1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ, TUYỂN CHỌN GIỐNG SẮN LÀM NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT TINH BỘT VÀ NHIÊN LIỆU SINH HỌC

129 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu : Xác định được từ 2 - 3 giống sắn tốt có năng suất củ tươi, năng suất bột và năng suất sắn lát khô cao, thân đẹp, nhặt mắt, tán gọn để làm nguyên liệu sản xuất tinh bột và nhiê

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

*****************

NGUYỄN THỊ LỆ DUNG

ĐÁNH GIÁ, TUYỂN CHỌN GIỐNG SẮN LÀM NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT TINH BỘT

VÀ NHIÊN LIỆU SINH HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10/2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

ĐÁNH GIÁ, TUYỂN CHỌN GIỐNG SẮN LÀM NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT TINH BỘT

VÀ NHIÊN LIỆU SINH HỌC

Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp miền Nam

3 Phản biện 1: PGS TS PHAN THANH KIẾM

Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

4 Phản biện 2: TS ĐỖ KHẮC THỊNH

Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp miền Nam

5 Ủy viên: PGS TS PHẠM VĂN HIỀN

Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HIỆU TRƯỞNG

Trang 4

Quá trình công tác: Từ tháng 6 năm 2009 đến nay làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc, thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, chức vụ: nghiên cứu viên

Tháng 10 năm 2009 theo học Cao học ngành Trồng trọt tại Trường Đại học Nông Lâm, Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh

Tình trạng gia đình: Chồng Lê Xuân Thành, kết hôn năm 2011

Địa chỉ liên lạc: Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc, xã Hưng Thịnh, Trảng Bom, Đồng Nai

Điện thoại: 0903 713 085 hoặc 01699 618 879

Email: ledung26385@gmail.com

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quá nêu trong luận văn là trung thực

và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nguyễn Thị Lệ Dung

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt chương trình học và luận văn tốt nghiệp, tôi xin chân thành cảm ơn TS Hoàng Kim, Bộ môn Cây Lương thực Rau Hoa Quả, Khoa Nông học Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã tận tụy giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài tốt nghiệp

Tôi xin trân trọng cảm ơn:

Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Ban Chủ nhiệm Khoa Nông học Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh cùng các quý Thầy Cô đã tạo điều kiện và tận tình giảng dạy tôi trong suốt khóa học

Ban lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc, nơi tôi công tác đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành tốt trong suốt chương trình học và quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp; những người thân trong gia đình; các bạn đồng nghiệp, bạn bè trong và ngoài lớp đã cổ vũ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và làm đề tài tốt nghiệp

Cuối cùng, con xin gửi lời biết ơn bố mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng và dạy bảo con khôn lớn, cảm ơn người chồng đã luôn ở bên động viên, hỗ trợ tôi trong suốt thời gian qua

Tôi xin chân thành cám ơn Hội đồng chấm luận án đã phản biện, đánh giá, góp ý, giúp đỡ tôi hoàn thiện luận văn tốt nghiệp này

Đồng Nai, tháng 11 năm 2011

Nguyễn Thị Lệ Dung

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài “Đánh giá, tuyển chọn giống sắn làm nguyên liệu sản xuất tinh bột và nhiên liệu sinh học” đã được thực hiện từ tháng 5/2010 đến tháng 2/2011 tại vùng Đông Nam Bộ Mục tiêu : Xác định được từ 2 - 3 giống sắn tốt có năng suất củ tươi, năng suất bột và năng suất sắn lát khô cao, thân đẹp, nhặt mắt, tán gọn để làm nguyên liệu sản xuất tinh bột và nhiên liệu sinh học

Đề tài gồm ba khảo nghiệm cơ bản (RYT) chín giống sắn trên đất xám, đất nâu vàng và đất đỏ vùng Đông Nam Bộ; hai thí nghiệm so sánh chính quy (SYT) 14 giống sắn trên đất nâu vàng và đất đỏ vùng Đông Nam Bộ Năm thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên đơn yếu tố với ba lần nhắc lại, diện tích ô thí nghiệm 36 m2 Số liệu được tổng hợp và phân tích bởi phần mềm Exel và SAS 9.1

Kết quả khảo nghiệm cơ bản chín giống sắn trên ba loại đất cho thấy: chín giống sắn đều sinh trưởng khỏe, ít nhiễm sâu, bệnh hại Năng suất củ tươi của chín giống sắn trên đất đỏ biến động từ 31,99 - 48,02 tấn/ha Hàm lượng tinh bột biến động trong khoảng 26,80 - 29,43% Năng suất tinh bột đạt từ 8,99 -13,68 tấn/ha Hàm lượng sắn lát khô đạt từ 35,37 - 40,35% Năng suất sắn lát khô biến động từ 12,35 -18,55 tấn/ha Trong đó, ba giống sắn KM414, KM419 và KM397 là những giống triển vọng nhất phù hợp với chế biến tinh bột và nhiên liệu sinh học Năng suất củ tươi tương ứng là 48,02 tấn/ha, 47,60 tấn/ha và 41,87 tấn/ha Năng suất tinh bột tương ứng là 13,68 tấn/ha, 13,57 tấn/ha, và 11,61 tấn/ha Năng suất sắn lát khô tương ứng là 18,55 tấn/ha; 18,42 tấn/ha và 15,56 tấn/ha

Kết quả so sánh chính quy 14 giống sắn trên đất đỏ và đất nâu vàng cho thấy: Năng suất củ tươi của 14 giống sắn biến động từ 22,9 - 41,7 tấn/ha Năng suất tinh bột đạt từ 6,2 - 11,9 tấn/ha Năng suất sắn lát khô biến động từ 8,8 - 16,2 tấn/ha Sáu giống sắn KM414, KM419, KM397, KM444, KM228 và KM325 được tuyển chọn

để đưa vào khảo nghiệm RYT của vụ tới

Trang 8

SUMMARY

The thesis "Evaluation and selection of cassava cultivars as raw materials for starch and biofuel production” was carried out in the Southeast region of Vietnam, from May 2010 to February 2011 The objective of this research is to choose from two to three good cassava varieties with high fresh root yield, starch yield and dry matter yield suitable for raw materials for starch and biofuel production

The research consists of three Regional Yield Trials (RYT) on red soil, grey soil and yellow brown soil for 9 cassava varieties; two Standard Yield Trials (SYT)

on red and yellow brown soil for 14 cassava varieties Five single factor experiments were arranged in random complete block design with three replications and 36 m2 plot area The data were collected and analyzed by Excel and SAS 9.1 software

Results showed that:

1) Three RYTs on red soil, grey soil and yellow brown soil in the Southeast

of Vietnam show that nine cassava varieties grow well, have less insects and diseases Fresh root yield of nine cassava varieties ranges from 31.99 to 48.02 tons per ha, starch content ranges from 26.80 to 29.43%, starch yield ranges from 8.99 to 13.68 tons per ha, dry matter content ranges from 35.37 to 40.35%, and dry matter yield ranges from 12.35 to 18.55 tons/ha While three cassava varieties KM414, KM419 and KM397 are the most promising ones suitable for starch processing and biofuel production with fresh cassava root yield: 48.02 tons/ha, 47.60 tons/ha, 41.87 tons/ha; starch yield: 13.68 tons/ha, 13.57 tons/ha, 11.61 tons/ha; and dry matter yield:18.55 tons/ha; 18.42 tons/ha and 15.56 tons/ha respectively

2) Two SYTs of 14 cassava varieties on red soil and yellow brown soil in the Southeast have following results: Their fresh root yield ranges from 22.9 to 41.7 tons per ha, starch yield ranges from 6.2 to 11.9 tons per ha and dry matter yield ranges from 8.8 to 16.2 tons/ha Six cassava varieties KM414, KM419, KM397, KM444, KM228 and KM325 are selected for Regional Yield Trials next year

Trang 9

Danh sách các bảng ix

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1 1.2 Mục tiêu và yêu cầu 2

Chương 2 TỔNG QUAN 3

2.1 Tầm quan trọng và giá trị sử dụng của cây sắn 3

2.1.1 Nguồn gốc và vùng phân bố 3

2.1.2 Sản xuất nhiên liệu sinh học và tinh bột sắn 4

2.1.2.1 Giá trị kinh tế của cây sắn 4

2.1.2.2 Sản xuất nhiên liệu sinh học và tinh bột sắn 6

2.2 Sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam 8

2.2.1 Sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới 9

2.3 Giống sắn và công nghệ chọn tạo giống sắn 13

2.3.1 Đặc điểm di truyền của cây sắn 13

Trang 10

2.3.2 Qui trình chọn tạo giống sắn 14

2.4 Giống sắn phổ biến trên thế giới và Việt Nam 18

2.4.1 Một số giống sắn phổ biến trên thế giới 18

2.4.2 Một số giống sắn phổ biến ở Việt Nam 21

2.5 Hiện trạng sản xuất, nghiên cứu và phát triển sắn vùng Đông Nam Bộ 22

2.5.1 Đặc điểm đất đai vùng Đông Nam Bộ 22

2.5.2 Sản xuất sắn ở vùng Đông Nam Bộ 24

2.5.3 Kết quả chọn tạo và phát triển giống sắn mới vùng Đông Nam Bộ 24

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Vật liệu nghiên cứu 27

3.2.1 Nội dung nghiên cứu 30 3.2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 30

3.2.3 Phương pháp thí nghiệm 33 3.2.3.1 Kiểu bố trí thí nghiệm 33 3.2.3.2 Qui trình kỹ thuật áp dụng 35

3.2.4.1 Đặc trưng hình thái thân, lá, củ của các giống sắn 36

3.2.4.2 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các giống sắn 36

3.2.4.3 Tính chống chịu sâu bệnh và khả năng chống đổ ngã 37

3.2.4.4 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 37

3.2.4.5 Năng suất bột sắn và năng suất sắn lát khô 38

3.2.5 Phương pháp thống kê và xử lí số liệu 38

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39

4.1 Đặc trưng hình thái của 14 giống sắn thí nghiệm 39

4.1.2 Đặc trưng hình thái củ 40 4.2 Kết quả khảo nghiệm cơ bản chín giống sắn trên ba loại đất 42

Trang 11

4.2.1 Chiều cao cây, số củ/gốc, số thân/gốc 42

4.2.2 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển 43

4.2.3 Tính chống chịu sâu bệnh và khả năng chống đổ ngã 47

4.2.4 Kết quả đánh giá năng suất của chín giống sắn 49

4.2.4.1 Năng suất thân lá và chỉ số thu hoạch 49

4.2.4.2 Năng suất của chín giống sắn trên đất xám 50

4.2.4.3 Năng suất của chín giống sắn trên đất nâu vàng 52

4.2.4.4 Năng suất của chín giống sắn trên đất đỏ 55

4.2.4.5 Ảnh hưởng của ba loại đất lên năng suất của chín giống sắn 57

4.2.4.6 Tương tác gen và môi trường lên năng suất bột của chín giống sắn 59

4.3 Kết quả thí nghiệm so sánh chính qui 14 giống sắn 61

4.3.1 Chiều cao cây, số củ/gốc và số thân/gốc của 14 giống sắn 61

4.3.2 Tính chống chịu sâu bệnh hại và khả năng chống đổ ngã 62

4.3.3 Kết quả đánh giá năng suất của 14 giống sắn 64

4.3.3.1 Năng suất của 14 giống sắn trên đất nâu vàng 64

4.3.3.2 Năng suất của 14 giống sắn trên đất đỏ 66

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 69

5.1 Kết luận 69 5.2 Đề nghị 69

Tài liệu tham khảo 70

Phụ lục 1: Đồ thị so sánh năng suất 14 giống sắn trên đất đỏ và đất nâu vàng 75

Phụ lục 2: Hình ảnh ba giống sắn KM414, KM419 và KM397 76

Phụ lục 3: Một số hình ảnh thu hoạch thí nghiệm 77

Phụ lục 4: Tương tác G x E lên năng suất bột chín giống sắn 78

Phụ lục 5: Phân tích số liệu thống kê bằng phần mềm SAS 9.1 81

Phụ lục 6: Ảnh hưởng của ba loại đất lên năng suất củ tươi chín giống sắn 107

Phụ lục 7: Ảnh hưởng ba loại đất lên năng suất sắn lát khô của chín giống 112

Trang 12

FAO: Food and Agricuture Organization of Uniated Nation (Tổ chức Lương thực và

Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc)

FAOSTAT: Food and Agricuture Organization Statiscal (Tổ chức Thống kê lương thực và thực phẩm)

GSCRI: Guangxi Subtropical Crops Research Institute (Học viện Nghiên cứu Cây trồng cạn Quảng Tây)

IAS: Institute of Agriculture for South Vietnam (Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam)

IITA: International Institute of Tropical Agriculture (Viện Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế)

IPBO: Institute of Plant Biotechnology for Developing Countries (Viện Công nghệ Sinh học Thực vật cho các nước đang phát triển)

KU:Kasetsart University (Trường Đại học Kasetsart)

MARD: Ministry of Agriculture and Rural Development (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn)

RILET: Research Institute for Legumes and Tuber Crops (Viện Nghiên cứu Cây đậu đỗ và Cây có củ)

SCATC: South China Academy of Tropical Crops (Học viện Cây trồng Nhiệt đới Nam Trung Quốc)

TNAU: Tamil Nadu Agricultural University (Đại học Nnông nghiệp Tamil Nadu) NS: năng suất

Trang 13

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1 Sản xuất sắn ở các nước khác nhau trên thế giới năm 2008 4

Hình 2.2 Sơ đồ chế biến tinh bột sắn 7

Hình 2.3 Sơ đồ qui trình chọn tạo giống sắn 14

Hình 2.4 Bản đồ các nhóm đất chính vùng Đông Nam Bộ 23

Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm khảo nghiệm chín giống sắn 34

Hình 3.2 Sơ đồ thí nghiệm đánh giá, duy trì 14 giống sắn 35

Hình 4.1 Đồ thị tốc độ tăng trưởng chiều cao cây chín giống sắn trên đất xám 45

Hình 4.2 Đồ thị tốc độ tăng trưởng chiều cao cây chín giống sắn ở đất nâu vàng 46 Hình 4.3 Đồ thị tốc độ tăng trưởng chiều cao cây chín giống sắn trên đất đỏ 47

Hình 4.4 Đồ thị so sánh năng suất củ tươi của 14 giống sắn trên hai loại đất 76

Hình 4.5 Đồ thị so sánh năng suất bột của 14 giống sắn trên hai loại đất 76

Trang 14

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của thế giới từ năm 2000-2009 9

Bảng 2.2 Diện tích sắn Việt Nam (1000 ha) theo vùng từ năm 1995-2009 11

Bảng 2.3 Sản lượng sắn Việt Nam (1000 tấn) phân theo vùng từ năm 2000-2009 11

Bảng 2.4 Một số giống sắn triển vọng hiện trồng phổ biến ở Thái Lan 19

Bảng 2.5 Nguồn gốc, đặc tính của 12 giống sắn hiện trồng phổ biến ở Ấn Độ 19

Bảng 2.6 Nguồn gốc, đặc tính chính của 10 giống sắn phổ biến ở Trung Quốc 20

Bảng 2.7 Nguồn gốc và đặc tính chính của 8 giống sắn phổ biến ở Việt Nam 22

Bảng 3.1 Nguồn gốc cha mẹ và nơi, năm nhập nội, chọn tạo 14 giống sắn 27

Bảng 3.2 Thành phần lý hóa tính của ba loại đất 31 Bảng 3.3 Tình hình thời tiết khí hậu Đồng Nai trong thời gian thí nghiệm 32

Bảng 3.4 Tình hình thời tiết khí hậu Tây Ninh trong thời gian thí nghiệm 33

Bảng 4.1 Đặc trưng hình thái thân lá 14 giống sắn thí nghiệm 39

Bảng 4.2 Đặc trưng hình thái củ 14 giống sắn thí nghiệm 40

Bảng 4.3 Chiều cao cây, chiều cao phân cành của chín giống sắn thí nghiệm 42

Bảng 4.4 Số củ trên gốc, số thân trên gốc chín giống sắn 43

Bảng 4.5 Thời gian mọc mầm và tỉ lệ nảy mầm của chín giống sắn 44

Bảng 4.6 Sự tăng trưởng chiều cao cây chín giống sắn trên đất xám 45

Bảng 4.7 Sự tăng trưởng chiều cao cây chín giống sắn trên đất nâu vàng 46

Bảng 4.8 Sự tăng trưởng chiều cao cây chín giống sắn trên đất đỏ 47

Bảng 4.9 Tỉ lệ sâu bệnh hại và khả năng chống chịu đổ ngã của chín giống sắn 48

Bảng 4.10 Năng suất thân lá và chỉ số thu hoạch của chín giống sắn 50

Bảng 4.11 Năng suất của chín giống sắn trên đất xám 51

Bảng 4.12 Năng suất của chín giống sắn trên đất nâu vàng 53

Bảng 4.13 Năng suất của chín giống sắn trên đất đỏ 55 Bảng 4.14 Ảnh hưởng của ba loại đất và giống lên năng suất củ tươi của giống 57

Bảng 4.15 Ảnh hưởng ba loại đất lên năng suất sắn lát khô của chín giống sắn 58

Trang 15

Bảng 4.16 Chỉ số thích nghi và chỉ số ổn định của chín giống sắn 60

Bảng 4.17 Chiều cao cây, số củ/gốc và số thân/gốc của 14 giống sắn 62

Bảng 4.18 Tỉ lệ sâu bệnh hại và khả năng chống đổ ngã của 14 giống sắn 63

Bảng 4.19 Năng suất của 14 giống sắn trên đất nâu vàng 64

Bảng 4.20 Năng suất của 14 giống sắn trên đất đỏ 66

Trang 16

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Sắn (Manihot esculenta Crantz) là cây lương thực quan trọng trên thế giới sau

ngô, lúa gạo, lúa mỳ.Ở Việt Nam sắn là cây lương thực quan trong đứng thứ ba sau lúa và ngô, với diện tích sắn năm 2009 là 509 nghìn ha, năng suất 16,82 tấn/ ha, sản lượng 8,56 triệu tấn (Tổng cục Thống kê Việt Nam, 2011) Việt Nam là nước đứng thứ mười về sản lượng sắn trên thế giới và đứng thứ hai sau Thái Lan về xuất khẩu Sắn hiện được coi là giải pháp an toàn lương thực hàng đầu của nhiều nước châu Phi, nơi tình trạng suy dinh dưỡng đang tăng lên gấp đôi trong hai thập kỷ qua

Cây sắn có nhiều công dụng trong chế biến tinh bột, thức ăn gia súc và chế biến nhiên liệu sinh học, góp phần thay thế nhiên liệu hóa thạch đang dần cạn kiệt Việt Nam hiện có trên 60 nhà máy chế biến tinh bột với tổng công suất khoảng 2,4 triệu tấn tinh bột sắn; 06 nhà máy chế biến nhiên liệu sinh học với tổng công suất 550 triệu lít cồn/ năm sử dụng sắn làm nguyên liệu nên nhu cầu nguồn nguyên liệu rất lớn Sắn hiện là cây nhiên liệu sinh học có lợi thế cao so với nhiều cây trồng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (MARD) đã đề ra kế hoạch duy trì diện tích trồng sắn hàng năm khoảng 450,000 ha từ năm 2011-2015 và tăng năng suất củ tươi

từ 16,82 tấn/ha trong năm 2009 lên 23-24 tấn/ha năm 2015 bằng việc sử dụng công nghệ mới, đặc biệt là sử dụng giống mới

Sản xuất cấp thiết đòi hỏi phải có các giống sắn mới phù hợp với chế biến tinh bột và nhiên liệu sinh học để thay thế và bổ sung cho giống sắn KM94 là giống sắn công nghiệp hiện trồng 420.000 ha phổ biến nhất Việt Nam Giống sắn KM94

có ưu điểm năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao, thích ứng rộng nhưng còn nhược điểm cây cao, cong phần gốc, tán không gọn, chỉ số thu hoạch thấp, khó tăng mật độ trồng và hiện bị thoái hóa, nhiễm bệnh làm giảm năng suất

Trang 17

Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Đánh giá và

tuyển chọn giống sắn làm nguyên liệu sản xuất tinh bột và nhiên liệu sinh học”

để tiếp nối và thâu tóm nguồn gen tốt nhất được tuyển chọn trên đây để thực hiện

thí nghiệm khảo nghiệm giống theo tiểu vùng sinh thái và thí nghiệm so sánh giống chính quy

1.2 Mục tiêu

Xác định được từ 2 - 3 giống sắn tốt có năng suất củ tươi, năng suất bột và năng suất sắn lát khô cao, thân đẹp, nhặt mắt, tán gọn để làm nguyên liệu sản xuất tinh bột và nhiên liệu sinh học

Trang 18

Chương 2

TỔNG QUAN

2.1 Tầm quan trọng và giá trị của cây sắn

2.1.1 Nguồn gốc, vùng phân bố

Sắn có tên khoa học là Manihot esculenta Crantz Tên tiếng Anh là cassava,

tiếng Việt gọi là cây sắn, hoặc mì Sắn có bộ rễ phát triển ngang tạo củ, lá xẻ thùy, cây cao 2-3m, củ sắn có thịt màu trắng, khi luộc chín thịt dẻo và có thơm đặc trưng Sắn có thời gian sinh trưởng tùy thuộc vào từng giống, và địa bàn trồng

2.1.1.1 Nguồn gốc

Sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Mỹ La tinh được trồng cách đây khoảng 5.000 năm (CIAT, 1993) Trung tâm phát sinh cây sắn được giả thiết là vùng đông bắc của Brazin thuộc lưu vực sông Amazon, nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và hoang dại (De Candolle 1886; Rogers, 1965) Trung tâm phân hóa phụ có thể tại Mexico ở Trung Mỹ và vùng ven biển phía bắc của Nam Mỹ Bằng chứng về nguồn gốc sắn trồng là những di tích khảo cổ ở Venezuela niên đại 2.700 năm trước Công nguyên, di vật thể hiện củ sắn ở cùng ven biển Peru khoảng 2000 năm trước Công nguyên, những lò nướng bánh sắn trong phức hệ Malabo ở phía Bắc Colombia niên đại khoảng 1.200 năm trước Công nguyên, những hạt tinh bột trong phân hóa thạch được phát hiện tại Mexico có tuổi từ năm 900 đến năm 200 trước Công nguyên (trích dẫn bởi Hoàng Kim, 2010)

2.1.1.2 Vùng phân bố

Trên thế giới sắn được trồng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới từ 30OB - 30ON (CIAT, 1993) Tại Việt Nam, sắn được trồng tại hầu hết các tỉnh từ Bắc đến Nam, nhiều nhất tại vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên

Trang 19

Hình 2.1 Sản xuất sắn ở các nước khác nhau trên thế giới năm 2008

Theo FAO, 2009 được vẽ bởi Hoang Kim và ctv, 2011

2.1.2 Sản xuất tinh bột sắn và nhiên liệu sinh học

2.1.2.1 Giá trị kinh tế

Sắn là cây trồng có nhiều công dụng trong chế biến công nghiệp, thức ăn gia súc và lương thực thực phẩm Sản phẩm sắn ngày càng thông dụng trong buôn bán, trao đổi thương mại quốc tế Củ, thân và lá sắn đều có nhiều công dụng thiết thực Củ sắn được dùng để chế biến tinh bột, sắn lát khô, bột sắn nghiền hoặc dùng để ăn tươi

Từ sắn củ tươi hoặc từ các sản phẩm sắn sơ chế tạo thành hàng loạt các sản phẩm công nghiệp như bột ngọt, rượu cồn, mì ăn liền, gluco, xiro, bánh kẹo, mạch nha, kỹ nghệ chất dính (hồ vải, dán gỗ), bún, miến, mì ống, mì sợi, bột khoai, bánh tráng, hạt trân châu, phụ gia thực phẩm, phụ gia dược phẩm Củ sắn cũng là nguồn nguyên liệu chính để làm thức ăn gia súc Thân sắn dùng để làm giống, nguyên liệu cho công nghiệp xenlulô, làm nấm, làm củi đun Lá sắn non dùng làm rau xanh giàu đạm Lá sắn dùng trực tiếp để nuôi tằm, nuôi cá Bột lá sắn hoặc lá sắn ủ chua dùng để nuôi lợn, gà, trâu, bò, dê (Hoàng Kim và Phạm Văn Biên, 1995)

Trang 20

Sử dụng trực tiếp củ và lá sắn để làm lương thực, thực phẩm, rau xanh và làm thức ăn gia súc là cách thông thường ở hầu hết các nước Tùy theo tập quán ăn uống và kinh nghiệm chế biến món ăn của từng vùng mà các sản phẩm này rất phong phú, đa dạng Ở nước ta, các món ăn thông dụng từ sắn là rượu sắn, bánh tráng, bánh bột lọc, bánh nậm, bánh khoái, hạt trân châu, bún miến, hủ tiếu sắn, chè sắn, sắn luộc, sắn nướng v.v… Thân sắn dùng làm giống, làm nấm, làm củi đun và nguyên liệu cho công nghiệp xenlulô Lá sắn non dùng làm rau xanh giàu đạm cho người và nuôi tằm, thỏ, cá Bột lá sắn dùng để chăn nuôi gà, củ và lá sắn ủ chua để chăn nuôi lợn, bột sắn thô phối trộn với cám ngô, cám gạo, bánh dầu, bột cá, … để làm thức ăn tổng hợp.

Chế biến tinh bột sắn, sản xuất rượu cồn và phát triển hàng loạt các sản phẩm

từ tinh bột sắn biến tính như bột ngọt, gluco, xiro, mì ăn liền, bánh kẹo, mạch nha,

kỹ nghệ chất phụ gia dược phẩm…là những hướng chính trong chế biến sắn công nghiệp Tinh bột sắn là sản phẩm công nghiệp chính của sắn Trên thế giới lượng tinh bột từ lúa mì, gạo, ngô, sắn, khoai tây, khoai lang đã vượt trên một tỷ tấn một năm Đây là nguồn cung cấp năng lượng chính cho con người, gia súc và là nguồn năng lượng tái tạo rất thông dụng trong nhiều lĩnh vực công nghiệp Ở Mỹ khoảng

20 triệu tấn tinh bột, chủ yếu từ ngô, được sử dụng trong công nghiệp Ở châu Âu lượng tinh bột cho công nghiệp chủ yếu từ lúa mì và khoai tây Ở châu Á và Nam

Mỹ, lượng tinh bột cho công nghiệp chủ yếu từ sắn, gạo và ngô (Trích dẫn bởi Hoàng Kim, 2010)

Tinh bột sắn có những ứng dụng hết sức rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm, dược liệu, công nghiệp lên men, công nghiệp dệt và công nghiệp giấy Sắn là cây trồng C4, giàu tinh bột, chịu hạn, có thể trồng nơi đất nghèo, có khả năng bảo quản ở dạng tinh bột nên có thể rãi vụ chế biến và có giá cạnh tranh Với ngành công nghiệp nước giải khát khổng lồ, Mỹ là nước đứng đầu thế giới về sản xuất và tiêu thụ xiro giàu fructose (HFS) và xiro glucose chủ yếu từ tinh bột ngô Nhật Bản

là nước đi đầu trong sản xuất cyclodextrin Pháp, Mỹ là những nước cung cấp lớn

về maltodextrin Thái Lan là nước xuất khẩu sắn lát, sắn viên, tinh bột và tinh bột

Trang 21

sắn biến tính lớn nhất thế giới với tổng khối lượng sản phẩm sắn khoảng 7,00 triệu tấn năm 2007

2.1.2.2 Sản xuất nhiên liệu sinh học

Ngày 20/11/2007, Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định 117/2007/QĐ-TTg

về việc phê duyệt “Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025” Mục tiêu của đề án là phát triển nhiên liệu sinh học, một dạng năng lượng mới, tái tạo được để thay thế một phần nhiên liệu hoá thạch truyền thống, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường

Ở Việt Nam sản xuất ethanol chủ yếu dựa vào sắn Lý do vì sắn chế biến cồn sinh học có hiệu suất thu hồi cồn cao, giá rất cạnh tranh so với các cây khác (6 kg sắn củ tươi thành 2,5 kg sắn lát thành 2,2 kg bột sắn nghiền chế biến được 1 lít cồn 99,5% ethanol) Giá sắn hiện nay khoảng 2.000 – 2.500 đ/kg, cho giá thành 1 lít cồn

là 4.600 - 5.750 đ/lít, rẻ hơn nhiều so với giá xăng dầu (Viện Chiến lược và Chính sách Công nghiệp, 2009)

Việt Nam hiện đã có sáu nhà máy chế biến cồn đang được xây dựng tại Phú Thọ, Quảng Ngãi, Bình Phước, Quảng Nam, Đăk Nông và Đồng Nai với tổng công suất 550 triệu lít cồn/năm, sử dụng sắn lát làm nguyên liệu Nhu cầu thị trường rất lớn và giá cạnh tranh là cơ hội để phát triển sản xuất sắn (Hoang Kim và ctv, 2010)

Nhu cầu nguyên liệu sắn cho sản xuất ethanol nhiên liệu ở Việt Nam được thể hiện ở “Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025” của Bộ Công thương Cụ thể như sau:

* Đến năm 2010, sản xuất thử nghiệm và sử dụng nhiên liệu sinh học quy mô

100 nghìn tấn E5, cần 5 ngàn tấn E100 tương đương 6,4 triệu tấn ethanol nhiên liệu, đòi hỏi nhu cầu nguyên liệu sắn khô khoảng 17.300 tấn/năm

* Đến năm 2015, kế hoạch đặt ra chỉ có 250 ngìn tấn ethanol và dầu thực vật

để pha chế được 5 triệu tấn B5, E5,đáp ứng 1% nhu cầu xăng dầu của cả nước Giả

sử nhu cầu cao hơn, 200 ngàn tấn E100/tổng 250 ngàn tấn, tương đương 256 triệu lít ethanol, cần 700 ngàn tấn sắn khô/năm

* Đến năm 2025, sản lượng ethanol và dầu thực vật đạt 1,8 triệu tấn, đáp ứng

Trang 22

5% nhu cầu xăng dầu của cả nước, cần khoảng 3,5 triệu tấn sắn khô/năm

Sản xuất nhiên liệu sinh học là một bước ngoặc lịch sử đối với cây sắn Nguồn nguyên liệu trực tiếp để sản xuất ethanol là sử dụng sắn lát khô Vì vậy, việc chọn tạo những giống sắn phù hợp (có năng suất sắn lát khô cao) cho việc chế biến ethanol là rất cần thiết

2.1.2.3 Sản xuất tinh bột sắn

Chế biến tinh bột sắn là một quá trình quan trọng trong ngành chế biến, sản xuất sắn Hiện nay, Việt Nam có trên 60 nhà máy sản xuất tinh bột Do những đặc trưng riêng về tính chất hóa học mà tinh bột sắn được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp chế biến Nhu cầu tinh bột sắn cho thị trường trong nước và xuất khẩu rất lớn, mang lại thu nhập cho người dân

Hình 2.2: Sơ đồ chế biến tinh bột sắn

Trang 23

Tinh bột sắn có hàm lượng amilose thấp, amilopectin cao, có độ nhớt cao, độ dẻo lớn, độ trong tốt Các đặc tính này giúp tinh bột sắn có nhiều ứng dụng trong công nghệ dệt Trong công nghệ thực phẩm tinh bột sắn dùng để sản xuất các loại sản phẩm bánh truyền thống đòi hỏi độ dẻo, độ trong như bánh xu xuê, các sản phẩm chè, phụ gia cho các loại nước sốt Với hàm lượng amilopectin cao, tinh bột sắn có độ phồng nở cao khi rán với dầu, mỡ Đặc tính này khiến nó đã trở thành nguồn nguyên liệu chính trong công nghệ sản xuất các loại phồng tôm, phồng nấm, các loại snack Hàm lượng amilose cao cũng giúp khả năng tạo màng tốt nhờ đó tinh bột sắn ứng dụng nhiều trong sản xuất các loại giấy gói kẹo, bánh tráng (Psci cassava, 2008a)

Việc chọn tạo những giống sắn có năng suất bột cao sẽ góp phần quan trọng vào quá trình sản xuất tinh bột Hiện nay trong sản xuất các giống sắn có hàm lượng tinh bột dao động từ mức 20-30% Để có năng suất bột cao các giống sắn phải có năng suất củ tươi cao và hàm lượng tinh bột cao Trong sản xuất hiện nay các giống sắn có năng suất củ tươi cao nhưng hàm lượng bột thấp và ngược lại Nhu cầu chọn tạo những giống sắn vừa có năng suất củ tươi cao vừa có hàm lượng bột cao là cần thiết

2.2 Sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam

2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới

Sắn được trồng rộng khắp trên thế giới, từ 39oB đến 30oN, từ châu Phi, châu

Mỹ Latinh cho tới châu Á Năm 2009 toàn thế giới có 105 nước trồng sắn với tổng diện tích 18,92 triệu ha, năng suất 12,36 tấn/ ha, sản lượng 233,80 triệu tấn (FAOSTAT, 2011) Sắn được trồng 54% ở châu Phi, 30% ở châu Á, 16% ở châu Mỹ latinh Sắn là cây lương thực quan trọng ở nhiều nơi trên thế giới, nó được xếp thứ 4 sau lúa mỳ, lúa gạo và ngô Ở châu Phi, sắn là cây lương thực, thực phẩm chính, là giải pháp an toàn lương thực hàng đầu để chống suy dinh dưỡng Tinh bột sắn là một thành phần quan trọng trong bữa ăn của hơn một tỷ người trên thế giới Ngoài

ra, sắn còn là cây thức ăn gia súc quan trọng Cây sắn không kén đất nên việc trồng sắn dễ dàng mà mang lại hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt trong những năm gần đây

Trang 24

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của thế giới từ năm 2000-2009

Năm Năng suất (tấn/ha) Diện tích (triệu ha) Sản lượng (triệu tấn)

Trong những năm trở lại đây cây sắn trên thế giới đã tăng nhanh cả về diện

tích và năng suất do đó làm tăng sản lượng lên nhanh từ năm 1995 trở lại đây Bảng

2.1cho thấy sản xuất sắn của thế giới từ năm 1995 - 2009 đã tăng lên nhanh chóng,

với diện tích năm 1995 đạt 16,43 triệu ha tăng lên 18,92 triệu ha năm 2009, tăng

115,15% Năng suất cũng tăng lên đáng kể, năm 1995 năng suất trung bình đạt 9,84

tấn/ha, tăng lên 12,36 tấn/ha năm 2009, tăng 125,61% Do đó sản lượng sắn trên thế

giới cũng tăng lên đáng kể từ 161,78 triệu tấn năm 1995 lên 233,80 triệu tấn năm

2009, tăng 144,52%

Châu Phi vẫn là khu vực dẫn đầu sản lượng sắn toàn cầu với dự báo đến năm

2020 ước đạt 168,6 triệu tấn Hiện nay, châu Phi sản xuất 54% sản lượng sắn thế

giới Trong đó đứng đầu châu lục này là Nigeria với sản lượng đạt 44.582 nghìn tấn,

Ghana 9.650 nghìn tấn năm 2009

Châu Á là một trong 3 vùng sắn quan trọng nhất trên thế giới chiếm 30% sản

lượng sắn thế giới Về diện tích năm 2009 là 4,05 triệu ha, năng suất đạt 20,13

Trang 25

tấn/ha và sản lượng đạt 81,62 triệu tấn Nhiều nơi ở châu Á, cây sắn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế như: Thái Lan, Indonexia, Trung Quốc, Philippin

Châu Mỹ là khu vực sản xuất sắn lớn thứ 3 trên thế giới Trong đó, Brazil là nước trồng nhiều nhất với 1839 nghìn ha, chiếm khoảng 70% diện tích trồng sắn của châu lục này Diện tích trồng sắn ở châu Mỹ tăng từ 2535,2 nghìn ha năm 2000 lên 3009 nghìn ha năm 2005 và sau đó giảm xuống còn 2718,4 nghìn ha vào năm

2009 Năng suất bình quân đạt 13,2 tấn/ha Sản lượng sắn đạt khoảng 35,904 triệu tấn năm 2009 (FAOSTAT, 2011)

Viện Nghiên cứu Chính sách Lương thực Thế giới đã tính toán nhiều mặt và

dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn toàn cầu với tầm nhìn đến năm 2020 Năm

2020 sản lượng sắn toàn cầu ước đạt 275,10 triệu tấn, trong đó sản xuất sắn chủ yếu

ở các nước đang phát triển là 274,7 triệu tấn, các nước đã phát triển khoảng 0,40 triệu tấn Mức tiêu thụ sắn ở các nước đang phát triển dự báo đạt 254,60 triệu tấn so với các nước đã phát triển là 20,5 triệu tấn Khối lượng sản phẩm sắn toàn cầu sử dụng làm lương thực thực phẩm dự báo nhu cầu là 176,3 triệu tấn và thức ăn gia súc 53,4 triệu tấn Tốc độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản phẩm sắn làm lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc đạt tương ứng là 1,98% và 0,95% Châu Phi vẫn

là khu vực dẫn đầu sản lượng sắn toàn cầu với dự báo sản lượng năm 2020 sẽ đạt 168,6 triệu tấn Trong đó, khối lượng sản phẩm sử dụng làm lương thực thực phẩm

là 77,2%, làm thức ăn gia súc là 4,4% Châu Mỹ La tinh giai đoạn 1993 - 2020, ước tốc độ tiêu thụ sản phẩm sắn tăng hàng năm là 1,3%, so với châu Phi là 2,44% và châu Á là 0,84 - 0,96% Cây sắn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nhiều nước châu Á, đặc biệt là các nước vùng Đông Nam Á nơi cây sắn có tổng diện tích đứng thứ ba sau lúa và ngô và tổng sản lượng đứng thứ ba sau lúa và mía Chiều hướng sản xuất sắn phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh cây trồng Giải pháp chính là tăng năng suất sắn bằng cách áp dụng giống mới và các biện pháp kỹ thuật tiến bộ

(Hoàng Kim, 2011)

Trang 26

2.2.2 Đánh giá tổng quan tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở Việt Nam

Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực đứng hàng thứ ba sau lúa và ngô Sắn được trồng rộng rãi từ Bắc chí Nam ở Việt Nam với quy mô trồng năm 2009 đạt 560.400 ha (bảng 2.2), nhiều nhất tại Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ chiếm 73,79% tổng sản lượng sắn và 65,44 % tổng diện tích sắn của

Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2011

Vùng Bắc Trung bộ và duyên hải Nam Trung bộ Đây là vùng có diện tích trồng sắn lớn nhất cả nước, với diện tích năm 2009 ước đạt 170 nghìn ha (chiếm 29,8% diện tích trồng sắn cả nước), năng suất đạt 16,7 tấn/ha và sản lượng đạt

Trang 27

khoảng 3 triệu tấn củ tươi (chiếm 31,7% sản lượng sắn cả nước) Diện tích trồng sắn tập trung ở các tỉnh như: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Phú Yên và Bình Định

Vùng Tây Nguyêncó diện tích sắn lớn thứ hai cả nước, năm 2009 diện tích sắn đạt 150 nghìn ha (chiếm 26,8% diện tích cả nước), năng suất 16,0 tấn/ha, sản lượng ước đạt 2,4 triệu tấn củ tươi (chiếm 25,4% sản lượng sắn toàn quốc) Tập trung ở các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk và Đăk Nông

Vùng Đông Nam Bộ có một mùa mưa và mùa khô rõ rệt Thời vụ trồng sắn bắt đầu khi vào đầu mùa mưa Đây là vùng có năng suất bình quân cao nhất cả nước, diện tích sắn liên tục tăng trong những năm qua Năm 2009, diện tích đạt 132 nghìn ha (chiếm 23,6% diện tích trồng sắn toàn quốc), năng suất đạt 24,0 tấn/ha, sản lượng ước đạt trên 3 triệu tấn củ tươi (chiếm 31,7% sản lượng sắn toàn quốc) Diện tích sắn tập trung ở các tỉnh: Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận, và Ninh Thuận

Tiêu thụ sắn hiện tại gồm ba nhóm chính: sản xuất tinh bột; sản xuất thức ăn chăn nuôi và sắn lát khô (sắn cồn) xuất khẩu Sản xuất sắn tinh bột có hai loại: tinh bột ướt dùng cho sản xuất bột ngọt và tinh bột khô chủ yếu cho xuất khẩu Còn sản xuất thức ăn chăn nuôi dùng sắn lát khô chất lượng cao Sắn cồn xuất khẩu là sắn lát khô có chất lượng thấp hơn, thị trường chủ yếu là Trung Quốc dùng để làm nguyên liệu cho các nhà máy ethanol (Nhân dân điện tử, 2011)

Sắn cũng là cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu và tiêu thụ trong nước Sắn

là nguyên liệu chính để chế biến bột ngọt, bio- ethanol, mì ăn liền, bánh kẹo, siro, nước giải khát, bao bì, ván ép, phụ gia dược phẩm, màng phủ sinh học và chất giữ

ẩm cho đất Đặc biệt trong những năm gần đây sắn Việt Nam đã trở thành cây nhiên liệu sinh học lợi thế cạnh tranh cao và là mặt hàng xuất khẩu có khối lượng và kim ngạch lớn đã trình bày ở phần trên Đối với sản xuất tinh bột sắn, hiện toàn quốc đã

có trên 60 nhà máy tinh bột sắn đã hoạt động với tổng công suất khoảng 3,2 - 4,8 triệu tấn củ tươi/năm, sản xuất mỗi năm 800.000 - 1.200.000 tấn tinh bột sắn, trong

đó trên 70% cho xuất khẩu và gần 30% cho tiêu thụ trong nước Việc tiêu thụ sắn

Trang 28

thuận lợi tạo những cơ hội mới để phát triển sản xuất sắn, thu hút đầu tư, tăng việc làm và thu nhập cho hộ nông dân và góp phần hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn (Hoang Kim và ctv, 2008) Tổng mức xuất khẩu sản phẩm sắn (gồm sắn lát khô, tinh bột sắn, sắn viên) những năm gần đây đạt trên 6,0 triệu tấn Năm 2010 trong cơ cấu các sản phẩm sắn xuất khẩu của Việt Nam sắn lát chiếm khoảng 56,8% còn tinh bột sắn chiếm khoảng 42,9%, các loại khác chiếm một tỷ lệ rất nhỏ Thị trường chính là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapo, Hàn Quốc (Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 2011)

2.3 Giống sắn và công nghệ chọn tạo giống sắn

2.3.1 Đặc điểm di truyền của cây sắn

Sắn là cây đa bội thể phức tạp, dị hợp, có 36 nhiễm sắc thể Sắn có phổ biến

dị rộng, có khả năng giữ được các đặc tính ưu tú thông qua phương pháp chọn lọc

và nhân giống vô tính, vì vậy rất thuận lợi cho công tác cải tiến giống (Hoàng Kim

và Phạm Văn Biên, 1996) Khả năng di truyền những đặc tính quan trọng đã được nhiều tác giả nghiên cứu Theo trích dẫn của Hoàng Kim và Phạm Văn Biên (1996), chọn ra giống có năng suất củ tươi cao thích hợp với các vùng sinh thái là hết sức cần thiết (Kawano và Hershey, 1984) Cải tiến hệ số thu hoạch (HI = trọng lượng củ/ (trọng lượng củ + thân lá)) là một trong những chỉ tiêu cơ bản để cải tiến giống sắn (Kawano, 1985) Số củ trên cây và năng suất củ có khả năng di truyền từ trung bình đến cao Song cả hai tính trạng này đều chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường (Tan, 1981, 1984, Brueno 1988) Tỷ lệ sắn lát khô của củ có hệ số di truyền cao và khá ổn định nhưng hiệu quả chọn lọc thấp (IITA, 1981, Tan, 1981, 1984) Năng suất sinh vật có hệ số di truyền từ trung bình đến cao Tính trạng này phụ thuộc vào dạng cây và tuổi thọ của lá Giữa năng suất củ tươi, năng suất sinh vật và hệ số thu hoạch có tương quan dương, hệ số tương quan rất chặt Vì vậy việc duy trì cân bằng giữa năng suất sinh vật và hệ số thu hoạch trong cải tiến giống sắn là yếu tố quan trọng và luôn cần thiết Dạng hình lý tưởng của một cây sắn đạt năng suất cao đó là: 1) Thân 1-2 thân mọc từ hom; ít hoặc chậm phân nhánh; lóng ngắn và chiều cao cây giới hạn ở 2 m; 2) Lá: chỉ số diện tích lá: 3,0 – 3,5; phiến lá lớn; tuổi thọ lá cao;

Trang 29

dáng lá đứng (góc độ của cuống lá và thân hẹp); 3) Củ: khoảng 8 củ thuôn dài và đồng đều; củ chắc, cuống củ ngắn, dạng củ đẹp, dễ bóc vỏ; hệ số thu hoạch cao (Trích dẫn bởi Hoàng Kim, 2011)

2.3.2 Chọn tạo và nhân giống sắn

Hình 2.3: Sơ đồ quy trình sản xuất giống sắn

Thu thập đánh giá nguồn gen, thiết lập

chương trình lai tạo giống

Xác định cha mẹ, tạo dòng và lai hữu tính

Công nhận giống và sản xuất đại trà

Thu hạt lai và gieo ươm hạt lai F1

Đánh giá, chọn dòng trong vườn ươm

Khảo sát, tuyển chọn sơ bộ PYT

So sánh giống chính quy SYT

Khảo nghiệm cơ bản RYT

Công nhận giống tạm thời và sản xuất thử

Trang 30

Một số lượng lớn các thí nghiệm đồng ruộng đã được tiến hành để đánh giá các giống sắn thu thập từ CIAT và Chương trình sắn Việt Nam Tổng số 24.073 hạt sắn từ CIAT, 37.210 hạt sắn từ 9 - 15 tổ hợp lai được tiến hành ở Việt Nam, 38 giống sắn tác giả được phóng thích trong thời gian gần đây (chủ yếu của Thái Lan, Trung Quốc, Brazil, CIAT) và 31 giống sắn thu thập ở Việt Nam Từ đó đã xác định được 98 giống, dòng tốt nhất (Hoàng Kim, 2009) Các dòng, giống sắn này được đưa vào khảo sát, tuyển chọn sơ bộ từ 14 - 16 dòng, giống sắn ưu tú để tiếp tục đưa vào so sánh chính quy (SYT) vào năm tiếp theo

So sánh tuyển chọn chính quy (SYT): Những dòng sắn triển vọng từ khảo

sát, tuyển chọn sơ bộ (PYT) được trồng so sánh chính quy, kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi dòng trồng 36 gốc (4 hàng x 9 gốc/hàng) x 3 lần nhắc lại x 2 địa điểm Sử dụng giống sắn đối chứng là giống phổ biến nhất và giống ưu tú quốc gia Sau 10 tháng kể từ khi cây mọc thì thu hoạch củ và tuyển chọn lại 6-8 giống sắn triển vọng nhất

Phương pháp khảo nghiệm cơ bản (RYT) theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi dòng trồng 20 - 40 gốc (4 hàng x 5 - 10 gốc/ hàng) x 3 - 4 lần nhắc lại x 3 địa điểm khảo nghiệm Sử dụng giống sắn đối chứng là giống phổ biến nhất

và giống ưu tú quốc gia Sau 10 tháng kể từ khi cây mọc thì thu hoạch củ, tuyển chọn 2 - 3 giống sắn lai ưu tú, đáp ứng tốt nhất yêu cầu thực tế của địa phương

2.3.3 Chọn tạo giống sắn ở Việt Nam

Chương tình sắn Việt Nam nhấn mạnh 5 chủ điểm phát triển cây sắn trong thời gian tới (Viện Chiến lược và Chính sách Công nghiệp, 2009)

1 Xác định chiến lược phù hợp cho nghiên cứu và phát triển cây sắn có hiệu quả với việc hoạt động của các nhà máy được thành lập ở các vùng với nguồn nguyên liệu ổn định, sử dụng sắn cho sản xuất nhiên liệu sinh học

2 Chọn lọc các dòng đơn bội bắt nguồn từ nguồn vật liệu của CIAT và sử dụng đột biến trong nhân giống sắn; chọn lọc và phổ biến các giống sắn có năng suất cao, với hàm lượng tinh bột cao; chọn lọc và phát triển các giống sắn có năng suất củ cao, chu kỳ sinh trưởng ngắn, và cái tiển chất lượng và giá trị dinh dưỡng sắn

Trang 31

3 Nghiên cứu kỹ thuật trồng đa canh và thay đổi kỹ thuật canh tác phù hợp với người nông dân để nâng cao sản lượng và hiệu quả kinh tế của cây sắn ở các vùng kinh tế khác nhau

4 Nghiên cứu trên cơ sở sự phát triển quy trình kỹ thuật canh tác Sử dụng lá sắn và

củ sắn làm thức ăn gia súc và làm lương thực

5 Phát triển vùng và thị trường xuất khẩu cho sản phẩm sắn

Trước năm 1975, nguồn gen giống sắn được nhập nội, thu thập và khảo sát tại Viện Khảo cứu Nông nghiệp Sài Gòn Ở miền Bắc, Đinh Văn Lữ đã thực hiện một số thí nghiệm so sánh giống sắn và rút ra một số kết luận về tập đoàn giống (Hoàng Kim, 2011)

Trước năm 1985, chọn tạo giống sắn theo hướng làm lương thực, thực phẩm

và thức ăn gia súc Mục tiêu là chọn tạo được những giống sắn chất lượng cao, sinh trưởng ngắn, củ màu trắng hoặc vàng, giàu protein, dỏ thơm, hàm lượng cianide thấp (Trần Công Khanh, 2007) Các giống Gòn, H34, Xanh vĩnh phú v.v là những giống địa phương được trồng chủ yếu trong sản xuất ở Việt Nam Từ năm 1986 các giống xanh Vĩnh Phú, HL20, HL23, HL24 lựa chọn ra từ tập đoàn nguồn gen giống sắn trong nước được trồng phổ biến Các giống này có đặc điểm ăn tươi ngon, nhưng năng suất củ tươi thấp (chỉ đạt trên dưới 10 tấn/ha), tỷ lệ tinh bột thấp (20 - 25%) Tuy nhiên từ những năm 1990 trở về trước Việt Nam bị thiếu lương thực, cây sắn được sở dụng chính làm lương thực và thức ăn gia súc (>80%), chế biến tinh bột chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (<20%) Cây sắn đã góp phần quan trọng vào an ninh lương thực đặc biệt vào các giai đoạn khó khăn của đất nước

Từ năm 1988, công tác nghiên cứu chọn giống sắn ở Việt Nam có quan hệ chặt chẽ với CIAT Trong suốt 18 năm qua (1988 - 2005), chương trình sắn Việt Nam đã phối hợp với CIAT chọn lọc và phát triển hai giống sắn mới KM60 và KM94 ra sản xuất Đây là hai giống sắn có năng suất củ tươi cao (25 - 40 tấn/ha) có

tỷ lệ tinh bột cao (27 - 30%), thích hợp với chế biến tịnh bột Cũng từ 1993 trở lại đây nhiều nhà máy chế biến tinh bột sắn được xây dựng - cây sắn đã chuyển sang hướng sản xuất hàng hoá Do đó các giống sắn mới đã và đang được phát triển

Trang 32

mạnh ở cả hai miền Nam - Bắc Việc giới thiệu và phát triển hai giống sắn mới này vào sản xuất, đã là một bước đột phá mới trong nghề trồng sắn ở Việt Nam, đã đưa tổng diện tích trồng giống sắn mới toàn quốc đến nay đạt khoảng 200.000 ha Đưa năng suất sắn trung bình toàn quốc đạt 15,68 tấn/ha vào năm 2005, với diện tích 423,8 nghìn ha, sản lượng đạt trên 6,5 triệu tấn củ tươi So với năm 2000: diện tích tăng 1,8 lần, năng suất tăng hai lần, sản lượng tăng 3,2 lần Tốc độ tăng bình quân hàng năm là 16% về diện tích, 25% về năng suất và 44% về sản lượng (Psci Cassava, 2008b)

Giai đoạn 1991 -2005, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (IAS) phối hợp với Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VASI) Chương trình Sắn Việt Nam (VNCP), Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới (CIAT) và Công

ty Vedan- Việt Nam (VEDAN) đã nhập nội, tuyển chọn và giới thiệu cho sản xuất năm giống sắn tốt: KM60; KM94, KM95; SM937-26, KM98-1 Đây là những giống sắn phù hợp với chế biến công nghiệp, thuộc nhóm sắn đắng

Giai đoạn 2006 - 2010, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam phối hợp với Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, Chương trình Sắn Việt Nam (VNCP) và Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới (CIAT) đã giới thiệu công nhận giống sắn KM140 (Trần Công Khanh và ctv, 2009) Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) phối hợp với Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (UAFTN) giới thiệu công nhận giống sắn KM98-7 Từ đó đã góp phần đưa năng suất sắn bình quân của cả nước lên 16,82 tấn/ha, sản lượng lên 8,56 triệu tấn (Tổng cục Thống kê Việt Nam, 2011)

Tùy theo từng giai đoạn cụ thể mà hướng chọn tạo giống sắn ở Việt Nam có

sự thay đổi cho phù hợp Trong tình trạng thiếu lương thực, thực phẩm hướng chọn tạo chính là chọn tạo những giống sắn có dinh dưỡng cao, thời gian sinh trưởng ngắn Trong giai đoạn hiện nay, vai trò làm lương thực, thực phẩm của cây sắn đã giảm, và thay vào đó là vai trò làm nguyên liệu cho các ngành chế biến công nghiệp, đặc biết cho chế biến tinh bột và nhiên liệu sinh học Do đó, hướng chọn tạo giống sắn cũng có sự thay đổi cho phù hợp Đó là chọn tạo những giống sắn có

Trang 33

năng suất củ tươi, năng suất bột, năng suất sắn lát khô cao, thích hợp với từng vùng sinh thái khác nhau Nhu cầu của sản xuất đòi hỏi công tác nghiên cứu chọn tạo giống sắn mới là cấp thiết

2.4 Một số giống sắn phổ biến trên thế giới và Việt Nam

2.4.1 Một số giống sắn phổ biến trên thế giới

Nguồn gen giống sắn châu Á: Châu Á là một trong ba khu vực sản xuất sắn

lớn nhất thế giới Các nước châu Á đều có các chương trình nghiên cứu chọn tạo giống sắn mạnh và đã đưa ra nhiều giống sắn mới ưu tú vào sản xuất Dưới đây là tổng hợp một số giống sắn phổ biến, triển vọng ở một số nước phát triển mạnh cây sắn trong khu vực Từ sự hợp tác giữa các quốc gia trong khu vực các giống sắn triển vọng ở các nước sẽ được nhập nội vào Việt Nam để đánh giá và khảo nghiệm , hoặc dùng làm vật liệu lai tạo để chọn tạo ra những giống sắn có năng suất cao, phù hợp với điều kiện sinh thái của Việt Nam

Thái Lan là nước xuất khẩu sắn nhiều nhất thế giới nên cũng là nước có chương trình chọn tạo giống sắn mạnh nhất khu vực Các chương trình chọn tạo giống sắn ở Thái Lan được thực hiện chủ yếu tại Trường Đại học Kasetsart (KU), Trung tâm Nghiên cứu Cây trồng Rayong (RFCRC) và Viện Nghiên cứu Phát triển Tinh bột Sắn Thái Lan (TTDI) (Bảng 2.4) Mục tiêu là chọn tạo được các giống sắn

có năng suất cao, hàm lượng chất khô cao, hàm lượng xianua thấp, thu hoạch sớm

và thích ứng rộng Một số giống sắn triển vọng của Thái Lan đã được nhập nội vào Việt Nam như giống Rayong 60, Rayong 5, Rayong 6 và Kasetsart 50, Rayong 90, Rayong 1 Trong đó, giống sắn KM94 là con lai của tổ hợp Rayong1 và Rayong90

Tại Ấn Độ, chương trình chọn tạo giống sắn được thực hiện chủ yếu tại Viện Nghiên cứu Cây có củ toàn Ấn ở Trivandrum (CTCRI) và Trường Đại học Nông nghiệp Tamil Nadu (TNAU) Sắn ở Ấn Độ được trồng nhiều tại các tiểu bang phía Nam vùng Kerala và Tamil Nadu trên đất lúa có tưới hoặc các loại đất cao trồng dừa, cây ăn quả (bảng 2.5)

Trang 34

Bảng 2.4: Các giống sắn triển vọng của Thái Lan

CMR 27-77-10 x Rayong 3 Rayong 1 x Rayong 5

Thái Lan Thu hoạch sớm Hàm lượng chất khô cao

Độ nhớt tinh bột cao Thu hoạch sớm Thích ứng rộng Hàm lượng ethanol cao

Nguồn: Pcsi cassava, 2008a

Bảng 2.5: Nguồn gốc và đặc tính của 12 giống sắn hiện trồng phổ biến ở Ấn Độ

Tên giống Năm Cơ quan

Sree Sahya 1977 CTCRI 300-320 35-40 Chịu hạn tốt

Sree Visakham 1977 CTCRI 270-300 36-50 Giàu carotene Sree Prakash 1987 CTCRI 210-240 30-40 Ngắn ngày

Trang 35

CO 1 1993 TNAU 260-275 30,0 Ít sâu bệnh

CO 2 1993 TNAU 260-275 37,5 Nhiều nhánh

CO 3 1993 TNAU 240-270 40 N.suất bột cao

Sree Harsha 1996 CTCRI 300 35-40 Tam bội, bột cao

H 119 1997 TNAU 225 36 Năng suất bột cao Sree Vijaya 1998 CTCRI 180-210 25-28 Ngắn ngày, luộc ngonSree Rekha 2000 CTCRI 300 28,2 Thích ứng rộng, ngonSree Prabha 2000 CTCRI 300 26,8 Thích ứng rộng

Nguồn: Rajendran, 2005, 2007, 2008 (Tổng hợp và trích dẫn bởi Hoàng Kim,2011)

Chương trình cải tiến giống sắn của Trung Quốc chủ yếu được thực hiện tại Học viện Cây trồng Nhiệt Đới Nam Trung Quốc (SCATC) và Viện Nghiên cứu Cây trồng cạn Quảng Tây (GSCRI) Mục tiêu là chọn những giống sắn có năng suất cao, hàm lượng bột cao, thích ứng rộng và ngắn ngày

Bảng 2.6: Nguồn gốc và đặc tính chính của 10 giống sắn phổ biến ở Trung Quốc

Tên giống Năm Tên cha mẹ Nguồn gốc

hạt sắn lai

Đặc tính giống

SC6068 1980 SC201 TQ Hàm lượng tinh bột cao SC124 1990 SC205 TQ Năng suất khá, bột thấp Nanzhi 188 1992 CM321-188 (cấy mô) CIAT Năng suất khá, bột thấp SC8002 1994 SC124 x SC205 GSCRI Năng suất cao

SC8013 1995 SC124 x SC205 GSCRI Hàm lượng tinh bột cao GR891 1997 MCol 2215 CIAT hạt Năng suất cao, ngắn ngày GR911 1998 MBra 35 x CM523-7 CIAT hạt Năng suất bột cao

SC5 2000 ZM8625xSC8013 SCATC Năng suất bột cao

SC6 2001 OMR33-10-4 SCATC NS bột cao, ít đổ ngã Nguồn: Tổng hợp bởi Hoàng Kim, 2011

Nguồn gen giống sắn châu Mỹ Latinh: Châu Mỹ là nôi phát sinh của cây

sắn nên khá đa dạng giống sắn trồng và nguồn gen sắn hoang dại CIAT (ở Colombia) đã thu nhập được trên 5728 mẫu giống sắn, qua đó xác định được hơn

200 dòng/ giống sắn tốt làm vật liệu lai CIAT cũng đã tổ chức Mạng lưới Quốc tế Công nghệ Sinh học cây Sắn (ICBN) từ cuối những năm 80 Nội dung hoạt động

Trang 36

bao gồm: xây dựng tập đoàn giống sắn invitro; kỹ thuật nhân nhanh giống sắn; công

nghệ tế bào và công nghệ gene, lai tạo và chọn lọc giống sắn Tập đoàn giống sắn

invitro ở CIAT có trên 5000 mẫu giống từ khắp thế giới Châu Mỹ ngoài nguồn gen

giống sắn chính được bảo tồn ở CIAT, còn có những nguồn vật liệu tốt tại Brazil, Colombia, Cu Ba Tuy nhiên, phần lớn nguồn vật liệu giống sắn quý của châu Mỹ đều có CIAT (Hoàng Kim, 2009)

2.4.2 Một số giống sắn phổ biến ở Việt Nam

Công tác chọn tạo giống ở nước ta đã đạt được nhiều thành công, đã đưa ra sản xuất nhiều giống sắn mới phù hợp với chương trình chọn tạo sắn ở Việt Nam trong thời gian qua Chương trình này gồm có 3 hướng chính: 1) Chọn tạo giống sắn có năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao, khả năng thích ứng rộng, thích hợp với chế biến công nghiệp 2) Chọn tạo giống sắn có năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao, đa dụng, thời gian sinh trưởng ngắn, thích hợp các vùng sinh thái 3) Chọn tạo giống sắn chất lượng cao, thời gian sinh trưởng ngắn, thích hợp cho nhu cầu lương thực

Việt Nam hiện đã trở thành điển hình tiên tiến của châu Á và thế giới trong việc ứng dụng công nghệ chọn tạo và nhân giống sắn lai (Hoang Kim, 2003; Hoàng Kim và ctv, 2005; Hoàng Kim và ctv, 2008) Năm 2008, sản lượng sắn Việt Nam đạt 9,4 triệu tấn so với 1,8 triệu tấn của năm 2000 Năng suất sắn đã tăng gấp đôi trên phạm vi toàn quốc từ 8,36 tấn/ ha của năm 2000 lên 16,91 tấn/ ha năm 2008 Diện tích sắn đã tăng từ 237.600 ha (năm 2000) lên 555.700 ha (năm 2008) Đạt được thành tựu trên là do tác động của nhiều yếu tố mà một trong những yếu tố chính là do sự nhập nội, chọn tạo và nhân giống sắn lai Các giống sắn mới hiện đã trồng trên 500.000 ha mỗi năm chủ yếu là các giống KM94, KM140, KM98-5, KM98-1, KM98-7, SM937-26 đã thực sự mang lại bội thu năng suất cho nhiều vùng sắn rộng lớn, góp phần hiệu quả tăng sức cạnh tranh của chế biến sắn xuất

khẩu (Tran Ngoc Ngoan, 2008; Hoang Kim và ctv, 2010, Howeler và Fahrney,

2008; Trần Công Khanh và ctv, 2007, 2009)

Trang 37

Bảng 2.7: Nguồn gốc và đặc tính chính của 8 giống sắn phổ biến ở Việt Nam

Tên giống

Năm phóng thích Nguồn gốc giống

Nơi chọn tạo Đặc tính giống HL23 1987 Giống ĐP tuyển chọn IAS Chất lượng củ luộc ngon KM60 1992 Tên gốc Rayong 60 IAS NS cao, ngắn ngày, ruột vàng KM94 1994 Tên gốc Kasetsart 50 IAS Năng suất bột cao,

SM937-26 1994 Hạt SM937-26 từ CIAT IAS Năng suất bột cao

KM95-3 1995 Hạt sắn lai từ CIAT IAS Năng suất khá, ngắn ngày KM98-1 1999 Hạt R5 x R1 từ CIAT IAS Năng suất cao, ngắn ngày KM140 2007 (R5 x R1) x KM36 IAS Năng suất cao, ngắn ngày KM98-7 2008 Hạt sắn lai từ CIAT VAAS Năng suất cao, ngắn ngày Chương trình chọn tạo sắn Việt Nam hướng chủ yếu vào một số mục tiêu chọn tạo sắn là có năng suất củ tươi, hàm lượng tinh bột cao, thích ứng rộng, có tính

đa dụng và thích hợp với việc làm lương thực Với những định hướng trên, giai đoạn 1981 - 1990, phổ biến với một số giống sắn phù hợp với việc làm lương thực như: HL23, HL24, HL20 phát triển ở phía Nam Trong suốt thời kỳ 1991 - 2009, chương trình sắn Việt Nam phối hợp với tổ chức CIAT, và chương trình sắn của các nhà máy chế biến đã phát triển nhanh 7 giống sắn năng suất cao: KM 60, KH 94, KM95, SM 937-26, KM98-1, KM98-5, KM140 và KM98-7 (Nguyen Huu Hy và ctv, 2010)

2.5 Hiện trạng sản xuất, nghiên cứu và phát triển sắn ở Đông Nam Bộ

2.5.1 Đặc điểm đất đai vùng Đông Nam Bộ

Vùng Đông Nam Bộ có diện tích đất tự nhiên 2,3 triệu ha Trong đó đất đỏ chiếm 1,1 triệu ha, đất xám và đất nâu vàng 1,0 triệu ha, còn lại là các loại đất khác Đất đỏ được hình thành tại chỗ ở vùng đồi núi trên tàn tích các đá khác nhau tạo nên các đất có màu đỏ vàng với lượng Al2O3 và Fe2O3 cao Nhìn chung đất đỏ có độ phì cao, giàu chất hữu cơ, hàm lượng các chất dinh dưỡng khác từ trung bình đến khá, nhiều sét, nhiều mùn, giữ nước tốt thích hợp với nhiều loại cây trồng có giá trị

Trang 38

như cà phê, cao su, cây ăn trái, cây lương thực, cây công nghiệp (Lê Hoàng Kiệt, 2000)

Hình 2.4: Bản đồ các nhóm đất chính ở vùng Đông Nam Bộ

Nguồn: Hoang Kim và ctv, 1996

Đất xám hình thành chủ yếu của quá trình rửa trôi, hình thành trên mẫu chất thô nghèo và bở rời nơi thực vật bị tàn phá nặng nề với lượng mưa lớn tập trung cao trong mùa mưa dẫn tới sự bào mòn mạnh mẽ trên địa hình dốc thoải trong khoảng thời gian rất dài Đất xám có thành phần cơ giới nhẹ, nghèo chất hữa cơ, nghèo vi lượng và các chất NPK tổng số cũng như dễ tiêu Đất xám phù hợp trồng cây hoa màu ngắn ngày như sắn, lạc, mía, thuốc lá, các loại đậu đỗ, rau xanh (Lê Hoàng Kiệt, 2000)

Trang 39

Đất nâu vàng có quá trình hình thành giống đất đỏ, có thành phần cơ giới nặng, cấp hạt sét chiếm từ 55-67% Cấp hạt cát và limon tương đương nhau Có hiện tượng rửa trôi theo chiều sâu khá rõ Phù hợp với các cây trồng có giá trị cao như cà phê, cao su, chè, cây hoa màu, cây lương thực

2.5.2 Sản xuất sắn ở Đông Nam Bộ

Vùng Đông Nam Bộ có diện tích trồng sắn năm 2009 khoảng 99,5 ngàn ha, năng suất củ tươi trung bình đạt 24,4 tấn/ha, sản lượng 2430,5 triệu tấn củ tươi/năm Đây là vùng sản xuất sắn có năng suất và sản lượng lớn nhất cả nước Sản lượng sắn của vùng đã tăng gần gấp đôi từ năm 2001 (1440,9 ngàn tấn) đến năm 2009 đạt 2430,5 ngàn tấn Trong đó, Tây Ninh có sản lượng sắn lớn nhất vùng (năm 2009 đạt sản lượng 1248,6 ngàn tấn), Bình Phước (486,9 ngàn tấn năm 2009), Đồng Nai (379,4 ngàn tấn) (Tổng cục Thống kê, 2011)

2.5.3 Kết quả mới về chọn tạo và phát triển giống sắn ở Đông Nam Bộ

Đông Nam Bộ là vùng sản xuất sắn lớn nhất cả nước Các chương trình chọn tạo và phát triển giống sắn được tiến hành ở đây Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc đã tiến hành nhiều thí nghiệm tại các tỉnh của vùng như Tây Ninh, Bình Thuận, Đồng Nai đã kết luận các giống sắn KM94, KM140 và

KM 98-5 là ba giống sắn thích hợp cho vùng Đông Nam Bộ

Những hướng chính trong công tác cải tiến giống sắn ở Việt Nam:

1) Chọn tạo giống sắn có năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao, khả năng thích ứng rộng, thích hợp với chế biến công nghiệp Kết quả là đã chọn tạo được một số giống sắn mới đáp ứng nhu cầu, gồm: KM 60, KM 94, KM 95, KM 98-1 SM 937-26 Trong đó KM 94 là giống chủ lực

2) Chọn tạo giống sắn có năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao, đa dụng, thời gian sinh trưởng ngắn, thích hợp các vùng sinh thái nhằm bổ sung cho giống chủ lực KM94 để giúp nông dân và doanh nghiệp chế biến sắn rải vụ thu hoạch và chế biến, đáp ứng nhu cầu chế biến tinh bột và có thể làm lương thực Các giống sắn mới là: KM 98-1, KM 98-5 và KM 140

Trang 40

3) Chọn tạo giống sắn chất lượng cao, thời gian sinh trưởng ngắn, thích hợp cho nhu cầu lương thực Các giống này có phẩm chất củ ngon, ít đắng, thời gian sinh trưởng 8-10 tháng Các giống này là: HL23 HL24, KL20, Xanh Vĩnh Phú

Một số lượng lớn các thí nghiệm đồng ruộng để đánh giá các giống sắn thu thập từ CIAT và VNCP Tổng số có 24.073 hạt sắn từ CIAT và 37.210 hạt sắn từ 9-

15 tổ hợp lai được tiến hành ở Việt Nam và 31 giống sắn phổ biến Từ đó đã xác định được 98 dòng tốt nhất và có ba giống sắn KM140, KM98-5 và KM98-7 đã được phóng thích ở giai đoạn 2007 - 2009 (Hoàng Kim, 2009)

Giống sắn KM140 đạt năng suất củ tươi 34,90 tấn/ha, hàm lượng tinh bột đạt 27,2%, năng suất tinh bột đạt 9,49 tấn/ha, hàm lượng HCN trong củ 105,9 mg/kg vật chất khô (so với giống KM94 là 219,0 mg/kg) Giống KM140 có thời gian sinh trưởng ngắn 7 - 10 tháng, dạng thân thẳng, nhặt mắt, ít phân cành (Trần Công Khanh, 2007) Giống KM98-5, đạt năng suất 32,39 tấn/ha, hàm lượng tinh bột đạt 8,68 tấn/ha

Vũ Văn Quý (2009) đã tiến hành khảo sát, đánh giá và kết luận được hai giống sắn KM140, KM228 có năng suất cao, chất lượng tốt cho tỉnh Ninh Thuận Nguyễn Thị Bích Quyên (2010) đã khảo sát đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất và hàm lượng tinh bột của 12 giống sắn tại xã Hưng Thịnh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Kết quả đã tuyển chọn được bốn giống sắn triển vọng KM397, KM333, KM325 và KM140 có năng suất củ tươi và năng suất bột cao

Lê Thị Thu Hà (2010) đã tiến hành đề tài khảo sát cơ bản bộ sắn mới nhập nội từ CIAT tại xã Tây Hòa, Trảng Bom, Đồng Nai cũng đã tuyển chọn được bốn giống sắn triển vọng CM9947-3, CM9966-1, KM325 và KM140 Các giống này có hàm lượng tinh bột và năng suất củ tươi lần lượt là 25,53 % và 25,67 tấn/ha, 25,57% và 26,04 tấn/ha, 21,93 % và 29,83 tấn/ha; 24,93 % và 30,27 tấn/ha

Giống sắn KM94 là giống sắn công nghiệp được trồng phổ biến nhất ở Việt

Nam hiện nay với quy mô trồng năm 2008 đạt 420.000 ha (Hoang Kim và ctv, 2010)

Giống sắn KM94 được Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận giống quốc gia năm 1995 KM94 thuộc nhóm sắn đắng, thân cong ở phần gốc, ngọn tím, không phân nhánh ở vùng

Ngày đăng: 14/03/2019, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm