22 3.4.2 Nghiên cứu khả năng săn mồi của bọ xít trong điều kiện phòng thí nghiệm thông qua phản ứng chức năng với ấu trùng sâu khoang tuổi 2 ..... Do đó việc nghiên cứu về giống bọ xít n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÂM TRƯỜNG SƠN
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH SINH HỌC VÀ SĂN MỒI
CỦA BỌ XÍT BẮT MỒI Rhynocoris fuscipes Fabricius
(Hemiptera: Reduviidae) TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 11/2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÂM TRƯỜNG SƠN
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH SINH HỌC VÀ SĂN MỒI
CỦA BỌ XÍT BẮT MỒI Rhynocoris fuscipes Fabricius
(Hemiptera: Reduviidae) TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM
Chuyên ngành: Bảo Vệ Thực Vật
Mã số: 60.62.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Hướng dẫn khoa học: TS TRẦN TẤN VIỆT
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 11/2011
Trang 3NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH SINH HỌC VÀ SĂN MỒI
CỦA BỌ XÍT BẮT MỒI Rhynocoris fuscipes Fabricius
(Hemiptera: Reduviidae) TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM
LÂM TRƯỜNG SƠN
Hội đồng chấm luận văn:
1 Chủ tịch: PGS TS NGUYỄN VĂN HUỲNH
Đại học Cần Thơ
2 Thư kí: TS VÕ THỊ THU OANH
Đại học Nông lâm Tp Hồ Chí Minh
3 Phản biện 1: TS TRÁC KHƯƠNG LAI
Công ty Việt Hóa Nông
Trang 4LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Tôi tên Lâm Trường Sơn sinh ngày 01 tháng 09 năm 1984 tại quận 1, Thành
phố Hồ Chí Minh Con ông Lâm Tiến Triển và bà Đặng Kim Khanh
Tốt nghiệp PTTH tại trường Trung học phổ thông Phan Đăng Lưu, quận Phú
Nhuận, Tp Hồ Chí Minh năm 2002
Tốt nghiệp Đại học ngành Nông học hệ chính quy tại Trường Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh, Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2006
Ra trường làm việc tại Trung tâm Chuyển giao Tiến bộ Kỹ thuật Nông nghiệp – Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam từ tháng 12 năm 2006 đến tháng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh tháng 11 năm 2011
Ký tên
Lâm Trường Sơn
Trang 6LỜI CẢM TẠ
Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Trần Tấn Việt, người đã cung cấp cho tôi nền tảng kiến thức trong việc nghiên cứu cũng như đã định hướng và góp ý cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Đồng thời cũng xin gửi lời cảm ơn đến:
Ban Giám Hiệu trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, phòng Đào tạo Sau Đại Học, Chủ nhiệm khoa Nông Học, Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu trong suốt quá trình theo học tại trường
Quý thầy cô cùng tham gia giảng dạy trong thời gian qua đã cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong nghiên cứu và trong công việc
Thầy Đặng Hồng Hải và BGĐ Công ty TNHH Hóa Nông Hợp Trí đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận văn
Bạn bè, anh chị cùng lớp đã hỗ trợ, động viên và chia sẻ trong suốt quá trình học và nghiên cứu tại trường
Cuối cùng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình đã tạo mọi điều kiện cũng như luôn hỗ trợ về vật chất và tinh thần trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để có thể hoàn thành luận văn
Trang 7TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu một số đặc tính sinh học và săn mồi của bọ xít bắt mồi
Rhynocoris fuscipes Fabricius (Hemiptera: Reduviidae) trong phòng thí nghiệm” thực
hiện tại phòng thí nghiệm bộ môn Bảo vệ thực vật, Khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 03 năm 2010 đến tháng 04 năm 2011
1 Thành trùng bọ xít R fuscipes có màu đỏ với những đường sọc đen Kích
thước trung bình của thành trùng đực là 13,37 + 0,50 mm, kích thước trung bình thành trùng cái là 14,73 + 0,31mm Cánh màu đen, gốc cánh có màu đỏ Trứng có màu nâu
đỏ, hình bầu dục Trứng có chiều dài trung bình 1,53 + 0,05mm và chiều rộng trung bình 0,62 + 0,02mm Vòng đời của bọ xít khi nuôi cá thể là 62,92 + 4,91 ngày Trung bình một cá thể cái có thể đẻ 970,21 + 219,72 trứng trong suốt thời gian sống
2 Thời gian phát triển của bọ xít khi nuôi trong điều kiện tập trung lần lượt
là 35,40 + 0,40 ngày, 39,20 + 1,66 ngày và 42,13 + 2,63 ngày ứng với các mật độ 25,
50 và 75 cá thể Điều kiện nuôi nhốt tập trung giúp bọ xít rút ngắn thời gian sinh trưởng và phát triển so với khi nuôi riêng lẻ Mật số càng cao thì thời gian phát triển càng kéo dài Ở tất cả các giai đoạn đều ghi nhận tình trạng bọ xít tấn công và ăn thịt lẫn nhau Trong 3 mật độ nuôi nhốt tập trung, số lượng thành trùng thu được cao nhất
ở mật độ 50 cá thể Ở tất cả các mật độ nuôi, số lượng cá thể cái thu được luôn cao hơn
4 Kết quả trữ lạnh trứng, ấu trùng và thành trùng loài bọ xít R fuscipes ở
các mức nhiệt độ 50C, 100C, 150C trong thời gian 5, 10, 15 ngày cho thấy tỉ lệ sống cao nhất ghi nhận được ở mức 150 trong 5 và 10 ngày Không có nhiệt độ nào phù hợp cho việc tồn trữ trứng
Trang 8ABSTRACT
The thesis “Study on biological characteristics and hunting behavior of reduviid
predator Rhynocoris fuscipes Fabricius (Hemiptera: Reduviidae) in laboratory
condition” was carried out in the Insect Science Laboratory, Agronomy Faculty, at Agricuture and Forestry University, Thu Duc District, Ho Chi Minh City from March,
2010 to April, 2011
1 The nymphs and the adults of R fuscipes Fabricius (Hemiptera: Reduviidae)
existed in special morphs with black and red banded connexivum The male dimension was about 13,37 + 0,50 mm, and the female dimension was about 14,73 + 0,31mm The wings were black, the outer edge of the corium was reddish The individual egg
was 1,53 + 0,05mm long and 0,62 + 0,02mm wide The life cycle of R fuscipes when reared on C cephalonica was 62,92 + 4,91 days A single female laid 970,21 + 219,72
eggs on during her life
2 R fuscipes were reared at three different densities 25, 50, 75 on C cephalonica larvae The total developmental period was 35,40 + 0,40 days, 39,20 +
1,66 days and 42,13 + 2,63 days of 25, 50 and 75 density in respectively The results showed that rearing in groups decreased the total nymphal period as compared with solidarity condition and the higher density spent much more time for development than the lower The nymphal mortality increased as the density increased Cannibalistic
behaviour was observed in all stages of R fuscipes The highest adult population was
collected in 50 density The female biased sex ratio was observed in all categories
3 The funtional response were conducted to determine the influence of S litura larva density on the predation of R fuscipes The highest attack ratio were obtained at
1 predator : 9 prey density The reduviid R fuscipes exhibited type II Holling's curvilinear functional response to army worm S litura
4 The adults, nymphs and egg of the R fuscipes was storaged at 50C, 100C,
150C for 5, 10, 15 days The cold storage’s result showed that the highest survial rates was at 150C for 5 and 10 days None of temperatures in this experiment proved to be suitable for egg cold storaged
Trang 9MỤC LỤC
MỤC LỤC vii
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT x
DANH SÁCH CÁC BẢNG xi
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ xii
DANH SÁCH CÁC HÌNH xiii
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.3 Phạm vi đề tài 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Khái niệm chung về thiên địch 3
2.1.1 Vai trò thiên địch 3
2.1.2 Phân loại thiên địch 3
2.2 Tình hình phát triển hệ thống nhà lưới ở Việt nam 4
2.3 Các loại dịch hại trong nhà lưới 4
2.4 Vai trò của bọ xít săn mồi trong IPM và đấu tranh sinh học 6
2.5 Giới thiệu chung về bọ xít Rhynocoris fuscipes 7
2.5.1 Vị trí trong hệ thống phân loại 7
2.5.2 Các nghiên cứu trên thế giới về bọ xít Rhynocoris 8
2.6 Giới thiệu chung về ngài gạo Corcyra cephalonica Stainton 11
2.6.1 Giới thiệu về ngài gạo Corcyra cephalonica Stainton 11
2.6.2 Một số nghiên cứu dùng ngài gạo làm vật liệu thí nghiệm 12
2.7 Giới thiệu chung về sâu khoang Spodoptera litura Fabricius 14
2.7.1 Giới thiệu về sâu khoang Spodoptera litura Fabricius 14
Trang 102.7.2 Một số thí nghiệm sử dụng sâu khoang Spodoptera litura làm vật liệu nghiên cứu
14
2.8 Tồn trữ thiên địch 17
2.8.1 Bảo quản và trữ lạnh thiên địch 17
2.8.2 Một số nghiên cứu về trữ lạnh thiên địch 17
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Nội dung nghiên cứu 19
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 19
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 19
3.2.3 Điều kiện nghiên cứu 19
3.3 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 19
3.4 Phương pháp nghiên cứu 20
3.4.1 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học và khả năng nuôi tập trung của bọ xít R fuscipes 20
3.4.1.1 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học bọ xít R fuscipes 21
3.4.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ nuôi đến khả năng phát triển của bọ xít 22
3.4.2 Nghiên cứu khả năng săn mồi của bọ xít trong điều kiện phòng thí nghiệm thông qua phản ứng chức năng với ấu trùng sâu khoang tuổi 2 23
3.4.3 Khảo sát mức độ trữ lạnh đến khả năng nở của trứng, khả năng sống của ấu trùng và thành trùng 25
Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 27
4.1.1 Đặc điểm hình thái của bọ xít R fuscipes 27
4.1.2 Đặc điểm sinh học bọ xít R fuscipes 32
4.1.2.1 Thời gian phát triển và vòng đời bọ xít R fuscipes 32
4.1.2.2 Tuổi thọ và khả năng sinh sản của bọ xít R fuscipes 34
4.1.3 Ảnh hưởng của mật độ đến khả năng phát triển của bọ xít R fuscipes 35
4.1.3.1 Thời gian phát triển của bọ xít R fuscipes 35
4.1.3.3 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tỷ lệ sống của bọ xít 38
4.1.3.4 Ảnh hưởng của mật độ đến tỉ lệ đực cái của bọ xít 39
Trang 114.2 Khả năng săn mồi của bọ xít trong điều kiện phòng thí nghiệm thông qua phản ứng
chức năng với ấu trùng sâu khoang tuổi 2 41
4.2.1 Khả năng săn mồi của bọ xít ở từng pha phát dục……… 41
4.2.2 Tương quan giữa mật độ sâu hại và khả năng săn mồi của bọ xít 42
4.3 Tác động của nhiệt độ thấp đến khả năng nở của trứng, khả năng sống của ấu trùng và thành trùng bọ xít R fuscipes 44
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Đề nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC 59
Trang 13DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG TRANG
Bảng 3.1: Bảng bố trí thí nghiệm khả năng săn mồi của bọ xít 24
Bảng 4.1: Kích thước các pha phát dục bọ xít R fuscipes 27
Bảng 4.2: Thời gian phát triển và vòng đời của bọ xít R fuscipes 32
Bảng 4.3: Tuổi thọ và khả năng sinh sản của bọ xít R fuscipes 34
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của mật độ đến thời gian phát triển của bọ xít (ngày) 36
Bảng 4.5: Tỷ lệ lột xác trung bình/ngày của bọ xít (%) 37
Bảng 4.6: Tỷ lệ sống của bọ xít qua từng pha phát dục (%) 38
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của mật độ đến tỉ lệ đực cái của bọ xít 40
Bảng 4.8: Khả năng săn mồi của bọ xít ở từng pha phát dục (con/ngày) 41
Bảng 4.9: Tương quan giữa mật số sâu hại và khả năng săn mồi của bọ xít 42
Bảng 4.10: Khả năng sống sau trữ lạnh của bọ xít ở các giai đoạn sinh trưởng (%) 44
Trang 14DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
ĐỒ THỊ TRANG
Đồ thị 4.1: Khả năng săn mồi ấu trùng bọ xít tuổi 4 trên ấu trùng sâu khoang tuổi 2 43
Đồ thị 4.2: Khả năng săn mồi ấu trùng bọ xít tuổi 5 trên ấu trùng sâu khoang tuổi 2 43
Đồ thị 4.3: Khả năng săn mồi thành trùng đực trên ấu trùng sâu khoang tuổi 2 43
Đồ thị 4.4: Khả năng săn mồi thành trùng cái trên ấu trùng sâu khoang tuổi 2 43
Đồ thị 4.5: Khả năng săn mồi thành trùng cái sau bắt cặp trên ấu trùng sâu khoang tuổi
2 43
Trang 15
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 3.1: Nuôi ấu trùng sâu gạo làmthức ăn nuôi bọ xít 20
Hình 3.2: Chuẩn bị thức ăn cho bọ xít 20
Hình 3.3: Nuôi ấu trùng trong điều kiện cá thể 23
Hình 3.4: Nuôi ấu trùng trong điều kiện tập thể 23
Hình 3.5: Bố trí thí nghiệm phản ứng chức năng với ấu trùng sâu khoang tuổi 2 25
Hình 3.6: Thí nghiệm trữ lạnh trứng, ấu trùng và thành trùng 26
Hình 4.1: Ấu trùng và kích thước ấu trùng bọ xít R fuscipes 29
Hình 4.2: Thành trùng bọ xít R fuscipes 31
Hình 4.3: Vòng đời bọ xít R fuscipes 33
Trang 16Vai trò của thiên địch trong hệ thống đấu tranh sinh học đã được biết đến và được thực hiện rộng rãi trong nông nghiệp từ rất lâu và đã được đưa vào nghiên cứu cách đây gần 200 năm tại Ấn Độ (Whitcomb, 1987) Ý nghĩa của nó là sử dụng các nhóm virus, vi khuẩn, nấm, côn trùng kí sinh, bắt mồi và một số sinh vật khác để ngăn chặn dịch hại, làm giảm mật số và qua đó làm giảm đến mức tối thiểu những thiệt hại
mà chúng gây ra Qua đó, việc mở rộng nghiên cứu và nhân nuôi thiên địch được xem
là cần thiết và đã được mở rộng nghiên cứu từ đầu thế kỉ 20 Trong đó khâu quan trọng nhất trong việc áp dụng trong thực tiễn là đảm bảo sinh khối cần thiết trong việc kiểm soát sâu hại (Beirne, 1974)
Rhynocoris là một giống bọ xít bắt mồi, được tìm thấy trên rất nhiều phổ cây trồng như bông vải, đậu đỗ, thuốc lá… và được xem là một đối tượng có nhiều tiềm năng trong việc kiểm soát sâu hại (Sahayara, 2003; Vennison và Ambrose, 1988)
Trang 17Việt Nam là quốc gia có nền nông nghiệp lâu đời và phong phú về thành phần cây trồng và côn trùng Việc nhân nuôi và sử dụng thiên địch vào mục đích kiểm soát sâu hại trong hệ thống nhà lưới ở Việt Nam những năm gần đây đã bắt đầu được chú trọng Do đó việc nghiên cứu về giống bọ xít này sẽ làm phong phú thêm cho quỹ thiên địch trong nước, tạo cơ sở cho việc ứng dụng phương pháp phòng trừ sinh học trên hệ thống cây trồng nông nghiệp
Để hiểu rõ hơn về đối tượng thiên địch này, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên
cứu một số đặc tính sinh học và săn mồi của bọ xít bắt mồi Rhynocoris fuscipes
Fabricius (Hemiptera: Reduviidae) trong phòng thí nghiệm”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu
Xác định khả năng săn mồi của bọ xít trong điều kiện phòng thí nghiệm
Xác định tác động của nhiệt độ thấp đến khả năng nở của trứng, khả năng sống của ấu trùng và thành trùng
Trang 18Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Khái niệm chung về thiên địch
Tác động đến việc duy trì khả năng thích ứng để tồn sinh của con mồi Cá thể nào yếu hoặc không có khả năng tự vệ sẽ bị loại thải bởi thiên địch theo quy luật chọn lọc tự nhiên
Có vai trò trong việc thúc đẩy sự tiến hóa của các loài sâu hại Thông qua các hoạt động săn mồi của thiên địch, sâu hại bắt buộc phải phát triển những khả năng tự
vệ trước sự tấn công của thiên địch để bảo tồn cá thể trong loài, từ đó hình thành những dòng hoặc loài sâu hại mới có khả năng thích ứng cao hơn Điều này cũng giúp tạo sự cân bằng giữa các loài (Nguyễn Văn Huỳnh, 2002)
2.1.2 Phân loại thiên địch
Nhìn chung thiên địch có thể được chia làm 2 nhóm, loại bắt mồi và loại kí sinh
a Loại bắt mồi (predator): một cá thể có thể giết và ăn nhiều con mồi trong 1 lần săn, một ngày hay trong một vòng đời của nó Do đó nó phải to, khỏe và nhanh nhẹn hơn con mồi Đây là loài đa thực hay còn gọi là ăn thịt tổng quát (generalists)
b Loại kí sinh (parasitoids): một cá thể chỉ cần 1 kí chủ để sống trong suốt vòng đời của nó Do đó nó thường nhỏ và yếu hơn con mồi nhưng bù lại nó có khả năng đặc
Trang 19biệt để có thể tấn công con mồi Ở đây thành trùng của loài kí sinh đẻ một trứng bên trên hay bên trong một côn trùng kí chủ, ấu trùng sẽ nở ra và kí sinh trong kí chủ đến khi trưởng thành Thành trùng lại ra sống tự do bên ngoài kí chủ rồi lại tìm đẻ trứng trở lại trên nhiều kí chủ khác Tuy một thành trùng có thể giết chết nhiều con mồi nhưng mỗi cá thể chỉ lớn lên trên một kí chủ Chúng thường là loài ăn thịt chuyên biệt (specialists) (Nguyễn Văn Huỳnh, 2002)
2.2 Tình hình phát triển hệ thống nhà lưới ở Việt nam
Nhà lưới, nhà kính chủ yếu được bao phủ bằng những tấm kính, tấm lưới sợi kính hoặc nhựa để hấp thu nhiệt và giữ nhiệt tối đa Chúng được sử dụng để mở rộng
vụ mùa trồng rau, trồng hoa, bảo vệ cây trồng khỏi những điều kiện bất lợi của môi trường (nhiệt độ, gió…), che chắn cây trồng tránh khỏi dịch hại và bệnh cây (Hanan và cộng sự, 1978)
Nhà lưới tại Việt Nam chủ yếu làm bằng vật liệu lưới trắng Ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh, trong 10 năm diện tích canh tác rau trong nhà lưới đã phát triển đến gần 200ha Mặc dù chưa hoàn thiện nhưng đã nói lên xu thế phát triển của nhà lưới Tại tỉnh Lâm Đồng, chỉ riêng thành phố Đà Lạt cũng đã phát triển hàng ngàn ha rau trong nhà lưới Định hướng phát triển trong năm tới là 3.000ha Tỉnh Bình Dương là tỉnh có tốc độ công nghiệp hóa cao cũng đang phát triển 100ha rau trong nhà lưới (Báo cáo liên kết sản xuất và tiêu thụ rau an toàn 12 tỉnh, 2010) Việc phát triển nhà lưới trồng rau là xu thế tất yếu trong việc sản xuất sản phẩm an toàn và sản xuất giống chất lượng cao trong điều kiện biến đổi khí hậu và đô thị hóa các vùng sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, dạng nhà lưới hiện nay chủ yếu vẫn là nhà lưới hở do không được đầu tư và phục hồi đúng mức
2.3 Các loại dịch hại trong nhà lưới
Hiện nay, khó khăn lớn nhất trong việc áp dụng rộng rãi hệ thống nhà lưới chính là sự phát triển của dịch hại Nếu không chú ý ngay từ đầu, dịch hại sẽ gây thiệt hại lớn với tốc độ rất nhanh Do đó cần phải có những phương pháp hữu hiệu cũng như
nỗ lực nhằm ngăn chặn sự lây nhiễm và phát triển của dịch hại Một trong những loài gây hại chủ yếu hiện nay là bọ phấn, nhện, rầy mềm, dòi đục lá… và biện pháp dùng thiên địch để khống chế sâu hại được xem là một trong những giải pháp tối ưu nhất hiện nay
Trang 20Bọ phấn trắng: loài côn trùng này có tính kháng thuốc rất cao, nhất là loài
Bemisia tabaci vốn được xem là Q-biotype, có thể kháng với hầu hết thuốc BVTV, do
đó đặc biệt cần đến sự kiểm soát của loài thiên địch để hạn chế sự lây lan của chúng Hiệu quả kiểm soát chúng trong những năm gần đây trong nhà kính đã được ghi nhận
thông qua các loài ong kí sinh như Encarsia formosa Thành trùng ong kí sinh đẻ trứng
lên ấu trùng của bọ phấn Trứng nở thành ấu trùng và sử dụng nguồn dinh dưỡng bên trong của ấu trùng bọ phấn để phát triển cho đến khi hóa nhộng rồi vũ hóa bay ra Nhiệt độ thích hợp cho hoạt động của ong kí sinh là 21,5 - 270 C và ẩm độ là 50-80% Tuy nhiên trên cà chua, hiệu quả phòng trừ của loài ong này tương đối giảm sút do các lông tơ trên lá làm giảm mức độ tìm kiếm cũng như kí sinh lên ấu trùng bọ phấn của
ong Một loại ong khác là Eretmocerus eremicus Loài ong này kiểm soát bọ phấn
bằng 2 cách: kí sinh và ăn thịt Thành trùng cái ngoài việc đẻ trứng lên ấu trùng bọ
phấn nó còn có khả năng ăn ấu trùng của bọ phấn Ngoài ra còn có ong kí sinh E mundus Hiệu quả kiểm soát của chúng cao hơn so với E eremicus do không phụ
thuộc vào điều kiện nhiệt độ môi trường
Bọ trĩ Frankliniella occidentalis: Đối tượng dịch hại này rất khó kiểm soát và
là một trong những dịch hại phổ biến trong nhà lưới Một trong những phương pháp
hiện nay là dùng loài săn mồi như bọ xít bắt mồi Orius sp Ngoài ra loài nhện săn mồi Ambylseius swirskii cũng được xem là tác nhân hiệu quả trong việc kiểm soát mật số
bọ trĩ Bên cạnh đó, các nghiên cứu cho thấy có thể dùng nấm kí sinh Beauveria bassiana do nó không chỉ hiệu quả trên bọ trĩ mà còn trên các loài sâu hại khác như bọ
phấn, rầy mềm và rệp sáp
Nhện đỏ Tetranychus urticae: thường gọi là nhện 2 chấm Nó còn được biết
đến bằng tên nhện hại nhà lưới, nhện vàng Là loài ăn tạp được tìm thấy trên 150 loại cây kí chủ khác nhau và tấn công trên 300 loài cây trong nhà lưới (Jeppson và cộng sự, 1975) Một trong những loài thiên địch phổ biến nhất hiện nay là nhện săn mồi (mite)
Phytoseiulus persimilis, nó có khả năng kiểm soát nhện 2 chấm ngay khi cá thể nhện
này vừa xuất hiện do khả năng di chuyển linh hoạt và to hơn nhện 2 chấm Ngoài ra
còn có một số nhện săn mồi khác như Galendromus occidentalis, Neoseiulus californicus, và Amblyseius fallacis Tuy nhiên mỗi loài cần có một điều kiện không
gian và nhiệt độ khác nhau
Trang 21Ruồi Fungus gnats (Bradysia spp.): các loài thiên địch phổ biến như nhện
Hypoaspis miles, tuyến trùng Steinernema feltiae, bọ cánh cứng Atheta coriaria và vi khuẩn Bacillus thuringiensis var israelensis Các loài thiên địch này chủ yếu tấn công
ruồi Fungus gnats giai đoạn ấu trùng, làm chúng giảm mật số ngay từ đầu Ngoài ra có
thể dùng ruồi săn mồi Coenosia attenuata khi ruồi Fungus gnats đã phát triển thành
thành trùng
Rầy mềm (Aphid spp.): loài dịch hại này là đối tượng dễ dàng bị tấn công bởi
nhóm kí sinh và săn mồi Thông thường, nhóm côn trùng kí sinh cho hiệu quả kiểm soát loài dịch hại này tốt hơn loài săn mồi Tuy nhiên trong một số trường hợp khi điều kiện môi trường ấm lên, mật số rầy mềm tăng nhanh sẽ làm cho việc kiểm soát sinh
học kém hiệu quả Các loài thiên địch thường sử dụng như bọ rùa Hippodamia convergens, Adalia bipunctata, bọ cánh lưới Chrysoperla rufilabris, nấm kí sinh Beauveria bassiana
Ruồi đục lá Liriomyza spp Những thiên địch chủ yếu dùng để kiểm soát mật
số loài dịch hại này là ong kí sinh Dacnusa sibirica và Diglyphus isaea
Rệp sáp Planococcus citri và Pseudococcus adonidum: các loài thiên địch chủ
yếu thuộc nhóm kí sinh như Leptomastix dactylopii Đối với loài P adonidum thì nhóm thiên địch săn mồi như bọ rùa Cryptolaemus montrouzieri tỏ ra hiệu quả hơn
Rệp vảy Diaspididae và Coccus hesperidum: Do các loài rệp này có lớp vảy
phủ bên ngoài, nên việc chọn lựa các loài côn trùng thiên địch sẽ hạn chế hơn Hiện tại chỉ mới tìm thấy 2 loài thiên địch hữu hiệu thuộc nhóm săn mồi là bọ cánh lưới
Chrysoperla spp và bọ rùa Rhyzobius lophanthae
Ấu trùng bộ cánh vảy: Hiện tại loại thiên địch chủ yếu và phổ biến nhất là vi
khuẩn Bacillus thuringiensis var kurstaki Sau khi ăn phải vi khuẩn này khoảng 48 giờ,
ấu trùng ngưng ăn và chết
2.4 Vai trò của bọ xít săn mồi trong IPM và đấu tranh sinh học
Đấu tranh sinh học là 1 hợp phần của IPM, do các thiên địch như loài ăn mồi, loài kí sinh, nấm bệnh có vai trò như một tác nhân quan trọng Trong nhóm các loài săn mồi, bọ xít săn mồi có một vị trí quan trọng Những nghiên cứu trước đây đều cho thấy rằng bọ xít ăn mồi, dù là giai đoạn ấu trùng hay thành trùng đều có khả năng tiêu thụ một lượng con mồi khá lớn Chúng cũng được xem là một đối tượng có nhiều triển
Trang 22vọng trong các chương trình Quản lí dịch hại tổng hợp (IPM) (Ambrose, 1999, 2003) Các nghiên cứu trong phòng và ngoài đồng đều cho thấy chúng có thể khống chế hơn
18 loài sâu hại bộ cánh vảy, một số sâu hại bộ cánh cứng và cánh nửa cứng (Ambrose, 1999; Sahayaraj, 2003) Chúng thường xuất hiện ở những nơi khô, ít mưa hay những nơi có nhiệt độ và ẩm độ ở mức trung bình (Sahayaraj, 2007)
Các loài bọ xít săn mồi thường mang tính đa hình, sâu hại do chúng tấn công không mang tính chuyên biệt nên chúng có khả năng kiểm soát nhiều loại sâu hại khác nhau, từ đó giảm thiểu mật số sâu hại trên ruộng (Sahayaraj, 2004) Các nghiên cứu và ghi nhận tại Ấn Độ cho thấy bọ xít săn mồi có một vai trò quan trọng trong việc khống chế sâu hại trong tự nhiên, đồng thời là một yếu tố quan trọng trong quá trình đấu tranh sinh học ở những vùng dễ phát sinh dịch hại (Sahayaraj, 2006) Theo kết quả khảo sát của Ragupathy và Sahayaraj (2002), trong số các loài trong họ bọ xit bắt mồi thì các loài thuộc giống Rhynocoris hiện diện nhiều nhất, và chúng chủ yếu xuất hiện ở những nơi có nhiều các loài sâu hại như ở hệ thống cây trồng nông nghiệp, cây bụi và cây rừng Thống kê cũng cho thấy có hơn 65 họ bọ xít bắt mồi được tìm thấy, ở rộng rãi các hệ thống cây trồng khác nhau như bông vải, mía đường, lúa mì và hệ thống cây
họ đậu (Sahayaraj, 1999, 2007)
2.5 Giới thiệu chung về bọ xít Rhynocoris fuscipes Fabricius
2.5.1 Vị trí trong hệ thống phân loại
Bộ (Order): Bộ cánh nửa - Hemiptera
Họ (Family): Bọ ăn thịt – Reduviidae
Chi (Genus): Rhynocoris
Loài (species): Rhynocoris fuscipes Fabricius
Rhynocoris (hay còn được gọi là Rhinocoris) là một giống bọ xít thuộc họ bọ
xít ăn mồi (Reduviidae), bộ cánh nửa cứng, là một giống tiêu biểu của họ Reduviidae - một họ lớn trong bộ phụ Heteroptera Đã có khoảng 150 loài được ghi nhận, chúng phân bố gần như khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là khu vực rừng rậm hay rừng mưa nhiệt đới Một số loài cá biệt được tìm thấy ở Sitka và Alaska Hiện diện trên nhiều hệ thống cây trồng nông nghiệp như bông vải, thuốc lá, đậu phộng, đậu nành, đậu garbanzo, cà chua và là thiên địch tự nhiên của hơn 20 loài sâu hại khác nhau trong đó chủ yếu là ấu trùng bộ cánh vảy (Sahayaraj, 1995)
Trang 23Kích thước trung bình của thành trùng giống Rhynocoris khoảng 10-15 mm Con cái thường to hơn con đực và có phần bụng căng phồng Đốt râu đầu tiên ngắn hơn đầu Có mắt đơn Chân có lông tơ nhằm giúp chúng trụ vững hơn khi tấn công con mồi Móng bàn chân có răng cưa hoặc có phần phụ chi Phần đầu hơi thuôn dài Miệng
phân hóa thành kiểu miệng hút với một ống dài gọi là rostrum, được dùng để chích và
truyền chất độc làm tê liệt trước khi chúng hút dịch từ con mồi
Trứng được đẻ thành khối, có một lớp dịch trong suốt bao phủ bên ngoài giúp chúng dính vào thân cây, đá Màu sắc, kích thước và số lượng trứng thay đổi đa dạng tùy theo từng loài khác nhau Ấu trùng trải qua 5-6 tuổi trước khi trưởng thành và phát triển mạnh vào những tháng hè (Ross H Arnett, 2000)
Các nghiên cứu cho thấy giống Rhynocoris, có một vai trò quan trọng và là tác nhân chủ yếu trong đấu tranh sinh học do nó có khả năng ăn gần 20 loài sâu hại khác
nhau Saharayaj (1999) cho biết Rhynocoris marginatus có khả năng làm giảm đáng kể
sự phá hại của 2 loài sâu đa thực là Spodoptera litura và Heliothis armigera trên các
ruộng đậu Việc nghiên cứu về giống bọ xít này đã được thực hiện khá nhiều ở một số nước như Ấn Độ, Ukraine và một số nước Mỹ Latin, sẽ tạo cơ sở trong việc áp dụng chúng trong lĩnh vực đấu tranh sinh học
R fuscipes thuộc nhóm bọ xít săn mồi, trên thân có 2 màu đen và đỏ, ấu trùng
trong tự nhiên thường có thói quen lẩn trong đất đá (Ambrose, 1987) Thành trùng là
loài đa thực, có khả năng tấn công và ăn nhiều loại sâu hại khác nhau như H armigera,
C cephaionica, A janata, P xylostella, S litura, Myzus Persica, L hespes, V punctata, R opaipa, F lucas, S pervolagata, đồng thời những thí nghiệm về hiệu quả
kiểm soát sâu hại, tác động của sâu hại đến sinh trưởng và phản ứng chức năng của loài này cũng được tiến hành nghiên cứu rất nhiều (Singh, 1985)
2.5.2 Các nghiên cứu trên thế giới về bọ xít Rhynocoris
Hiện đã có khoàng 150 loài thuộc giống Rhynocoris được ghi nhận Một số loài
tương đối phổ biến như: R albopilosus, R albopunctatus, R iracundus, R kumarii, R leucospilus, R marginatus, R tristis và R ventralis
(Nguồn:http://en.wikipedia.org/wiki/Rhynocoris)
Trang 24Theo Djamin (1998) khi nghiên cứu các đặc tính sinh học trên loài R fuscipes
đã ghi nhận rằng loài này có đặc tính ăn thịt lẫn nhau trong suốt giai đọan phát triển ấu trùng Vòng đời trung bình 40 ngày khi nuôi trên thức ăn là sâu khoang
Sahayaraj (1999) cho thấy khi phóng thích 5000 cá thể R marginatus và R spp
trên mỗi ha ruộng đậu phộng có khả năng làm giảm đáng kể sự gây hại của sâu khoang
và sâu xanh, giúp năng suất có thể tăng 182% so với đối chứng
Ambrose và Anto (1999) nhận thấy rằng khi nhân nuôi bọ xít R marginatus
trong điều kiện có bổ sung vật liệu lá cây hoặc chồi cây tươi sẽ có tác dụng kích thích khả năng đẻ trứng, tăng số lượng trứng đẻ cũng như rút ngắn thời kì trước đẻ trứng của thành trùng cái
Sahayaraj (1999) khi tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng tuổi con mồi đến khả
năng săn mồi của bọ xít R marginatus trên 4 đối tượng sâu hại trên ruộng đậu là Amsacta albistriga Walk., Aproaerema modicella Deventer, H armigera (Hub.) và Spodoptera litura Fab đã thấy rằng ở mỗi độ tuổi và kích thước, bọ xít có xu hướng
tấn công con mồi có độ tuổi và kích thước tương ứng
Ambrose (2000) khi theo dõi khả năng kiểm soát sinh học của bọ xít R marginatus giai đoạn ấu trùng tuổi 4 trên đối tượng sâu hại Clavigralla gibbos và Hieroglyphus banian cho thấy kiểu phản ứng chức năng của ấu trùng này có dạng 2
theo công thức Holling Kết quả còn cho thấy khả năng kiểm soát con mồi càng cao khi mật số con mồi gia tăng
Sahayaraj (2003) khi dùng R marginatus trong thí nghiệm phòng trừ Aphis craccivora Koch trên ruộng đậu phộng ở Ấn Độ đã kết luận rằng ấu trùng bọ xít tuổi 1,
2 và 3 đều có khả năng ăn một lượng lớn Aphid trong khi ở thành trùng là không đáng
kể Thí nghiệm này cho thấy ấu trùng bọ xít có thể được nhân nuôi sinh khối hàng loạt
và được ứng dụng trong IPM như một tác nhân quan trọng trong việc phòng trừ Aphid
Sahayaraj (2003) trong báo cáo về kết quả điều tra về thành phần sâu hại và thiên địch của chúng trên ruộng đậu phộng tại Tamil Nadu, Ấn Độ cho biết trong số
các loài thiên địch ghi nhận được, có sự hiện diện của 2 loài R marginatus và R longifrons Sự chọn lựa thức ăn của chúng cũng đặc trưng theo loài: trong khi R marginatus ăn các loại sâu hại như S litura và H armigera thì R longifrons lại ưa thích Aphid craccicova Loài R kumarii sau đó cũng đã được đưa vào áp dụng trên
Trang 25một số khu vực lân cận nhằm giảm bớt chi phí thuốc trừ sâu cho nông dân
Claver và ctv (2003) đã thử nghiệm khả năng phòng trừ sinh học của R kumarii
Ambrose and Livingstone ở tuổi trên ruộng bông vải tại Agricultural College Farm,
Killikulam, Nam Ấn Độ đối với loài sâu hại H armigera đã cho thấy sự phá hại của
sâu giảm đi nhiều cũng như chất lượng bông thu được tốt hơn hẳn so với đối chứng
Sahajara và ctv (2006) nghiên cứu chất độc tiết ra từ loài bọ xít R marginatus
khi dùng để vô hiệu hóa con mồi cho biết có thể dùng nó để điều chế thuốc kháng
khuẩn Theo đó nó có khả năng kháng được 4 loại vi khuẩn Gram âm là E coli, Pseudomonas aeruginosa, Proteus vulgaris, Salmonella typhimurium và 1 vi khuẩn Gram dương là Streptococcus pyogenes
Sahayaraj (2008) khi nghiên cứu vai trò của mùi con mồi đến sự tác động qua
lại giữa con mồi – thiên địch giữa bọ xít R marginatus trên 3 đối tượng sâu hại là Spodoptera litura, Helicoverpa armigera (Lepidoptera, Noctuidae) và Mylabris pustulata (Coleoptera, Meloidae) đã nhận thấy rằng S litura và H armigera được ưa
thích nhất do mùi của chúng tiết ra có tác dụng thu hút bọ xít (62,5% và 60%) và cũng
mẫn cảm với chất độc do R marginatus tiết ra khi tấn công con mồi trong khi Mylabris pustulata lại kém mẫn cảm và kém ưa thích hơn
Ambrose và ctv (2008) khi nghiên cứu khả năng săn mồi của ấu trùng tuổi 4, 5
và thành trùng bọ xít R kumarii Ambrose and Livingstone và R marginatus (Fabricius) trên đối tượng Euproctis fraterna (Moore) đã nhận thấy các pha phát triển
của bọ xít phụ thuộc vào mật số của sâu được thả vào trong mỗi thí nghiệm Khả năng săn mồi của bọ xít có dạng 2 phản ứng Holling Đồng thời khi có sự tác động của thuốc trừ sâu thì khả năng săn mồi của loài bọ xít này giảm xuống rõ rệt
Saharayaj và ctv (2009) nghiên cứu sự ưa mồi của bọ xít R marginatus trong điều kiện phòng thí nghiệm trên 3 đối tượng D cingulatus , S litura và C cephalonica ở các độ tuổi ấu trùng khác nhau Kết quả cho thấy R marginatus tấn công chủ yếu ấu trùng S litura, kế đến là D cingulatus và sau cùng là C cephalonica,
và trong cùng loại mồi, bọ xít có xu hướng tấn công con mồi ở độ tuổi nhỏ hơn
Những nghiên cứu của Chandral (2009) về khả năng săn mồi của bọ xít R
thấy bọ xít này có khả năng làm giảm bớt số lượng sâu hại, thông qua việc bọ xít giết
Trang 26nhiều sâu hại hơn khi mật số sâu tăng lên Giữa số sâu bị giết và mật số sâu hại luôn diễn ra theo mối tương quan thuận
Thí nghiệm về khả năng kiểm soát aphid trên ruộng đậu của bọ xít R kumarii
cho thấy việc kiểm soát chỉ có hiệu quả khi bọ xít ở giai đoạn tuổi nhỏ Sự biến động trong khả năng kiểm soát aphid của bọ xít ở tuổi 3 và 4 là rất nhiều Kết quả cho thấy khi mật số aphid gia tăng thì khả năng kiểm soát của bọ xít cũng tăng theo, đồng thời thời gian tìm kiếm con mồi giảm xuống Ấu trùng tuổi 4 cho hiệu quả kiểm soát aphid cao nhất Ở giai đoạn tuổi 5 và thành trùng hầu như quá trình này không đáng kể Tỉ lệ kiểm soát aphid cao nhất của loài bọ xít này là 1 : 75 (Sahayaraj, 2010)
Ambrose (2009) nghiên cứu tác động của tuổi ấu trùng D cingulatus đến đặc tính săn mồi của bọ xít săn mồi R marginatus nhận thấy đường biểu diễn quá trình
phản ứng chức năng của loài bọ xít này đi theo dạng II của Holling Khả năng kiểm soát con mồi của bọ xít càng hữu hiệu hơn đối với những con mồi có tuổi nhỏ hơn
2.6 Giới thiệu chung về ngài gạo Corcyra cephalonica Stainton
2.6.1 Giới thiệu về ngài gạo Corcyra cephalonica Stainton
Ngài gạo có tên khoa họa là Corcyra cephalonica, là ấu trùng thuộc họ ngài
sáng Pyralidae Trứng có dạng hình oval, kích thước 0,5 x 0,3 mm, bề mặt có vân và
có núm ở phía cuối trứng Ấu trùng màu trắng sữa với các lỗ thở ở mỗi đốt dày lên ở phía sau như hình liềm Nhộng trần có màu vàng Con cái thân dài 7 – 11 mm, trung bình cánh dài 19 mm Con đực thân dài 6 – 9 mm, trung bình cánh dài 17 mm
Sau khi vũ hóa, ngài bắt cặp và đẻ trứng Thời gian đẻ trứng khoảng 5 ngày, thường đẻ trứng ban đêm và đẻ quả một Một con cái trong đời đẻ trung bình 156 trứng Thời gian sâu non 46 – 56 ngày, Ấu trùng trải qua 5 tuổi và không ghi nhận có dạng tiềm sinh (Lê Thị Thanh Phượng, 2003)
Hiện nay sâu gạo được nhân nuôi và dùng nhiều trong các thí nghiệm sinh học trong điều kiện phòng thí nghiệm Các nghiên cứu cho thấy trứng ngài gạo là nguồn vật liệu rất tốt cho việc kí sinh của các loài ong thuộc giống Trichogramma (Bernardi
và ctv, 2002, Senthil và ctv, 2006, Jalali và ctv, 2007) và ong Chelonus blackburni Cameron (Paul và ctv, 2009) Đồng thời ấu trùng ngài gạo là nguồn vật liệu phổ biến trong nhân nuôi các loài thiên địch như bọ xít bắt mồi, bọ cánh lưới… (Shahayaraj và ctv, 2002, Kumar và ctv, 2007, Paul và ctv, 2009)
Trang 27Trong tự nhiên, ngài gạo bị tấn công bởi nhiều loài ong kí sinh Trứng ngài gạo
bị kí sinh bởi ong mắt đỏ Trichogramma sp., ấu trùng bị tiêu diệt bởi nhiều loại ong thuộc họ Braconidae, trong đó có loài B hebetor Say họ Bethylidae và họ
Ichneumonidae Ngoài ra ngài gạo còn bị kiểm soát bởi các loài kí sinh và thiên địch
khác như: nhện (Blattisocius), bọ xít (Xylocoris flavipes, Amphibolus venator), vi khuẩn (Bacillus thuringiensis), nấm và NPV (Lê Thị Thanh Phượng, 2003)
2.6.2 Một số nghiên cứu dùng ngài gạo làm vật liệu thí nghiệm
Russell và ctv (1980) nghiên cứu về sự phát triển của sâu gạo trên hạt kê và lúa miến ở 280C với nhiều mức ẩm độ khác nhau Kết quả cho thấy thời gian sinh trưởng
cá thể cái luôn dài hơn thời gian sinh trưởng cá thể đực, và ẩm độ càng thấp thì thời gian sinh trưởng càng kéo dài, tuy nhiên đối với pha nhộng thì gần như không bị ảnh hưởng Thí nghiệm cũng cho thấy ẩm độ càng thấp thì trọng lượng cá thể cũng như độ sải cánh cũng giảm đáng kể
Singh và ctv (1989) khi dùng ngài gạo làm vật liệu để nhân sinh khối bọ cánh
lưới Chrysoperla carnea nhận thấy rằng ngài gạo làm tăng thời gian của pha ấu trùng
và nhộng Do đó nếu xét trên tính thực tiễn thì ngài gạo không phải là nguồn nguyên liệu thật sự phù hợp để nhân nuôi loại thiên địch này
Ananthakrishnan và ctv (1991) khi nghiên cứu về tác động của hỗn hợp kairomone do ngài gạo và ngài sâu xanh tiết ra cho thấy nó có tác động tích cực đến sự
kí sinh của ong Trichogramma chilonis và kết quả này tạo nền tảng cho việc sử dụng
vật liệu trên để kích thích nhân tạo sự kí sinh của ong lên trứng sâu hại
Theo Bernardi và ctv (2000) khi nghiên cứu sử dụng trứng sâu gạo làm nguồn
vật liệu cho sự kí sinh của ong Trichogramma, nhận thấy khi cho sâu gạo ăn những
loại thức ăn bao gồm hỗn hợp mầm lúa mì+men và cám gạo+đường+men thì sự sinh trưởng của ngài gạo là tốt nhất Nó làm tăng sức sống và tuổi thọ thành trùng cũng như khả năng đẻ trứng ở thành trùng cái do đó làm tăng tỉ lệ kí sinh của ong
Theo Shahayaraj và ctv (2002) khi nhân sinh khối bọ xít Rhynocoris marginatus lần lượt với sâu gạo Corcyra cephalonica đã được nuôi bằng bột lúa mì,
lúa miến và cám gạo thì kết quả cho thấy sâu gạo khi nuôi bằng lúa miến và cám gạo
có thể làm ngắn vòng đời bọ xít có ý nghĩa so với khi nuôi bằng bột lúa mì Không
Trang 28những vậy, nó còn có tác dụng kéo dài thời gian sống và làm tăng trọng lượng của thành trùng
Nathan và ctv (2006) nghiên cứu sự tác động của thức ăn đến quá trình kí sinh của ong Trichogramma chilonis đến trứng sâu gạo khi được nuôi bằng nhiều loại ngũ cốc khác nhau đã cho thấy rằng với những sâu được nuôi bằng loại thức ăn càng nhiều dinh dưỡng, thì trứng của chúng sau này càng dễ dàng thu hút sự kí sinh của ong
Jalali và ctv (2007) nghiên cứu về khả năng kí sinh của ong Trichogramma spp
lên trứng sâu gạo được bảo quản trong điều kiện chân không nhận thấy rằng với trứng sâu gạo được trữ càng lâu thì mức độ kí sinh có xu hướng giảm Trứng sâu gạo được trữ thông qua quá trình hút chân không và bảo quản ở áp suất 500 Hg−1 và nhiệt độ
8 ± 1 °C cho thấy có khả năng làm gia tăng mức độ kí sinh so với trứng giữ ở điều kiện thường Thí nghiệm này mở ra một hướng ứng dụng mới trong việc dùng trứng ngài gạo làm kí chủ cho các loài kí sinh
Kumar và ctv (2007) khi dùng ngài gạo làm vật liệu nhân nuôi loài bọ xít thiên
địch Eocanthecona furcellata đã đưa ra số liệu chi tiết cho từng giai đoạn sinh trưởng,
cụ thể là thời kì ủ trứng kéo dài 8,25 ngày, thời kì ấu trùng khoảng 12-17 ngày, tuổi thọ thành trùng đực và cái lần lượt là 11,62 và 22,12 ngày Thời gian trước bắt cặp là 6 ngày, thành trùng sau khi bắt cặp 11,35 giờ thì đẻ trứng Số trứng trung bình ở mỗi con cái là 241,62 trứng Như vậy thời gian sống trung bình của con đực và cái lần lượt là 26,12 và 36,62 ngày
Sandhya (2009) khi nghiên cứu chiết xuất của 3 loại thực vật là Na (Annona squamosa), cây đoản kiếm (Tephrosia purpurea) và cây Xương bồ (Acorus calamus)
nhằm đánh giá khả năng phòng trừ sâu hại mà bước đầu là thử nghiệm trên đối tượng
sâu gạo trong phòng thí nghiệm Kết quả cho thấy chiết xuất từ hạt Annona squamosa cho khả năng phòng trừ cao nhất và cây Tephrosia purpurea thể hiện khả năng phòng trừ kém nhất Những nghiên cứu có liên quan cũng cho thấy Annona squamosa, và Acorus calamus hoàn toàn có triển vọng trong việc sử dụng làm nguyên liệu trong việc
sản xuất thuốc trừ sâu sinh học
Trang 292.7 Giới thiệu chung về sâu khoang Spodoptera litura Fabricius
2.7.1 Giới thiệu về sâu khoang Spodoptera litura Fabricius
Sâu khoang có tên khoa học là S litura, là ấu trùng thuộc họ ngài đêm
Noctuidae Thành trùng là 1 loài ngài màu nâu đen có chiều dài thân khoảng 25mm, sải cánh rộng từ 35-45mm, cánh trước có màu nâu vàng Thành trùng sống từ 1 – 2 tuần tùy theo điều kiện thức ăn Trung bình 1 bướm cái có thể đẻ 300 trứng, hoặc
20-từ 900 – 1200 trứng nếu gặp điều kiện thích hợp Thời gian đẻ trứng trung bình kéo dài
5 – 7 ngày, đôi khi là 10 hoặc 12 ngày
S. litura là một trong những loài gây hại phổ biến, chúng có đến hơn 112 kí chủ
khác nhau và những kết quả ghi nhận thực tế cho thấy khả năng kháng thuốc của chúng cũng rất cao (Munir và ctv, 2009) Chúng có khả năng kháng với nhiều loại
thuốc trừ sâu như organophosphorus, carbamates, pyrethroid và cả Bacillus thuringiensis (Bt) (Zhou và ctv, 2002) do nó nó luôn là một trong những đối tượng
được chọn nghiên cứu trong các thí nghiệm thuốc trừ sâu và trong các thí nghiệm về đấu tranh sinh học
2.7.2 Một số thí nghiệm sử dụng sâu khoang Spodoptera litura làm vật liệu nghiên
bọ xít tuổi lớn
Tabasa (1991) khi nghiên cứu đặc tính sinh học và khả năng ăn mồi của bọ xít
Eocanthecona furcellata trên đối tượng sâu khoang Spodoptera litura đã nhận thấy số
sâu khoang bị kiểm soát bởi các độ tuổi ấu trùng chênh lệch khá cao và rất có ý nghĩa
Ấu trùng đực và ấu trùng cái ở cùng độ tuổi thì khả năng kiểm soát sâu hại không khác
Trang 30nhau, nhưng có một sự chênh lệch ý nghĩa trong khả năng kiểm soát sâu giữa thành trùng đực và thành trùng cái Thành trùng cái có khả năng kiểm soát sâu hại tốt hơn thành trùng đực và tổng số sâu mà mỗi thành trùng cái tiêu thụ trong suốt cả thời gian sống cũng nhiều hơn so với thành trùng đực Phản ứng chức năng của loài thiên địch này cũng là kiểu phản ứng dạng 2 Holling
Ambrose (1997) nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và tốc độ sinh sản của
loài bọ xít R fuscipes khi được nuôi lần lượt với các loài sâu hại như Spodoptera litura, Earias vittella và Corcyra cephalonica trong điều kiện phòng thí nghiệm đã cho
thấy sự sinh trưởng và phát triển của bọ xít này phụ thuộc nhiều vào đối tượng sâu hại
được cho ăn Kết quả thí nghiệm cho thấy ấu trùng Spodoptera litura là phù hợp nhất,
do nó giúp rút ngắn tổng thời gian sinh trưởng của ấu trùng bọ xít, đồng thời làm tăng khả năng đẻ cũng như gia tăng thời gian sống của thành trùng so với khi được nuôi với
2 loại ấu trùng còn lại
Ambrose (1997) dùng ấu trùng sâu khoang Spodoptera litura để làm vật liệu
nghiên cứu về khả năng săn mồi của bọ xít Rhynocoris fuscipes thông qua phản ứng
chức năng và phản ứng số lượng đã nhận thấy phản ứng chức năng loài này có dạng 2 theo phương trình Holling Khi mật số con mồi tăng, nó có xu hướng làm giảm thời gian tiêu tốn cho mỗi con mồi và đồng thời làm tăng mức độ săn mồi của bọ xít Số con mồi bị tấn công mỗi ngày tăng lên khi mật số con mồi gia tăng thể hiện tiềm năng của loài này trong đấu tranh - kiểm soát sinh học Ở mật số con mồi thấp, thời gian trước đẻ trứng của con cái có xu hướng dài hơn Khi mật số con mồi gia tăng, nó không có ảnh hưởng nào đến thời gian sinh trưởng và phát dục của tuổi 4, tuy nhiên nó
có thể rút ngắn rõ rệt thời gian sinh trưởng của tuổi 5, đồng thời làm tăng khả năng đẻ trứng của thành trùng
Djamin và ctv (1998) dùng ấu trùng sâu khoang Spodoptera litura làm vật liệu
để nghiên cứu quá trình sinh trưởng và phát dục của bọ xít Rhinocoris fuscipes Kết
quả cho thấy loài bọ xít này có xu hướng ăn thịt lẫn nhau ở tất cả các pha sinh trưởng
và phát dục Ấu trùng trải qua 6 tuổi Khi được nuôi bằng sâu khoang, thời gian trung bình để một ấu trùng trở thành thành trùng khoảng 36,5 ngày Vòng đời của loài bọ xít này khoảng 40 ngày Khả năng săn mồi của loài này vào ban ngày tốt hơn so với ban đêm Kích thước con mồi phù hợp cho quá trình tìm kiếm của chúng là những ấu trùng
Trang 31có kích thước trung bình giai đoạn tuổi 1 và 2 Kết quả ghi nhận không có sự khác biệt giữa khả năng bắt mồi giữa con đực và con cái
Theo kết quả nghiên cứu của Ghelani (2000), Rhynocoris fuscipes là một đối
tượng tiềm năng trong đấu tranh sinh học và là tác nhân chính trong việc kiểm soát
mật độ ấu trùng Spodoptera litura và Heliothis armigera Một số thử nghiệm tác động
của thuốc hóa học và chiết xuất sinh học thực vật thường dùng trên ruộng thuốc lá đến
bọ xít này đã được tiến hành Kết quả cho thấy các loại thuốc trừ sâu tổng hợp như quinalphos, monocrotophos, endosulfan, methyl-o-demeton, phosphamidon,
chlorpyriphos và dimethoate – mà nhất là quinalphos đều có tác động bất lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của trứng và ấu trùng của bọ xít so với những loại thuốc được
chiết xuất từ thực vật như nicotine sulfate, chiết xuất Azadirachta indica, Niconeem và
Nimbecidine Hầu hết tỉ lệ chết của trứng và ấu trùng của loài bọ xít này đều nằm ở mức cao trong những thí nghiệm với thuốc hóa học
Ambrose và ctv (2001) dùng ấu trùng sâu khoang Spodoptera litura làm vật
liệu thí nghiệm khi nghiên cứu về sự tác động của mật độ sâu đến khả năng săn mồi
của bọ xít Rhynocoris kumarii khi bị bỏ đói ở các mức thời gian khác nhau Kết quả
cho thấy, bọ xít bị bỏ đói nhiều ngày có thời gian tấn công con mồi ngắn hơn, khả năng tấn công con mồi cao và thời gian cho việc tìm kiếm con mồi cũng nhiều hơn so với bọ xít bị bỏ đói 1 ngày Như vậy thời gian nhịn đói và mật độ con mồi có tác động lớn đến khả năng săn mồi của bọ xít này
Sahayaraj (2001) nghiên cứu sự tác động của thuốc trừ sâu sinh học Neem và
NPV đến khả năng sinh trưởng, phát triển và hoạt động ăn mồi của Rhynocoris marginatus trên đối tượng sâu hại Spodoptera litura bằng cách cho sâu tuổi 3 ăn lá có
tẩm 2 loại thuốc trên, sau đó đem tiếp xúc với bọ xít từ tuổi 1 đến thành trùng để đánh giá mức độ săn mồi và khả năng sống của chúng Kết quả cho thấy sức sống của cả ấu trùng và thành trùng bọ xít đều bị NPV tác động một cách rõ rệt trong khi hiện tượng này có phần yếu hơn đối với dầu Neem
Sahayaraj và Paulraj (2001) khi nhân nuôi Rhynocoris marginatus Fab trong điều kiện phòng thí nghiệm trên đối tượng sâu khoang Spodoptera litura Fab tuổi 3
cho biết tổng thời gian của các thời kì sinh trưởng, kể từ giai đoạn trứng đến thành trùng là 46.71±1.58 ngày Thành trùng cái sống lâu (128.04±8.48 ngày) so với thành
Trang 32trùng đực (82.84±11.09 ngày) Thành trùng cái có thể đẻ 405.28±22.15 trong suốt thời gian sống của mình
2.8 Tồn trữ thiên địch
2.8.1 Bảo quản và trữ lạnh thiên địch
Quá trình nhân sinh khối côn trùng và nhện (mites) nhằm kiểm soát các loài côn trùng gây hại đã có hơn 100 năm ở Trung Quốc và ở Hoa Kì quá trình này (Ferguson, 1990) Những thống kê tại Bắc Mỹ cho thấy có hơn 132 công ty, cung cấp hơn 120 loài thiên địch khác nhau, mà chủ yếu là côn trùng hoặc nhện (mites) (Hunter, 1994) Trong những giai đoạn cao điểm, một công ty có thể xuất 100 triệu ong kí sinh và 3 triệu bọ cánh lưới mỗi ngày (Ferguson, 1990) Nhằm đảm bảo số lượng thiên địch cần thiết cho việc phòng trừ dịch hại cũng như đáp ứng cho nhu cầu ứng dụng trong IPM, việc trữ lạnh được áp dụng như một phương thức làm gia tăng mật số đã được thử nghiệm từ hơn 60 năm qua bằng các công cụ làm lạnh (King, 1934, Hanna, 1935) Việc trữ lạnh côn trùng và nhện ở nhiệt độ thấp không chỉ đáp ứng số lượng mà còn đảm bảo tồn trữ thiên dịch trong thời gian dài, hoặc ứng dụng trong các nghiên cứu về gen hay đặc tính sinh lí côn trùng
Quá trình trữ lạnh luôn đứng trước vấn đề thời gian ủ và nhiệt độ ủ Tuy nhiên những nghiên cứu trên một số côn trùng cho thấy, ở cùng nhiệt độ ủ, trong khoảng thời gian ủ tối đa 10 ngày thì sẽ ít làm ảnh hưởng đến đặc tính sinh thái của côn trùng nhất (Leopold, 1998) Tùy vào hiện tượng sinh thái côn trùng, quá trình trữ lạnh có thể phân ra thành nhiều mức khác nhau như: ngủ đông (từ 100C trở lên), làm lạnh (từ 100C đến 00C) hoặc thậm chí là kết đông (dưới 00C)
Những kết quả về quá trình trữ lạnh cho thấy có một lượng lớn côn trùng có thể sống thông qua quá trình trữ lạnh Tuy nhiên, sức sống của chúng cũng bị tác động bởi thời gian và nhiệt độ ủ Do đó, tùy vào từng loại côn trùng sẽ có từng phương thức ủ khác nhau Ngoài ra quá trình ủ lạnh còn có thể áp dụng cho cả kí chủ hoặc con mồi làm vật liệu trong quá trình thí nghiệm
2.8.2 Một số nghiên cứu về trữ lạnh thiên địch
Coudron và ctv (2007) nghiên cứu về khả năng trữ lạnh của bọ xít Podisus maculiventris ở 2 mức nhiệt độ là 100C và 40C ở 2 trạng thái sinh lí no và đói Kết quả cho thấy tỉ lệ sống sau trữ lạnh ở mức 100C cao hơn ở 40C và bọ xít được cho ăn trước
Trang 33trữ lạnh có khả năng hồi phục tốt hơn Hơn nữa, khi trữ ở nhiệt độ 100C trong 4 tuần vẫn có thể giữ bọ xít còn sống cũng như duy trì khả năng sinh sản của cá thể cái
Coudron và ctv (2007) nghiên cứu khả năng trữ lạnh đối với Perillus bioculatus
ở 2 mức nhiệt độ là100C và 40C ở trạng thái no và đói, kết quả cho thấy ở mức 100C
và được cho ăn, có thể trữ bọ xít trong liên tục 3 tuần mà không làm ảnh hưởng đến đặc tính sinh học và vẫn đảm bảo tỉ lệ sống là cao nhất Khi được giữ ở nhiệt độ 260C, con cái tỏ ra nhạy cảm với nhiệt độ hơn con đực Khi so sánh về khả năng trữ lạnh của
Perillus bioculatus so với Podisus maculiventris thì kết quả cho thấy Podisus maculiventris có khả năng trữ lạnh tốt hơn
Trang 34Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học và khả năng nuôi tập trung
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Quá trình thu thập cá thể bọ xít được thực hiện tại trại thực nghiệm thuốc lá thuộc công ty TNHH một thành viên Viện KTKT thuốc lá Gò Dầu – Tây Ninh
Các thí nghiệm được thực hiện tại phòng thí nghiệm trường đại học Nông Lâm
Tp HCM
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 03/2010 đến tháng 04/2011
3.2.3 Điều kiện nghiên cứu
Thí nghiệm tiến hành ở điều kiện phòng thí nghiệm Nhiệt độ 290 + 2, ẩm độ 75% + 5 Thời gian chiếu sáng 12h/ngày
3.3 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
- Hộp nhựa để nuôi nhốt bọ xít, phía trên nắp khoét ô vào dán lại bằng vải voan
- Giấy thấm để lót đáy hộp, thuốc tím để vệ sinh hộp
- Vật liệu bảo quản gồm lọ thủy tinh nhỏ, cồn 70%, dao, kim kẹp, kéo, kính lúp soi nổi
- Đĩa petri, nhiệt kế
- Bìa nhựa cứng, kim bấm, bút lông, băng keo giấy
Trang 35- Vật liệu nuôi ngài gạo, sâu khoang: thau nhựa, nắp đậy có bọc lưới
- Cám gạo, hạt giống thuốc lá
- Phân bón, ly nhựa nhỏ, giá thể
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học và khả năng nuôi tập trung
của bọ xít R fuscipes
* Tạo nguồn thức ăn
Trứng ngài gạo được trộn vào cám gạo sau đó cho vào những thau nhựa, phía trên có nắp kẽm đậy kín để tạo môi trường thông thoáng cho sâu phát triển Ấu trùng hóa nhộng và vũ hóa sẽ bay lên bám lấy nắp đậy để bắt cặp và đẻ trứng ngay trên nắp Dùng cọ chải nhẹ thu lấy trứng để nuôi sâu non làm nguồn thức ăn lâu dài cho bọ xít Sâu gạo non chọn mang làm thức ăn sẽ được cố định phần đầu và ngực vào những tấm nhựa cứng và cho vào hộp nuôi bọ xít mỗi ngày Kích thước của sâu gạo non được chọn lựa sao cho phù hợp với kích thước bọ xít nhằm tạo sự thuận tiện cho việc ăn mồi của chúng
Hình 3.1 Nuôi ấu trùng sâu gạo làm
thức ăn nuôi bọ xít Hình 3.2 Chuẩn bị thức ăn cho bọ xít
Trang 363.4.1.1 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học bọ xít R fuscipes
Bọ xít được thu thập từ các ruộng thuốc lá vào giai đoạn tháng 3 đến tháng 4, sau đó mang về nuôi bằng các loại sâu nhỏ, đến khi chúng thành thành trùng thì tiến hành ghép cặp Thu lấy trứng vừa đẻ và đặt vào đĩa petri Bọ xít sau khi nở được tách riêng từng cá thể vào những hộp nhựa có kích thước 15 x 7 x 7 cm và được nuôi bằng sâu gạo non để theo dõi thời gian phát dục của các pha cơ thể Quan sát sự thay đổi hình thái và ghi nhận sự phát triển của ấu trùng bọ xít mỗi ngày cho đến khi chúng lột xác lần cuối Đồng thời giữ lại lớp vỏ của ấu trùng sau mỗi lần lột xác qua các giai đoạn phát triển để làm chuẩn cho việc phân loại độ tuổi Số mẫu theo dõi trong nội dung này là 30 cá thể cho các pha phát dục
* Nghiên cứu tuổi thọ và khả năng đẻ trứng của bọ xít R fuscipes
Bọ xít sau khi vũ hóa thành thành trùng được nuôi riêng trong những hộp nhựa
có kích thước 15 x 7 x 7 cm để theo dõi Tuổi thọ thành trùng Tuổi thọ thành trùng của
bọ xít được tính từ lúc bọ xít vừa lột xác thành thành trùng đến khi chết
Bọ xít cái trưởng thành sẽ được tách riêng để ghép cặp với thành trùng đực
trong những hộp nhựa riêng biệt Bên trong có đặt thức ăn, lá cây tươi và bông giữ ẩm
để tạo điều kiện thuận tiện cho quá trình bắt cặp Con cái sau khi bắt cặp sẽ được tách riêng vào từng hộp nhựa kích thước 15 x 7 x 7 cm để theo dõi Mỗi hộp nhựa đều được đặt bông thấm nước để giữ ẩm và lá cây tươi làm chỗ cho bọ xít đẻ trứng
Kiểm tra mỗi ngày và thu trứng ngay sau khi đẻ Sau mỗi lần bọ xít đẻ, ghi nhận thời gian và số trứng/ổ Trứng được xếp vào trong đĩa petri và theo dõi đến khi
nở Sau khi bọ xít cái chết dùng kim mổ bụng để đếm số trứng còn lại trong cơ thể bọ xít nhằm xác định số trứng/bọ xít
Chỉ tiêu – phương pháp theo dõi
- Số lần lột xác của ấu trùng, thời gian phát triển của của mỗi tuổi và vòng đời
của bọ xít R fuscipes
- Kích thước trứng, ấu trùng và thành trùng Được quan sát dưới kính hiển vi
Số mẫu quan sát cho mỗi giai đoạn là 15 mẫu
- Tỉ lệ thành trùng (%) = (∑bọ xít thành trùng/∑bọ xít ban đầu) x 100%
- Tỉ lệ thành trùng cái (%) = (∑thành trùng cái/∑bọ xít vũ hóa) x 100%
- Tỉ lệ thành trùng đực (%) = (∑thành trùng cái/∑bọ xít vũ hóa) x 100%
Trang 37- Tuổi thọ thành trùng đực và cái, tính từ lúc bọ xít lột xác thành thành trùng đến khi chết
- Thời gian trước đẻ trứng, tính từ khi bọ xít lột xác thành thành trùng cái đến khi đẻ trứng lần đầu tiên
- Thời gian sau đẻ trứng, tính từ khi bọ xít cái ngừng đẻ trứng đến khi chết
- Số lần đẻ trứng/bọ xít cái
- Số trứng trung bình/ổ
- Tỉ lệ nở (%) = (∑bọ xít non/∑trứng ban đầu) x 100%
- Thời gian giữa các lần đẻ
- Tổng số trứng/bọ xít cái, là tổng số trứng bọ xít cái đã đẻ với số trứng đếm được trong bụng sau khi chết
Lịch theo dõi
Theo dõi mỗi ngày
3.4.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ nuôi đến khả năng phát triển của bọ xít
Thí nghiệm nhằm tìm hiểu và đánh giá và so sánh khả năng sinh trưởng của bọ
xít khi được nuôi bằng ấu trùng C cephalonica trong điều kiện nuôi nhốt tập thể so
với khi nuôi cá thể
Bọ xít non nở cùng ngày được nuôi ở 3 mật độ khác nhau là 25, 50, 75 cá thể trong hộp nhựa kích thước 20 x 10 x 5 cm (tương đương 1000ml) và được cho ăn bằng sâu gạo sống Sâu gạo được thay mỗi ngày và số lượng sâu được duy trì bằng số lượng
bọ xít trong hộp nuôi
Ở mỗi mật độ nuôi, tiến hành theo dõi mỗi ngày để ghi nhận thời gian phát triển
và thời điểm lột xác của bọ xít Thu lấy lớp vỏ của ấu trùng khi chúng vừa lột xác, phân loại theo kích thước Dựa vào kích thước vỏ từ nội dung 3.4.1.1để xác định số bọ xít lột xác ở từng độ tuổi mỗi ngày, đồng thời ghi nhận diễn biến mật số của ấu trùng
bọ xít trong suốt thời gian phát triển Từ đó có thể so sánh sự phát triển của bọ xít khi nuôi tập trung với khi nuôi riêng lẻ từng cá thể
Thí nghiệm được tiến hành với 3 lần lặp lại ở mỗi mật độ
Trang 38Chỉ tiêu theo dõi
- Thời gian phát triển trung bình của ấu trùng theo từng độ tuổi = ∑thời gian sống của các ấu trùng ở một độ tuổi / ∑số ấu trùng lột xác ở độ tuổi đó
- Tổng thời gian lột xác của ấu trùng ở từng pha phát dục, là khoảng thời gian tính từ khi ấu trùng đầu tiên đến ấu trùng cuối cùng của cùng 1 độ tuổi hoàn tất lột xác (trình bày trong Phụ lục 1.2.3)
- Tỉ lệ lột xác trung bình mỗi ngày của ấu trùng (TLLX tb/n ), được tính bằng tỉ
lệ giữa % ấu trùng lột xác ở mỗi pha phát dục với tổng thời gian lột xác của ấu trùng ở pha phát dục đó
TLLX tb/n (%) = (số ấu trùng lột xác / số ấu trùng ban đầu) x 100% / tổng thời gian lột xác của ấu trùng ở độ tuổi đó
- Tỉ lệ sống của ấu trùng qua từng pha phát dục, được ghi nhận thực tế thông qua diễn biến mật số cá thể trong hộp nuôi nhốt mỗi ngày
- Tỉ lệ thành trùng (%) = (∑bọ xít thành trùng/∑bọ xít ban đầu) x 100%
- Tỉ lệ đực cái khi trưởng thành
Hình 3.3: Nuôi ấu trùng trong điều kiện
Trang 39Chuẩn bị nguồn sâu khoang làm vật liệu thí nghiệm
Thu thập sâu từ các ruộng thuốc lá nuôi trong những thau nhựa bằng lá thuốc lá tươi, có nắp đậy phía trên Lá tươi được thay mỗi ngày Sâu non khi đến giai đoạn nhộng sẽ được tách ra cho vào lồng gỗ kích thước 45 x 4 5x 45 cm, trong có để sẵn bông thấm mật ong 10% để thành trùng ăn thêm và để cây thuốc lá con làm chỗ cho ngài đẻ trứng Ấu trùng khi nở sẽ được lấy ra nuôi trong những thau nhựa bằng lá thuốc lá Sâu được nuôi đến tuổi 2 (chọn sâu có kích thước 9-10mm) thì mang làm vật liệu thí nghiệm
Phương pháp tiến hành
Bọ xít được dùng trong thí nghiệm gồm bọ xít ở các giai đoạn ấu trùng tuổi 4,
ấu trùng tuổi 5, thành trùng đực, thành trùng cái và thành trùng cái đã qua bắt cặp Các
cá thể này được cho vào những hộp nhựa kích thước 15 x 7 x 7 cm, sau đó tiến hành thả sâu khoang tuổi 2 vào để theo dõi khả năng tấn công con mồi của bọ xít Số lượng sâu tăng dần theo bố trí ở bảng 3.1 và được duy trì cố định mỗi ngày, liên tục trong suốt thời gian thí nghiệm Thí nghiệm được tiến hành với 3 lần lặp lại ở mỗi nghiệm thức, tiến hành trong 5 ngày liên tục đối với bọ xít tuổi 4 và 5 và 7 ngày đối với bọ xít thành trùng Quan sát và ghi nhận số sâu chết do bị bọ xít tấn công trong từng hộp mỗi ngày
Bảng 3.1: Bảng bố trí thí nghiệm khả năng săn mồi của bọ xít
Chỉ tiêu theo dõi:
Số sâu chết do bị bọ xít tấn công mỗi ngày ở mỗi pha phát dục
Phân tích số liệu: Tương quan giữa mật số sâu và số sâu bị giết ở mỗi giai
đoạn tuổi của bọ xít được xác định thông qua hệ số r từ phương trình tương quan tuyến tính đơn có dạng y= a + bx, phân tích bằng phần mềm MSTATC
Trang 40Phương trình tổng quát thể hiện phản ứng chức năng được thể hiện bằng phương trình Holling (1959): y’= a(Tt – by)x (trình bày trong phụ lục Phụ lục 2.3)
Hình 3.5 Bố trí thí nghiệm phản ứng chức năng với ấu trùng sâu khoang
tuổi 2
3.4.3 Khảo sát mức độ trữ lạnh đến khả năng nở của trứng, khả năng sống của ấu trùng và thành trùng
Nội dung được tiến hành nhằm bước đầu thăm dò và xác định khả năng tồn trữ
của trứng, ấu trùng và thành trùng bọ xít R fuscipes trong điều kiện nhiệt độ thấp
Thí nghiệm được tiến hành với 9 nghiệm thức thông qua sự tương tác của 2 yếu tố: thời gian ủ và nhiệt độ ủ Thời gian ủ là 5 ngày, 10 ngày, 15 ngày và nhiệt độ ủ là
50, 100, 150 C Đối tượng được chọn trữ lạnh bao gồm trứng, ấu trùng từ tuổi 1 đến tuổi
5, thành trùng bọ xít đực và cái
Đối với giai đoạn trứng
Ở mỗi nhiệt độ và thời gian ủ sẽ tiến hành với 100 trứng bằng cách ủ trong vỏ trấu và đặt vào tủ định ôn 100 trứng sẽ được đặt ở nhiệt độ phòng làm đối chứng Trứng sau khi được trữ ở nhiệt độ và thời gian cần thiết sẽ được mang ra để ở nhiệt độ phòng và được theo dõi mỗi ngày đến khi nở để ghi nhận thời gian và tỉ lệ nở sau khi trữ lạnh
Đối với ấu trùng và thành trùng
Các cá thể bọ xít được cho ăn 12 tiếng trước khi mang thí nghiệm Chia ấu trùng, thành trùng theo từng pha phát dục và tủ vào vỏ trấu đã qua xử lí, đựng bên trong những hộp nhựa kích thước 15 x 7 x 7 cm Các cá thể này được mang vào tủ