1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài NCKH trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương

48 238 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 416,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn quá trình hình thành và phát triển nền văn hóa Phương Đông, cũng như các quốc gia khác ở Đông Á, Việt Nam có một nền hành chính lâu đời, trách nhiệm của nhân viên nhà nước và chính quyền các cấp trong nền quan chế tập quyền của Việt Nam đã được thiết lập theo những tập tục có từ xa xưa.Mặc dù vậy, trong những năm gần đây, thuật ngữ “trách nhiệm” (responsibility) và “trách nhiệm giải trình” (accountability), có nguồn gốc Latin là accomptare (giải thích), xuất hiện và được sử dụng ngày càng nhiều trong các văn bản hành chính và báo cáo nghiên cứu liên quan đến quá trình cải cách bộ máy nhà nước, cải cách hành chính cũng như các giải pháp phòng, chống tham nhũng. Thuật ngữ trách nhiệm giải trình hàm ý các thông tin chính xác và dễ tiếp cận là cơ sở để đánh giá một công việc có được thực hiện tốt hay không và gắn với cơ chế khen thưởng, xử phạt để khuyến khích làm việc hiệu quả.Trong thực tế, đời sống xã hội ngày càng được nâng lên, nhu cầu của người dân đặt ra đối với các cơ quan và công chức hành chính nhà nước ngày càng cao. Người dân mong muốn được cung cấp, giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao và chịu trách nhiệm về hậu quả xảy ra liên quan đến việc sử dụng thẩm quyền và những nguồn lực của mình.Xét từ bản chất của các kênh xác lập trách nhiệm giải trình, để hiểu trách nhiệm giải trình là của ai, đối với ai, về vấn đề gì, được thực hiện bằng công cụ nào, và có thể dẫn tới hệ quả, chế tài gì, có thể phân tách trách nhiệm giải trình theo 4 góc nhìn chi tiết hơn, bao gồm: trách nhiệm giải trình về chính trị, trách nhiệm giải trình về hành chính, trách nhiệm giải trình về nghề nghiệp, và trách nhiệm giải trình trước xã hội. Một trong những giải pháp được đưa ra trong Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 là: “Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện cơ chế về trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý..”. Tuy nhiên cho đến hiện nay bản thân quan niệm về trách nhiệm giải trình vẫn còn có những nhận thức khác nhau, với nhiều cấp độ khác nhau. Từ đó, cần có những nghiên cứu khoa học nhằm xác lập cơ sở lý thuyết về trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương, đồng thời khảo sát thực trạng thể chế pháp lý và việc thực hiện các thể chế pháp lý về trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay, nhằm cung cấp các luận cứ khoa học cho việc đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao và hoàn thiện các vấn đề thực tiễn về trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương trong bối cảnh xây dựng nền hành chính công mới ở Việt Nam hiện nay. Đây là cơ sở nhận thức để khẳng định tính cấp bách của việc triển khai nghiên cứu đề tài Trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương theo pháp luật Việt Nam.Do vậy, nhóm em lựa chọn đề tài “Trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương hiện nay. Bài viết dưới đây sẽ góp phần thảo luận nâng cao hiệu quả quản lý góp phần tăng cường trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay

Trang 1

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG

Sinh viên thực hiện : Lò Thị Thanh

Trần Phương ThảoLớp, khoa :Luật C-K13 Khoa Luật và QLXH

Người hướng dẫn : ThS Trịnh Vương An

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU 6

1 Tính cấp thiết của đề tài 6

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 8

PHẦN HAI: NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH 9

1.1 Tính tất yếu phải giải trình của chính quyền địa phương 9

1 2 Khái niệm trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương 10

1.3 Phương thức giải trình 12

1.4 Nội dung trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương 13

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 20

2.1 Cơ sở pháp lý hình thành cho việc thực hiện trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay 20

2.2 Thực trạng pháp luật về trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay 22

2.2.1 Nguyên tắc thực hiện và áp dụng pháp luật về trách nhiệm giải trình 22

2.2.2 Những kết quả làm được 25

2.2.3 Những hạn chế còn tồn tại của trách nhiệm giải trình ở địa phương 25

2.2.4 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 27

Chương 3: QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN VỀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH CUA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 28 PHẦN BA: KẾT LUẬN 33

DANH MỤC THAM KHẢO 35

Trang 3

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương

- Nhóm SV thực hiện: Lò Thị Thanh Mã sinh viên:

Trần Phương Thảo Mã sinh viên:

Người hướng dẫn: ThS Trịnh Vương An

2 Mục tiêu đề tài

- Làm rõ một số vấn đề lý luận, ý nghĩa phương pháp luận để đảm bảo quyền và

lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật

- Tìm hiểu về vấn đề pháp lý liên quan đến trách nhiệm giải trình của chínhquyền địa phương;

- Thực trạng áp dụng pháp luật vào quá trình hoạt động giải trình ở địa phương

- Phân tích, đánh giá trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương Đưa ramột số kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực giải trình của chính quyền địaphương

4 Kết quả nghiên cứu:

- Nhận thức đúng về quyền lợi, quyền hạn, trách nhiệm khi giải trình ở địa

phương;

Trang 4

- Hiểu rõ pháp luật quy định về trách nhiệm giải trình ở địa phương;

- Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện cơ chế về trách nhiệm giải trình của cán bộ,công chức, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý

6 Công bố khoa học của SV từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ tên tạp chí

nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):

Ngày tháng năm

SV chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài

(kí, họ và tên)

Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của SV thực

hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):

Trang 5

PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhìn quá trình hình thành và phát triển nền văn hóa Phương Đông, cũng nhưcác quốc gia khác ở Đông Á, Việt Nam có một nền hành chính lâu đời, trách nhiệmcủa nhân viên nhà nước và chính quyền các cấp trong nền quan chế tập quyền của ViệtNam đã được thiết lập theo những tập tục có từ xa xưa

Mặc dù vậy, trong những năm gần đây, thuật ngữ “trách nhiệm” (responsibility)

và “trách nhiệm giải trình” (accountability), có nguồn gốc Latin là accomptare (giảithích), xuất hiện và được sử dụng ngày càng nhiều trong các văn bản hành chính vàbáo cáo nghiên cứu liên quan đến quá trình cải cách bộ máy nhà nước, cải cách hànhchính cũng như các giải pháp phòng, chống tham nhũng Thuật ngữ "trách nhiệm giảitrình" hàm ý các thông tin chính xác và dễ tiếp cận là cơ sở để đánh giá một công việc

có được thực hiện tốt hay không và gắn với cơ chế khen thưởng, xử phạt để khuyếnkhích làm việc hiệu quả

Trong thực tế, đời sống xã hội ngày càng được nâng lên, nhu cầu của người dânđặt ra đối với các cơ quan và công chức hành chính nhà nước ngày càng cao Ngườidân mong muốn được cung cấp, giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện nhiệm vụ,quyền hạn được giao và chịu trách nhiệm về hậu quả xảy ra liên quan đến việc sử dụngthẩm quyền và những nguồn lực của mình

Xét từ bản chất của các kênh xác lập trách nhiệm giải trình, để hiểu trách nhiệmgiải trình là của ai, đối với ai, về vấn đề gì, được thực hiện bằng công cụ nào, và có thểdẫn tới hệ quả, chế tài gì, có thể phân tách trách nhiệm giải trình theo 4 góc nhìn chitiết hơn, bao gồm: trách nhiệm giải trình về chính trị, trách nhiệm giải trình về hànhchính, trách nhiệm giải trình về nghề nghiệp, và trách nhiệm giải trình trước xã hội.Một trong những giải pháp được đưa ra trong Chiến lược quốc gia phòng, chống thamnhũng đến năm 2020 là: “Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện cơ chế về trách nhiệm giảitrình của cán bộ, công chức, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý ” Tuy nhiên chođến hiện nay bản thân quan niệm về trách nhiệm giải trình vẫn còn có những nhận thứckhác nhau, với nhiều cấp độ khác nhau

Trang 6

Từ đó, cần có những nghiên cứu khoa học nhằm xác lập cơ sở lý thuyết về tráchnhiệm giải trình của chính quyền địa phương, đồng thời khảo sát thực trạng thể chếpháp lý và việc thực hiện các thể chế pháp lý về trách nhiệm giải trình của chính quyềnđịa phương ở Việt Nam hiện nay, nhằm cung cấp các luận cứ khoa học cho việc đềxuất các giải pháp nhằm nâng cao và hoàn thiện các vấn đề thực tiễn về trách nhiệmgiải trình của chính quyền địa phương trong bối cảnh xây dựng nền hành chính côngmới ở Việt Nam hiện nay Đây là cơ sở nhận thức để khẳng định tính cấp bách củaviệc triển khai nghiên cứu đề tài Trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phươngtheo pháp luật Việt Nam.

Do vậy, nhóm em lựa chọn đề tài “Trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phươnghiện nay Bài viết dưới đây sẽ góp phần thảo luận nâng cao hiệu quả quản lý góp phầntăng cường trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2.1 Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu hiệu quả việc giải trình của chính quyền địa phương trong giai đoạnhiện nay có ý nghĩa vô cùng to lớn Những kết quả mà nghiên cứu đem lại là cơ sởkhoa học quan trọng cho việc hoạch định và góp phần hoàn thiện những chính sách vềhoạt động giải trình của chính quyền địa phương nói riêng, cũng như là co sở khoa họccho những chính sách, chủ trương của Đảng về cải cách nền hành chính nhà nước

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Về mặt thực tiễn, với đề tài này nhóm em sẽ một phần nào đó cung cấp một bứctranh toàn cảnh về thực trạng hoạt động giải trình của chính quyền địa phương, chothấy những ưu điểm và mặt thiếu sót của hoạt động này, trên cơ sở đó đưa ra kiếnnghị, giải pháp góp phần phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế, nâng caohiệu quả quản lý của chính quyền địa phương

Trang 7

quy định pháp luật về trách nhiệm giải trình và đưa ra những kiến nghị và giải phápnhằm khắc phục lỗ hổng trong thực tế.

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này nhóm tác giả sử dụng một số phương pháp nghiêncứu chủ yếu sau:

Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp: Đây là phương pháp được áp dụngtrong hầu hết các phần và nội dung của đề tài như: Phân tích các quan niệm, quan điểm

về một vấn đề, rút ra các yếu tố, các bộ phận có mối liên hệ mật thiết với nhau để xáclập một quan điểm, một vấn đề gồm các yếu tố cần và đủ cho một kết luận, một quanniệm đầy đủ hơn

Phương pháp thống kê: Để ghi chép, cập nhật các số liệu, các thông tin, sựkiện, theo trình tự, cách thức nhất định Phương pháp này được áp dụng cho nhữn vấn

đề cần chứng minh từ các số liệu, sự kiện được tập hợp và có độ tin cậy xác định

Đề tài nghiên cứu sẽ sử dụng tập hợp tất cả các phương pháp nói trên để thựchiện những nội dung đã đặt ra

5 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: vấn đề pháp lý liên quan đến trách nhiệm giải trình,thực tiễn việc áp dụng trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương

Khách thể nghiên cứu: đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền địa phương.Phạm vi nghiên cứu: Là những vấn đề liên quan đến trách nhiệm giải trình baogồm: nội dung, cách thức giải quyết, thời hạn, thẩm quyền,…

Việc nghiên cứu: Mô tả thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tronghoạt động giải trình ở địa phương

Trang 8

PHẦN HAI: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH 1.1 Tính tất yếu phải giải trình của chính quyền địa phương

Nhà nước là một thực thể xã hội đặc biệt Sự hiện diện của nó trong tổ chức đờisống con người được thừa nhận một cách tất yếu khách quan Tuy nhiên, nhìn lại lịch

sử tồn tại của nhà nước, bên cạnh những giá trị to lớn đã đóng góp cho sự phát triểncủa xã hội, thì cũng chính nhà nước đã gây ra những đau khổ không thể bù đắp chonhân loại Nguyên do của mặt trái đó xuất phát từ xu hướng tha hóa quyền lực của nhànước

Sự tha hóa quyền lực nhà nước được lý giải dựa trên những cám dỗ lợi ích củaquyền lực và theo nguyên lý: Quyền lực có xu hướng tha hóa, quyền lực tuyệt đối có

xu hướng tha hóa tuyệt đối Từ nghĩa đó, quyền lực nhà nước là một thứ quyền lực có

“xu hướng tha hóa tuyệt đối”, bởi nó hội tụ đủ các yếu tố để trở thành “quyền lực tuyệtđối” Chính vì thế, nhất thiết bên cạnh việc thừa nhận sự tồn tại hiển nhiên của nhànước, nhân loại cũng thừa nhận cả xu hướng tha hóa quyền lực của nó, vừa thừa nhận,người ta vừa tìm cách kiểm soát nó

Kiểm soát quyền lực là một nội dung phức tạp của tổ chức quyền lực nhà nước.Theo nghĩa chung nhất, mọi tổ chức, cá nhân có quyền nhân danh quyền lực nhà nướcđều phải bị kiểm soát Trong đó với những ưu thế vượt trội trong thực thi quyền lực,đồng thời với vai trò là cơ quan công quyền ở địa phương, vừa được phân cấp, chủđộng trong thực thi công vụ, chính quyền địa phương trở thành một trong những thiếtchế có nguy cơ tha hóa quyền lực lớn nhất, do đó kiểm soát quyền lực của chính quyềnđịa phương là nội dung trọng tâm của kiểm soát quyền lực nhà nước Kiểm soát quyềnlực của chính quyền địa phương có nhiều cách thức khác nhau, tuy nhiên trách nhiệmgiải trình được xem là phương thức quan trọng bởi vừa gắn liền với nghĩa vụ giải trìnhcủa chủ thể bị kiểm soát, vừa gắn liền với quyền đòi hỏi giải trình của chủ thể kiểmsoát và quan trọng hơn, với cơ chế kiểm soát bằng trách nhiệm giải trình, chính quyềnđịa phương có thể gánh chịu hậu quả bất lợi lớn nhất khi lạm quyền

Trách nhiệm giải trình theo cách hiểu ở phương Tây được xác định là yếu tốquan trọng nhất trong bốn yếu tố của nền quản trị nhà nước tốt, vì vậy ở đó hệ thống

Trang 9

pháp lý có những quy định chặt chẽ về trách nhiệm giải trình của các cơ quạn nhànước như một hoạt động hiển nhiên, tạo điều kiện để các cơ quan nhà nước đó thựchiện nghĩa vụ này một cách đầy đủ và hiệu quả trên thực tiễn Ngược lại, ở phươngĐông với mô hình hành chính công truyền thống còn rõ nét, trách nhiệm giải trình củacác cơ quan nhà nước nói chung, của chính quyền địa phương nói riêng cả ở việc ghinhận pháp lý cũng như thực hiện trên thực tiễn còn nhiều hạn chế dẫn đến hiệu quảchưa cao, trong đó có Việt Nam.

Điều 2, Hiến pháp Việt Nam 2013 ghi nhận “quyền lực nhà nước là thống nhất

có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiệncác quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Điều này sau đó được cụ thể hóa bằng cácđiều khoản quy định cụ thể về từng nhánh quyền, trong đó:

Khoản 1 Điều 112 ghi nhận chính quyền địa phương là “tổ chức và bảo đảmviệc thi hành pháp luật tại địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơquan nhà nước cấp trên”;

Khoản 1 Điều 113, Hiến pháp 2013: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lựcnhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhândân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và

cơ quan nhà nước cấp trên”;

Khoản 1 Điều 114: “Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hộiđồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quanhành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơquan hành chính nhà nước cấp trên” Các điều khoản Hiến định này là cơ sở pháp lý đểchính quyền địa phương thực hiện trách nhiệm giải trình trước các chủ thể có quyềnyêu cầu, việc thực hiện tốt trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương là mộttrong những điều kiện quan trọng để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,một Nhà nước kiến tạo và phát triển

1.2 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu

*Khái niệm “chính quyền địa phương”

Được sử dụng tương đối rộng trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước cũngnhư trong các sách báo chính trị pháp lý nhưng chưa được giải thích chính thức trong

Trang 10

các văn bản pháp luật hiện hành Mặc dù vậy, nhìn chung, các chuyên gia về hànhchính và pháp lý ở Việt Nam cho rằng “chính quyền địa phương” được hiểu là “bộmáy thực thi quyền lực nhà nước ở 3 cấp tỉnh, huyện, xã”, bao gồm HĐND và UBND

ở các cấp này

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, khái niệm “chính quyền địa phương đãđược sử dụng trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương được ban hành ngày31/5/1958, cho đến các văn bản pháp luật hiện hành như Hiến pháp năm 2013, Luật Tổchức chính quyền địa phương năm 2015 Các đạo luật về tổ chức chính quyền địaphương, về Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Nhân dân đã góp phần xác lập quan niệmrằng chính quyền địa phương gồm hai loại thiết chế là: Hội đồng Nhân dân và cơ quanhành chính ở địa phương (Ủy ban hành chính, nay là Ủy ban Nhân dân)

Chính quyền địa phương của Việt Nam là một bộ phận hợp thành của chínhquyền nhà nước thống nhất, bao gồm các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương donhân dân trực tiếp bầu ra và các cơ quan, tổ chức khác được thành lập trên cơ sở các

cơ quan quyền lực nhà nước này

* Quan niệm về trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương

Trách nhiệm giải trình - Accountability là một thuật ngữ pháp lý, hành chínhthông dụng trên thế giới nhưng còn mới ở Việt Nam Điều này được lý giải không chỉbằng tính phổ biến của trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ các nước trênthế giới, đặc biệt ở các quốc gia có nền hành chính công phát triển mà còn được minhchứng bằng sự đa dạng về số lượng các công trình nghiên cứu từ những bài viết, tiểuluận đến những báo cáo thực tiễn về trách nhiệm giải trình và điều ngược lại diễn ra ởViệt Nam, khi mà số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này còn rất hạn chế

Trách nhiệm giải trình là một thuật ngữ chính trị pháp lý, được du nhập vàonước ta trong quá trình hội nhập, phát triển, nhất là trong công tác phòng, chống thamnhũng (được coi là một trong những trụ cột nhằm phòng chống tham nhũng hiệu quả).Cho đến nay, về mặt học thuật và pháp lý, vẫn chưa có sự ghi nhận thống nhất kháiniệm này Trong Nghị định số 90/2013/NĐ-CP ngày 08/8/2013 của Chính phủ về tráchnhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạnđược giao không đưa ra khái niệm đầy đủ về trách nhiệm giải trình mà chỉ đưa ra khái

niệm về giải trình với nghĩa là việc “cơ quan Nhà nước cung cấp, giải thích, làm rõ

Trang 11

các thông tin về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó” Trong các công trình nghiên cứu, khái

niệm “trách nhiệm giải trình” mặc nhiên được hiểu và sử dụng chỉ với một số cấuthành của “giải trình”, bao gồm giải thích, làm rõ Và “trách nhiệm giải trình” đượchiểu là trách nhiệm giải thích, làm rõ của các chủ thể được giao thực hiện trách nhiệmgiải trình

Giải trình trong nền công vụ thường được nhìn nhận ở nhiều góc độ Có giảitrình ở khía cạnh chính trị - giải trình của các chính khách trước người dân về tráchnhiệm của mình đối với các vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý Giải trình ở khía cạnh pháp

lý đó là giải trình của công chức, viên chức khi để xảy ra các sự việc ảnh hưởng đếntính đúng đắn trong thực thi nhiệm vụ, công vụ Với giải trình của các chính khách, làgiải trình trước cử tri, trước nhân dân; giải trình của cán bộ, công chức trong thực thinhiệm vụ, công vụ là giải trình trước người lãnh đạo, người giao nhiệm vụ và cả vớinhững người có liên quan, chịu sự ảnh hưởng bởi các quyết định, hành vi của cán bộ,công chức Tuy vậy, về bản chất, nội dung của “giải trình” không thay đổi Và điềunày cũng đúng với giải trình trong tất cả các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Chỉ khigắn với cụm từ “trách nhiệm”, trạng thái của giải trình được nhấn mạnh, và thiên vềtính chính trị và pháp lý của cá nhân người giải trình “Trách nhiệm” ở đây được hiểu

đó là việc phải làm, mang tính tự thân của chủ thể và cũng là “trách nhiệm” theo quyđịnh buộc phải thực hiện giải thích, trình bày, làm rõ các nội dung giải trình, đi đến tậncùng của vấn đề cần giải trình Bên cạnh đó còn thể hiện trách nhiệm pháp lý phải chịuhậu quả về các hành vi của mình

1.3 Phương thức giải trình

Trách nhiệm giải trình có nhiều phương thức khác nhau Tuy nhiên, có thể thấytồn tại hai phương thức phổ biến nhất được ghi nhận, đó là giải trình thường xuyên vàgiải trình khi có yêu cầu

Giải trình thường xuyên hay còn gọi là giải trình chủ động là hoạt động giảitrình gắn liền với cơ quan, tổ chức được tiến hành chủ yếu theo định kỳ để cung cấpthông tin quản lý mang tính vĩ mô bên cạnh việc giải trình đột xuất nhằm kịp thời làm

rõ các nội dung thông tin cụ thể liên quan đến các hiện tượng, vụ việc đang xảy ra Ví

dụ, các hoạt động giải trình chủ động được quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Phòng,

Trang 12

chống tham nhũng năm 2005 gồm: Công bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị;niêm yết tại trụ sở làm việc; thông báo bằng văn bản đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cánhân có liên quan; phát hành ấn phẩm; thông báo trên các phương tiện thông tin đạichúng; đưa lên trang thông tin điện tử.

Giải trình khi có yêu cầu hay còn gọi là giải trình bị động là hoạt động giải trìnhgắn liền với cá nhân trong quá trình thực thi công vụ, phải tiến hành làm rõ các thôngtin liên quan khi có yêu cầu từ phía bên ngoài mà thường là người dân Hoạt động nàythực chất là sự hỏi đáp nhằm làm rõ các thông tin gắn liền với các vụ việc cụ thể khithực thi công vụ

Trách nhiệm giải trình và giám sát thực thi chính sách, pháp luật là nhữngnhiệm vụ có vai trò ngày càng quan trọng đối với chính quyền địa phương Tráchnhiệm giải trình bao gồm hai yếu tố: Khả năng giải đáp và chịu trách nhiệm về hậu quảxảy ra

Khả năng giải đáp là việc yêu cầu các công chức phải giải trình theo định kỳnhững vấn đề liên quan đến việc sử dụng thẩm quyền của mình như thế nào, nhữngnguồn lực được sử dụng vào đâu và với những nguồn lực đó đã đạt được kết quả gì

Chính quyền phải chịu trách nhiệm về việc sử dụng thẩm quyền, các nguồn lựccông và giải trình kết quả thu được thông qua ý kiến phản hồi của người sử dụng dịch

vụ và của mọi người dân Tăng cường trách nhiệm giải trình với bên ngoài là việc cầnthiết trong bối cảnh cần tăng cường các biện pháp kiểm soát và đối trọng mới để bảođảm việc tiếp cận và chất lượng của dịch vụ công không bị giảm sút

Thực hiện trách nhiệm giải trình là một biểu hiện rõ rệt cho những nỗ lực xâydựng một nhà nước dân chủ của Đảng và Nhà nước ta Việc được tiếp cận thông tinthông qua hoạt động giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước như là một yếu tốquan trọng giúp cho người dân tham gia vào đời sống quản lý nhà nước một cách cóhiệu quả Sự công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhànước cũng được xác định là một trong những yêu cầu của việc xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay Trách nhiệm giải trình còn đượccoi như một biểu tượng, mục tiêu hướng tới Trách nhiệm giải trình giúp truyền tảihình ảnh quản lý tốt, gợi lên một hình ảnh đáng tin cậy, trung thực, công bắng và tínhchịu trách nhiệm của người đứng đầu trong quản lý nhà nước

Trang 13

1.4 Nội dung trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương

Trách nhiệm giải trình hướng tới việc làm rõ các nội dung liên quan đến hoạtđộng công vụ Nghĩa là hầu hết các hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước đều phảigắn với trách nhiệm giải trình Tuy nhiên, ngoại trừ các thông tin được xác định có nộidung liên quan đến bí mật quốc gia Danh mục này phải được xác lập thông qua kênhcủa các nhà lập pháp để bảo đảm tính công bằng

Ngoài ra, nguồn gốc tài sản, thu nhập và tài sản tăng thêm của nhân viên nhànước cũng là nội dung của trách nhiệm giải trình Nội dung này xuất phát từ vai tròcủa trách nhiệm giải trình đối với công tác phòng, chống tham nhũng Tài sản cá nhâncủa nhân viên nhà nước phải được minh bạch hoá qua con đường giải trình bởi quyđịnh về công khai thu nhập, tài sản là một lời nhắc nhở hiệu quả đối với các công chức

về bảo đảm trách nhiệm giải trình đi kèm với chức trách

Xét từ bản chất của các kênh xác lập trách nhiệm giải trình, để hiểu trách nhiệmgiải trình là của ai, đối với ai, về vấn đề gì, được thực hiện bằng công cụ nào, và có thểdẫn tới hệ quả, chế tài gì, có thể phân tách trách nhiệm giải trình theo 4 góc nhìn chitiết hơn, bao gồm:

 Trách nhiệm giải trình về chính trị

 Trách nhiệm giải trình về hành chính

 Trách nhiệm giải trình về nghề nghiệp

 Trách nhiệm giải trình trước xã hội

a) Trách nhiệm giải trình về chính trị

Ở Việt Nam, về mặt chính trị, cá nhân, tổ chức ở bất kỳ cấp nào trong nền hànhchính công đều phải chấp hành sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng Sản Việt Nam.Tiêu chí để đánh giá trách nhiệm giải trình trước Đảng là sự tuân thủ sự phân công của

tổ chức Đảng, là sự chấp hành đường lối và chính sách của Đảng Về nguyên lý, cơchế vận hành của kênh trách nhiệm giải trình về chính trị này khá đơn giản: hành vituân thủ được khuyến khích, mọi hành vi bất tuân có thể dẫn tới chế tài, từ kỷ luậtĐảng có thể dẫn tới những chế tài hành chính, pháp lý khác Một hệ thống kiểm tra củaĐảng được thiết lập, từ Ủy ban Kiểm tra Trung ương, cho tới Ủy ban kiểm tra cácĐảng bộ, Tỉnh ủy, Đảng ủy cơ sở Từ 2013, một hệ thống các cơ quan nội chính của

Trang 14

Đảng cũng được thiết lập từ trung ương tới địa phương, trong đó có chức năng giámsát sự tuân thủ, đấu tranh chống tham nhũng

Tuy nhiên, vì Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân, để giữ được sự lãnh đạocủa mình, để đo lường trách nhiệm chính trị, ở Việt Nam cũng xuất hiện những tiêuchí đánh giá nhiệm vụ chính trị gắn liền với đo lường kết quả đầu ra (outcomes) hoặcảnh hưởng (impacts) của công chức, cán bộ lãnh đạo trong lĩnh vực được ủy quyềnquản lý Thực vậy, Bộ trưởng và lãnh đạo bộ, vụ trưởng, công chức, cán bộ đứng đầucác tổ chức chính trị, xã hội, đơn vị sự nghiệp có quyền chủ động đề xuất các chínhsách phù hợp trong phạm vi quản lý, miễn là phù hợp với nhiệm vụ chính trị đượcgiao Một mặt được chủ động, được trao quyền rộng rãi, mặt khác cá nhân/tổ chứcđược trao quyền phải chịu trách nhiệm về kết cục đầu ra của chính sách và hoạt độngcủa nền công vụ Nói cách khác, trong trách nhiệm giải trình chính trị, ngoài sự trungthành với Đảng, các cán bộ lãnh đạo trong nền hành chính công hiện nay cũng phải lấykết cục đầu ra và ảnh hưởng chính sách đối với nhân dân làm thước đo

Về cách thực hiện trách nhiệm giải trình về chính trị, ngoài hệ thống kiểm tra vàđánh giá nội bộ của Đảng, lãnh đạo nền hành chính, nhất là các thành viên Chính phủ

và người giữ chức vụ do cơ quan dân cử bầu, phải chịu trách nhiệm trước cơ quan dân

cử Các kênh đánh giá trách nhiệm dựa trên thông tin, báo cáo định kỳ, chịu sự giámsát của cơ quan dân cử, giám sát của tổ chức xã hội Ở các cấp chính quyền, lãnh đạocác tổ chức Đảng thường chỉ đạo triển khai các kênh phi chính thức để thăm dò dưluận, ví dụ tiến hành lấy phiếu tín nhiệm, đánh giá cán bộ lãnh đạo Tuy nhiên ngườiđược tham gia các cuộc đánh giá thường có tính đại diện, không phải trưng cầu dân ýphổ thông, kết quả lấy ý kiến cũng chỉ có ý nghĩa thăm dò tín nhiệm, không công khai.Trong các phiên họp của cơ quan dân cử, từ Hội đồng Nhân dân tới Quốc hội, thườngsau phần khai mạc, đại diện tổ chức Mặt trận Tổ quốc thường đại diện cho các đoànthể tổng hợp ý kiến và các kiến nghị của cử tri Các kênh này phản ánh dư luận, thái

độ, mong đợi của người dân đối với nền hành chính công Việt Nam Nếu không đápứng được trách nhiệm giải trình về chính trị, cá nhân, tổ chức bị xem xét trách nhiệmtheo các kênh nội bộ của Đảng, có thể bị chất vấn, bỏ phiếu tín nhiệm, tùy theo mức

độ có thể dẫn tới sức ép từ chức hoặc bị bãi nhiệm các chức vụ qua các kênh chínhthức của cơ quan dân cử hoặc cơ quan hành chính

b) Trách nhiệm giải trình về hành chính

Trang 15

Nối tiếp truyền thống một quốc gia tập quyền, nền hành chính Việt Nam đề cao

sự tuân thủ của cấp dưới đối với cấp trên Quyền lực được trao từ trên xuống, bởi vậytrách nhiệm giải trình của cá nhân, tổ chức cấp dưới được đánh giá dựa trên sự tuânthủ và trung thành đối với các mục tiêu, nhiệm vụ, quy chuẩn, quy trình, biểu mẫu, nộiquy do cấp trên ấn định

Như vậy, khác với khía cạnh chính trị, trách nhiệm giải trình về hành chínhnhấn mạnh tới sự tuân thủ chuẩn mực và quy trình trong nội bộ nền hành chính công.Chi tiết hơn, trách nhiệm giải trình về mặt hành chính gồm 2 loại:

- Trách nhiệm theo hàng dọc (giữa thuộc cấp với thủ trưởng, giữa cấp dưới với cấptrên)

- Trách nhiệm hàng ngang (giữa cá nhân/tổ chức với các đơn vị khác có chức năngthanh tra, giám sát)

Vi phạm trách nhiệm giải trình về hành chính có thể dẫn tới chế tài hành chính(thăng giáng chức vụ, kỷ luật, di chuyển nhiệm sở) hoặc chế tài pháp lý (kỷ luật, buộcthôi việc, đền bù thiệt hại, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự) Pháp luật hiện hành

ở Việt Nam đã ghi nhận và thiết lập các hình thức trách nhiệm hành chính truyềnthống này Công chức thuộc cấp có nghĩa vụ chấp hành quyết định của thủ trưởng, cấpdưới phải tuân thủ cấp trên Công chức có nghĩa vụ trung thành với quốc gia, có nghĩa

vụ tiến hành công vụ một cách cẩn trọng, bảo mật, sử dụng tiết kiệm nguồn lực công,tuân thủ chuẩn mực đạo đức ứng xử với người dân, đồng nghiệp, cấp trên, nhân viêndưới quyền Tùy theo loại công vụ, trách nhiệm này còn tăng thêm theo luật chuyênngành

Để đảm bảo thực hiện trách nhiệm giải trình về hành chính, cơ chế nội bộ baogồm kiểm tra và giám sát của thủ trưởng đối với nhân viên thuộc cấp, của cơ quan cấptrên 4 đối với cá nhân/tổ chức cấp dưới Các biện pháp kiểm soát nội bộ này thuộcchức năng quản lý của cơ quan chủ quản, thường rất tổng quát, bao gồm: quyết địnhthành lập, điều chỉnh hoặc giải thể đơn vị cấp dưới, phê duyệt chức năng, nhiệm vụcủa cấp dưới, phê chuẩn các đề nghị của cấp dưới, kiểm soát các nguồn lực (tài chính,vật chất, con người), báo cáo định kỳ, kiểm tra và đánh giá định kỳ Đây là khái niệm

cơ chế chủ quản rất phổ biến ở Việt Nam

Trang 16

Trách nhiệm giải trình về hành chính theo hàng ngang là trách nhiệm đối vớicác cơ quan có chức năng giám sát bên ngoài, ví dụ trước Thanh tra Chính phủ và hệthống cơ quan thanh tra công vụ ngành, địa phương; trách nhiệm trước các cơ quangiám sát có tính chất nội bộ, trách nhiệm trước sự giám sát của Kiểm toán Nhà nước,giám sát của hệ thống tòa án, cũng như trách nhiệm giải trình với xã hội và người dân(là người chủ và cũng là khách hàng thụ hưởng dịch vụ của hành chính công) Hiệnnay, trách nhiệm giải trình theo hàng ngang tuân theo pháp luật chuyên ngành, ví dụLuật tiếp công dân, Luật khiếu nại, Luật tố cáo, Luật giám sát của Quốc hội, Luật kiểmtoán, Luật báo chí, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đạo luật tố tụng bảo đảm

tố quyền của người dân trước các cơ quan tư pháp Người dân ở đây là trước hết lànhững khách hàng cụ thể của dịch vụ hành chính công

Vì vậy, tăng cường giải trình và minh bạch trong hoạt động hành chính nhànước đang là xu hướng tất yếu của nền hành chính hiện đại Đảng, Nhà nước ta đã vàđang nỗ lực thực hiện những cam kết phục vụ nhân dân; mở rộng và kêu gọi sự thamgia tích cực của người dân thực hiện giám sát, phản biện các hoạt động quản lý củachính quyền Trong tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, giải trình và minhbạch trong hoạt động hành chính trở thành nhiệm vụ xuyên suốt trong các nội dung cảicách hành chính ở Việt Nam Giải trình và minh bạch trước hết là nhằm bảo đảm bảnchất dân chủ của xã hội, thể hiện quyền của người dân trong việc tham gia quản lý nhànước Giải trình và minh bạch là một trong những giải pháp quan trọng để khắc phục

tệ quan liêu, tham nhũng, làm trong sạch bộ máy quản lý; là điều kiện không thể thiếu

để bộ máy nhà nước tiếp thu trí tuệ của nhân dân đóng góp cho các hoạt động quản lý

và là một yêu cầu cần thiết để thành công trong hội nhập quốc tế

c) Trách nhiệm giải trình về nghề nghiệp

Ngoài hai loại trách nhiệm chính trị và trách nhiệm hành chính, như đã phântích ở trên, công chức Việt Nam phải tuân thủ trách nhiệm giải trình về nghề nghiệp.Bởi lẽ, công chức trong nền hành chính công thường cũng hoạt động theo nghề nghiệpchuyên môn, ví dụ cảnh sát, quân nhân trong các lực lượng vũ trang, luật gia trong các

cơ quan hành pháp, lập pháp hoặc tư pháp, nhà giáo dục trong quản lý nhà nước vềđào tạo, chuyên gia kinh tế, xây dựng, y dược, thẩm định viên trong các ngành dọc cóchức năng quản lý và điều tiết nhà nước Hành vi hành chính thường cũng là hành vichuyên môn, cần được giám sát bằng chuẩn mực chuyên môn của người trong nghề

Trang 17

Nếu không có chuẩn mực nghề nghiệp chuyên môn, đôi khi rất khó xác định tráchnhiệm giải trình trong nền hành chính công

Hiện nay, chuẩn mực và đạo đức nghề nghiệp ở Việt Nam thường được giámsát bởi các hội đồng, hiệp hội, các kênh công khai hoặc bán công khai, chính thức, bánchính thức, lồng ghép ngay trong công tác quản lý của cơ quan hành chính, ví dụ hộiđồng nghiệm thu, hội đồng giáo chức, các hội đồng đánh giá chuyên môn, hội đồngkhoa học, các cuộc bỏ phiếu và lấy ý kiến được tổ chức ngay trong công sở Tráchnhiệm giải trình về nghề nghiệp đôi khi được xem như bổ trợ, hỗ trợ thêm cho tráchnhiệm giải trình về hành chính

d) Trách nhiệm giải trình trước xã hội

Không chỉ chịu trách nhiệm với cấp trên theo quan hệ hàng dọc, với các cơquan hàng ngang có chức năng thanh tra công vụ, kiểm toán, giám sát và với ngườidân như khách hàng, công chức và đơn vị hành chính ở Việt Nam còn có trách nhiệmgiải trình với tất cả các bên liên đới, với toàn thể xã hội và công chúng Đó chính làtrách nhiệm giải trình của công chức và đơn vị hành chính đối với xã hội Loại tráchnhiệm này đã xuất hiện ở Việt Nam vì hai lý do

Thứ nhất, nhân dân và toàn thể xã hội ngày càng trở thành một lực lượng biết

truy tìm trách nhiệm của nền hành chính công, chứ không chỉ là đối tượng quản lý Vì

lẽ đó, nền hành chính bị truy xét, bị đặt trước áp lực ngày càng phải minh bạch hóa

Thứ hai, mọi chính sách công thường chỉ có thể được thực hiện hiệu quả, nếu

có sự chia sẻ và ủng hộ của dân chúng Nói cách khác, hành chính công muốn thựchiện được nhiệm vụ một cách hiệu quả tất yếu phải dựa vào sự hậu thuẫn của toàn thể

xã hội Có câu: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.Lịch sử nền hành chính Việt Nam không thiếu minh chứng cho nhận định này Hộinghị Diên Hồng đã xuất hiện từ thời nhà Trần của nhà nước phong kiến Đại Việt.Ngày nay, không có sự tham gia tích cực của xã hội, thì các nhiệm vụ y tế cộng đồng,phổ cập giáo dục, bảo vệ môi trường không thể thành công

Cách trả lời xã hội, chịu trách nhiệm giải trình trước xã hội được thực hiện tùytheo hoàn cảnh của các địa phương, các ngành, thậm chí tùy thuộc vào phong cáchlãnh đạo khác nhau của các chính khách

Trang 18

Ví dụ ông Nguyễn Bá Thanh, nguyên Bí thư Đà Nẵng, được cho là có thói quengặp và giải quyết yêu cầu của người dân một cách trực tiếp, song lãnh đạo các tỉnhkhác chưa chắc đã thoải mái khi phải xử lý công việc theo cách này Cũng như vậy,mỗi Bộ trưởng đều có cách thể hiện trách nhiệm trước xã hội theo những phong cáchriêng của mình

Trách nhiệm giải trình trước xã hội đã được thực hiện ở Việt Nam bằng nhiều

cơ chế, ví dụ tham vấn người dân và dư luận xã hội trước khi quyết định các chínhsách và hành vi hành chính, hoặc lắng nghe ý kiến của người dân trong giải quyếtkhiếu nại tố cáo sau khi quyết định hành chính đã hoặc đang được thực thi Ngoài cáckênh dân chủ đại diện, trách nhiệm giải trình trước xã hội cũng được thực hiện qua cáckênh dân chủ trực tiếp, tổ chức tiếp dân, lấy ý kiến nhân dân trực tiếp Mỗi khi có xếphạng hoặc đánh giá chất lượng hành chính, ví dụ qua các chỉ số PCI hoặc PAPI, ngườiđứng đầu nền hành chính công có liên quan, nhiều hay ít, đều phải có trách nhiệm giảitrình trước công chúng địa phương hoặc khu vực, ngành nghề do tổ chức này quản lý.Trong quá trình hối thúc trách nhiệm giải trình trước xã hội, báo chí có một vai trògiám sát, thúc đẩy và gây sức ép tuân thủ đáng kể đối với công chức và nền hànhchính Một hình ảnh người khuyết tật lết từng bậc để leo tới nơi tiếp công dân vốnchưa có thói quen xây lối đi riêng cho người dùng xe lăn, hình ảnh đó sẽ ngay lập tứcdẫn tới sự quan tâm và lên án của công chúng Tuy không dẫn tới trách nhiệm pháp lý,song với sự lan truyền và tiếp sức của truyền thông đại chúng, sức ép xã hội sẽ hìnhthành, buộc công chức và công sở ngày càng phải có trách nhiệm ứng xử đúng mựchơn với người dân Dần dần, sức ép xã hội thúc đẩy nền hành chính phải ghi nhận, sửađổi, hủy bỏ, điều chỉnh các hành vi hành chính có liên quan Những điều này đều đã cóthể quan sát thấy ở Việt Nam, về lâu dài chúng góp phần làm tăng tính chính danh củanền hành chính, các chủ trương, chính sách và quyết định hành chính sẽ nhận được sựủng hộ của toàn thể xã hội, việc thực hiện chúng sẽ được dễ dàng, hiệu quả hơn

Trang 19

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Cơ sở pháp lý hình thành cho việc thực hiện trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay

Trách nhiệm giải trình tuy mới được quy định bằng một văn bản quy phạm cótính chuyên biệt từ năm 2013, nhưng thể chế về trách nhiệm giải trình đã tồn tại trongnhiều văn bản pháp luật trước đó Số lượng các văn bản hàm chứa các quy tắc xử sựliên quan đến trách nhiệm giải trình là khá lớn Nhưng theo trình tự mốc thời gian và

độ liên quan, có thể kể đến một số các văn bản sau:

Thứ nhất, Luật Báo chí năm 1989 (được sửa đổi, bổ sung năm 1999) đã quy

định về việc trả lời trên báo chí tại Điều 8 như sau: “Người đứng đầu cơ quan báo chí

có quyền yêu cầu các tổ chức, người có chức vụ trả lời vấn đề mà công dân nêu ra trênbáo chí; các tổ chức, người có chức vụ có trách nhiệm trả lời trên báo chí” Như vậy,đây là cơ sở cho việc xác lập quyền được yêu cầu cơ quan, cá nhân có chức vụ phảigiải trình trước báo chí – chủ thể quan trọng của việc yêu cầu giải trình, cũng như quyđịnh trách nhiệm giải trình của cơ quan, cá nhân có chức vụ trước báo chí là nghĩa vụ,trách nhiệm

Thứ hai, Năm 2004, Quy chế về minh bạch tài chính công được ban hành theo

Quyết định số 192/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đòi hỏi chính quyền địaphương phải công khai dự toán và sử dụng ngân sách nhà nước hàng năm, các khoản

bổ sung từ ngân sách cấp trên, việc thu và chi phần do nhân dân đóng góp Ngoài ra,còn có các cơ chế khác được thực hiện cũng có thể tăng cường minh bạch của chínhquyền địa phương, như bắt buộc kê khai thu nhập và tài sản đối với cán bộ cấp cao ởđịa phương và nghĩa vụ phản hồi thông tin của người dân trong vòng 10 ngày

Ở địa phương, những hình thức quan trọng về trách nhiệm giải trình đã đượctriển khai Một mốc quan trọng về trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương

là giao cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phê duyệt phân bổ nguồn thu ngân sách địaphương cho cơ quan cấp dưới, các tiêu chí và cơ chế phân bổ, thu phí và lệ phí, đónggóp của người dân

Trang 20

Công tác giám sát tài chính của chính quyền địa phương cũng được tăng cườngthông qua việc thành lập Kiểm toán Nhà nước với chức năng kiểm toán độc lập tất cảcác mục thu - chi ngân sách nhà nước, bao gồm cả ngân sách địa phương.

Chính quyền địa phương có trách nhiệm giải trình với cấp trên về việc sử dụngngân sách Các cơ quan chức năng trung ương quy định những hạn mức và tiêu chuẩnnhất định mà chính quyền cấp tỉnh phải áp dụng khi phân bổ ngân sách để đảm bảo đạtđược mục tiêu phát triển

Thứ ba, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007,

2012) quy định quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức và cá nhân, cụ

thể là quy định tại Điều 31:” Quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức”,

Điều 32:” Quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cá nhân”.

Thứ tư, Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 là văn

bản chứa đựng quy phạm pháp lý quan trọng về trách nhiệm giải trình của chính quyềnđịa phương, mà cụ thể là cấp xã Pháp lệnh đã quy định rõ phạm vi điều chỉnh ngay ởĐiều 1: ” Pháp lệnh này quy định những nội dung phải công khai để nhân dân biết;những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiếntrước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát; tráchnhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung làcấp xã), của cán bộ thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc (sau đây gọi chung là thôn), tổ dânphố, khu phố, khối phố (sau đây gọi chung là tổ dân phố), của cơ quan, tổ chức, cánhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã.”

Thứ năm, Nghị định số 90/2013/NĐ-CP ngày 08/8/2013 của Chính phủ với ý

nghĩa là một văn bản chính thức đầu tiên về trách nhiệm giải trình Nghị định quy địnhtrách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạnđược giao, trong đó bao gồm cả cơ quan nhà nước ở địa phương Nghị định này đượchướng dẫn thực hiện bằng Thông tư số 02/2014/TT-TTCP ngày 29/4/2014 của Thanhtra Chính phủ, Thông tư chủ yếu làm rõ trình tự, thủ tục yêu cầu giải trình và tiến hànhgiải trình

Pháp lệnh về thực hiện dân chủ ở cơ sở đã tập trung vào chính quyền cấp xã vàquy định bốn quyền cơ bản, đó là: "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" Nhữngquyền này được áp dụng trong nhiều hoạt động ở cấp xã, như việc sử dụng ngân sách

Trang 21

và đóng góp của người dân, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự án và kế hoạch đầu

tư công, quản lý sử dụng đất, văn bản pháp lý, các thủ tục hành chính và nhiều hoạtđộng khác

Việc thi hành những quy định đề ra trong các văn bản luật là yếu tố thiết yếu đểnâng cao trách nhiệm giải trình lên trên Ở nước ta, một số cơ quan nhà nước đóng vaitrò quan trọng trong lĩnh vực này như: Thanh tra Chính phủ thực hiện các hoạt độngthanh tra liên quan đến việc tuân thủ pháp luật; Kiểm toán Nhà nước thực hiện hoạtđộng kiểm toán; Bộ Công an thực hiện điều tra tội phạm

Hệ thống trách nhiệm giải trình ở nước ta hiện nay chủ yếu dựa vào cơ chế giảitrình lên trên thông qua nhiều cấp bậc, khiến công chức lo sợ về các nguy cơ rủi ro.Công chức thường thụ động nếu không được giao thẩm quyền rõ ràng Vì vậy, tăngcường trách nhiệm giải trình một cách phù hợp nhằm khuyến khích đổi mới, sáng tạo

và nâng cao kết quả hoạt động là việc làm cấp thiết hiện nay Đa dạng hóa hệ thốngtrách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước theo hướng giải trình với người dân vàdoanh nghiệp là một hướng đi thích hợp

2.2 Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương

2.2.1 Nguyên tắc thực hiện và áp dụng pháp luật về trách nhiệm giải trình

- Nguyên tắc thực hiện và áp dụng pháp luật về trách nhiệm giải trình của cơquan nhà nước được quy định tại Điều 4 Nghị định 90/2013/NĐ-CP quy định tráchnhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đượcgiao Việc thực hiện trách nhiệm giải trình phải theo những nguyên tắc sau đây:

Bảo đảm công khai, minh bạch, đầy đủ, kịp thời và đúng thẩm quyền;

Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân

* Nguyên tắc: “Bảo đảm công khai, minh bạch, đầy đủ, kịp thời và đúng thẩm quyền”

Cơ sở của nguyên tắc công khai, minh bạch, đầy đủ, kịp thời và đúng thẩmquyền trong hoạt động hành chính của các cơ quan nhà nước bắt nguồn từ các họcthuyết về sự kiểm soát (hạn chế) quyền lực nhà nước Bởi lẽ, những cá nhân, tổ chức

đại diện quyền lực nhà nước luôn có xu hướng lạm quyền: “Trong việc tạo dựng một chính phủ con người quản lý con người, khó khăn lớn nằm ở chỗ trước hết phải bảo

Trang 22

đảm chính phủ kiểm soát được những người phải quản lý và tiếp theo bảo đảm chính phủ phải kiểm soát được chính bản thân mình” (Madison James, 1788)” Vì vậy, một

nền dân chủ thực sự chỉ có khi quyền lực nhà nước được kiểm soát, hạn chế bởi nhữngthiết chế dân chủ, người dân được tham gia vào các quá trình xã hội Để hạn chế quyềnlực nhà nước, các quốc gia áp dụng và thực thi những phương thức hạn chế quyền lựcnhà nước từ bên trong như Hiến pháp và hệ thống luật pháp, tổ chức bộ máy theo cáchình thức phân quyền và cơ chế kiềm chế, đối trọng quyền lực khác nhau Trong đó,công khai, minh bạch được coi là một trong những phương thức hạn chế quyền lực nhànước từ bên ngoài Theo đó, nhà nước với tư cách là chủ thể của quyền lực công phảicông khai, minh bạch hoạt động của mình với toàn thể xã hội và công chúng

Theo từ điển tiếng Việt, công khai “là việc không giữ kín, mà để cho mọi người đều có thể biết” Minh bạch là “rõ ràng, rành mạch” Trong hoạt động của bộ máy nhà

nước, công khai nghĩa là mọi hoạt động của nhà nước phải được công bố hoặc phổbiến, truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, làm cho mọi người dân cóthể tiếp cận được các quyết định của nhà nước một cách dễ dàng; minh bạch nghĩa làkhông những phải công khai mà còn phải trong sáng, không khuất tất, không rắc rối,không gây khó khăn cho công dân trong tiếp cận thông tin Công khai gắn liền vớiminh bạch Chính phủ công khai, minh bạch phải có trách nhiệm tạo điều kiện đểngười dân có thể tiếp cận được với các văn bản và thông tin của chính quyền Trêntinh thần đó, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm

2007 và 2010) đưa ra khái niệm: “Công khai là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị công bố, cung cấp thông tin chính thức về văn bản, hoạt động hoặc về nội dung nhất định”

(Điều 2, khoản Như vậy, có thể hiểu công khai, minh bạch trong quản lý hành chínhnhà nước là việc làm cho mọi người dân có thể biết và hiểu cơ quan hành chính nhànước có chức năng, nhiệm vụ gì, hoạt động như thế nào trong khuôn khổ phù hợp vớithực tiễn và các quy định của pháp luật

Cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải trình việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạnđược giao là nội dung được quy định tại Nghị định số 90/2013 ngày 08 tháng 08 năm

2013 của Chính phủ Theo Nghị định này, các cơ quan hành chính nhà nước, các đơn

vị sự nghiệp công lập thuộc cơ quan hành chính nhà nước và người có thẩm quyền cótrách nhiệm giải trình đối với những nội dung liên quan đến việc thực hiện quyền vànghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khi các tổ chức, cá nhân đó yêu cầu;

Trang 23

ngoại trừ các nội dung, thông tin liên quan đến bí mật nhà nước; liên quan đến việc chỉđạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong nội bộ cơ quan nhà nước; thuộc bí mật

đời tư, bí mật kinh doanh và các nội dung đã được giải trình

Các yêu cầu giải trình sau 90 ngày kể từ ngày cơ quan, tổ chức, cá nhân nhậnđược hoặc biết được quyết định, hành vi của cơ quan Nhà nước tác động trực tiếp đếnquyền, lợi ích hợp pháp của mình cũng không thuộc phạm vi trách nhiệm giải trình của

cơ quan có thẩm quyền Nghị định cũng chỉ rõ, người giải trình là người đứng đầu cơquan nhà nước hoặc được người đứng đầu ủy quyền thực hiện việc giải trình có tráchnhiệm cung cấp, giải thích, làm rõ các thông tin về nhiệm vụ được giao và trách nhiệmcủa mình trong việc thực hiện nhiệm vụ đó Đối với những yêu cầu giải trình trực tiếp

có nội dung đơn giản, người giải trình có thể thực hiện giải trình trực tiếp, sau ký hoặcđiểm chỉ xác nhận vào biên bản thực hiện việc giải trình Đối với những yêu cầu giảitrình khác, sau khi tiến hành nghiên cứu nội dung yêu cầu, làm việc trực tiếp với ngườiyêu cầu để làm rõ những nội dung liên quan khi cần thiết, người giải trình phải banhành và gửi văn bản giải trình đến người yêu cầu

Thời hạn thực hiện việc giải trình: không quá 15 ngày kể từ ngày ra thông

báo tiếp nhận yêu cầu giải trình; trường hợp có nội dung phức tạp thì có thể gia hạn

thời gian giải trình nhưng không quá 15 ngày.

* Nguyên tắc “Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân”.

Quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân xuất phát từ nềntảng quyền con người, quyền công dân Đây là giá trị nhân văn cao quý là tài sảnchung vô giá Bảo đảm quyền con người, bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, côngdân, đây là một nguyên tắc cơ bản, tối cao của nhà nước pháp quyền nói chung vàđược quy định cụ thể trong Nghị định số 90/2013/NĐ-CP ngày 08/8/2013 của Chínhphủ về trách nhiệm giải trình nói riêng Để đảm bảo cho một nền dân chủ, hiệu quả,hiệu lực của Nhà nước “của dân, do dân và vì dân”, vì vậy, việc đảm bảo quyền lợicon người được coi là một trong các chuẩn mực đánh giá trình độ giải phóng conngười, sự phát triển xã hội văn minh ngày nay nhất là trong hoạt động giải trình ởphương cần phải được rõ ràng, minh bạch và phải có thiết chế, cơ chế đặc biệt Khi đó

Trang 24

việc bảo đảm quyền con người, bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhânmới được đề cao.

2.2.3 Những kết quả đạt được của pháp luật về trách nhiệm giải trình

Mặc dù cho đến nay chưa có một quy định văn bản riêng về vấn đề này nhưng trongquá trình cải cách với tinh thần phục vụ và nâng cao tính dân chủ trong hoạt động côngquyền, các cơ quan nhà nước đã có nhiều cố gắng trong việc đề cao trách nhiệm trongviệc thực hiện trách nhiệm của mình, nhất là trong quan hệ với người dân

- Về việc thực hiện trách nhiệm bảo đảm minh bạch chính sách, pháp luật và các thủ tục hành chính và quy trình hoạch định chính sách, ban hành quyết định của các cơ quan hành chính

Đối với Chính phủ, việc công khai các chủ trương, chính sách về quản lý đất nước,quản lý xã hội là một trong những nhiệm vụ được quy định trong Luật Tổ chức Chínhphủ, Quy chế làm việc của Chính phủ và các quy định về lề lối, phương thức làm việccủa từng bộ, ngành của Chính phủ Bên cạnh đó, đề án xây dựng Chính phủ điện tửđang được dần dần hoàn thiện; các quy trình, thủ tục hành chính được từng bước tinhọc hóa nhằm nâng cao năng lực của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc cungcấp các dịch vụ công cho nhân dân và doanh nghiệp được thuận tiện, nhanh gọn; việccung cấp thông tin về địa phương, thực hiện đăng ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, giấy phép đầu tư, giấy phép xây dựng, tiếp nhận và giải quyết đơnthư khiếu nại, tố cáo đã được công khai ở nhiều địa phương Ngoài ra, Công báo nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Chính phủ quản lý ngày càng được nâng cao

về chất lượng và số lượng, trở thành công cụ hữu hiệu thể hiện tính công khai, minhbạch các chính sách, pháp luật và các quyết định quản lý của bộ máy nhà nước

Các cơ quan hành chính nhà nước cũng đã có nhiều nỗ lực trong việc minh bạch hóacác cơ hội đầu tư, minh bạch và đơn giản hóa thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư,minh bạch hóa hoạt động quản lý của Nhà nước về đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, còn

có nhiều bất cập trong hoạt động công khai thông tin này

- Về việc thực hiện công khai các thông tin, tài liệu, hồ sơ do các cơ quan hành chính nắm giữ

Bảo đảm thực hiện quyền thông tin của công dân là điều kiện cần thiết cho hoạt độngquản lý dân chủ, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của một quốc gia Trong mộtquốc gia, việc không công khai thông tin đồng nghĩa với thiếu trách nhiệm giải trìnhcủa các cơ quan công quyền trong quá trình thực thi quyền lực công và có thể quyềnlực đó sẽ mâu thuẫn hoặc đi ngược lại lợi ích của công chúng, của cộng đồng xãhội Bảo đảm quyền thông tin sẽ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngườidân, làm tăng tính hiệu quả, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhànước Bảo đảm quyền thông tin cũng đồng thời bảo đảm sự công bằng, dân chủ vàtăng lòng tin của người dân đối với Nhà nước Việc phản hồi từ phía người dân sẽ giúpcác cơ quan nhà nước cân nhắc, lựa chọn và đưa ra những quyết định đúng đắn, phùhợp với lòng dân, tăng hiệu quả của chính sách

Ngày đăng: 14/03/2019, 09:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w