Đề tài nghiên cứu hai nội dung: 1 Đánh giá hệ thống cây trồng trên nền đất lúa huyện Tân Phước; 2 So sánh 4 giống bắp, 4 giống dưa hấu có triển vọng và chọn ra 1 giống thử nghiệm luân ca
Trang 1`BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
-NGUYỄN PHƯƠNG NHUNG
XÁC ĐỊNH MÔ HÌNH LUÂN CANH CÂY MÀU TRÊN NỀN ĐẤT LÚA VỤ HÈ THU TẠI HUYỆN TÂN PHƯỚC
TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 12/2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
-NGUYỄN PHƯƠNG NHUNG
XÁC ĐỊNH MÔ HÌNH LUÂN CANH CÂY MÀU TRÊN NỀN ĐẤT LÚA VỤ HÈ THU TẠI HUYỆN TÂN PHƯỚC
Trang 3XÁC ĐỊNH MÔ HÌNH LUÂN CANH CÂY MÀU TRÊN NỀN ĐẤT LÚA
VỤ HÈ THU TẠI HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG
NGUYỄN PHƯƠNG NHUNG
Hội đồng chấm luận văn:
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam
Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
HIỆU TRƯỞNG
Trang 4Tình trạng gia đình: đã kết hôn năm 2007 và có một con, sinh năm 2010 Địa chỉ liên lạc: Nhà số 200/2 Nguyễn Thị Thập, Khu phố 5, Phường 10, Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
Điện thoại: 0989.210.739
Email : npn580@gmail.com
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nguyễn Phương Nhung
Trang 6
LỜI CẢM TẠ
Chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu, quí Thầy Cô phòng Sau đại học, giảng viên Khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian theo học ở Trường
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Phạm Văn Hiền, Khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn tất luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các bác, các chú xã Phú Mỹ, xã Tân Hòa Thành
đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm đề tài
Xin gởi lời cảm ơn đến Ban giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tiền Giang và tập thể cán bộ công chức Sở đã hỗ trợ tận tình về kinh nghiệm lẫn kinh phí nghiên cứu trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Cảm ơn các anh, chị trong và ngoài lớp cao học khóa 2007 đã giúp đỡ và động viên tôi trong thời gian làm đề tài
Lòng biết ơn của con kính gửi đến Ba Mẹ và gia đình đã giúp đỡ, động viên con trong suốt thời gian học tập
Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2011
Nguyễn Phương Nhung
Trang 7TÓM TẮT
Đề tài “Xác định mô hình luân canh cây màu trên nền đất lúa vụ Hè Thu tại huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang” đã được tiến hành từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 7 năm 2011 Đề tài nghiên cứu hai nội dung: (1) Đánh giá hệ thống cây trồng trên nền đất lúa huyện Tân Phước; (2) So sánh 4 giống bắp, 4 giống dưa hấu có triển vọng và chọn ra 1 giống thử nghiệm luân canh trên nền ruộng vụ Hè Thu của nông dân đề đánh giá hiệu quả kinh tế so với độc canh cây lúa Số liệu được xử lý bằng Excel và phần mềm SAS 9.1
Đề tài nghiên cứu đạt được kết quả như sau:
- Hiện trạng cơ cấu cây trồng huyện Tân Phước chủ yếu là sản xuất lúa 3
vụ (Lúa ĐX – Lúa HT – Lúa TĐ), vụ Hè Thu hàng năm thường gặp nhiều bất lợi do hạn, mặn, sâu bệnh hại ngày càng nhiều, ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lúa
Cây dưa hấu, cây bắp được xác định là cây trồng phù hợp luân canh trên nền đất lúa vụ Hè Thu và mang lại lợi nhuận cho nông dân huyện Tân Phước
- Hai giống bắp chọn đưa vào vụ Hè Thu luân canh trên nền lúa là: Giống Sugar 75 (năng suất 9,98 tấn/ha), giống Wax 44 (năng suất 8,53 tấn/ha)
- Giống dưa hấu An Tiêm 95 có năng suất thực thu cao nhất (24,3 tấn/ha)
và giống Phù Đổng (23,2 tấn/ha) được chọn đưa vào luân canh trong vụ Hè Thu
- Hiệu quả mô hình Lúa ĐX – Dưa hấu HT – Lúa TĐ đạt lợi nhuận cao nhất (42,3 triệu đ/ha/năm), cao gấp 3 lần so với mô hình trồng lúa 3 vụ Lúa ĐX – Lúa HT – Lúa TĐ (13,2 triệu đ/ha/năm)
- Hiệu quả mô hình Lúa ĐX – Bắp HT – Lúa TĐ (19,1 triệu đ/ha/năm) đạt lợi nhuận cao gấp 1,5 lần so với mô hình trồng 3 vụ lúa
Trang 8ABSTRACT
The thesis “Identification of rotation partern of upland crops on rice yield in summer season at Tan Phuoc district, Tien Giang province” was implemented from October 2010 to July 2011 To Aim of the study including:
(1) Evaluation the cropping systerm on rice land of Tan Phuoc district;
(2) Comparison of promising upland crops four maize varieties, four water melon varieties Its aims were to select the best one maize variety and one best watermelon for yield trial and economical efficiency in rotation with Summer rice
Water melon and maize were identified the most proper crops for rotating with Summer rice and gave more net-return for farmer in Tan Phuoc dictrict;
- Two best maize varieties selected for this Summer rice rotating were: Sugar
75 (yield: 9.98 ton/ha) and Wax 44 (yield: 8.53 ton/ha);
- An Tiem 95 watermelon variety gave hightest yield (24.71 ton/ha) and Phu Dong (yeild: 23.37 ton/ha) variety was selected for rotating partern after Summer rice
- Economic value of the crops Spring rice - Summer watermelon – Autumn and Winter rice showed the best profits (42.3 milion VND/ha/year), 3 times higher than that of the partern of 3 rice growing cropping Spring rice - Summer rice - Autumn and Winter rice only got (13.2 milion VND/ha/year)
- The rotating pattern of Spring rice - Summer maize - Autumn and Winter rice gave 1,5 times higher of profits (19.1 milion VND/ha/year) as compared to 3 rice cropping
Trang 9Danh sách bảng xii
2.1.2 Luân canh cây trồng 3
2.2 Những nghiên cứu liên quan hệ thống luân canh cây
2.2.1 Trên thế giới 4
2.3 Tình hình sản xuất bắp, dưa hấu trên Thế giới và tại Việt
Trang 102.3.2 Tình hình sản xuất dưa hấu trên thế giới và tại Việt Nam 9
3.1 Các bước nghiên cứu 17
3.2.2 Đánh giá hiện trạng điều kiện kinh tế xã hội huyện Tân
3.2.3 Đánh giá hiện trạng cây trồng trên nền đất lúa vụ Hè Thu
tại huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang
18
trên nền đất lúa
18
vụ Hè Thu của nông dân
19
3.3.2.1 Cách tiếp cận 19
Trang 113.3.4.2 Kỹ thuật trồng bắp 23
3.3.5.3 Các chỉ tiêu theo dõi hiệu quả kinh tế các mô hình dưa
hấu, bắp luân canh lúa so với lúa 3 vụ
31
4.1 Một số yếu tố chi phối cây trồng vụ Hè Thu huyện Tân
4.2 Hiện trạng một số cây trồng chính vụ Hè Thu ở vùng
4.2.3 Phân tích SWOT canh tác cây trồng chính trên nền đất
lúa vụ Hè Thu tại huyện Tân Phước
39
4.3 Kết quả so sánh các giống dưa hấu và giống bắp trên nền
4.3.1.2 Chiều cao cây và tốc độ tăng trưởng chiều cao cây các
giống bắp
43
Trang 124.3.1.3 Khả năng chống đổ ngã các giống bắp 44
4.3.2.3 Tình hình sâu bệnh hại các giống dưa thí nghiệm 51
4.3.2.4 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các giống
4.4 Kết quả thử nghiệm mô hình dưa hấu và bắp luân canh trên nền
4.4.2 Hiệu quả kinh tế các mô hình luân canh trên nền đất lúa
4.4.3 Phân tích SWOT các mô hình thử nghiệm 56
4.4.3.3 Phân tích SWOT mô hình lúa ĐX – dưa hấu HT – lúa
Trang 13DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DH Dưa hấu
DTĐNN Diện tích đất nông nghiệp
NSLT Năng suất lý thuyết
NSTT Năng suất thực thu
yếu, cơ hội và thách thức)
TĐTTCC Tốc độ tăng trưởng chiều cao
TLB Tỷ lệ bệnh
Trang 14DANH SÁCH CÁC BẢNG
nghiệp tại vùng nghiên cứu 35
2010 39
đoạn 42
(cm/cây/ngày) 44
Bảng 4.10 Một số sâu bệnh hại chính gây hại bắp trong thời gian thí nghiệm 46
Bảng 4.11 Đặc điểm trái của các giống bắp thí nghiệm 47
Trang 15Bảng 4.13 Thời gian sinh trưởng và phát dục của 6 giống dưa hấu thí nghiệm 50
Bảng 4.14 Số nhánh cấp 1 của các giống dưa hấu trước khi tỉa nhánh (15
Bảng 4.15 Một số sâu bệnh hại chính trên các giống dưa hấu thí nghiệm 51
Bảng 4.16 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống dưa
hấu 53
Bảng 4.18 Hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng 56
Trang 16DANH SÁCH CÁC HÌNH
HÌNH TRANG
4.1 Lịch cây trồng theo mùa vụ trên nền đất lúa huyện Tân Phước 38
Trang 17vụ trên đất lúa vụ Hè Thu để đa dạng hoá cây trồng, giảm bớt sự rủi ro trong sản xuất, tăng thu nhập Tuy nhiên các mô hình luân canh ở đây còn mang tính tự phát, diện tích nhỏ lẻ, chưa được nghiên cứu Do vậy, tiến hành thực hiện đề tài “Xác định mô
Trang 18hình luân canh cây màu trên nền đất lúa vụ Hè Thu tại huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang” là rất cần thiết
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá hiện trạng các hệ thống canh tác trên nền đất lúa tại huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang
- Xác định mô hình và giống bắp, dưa hấu thích hợp luân canh trên nền đất lúa
vụ Hè Thu, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hệ thống cây trồng trên nền đất lúa, cây lúa và cây màu trên đất lúa vụ Hè Thu tại hai xã Phú Mỹ và Tân Hòa Thành huyện Tân Phước Tiền Giang
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Khảo sát các loại cây lúa, bắp và dưa hấu
- Thí nghiệm bắp, dưa hấu luân canh trên nền đất lúa vụ Hè Thu
- Thực hiện trong phạm vi xã Phú Mỹ, xã Tân Hòa Thành, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang
Trang 19Chương 2 TỔNG QUAN
2.1 Khái niệm hệ thống canh tác và luân canh cây trồng
2.1.1 Hệ thống canh tác
Thuật ngữ tiếng Anh “Farming systems” ngày nay được dùng phổ biến trong nghiên cứu và phát triển nông nghiệp của nhiều quốc gia trên thế giới Hệ thống canh tác là hệ phụ của hệ thống nông nghiệp Nói đến hệ thống canh tác là nói đến sản xuất nông nghiệp trong phạm vi vùng sản xuất nhỏ hẹp, trong đó nông hộ được coi là tế bào trung tâm và thường được quan tâm đặc biệt trong nghiên cứu, phát triển hệ thống canh tác Theo Zandstra và ctv (1981), hầu hết các nông hộ nhỏ của các nước đang phát triển vùng nhiệt đới là sự kết hợp các hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở mức nông hộ
Hệ thống canh tác là hệ thống hoạt động của con người (nông dân) sử dụng tài nguyên (tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật, con người và xã hội) trong một phạm vi nhất định để tạo ra sản phẩm nông nghiệp thỏa mãn nhu cầu ăn, mặc của con người (bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội) (Trần Thanh Bé, 2006)
Nghiên cứu hệ thống canh tác là tìm hiểu và từ đó cải tiến hệ thống sản xuất nông nghiệp nhằm: bố trí canh tác hợp lý để sử dụng tối ưu hóa sử dụng tài nguyên từng vùng sinh thái và của nông hộ; tác động những giải pháp kỹ thuật thích hợp với điều kiện sản xuất của địa phương; nâng cao hiệu quả kinh tế và đảm bảo tính bền vững
2.1.2 Luân canh cây trồng
Luân canh cây trồng là sự luân chuyển các loài cây trồng khác nhau theo không gian và thời gian trong một hệ sinh thái nông nghiệp, tạo nên sự phong phú
và đa dạng loài trên đồng ruộng Luân canh bao gồm:
Trang 20- Luân canh theo không gian: là sự thay đổi cây trồng theo phạm vi không gian gieo trồng qua các năm;
- Luân canh theo thời gian: là gieo trồng liên tiếp các loài cây trồng khác nhau theo thời gian trong năm trên cùng một không gian
Trong thực tế, luân canh cây trồng theo không gian và thời gian thường lồng vào nhau (Trần Danh Thìn và Nguyễn Huy Trí, 2006)
Luân canh làm cho môi trường thay đổi liên tục, mang lại lợi ích kinh tế và sinh thái rõ rệt Luân canh có tác dụng nâng cao năng suất cây trồng vì nó ảnh hưởng tốt đến độ phì, đặc tính vật lý của đất, hạn chế xói mòn, nâng cao hoạt động của vi sinh vật cũng như các sinh vật sống trong đất, hạn chế khả năng sống sót, lây lan nguồn bệnh từ vụ này sang vụ khác Luân canh được coi là biện pháp cơ bản để duy trì độ phì đất, kiểm soát sâu bệnh và cỏ dại trong phát triển nông nghiệp (Edwards và các cộng sự, 1990)
Để luân canh tốt, sự chọn lựa loài cây trồng đóng vai trò đặc biệt quan trọng Nguyên tắc chung là phải chọn lựa những loài cây có những nhu cầu sinh thái khác nhau Mollion, Mia Slay (1994) đã đưa nguyên tắc sau:
- Phải đảm bảo duy trì cân đối các chất dinh dưỡng trong đất Nên luân canh các loài cây hỗ trợ cho nhau về dinh dưỡng khoáng
- Phải coi trọng đặc biệt vai trò của cây họ đậu, bởi vì nó là loài cây không những giảm được lượng phân N khoáng cần bón trên đồng ruộng, mà còn có tác dụng duy trì cải tạo đất do để lại cho đất một lượng hữu cơ giàu N đáng kể
- Phải luân canh các loài cây có hệ thống rễ khác nhau Điều này cũng liên quan đến khả năng hấp thụ dinh dưỡng khoáng và nước trong đất của rễ cây
- Phải tách những loài cây trồng có những loài sâu bệnh tương tự nhau trong luân canh, vì nếu trồng liên tiếp với nhau sẽ làm cho bệnh phát triển trầm trọng hơn
2.2 Một số nghiên cứu liên quan hệ thống luân canh cây trồng
2.2.1 Trên thế giới
Các nước Tây Âu đã thực hiện cuộc cách mạng là thay chế độ độc canh bằng luân canh: cỏ 3 lá, lúa mì, củ cải thức ăn gia súc và yến mạch Nhờ cỏ 3 lá và cây bộ
Trang 21đậu có tác dụng cải tạo đất và bón thêm phân chuồng, năng suất lúa mì tăng lên 14
-18 tạ/ha (Đào Thế Tuấn, 1980)
Trong những năm gần đây Chính phủ Trung Quốc đã tập trung chỉ đạo đa dạng hóa cây trồng, trên các vùng đất lúa 2 vụ của vùng cao, hệ thống cây trồng phổ biến là 2 vụ lúa và 1 vụ lúa mì (hoặc đậu Hà lan, cải, khoai lang) Trên các vùng đất lúa 1 vụ, hệ thống cây trồng thường là 1 vụ lúa và 1 vụ cây trồng cạn (Phạm Quan Diệu, 2001)
Đối với Philippine, ngô, thuốc lá, các cây họ đậu là những cây trồng chính luân canh với cây lúa và đã giúp tối đa hóa hiệu quả sử dụng đất đai, tăng năng suất lao động, thu nhập các nông hộ Theo điều tra của Viện nghiên cứu lúa gạo Philippine, trong 2 năm gần đây có 6 hệ thống canh tác chính trên đất trồng lúa là lúa – lúa, lúa – rau, lúa – cá, lúa – ngô, lúa – cây họ đậu và loại cây khác (Phạm Quan Diệu, 2001)
Theo Chiu và ctv (2000), tại Indonesia các hệ thống canh tác như bắp – màu (bắp – đậu nành, bắp – đậu phộng, đậu xanh) được áp dụng nhiều để chống xói mòn đất, tăng năng suất cây trồng, bảo đảm an ninh lương thực
2.2.2 Tại Việt Nam
Các nghiên cứu của Trần Xuân Lạc (1990) cho thấy độc canh cây lúa liên tục làm tăng khả năng chai đất và độ xốp thấp Tuy nhiên áp dụng các mô hình luân canh cây màu sẽ làm tăng độ phì cho đất, tính chất vật lý có xu hướng được cải thiện, tăng độ tơi xốp
Nguyễn Duy Cần (1996) đã nghiên cứu hệ thống canh tác luân canh cây trồng đem lại hiệu quả cao, tăng năng suất cây trồng, tạo sản phẩm đa dạng hơn so với độc canh Luân canh tăng vụ sẽ tăng tổng sản lượng cao, điều hòa nhân lực, do đó đạt hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất nông nghiệp
Một kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL – Đại học Cần Thơ cho thấy quy mô ruộng đất bình quân 1 ha/hộ có 4 – 5 khẩu, nếu chỉ độc canh 3 vụ lúa mỗi năm thì thu nhập sẽ không đủ trang trải cho chi tiêu gia đình Theo Võ Tòng Xuân (2005), không nên làm 3 vụ lúa đại trà ở ĐBSCL như sau:
Trang 22Quan điểm phát triển nền nông nghiệp bền vững là không nên phát triển đại trà lúa
3 vụ ở ĐBSCL Để cho đất nghỉ, đưa lũ vào để lấy phù sa, diệt trừ sâu bệnh, nông dân còn có nguồn lợi tự nhiên để khai thác, đa dạng loại hình kinh tế, tăng thu nhập Nếu canh tác vụ ba trong đê bao thì nên hướng đến canh tác lúa giống, cây màu nhưng đặc biệt cũng cần xen lẫn những vụ nghỉ để lũ vào đồng
Võ Thị Thu Sương (2006) cho rằng thu nhập của bà con nông dân trồng lúa chỉ đạt 10-15 triệu đồng/ha và nguy cơ mầm bệnh lưu truyền từ vụ này sang vụ khác
đã xảy ra mà bằng chứng là dịch rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá đã bộc phát trên diện rộng Hơn nữa làm đất canh tác bạc màu, cằn cỗi, sâu bệnh phát sinh nhiều, một lượng dinh dưỡng bị mất đi do đó cần phải bổ sung lại cho đất, kéo theo chi phí sản xuất cũng tăng lên Để đảm bảo an ninh lương thực do dân số ngày càng tăng nhanh
và phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu cần chuyển dần diện tích trồng lúa vụ ba sang
canh tác các mô hình mới đó là luân canh
Đặng Kim Sơn (1992) khi nghiên cứu hệ thống canh tác ở Đồng bằng sông Cửu Long đã xác định được 9 hệ thống cây trồng trên nền lúa nổi vùng Châu Phú,
An Giang Tác giả cũng chỉ ra rằng, trong công thức 2 vụ, hệ thống lúa nổi - bí đỏ
và lúa nổi - dưa hấu cho hiệu quả kinh tế cao nhất, kế đến là lúa nổi - đậu xanh và lúa nổi - đậu trắng
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Luật (2000) ở Đồng bằng sông Cửu Long
mô hình lúa - màu cho hiệu quả tăng gấp 4 lần so với độc canh 2 vụ lúa
Theo Nguyễn Văn Thạc (2003), vùng Đồng Tháp Mười gồm các hệ thống canh tác chủ yếu sau:
- Lúa Đông Xuân - lúa Hè Thu (chiếm 68,30% số hộ điều tra)
- Lúa Đông Xuân - lúa Hè Thu - lúa Thu Đông (5,80%)
- Lúa Đông Xuân - Màu Hè Thu (12,50%)
- Lúa Đông Xuân - lúa hè Thu + VAC (3,40%)
- Rừng tràm (10,0%)
Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của vùng Đồng Tháp Mười, Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (1999) đã đề xuất 3 phương án sử
Trang 23dụng đất của vùng là: phương án tối ưu về sử dụng đất và nước; phương án tối đa về sản xuất lúa và phương án đa dạng hóa cây trồng trên cơ sở điều kiện sinh thái và đáp ứng nhu cầu thị trường Trong đó phương án đa dạng hóa cây trồng trên cơ sở điều kiện sinh thái và đáp ứng nhu cầu thị trường được đánh giá là khả thi nhất Theo Dương Ngọc Thành (2004), ở tỉnh Đồng Tháp, cơ cấu cây trồng lúa - dưa hấu - lúa; khoai lang - lúa; bắp lai - rau muống lấy hạt có hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với cơ cấu cây trồng lúa - lúa - lúa hoặc lúa - lúa
Đặng Thị Kim Phượng (2007) phân tích hiệu quả sản xuất nông nghiệp huyện Cai Lậy, Tiền Giang giữa mô hình luân canh lúa với cây màu mang lại hiệu quả đồng vốn (2,96) cao hơn mô hình lúa 3 vụ (2,42) Ngoài ra, mô hình luân canh lúa - màu nhu cầu lao động 304 ngày cao hơn công lao động của 3 vụ lúa (183 ngày), đã tạo công ăn việc làm cho những thành viên trong gia đình và người dân trong vùng
Nguyễn Văn Quang và Lê Thanh Phong (2007) nghiên cứu cho thấy thực hiện mô hình 2 lúa và 1 đậu nành có chi phí đầu tư (11 triệuđồng/ha/năm) thấp hơn nhiều so với 3 vụ lúa (29,5 triệu đồng/ha/năm) và điều này đã làm tăng lợi nhuận cả năm của mô hình 2 lúa và 1 đậu nành (28,9 triệu đồng/ha/năm) cao hơn so với lúa 3
vụ (15,86 triệu đồng/ha/năm) Việc rút ngắn mùa vụ trong năm bằng 1 vụ đậu nành luân canh tạo điều kiện xuống lúa sớm hơn, tranh thủ được thời điểm giá lúa cao do thu hoạch sớm hơn, cắt đứt được nguồn cung cấp thức ăn cho một số dịch hại quan trọng trên lúa, dẫn đến chi phí giảm do phòng trừ sâu bệnh, tăng lợi nhuận
Phạm Văn Hiền và Vũ Văn Thu (2008) ghi nhận: Luân canh lúa Đông Xuân
- đậu nành Xuân Hè – lúa Hè Thu tại Ô Môn, Cần Thơ trên ruộng trồng lúa 3 vụ trước đây đã đem lại lợi nhuận 28,24 triệu đ/ha; nông dân chấp nhận mức độ cao (96,6%); và mô hình luận canh đã từng bước góp phần cải thiện môi trường đất, làm thay đổi pH, EC, % C và dinh dưỡng hữu dụng N-P-K theo chiều hướng có lợi so với trước khi thực hiện mô hình
Trang 242.3 Tình hình sản xuất bắp, dưa hấu trên Thế giới và tại Việt Nam
2.3.1 Tình hình sản xuất bắp trên Thế giới và tại Việt Nam
Bắp là cây lương thực và thức ăn gia súc quan trọng của nhiều nước trên thế
giới Bắp hiện đứng hàng thứ 3 sau lúa mì và lúa gạo, về diện tích bắp chiếm ¼ tổng
sản lượng ngũ cốc của thế giới Nhờ việc áp dụng kỹ thuật canh tác tiến bộ, kết hợp
với các giống cải thiện cho năng suất cao, kháng được một số sâu bệnh hại nên sản
lượng bắp trên thế giới tăng nhanh
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng bắp trên thế giới năm 2005 – 2009
Năm Diện tích
(triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
như năng suất và sản lượng bắp trên thế giới, kế đến là Trung Quốc, Brazil Riêng
khu vực Đông Nam Á, Indonesia là quốc gia có diện tích và sản lượng cao nhất
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng bắp của một số nước trên thế giới năm 2009
(1.000 ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (1.000 tấn)
Trang 25Ở Việt Nam, bắp là cây lương thực đứng hàng thứ 2 sau lúa nước và được xác
định là một trong những cây màu chủ lực trong công tác chuyển đổi cơ cấu cây
trồng, được nông dân trồng luân canh trên ruộng lúa theo mô hình 1 lúa – 2 màu
hoặc 2 lúa – 1 màu Do cây bắp không kén mùa vụ, thích nghi trên nhiều loại đất và
hiệu quả kinh tế mang lại cao hơn so với lúa Bắt đầu từ đầu những năm 1995 tới
nay, diện tích gieo trồng bắp tăng lên đáng kể, không ngừng mở rộng giống bắp ra
sản xuất và cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác theo yêu cầu của giống mới
Do vậy, năng suất bắp ở Việt Nam tăng nhanh liên tục trong suốt 15 năm qua
Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng bắp ở Việt Nam năm 1990 – 2009
Năm Diện tích
(1.000 ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (1.000 tấn)
- Hiện nay, tập đoàn giống bắp Việt Nam rất phong phú và đa dạng về chủng
loại, thời gian sinh trưởng, khả năng thích ứng và đáp ứng mọi nhu cầu về giống
bắp cho nông dân trong cả nước
- Các giống bắp lai: V98-1, V98-2, VN112, LS-5, LVN-10, LVN-25, LVN-4,
LVN-17, CP-999, DK888, DK99, G49, C919, Sugar 75
- Các giống bắp nếp: MX10, Nù N-1, WAX44, Bạch ngọc, King 80
2.3.2 Tình hình sản xuất dưa hấu trên thế giới và tại Việt Nam
Cây dưa hấu (Citrullus lanatus) là loại thân thảo, thuộc họ bầu bí
Cucurbitaceae, có nguồn gốc ở Châu Phi Dưa hấu được người Châu Âu trồng phổ
biến từ thế kỷ VI và cũng từ đây cây dưa hấu được đưa tới nước ta trong sự giao lưu
văn hoá hoặc hàng hoá
Trang 26Dưa hấu thuộc nhóm cây ngắn ngày, có yêu cầu cao đối với nhiệt độ trong
suốt quá trình sinh trưởng, phát triển Nhiệt độ thích hợp cho hạt nẩy mầm 30 –
350C, còn cho các giai đoạn sau đó 25 – 300C Ở nhiệt độ dưới 150C, cây ngừng
sinh trưởng, phát triển, tỷ lệ đậu quả thấp và quả lớn chậm, ảnh hưởng trực tiếp
đến năng suất
Do có nguồn gốc từ vùng sa mạc nhiều nắng nên dưa hấu cần nhiều ánh sáng,
ngay từ khi xuất hiện lá mầm cho đến khi kết thúc sinh trưởng Nắng nhiều cùng
với nhiệt độ thích hợp là hai yếu tố ngoại cảnh cơ bản làm tăng năng suất và chất
lượng quả Ở đây độ dài ngày có ảnh hưởng tới thời gian sinh trưởng của cây Số
giờ chiếu sáng trong ngày 8 - 10 giờ sẽ làm cây ra hoa sớm hơn và số lượng hoa cái
cũng nhiều hơn
Dưa hấu thuộc nhóm cây chịu hạn Bộ rễ dưa hấu lúc phát triển nhất đạt 3 - 4
mét chiều sâu và 5 - 8 mét đường kính Tuy vậy, do hệ số thoát nước lớn nên nhu
cầu giữ ẩm đất cho cây thường xuyên vẫn cần thiết, nhất là ở giai đoạn đầu
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lượng dưa hấu trên thế giới năm 2005 – 2009
Năm Diện tích
(1.000 ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (1.000 tấn)
ruộng được phổ biến ở nhiều nơi, vừa giúp mang lại lợi nhuận gấp 2 - 3 lần so với
sản xuất độc canh cây lúa, vừa cải tạo đất và hạn chế dịch bệnh Do vây, diện tích,
năng suất, sản lượng dưa hấu cũng liên tục tăng
Trang 27Bảng 2.5 Diện tích, năng suất và sản lượng dưa hấu ở Việt Nam năm 2005 – 2009
Năm Diện tích
(1.000 ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (1.000 tấn)
- Sugarbaby: Giống thụ phấn tự do, được trồng lâu đời, quả tròn nặng khoảng
3 – 7 kg, ruột đỏ, dễ bong ruột, hạt đen, vỏ mỏng chịu được chuyên chở xa, thời
gian sinh trưởng 65 – 70 ngày Giống dưa hấu lai F1, nhập nội từ các nước Mỹ,
Thái Lan, Đài Loan, quả không hạt như Thắng Lợi số 1, Hưng Huy, Gia Linh
- Dưa hấu An Tiêm: Giống dưa lai trong nước do Công ty giống cây trồng
miền Nam sản xuất Các giống An Tiêm đều sinh trưởng mạnh, thích nghi rộng
chống chịu bệnh tốt, dễ ra hoa, đậu trái, năng suất cao và phẩm chất tốt, trọng lượng
quả 6 – 9 kg, thời gian sinh trưởng 65 – 75 ngày, năng suất 25 – 45 tấn/ha tùy giống
dưa Hiện nay đã có các giống An Tiêm 94, An Tiêm 95, An Tiêm 98, An Tiêm
100 Các giống dưa An Tiêm đang dần thay thế dưa sugarbaby
- Hắc Mỹ Nhân 1430 (công ty Nông Hữu) và 308 (công ty Trang Nông): Cây
phát triển mạnh, lá lớn, khả năng chống chịu bệnh cao Thời gian sinh trưởng 50 –
55 ngày, trái hình bầu dục dài, vỏ màu xanh đậm, có vân xanh đậm hơn, vỏ cứng
thích hợp cho bảo quản và vận chuyển xa Ruột màu đỏ tươi, đặc và mịn, nhiều
nước, độ ngọt cao Trọng lượng trung bình 2 – 4 kg, có thể trồng được quanh năm,
nhiệt độ càng cao thì càng phát huy được ưu điểm của giống Thích hợp trên nhiều
loại đất
- Tiểu Long 246: Thời gian sinh trưởng 58 – 62 ngày tùy theo thời tiết Dạng
trái tròn dài hình oval (hơi giống trái bí đao), vỏ màu xanh nhạt sọc thưa xanh đậm
Trang 28trung bình Ruột đỏ, đẹp, chắc thịt, độ đường cao, chất lượng ngon đặc biệt, thích hợp thị hiếu người tiêu dùng Trọng lượng trái trung bình 3 – 4 kg Có sức phát triển mạnh, kháng sâu bệnh tốt, có thể trồng được trong mùa mưa (mưa ít) và mùa nắng
- Bảo Long TN 467 của công ty Trang Nông: Thời gian sinh trưởng 58 – 60 ngày Dạng trái oval, vỏ màu xanh đen sọc đậm thưa, vỏ mỏng, ruột đỏ đậm chắc thịt, rất ngọt Năng suất trái trung bình 25 – 32 tấn/ha Kháng sâu bệnh tốt, có thể trồng được quanh năm
- Thành Long TN 522 của công ty Trang Nông: Thời gian sinh trưởng 55 – 58 ngày Dạng trái oval, vỏ sọc lem, mỏng, ruột đỏ đậm chắc thịt, độ ngọt rất cao
Năng suất trái trung bình 25 – 30 tấn/ha, có thể trồng được quanh năm
2.4 Điều kiện tự nhiên huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang
2.4.1 Vị trí địa lý
Huyện Tân Phước nằm phía Tây Bắc tỉnh Tiền Giang, vị trí địa lý được xác định như sau:
* Về ranh giới hành chánh:
- Phía Đông giáp với huyện Châu Thành và tỉnh Long An
- Phía Tây giáp với huyện Cai Lậy và tỉnh Long An
- Phía Nam giáp 2 huyện Cai Lậy và Châu Thành
- Phía Bắc giáp với tỉnh Long An
* Về toạ độ địa lý:
- Kinh độ Đông từ 1060 05’ đến 106 0 20’
- Kinh độ Bắc từ 100 25’ đến 10 0 35’
Trang 302.4.2 Khí hậu
Huyện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm Năm
có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa bằt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
- Khu vực chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính:
+ Gió mùa Đông Bắc: thổi vào mùa khô mang không khí khô, tần suất 50 – 60%, vận tốc trung bình 2,5 – 3 m/s, thường làm tăng sự xâm nhập mặn qua các hệ thống kinh rạch
+ Gió mùa Tây Nam thổi vào mùa mưa với tần suất 60 – 70%, vận tốc trung bình 3,5 – 4 m/s
- Nhiệt độ: Nhiệt độ cao và khá ổn định, trung bình năm là 29 0C, biên độ dao động giữa ngày và đêm từ 6 – 7 0C Tháng 4 và tháng 5 là hai tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm
- Mưa: Lượng mưa trung bình năm đạt 1.500 mm
- Độ ẩm trung bình trong năm là 82%, trung bình tháng thấp nhất là 74% (tháng 4), cao nhất là 88% (tháng 10)
- Lượng nước bốc hơi trung bình năm là 1.225 mm
2.4.3 Thủy triều
Huyện Tân Phước chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều theo sông Tiền và sông Vàm Cỏ Tây, thông qua 2 kênh chính là Nguyễn Văn Tiếp và Nguyễn Tấn Thành, ảnh hưởng đến chế độ thuỷ văn về dòng chảy, sự xâm nhập mặn, phèn và khả năng tiêu thoát lũ
2.4.4 Đất đai
Huyện Tân Phước có địa hình nằm trong khu vực trũng của tỉnh Tiền Giang, hầu hết đất đều bị nhiễm phèn Toàn huyện có các loại đất chính sau:
a) Đất phèn hiện tại tầng phèn nông và sâu:
Diện tích 20.957 ha, chiếm 62,89% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở khu vực trũng Đây là loại phèn chua, giàu đạm khó tiêu, hàm lượng độc tố trong đất cao nên cây nông nghiệp khó thích nghi, phù hợp cho trồng và phát triển rừng tràm sinh
Trang 31thái Muốn cải tạo đất này đưa vào sản xuất nông nghiệp cần phải xây dựng các tuyến kinh nội đồng dẫn nước ngọt rửa phèn cho khu vực
b) Đất phèn tiềm tàng có tầng sinh phèn sâu và rất sâu:
Diện tích 9.712 ha, chiếm 29,15% diện tích tự nhiên, phân bố tại các trục kênh chính như Nguyễn Văn Tiếp, Nguyễn Tấn Thành, Bắc Đông, Lộ Mới, có tầng thảm thực vật dày, độ phì tiềm tàng cao đặc biệt là đạm khó tiêu, hàm lượng độc tố trong phạm vi thích nghi với cây lúa và lên líp trồng khóm
c) Đất phù sa đã phát triển có đốm rỉ
Diện tích 262 ha, chiếm 0,79% diện tích tự nhiên, phân bố trên địa bàn xã Phước Lập Đất tương đối giàu mùn, nhưng kém tơi xốp và hơi chua thích nghi cho canh tác lúa và vườn
d) Đất phù sa xám nâu đã phát triển có tầng loang lỗ:
Diện tích 2.390 ha, chiếm 7,17% diện tích tự nhiên, phân bố tại xã Phú Mỹ, Tân Hoà Thành, có thành phần cơ giới nặng, ít xốp, hàm lượng dinh dưỡng không cao, đất bị nhiễm mặn một ít, thích nghi với thâm canh lúa, trồng rau màu và vườn cây ăn trái
2.5 Đặc điểm các tiểu vùng sinh thái nông nghiệp huyện Tân Phước
Theo số liệu thống kê về hiện trạng sử dụng đất của huyện Tân Phước tháng 01/2009 (Cục Thống kê Tiền Giang, 2009), như sau:
+ Đất trồng cây lâu năm: 11.481,22 ha
- Đất nuôi trồng thuỷ sản: 18,86 ha, chiếm 0,67% DTĐNN
- Đất lâm nghiệp: 8.691,01 ha, chiếm 30,82% DTĐNN
* Đất phi nông nghiệp: 5.130,56 ha
Trang 32Trên cơ sở phân vùng sinh thái nông nghiệp, điều kiện thuỷ văn, thổ nhưỡng,
hệ thống cây trồng, mùa vụ và tập quán canh tác, có thể chia huyện Tân Phước thành 3 tiểu vùng sản xuất nông nghiệp:
- Tiểu vùng 1, gồm 7 xã Thành Hoà, Thành Tân, Thạnh Mỹ, Tân Hoà Đông, Tân Hoà Tây, Mỹ Phước, Hưng Thạnh: đây là vùng ngập lũ từ trung bình đến khá sâu (1 m – 1,8 m), nguồn nước mặt bị nhiễm chua phèn từ đầu cho đến giữa mùa lũ, địa hình tương đối bằng phẳng, phần lớn đất đai thuộc đất phèn đã phát triển có tầng sinh phèn nông Điều kiện sản xuất còn nhiều hạn chế do bị phèn, mặn xâm nhập,
cơ cấu cây trồng gồm các loại lúa, mía, khóm, khoai mỡ phân bố dọc các trục kênh
Có thể canh tác 2 – 3 vụ lúa/năm nhưng tuỳ thuộc thời tiết, thuỷ văn
- Tiểu vùng 2, gồm 3 xã Phước Lập, Tân Lập 1, Tân Lập 2 và thị trấn Mỹ Phước: đây là vùng ngập lũ trung bình 1 m – 1,4 m, phân lớn đất đai thuộc loại đất phèn đã phát triển có tầng sinh phèn sâu và đất phèn tiềm tàng Canh tác cây trồng ít
bị hạn chế hơn tiểu vùng 1 Cây trồng chủ yếu là lúa 2 – 3 vụ/năm và vùng chuyên canh cây khóm
- Tiểu vùng 3, gồm 2 xã Phú Mỹ và Tân Hoà Thành: là vùng ngập lũ trung bình, nguồn nước mặt ít nhiễm phèn Đây là vùng trồng lúa cao sản tăng vụ kết hợp với các loại rau màu Cơ cấu cây trồng khá đa dạng gồm lúa, rau màu, cây ăn quả Tóm lại, cho đến nay các kết quả nghiên cứu về hệ thống canh tác trên thế giới và trong nước khá đa dạng và phong phú Tất cả đều có một nét chung là xác định cây trồng thích hợp, công thức luân canh cùng các biện pháp kỹ thuật tiến bộ
để khai thác hợp lý tiềm năng về tự nhiên, kinh tế xã hội, nâng cao thu nhập và đời sống cộng đồng nông dân Tuy nhiên, mỗi vùng sinh thái nông nghiệp, mỗi thời điểm cần có những nghiên cứu cụ thể, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng; Huyện Tân Phước là điểm đại diện cho vùng Đồng Tháp Mười nằm trên địa phận tỉnh Tiền Giang, hệ thống luân canh trên nền đất lúa Hè Thu cần được nghiên cứu
Trang 33Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Các bước nghiên cứu
Các bước thực hiện có thể được tóm tắt bằng sơ đồ sau:
Bước 1
Chọn và mô tả điểm
Bước 2
- Điều tra hiện trạng kinh tế - xã hội,
- Điều tra thực trạng một số cây trồng chính trên nền đất lúa vụ Hè Thu (hiệu quả kinh tế, tiềm năng và hạn chế)
Trang 343.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Đánh giá hiện trạng điều kiện tự nhiên huyện Tân Phước
- Điều kiện thời tiết: Nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa tháng, tổng lượng mưa/năm
- Những thuận lợi và khó khăn của thời tiết ảnh hưởng đến hệ thống canh tác
3.2.2 Đánh giá hiện trạng điều kiện kinh tế - xã hội huyện Tân Phước
- Lao động, nguồn lực lao động
- Điều kiện sản xuất
- Những khó khăn của điều kiện kinh tế xã hội
3.2.3 Đánh giá hiện trạng cây trồng trên nền đất lúa vụ Hè Thu tại huyện Tân
Phước, tỉnh Tiền Giang
- Loại cây trồng, số vụ trên năm, cơ cấu mùa vụ, các hệ thống cây trồng, hệ thống luân canh
- Những thuận lợi, khó khăn của các hệ thống hiện tại
o Điều tra nông hộ
o Xác định các cây trồng chính luân canh trên nền đất lúa vụ Hè Thu hiện tại
- Tìm hiểu nông dân thực tế về hiện trạng, kỹ thuật canh tác, hiệu quả kinh tế, thuận lợi và khó khăn chính của các cây trồng luân canh trên nền đất lúa vụ
3.2.4 Thí nghiệm so sánh một số giống bắp, dưa hấu trên nền đất lúa
Trong việc xác định cơ cấu cây trồng triển vọng trên nền đất lúa vụ Hè Thu, thì khâu tìm hiểu giống đạt năng suất, hiệu quả kinh tế cao là bước quan trọng không thể thiếu Nhu cầu về giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt luôn được nông dân đặt ra Từ những kết quả thu nhập những giống có triển vọng đã được nghiên cứu, khuyến cáo, tiến hành thí nghiệm một số giống ngay tại vùng nghiên
Trang 35cứu nhằm bổ sung cơ cấu giống thích hợp cho vùng Thí nghiệm một số giống cây trồng sau:
- Dưa hấu: An Tiêm 95, Hắc Mỹ Nhân 308, Thành Long TN522, Phù Đổng
- Bắp: Wax 44, King 80, Sugar 75, C919
3.2.5 Thử nghiệm cây dưa hấu, cây bắp luân canh trên ruộng vụ Hè Thu của nông dân để đánh giá hiệu quả kinh tế so với sản xuất lúa 3 vụ
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
Địa điểm: Các thí nghiệm và thử nghiệm được thực hiện trên nền đất lúa tại xã Phú Mỹ và xã Tân Hòa Thành, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang
Thời gian: Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 10/2010 đến tháng 8/2011
3.3.2 Phương pháp điều tra
3.3.2.1 Cách tiếp cận: Sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia
(PRA-Participatory Rural Appraisal)
Phương pháp PRA nhằm đánh giá thực trạng các điều kiện kinh tế - xã hội và đời sống của nông dân cũng như hiện trạng sử dụng đất vùng nghiên cứu
Số liệu thu thập bao gồm: số liệu về tự nhiên (đất, nước, chế độ thủy văn), số liệu sinh học và kỹ thuật (cây trồng, mùa vụ, mô hình canh tác, kỹ thuật), số liệu kinh tế - xã hội (cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp, dân cư, nguồn thu nhập, các dịch vụ hỗ trợ và chính sách)
Các công cụ PRA sử dụng bao gồm:
- Phân tích khó khăn và cơ hội trong sản xuất, đời sống: hiệu quả kinh tế, môi trường, kỹ thuật, thị trường, chính sách ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
- Phân tích SWOT (Strengths Weakness Opportunities Threats): đây là kỹ thuật phân tích đánh giá nguồn lực nông hộ và cộng đồng với sự tham gia của người dân Buổi họp nhóm sẽ chọn 10 nông dân nông cốt/điểm, tại hai điểm nghiên cứu
để xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của các mô hình luân canh
từ đó chọn biện pháp hợp lý để cải thiện mô hình canh tác hiện tại của dân
- Phỏng vấn nông hộ
Trang 363.3.2.2 Phương pháp điều tra nông hộ
- Thu thập số liệu thứ cấp: thu thập các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hiện trạng sản xuất của huyện Tân Phước từ các nguồn tài liệu được địa phương công bố
và các văn bản pháp lý có liên quan
- Điều tra phỏng vấn nông hộ: Chọn 50 hộ, 5% tổng số hộ có mô hình luân canh cây màu trên nền đất lúa và 20 hộ chuyên canh cây lúa để điều tra
Phỏng vấn thử 5 nông hộ bằng phiếu điều tra được chuẩn bị trước, với các nội dung thể hiện yêu cầu của đề tài nghiên cứu để kiểm lại các thông tin câu hỏi, sau đó chỉnh sửa bổ sung cho phù hợp
Tiến hành phỏng vấn chính thức Thu thập các thông tin gồm: Loại hình sản xuất; mùa vụ; kỹ thuật sản xuất; đầu tư; thu hoạch; tiêu thụ; hiệu quả sản xuất
3.3.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm và thử nghiệm
3.3.3.1 Bố trí thí nghiệm giống bắp
- Các giống tham gia thí nghiệm
Tên giống Nguồn gốc
- Thí nghiệm bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên RCBD, đơn yếu tố với
Trang 37LLLI LLLII LLLIII
Hàng bảo vệ
3.3.3.2 Bố trí thí nghiệm giống dưa hấu
- Các giống tham gia thí nghiệm
Tên giống Nguồn gốc
- Thí nghiệm bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên RCBD, đơn yếu tố với
Trang 383.3.3.3 Thử nghiệm mô hình luân canh
- Chọn 9 hộ để thực hiện mô hình có sự tham gia của nông dân Trong đó 3 hộ
thực hiện mô hình lúa - bắp - lúa; 3 hộ thực hiện mô hình lúa - dưa hấu - lúa và 3 hộ
đối chứng làm theo mô hình truyền thống 3 lúa
- Diện tích mỗi mô hình 500 m2/hộ, tổng diện tích thử nghiệm 0,45 ha
- Các giống bố trí thử nghiệm vụ Hè Thu gồm:
+ Giống bắp Sugar 75 là giống cho năng suất cao và đầu ra tương đối ổn
định, vì vậy đề tài chọn này để bố trí thử nghiệm trồng luân canh với lúa trong vụ
Hè Thu năm 2011 Thời gian sinh trưởng của giống Sugar 75 là 70 ngày, khoảng
cách trồng 70 cm x 30 cm
+ Giống dưa Phù Đổng, giống dạng trái dài, vỏ trái dày trung bình, dai vận
chuyển đi xa tốt, thích hợp trồng quanh năm, thời gian sinh trưởng ngắn 58 ngày,
trồng hàng đôi, hàng cách hàng 5 m, cây cách cây 0,4 m
+ Cây lúa: Giống OM 4900 được chọn trồng đối chứng (trồng 3 vụ lúa), thời
gian sinh trưởng 100 ngày Gieo sạ hàng 100 kg/ha
Trang 393.3.4 Quy trình kỹ thuật
3.3.4.1 Kỹ thuật trồng bắp
Thời vụ: Bắp Hè Thu được trồng trong tháng 4 – 5 dương lịch và thu hoạch
vào tháng 7 – 8 dương lịch
Làm đất: Trước khi trồng đất được cày sâu 15 – 20 cm, lớp đất mặt xốp để
cây con dễ phát triển và tiêu diệt được côn trùng phá hại tiềm ẩn trong đất, trứng, ấu trùng và ký chủ của nó San bằng mặt luống và có rãnh thoát nước tốt
Gieo hột: Xử lý hột bằng thuốc sát khuẩn Dithane với nồng độ 2 – 3%0 để diệt
và ngừa nấm bệnh Hột xử lý xong, ngâm và ủ hột trước khi gieo
- Cách gieo: Gieo theo hốc: 2 – 3 hột/hốc, chỉ để 1 - 2 cây/hốc, nếu số cây/hốc nhiều sẽ cạnh tranh ánh sáng và dinh dưỡng làm cây phát triển không đồng đều
- Khoảng cách giữa hàng với hàng 70 cm và khoảng cách cây với cây trên hàng là 35 cm
Bón phân: Lượng phân bón cho 1ha:
+ 10 ngày trước khi gieo bón 500 kg vôi bột
+ Bón lót: 10 tấn phân chuồng
+ Bón thúc lần 1 (10 ngày sau khi gieo): 15 kg Ure, 25 kg DAP, 15 kg KCl + Bón thúc lần 2 (20 ngày sau khi gieo): 65 kg Ure, 100 kg DAP, 60 kg KCl + Bón thúc lần 3 (30 ngày sau khi gieo): 80 kg Ure, 120 kg DAP, 75 kg KCl + Bón thúc lần 4 (30 ngày sau khi gieo): 50 kg Ure, 50 kg DAP, 25 kg KCl
Chăm sóc: Khoảng 4-6 ngày sau khi gieo (cây con được 1 lá) phải dặm lại
những cây chết hoặc không mọc Nhổ bỏ những cây yếu chừa lại đúng 1 cây/hốc Vào giai đoạn 15 và 30 ngày sau khi gieo cây phát triển chậm và yếu ớt do đó phải chăm sóc kỹ và diệt cỏ dại, kết hợp vun gốc để cây phát triển tốt
- Tưới tiêu: Bắp cần nhiều nước giai đoạn nẩy mầm và trổ Thiếu nước làm lá bắp bị cuống lại ở bìa lá, lá héo và có những lằn nhăn song song theo chiều ngang phiến lá Trong mùa nắng tưới nước 4 – 7 ngày/lần khi bắp trổ Mùa mưa cần tiêu nước nhanh
Trang 40- Bệnh đốm lá nhỏ (Biopolaris maydis)
Vết bệnh mới đầu nhỏ về sau vết bệnh càng rộng ra, những vết bệnh này liên kết với nhau tạo thành những vùng cháy lá rộng khắp trên lá Trước khi gieo trồng cần được xử lý hạt bằng thuốc trừ nấm
- Bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani): Bệnh thường xuất hiện ở bẹ lá gần mặt
đất Vết bệnh lúc đầu có màu hồng nhạt, trong điều kiện mưa nhiều, ẩm ướt bệnh phát triển thành những đốm vằn vện trên bẹ lá Sau đó, bệnh chuyển sang màu trắng xám, có viền nâu rất rõ Trên thân có những đốm nâu vàng, viền nâu Trên bẹ lá đôi khi xuất hiện những sợi nấm màu nâu nhạt và những hạch nấm tròn đen Bệnh có thể nặng lan trên lá bi, trái và thân cây bắp
Nên làm đất, ngâm nước ruộng để diệt trừ nguồn bệnh là hạch nấm và tàn
dư trong đất Khi bệnh xuất hiện có thể phun thuốc Validacin 5SL (1,5 l/ha); Tilt super 300ND 0,1% ( 0,4 l/ha); Rovral 50WP - 0,2% (1,5 kg/ha) Phun 2 - 3 lần cách nhau 10 ngày, kết hợp tỉa bóc lá bệnh khô chết trên cây
- Bệnh sọc lá (Sclerospora maydis): Cây bắp có thể bị bệnh ngay từ khi còn
nhỏ, mới 2-3 lá và có thể kéo dài đến trổ cờ Lá có sọc vàng hoặc trắng dọc theo phiến lá từ gốc lá ra chóp lá Vết bệnh có thể lan khắp lá làm lá khô, nếu bệnh nặng cây bắp bị chết Lá hẹp hơn bình thường, đứng có thể bị rách Cây bệnh bị vàng đi, sinh trưởng kém, không cho trái hoặc trái không hạt Một số trường hợp làm biến dạng cả cờ và bắp Vào sáng sớm, mặt dưới và trên vết bệnh có mốc trắng (là những bào tử lây nhiễm)