter và phân lập nấm trên môi trường khoai tây

(PGA) đã xác định được một số loài nấm có tần suất cao và tác nhân truyền bệnh

qua hạt giống bên cạnh đó một số loại nấm hoại sinh cũng được phát hiện

Bảng 3.1 Tỉ lệ hạt bị nhiễm nấm ở giống lúa Jasmine 85

Jasmine 85 Tỉ lệ hạt nhiễm nấm (%) Mức độ phổ biến

Trang 40

a Alternaria padwickii (Ganguly)

Alternaria padwickii là tác nhân gây ra bệnh phỏng lá lúa và phân bố rộng rãi

ở các vùng trồng lúa trên thế giới (Kato và ctv, 1988) Kết quả kiểm tra Alternaria

padwickii bằng phương pháp Blotter cho thấy loại nấm này xuất hiện chiếm tỉ lệ

cao nhất (9.6%) Các hạt lúa sau khi ủ 5 – 7 ngày trên vỏ hạt sợi nấm xuất hiện

có màu hơi trắng, sau đó chuyển sang màu hơi xám khi thêm 1 – 2 ngày Khi quan sát trên kính lúp ở độ phóng đại 100 lần thì thấy bào tử nằm rãi rác, lộn xộn Sau khi cấy bào tử từ vỏ hạt lúa sau khi ủ Blotter trên môi trường PGA thì thấy khuẩn lạc phát triển tỏa ra, mỏng, sợi mọc cạn Sợi nấm lúc đầu có màu trắng, sau trở nên xám hoặc hơi nâu đen Sợi nấm và cuống sợi nấm nằm lẫn vào môi

trường nên có màu đen nhạt Bào tử nấm Alternaria padwickii khi quan sát trên

kính hiển vi ở độ phóng đại 100 - 400 lần có hình thẳng hoặc hơi cong, hình chùy, màu kem vàng, có vách dày, 3 - 5 vách ngăn ngang; tế bào thứ hai hay thứ ba tính

từ gốc hơi to hơn các tế bào còn lại Bào tử Alternaria padwickii khi còn non không

màu, khi già có màu hơi nâu, bề mặt nhẳn, ở ngay chổ vách ngăn hơi thắc lại

b Bipolaris oryzae (Breda de Haan)

Bipolaris oryzae là tác nhân gây ra bệnh đốm nâu trên lá và trên hạt Theo

dõi trên Blotter sau 5 – 7 ngày ủ cho kết quả loại nấm này chiếm tỉ lệ 2.7% Quan sát dưới kính hiển vi cho thấy cuống bào tử mọc trên vỏ hạt lúa theo từng nhóm, hơi

cong, bào tử mọc thành chùm và thường có 2 hoặc 3 bào tử Nguồn nấm Bipolaris

oryzae lấy từ vỏ hạt lúa sau khi ủ và nuôi cấy trên môi trường PGA khuẩn lạc có

màu xám sau đó chuyển sang màu xám đen Sợi nấm và bào tử nấm xen lẫn môi trường tạo thành màu đen Bào tử nấm khi quan sát dưới kính hiển vi có hình hơi cong, rộng ở phần giữa, thon hoặc tròn ở hai đầu, có tư 8 – 10 vách ngăn tùy thuộc vào chiều dài bào tử

Ngày đăng: 14/03/2019, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w