1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHẾ PHẨM HẤP PHỤ ĐỘC TỐ NẤM MỐC ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ SỨC KHỎE CỦA HEO NÁI SINH SẢN VÀ HEO NUÔI THỊT

121 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 907,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, khi bổ sung chất hấp phụ độc tố nấm mốc vào thức ăn bị nhiễm tự nhiên độc tố aflatoxin của heo nái sinh sản và heo nuôi thịt đã có hiệu quả trong việc làm giảm độc tính của độc

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHẾ PHẨM HẤP PHỤ ĐỘC TỐ NẤM MỐC ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ SỨC KHỎE CỦA

HEO NÁI SINH SẢN VÀ HEO NUÔI THỊT

NGUYỄN THỊ CHUYÊN

Hội đồng chấm luận văn:

Hội Thú Y

Trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM

3 Phản biện 1: TS NGUYỄN QUANG THIỆU

Trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM

4 Phản biện 2: TS LÊ ANH PHỤNG

Trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM

Trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 4

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

Tôi tên là Nguyễn Thị Chuyên sinh ngày 19 tháng 02 năm 1973 tại Huyện Hải Hậu, Tỉnh Nam Định, con Ông Nguyễn Thanh Trung và Bà Nguyễn Thị The Tốt nghiệp PTTH tại trường THPT Bảo Lộc, Thành phố Bảo Lộc, Tỉnh Lâm Đồng năm 1992

Tốt nghiệp Đại học ngành Thú y hệ chính quy năm 1998 tại Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

Năm 1988-1999 làm việc tại công ty TNHH San Miguel Pure Foods, Bến Cát, Bình Dương; năm 1999 – 2001 làm việc tại Xí nghiệp chăn nuôi heo Đồng Hiệp, Quận 12, TP.HCM; năm 2001 đến nay giảng dạy tại cơ sở 2 trường Đại Học Lâm Nghiệp, Trảng Bom, Đồng Nai

Năm 2007 theo học Cao học ngành Thú y tại Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

Tình trạng gia đình:Chồng Nguyễn Trung; năm kết hôn 2000, các con Nguyễn Hoàng Bá sinh năm 2002; Nguyễn Khôi Nguyên sinh năm 2005

Địa chỉ liên lạc: Ban Nông Lâm – Cơ sở 2 - Trường Đại học Lâm Nghiệp, Trảng Bom, Đồng Nai

Điện thoại: 0979.529.533

Email: chuyenln2@gmail.com

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nguyễn Thị Chuyên

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Lòng biết ơn sâu sắc gửi đến giáo viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Ngọc Hải đã hết lòng tận tình dìu dắt, hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Phòng Đào Tạo Sau Đại Học, Ban Giám Hiệu trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt kiến thức quý báu cho em trong thời gian học tập tại trường

Xin chân thành cám ơn TS Lê Anh Phụng, PGS.TS Nguyễn Văn Khanh đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cám ơn ThS Nguyễn Thị Thu Năm, ThS Đặng Thị Bích Hường, BSTY Lê Anh Tuấn, BSTY Phạm Minh Trung và các bạn trong lớp Cao học Thú Y khóa 2007 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện

đề tài

Chân thành cảm ơn công ty WooGene B&G, Ông Phạm Văn Căn đã hỗ trợ tôi trong thời gian thực hiện đề tài

Cảm ơn và chia sẻ những thành quả đạt được với cha mẹ, chồng và các con

đã tạo nguồn động viên lớn cho tôi

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài “Bước đầu khảo sát ảnh hưởng của một số chế phẩm hấp phụ độc tố nấm mốc đến năng suất và sức khỏe của heo nái sinh sản và heo nuôi thịt” được thực hiện tại trại một chăn nuôi heo công nghiệp từ tháng 02 năm 2009 đến tháng

09 năm 2009

Thí nghiệm thứ nhất được thực hiện trên heo nái trong một chu kỳ sinh sản, 5

lô thí nghiệm được cho ăn thức ăn nhiễm tự nhiên aflatoxin với hàm lượng trung bình 192,2 ppb 4 lô thí nghiệm lần lượt được bổ sung 4 loại chế phẩm hấp phụ độc

tố nấm mốc là Captoxin premium, Captoxin clasic, MA, MB Lô thứ 5 không bổ sung chất hấp phụ độc tố nấm mốc làm đối chứng Thí nghiệm thứ hai được thực hiện trên heo nuôi thịt giai đoạn từ sau cai sữa đến khi xuất chuồng với cách bố trí thí nghiệm tương tự như đối với heo nái Hàm lượng aflatoxin bị nhiễm tự nhiên trong thức của thí nghiệm thứ 2 trung bình là 154 ppb

Kết quả cho thấy, trên heo nái ở những lô bổ sung chất hấp phụ độc tố nấm mốc đã làm giảm thời gian chờ phối (dài nhất là lô đối chứng 8,6 ngày, thấp nhất là 5,8 ngày ở lô bổ sung Captoxin premium), giảm tỷ lệ ngày nái bệnh (cao nhất ở lô đối chứng 1,02 % thấp nhất là 0 % ở lô bổ sung MA), giảm tỷ lệ ngày heo con bệnh (cao nhất là lô đối chứng là 7,9 %, thấp nhất là 3,7 % ở lô bổ sung Captoxin premium) và làm tăng trọng lượng trung bình heo con sơ sinh (nhỏ nhất ở lô đối chứng là 1,28 kg, lớn nhất là 1,52 kg ở lô bổ sung Captoxin premium) (P < 0,05) Chi phí cho 1 kg thể trọng heo con 21 ngày tuổi giảm từ 7,25 – 21,21 % ở các lô bổ sung chất hấp phụ độc tố nấm mốc so với lô đối chứng

Trên heo thịt khi bổ sung chất hấp phụ độc tố nấm mốc vào thức ăn đã cải thiện tăng trọng bình quân/ngày (thấp nhất ở lô đối chứng là 0,63 kg, cao nhất là 0,71 kg ở lô bổ sung Captoxin premium), giảm tỷ lệ ngày con bệnh (cao nhất ở lô đối chứng là 23,8 %, thấp nhất là 14,5% ở lô bổ sung Captoxin premium) (P < 0,05), hàm lượng protein và albumin trong huyết thanh gia tăng đồng thời làm giảm

Trang 8

hoạt lực của các enzym SGOT, SGPT (P < 0,05) Ở những lô bổ sung chất hấp phụ độc tố nấm mốc cho thấy bệnh tích đại thể, vi thể của gan heo có biểu hiện nhẹ hơn đồng thời chi phí cho 1 kg tăng trọng giảm từ 3,47 – 2,17% so với lô đối chứng

Như vậy, khi bổ sung chất hấp phụ độc tố nấm mốc vào thức ăn bị nhiễm tự nhiên độc tố aflatoxin của heo nái sinh sản và heo nuôi thịt đã có hiệu quả trong việc làm giảm độc tính của độc tố

Trang 9

SUMMARY

The title “Preliminary study on the effects of some preparations of absorbed mycotoxins on productivity and health of breeding sows and grower-finisher pigs” was conducted in an intensive pig farm from 02/2009 to 09/2009

The first experiment was performed during one production cycle of the sows Five groups were feeded diet that naturally contaminated with aflatoxin concentrations average 192.2 ppb Four groups received four preparations of mycotoxin absorbente: Captoxin Premium, Captoxin Classic, MA, and MB The fifth one was the control group received only the feed without any absorbed mycotoxins

The second experiment was performed on grower-finisher pigs by the same way of the first experiment with concentration of aflatoxin contaminated naturally

in diet was 154 ppb

The results showed significant results in the groups that were supplemented the preparations of mycotoxin absorbent There was a reduction in weaning to estrus interval of sows from 8.6 days in the control group to 5.8 days in the group that supplemented Captoxin premium as well as a reduction in the rate of day-disease on sows from 1.02% in the control group to 0% in group that supplemented MA and a reduction in the rate of day-disease on piglets from 7.9% in the control group to 3.7% in the group that supplemented Captoxin premium Also, the average birth weight rose from 1.28 kg in the control group to 1.52 kg in the group that supplemented Captoxin premium (P < 0,05) along with the cost for 1 kg of body weight in 21-day-old piglets was reduced by 7.25% to 21.21% in the groups that received mycotoxin absorbents

The grower-finisher pigs that were supplemented mycotoxin absorbents improved ADG from 0.63 kg in the control group to 0.73 kg in the group that supplemented Captoxin premium (P < 0.05) Reduced rate of disease from 23.8% in

Trang 10

the control group to 14.5% in the group that supplemented Captoxin premium There was also an increase in levels of serum protein and albumin, and a decrease in the activity of enzymes SGOT and SGPT (P < 0.05) Furthermore, macroscopic and microscopic lesions in the livers of the test subjects that received mycotoxin absorbent were reduced along with the cost for 1 kg weight gain, which fell from 3.47% to 2.17%

As indicated by the results of the experiments, supplementation of mycotoxin absorbent to food of breeding sows and grower-finisher pigs was effective in reducing the toxicity of aflatoxin

Trang 11

MỤC LỤC

TRANG

TRANG CHUẨN Y i

LÝ LỊCH CÁ NHÂN ii

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

TÓM TẮT ĐỀ TÀI v

SUMMARY vii

MỤC LỤC ix

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Yêu cầu của đề tài 2

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Nấm mốc và độc tố nấm mốc trên lương thực và thực phẩm 3

2.1.1 Điều kiện phát triển của nấm mốc 3

2.1.2 Tác hại của nấm mốc đối với thức ăn chăn nuôi 4

2.1.3 Sự xuất hiện của độc tố nấm mốc trong lương thực và thực phẩm 4

2.1.4 Độc tố nấm mốc và tác hại của chúng trên heo 5

2.1.4.1 Fumonisin 6

2.1.4.2 Zearalenone (F-2 Toxin) 6

2.1.4.3 Tricothecenes 7

2.1.4.4 Ochratoxin 8

2.1.4.5 Aflatoxin 9

2.2 Các phương pháp phát hiện và đo lường AF 12

2.2.1 Phương pháp sinh vật học 12

2.2.2 Phương pháp hóa học 13

2.2.3 Phương pháp miễn dịch học 13

Trang 12

2.3 Tình hình nhiễm độc tố nấm mốc trong thực liệu 14

2.4 Mức độc tố nấm mốc cho phép trong thực liệu 16

2.5 Những biện pháp phòng chống độc tố nấm mốc 17

2.5.1 Phòng chống nấm mốc xâm nhiễm và phát triển trên nông sản 17

2.5.2 Các biện pháp làm giảm độc tố nấm mốc trong thực liệu 18

2.4.2.1 Phương pháp vật lý 18

2.5.2.2 Phương pháp hóa học 19

2.5.2.3 Phương pháp sinh học 20

2.6 Một số nghiên cứu có liên quan đến chất hấp phụ độc tố nấm mốc 20

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Thời gian và địa điểm 22

3.2 Đối tượng thí nghiệm 22

3.3 Nội dung nghiên cứu 23

3.4 Vật liệu thí nghiệm 23

3.4.1 Captoxin classic 23

3.4.2 Captoxin premium 24

3.4.3 MA 24

3.4.4 MB 25

3.5 Phương pháp nghiên cứu 25

3.5.1 Thí nghiệm hiệu quả của các chế phẩm hấp phụ độc tố nấm mốc đến năng suất

và sức khỏe của heo nái sinh sản 25

3.5.1.1 Chuẩn bị chế phẩm và phối trộn vào thức ăn 25

3.5.1.2 Bố trí thí nghiệm 25

3.5.1.3 Điều kiện thí nghiệm 26

3.5.1.4 Các chỉ tiêu theo dõi 27

3.5.1.5 Hiệu quả kinh tế 30

3.5.2 Thí nghiệm hiệu quả của các chế phẩm hấp phụ độc tố nấm mốc đến năng suất và sức khỏe của heo nuôi thịt 30

3.5.2.1 Chuẩn bị chế phẩm và phối trộn vào thức ăn 30

Trang 13

3.5.2.2 Bố trí thí nghiệm 30

3.5.2.3 Điều kiện thí nghiệm 31

3.5.2.4 Các chỉ tiêu theo dõi 32

3.5.2.5 Kiểm tra bệnh tích đại thể và vi thể gan 33

3.5.3 Hiệu quả kinh tế 34

3.4 Xử lý số liệu 34

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35

4.1 Hàm lượng AF B1 nhiễm trong thức ăn hỗn hợp thí nghiệm 35

4.2 Thí nghiệm hiệu quả của các chế phẩm hấp phụ độc tố nấm mốc đến năng suất và sức khỏe của heo nái sinh sản 36

4.2.1 Kết quả trên heo nái 36

4.2.1.1 Năng suất và tỷ lệ bệnh trên heo nái 36

4.2.1.2 Một số chỉ tiêu sinh lý máu trên heo nái 38

4.2.1.3 Chỉ tiêu sinh hóa huyết thanh trên heo nái 43

4.2.2 Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm hấp phụ độc tố nấm mốc vào thức ăn heo nái đến heo con theo mẹ 46

4.2.2.1 Chỉ tiêu năng suất trên heo con theo mẹ 46

4.2.2.2 Chỉ tiêu tỷ lệ bệnh và loại thải trên heo con theo mẹ 48

4.2.2.3 Chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trên heo con theo mẹ 49

4.2.3 Hiệu quả kinh tế 53

4.2.4 Nhận xét chung về hiệu quả của việc bổ sung các chế phẩm hấp phụ độc tố nấm mốc vào thức ăn heo nái 54

4.3 Thí nghiệm hiệu quả của các chế phẩm hấp phụ độc tố nấm mốc đến năng suất và sức khỏe của heo nuôi thịt 54

4.3.1 Các chỉ tiêu về năng suất, bệnh 54

4.3.1.1 Lượng thức ăn tiêu thụ, hệ số tiêu tốn thức ăn, tăng trọng bình quân 54

4.3.2 Các chỉ tiêu sinh lý máu 57

4.2.3 Các chỉ tiêu sinh hóa huyết thanh trên heo thịt 61

4.3.4.1 Tỷ lệ khối lượng gan/thể trọng 64

Trang 14

4.3.5 Hiệu quả kinh tế 69

4.3.6 Nhận xét chung về hiệu quả của các chất hấp phụ độc tố nấm mốc trên heo nuôi thịt 70

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 71

5.1 KẾT LUẬN 71

5.2 ĐỀ NGHỊ 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC 78

Trang 15

TIẾNG NƯỚC NGOÀI

VIẾT TẮT NGUYÊN CHỮ NGƯỚC NGOÀI NGHĨA TIẾNG VIỆT ADFI Average daily feed intake lượng thức ăn tiêu thụ trung

EDTA Ethylen diamino tetra acetic acid

FAO Food and Agriculture Organisation tổ chức nông lương

FCR Feed conversion ration chỉ số tiêu tốn thức ăn HPLC High pressure liquid chromatography sắc ký lỏng cao áp HSCAS Hydrated sodium calcium aluminosilicates

PVPP Polyvinyl polypyrrolidone

TCL Thin layer chromatography sắc ký lớp mỏng

Trang 16

SGOP Serum glutamic oxaloacetic transaminase

SGPT Serum glutamic pyruvic transaminase

WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 17

DANH SÁCH CÁC BẢNG

BẢNG TRANG

Bảng 2.1: Một số loại độc tố nấm chủ yếu trên nông sản 5 

Bảng 2.2: Dấu hiệu lâm sàng của zearalenone trên heo 7 

Bảng 2.3: Triệu chứng của heo bị ngộ độc DON 8 

Bảng 2.4: Dấu hiệu lâm sàng của bệnh ngộ độc aflatoxin trên heo 12 

Bảng 2.5: Tỷ lệ nhiễm độc tố nấm mốc trong nông sản ở một số nơi trên thế giới 15 

Bảng 2.6: Biến động về mức nhiễm aflatoxin trên bắp và khô đậu phộng theo mùa tại Việt Nam 15 

Bảng 2.7: Tình hình nhiễm aflatoxin trong nguyên liệu thức ăn và thức ăn hỗn hợp của heo ở các tỉnh phía Nam Việt Nam 16 

Bảng 2.8: Mức độc tố nấm mốc cho phép trong thực liệu 16 

Bảng 2.9: Quy định hàm lượng tối đa của aflatoxin trong thức ăn hỗn hợp của heo ở Việt Nam 17 

Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên heo nái 26 

Bảng 3.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên heo thịt 31 

Bảng 3.3: Điểm tương ứng với mức độ của bệnh tích 34 

Bảng 4.1: Hàm lượng AF B1 trong thức ăn hỗn hợp thí nghiệm 35 

Bảng 4.2: Các chỉ tiêu về năng suất, bệnh trên heo nái 36 

Bảng 4.3: Số lượng hồng cầu, hemoglobin, tổng số bạch cầu trên heo nái thí nghiệm 39 

Bảng 4.4: Công thức bạch cầu trên heo nái thí nghiệm 42 

Bảng 4.5: Các chỉ tiêu sinh hóa huyết thanh trên heo nái thí nghiệm 45 

Bảng 4.6: Các chỉ tiêu về năng suất trên heo con theo mẹ 47 

Bảng 4.7: Các chỉ tiêu về bệnh trên heo con theo mẹ 48 

Bảng 4.8: Các chỉ tiêu về sinh lý máu trên heo con theo mẹ 50 

Bảng 4.9: Các chỉ tiêu sinh hóa huyết thanh trên heo con theo mẹ 54 

Bảng 4.10: Chi phí cho 1 kg trọng lượng heo con 21 ngày tuổi 53 

Bảng 4.11: Lượng thức ăn tiêu thụ/ngày, chỉ số tiêu tốn thức ăn, tăng trọng bình quân/ngày của heo thịt 55 

Bảng 4.13: Các chỉ tiêu về sinh lý máu trên heo thịt 58 

Bảng 4.14: Các chỉ tiêu sinh hóa huyết thanh trên heo thịt

Trang 18

Bảng 4.15: Tỷ lệ khối lượng gan/thể trọng heo thịt (%) 64 

Bảng 4.16: Bệnh tích đại thể của gan heo thịt thí nghiệm (% có bệnh tích) 65 

Bảng 4.17: Điểm bệnh tích vi thể của gan heo thịt thí nghiệm 67 

Bảng 4.18: Hiệu quả kinh tế trên heo thịt 69 

Trang 19

DANH SÁCH CÁC HÌNH

TRANG Hình 4.1: Bệnh tích đại thể gan heo thịt 66 Hình 4.2: Bệnh tích vi thể gan heo thịt 68

Trang 20

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm là điều kiện thuận lợi cho nấm mốc phát triển và sản sinh độc tố aflatoxin Bên cạnh đó, các biện pháp phòng chống nấm mốc trong quá trình trồng tỉa, thu hoạch, dự trữ, chế biến và bảo quản nông sản chưa được chú trọng, vì vậy nguy cơ nhiễm aflatoxin trong nông sản là rất lớn Tại các tỉnh phía Nam tỷ lệ nhiễm aflatoxin trên mì lát là 100 %, bắp 91,7%, cám 91,7%, tấm 83,3% (Nguyễn Quang Thiệu, 2008) Bên cạnh khả năng nhiễm aflatoxin cao, việc nhập khẩu nguồn nguyên liệu thức ăn từ các nước trên thế giới cũng là một nguy cơ cho các loại độc tố nấm khác nhiễm vào thức ăn chăn nuôi ở nước ta

Trên thực tế chăn nuôi ở nước ta trong đó có chăn nuôi heo, việc kiểm soát mức độ nhiễm aflatoxin và các loại độc tố nấm mốc khác trong nguyên liệu thức ăn rất khó thực hiện Vì vậy giải pháp ngăn ngừa tác hại của chúng khi hiện diện trong thức ăn được nhiều nhà chăn nuôi heo lựa chọn, trong đó sử dụng chế phẩm hấp phụ độc tố trộn vào thức ăn được áp dụng rộng rãi

Trên thị trường hiện nay có rất nhiều sản phẩm hấp phụ độc tố nấm mốc, hầu hết các sản phẩm được nhà sản xuất khuyến cáo có khả năng hấp phụ aflatoxin hiệu

Trang 21

quả, bên cạnh đó còn có khả năng làm giảm tác hại của các độc tố nấm mốc khác Tuy nhiên, để đánh giá hiệu quả của các sản phẩm này trên điều kiện thực tế chăn nuôi heo tại Việt Nam trong suốt một chu kỳ sản xuất chưa được kiểm nghiệm

Xuất phát từ lý do này chúng tôi tiến hành đề tài “Bước đầu khảo sát ảnh hưởng

của một số chế phẩm hấp phụ độc tố nấm mốc đến năng suất và sức khỏe của heo nái sinh sản và heo nuôi thịt”

1.2 Mục tiêu của đề tài

Đánh giá hiệu quả của một số chế phẩm hấp phụ độc tố nấm mốc đến năng suất và sức khỏe của heo nái sinh sản và heo thịt tại trại chăn nuôi heo công nghiệp làm cơ sở cho việc sử dụng các sản phẩm này trong chăn nuôi heo

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Khảo sát các chỉ tiêu về năng suất sinh sản và sức khỏe của heo nái trong một chu kỳ sinh sản khi bổ sung chất hấp phụ độc tố nấm mốc vào thức ăn

- Khảo sát các chỉ tiêu về sinh lý, sinh hóa máu trên heo nái và heo con theo

mẹ

- Khảo sát các chỉ tiêu về sinh trưởng và sức khỏe của heo thịt trong giai đoạn từ sau cai sữa đến xuất chuồng khi bổ sung chất hấp phụ độc tố nấm mốc vào thức ăn

- Khảo sát các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trên heo thịt

- Khảo sát bệnh tích đại thể và vi thể của gan heo thịt khi giết mổ

Trang 22

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Nấm mốc và độc tố nấm mốc trên lương thực và thực phẩm

2.1.1 Điều kiện phát triển của nấm mốc

Nấm mốc là vi sinh vật chân hạch, ở thể tản, tế bào không có diệp lục tố, sống dị dưỡng, cơ thể gồm những sợi có hoặc không có vách ngăn, sinh sản dinh dưỡng bằng đoạn sợi hoặc bào tử vô tính

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm mốc bao gồm các chất dinh dưỡng, nồng độ khí O2 và CO2, độ pH, ẩm độ, nhiệt độ Các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của nấm mốc là nitơ, carbon, vitamin và muối khoáng Tuy nhiên, các loại nấm khác nhau có nhu cầu về dinh dưỡng khác nhau Hàm lượng khí

O2 và CO2 ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nấm vì phần lớn nấm mốc phát triển ở điều kiện hiếu khí Nhìn chung, hấu hết nấm mốc cần 1- 2 % oxy Nấm có khả năng phát triển ở khoảng pH = 4 – 8, pH tối hảo cho nấm mốc phát triển là từ 5 – 6,5 Độ ẩm là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của nấm mốc Nấm mốc cần nước cho sự sinh trưởng, đặc biệt là cần cho sự nảy mầm của bào tử Theo Trần Văn An (1997), nấm mốc có khả năng phát triển tốt trong nguyên liệu có độ hoạt động của nước aw> 0,7 Để ngăn ngừa sự phát triển của nấm mốc, bắp phải có

độ ẩm < 13 %, đậu phộng < 11 % (trích dẫn bởi Lê Anh Phụng, 2002) Phần lớn nấm mốc phát triển trong khoảng nhiệt độ từ 15 – 300C, tốt nhất là khoảng 25 –

300C Nhiệt độ dưới 200C thuận lợi cho các nấm chịu mát phát triển Ở vùng khí

hậu nhiệt đới có độ ẩm cao hơn thuận lợi cho các loài nấm Aspergillus xâm nhập và

phát triển trong kho bảo quản (Pitt và Hocking, 1997)

Trang 23

2.1.2 Tác hại của nấm mốc đối với thức ăn chăn nuôi

Nấm mốc phát triển trên nguyên liệu thức ăn chăn nuôi làm biến đổi màu sắc, mùi vị cơ chất, giảm chất lượng, nấm mốc phát triển tạo điều kiện cho nhiều loài vi khuẩn khác phát triển Nấm mốc làm thủy phân protein, giảm lượng lipid, lượng chất xơ trong hạt tăng lên, ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa và giảm thấp năng lượng nên làm giảm giá trị dinh dưỡng của thức ăn Trong quá trình phát triển nấm mốc đã bài tiết ra môi trường những chất trao đổi, đặc biệt là men phân giải chất dinh dưỡng như: lipase, protease, amylase… gây biến đổi mùi vị trong cơ chất làm ảnh hưởng đến tính ngon miệng

Nấm mốc sản sinh ra các độc tố trong lương thực, thực phẩm và gây ra các bệnh do độc tố nấm mốc

2.1.3 Sự xuất hiện của độc tố nấm mốc trong lương thực và thực phẩm

Độc tố nấm mốc được dịch từ chữ “mycotoxin”, là chất độc sinh ra từ nấm mốc, nó không phải là hợp chất có sẵn trong nguyên liệu thức ăn do sự tổng hợp của thực vật, nó xuất hiện trong nguyên liệu trong quá trình thu hoạch, bảo quản, chế biến do các loài nấm mốc sinh ra Nó gây tác hại rất lớn cho gia súc, gia cầm và cả cho sức khỏe con người (Dương Thanh Liêm và ctv, 2006)

Điều kiện sinh sản độc tố của nấm mốc tùy thuộc vào loài nấm, sự mẫn cảm của cây trồng hoặc loại nông sản Độc tố nấm mốc được sinh ra là kết quả của sự tương tác phức tạp giữa loài nấm, thành phần hóa học của cơ chất, ẩm độ, điều kiện thời tiết, hàm lượng khí oxy trong không khí, sự tương tác của các quần thể vi sinh vật, sự hiện diện của các thuốc diệt cỏ và thuốc diệt côn trùng

Tuy nhiên sự hiện diện của nấm mốc trong thức ăn cũng chưa thể khẳng định được là thức ăn đó có nhiễm độc tố Ngược lại, khi kiểm tra thức ăn không có nấm sinh độc tố cũng không khẳng định được là thức ăn đó không nhiễm độc tố vì nấm mốc có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ và áp suất khi đóng viên nhưng những độc tố nấm mốc thông thường vẫn không bị phá hủy ở điều kiện này (Osweiler và ctv, 1996)

Trang 24

Đa số độc tố nấm mốc có thể nhiễm trên các sản phẩm nông nghiệp như bắp, lúa mì, gạo, lúa mạch, yến mạch, hạt kê, đậu phộng, đậu nành, cùi dừa khô, một số loại trái cây và hạt cốc

Hiện nay người ta đã phát hiện có hơn 300 loại độc tố nấm mốc, trong đó có khoảng 20 chất gây nguy hiểm đối với con người và vật nuôi Một số loại độc tố nấm mốc phổ biến trong nông sản được trình bày qua bảng 2.1

Bảng 2.1: Một số loại độc tố nấm chủ yếu trên nông sản Độc tố nấm Nấm sản xuất Loại nông sản

Aflatoxin Aspergillus flavus

Lúa mì, lúa mạch, yến mạch, bắp, một

số nông sản khác Trichothencenes

(DON, T-2, DAS)

Fusarium graminearum Fusarium culmorum

Moniliformin Fusarium moniliforme Bắp

PR toxin, patulin Penicillium roquaforti Cỏ, thức ăn ủ chua

(Nguồn: http://www.knowmycotoxins.com/vpig.htm)

2.1.4 Độc tố nấm mốc và tác hại của chúng trên heo

Độc tố nấm mốc gây ra những tác hại vô cùng nghiêm trọng cho sức khỏe của con người và vật nuôi như: gây viêm gan, viêm thận, bệnh kéo dài có thể gây ung thư gan, thận Tác động lên hệ tuần hoàn gây ngưng kết hồng cầu, lên hệ thần kinh gây hôn mê, lên hệ hô hấp gây viêm phổi, lên hệ tiêu hóa gây viêm dạ dày ruột, lên hệ sinh dục gây rối loạn sinh sản Tác động lên da gây dị ứng sừng hóa trên

da Làm giảm khả năng đề kháng, ức chế hệ thống sinh kháng thể (Dương Thanh Liêm và ctv, 2006)

Trang 25

2.1.4.1 Fumonisin

Fumonisin được sản xuất chủ yếu bởi nấm Fusarium moniliform, nhóm độc

tố này có khả năng ngăn cản sự tổng hợp lipid Fumonisin được tìm thấy ở những vùng chuyên canh bắp

Dấu hiệu của heo bị nhiễm fumonisin bao gồm giảm năng suất, gây chết thai, suy hô hấp cấp tính, phù phổi, tím da, vàng da, gia tăng tỷ lệ sphingamine/sphingosine, giảm khả năng đáp ứng miễn dịch, nhạy cảm với bệnh truyền nhiễm, giảm đáp ứng với vaccin

Bệnh tích biểu hiện heo bị tím tái, xoang ngực tích nước, tràn dịch phổi, viêm gan bán cấp tính, làm tăng men gan và bilirubin trong huyết thanh, hoàng đản, bề mặt gan có màu vàng cam, hoại tử tế bào gan

2.1.4.2 Zearalenone (F-2 Toxin)

Zearalenone có tác động tương tự hormon sinh dục cái oestrogen, gây ảnh hưởng mạnh đến sinh sản và phát dục của heo Biểu hiện của heo cái hậu bị nhiễm zearalenone là âm hộ, âm đạo sưng đỏ và phù thủng, bầu vú phát triển, đôi khi bị sa trực tràng

Heo nái rạ có biểu hiện tồn hoàng thể, không lên giống và gia tăng hàm lượng hóc môn progesterone trong huyết thanh nhiều tháng sau khi đã ngừng tiếp xúc với zearalerone Giảm số heo con trong lứa, tăng số heo con bị chết khi sinh, gia tăng tỷ

lệ bẹt chân

Zearalenone làm lớn bao quy đầu ở heo đực giống, làm giảm tính hăng, gây nên tình trạng dịch hoàn nhỏ ở heo đực non

Trang 26

Bảng 2.2: Dấu hiệu lâm sàng của zearalenone trên heo

trong thức ăn

Dấu hiệu lâm sàng

Heo cái hậu bị 3 – 5 ppm Sưng đỏ âm hộ, bầu vú và tuyến vú phát triển

Buồng trứng và tử cung sưng, tử cung phù thủng

Duy trì hoàng thể và không lên giống

Kéo dài chu kỳ lên giống

Heo nái rạ 5 – 10 ppm Ngoài những triệu chứng giống heo cái hậu bị

trên heo nái rạ còn có các biểu hiện:

Lên giống giả

Giảm số lượng heo con, sảy thai, giảm trọng lượng sơ sinh

Heo con sinh ra yếu ớt, chết khi sinh, bẹt chân, heo cái sơ sinh có âm hộ và đầu vú lớn

Kéo dài thời gian chờ phối

30 - 60 ppm Không tạo được phôi

Heo đực giống 30 - 60 ppm Giảm chất lượng tinh, tăng tinh trùng kỳ hình,

giảm tính hăng, rụng lông, phù thủng bao quy đầu

Trang 27

Tricothecenes đã được chứng minh là chất kích ứng mô như kích ứng ruột gây ra bệnh tích trên đường tiêu hóa như viêm dạ dày ruột, kích ứng và hoại tử da, suy tim mạch (Osweiler, 2006)

Tác động chủ yếu của độc tố tricothecenes là làm mất tính ngon miệng của heo, ức chế miễn dịch tế bào bởi việc tác động trực tiếp lên tủy xương, lách, mô bạch huyết, tuyến giáp và màng nhầy ruột

DON là một trong những độc tố phổ biến nhất của nhóm tricothecenes được tìm thấy trong ngũ cốc Khi động vật ăn phải liều cao, nó gây ra buồn nôn, ói mửa

và tiêu chảy Ở liều thấp gây ra giảm trọng lượng và bỏ ăn (Rotter và ctv, 1996) DON thường được tím thấy trong lúa mạch, bắp, mì đen, lúa mì và thức ăn hỗn hợp (Bnnett và Klich, 2003)

T-2 và DAS có thể gây ra bỏ ăn và ói mửa trên heo, từ đó làm giảm tăng trưởng

Bảng 2.3: Triệu chứng của heo bị ngộ độc DON

Hàm lượng DON trong thức ăn Biểu hiện lâm sàng

1 – 2 ppm Giảm tiêu thụ thức ăn

5 - < 10 ppm Bỏ ăn

10 - 20 ppm Bỏ ăn hoàn toàn, giảm trọng lượng cơ

thể, giảm tăng trọng ói mửa (Nguồn: http://www.knowmycotoxin.com/vpig6.htm)

2.1.4.4 Ochratoxin

Ochratoxin có trong thức ăn của heo sẽ nhiễm vào các tổ chức, mô mỡ và mô

cơ Ngộ độc ochratoxin làm giảm chức năng thận, gan nhiễm mỡ, hoại tử hạch bạch huyết, ngăn chặn đáp ứng miễn dịch Ngộ độc cấp tính có thể gây chết heo do suy thận

Dấu hiệu lâm sàng khi bị ngộ độc ochratoxin là giảm năng suất, thận lớn và nhạt màu, thoái hóa ống thận, viêm ruột có sợi huyết, giảm chức năng thận dẫn đến chết, uống nhiều nước, lợi tiểu, giảm chất lượng tinh dịch ở heo đực dẫn đến giảm

Trang 28

năng suất sinh sản, ngăn chặn miễn dịch tế bào làm thú nhạy cảm hơn với bệnh truyền nhiễm, phù thủng ở heo con, mất cân bằng dáng đi, viêm loét dạ dày

2.1.4.5 Aflatoxin

Aflatoxin là một nhóm độc tố có cấu trúc phân tử tương tự nhau, cấu tạo của phân tử aflatoxin gồm 1 khung coumarin, 2 nhân furan và một vòng lactone

Trước đây người ta tìm ra aflatoxin có 4 dẫn xuất quan trọng là B1, B2, G1 và

G2 Trong 4 loại trên thì aflatoxin B1 chiếm số lượng nhiều nhất trong nông sản, gây ngộ độc mạnh nhất, phổ biến nhất nên gây ra tác hại nhiều nhất (Dương Thanh Liêm và ctv, 2006)

Các loại aflatoxin kể trên sẽ tạo ra khoảng 16 dẫn xuất hóa học aflatoxin khác nhau trong nấm mốc và trong cơ thể động vật Aflatoxin M1 là chất chuyển hóa của aflatoxin trong cơ thể, nó được tiết qua sữa và gây tác hại cho thú non

Aflatoxin là một độc tố mạnh, tuy nhiên ảnh hưởng của aflatoxin trên động vật phụ thuộc vào liều lượng, thời gian tiếp xúc và sự đáp ứng của loài động vật

Sự nhạy cảm của động vật đối với aflatoxin thay đổi theo loài và tuổi Nhìn chung, thú non nhạy cảm hơn thú trưởng thành Các loài nhạy cảm cao là cá hồi, vịt,

gà tây và heo con trước cai sữa Các loài nhạy cảm trung bình là heo, gà tây giò, gà thịt, bê còn bú mẹ, chó và ngựa Những loài đề kháng là trâu bò vỗ béo, bò đực chăn thả, cừu (Osweiler, 2006)

Tác dụng gây độc của aflatoxin trên động vật có thể ở mức độ cấp tính hoặc mãn tính Nhiễm độc cấp tính xảy ra khi động vật ăn vào một lượng lớn độc tố, trường hợp này ít gặp trong tự nhiên Nhiễm độc mãn tính xảy ra khi động vật tiêu thụ một lượng thấp aflatoxin và thường xảy ra hơn so với nhiễm độc cấp tính

Triệu chứng nhiễm độc: Ở liều cao gây mất tính ngon miệng cấp tính, suy nhược, xuất huyết, tiêu chảy, có triệu chứng thần kinh như nằm liệt và co giật, chết

có thể xảy ra sau một thời gian ngắn

Aflatoxin liên kết với acid nucleotid và cũng tác động mạnh đến sự hình thành protein trong cơ thể Có thể phá hủy hoặc gây ung thư gan nếu tiếp xúc kéo dài Trong thức ăn, aflatoxin ở hàm lượng thấp (thấp hơn 1 ppm) có thể gây ra chậm

Trang 29

tăng trưởng, ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch, phá hủy và xuất huyết gan Dấu hiệu ngộ độc aflatoxin bao gồm: giảm tăng trưởng, giảm sản lượng sữa, xuất huyết

và hoàng đản Nếu tiếp tục tiếp xúc sẽ dẫn đến phá hủy gan, ngăn chặn sự đáp ứng miễn dịch, giảm khả năng đề kháng của cơ thể đối với bệnh truyền nhiễm và giảm đáp ứng với vaccin

Ở tất cả các loài động vật, gan là cơ quan đích của aflatoxin Tùy theo mức

độ trầm trọng mà gan có thể biến đổi từ sưng gan cấp tính với hoại tử tế bào gan đến tăng sinh các ống dẫn mật nhỏ Khi các tế bào gan bị hư hại sẽ làm gia tăng hoạt tính của một số enzym trong huyết thanh như serum glutamic-oxaloacetic transaminase (SGOT), serum glutamic- pyruvic transaminase (SGPT) Chức năng của gan bị thay đổi dẫn đến các ảnh hưởng khác như giảm đông máu, hoàng đản, xuất huyết trên niêm mạc và thanh mạc

Khi ở liều cao aflatoxin có thể làm biến đổi và thoái hóa các ống gần của thận

Aflatoxin ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch của vật nuôi và động vật trong phòng thí nghiệm Sau khi cho động vật thí nghiệm ăn thức ăn có chứa một lượng lớn aflatoxin đã gây ra tác hại bao gồm ức chế miễn dịch qua trung gian tế bào, ức chế những chất thể dịch không đặc hiệu, làm giảm sự hình thành kháng thể và ngăn chặn sự chấp nhận mảnh ghép (Bondy & Pestka, 2000) Aflatoxin làm giảm hoạt động thực bào và giảm sự đáp ứng của tế bào mầm đối với sự phân bào, biến đổi

mạnh mẽ quá trình sản xuất và tiết cytokine, interleukin (Han và ctv, 1999)

Bị nhiễm aflatoxin có thể gây bùng phát một số bệnh khác, khi xác định nguyên nhân gây bệnh có thể nghi ngờ đến trường hợp ngộ độc aflatoxin, kiểm tra

mô học trên gan sẽ thấy xuất hiện những biến đổi đặc trưng

Trên heo, mức độ nhạy cảm đối với aflatoxin phụ thuộc vào thời gian tiếp xúc, liều lượng tiêu thụ và tuổi của heo Nhìn chung heo non nhạy cảm hơn heo thịt

và heo trưởng thành Hàm lượng aflatoxin trong thức ăn từ 2 – 4 ppm sẽ gây chết cấp tính, trong khi hàm lượng aflatoxin 260 ppb được cho ăn trong nhiều tuần gây giảm tăng trưởng (Carson, 1986) Liều lượng aflatoxin gây ra biểu hiện lâm sàng rất

Trang 30

thay đổi, nhưng các biểu hiện có thể thấy rõ ở hàm lượng trên 600 ppb Bệnh tích

mô gan có thể thấy khi cho ăn thức ăn có nồng độ aflatoxin 140 ppb trong thời gian

12 tuần ở heo 18 – 64 kg, ở heo 64 – 91 kg có thể thấy bệnh tích nhẹ (Allcroft, 1969)

Trong trường hợp nhiễm độc cấp tính và bán cấp tính, heo có biểu hiện suy nhược, biếng ăn, thiếu máu, bụng to, vàng da, tiêu chảy có máu, máu khó đông do giảm prothrombin huyết, gia tăng các enzym như SGOT, SGPT do sự phá hủy tế bào gan. Các chỉ tiêu hóa học huyết thanh cũng thay đổi như làm giảm protein tổng

số, albumin, cholesterol, u-rê huyết và glucose (Harvey và ctv, 1989), bilirubin tổng

số tăng lên Ở liều 140 ppb AF làm giảm tổng số bạch cầu nhưng ở liều 280 ppb AF lại làm tăng tổng số bạch cầu (Marrin và ctv, 2002)

Bệnh tích đại thể có biểu hiện gan màu nâu nhạt hoặc màu đất sét kèm theo xuất huyết trung tâm tiểu thùy, xuất huyết đốm dưới thanh mạc hoặc bầm tím Nếu bệnh tiến triển, gan chuyển sang màu vàng và có sợi huyết, gan cứng và tiểu thùy nổi rõ, hoàng đản thanh mạc và niêm mạc (Cook và ctv, 1989) Tỷ lệ trọng lượng gan/trọng lượng cơ thể gia tăng khi cho heo thịt ăn thức ăn nhiễm 385 ppb AF trong thời gian 66 ngày (Southern và Clawson, 1979)

Quan sát bệnh tích vi thể cho thấy có không bào trong tế bào gan, hoại tử gan, gan nhiễm mỡ ở quanh vùng tĩnh mạch trung tâm Nếu ngộ độc tiến triển đến dạng bán cấp tính hoặc mãn tính thì tế bào gan phình to với nhiều nhân Trong trường hợp mãn tính sẽ thấy sợi huyết ở gian tiểu thùy và tăng sinh ống mật (Osweiler và ctv, 1985)

Sự phát triển của hệ miễn dịch trên heo con bị ảnh hưởng khi heo nái ăn phải aflatoxin B1 hoặc aflatoxin G1 trong suốt thời gian mang thai và tiết sữa Ở heo sơ sinh của những heo nái ăn aflatoxin, sự di chuyển và đặc tính của bạch cầu trung tính bị ức chế (Silvotti và ctv, 1997)

Lympho ngoại biên tuyến ức bị suy kiệt và trọng lượng của tuyến ức cũng bị giảm ở heo con của những heo nái cho ăn aflatoxin B1 800 ppb từ lúc mang thai 60 ngày đến sau khi sinh 28 ngày (Mocchegiani và ctv, 1998)

Trang 31

Bảng 2.4: Dấu hiệu lâm sàng của bệnh ngộ độc aflatoxin trên heo

(Osweiler, 2006)

2.2 Các phương pháp phát hiện và đo lường AF

2.2.1 Phương pháp sinh vật học

Phương pháp sinh vật học thường được dùng trước tiên để khảo sát độc tố

AF Tuy nhiên, phương pháp này ít có giá trị trong việc kiểm tra các thực liệu vì chúng thường kém chuyên biệt và mất nhiều thời gian Có năm nhóm sinh vật được dùng trong thử nghiệm sinh vật học là vi sinh vật, động vật dưới nước, động vật trên cạn, tế bào nuôi cấy và thực vật

Heo tăng

trưởng, heo thịt

< 100 Không có biểu hiện lâm sàng, có chất chuyển

hóa trong gan

200 – 400 Giảm tăng trưởng và giảm hiệu quả thức ăn, có

thể gây ức chế miễn dịch

400 – 800

Gây bệnh tích vi thể mô gan, viêm ống mật, tăng men gan trong huyết thanh, ức chế miễn dịch

800 – 1200 Giảm tăng trưởng, giảm lượng ăn, lông khô,

vàng da, giảm protein huyết

1200 – 2000 Vàng da, máu khó đông, thể trạng suy giảm,

biếng ăn, một số con chết

Heo nái sinh sản

500 – 750

Không ảnh hưởng đến thụ thai, heo con theo

mẹ có thể phát triển chậm do aflatoxin trong sữa

> 2000 Viêm gan cấp tính, máu khó đông, chết trong

vòng 3 – 10 ngày

Trang 32

Làm sạch chất chiết: Sự có mặt của lipid và một số chất khác có thể ảnh hưởng đến kết quả nên ta cần loại bỏ trước khi cô đặc, người ta phối hợp một số biện pháp như sắc ký cột, phân tác lỏng – lỏng, cột ái lực miễn dịch

Giai đoạn cô đặc: Chất chiết sau khi được làm sạch thường được cô đặc bằng cách cho bốc hơi trong máy cô quay dưới áp suất thấp hoặc dùng nồi chưng cách thủy với luồng khí nitơ nhẹ Cặn được hòa tan vào một lượng thể tích nhỏ dung môi trước khi qua giai đoạn xác định

Phát hiện và xác định AF: Kỹ thuật sắc ký thường được áp dụng để phát hiện

và xác định AF, kỹ thuật này hoạt động dựa trên nguyên tắc phân tách vật lý hai hoặc nhiều chất trong một hỗn hợp do sự phân bố khác nhau giữa pha động và pha tĩnh Pha động thường là dung môi có chứa chất cần phân tích, pha tĩnh làm chậm lại sự di chuyển của các chất do các đặc điểm lý hóa khác nhau nên tạo ra phân biệt giữa chúng Các phương pháp sắc ký thường được áp dụng là sắc ký vi cột, sắc ký lớp mỏng (TCL) và sắc ký lỏng cao áp (HPLC)

2.2.3 Phương pháp miễn dịch học

Phương pháp miễn dịch học dựa trên khả năng kết hợp thuận nghịch giữa kháng nguyên là AF với kháng thể chuyên biệt tạo thành một phức hợp AF có khối lượng phân tử rất nhỏ nên không có khả năng gây kích thích tạo kháng thể khi tiêm vào động vật nên cần được liên kết với một protein để có khả năng gây miễn dịch Chẩn đoán AF bằng phương pháp miễn dịch được áp dụng ở một số phản ứng như EIA ( Enzyme Immuno Assay) và RIA (Radio – Immuno Assay)

Phương pháp miễn dịch enzyme (EIA)

Trang 33

Các phản ứng EIA dùng xác định AF thuộc nhóm ELISA, thông dụng hiện nay là phản ứng ELISA cạnh tranh Phản ứng này được thực hiện trên vỉ nhựa có các giếng đã được phủ kháng thể đặc hiệu với chất cần phân tích Kháng nguyên tự

do là độc tố AF cần tìm và kháng nguyên đánh dấu do sự cộng hợp giữa AF và enzyme được cho vào đồng thời sẽ cạnh tranh nhau để gắn với kháng thể Sau thời gian ủ, vỉ này lại được rửa và sau đó lượng enzyme của cộng hợp bị giữ lại được xác định bằng cách thêm vào một cơ chất có tính đổi màu AF càng nhiều thì cộng hợp AF – enzyme càng ít, màu hiện lên càng yếu và ngược lại Cường độ màu tạo ra được đo bằng quang phổ kế hoặc máy đọc ELISA Thông thường người ta tạo một đường chuẩn và kết quả tính toán dựa trên kết quả đo lường cường độ màu của mẫu

so sánh với đường chuẩn

Phương pháp miễn dịch phóng xạ (RIA)

Trong kỹ thuật miễn dịch phóng xạ, sự hình thành phức hợp kháng nguyên – kháng thể có thể được đo lường khi dùng kháng nguyên đánh dấu để cạnh tranh với kháng nguyên xét nghiệm Cho một lượng kháng nguyên đánh dấu và một số lượng kháng nguyên chưa biết cùng tiếp xúc với một lượng kháng thể nhất định, các kháng nguyên sẽ cạnh tranh nhau để gắn với kháng thể Sau một thời gian, tiến hành rửa và phần kháng thể còn dính với kháng nguyên đánh dấu sẽ được đo lường nhờ hoạt tính phóng xạ

2.3 Tình hình nhiễm độc tố nấm mốc trong thực liệu

Theo kết quả khảo sát của công ty Biomin năm 2008 - 2009, tình hình nhiễm độc tố nấm trong nông sản trên thế giới được trình bày qua bảng 2.5

Trang 34

Bảng 2.5: Tỷ lệ nhiễm độc tố nấm mốc trong nông sản ở một số nơi trên thế giới

Loại độc tố

Quốc gia

Aflatoxin (%)

Deoxynivalenol(%)

Zearaleone (%)

Fumonisins (%)

Ochratoxin A (%)

Bảng 2.6: Biến động về mức nhiễm aflatoxin trên bắp và khô đậu phộng theo mùa

tại Việt Nam Mùa và thực

liệu

Số mẫu

có AF/tổn

g số mẫu

Aflatoxin B1 Aflatoxin B2

Tỷ lệ các mức nhiễm (%) Mức nhiễm

(ppb)

Mức nhiễm (ppb)

< 200 ppb

200-1000 ppb

>1000 ppb

Trung bình

Biến động

Trung bình

Biến động

Trang 35

Bảng 2.7: Tình hình nhiễm aflatoxin trong nguyên liệu thức ăn và thức ăn

hỗn hợp của heo ở các tỉnh phía Nam Việt Nam Loại thức ăn Số mẫu

khảo sát

Số mẫu có aflatoxin

Hàm lượng aflatoxin trung bình (ppb)

Tỷ lệ nhiễm (%)

(Nguyễn Quang Thiệu, 2008)

Từ kết quả khảo sát của các tác giả ở trên cho thấy hầu hết các loại nông sản

ở Việt Nam đều nhiễm aflatoxin Trong mùa mưa nông sản bị nhiễm aflatoxin cao

hơn mùa khô

2.4 Mức độc tố nấm mốc cho phép trong thực liệu

Bảng 2.8: Mức độc tố nấm mốc cho phép trong thực liệu

Trang 36

Bảng 2.9: Quy định hàm lượng tối đa của aflatoxin trong thức ăn hỗn hợp

của heo ở Việt Nam

(ppb)

Tổng số aflatoxin (ppb)

(Tiêu chuẩn ngành-cục thú y-Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

năm 2009)

2.5 Những biện pháp phòng chống độc tố nấm mốc

2.5.1 Phòng chống nấm mốc xâm nhiễm và phát triển trên nông sản

Để ngăn ngừa sự xâm nhiễm và phát triển của nấm mốc trên nông sản, đòi hỏi phải có biện pháp đồng bộ từ trước thu hoạch đến sau thu hoạch

Khí hậu nóng kết hợp với mưa bất thường sẽ tạo điều kiện cho nấm mốc xâm nhiễm vào cây trồng ngay khi còn ở ngoài đồng, vì vậy nên sử dụng các biện pháp canh tác thích hợp hoặc chọn lọc giống cây trồng có khả năng chống nấm kết hợp với phun thuốc trừ nấm bệnh trước khi thu hoạch Hạt cốc bị sâu hại tấn công cũng tạo điều kiện cho nấm mốc xâm nhiễm và phát triển vì vậy cần có biện pháp phòng ngừa thích hợp

Muốn đề phòng tác hại của độc tố nấm mốc sau khi thu hoạch thì phải có kỹ thuật dự trữ nông sản khoa học Phải sấy khô nguyên liệu trước khi đưa vào kho dự trữ Muốn giữ nguyên liệu tốt ta cần có những quy định tình trạng hạt trong điều kiện dự trữ cụ thể, có sự cân bằng giữa độ ẩm không khí và độ ẩm nguyên liệu Sự cân bằng này sẽ thay đổi khi nhiệt độ môi trường thay đổi

Kho dự trữ nông sản phải cao hơn mặt đất, tường dày có chất hút ẩm, phải đảm bảo sự thông thoáng

Bảo quản nông sản trong điều kiện nhiệt độ lạnh cũng làm giảm sự phát triển của nấm mốc (Tô Minh Châu và Trần Bích Liên, 2006)

Trang 37

Sự phá hại của côn trùng, sâu mọt có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển của nấm mốc vì vậy cần kiểm tra độ nhiễm côn trùng trong nông sản để có biện pháp phòng trừ

Có thể sử dụng hóa chất để chống nấm mốc trong nông sản như Aureofugin, Thiramtan, Orthophenyl phenat, Bordeaux mixture Các acid hữa cơ như propionic, sorbic, lactic, acetic, benzoic và muối của các acid hữu cơ này cũng có thể sử dụng

để trộn vào thức ăn

Sử dụng hơi ga hóa chất để sát trùng nguyên liệu trong các bồn chứa cũng cho kết quả tốt Tuy nhiên mỗi loại hóa chất đều có giới hạn, có thể gây độc cho động vật hoặc ảnh hưởng đến môi trường

2.5.2 Các biện pháp làm giảm độc tố nấm mốc trong thực liệu

2.4.2.1 Phương pháp vật lý

Loại bỏ phần nguyên liệu nhiễm nấm: phương pháp loại bỏ này chủ yếu là

phân loại hạt và nguyên liệu, loại nào không bị nhiễm tách riêng, loại nào nhiễm tách riêng ra khỏi nguyên liệu Trong một số trường hợp để phân biệt nguyên liệu nhiễm người ta dựa vào màu sắc khác thường của nguyên liệu để lựa ra Có thể dựa vào sự khác biệt về tỷ trọng trong dung dịch hoặc trọng lực giữa các hạt bình thường và hạt nhiễm để loại bỏ hạt nhiễm

Những nông sản bị nhiễm aflatoxin dùng để ép dầu thì trong dầu thô cũng có khá nhiều aflatoxin Dùng hệ thống tinh lọc bằng cột hấp phụ than hoạt tính có thể làm giảm hàm lượng aflatoxin trong dầu Ngày nay, người ta đã chế ra được hệ thống lọc hấp phụ có thể lọc tách aflatoxin ra khỏi dầu từ 95 – 100 %

Làm mất hiệu lực của aflatoxin bởi nhiệt: Nguyên lý của phương pháp này

là làm biến đổi thành phần hóa học của aflatoxin hoặc thay đổi nhóm hoạt động trong công thức phân tử aflatoxin Theo thông báo của FAO, (1979) nướng khô và chiên dầu có thể làm cho 65 % aflatoxin bị phá hủy Do nhiệt độ nóng chảy của aflatoxin là 2500C nên đem nguyên liệu nấu bình thường thì aflatoxin không bị hư (trích dẫn Dương Thanh Liêm và ctv, 2006)

Trang 38

Làm mất hiệu lực của độc tố nấm mốc bằng phương pháp chiếu xạ: Ánh

sáng mặt trời có tác dụng tốt để phá hủy aflatoxin, tuy nhiên nó không triệt để vì ánh sáng chỉ có tác dụng bên ngoài của lớp thức ăn Ánh sáng mặt trời với cường độ trên 50.000 lux có thể phá hủy hoàn toàn aflatoxin

Làm mất hiệu lực của độc tố nấm mốc bởi các chất hấp phụ hoặc kết dính độc tố: đây là giải pháp ít tốn kém mà cho kết quả khả quan Sử dụng các chất hấp

phụ hoặc liên kết được với độc tố nấm sẽ làm giảm sự hấp thu độc tố qua niêm mạc ruột sau đó được thải ra ngoài qua phân

Các chất hấp phụ bao gồm các chất vô cơ hoặc hữu cơ có hoạt tính bề mặt cao như than hoạt tính, một số polymer vô cơ có bản chất là aluminosilicate như bentonite, zeolite, hydrate sodium calcium alumino-silicate (HSCAS), một số chất sét đặc biệt như kaolin, sepiolite, montmorrillonite, một số polymer hữu cơ tự nhiên hoặc nhân tạo như nhựa trao đổi ion, polyvinyl polypyrrolidone

Aluminosilicate: là chất có chứa alumina (Al2O3) và silica (SiO2) ở cả 2 dạng

tự nhiên và nhân tạo Cơ chế tác động của nhóm là trao đổi ion giữa các gốc tự do với các nhóm mang điện tích trên phân tử mycotoxin, vì vậy các chất sét rất có hiệu quả đối với các độc tố có tính phân cực như aflatoxin nhưng không hiệu quả đối với nhiều loại mycotoxin không phân cực khác như zearalenone, trichothecen (Santurio

và ctv, 1999)

Gần đây, người ta đưa vào sử dụng một số loại chất hấp phụ mới, đó là sản phẩm trích xuất từ vách tế bào nấm men có tên gọi chung là MOS (mannan oligosacharit) có khả năng kết hợp với nhiều loại độc tố nấm, đặc biệt có khả năng hấp thu tới 95 – 100 % aflatoxin và một số độc tố nấm mốc khác (Dương Thanh Liêm và ctv, 2006)

2.5.2.2 Phương pháp hóa học

Làm mất hiệu lực của độc tố nấm mốc bằng chất oxy hóa: một số tác nhân

oxy hóa mạnh có thể phá hủy được mạch nối C – C của cấu trúc vòng làm cho aflatoxin trở nên ít độc hơn Bắp được xử lý với ô zôn ở lưu lượng 200 mg/phút trong thùng có chứa 30 kg bắp trong 92 giờ thì có đến 92 % flatoxin bị phá hủy

Trang 39

(McKenzie và ctv, 1998) Tuy nhiên, khử aflatoxin bằng ô zôn thì rất tốn kém vì vậy không có hiệu quả kinh tế, bên cạnh đó nó cũng oxy hóa các vitamin có trong thức ăn Peroxyd hydrogen cũng được dùng trong phạm vi thương mại ở Ấn Độ để khử đậu phộng bị nhiễm aflatoxin

Làm mất hiệu lực của aflatoxin bằng NH 3 : đây là phương pháp được áp

dụng trên phạm vi công nghiệp Có 3 phương pháp xử lý được áp dụng đó là dùng

NH3 ở nhiệt độ cao và áp lực cao; dùng NH3 ở nhiệt độ cao và áp lực thấp; dùng nhiệt độ và áp suất thường Phương pháp xử lý này làm giảm 95 % lượng aflatoxin

có thể đo được bằng phương pháp hóa học (Dương Thanh Liêm và ctv, 2006)

Làm mất hiệu lực của aflatoxin bằng sodium bisulfit: Có tác dụng đối với

aflatoxin B1 và aflatoxin G1, nhưng không có tác dụng đối với B2 và aflatoxin G2

2.5.2.3 Phương pháp sinh học

Dùng vi sinh vật: Thí nghiệm cho thấy dùng một số loại vi khuẩn hoặc nấm

có khả năng phá hủy aflatoxin đưa và trong thức ăn đã làm giảm tác hại xấu của

aflatoxin Đậu Ngọc Hào và ctv (1999) đã thí nghiệm bổ sung Saccharomyces

cerevisiae vào thức ăn cho gà đã làm giảm tác hại của aflatoxin Sử dụng Bacillus subtilis để ức chế sự sinh trưởng và sản xuất aflatoxin của Aspergillus flavus và Aspergillus parasiticus trên bột đậu phộng và bắp có kết quả nhưng thay đổi tùy

theo chủng

Bổ sung một số chất dinh dưỡng trong khẩu phần thức ăn như tăng acid amin

có lưu huỳnh (methionine và cystine) lên trên mức nhu cầu, tăng vitamin D, vitamin

E, selen cũng có tác dụng là giảm tác hại của độc tố aflatoxin

2.6 Một số nghiên cứu có liên quan đến chất hấp phụ độc tố nấm mốc

Schell và ctv (1993) bổ sung sét vào thức ăn của heo cai sữa có chứa aflatoxin đã cải thiện tăng trọng của heo và làm giảm sự thay đổi bất thường của các chỉ số huyết thanh

Roger và ctv (1994) thử nghiệm khả năng hấp phụ aflatoxin của HSCAS trong thức ăn của heo tăng trưởng đã cải thiện tăng trọng, ngăn chặn một phần ảnh hưởng của aflatoxin đối với miễn dịch

Trang 40

Lê Anh Phụng (2002) sử dụng chế phẩm PVPP, Mycofix, Mycosorb bổ sung vào khẩu phần của vịt CV super M đã làm giảm độc tính của aflatoxin, cải thiện về sinh trưởng phát triển của vịt

Lã Văn Kính và ctv (2004) bổ sung chất hấp phụ độc tố AF vào thức ăn của heo thịt có nhiễm AF ở mức nhẹ đã cải thiện được tăng trọng và giảm chỉ số chuyễn biến thức ăn vào thức ăn của heo nuôi thịt đã cải thiện được

Battacone và ctv (2007) bổ sung glucomanan polymer vào thức ăn heo thịt chứa 200 ppb AF đã cải thiện tăng trọng của heo

Nguyễn Quang Thiệu và ctv (2008) bổ sung bentonite vào thức ăn chứa aflatoxin của heo con đã cải thiện năng suất và làm hạn chế sự bất thường của các thông số sinh hóa huyết thanh

Ngày đăng: 14/03/2019, 10:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm