BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH HOÀNG THỊ NHUẬN NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ ĐỆM CỦA MỘT SỐ NGUYÊN LIỆU THỨC ĂN VÀ SỬ DỤNG ACID HỮU CƠ TRONG THỨC ĂN HEO CON CAI SỮA
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
HOÀNG THỊ NHUẬN
NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ ĐỆM CỦA MỘT SỐ NGUYÊN LIỆU THỨC ĂN VÀ SỬ DỤNG ACID HỮU CƠ TRONG THỨC ĂN HEO CON CAI SỮA
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60 62 40
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh - Tháng 12/2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
HOÀNG THỊ NHUẬN
NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ ĐỆM CỦA MỘT SỐ NGUYÊN LIỆU
THỨC ĂN VÀ SỬ DỤNG ACID HỮU CƠ TRONG THỨC ĂN HEO CON CAI SỮA
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Trang 3NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ ĐỆM CỦA MỘT SỐ NGUYÊN LIỆU
THỨC ĂN VÀ SỬ DỤNG ACID HỮU CƠ TRONG
THỨC ĂN HEO CON CAI SỮA
Viện khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam
3 Phản biện 1: PGS.TS Bùi Huy Như Phúc
Hội chăn nuôi
4 Phản biện 2: TS Dương Duy Đồng
Trường đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
5 Ủy viên: TS Ngô Thị Hồng Phượng
Trường đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Trang 4LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Tôi tên Hoàng Thị Nhuận sinh ngày 18 tháng 10 năm 1985 tại huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Tốt nghiệp THPT tại trường Trung học phổ thông Tân Phú, huyện Định Quán tỉnh Đồng Nai, năm 2003
Tốt nghiệp Đại học ngành Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp hệ chính quy tại Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, năm 2008
Từ năm 2008 – 2009 công tác tại trường Trung học phổ thông Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
Tháng 9 năm 2009 theo học cao học ngành chăn nuôi tại Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả trong luân văn là trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Ký tên
Hoàng Thị Nhuận
Trang 6CẢM TẠ
Trong suốt thời gian học tập và hoàn tất luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô Phòng sau Đại học, Khoa chăn nuôi thú y trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là những quý thầy đã tận tình dạy bảo tôi suốt thời gian học tập tại trường
Tôi kính gửi lời biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Quang Thiệu đã dành nhiều thời gian, tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô phòng thí nghiệm bộ môn dinh dưỡng trường Đại học Nông Lâm, Công ty Bayer, các anh chị ban lãnh đạo Xí nghiệp chăn nuôi heo Đồng Hiệp, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành thí nghiệm hoàn thành luận văn
Đồng thời, cho tôi gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân bạn bè đặc biệt là các sinh viên Cao Thị Thu Thùy, Nguyễn Thị Lệ Hoa, Phạm Thanh Thuận đã giúp
đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn trong thời gian làm đề tài
Xin trân trọng cảm ơn
Hồ Chí Minh, ngày 6 tháng 12 năm 2011
Hoàng Thị Nhuận
Trang 7TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu giá trị đệm của một số nguyên liệu thức ăn và sử dụng acid hữu cơ trong thức ăn heo con cai sữa” được tiến hành tại Bộ môn Dinh
dưỡng Gia súc - Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM và Trại Đồng Hiệp, huyện
Củ Chi, TP Hồ Chí Minh, thời gian từ tháng 9 năm 2010 đến tháng 5 năm 2011 Mục tiêu nghiên cứu là xác định giá trị đệm một số thực liệu và hiệu quả sử dụng thức ăn trên heo giai đoạn sau cai sữa
Giá trị đệm một số nguyên liệu thức ăn chăn nuôi được khảo sát bằng cách sử dụng HCl 0,1N (hoặc NaOH 0,1N) chuẩn độ 0,5g mẫu thức ăn + 50 ml nước cất về
pH = 5, pH = 4, pH = 3 Kết quả phân tích được sắp xếp theo thứ tự giá trị đệm từ cao đến thấp như sau: cao nhất là nhóm nguyên liệu cung khoáng, kế đến là nhóm nguyên liệu cung protein (trong đó nguyên liệu cung protein thực vật có giá trị đệm cao hơn nguyên liệu cung protein động vật), nhóm nguyên liệu cung acid amin, nhóm nguyên liệu cung năng lượng, chất hấp phụ độc tố (chất hấp phụ độc tố dạng
vô cơ có giá trị đệm cao hơn dạng hữu cơ) và chế phẩm acid hữu cơ có giá trị đệm thấp nhất
Thí nghiệm 2 được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố với 272 heo con cai sữa được bố trí ngẫu nhiên vào 4 lô thí nghiệm bao gồm: lô 1 không sử dụng acid hữu cơ (đối chứng), lô 2: sử dụng chế phẩm A (0,3%) gồm hỗn hợp các acid hữu cơ như formic, lactic, citric và muối canxi của chúng, acid phosphoric, lô 3: sử dụng chế phẩm A (0,5%), lô 4: sử dụng chế phẩm B (0,3%) chứa potassium diformate Kết quả thí nghiệm cho thấy hai chế phẩm acid hữu cơ A và B đã làm giảm giá trị đệm của thức ăn heo con cai sữa, cải thiện tăng trọng, làm giảm tỉ lệ ngày con tiêu chảy và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho mỗi kg tăng trọng so với lô không sử dụng acid hữu cơ Trong đó, chế phẩm acid A đã chứng minh sự vượt trội hơn chế phẩm B trong việc cải thiện tăng trọng và đạt hiệu quả kinh tế
Trang 8SUMMARY
The thesis "Research on the acid binding capacity of feed ingredients and supplementation organic acid in feeding weaned pigs" was conducted at the Department of Nutrition - HCMC University of Agriculture and Forestry and Dong
- Hiep pig farm, Cu Chi District, Ho Chi Minh City The study was carried out
between September 2010 and May 2011 The objective of this study was to assess
acid binding capacity of feed ingredients and supplemented organic acids in weaned pig diets to improve the growth performance of weaned pigs
A test examined acid-binding capacity of feed materials (ABC) A 0.5g sample of ingredient/feed was supplied in 50ml of distilled water and continuously stirred with a magnetic stirrer Titrations were performed by addition
of acid (0.1N HCl or NaOH 0,1N) to lower the pH of 1kg of sample to pH 5 5), pH 4 (ABC-4) and pH 3 (ABC-3) The results showed that binding capacity
(ABC-of feed ingredients ranked from low to high were organic aicd, amino acid, materials for toxin, energy, protein and minerals Protein feed had a higher acid-
binding capacity value than energy feeds Great variation occurred between different protein sources Vegetable protein showed higher ABC than animal
protein Inorganic mycotoxin binder was higher ABC value than organic mycotoxin binder
Experiment 2, total of 227 weaned piglets were divided into four groups of
34 piglets by completely randomized design with 2 replicates: Pigs in treatment 1 were fed a complex weaned diet (control) Treatments 2 to 4 were fed the same diets as treatment 1 but added with 0.3% A organic acid (formic acid, lactic acid, citric acid, calcium salts of their and phosphoric acid), 0,5% A organic acid or 0,3% potassium diformate (B organic acid) The results indicate that A and B acid improved the growth performance of weaned pigs (p < 0,05), decreased acid binding capacity of feed, decreased feed conversion vatio (p< 0,05) compared to the control A organic acid had better daily weight gain and profited production than B
Trang 9MỤC LỤC
TRANG
Trang chuẩn y i
Lý lịch cá nhân ii
Lời cam đoan iii
Cảm tạ iv
Tóm tắt v
Summary vi
Mục lục vii
Danh sách các chữ viết tắt x
Danh sách các hình xi
Danh sách các bảng xii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích và yêu cầu 2
2.1 Mục đích 2
2.2 Yêu cầu 2
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Giá trị đệm của thức ăn chăn nuôi 3
1.1.1 Khái niệm giá trị đệm 3
1.1.2 Ý nghĩa giá trị đệm 3
1.1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến giá trị đệm thức ăn chăn nuôi 4
1.2 Một số đặc điểm heo con cai sữa 5
1.2.1 Tuổi cai sữa heo con 5
1.2.2 Trọng lượng cai sữa 6
1.2.3 Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa heo con cai sữa 6
1.2.4 Hoạt động của enzyme tiêu hóa 7
1.2.5 Hệ vi sinh vật đường ruột 8
1.3 Các nguyên nhân gây rối loạn tiêu hóa và tiêu chảy heo con 11
1.3.1 Nguyên nhân do vi khuẩn 11
1.3.2 Nguyên nhân do kí sinh trùng 12
Trang 101.3.3 Nguyên nhân do virus 12
1.3.4 Nguyên nhân do thức ăn 13
1.3.5 Do các nguyên nhân khác 14
1.4 Tác dụng của acid hữu cơ trong dinh dưỡng động vật 14
1.4.1 Giảm pH dạ dày 14
1.4.2 Ảnh hưởng đến tiêu hóa dưỡng chất 15
1.4.3 Giảm số lượng vi khuẩn gây bệnh 16
1.5 Một số nghiên cứu về giá trị đệm và acid hữu cơ trong thức ăn chăn nuôi 19
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Thời gian và địa điểm 24
2.2 Nội dung 24
2.3 Phương pháp tiến hành 24
2.3.1 Nội dung 1: Xác định giá trị đệm của một số nguyên liệu thức ăn 24
2.3.1.1 Đối tượng khảo sát 24
2.3.1.2 Thu thập và bảo quản mẫu 26
2.3.1.3 Dụng cụ và hóa chất phân tích 26
2.3.1.4 Phương pháp phân tích 26
2.3.1.5 Chỉ tiêu theo dõi 27
2.3.2 Nội dung 2: Khảo sát hiệu quả việc sử dụng acid hữu cơ trong thức ăn heo con cai sữa 27
2.3.2.1 Đối tượng thí nghiệm 27
2.3.2.2 Chuồng trại 27
2.3.2.3 Thức ăn 27
2.3.2.4 Chăm sóc, nuôi dưỡng 30
2.3.2.5 Vệ sinh thú y 30
2.3.2.6 Tiêm phòng 30
2.3.2.7 Bố trí thí nghiệm 30
2.3.2.8 Chỉ tiêu theo dõi 31
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 32
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Xác định giá trị đệm một số nguyên liệu thức ăn chăn nuôi heo con cai sữa 33
Trang 113.1.2 Giá trị đệm của nhóm thực liệu cung protein 35
3.1.3 Giá trị đệm của nhóm thực liệu cung acid amin 36
3.1.4 Giá trị đệm của nhóm thực liệu cung khoáng 37
3.1.5 Giá trị đệm của chất hấp phụ độc tố và acid hữu cơ 38
3.2 Hiệu quả của việc sử dụng acid hữu cơ trong thức ăn heo con cai sữa 39
3.2.1 Giá trị đệm thức ăn heo con cai sữa 39
3.2.2 Trọng lượng và tăng trọng heo con thí nghiệm 40
3.2.3 Hệ số chuyển hóa thức ăn trên heo thí nghiệm 42
3.2.4 Tỉ lệ ngày con tiêu chảy 44
3.2.5 Tỷ lệ hao hụt 46
3.2.6 Hiệu quả kinh tế 46
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
Kết luận 49
Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 61
Trang 12DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ABC: (Acid Binding Capacity) giá trị đệm
ABC-5: (Acid Binding Capacity) giá trị đệm ở pH = 5
ABC-4: (Acid Binding Capacity) giá trị đệm ở pH = 4
ABC-3: (Acid Binding Capacity) giá trị đệm ở pH = 3
ADG: (Average Daily Grain) tăng trọng bình quân ngày
ADFI: (Average Daily Feed Intake) thức ăn tiêu thụ bình quân ngày HSCHTĂ: hệ số chuyển hóa thức ăn
HPĐT: hấp phụ độc tố
meq: (milliequivalent) mili đương lượng
KDĐN: khô dầu đậu nành
pH: (potential of hydrogen) độ pH
pH dd: pH dung dịch
pKa: hằng số phân ly của acid
TN: thí nghiệm
Trang 13DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 1.1 Giới hạn pH đối với sự phát triển của vi sinh vật đường ruột 10
Hình 1.2 Cơ chế kháng khuẩn của acid hữu cơ 18
Hình 3.1 Sơ đồ thành phần của sản phẩm A 29
Hình 3.2 Giá trị đệm của nhóm cung năng lượng 34
Hình 3.2 Giá trị đệm của nhóm thực liệu cung protein 35
Hình 3.3 Bảng giá trị đệm của nhóm cung acid amin 36
Hình 3.4 Giá trị đệm thức ăn thí nghiệm 39
Hình 3.5 Hệ số chuyển hóa thức ăn 43
Hình 3.6 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 45
Trang 14DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Ảnh hưởng của tuổi cai sữa đến tăng trong heo con 5
Bảng 1.2 Mức tăng trưởng của heo cai sữa trong khoảng trọng lượng 6 - 20 kg 6
Bảng 1.3 Ảnh hưởng lứa tuổi đến hoạt lực enzyme trên heo con 8
Bảng 1.4 Một số vi khuẩn chiếm ưu thế ở một vài nơi trong đường ruột heo 9
Bảng 1.5 Nguyên nhân gây rối loạn đường ruột 14
Bảng 1.6 Ảnh hưởng của acid hữu cơ và muối acid trong dinh dưỡng động vật 16
Bảng 1.7 Khối lượng phân tử và pKa của một số acid hữu cơ 19
Bảng 2.1 Số mẫu nguyên liệu thức ăn xác định giá trị đệm 25
Bảng 2.2 Công thức thức ăn cơ bản dùng trong thí nghiệm 28
Bảng 2.3 Thành phần dinh dưỡng theo tính toán của thức ăn dùng cho thí nghiệm 29
Bảng 2.4 Lịch tiêm phòng heo con của trại heo Đồng hiệp 30
Bảng 2.5 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 31
Bảng 3.1 Giá trị đệm của nhóm cung năng lượng 33
Bảng 3.2 Giá trị đệm của nhóm thực liệu cung protein 35
Bảng 3.3 Bảng giá trị đệm của nhóm cung acid amin 36
Bảng 3.4 Giá trị đệm của nhóm thực liệu cung khoáng 37
Bảng 3.5 Giá trị đệm chất hấp phụ độc tố và acid hữu cơ 38
Bảng 3.6 Giá trị đệm thức ăn 39
Bảng 3.7 Tăng trọng heo con thí nghiệm 40
Bảng 3.8 Hệ số chuyển hóa thức ăn 42
Bảng 3.9 Tỉ lệ ngày con tiêu chảy 44
Bảng 3.10 Hiệu quả kinh tế của thí nghiệm 47
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Chăm sóc heo con giai đoạn cai sữa là khâu quan trọng và là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong chăn nuôi heo Trong giai đoạn này, heo gặp nhiều bất lợi do tiếp xúc với nhiều yếu tố gây stress như thay đổi thức ăn, chuyển chuồng, tuổi cai sữa sớm … Các tác nhân trên gây giảm tiêu hóa, đồng thời tạo điều kiện
thuận lợi cho một số loại vi khuẩn và virus như: E.coli, Salmonella, Clostridium,
Rotavirus, Coronavirus, phát triển và gây tiêu chảy cho heo con trong giai đoạn này
Hệ tiêu hóa của heo con sau cai sữa phát triển chưa hoàn thiện nên khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng kém Sự phân tiết HCl trong dạ dày của heo con còn ít nhưng phải tiêu hóa một lượng thức ăn lớn nên pH dạ dày có thể tăng cao Theo Yen (2001), pH dạ dày tăng cao sau khi cai sữa làm giảm khả năng tiêu hóa thức ăn, tạo cơ hội cho các mầm bệnh phát triển và gây bệnh cho heo con, đặc biệt là tiêu chảy Một trong những nguyên dẫn đến pH dạ dày cao là do giá trị đệm của thức ăn cao, điều này chịu ảnh hưởng bởi giá trị đệm của các nguyên liệu cấu thành thức ăn Nhiều nghiên cứu cho thấy, nếu thức ăn cho heo có giá trị đệm quá cao sẽ ảnh hưởng đến sự tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất, tạo điều kiện cho các vi sinh vật bất lợi cho đường tiêu hóa phát triển, dẫn đến rối loạn tiêu hóa (Lawlor, 2005; Partanen, 2007; Biomin, 2010) Vì thế việc tạo ra thức ăn có giá trị đệm thấp sẽ giúp cho heo con tiêu hóa thức ăn tốt hơn
Trong thực tế chăn nuôi, đã có nhiều biện pháp được áp dụng để phòng trị tiêu chảy trên heo con như: sử dụng kháng sinh, các chế phẩm sinh học probiotic, prebiotic và acid hữu cơ trong thức ăn (Đặng Minh Phước, 2010) Trong đó, acid hữu cơ trong thức ăn đang được chú trọng nhiều vì có thể thay thế kháng sinh đề
Trang 16phòng tiêu chảy trên heo con cai sữa Acid hữu cơ có được đặc tính trên là do acid hữu cơ có khả năng làm giảm pH dạ dày, nên có thể ức chế vi khuẩn gây bệnh ở đường ruột (Kulge và ctv, 2006) Ngoài ra, acid hữu cơ còn tác động có lợi về tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng trên heo con cai sữa (Partanen và Mroz, 1999; De Freitas và ctv, 2006)
Hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu về giá trị đệm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam và dựa vào đó bổ sung acid hữu cơ thức ăn phù hợp với sinh
lý tiêu hóa để có thể phòng ngừa tiêu chảy trên heo con Xuất phát từ vấn đề trên, được sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn và sự chấp thuận của hội đồng đào tạo sau đại học Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu giá trị đệm của một số nguyên liệu thức ăn và sử dụng acid hữu
cơ trong thức ăn heo con cai sữa”
2 Mục đích và yêu cầu
2.1 Mục đích
Đánh giá giá trị đệm một số thực liệu thường dùng và hiệu quả sử dụng acid
hữu cơ trên heo giai đoạn sau cai sữa
2.2 Yêu cầu
- Xác định giá trị đệm của một số nguyên liệu thức ăn dùng trong tổ hợp khẩu
phần cho heo con sau cai sữa
- Đánh giá khả năng của acid hữu cơ trong việc kích thích tăng trọng và hiệu quả sử dụng thức ăn trên heo giai đoạn sau cai sữa
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Giá trị đệm của thức ăn chăn nuôi
1.1.1 Khái niệm giá trị đệm
Có nhiều định nghĩa khác nhau về giá trị đệm Lawlor (2005a) định nghĩa ABC (acid binding capacity) là số acid HCl 0,1N (meq) đưa pH của 1kg thực liệu
về mức pH = 4, pH = 3 và Rynsburger (2009) định nghĩa ABC là lượng acid cần thiết để giảm pH thực liệu về mức mong muốn Giá trị đệm (B - value) còn được xác định bằng tổng lượng acid HCl 1M cần thiết để phản ứng với 10% thức ăn hoặc nguyên liệu thức ăn trong 100 ml dung dịch để đưa pH của thực liệu về giá trị 3 - 5 (Biomin, 2010) Ngoài ra, còn có định nghĩa về BUF (Buffering capacity) là năng lực đệm của thực liệu được tính bằng meq acid HCl 0,1N để làm thay đổi 1 đơn vị
pH của thực liệu Tuy nhiên, định nghĩa của Lawlor (2005a) thường được sử dụng trong nhiều nghiên cứu xác định giá trị đệm thức ăn chăn nuôi
tiêu hóa phát triển, điển hình là các vi khuẩn Salmonella, Klebsiella …
Thức ăn có giá trị đệm thấp thì cần một lượng acid HCl ít hơn thức ăn có giá
trị đệm cao để hạ pH dạ dày, điều này rất có lợi vì nó sẽ cải thiện khả năng tiêu hóa
chất dinh dưỡng của heo, đặc biệt là heo con cai sữa Chính vì vậy, ngày nay với
Trang 18phương pháp tính toán khẩu phần thức ăn, ngoài cân đối protein, năng lượng, acid amin, vitamin, khoáng thì trong dinh dưỡng hiện đại người ta còn quan tâm đến giá trị đệm của nguyên liệu tổ hợp khẩu phần heo con cai sữa
Việc bổ sung các chế phẩm acid hữu cơ vào khẩu phần sẽ làm giảm giá trị đệm của thức ăn, tạo sự acid hóa dạ dày từ đó làm giảm sự rối loạn tiêu hóa, ngăn ngừa tiêu chảy
1.1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến giá trị đệm thức ăn chăn nuôi
Các nguyên liệu tổ hợp khẩu phần thức ăn có giá trị đệm thay đổi lớn Ngũ cốc và các sản phẩm từ ngũ cốc có giá trị đệm thấp nhất, thực liệu cung protein có giá trị đệm từ trung bình đến cao, khoáng là nguyên liệu có giá trị đệm cao nhất ngoại trừ monocalcium phosphate (Partanen và Morz, 1999) Thí nghiệm của Gabert và ctv (1995) cho thấy khi tăng gấp đôi hàm lượng calcium và phospho trong khẩu phần heo con cai sữa làm tăng giá trị đệm khẩu phần Theo Jasaitic và ctv
(1987) thực liệu cung năng lượng có giá trị đệm thấp nhất, thực liệu cung protein (15 - 35 % protein thô) có giá trị đệm trung bình và thực liệu có hàm lượng protein thô lớn hơn 35% có giá trị đệm cao Levic và ctv (2005) nhận thấy hai khẩu phần có cùng một giá trị dinh dưỡng, nhưng giá trị đệm của hai khẩu phần thức ăn khác nhau, do thành phần hóa học của các thực liệu khác nhau, cũng theo tác giả này giá trị đệm phù hợp trong khẩu phần heo con tập ăn là 0 – 5 ml HCl 1M, heo con sau
cai sữa là 5 – 10 ml HCl 1M, heo nuôi thịt là 10 – 20 ml HCl 1M
Hàm lượng khoáng có trong thức ăn là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến giá trị đệm thức ăn Theo Jasaitic và ctv, (1987), giá trị đệm của khẩu phần thức ăn gia súc có mối tương quan với nhau giữa hiệu anion - cation [(Ca + Mg + K + Na) - (Cl + N + P + Si + S) và (Ca + Mg + K + Na) - (Cl + P + S)], cation tổng số (Ca + K +
Mg + K) và tro tổng số Những khoáng kiềm tính (calcium carbonate) có giá trị đệm cao so khoáng có tính acid (dicalcium phosphate, calcium sulfate) (Lawlor và ctv, 2005a)
Trang 191.2 Một số đặc điểm heo con cai sữa
1.2.1 Tuổi cai sữa heo con
Tuổi cai sữa heo con là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tăng trưởng của heo con giai đoạn sau cai sữa Những năm trước đây tuổi cai sữa heo thường từ
5 - 6 tuần tuổi Hiện nay, heo con được cai sữa khoảng 3 - 4 tuần tuổi và một số nơi trên thế giới heo con được cai sữa rất sớm từ 7 ngày tuổi Main và ctv (2004) đã tiến hành thử nghiệm cai sữa heo con lúc 12, 15, 18 hoăc 21 ngày tuổi, kết quả cho thấy cai sữa heo con ở 21 ngày tuổi đã cải thiện tăng trọng tốt cho giai đoạn sau cai sữa Theo Whittemore và Green (2001) cai sữa lúc 21 ngày tuổi không có lợi cho việc đạt được tăng trưởng bình thường ở heo, thời gian cai sữa tốt nhất là từ 28 ngày tuổi
để có được trọng lượng cai sữa tốt, từ đó tác động tốt lên quá trình tăng trưởng sau cai sữa Theo nhiều tác giả (Mahan và Lepine, 1991; Hohenshell và ctv, 2000; Whittemore và Green, 2001; Wolter và ctv, 2003; Main và ctv, 2004), tuổi cai sữa
là nguyên nhân chính tác động lên tăng trọng heo con sau cai sữa, có vai trò quan trọng hơn yếu tố dinh dưỡng Ảnh hưởng tuổi cai sữa đến tăng trọng của heo con
được thể hiện qua bảng 1.1
Bảng 1.1 Ảnh hưởng của tuổi cai sữa đến tăng trọng heo con
12 15 18 21 Trọng lượng lúc cai sữa (kg) 3,42 4,26 4,89 5,75
Trang 20giai đoạn cai sữa là rất quan trọng, có vai trò quyết định sự thành công trong chăn nuôi
1.2.2 Trọng lượng cai sữa
Trọng lượng cai sữa là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng heo con sau này (Wolter và ctv, 2003) Nghiên cứu của Mahan và Lepine (1991) cho thấy heo con có trọng lượng lúc cai sữa từ 4,1 - 5,5 kg cần thời gian đạt đến trọng lượng 105 kg dài hơn 10 ngày so với heo có trọng lượng từ 6,8 - 8,2 kg Nếu trọng lượng cai sữa dưới 5 kg lúc 20 ngày tuổi sẽ làm giảm nghiêm trọng năng xuất heo lúc xuất bán Theo Larriestra và ctv (2006), Cabrera và ctv (2010) cho heo con bú sữa mẹ trong thời gian dài (20 ngày) tác động tốt lên tăng trưởng, chất lượng thịt và tăng tỉ lệ sống Ở cùng một độ tuổi cai sữa, heo có trọng lượng cao thì sự phát triển của hệ tiêu hóa và khả năng thích ứng với việc thay đổi thức ăn tốt hơn heo có trọng lượng thấp (Owsley, 1985) Theo Mahan và ctv (1998), sự khác biệt trọng lượng heo lúc cai sữa có thể do hai yếu tố: (1) trọng lượng heo con sơ sinh thấp, khả năng sử dụng thức ăn không tốt trong suốt quá trình sinh trưởng dẫn đến trọng lượng thấp, (2) heo nái có ít sữa đầu, heo con không nhận đủ lượng sữa cần thiết cho phát triển dẫn đến tăng trọng thấp vì sữa kích thích tăng trưởng Khả năng
tăng trưởng heo con cai sữa được thể hiện qua bảng 1.2
Bảng 1.2 Mức tăng trưởng của heo cai sữa trong khoảng trọng lượng 6 - 20 kg
Tăng trọng bình quân (g/con/ngày) 340 455 545
Lượng thức ăn bình quân (g/con/ngày) 705 770 770
(Nguồn: Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 1997)
1.2.3 Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa heo con cai sữa
Theo Nguyễn Quang Linh và ctv (2005), sau thời gian theo mẹ trọng lượng
bộ máy tiêu hóa heo con tăng lên 5 - 10 lần, chiều dài ruột non tăng gấp 5 lần, dung
Trang 21với khi sơ sinh Lúc đầu dạ dày chỉ nặng 6 - 8 g và chứa được 35 - 50 g sữa, nhưng chỉ sau 3 tuần tăng gấp 4 lần và 60 ngày tuổi đã nặng 150 g và chứa được 700 -
1000 g sữa
Thời gian cai sữa heo con ảnh hưởng đến sự thay đổi và khả năng thích nghi của đường ruột Sự thay đổi của đường ruột bao gồm sự thay đổi hình thái học của ruột, nhung mao, độ sâu mào ruột, riềm bàn chải của nhung mao Theo Hampson và Kidder (1986) (trích Trần Thị Dân, 2004) nhung mao ruột ngắn đi 75% trong vòng
24 giờ sau cai sữa và tình trạng ngắn này vẫn tiếp tục nhưng giảm dần đến ngày thứ
5 sau cai sữa Theo Pluske và ctv (1997) các nguyên nhân dẫn tới thay đổi cấu trúc, chức năng đường ruột heo con cai sữa là vi sinh vật gây bệnh đường ruột và các ảnh hưởng của chúng trong ruột non, khả năng thích nghi kém của heo con lúc cai sữa, lượng sữa heo con nhận được trong thời gian theo con theo mẹ, thay đổi khẩu phần thức ăn lúc cai sữa và cytokine như là yếu tố điều hòa tăng trưởng của tế bào biểu
mô ruột
1.2.4 Hoạt động của enzyme tiêu hóa
Ở heo con dưới 1 tháng tuổi, lượng HCl tự do trong dịch vị rất ít và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy, gây ra hiện tượng thiếu acid ở dạ dày Do đó, khả năng hoạt động của enzyme pepsin trong dạ dày giảm nên không thể tiêu hóa tốt protein trong thức ăn (Vũ Đình Tôn và Trần Thị Thuận, 2005) Ngoài ra, thiếu hụt HCl tự do trong dạ dày cũng là nguyên nhân dẫn đến nguy cơ về các bệnh về đường
tiêu hóa ở heo con
Trong dịch tụy của heo trưởng thành có khoảng 15 enzyme để tiêu hóa các chất Một tuần tuổi, heo con có một số enzyme như trypsin, amylase, chymotrypsin, lactase và lipase Hoạt tính của các enzyme cũng tăng dần theo tuổi của heo con từ 1 - 28 ngày: enzyme trypsin tăng gấp 20 lần, amylase tăng 30 lần, các enzyme như protease, amylase, carboxylpolypeptidase cũng tăng dần theo tuổi của heo Dịch ruột do 2 tuyến Brunner và Lieberkuhn tiết ra chứa đầy đủ các enzyme tiêu hóa nhưng có hàm lượng rất thấp không đủ khả năng tiêu hóa thức ăn nhân tạo (Nguyễn Quang Linh và ctv, 2005) Ngoài ra, lứa tuổi cũng ảnh hưởng đến
Trang 22hoạt động của các enzyme tiêu hóa trên heo (bảng 1.3) Vì vậy, cần lưu ý trong việc
cung cấp thức ăn phù hợp với sinh lý của heo con trong giai đoạn này
Bảng 1.3 Ảnh hưởng lứa tuổi đến hoạt lực enzyme trên heo con1
Tuổi (ngày) Trypsin2 Chymotrypsin2 Amylase2
1 Heo con cai sữa lúc 28 ngày tuổi (Nguồn: Jensen và ctv, 1997)
2 µmol cơ chất bị thủy phân/phút (µmol substrate hydrolyzed/min)
1.2.5 Hệ vi sinh vật đường ruột
Hệ vi sinh vật đường tiêu hóa của heo con được hình thành trong 48 giờ sau
khi sinh thông qua bú mẹ và liếm láp nền chuồng Hệ vi sinh vật này đặc trưng bởi
số lượng, mật độ, sự đa dạng và sự tương tác lẫn nhau giữa các loài vi sinh vật Lúc
mới sinh, dạ dày heo con là vô trùng, nhưng sau vài giờ Lactobacillus spp.,
Streptococcus spp được tìm thấy trong dạ dày, tá tràng (Pluske, 2002, Inoue và ctv,
2005 ) Số lượng vi sinh vật đường tiêu hóa ở heo con sơ sinh sau 10 - 12 giờ có thể
đạt 108 – 109 CFU/g phân và ổn định đến 24 - 48 giờ (Ducluzeau, 1983) Tuy nhiên,
thành phần vi sinh vật không ổn định, chúng phát triển và thay đổi trong thời gian
cai sữa (Mikkelsen, 2003; Roselli và ctv, 2005) Nhiều nghiên cứu đã chứng minh
các nhóm vi khuẩn chủ yếu có trong đường ruột heo gồm: Streptococcus,
‘Lactobacillus, Prevotella, Selenomona, Mitsokuella, Megasphera, Clostridia,
Eubacteria, Bacteroides, Fusobacteria, Acidodaminicocci, và Enterobacteria
(Fuller và ctv, 1978; Pluske và ctv, 2002; Stokes và ctv, 2004) Một số vi khuẩn
chiếm ưu thế trong đường ruột heo được trình bày ở bảng 1.4
Trang 23Sự cân bằng của quần thể vi sinh vật trong đường tiêu hóa ảnh hưởng lớn đến sức khỏe heo con Hệ vi sinh vật đường ruột ở heo con có thể bị mất cân bằng do những tác động ảnh hưởng khác nhau như nguồn thức ăn, sai sót trong việc dùng thuốc điều trị nhất là dùng thuốc kháng sinh Theo Trần Thị Dân (2004), ở heo con
khỏe mạnh Lactobacillus là vi khuẩn chủ yếu ở đường tiêu hóa; Bifidobacteria cũng
hiện diện với số lượng lớn trong đường tiêu hóa nhiều nhất ở ruột già và manh
tràng Streptococcus, Enterobacteria, Peptostreptococcus và Veinonellae thì không
có hoặc chỉ hiện diện với số lượng rất nhỏ trong dạ dày, ruột non và tăng dần ở phần
ruột già Clostridum, Staphylococcus, nấm men và nấm mốc thường không phân lập
được Khi heo con bị tiêu chảy, hệ vi sinh vật đường ruột khác với heo khỏe mạnh,
Enterobacteria chiếm chủ yếu trong đường tiêu hóa Số lượng Bacteroides spp
cũng gia tăng dọc theo đường ruột, nhiều Streptococcus và Clostridium hơn nhưng
Lactobacillus và Bifidobacteria ít đi, trong khi đó Peptostreptococcus, Staphylococcus, nấm men và nấm mốc không thay đổi nhiều
Bảng 1.4 Một số vi khuẩn chiếm ưu thế ở một vài nơi trong đường ruột heo
Vi khuẩn Tổng (%) Hồi tràng (%) Manh tràng (%) Kết tràng (%)
Trang 24* Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật đường ruột
pH của môi trường ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và khả năng sinh tổng hợp của vi khuẩn Sự ảnh hưởng này có thể xác định bởi hai nhân tố Nhân tố thứ nhất là sự tác động của ion H+ hoặc ion OH- đến tính chất keo của tế bào, đến hoạt lực của enzyme Nhân tố thứ hai là sự tác động gián tiếp của pH môi trường đến tế bào
Trị số pH điều chỉnh mức độ phân ly các thành phần của môi trường, trị số pH ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của vi sinh vật Có những khoảng trị số pH mà các vi sinh vật phát triển bình thường, ngược lại có những khoảng pH mà ở đó vi sinh vật phát triển không bình thường hoặc chết dần
(Nguồn: INVE company, 2002)
Hình 1.1 Giới hạn pH đối với sự phát triển của vi sinh vật đường ruột
Hình 1.1 cho thấy hầu hết các vi khuẩn gây hại đều sống trong môi trường pH lớn hơn 3,5 Như vậy, bổ sung acid hữu cơ để đưa pH dịch tiêu hóa xuống nhỏ hơn 3,5 sẽ ức chế vi khuẩn gây bệnh phát triển và tạo điều kiện cho vi khuẩn có ích hoạt động
Trang 25Hệ vi sinh vật trong đường ruột heo con cai sữa bị ảnh hưởng bởi khẩu phần, yếu tố môi trường và bản thân con vật Trong một thời gian ngắn hệ vi sinh vật đường tiêu hóa phát triển từ một quần thể đơn giản, không ổn định thành một quần thể phức tạp, ổn định (Konstantiov và ctv, 2004) Nikolski (1986) (trích dẫn bởi Đặng Minh Phước, 2005) cho biết hệ vi sinh vật đường tiêu hóa của heo con vào
cuối ngày thứ nhất gồm trực khuẩn gram âm như Bacillus anaerogenes,
Enterococcus Ngày thứ hai vi sinh vật gram dương tăng rõ rệt, gồm trực khuẩn
lactic, Micrococcus Ngày thứ năm có Streptococcus, trực khuẩn lactic, số lượng
E.coli và vi khuẩn gram âm khác chiếm 40 - 50%, ngoài ra còn có Micrococcus, Candida, Actinomyces, vi khuẩn sinh bào tử Nếu heo con 8 - 10 ngày tuổi ăn thức
ăn hạt, thức ăn hỗn hợp thì hệ vi sinh vật vô cùng phong phú, vi khuẩn lactic và
Streptococcus chiếm 40% Sau cai sữa, lượng vi khuẩn Gram âm tăng lên 70 - 80%,
còn vi khuẩn lactic giảm 5 - 10% Các thức ăn tốt thường cung cấp nhiều vi sinh vật
có lợi, và ngược lại vi sinh vật có lợi sẽ phát triển kém trên môi trường thức ăn xấu Tùy thuộc vào thành phần thức ăn mà hệ vi sinh vật cũng thay đổi Khẩu phần có nhiều chất protein, đường, tinh bột, thì tỷ lệ các vi sinh vật lên men được các chất này phát triển cao như: Lactococci, Lactobacillis… Khẩu phần có nhiều chất xơ thì
vi khuẩn phân giải cellulose sẽ xuất hiện nhiều
1.3 Các nguyên nhân gây rối loạn tiêu hóa và tiêu chảy heo con
1.3.1 Nguyên nhân do vi khuẩn
Trong đường tiêu hóa của gia súc luôn có vi khuẩn có lợi và vi khuẩn có hại Các vi khuẩn có lợi lên men phân giải các chất dinh dưỡng, giúp cho quá trình tiêu hóa được thuận lợi Các vi khuẩn có hại gặp điều kiện thuận lợi thì phát triển và gây bệnh
Một số vi khuẩn đường ruột như E.coli, Samonella spp., C perfringens, là
nguyên nhân gây nên sự rối loạn về tiêu hóa, viêm ruột và tiêu chảy ở nhiều loài gia súc Các vi khuẩn này gây bệnh trên cơ thể vật chủ do đường ruột cơ thể vật chủ có cấu trúc giúp cho vi khuẩn thực hiện được chức năng bám dính Vi khuẩn có khả năng xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô của niêm mạc ruột, từ đó gây bệnh nhờ các
Trang 26yếu tố gây bệnh, đặc biệt là sản sinh độc tố, trong đó quan trọng là độc tố đường ruột enterotoxin
Kết quả điều tra về tỉ lệ tiêu chảy trên heo con cai sữa các tỉnh phía Bắc Việt Nam là 23,9% (Thuy và ctv, 2006), miền Trung 33% heo bị tiêu chảy vào mùa mưa
và 18% vào mùa khô, trong đó heo con tiêu chảy do Escherichia coli là 26% và
24% tương ứng với hai mùa mưa và khô (Hong và ctv 2006) Một khảo sát khác
trong 30 trại heo ở đồng bằng sông Cửu Long của Khai và ctv (2002) cho thấy E
coli có yếu tố bám F4, F18 chiếm 65% Từ kết quả trên cho thấy vi khuẩn, đặc biệt
là E.coli là một trong những nguyên nhân chính gây bệnh trên heo con cai sữa
1.3.2 Nguyên nhân do kí sinh trùng
Cầu trùng đường ruột là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở heo con Bệnh do cầu trùng không gây thành ổ dịch lớn như bệnh do các vi sinh vật khác như virus, vi khuẩn nhưng nó thường kéo dài làm giảm năng suất chăn nuôi và
là yếu tố mở đường cho các mầm bệnh khác xâm nhập Isospora suis, Eimeira spp
và Cryptosporidium parvum là 3 loại cầu trùng thường được quan tâm trong tiêu chảy heo con (Lâm Thị Thu Hương, 2003) Bệnh do Isospora, Crytosporidium
thường tập trung vào giai đoạn heo con từ 5 - 25 ngày tuổi, còn heo con trên 2 tháng tuổi do cơ thể tạo được miễn dịch đối với bệnh cầu trùng nên chỉ mang mầm bệnh
mà ít khi xuất hiện triệu chứng tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 2001)
Các loài giun cũng là tác nhân gây viêm ruột, dẫn tới tiêu chảy trên heo Các
loài giun sán như như giun tròn (Ascaris suum), giun kết hạt (Oesophagostomum
spp.), giun roi (Trichuris), giun chỉ (Strongyloides ransomi) ngoài việc trực tiếp giành
thức ăn làm giảm tăng trọng còn là tác nhân gây ra viêm ruột, dẫn tới tiêu chảy
1.3.3 Nguyên nhân do virus
Tiêu chảy do Coronavirus: Virus có vỏ bọc dễ bị phá hủy bởi các chất sát trùng nhưng chúng có khả năng kháng acid Khi virus nhóm Coronavirus vào trong
tế bào, nó nhân lên và phá hủy tế bào trong vòng 4 - 5 giờ Khi tế bào chết, hàng ngàn virus được giải phóng và nhiễm sang các tế bào khác Sau 4 - 5 chu kỳ nhân lên của virus, các tế bào của bộ máy tiêu hóa đã bị giết chết, khi đó các chất dinh
Trang 27dưỡng không được tiêu hóa, nước không được hấp thu, mất dịch và các chất điện giải ở cơ thể gây ra tiêu chảy Tiêu chảy do bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm có
tỷ lệ chết khá cao Tiêu chảy thường bắt đầu 16 - 30 giờ sau khi heo con tiếp xúc với virus Dấu hiệu ban đầu là heo con nôn mửa sau đó tiêu chảy rất nhanh, heo bị mất nước, tai cụp, mắt bị trũng sâu, heo càng nhỏ càng chết sớm khi nhiễm bệnh Tiêu chảy do Rotavirus: Rotavirus thường gây bệnh ở heo con dưới một tháng tuổi và thường được gọi là tiêu chảy sữa Tiêu chảy do Rotavirus có đặc trưng là
phân màu trắng hoặc vàng, thời gian tiêu chảy kéo dài Virus xâm nhập và phá hủy các tế bào màng nhày của ruột non, các nhung mao sẽ ngắn lại, các chất dinh dưỡng tiêu hóa không hoàn toàn và hấp thu kém gây tiêu chảy Ngoài ra, heo con bị mất
nước và chất điện giải, giảm trọng lượng cơ thể và có thể chết
1.3.4 Nguyên nhân do thức ăn
Thức ăn khi chế biến hoặc bảo quản không đúng kỹ thuật dễ bị nấm mốc Một
số loài nấm như: Penicillin, Fusarium có khả năng sản sinh nhiều độc tố gây tiêu
chảy ở heo Trong các loại độc tố thì nhóm aflatoxin là quan trọng nhất
Một số nguyên liệu dùng làm thức ăn cho gia súc có chứa chất kháng dinh dưỡng Các chất này ức chế hoạt động của một số enzyme tiêu hóa làm cho thức ăn không được tiêu hóa đi xuống ruột già và tại đây chúng bị lên men bởi vi khuẩn lên men thối và gây ra tiêu chảy Sự có mặt của antitrypsin trong đậu nành ức chế hoạt động tiêu hóa protein của trypsin Raffinose và stachyose trong đậu nành dễ bị lên men ở ruột già sinh khí độc và làm tăng tỷ lệ tiêu chảy ở heo con (Basilisa, 2008) Khẩu phần thức ăn không thích hợp, thức ăn kém chất lượng như mốc, thối, nhiễm tạp chất, các vi sinh vật có hại dễ dẫn đến rối loạn tiêu hóa kèm theo viêm ruột, tiêu chảy ở gia súc Sự dư thừa chất dinh dưỡng còn gây ô nhiễm môi trường, gây lãng phí, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn Chính vì vậy, việc xác định nhu cầu dinh dưỡng và tính toán chính xác khẩu phần ăn cho từng loại heo góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
Trang 281.3.5 Do các nguyên nhân khác
Môi trường ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của
cơ thể gia súc Sự thay đổi các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, điều kiện chuồng nuôi sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của heo, đặc biệt là heo con theo mẹ Heo con, do cấu tạo
và chức năng sinh lý chưa ổn định và chưa hoàn thiện, khi gặp các yếu tố bất lợi dễ
bị stress dẫn đến nhiều bệnh trong đó có tiêu chảy Theo Yu và Perdue (2001), stress sau khi cai sữa heo con liên quan đến rối loạn tiêu hóa tăng sự mẫn cảm của heo con với các mầm bệnh
Heo con không được bú sữa đầu nên thiếu kháng thể mẹ truyền Heo con không được úm bị nhiễm lạnh, bị viêm rốn, hoặc không được cung cấp đầy đủ chất sắt, heo con thiếu máu, dẫn đến thiếu sức đề kháng và dễ bị tiêu chảy Nhìn chung một số nguyên nhân gây rối loạn đường tiêu hóa heo được trình bày bảng 1.5
1.4 Tác dụng của acid hữu cơ trong dinh dưỡng động vật
1.4.1 Giảm pH dạ dày
pH dạ dày thấp giúp tiêu hóa chất dinh dưỡng, giảm tác nhân gây bệnh Vì vậy, nhiều nghiên cứu đã cố gắng làm giảm pH dạ dày heo con cai sữa bằng cách acid hóa thức ăn Việc bổ sung acid hữu cơ trong khẩu phần heo con cai sữa đã được chứng minh là làm giảm pH dạ dày (Radcliffe và ctv, 1998; Morz và ctv, 2000; Phan Thị Ngọc Thảo, 2005; Phạm Duy Phẩm, 2008) Morz và ctv (2000) cho thấy pH dạ dày và ruột giảm trung bình 0,4 đơn vị khi bổ sung 0,9 và 1,8 % potassium diformate Thí nghiệm của Canibe và ctv (2005) cho thấy pH dạ dày giảm khi sử dụng 1,8% acid formic trong khẩu phần thức ăn cho heo Tuy nhiên Riley và ctv (1992) cho heo ăn acid citric, acid fumaric không tìm thấy sự thay đổi
pH đường ruột heo mặc dù pH của khẩu phần giảm Li và ctv (2008) cũng không nhận thấy sự thay đổi pH đường ruột khi sử dụng 5% hỗn hợp acid (muối calcium 2-hydroxy-4-(methylthio) butanoic, acid fumaric, acid benzoic) hoặc 0,5% potassium diformate Sự thay đổi pH dạ dày phụ thuộc vào thời gian và các chất chứa trong dạ dày, do đó rất khó so sánh pH dạ dày giữa các nghiên cứu
Trang 29Bảng1.5 Nguyên nhân gây rối loạn đường ruột
Heo con lúc cai sữa còn nhỏ và dễ bị stress
Heo chưa trưởng thành về:
- Tập tính (chung và hoạt động ăn uống)
- Chức năng ruột (phân tiết, tiêu hóa, hấp thu, nhu động …)
Sự thay đổi thức ăn:
- Không được bú sữa mẹ (dạng lỏng, ngon miệng, dễ tiêu hóa)
- Ăn thức ăn khô (dạng rắn, ít ngon miệng và khó tiêu hóa)
Nguyên nhân gây rối loạn đường ruột
Thay đổi cấu trúc và chức năng ruột:
- Hình thái học : sự teo nhung mao, giảm độ sâu mào ruột
- Giảm hoạt động của các enzyme tiêu hóa ở đường ruột
- Sự hấp thu, bài tiết và tính thấm ở đường ruột
- Giảm hoặc thay đổi lượng thức ăn ăn vào
- Có các yếu tố kháng dinh dưỡng (antitrypsin, lectin, kháng nguyên …)
- Phẩu phần với thành phần phức tạp và khả năng tiêu hóa thấp (protein, carbonhyrate)
- Hàm lượng protein cao ( giá trị đệm cao)
Yếu tố nuôi dưỡng:
- Trọng lượng cai sữa thấp
- Mật độ nuôi cao
- Vệ sinh chuồng trại kém
- Môi trường sống không thích hợp: nhiệt độ thấp, chất lượng thông thoáng kém
(Nguồn: Lalles, 2004)
1.4.2 Ảnh hưởng đến tiêu hóa dưỡng chất
Một số giả thuyết cho rằng acid hữu có thể kích thích trung gian trao đổi chất, kết quả cải thiện được tiêu hóa protein, acid amin và năng lượng (Partanen và Morz,
Trang 301999) Theo Morz và ctv (2000), acid hữu cơ không chỉ cải thiện sức khỏe động vật
mà còn tăng hiệu quả sử dụng thức ăn Tác giả ghi nhận acid hữu cơ làm tăng 6% tiêu hóa protein hồi tràng, và một vài acid amin thiết yếu cũng như acid amin không thiết yếu khi bổ sung 1,4% acid formic, 1,8% acid fumaric hoặc 2,7% n-butyric trong khẩu phần thức ăn của heo con có giá trị đệm thấp Một nghiên cứu khác của Bank và ctv (1999) cũng cho kết quả tương tự khi sử dụng 1, 2 hoặc 3% acid fumaric Tác giả nhận thấy tiêu hóa protein ở hồi tràng tăng 7% và acid amin tăng
từ 4,9 – 12, 8 % ngoại trừ methionine, tyrosin và cystein Thí nghiệm của Partanen
và ctv (2007) sử dụng 8,4g/kg thức ăn hỗn hợp các acid hữu cơ (6.4g acid formic, 0.4g ammonium formate, 0.2g potassium sorbate, và 0.2g sodium benzoate) trong khẩu phần heo con Hỗn hợp acid hữu cơ tác dụng tích cực trong việc tiêu hóa của hầu hết các acid amin mà không bị ảnh hưởng bởi hàm lượng chất xơ có trong khẩu phần Ảnh hưởng của acid hữu cơ và muối acid trong dinh dưỡng động vật được thể hiện ở bảng 1.6
Bảng 1.6 Ảnh hưởng của acid hữu cơ và muối acid trong dinh dưỡng động vật
- Cải thiện hoạt động của pepsin Anion - Nguyên liệu kết hợp với cation (Ca ++ , Mg ++ , Fe ++ ,
Cu ++ , Zn ++ )
H + và anion - Kháng khuẩn
- Thay đổi hệ vi sinh vật
(Nguồn: Kirchgessner và Roth, 1998, trích bởi Freitag, 2007)
1.4.3 Giảm số lượng vi khuẩn gây bệnh
Acid hữu cơ và muối của chúng được sử dụng để ức chế vi khuẩn ở dạ dày
Trang 31bào vi khuẩn (Freitag, 2007) Tốc độ phát triển của một số vi khuẩn như Cl
perfringens, E.coli và Salmonella spp giảm ở pH dưới 5 trong khi các vi khuẩn ưa
acid không bị tổn hại Thí nghiệm trên heo cai sữa của Li và ctv (2008) khi sử dụng hỗn hợp các acid hữu cơ 0,5% (muối calcium 2-hydroxy-4-(methylthio) butanoic, acid fumaric, acid benzoic) nhận thấy số lượng lactobacilli cao trong tá tràng và
E.coli giảm trong dạ dày, tá tràng và không tràng vào ngày thứ 14 sau cai sữa
Namkung và công sự (2004) cũng cho kết quả tương tự khi sử dụng 1,1 % hỗn hợp các acid (acid acetic, propionic, phosphoric và citric) làm giảm lượng coliform trong phân và trong hồi tràng Một nghiên cứu khác cũng cho thấy số lượng coliform giảm tại tá tràng, không tràng và trực tràng khi sử dụng 1,2% K-diformate trong thức ăn cho heo (Overland và ctv, 2000) Ngược lại, một số nghiên cứu không ghi nhận sự thay đổi số lượng lactobacilli cũng như coliform trong đường ruột heo
con (Risley và ctv, 1991, 1992; Biagi và ctv, 2007)
Dibner và Buttin (2002), Morz (2005), Dương Thanh Liêm (2008) và Vũ Duy Giảng (2008) cho rằng tính kháng khuẩn của acid hữu cơ thể hiện qua khả năng đi vào trong tế bào vi khuẩn Khi vào trong tế bào, các acid này phóng thích proton H+ dẫn đến giảm pH nội bào Điều này ảnh hưởng đến sự chuyển hóa của vi khuẩn, làm cản trở hoạt động của các enzyme quan trọng, buộc vi khuẩn sử dụng năng lượng (ATP) để loại bỏ proton, hậu quả là sự tích tụ các anion gây chết tế bào
vi khuẩn (hình 1.2)
Trang 32Hình 1.2 Cơ chế kháng khuẩn của acid hữu cơ
(Nguồn: Vũ Duy Giảng, 2008) Hoạt tính kháng khuẩn của acid hữu cơ liên quan đến sự giảm pH và khả năng phân ly của chúng được xác định bởi giá trị pKa của acid và pH môi trường (Lambert và Stratford,1999; Stonrock, 2007) Khi pH hạ thấp dưới mức phân ly của acid, lập tức có sự gia tăng nồng độ của dạng acid không phân ly, làm tăng số lượng phân tử có khả năng đi qua màng tế bào vi sinh vật gây bệnh tạo hiệu quả diệt khuẩn Đến khi pH cao hơn pKa của acid thì nồng độ proton H+ gia tăng làm cho pH của môi trường giảm, ức chế sự phát triển của vi sinh vật, phát huy khả năng tĩnh khuẩn Trọng lượng phân tử và pKa của một số acid hữu cơ được thể hiện qua bảng 1.7
Các vi khuẩn có lợi như như Lactobacillus acidophilus, Streptococcus faecium, Bifidobacterium … ít bị ảnh hưởng bởi acid hữu cơ vì bản thân chúng thích nghi trong môi trường pH thấp và lên men sản xuất acid hữu cơ Nhờ vậy mà nhóm vi khuẩn này có khả năng ức chế các loại vi khuẩn ưa môi trường pH trung tính hoặc hơi kiềm (Vũ Duy Giảng, 2008)
Trang 33Bảng 1.7 Khối lượng phân tử và pKa của một số acid hữu cơ
1 Khối lượng phân tử (Nguồn: Dibner và Buttin, 2002)
1.5 Một số nghiên cứu về giá trị đệm và acid hữu cơ trong thức ăn chăn nuôi
Năm 1987, Jasaitis và ctv nghiên cứu giá trị đệm nguyên liệu thức ăn gia súc ở
pH = 4 với HCl 0,1N Kết quả của nghiên cứu cho thấy ở pH = 4, giá trị đệm của các
thức ăn cung khoáng 8012 meq/kg, thức ăn cung năng lượng 156 meq/kg, thức ăn có
hàm lượng protein thô lớn hơn 35% là 704 meq/kg và thức ăn có hàm lượng protein
từ 15 – 35% là 448 meq/kg, thức ăn ủ chua 88 meq/kg, thức ăn thô xanh 366 meq/kg
Tác giả kết luận thức ăn cung khoáng có giá trị đệm cao nhất Trong các nguyên liệu
thức ăn có nguồn gốc hữu cơ thì nguyên liệu cung protein có giá trị đệm cao nhất,
nguyên liệu cung năng lượng và thức ăn ủ chua có giá trị đệm thấp
Năm 2000, Morz và ctv nghiên cứu ảnh hưởng của calcium benzoate có kết hợp
hoặc không kết hợp với acid hữu cơ (300 meq acid/kg thức ăn) trên năng lực đệm của
thức ăn, khả năng tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng của heo Kết quả, calcium
benzoate làm giảm giá trị đệm của thức ăn là 54 meq/kg thức ăn và làm pH giảm 0,4
đơn vị Ngoài ra, acid hữu cơ giúp tăng 2,4% tiêu hóa hồi tràng của hầu hết các acid
amin (trừ arginine, methionine và cystine) Nếu không quan tâm đến khả năng đệm
HMB 2-hydroxy-4-methylthio butanoic acid 194 3,86
Tartaric 2,3-dihydroxy-butanedioic acid 150,09 2,93
Citric 2-hydroxy-1,2,3-propanetricarboxylic acid 210,14 3,13
Trang 34thì acid hữu cơ có tác dụng giảm pH thức ăn như sau acid fumaric > acid formic > acid n-butyric
Việc sử dụng 1%, 2% hoặc 3% acid fumaric làm tiêu hóa protein ở hồi tràng tăng 7% và tiêu hóa acid amin ở hồi tràng tăng từ 4,9 - 12,8 % ngoại trừ methionine, tyrosin và cystein (Bank và ctv, 1999) Một nghiên cứu khác của Bank và ctv (2001) khi sử dụng 1, 2 hoặc 3 % acid fumaric với khẩu phần có giá trị đệm thấp làm giảm nồng độ acid lactic, amonia, lipopolysaccharide ở dịch hồi tràng
Tại Đan Mạch, Canibe và ctv (2001) sử dụng potassium diformate (1,8%) trong khẩu phần heo con cai sữa 28 ngày tuổi Kết quả của nghiên cứu này cho thấy không có sự khác biệt về tăng trưởng giữa sử dụng potassium diformate so với không sử dụng Potassium diformate trong khẩu phần heo con làm giảm tổng số vi khuẩn kỵ khí, vi khuẩn sinh acid lactic, coliform trong phân, đoạn đầu ruột non còn
pH dạ dày và ruột không bị ảnh hưởng bởi potassium diformate
Partanen và ctv (2002) ghi nhận heo con thích ăn khẩu phần có chứa sodium benzoate với acid formic hoặc calcium formate, chấp nhận khẩu phần chứa acid lactic, acid formic, calcium formate khi thử nghiệm sự kết hợp các acid gồm acid lactic + acid formic, acid lactic + calcium formate, acid lactic + sodium benzoate, acid formic + calcium formate, acid formic + sodium benzoate và calcium formate + sodium benzoate trong khẩu phần heo con Thí nghiệm thứ hai sử dụng acid lactic, acid formic, calcium formate hoặc sodium benzoate trong khẩu phần heo con
từ 28 đến 32 ngày tuổi, kết quả cho thấy không có sự khác biệt về lượng thức ăn tiêu thụ giữa heo ăn khẩu phần chứa acid và không chứa acid, heo con bị tiêu chảy cao nhất ở khẩu phần chứa calcium formate và thấp thất ở khẩu phần có acid formic Năm 2007, Partanen và ctv sử dụng 8,4g/kg thức ăn hỗn hợp các acid hữu
cơ (6,4g acid formic, 0,4g ammonium formate, 0,2g potassium sorbate, và 0,2g sodium benzoate), kết quả thí nghiệm cho thấy acid hữu cơ đã cải thiện tiêu hóa hồi tràng của 14 – 17 acid amin trong khẩu phần thức ăn có giá trị đệm thấp
Levic và ctv (2005) xác định giá trị đệm nguyên liệu thức ăn gia súc ở pH = 5 với HCl 1M Kết quả cho thấy protein có giá trị đệm cao (15 - 24 ml), ngũ cốc có
Trang 35giá trị đệm thấp (2 - 5 ml) Giá trị đệm thức ăn cho heo sinh trưởng 8,95 ml Như thế, giá trị đệm của thức ăn phụ thuộc vào thành phần nguyên liệu thức ăn
Lawlor và ctv (2005a) đã xác định giá trị đệm nguyên liệu thức ăn sử dụng trong thức ăn nuôi heo ở pH = 3 và pH = 4 với HCl 0,1 N Tác giả đã kết luận ngũ cốc có giá trị đệm thấp, các nguyên liệu cung khoáng có giá tri đệm cao nhất, tiếp theo là các thực liệu cung protein, và hầu hết các acid hữu cơ hay muối acid có giá trị âm
Một số thử nghiệm trên heo con cai sữa cho thấy khi bổ sung acid formic 20g/kg thức ăn làm tăng lượng thức ăn ăn vào (tăng 21,5 g/ngày) cải thiện tăng trọng (18,1 g/ngày) và hệ số chuyển hóa thức ăn (0,06) (Lawlor và ctv, 2005) Một thí nghiệm khác của Lawlor và ctv (2006) khi sử dụng 0,2% acid fumaric hoặc 0,15 calcium formate cũng làm giảm giá trị đệm của khẩu phần và cải thiện tăng trọng heo con Li và ctv (2008) thấy rằng heo con ăn thức ăn có 0,5% hỗn hợp các acid hữu cơ và muối calcium của 2-hydroxy-4-(methylthio) butanoic, acid fumaric, acid benzoic trong 4 tuần sau cai sữa làm tăng 14,86% tăng trọng so với lô đối chứng và hơn 4,8% so với lô bổ sung 5% potassium diformate (p<0,05) ở heo con Nghiên
cứu này cũng ghi nhận hỗn hợp các acid hữu cơ làm giảm số lượng E.coli ở hồi
tràng khi cho ăn 0,5% hoặc 1% Năm 2004, thí nghiệm của Namkung và ctv khi sử dụng 1,1% acid 1 (acid acetic, propionic, phosphoric and citric) và Acid 2 (Acid 1 + 1% acid lactic) đều làm giảm pH ở kết tràng và làm giảm số lượng coliform trong phân vào ngày thứ 4 sau cai sữa, riêng acid 2 làm tăng 30,57% ADG so với lô đối chứng chỉ trong tuần 2 sau cai sữa (p < 0,05) Taube và ctv (2009) báo cáo số lượng
Salmonella và E.coli trong dạ dày giảm khi bổ sung 1,2% potassium diformate hoặc
0,9% acid hữu cơ (75% acid formic và 25% propionic) trong khẩu phần heo con Tuy nhiên, người ta cũng nhận thấy khẩu phần có sử dụng 1,5% acid fumaric không ảnh hưởng đến pH, nồng độ acid béo bay hơi và tập đoàn vi sinh vật (tổng vi khuẩn
yếm khí, lactobacilli, clostridia và E.coli) trong đường ruột (Risley và ctv, 1991,
1992) và sử dụng 0,4% chế phẩm chứa nhiều acid hữu cơ (35% acid formic, 35% acid lactic, 20% acid citric và 10% acid sorbic) không ảnh hưởng đến quần thể vi
Trang 36sinh vật ở hồi tràng (Barbara và ctv, 2009)
Kluge và ctv (2006) sử dụng acid benzoic 10g/kg thức ăn heo con thì trọng lượng cơ thể tăng 15%, lượng thức ăn ăn vào tăng 9% và hệ số chuyển hóa thức ăn tăng 6% so với lô đối chứng Tác giả nhận thấy acid benzoic không ảnh hưởng đến giá trị pH, nồng độ ammonia trong đường ruột, nhưng làm giảm số lượng vi khuẩn trong đường tiêu hóa Trong dạ dày tổng số vi khuẩn hiếu khí, vi khuẩn kị khí và vi khuẩn gram âm giảm
Năm 2006, Kil và ctv nghiên cứu ảnh hưởng của 3 acid hữu cơ (acid fumaric, acid formic và acid lactic) và acid vô cơ (acid hydrochloric) trên heo con cai sữa ở 23±2 ngày tuổi Kết quả thí nghiệm cho thấy trong 3 tuần đầu ADG, ADFI không khác biệt giữa các nghiệm thức Tuy nhiên, với khẩu phần chứa acid lactic ADG tăng15%, acid hydrochloric tăng 13% và ADFI tăng 12% so với đối chứng, và acid hữu cơ bổ sung vào thức ăn heo con cho kết quả tốt hơn acid vô cơ
Năm 2011, ở Ba Lan Hanczakowska và ctv thử nghiệm sử dụng acid fumaric (1,5g/kg thức ăn), acid fumaric (1,5g/kg thức ăn) kết hợp với acid caprylic hoặc capric ở mức 2g/kg thức ăn trong khẩu phần heo con Kết quả cho thấy heo con được bổ sung acid fumaric kết hợp với acid caprylic đạt tăng trọng cao hơn acid fumaric + acid capric và lô đối chứng Ngoài ra, pH ở tá tràng giảm so với lô đối
chứng Các acid sử dụng trong thí nghiệm đều làm giảm số lượng Escherichia coli
trong ruột non Các acid ảnh hưởng đến cấu trúc biểu mô không tràng, làm tăng chiều cao nhung mao và tăng chiều sâu mào ruột
Tại Việt Nam, Đặng Minh Phước (2005) sử dụng một số chế phẩm acid hữu
cơ có trên thị trường Việt Nam trong khẩu phần heo con cai sữa đã cải thiện được
tăng trọng, giảm ngày con tiêu chảy, giảm số lượng E.coli trong phân heo, mang lại
hiệu quả kinh tế cho nhà chăn nuôi Phan Thị Ngọc Thảo (2005) thí nghiệm potassium diformate với các liều 0.2%, 0,3%, 0,4 và 0,5% đã làm pH dạ dày giảm 0,26 - 0,6 đơn vị và pH tá tràng giảm 0,26 - 0,6 đơn vị so với lô đối chứng Bổ sung potassium diformate với 0,4% cho kết quả tương đương với colistin và kanamycin trong việc phòng tiêu chảy và cải thiện tăng trọng trên heo sau cai sữa
Trang 37Phạm Duy Phẩm (2008) sử dụng ultracid lac dry (47% acid lactic + 5% acid formic) và adimix butyrate (98% sodium butyrate) trong khẩu phần heo con sau cai sữa đến 60 ngày tuổi Kết quả thí nghiệm cho thấy bổ sung các chế phẩm acid hữu
cơ adimix butyrate và ultracid lac dry vào thức ăn cho lợn con cai sữa đến 60 ngày
tuổi với mức 0,1% cho hiệu quả kinh tế chăn nuôi cao hơn khi sử dụng kháng sinh Colistine 0,1% Sử dụng chế phẩm acid hữu cơ ở mức 0,1% adimix butyrate cho kết quả tốt nhất Adimix butyrate cải thiện rõ rệt pH dạ dày heo con (đạt 3,37), giảm tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng11,4%, nâng cao tốc độ sinh trưởng 8,3%, tăng thu nhập/1 đầu heo con giống 13,21%
Đăng Minh Phước và ctv (2010) sử dụng chế phẩm acid hữu cơ (acid lactic, formic, malic, tartaric, citric, phosphoric) với liều lượng 2kg/tấn thức ăn Tác giả nhận thấy chế phẩm acid hữu cơ cải thiện 20,1% tăng trọng trên heo, giảm tỉ lệ tiêu chảy 24,23% và hiệu quả kinh tế tăng 6,75% so với không sử dụng acid
Các công trình nghiên cứu đã cho thấy khẩu phần có giá trị đệm thấp thì tốt cho sự tiêu hóa của heo con cai sữa Việc sử dụng acid hữu cơ làm giảm giá trị đệm của khẩu phần và cải thiện tăng trọng, giảm tỉ lệ tiêu chảy trên heo con cai sữa Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi xác định giá trị đệm của một số nguyên liệu thức ăn dùng trong tổ hợp khẩu phần và đánh giá khả năng của acid hữu cơ trong việc kích thích tăng trọng trên heo giai đoạn sau cai sữa
Trang 38Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm
Nội dung 1 được tiến hành từ tháng 9/2010 – 02/2011 tại Bộ môn Dinh dưỡng gia súc - Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM và nội dung 2 tiến hành từ 15/3/2011 – 15/5/2011 tại Trại Đồng Hiệp, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh
2.3.1 Nội dung 1: Xác định giá trị đệm của một số nguyên liệu thức ăn
2.3.1.1 Đối tượng khảo sát
Khảo sát trên 22 nguyên liệu thức ăn (bảng 2.1) Các nguyên liệu được thu thập một cách ngẫu nhiên
Trang 39Bảng 2.1 Số mẫu nguyên liệu thức ăn xác định giá trị đệm
Trang 402.3.1.2 Thu thập và bảo quản mẫu
Mẫu được thu thập từ một số công ty sản xuất thức ăn gia súc, trại chăn nuôi heo, điểm bán thức ăn gia súc ở tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Dương Mỗi địa điểm chỉ lấy mẫu 1 lần Mẫu được lấy ngẫu nhiên và phải mang tính đại diện cho lô sản phẩm được lấy mẫu
Mỗi mẫu nguyên liệu thức ăn có khối lượng khoảng 200 g, có đầy đủ thông tin về tên mẫu, nơi lấy mẫu, nguồn gốc mẫu, thời gian lấy mẫu Mẫu được đưa về phòng thí nghiệm, đánh số theo ký hiệu phòng thí nghiệm và được bảo quản ở nhiệt
độ 200C và độ ẩm 9 – 14% Mẫu được chia thành hai phần: một phần dùng để phân tích và một phần lưu trữ lại Phần mẫu phân tích được xay mịn chứa trong hũ nhựa
có chứa gói hút ẩm silica-gel Phần mẫu lưu lại được đựng trong túi nilon kín miệng cất trong phòng lạnh để bảo quản mẫu lâu dài
2.3.1.3 Dụng cụ và hóa chất phân tích
Trong xác định giá trị đệm của một số nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, sử dụng một số dụng cụ sau: cân điện tử Kern cân các mẫu nguyên liệu thức ăn, máy đo pH Hanna HI-2251 xác định pH dung dịch mẫu và pH cần chuẩn độ, máy khuấy từ được sử dụng để khuấy đều dung dịch mẫu trước và trong quá trình chuẩn độ, burette 25ml chuẩn độ dung dịch mẫu về các giá trị pH = 5, pH=4, pH=3 Các dụng
cụ thí nghiệm được cung cấp bởi phòng thí nghiệm Bộ môn Dinh dưỡng gia súc - Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM và hóa chất HCl 0,1N, NaOH 0,1N
2.3.1.4 Phương pháp phân tích
Theo Jasaitis và ctv (1987), Lawlor và ctv (2005a), cứ mỗi 0,5g mẫu nguyên liệu thức ăn đã nghiền nhuyễn được cho vào 50 ml nước cất, khuấy đều Dung dịch này được sử dụng để xác định giá trị đệm Sau khi khuấy đều dung dịch trong 30 phút, tiến hành đo pH dung dịch (bằng máy đo pH)
Chuẩn độ dung dịch chứa nguyên liệu thức ăn sau khi đã đo pH về pH = 5, pH=4, pH=3 bằng HCl 0,1N hoặc NaOH 0,1N Giá trị pH được ghi nhận sau 3 phút cân bằng Xác định lượng dung dịch HCl 0,1N để đưa giá trị pH dung dịch chứa nguyên liệu thức ăn về pH = 5, pH = 4, pH = 3