1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu công nghệ bảo quản mây nếp (calamus tetradactylus hance, 1975) bằng thuốc cislin 2 5EC và chế phẩm chiết suất từ sả java phục vụ sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ

118 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 6,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, mây có độ bền tự nhiên kém, dễ bị mốc, mối, mọt phá hoại,làm giảm chất lượng nguyên liệu ngay sau khi chặt hạ đến suốt quá trình giacông và sử dụng sản phẩm nếu không có biện

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG THỊ TRANG

NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ BẢO QUẢN MÂY

NẾP (CALAMUS TETRADACTYLUS HANCE, 1975) BẰNG THUỐC CISLIN

2.5EC VÀ CHẾ PHẨM CHIẾT SUẤT TỪ SẢ JAVA PHỤC VỤ SẢN XUẤT

ĐỒ THỦ CÔNG MỸ

NGHỆ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp Khoa : Lâm Nghiệp Khóa học : 2014 - 2018

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG THỊ TRANG

NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ BẢO QUẢN MÂY

NẾP (CALAMUS TETRADACTYLUS HANCE, 1975) BẰNG THUỐC CISLIN

2.5EC VÀ CHẾ PHẨM CHIẾT SUẤT TỪ SẢ JAVA PHỤC VỤ SẢN XUẤT

ĐỒ THỦ CÔNG MỸ

NGHỆ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp Lớp : K46 - LN Khoa : Lâm Nghiệp Khóa học : 2014 - 2018 Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Văn Thái

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thântôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình nghiên cứu thực nghiệmhoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu khác, nếu có gì sai sót tôixin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn

Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước

Hội đồng khoa học

TS Nguyễn Văn Thái

Thái Nguyên, ngày tháng năm

Người viết cam đoan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Mỗi sinh viên khi ra trường đều cần trang bị cho mình những kiến thứccần thiết, chuyên môn vững vàng Như vậy việc thực tập tốt nghiệp là giaiđoạn cần thiết đối với mỗi sinh viên trong nhà trường qua đó giúp sinh viên

hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học và vận dụng vào lý thuyết thực tiễn,đồng thời giúp sinh viên hoàn thiện về mặt kiến thức luận, phương pháp làmviệc, năng lực công tác nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn sản xuất, nghiên cứukhoa học

Từ những cơ sở trên được sự nhất trí của nhà trường, ban chủ nhiệmkhoa Lâm nghiệp, tôi đã tiến hành thực tập tại trường Đại học Nông Lâm

Thái Nguyên với đề tài: “Nghiên cứu công nghệ bảo quản Mây nếp

(Calamus tetradactylus Hance, 1975) bằng thuốc Cislin 2.5EC và chế phẩm chiết suất từ Sả Java phục vụ sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ”.

Trong thời gian thực tập ngoài sự cố gắng và nỗ lực phấn đấu của bảnthân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô và bạn bè Tôi xinbày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Văn Thái đã tận tình giúp

đỡ, hướng dẫn tôi vượt qua những khó khăn, bỡ ngỡ ban đầu để hoàn thành đềtài

Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trong khoa, bạn bè

đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, rèn luyện và hoàn thành

đề tài tốt nghiệp của mình

Do trình độ và thời gian có hạn và là bước đầu làm quen với phươngpháp nghiên cứu mới nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mongnhận được những kiến thức đóng góp của các thầy, cô giáo cùng toàn thể cácbạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018

Sinh viên

Hoàng Thị Trang

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Lượng thuốc thấm của Mây nếp chẻ sợi 35Bảng 4.2 Lượng thuốc thấm của Mây nếp nguyên đoạn 36Bảng 4.3 Hiệu lực của thuốc và chế phẩm bảo quản đối với Nấm mốc hại

Mây nếp chẻ sợi sau 1 tuần khảo nghiệm 40Bảng 4.4 Hiệu lực của thuốc và chế phẩm bảo quản đối với Nấm mốc hại

Mây nếp chẻ sợi sau 2 tuần khảo nghiệm 41Bảng 4.5 Hiệu lực của thuốc và chế phẩm bảo quản đối với Nấm mốc hại

Mây nếp chẻ sợi sau 3 tuần khảo nghiệm 44Bảng 4.6 Hiệu lực của thuốc và chế phẩm bảo quản đối với Nấm mốc hại

Mây nếp chẻ sợi sau 4 tuần khảo nghiệm 47Bảng 4.7 Hiệu lực của thuốc và chế phẩm bảo quản đối với Nấm mốc hại

Mây nếp nguyên đoạn sau 1 tuần khảo nghiệm 50Bảng 4.8 Hiệu lực của thuốc và chế phẩm bảo quản đối với Nấm mốc hại

Mây nếp nguyên đoạn sau 2 tuần khảo nghiệm 53Bảng 4.9 Hiệu lực của thuốc và chế phẩm bảo quản đối với Nấm mốc hại

Mây nếp nguyên đoạn sau 3 tuần khảo nghiệm 56Bảng 4.10 Hiệu lực của thuốc và chế phẩm bảo quản đối với Nấm mốc hại

Mây nếp nguyên đoạn sau 4 tuần khảo nghiệm 59

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Mây nếp nguyên đoạn 29

Hình 3.2 Mây nếp chẻ sợi 29

Hình 3.3 Pha chế dung dịch thuốc Cislin 31

Hình 3.4 Ngâm mẫu vào dung dịch thuốc và chế phẩm đã pha 31

Hình 3.5 Hong phơi mẫu sau khi ngâm 32

Hình 3.6 Hiện trường khảo nghiệm 32

Hình 4.1 Biểu đồ lượng thuốc thấm của Mây nếp 37

Hình 4.2 Theo dõi nấm mốc sau 1 tuần khảo nghiệm 39

Hình 4.3 Theo dõi nấm mốc sau 2 tuần khảo nghiệm 41

Hình 4.4 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến TLNM ở Mây nếp chẻ sợi sau 2 tuần khảo nghiệm 42

Hình 4.5 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến CSNM ở Mây nếp chẻ sợi sau 2 tuần khảo nghiệm 42

Hình 4.6 Theo dõi nấm mốc sau 3 tuần khảo nghiệm 43

Hình 4.7 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến TLNM ở Mây nếp chẻ sợi sau 3 tuần khảo nghiệm 45

Hình 4.8 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến CSNM ở Mây chẻ sợi sau 3 tuần khảo nghiệm 45

Hình 4.9: Theo dõi nấm mốc sau 4 tuần khảo nghiệm 46

Hình 4.10 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến TLNM ở Mây nếp chẻ sợi sau 4 tuần khảo nghiệm 48

Hình 4.11 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến CSNM ở Mây nếp chẻ sợi sau 4 tuần khảo nghiệm 48

Hình 4.12 Theo dõi nấm mốc sau 1 tuần khảo nghiệm 49

Hình 4.13 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến TLNM ở Mây nếp nguyên đoạn sau 1 tuần khảo nghiệm 51

Trang 7

Hình 4.14 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến CSNM ở Mây

nếp nguyên đoạn sau 1 tuần khảo nghiệm 51Hình 4.15 Theo dõi nấm mốc sau 2 tuần khảo nghiệm 52Hình 4.16 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến TLNM ở Mây

nếp nguyên đoạn sau 2 tuần khảo nghiệm 54Hình 4.17 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến CSNM ở Mây

nếp nguyên đoạn sau 2 tuần khảo nghiệm 54Hình 4.18 Theo dõi nấm mốc sau 3 tuần khảo nghiệm 55Hình 4.19 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến TLNM ở Mây

nếp nguyên đoạn sau 3 tuần khảo nghiệm 57Hình 4.20 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến CSNM ở Mây

nếp nguyên đoạn sau 3 tuần khảo nghiệm 57Hình 4.21 Theo dõi nấm mốc sau 4 tuần khảo nghiệm 58Hình 4.22 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến TLNM ở Mây

nếp nguyên đoạn sau 4 tuần khảo nghiệm 60Hình 4.23 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến CSNM ở Mây

nếp nguyên đoạn sau 4 tuần khảo nghiệm 60

Trang 8

6 P1 Khối lượng mẫu trước khi ngâm

7 P2 Khối lượng mẫu sau khi ngâm

Trang 9

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC BẢNG iii

DANH MỤC HÌNH iv

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vi

MỤC LỤC vii

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1.Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích, mục tiêu và ý nghĩa của đề tài 2

1.2.1 Mục đích nghiên cứu 2

1.2.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.2.3 Ý nghĩa của đề tài .2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học 3

2.1.1 Bảo quản lâm sản và tầm quan trọng của công tác bảo quản lâm sản 3

2.1.2 Phương pháp bảo quản lâm sản 4

2.2.Cơ sở lý luận về bảo quản Mây 8

2.2.1.Nấm hại mây 8

2.2.2.Thuốc bảo quản mây .11

2.3 Tài nguyên mây và tình hình sử dụng để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam 19

2.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bảo quản trên thế giới và ở Việt Nam 21

Trang 11

2.3.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

24

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 26

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu .26

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu 26

3.3 Nội dung nghiên cứu 26

3.4 Phương pháp nghiên cứu

27 3.4.1 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của nồng độ thuốc hóa học Cislin, chế phẩm chiết suất từ Sả Java và thời gian ngâm tẩm đến khả năng thấm thuốc bảo quản của Mây nếp .27

3.4.2 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của nồng độ thuốc hóa học Cislin, chế phẩm chiết suất từ Sả Java và thời gian ngâm thuốc đến khả năng phòng chống nấm mốc của Mây nếp 28

3.4.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu .32

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Ảnh hưởng của nồng độ thuốc hóa học Cislin, chế phẩm chiết suất từ Sả Java và thời gian ngâm tẩm đến khả năng thấm thuốc bảo quản của Mây nếp 34

4.2 Ảnh hưởng của của nồng độ thuốc hóa học Cislin, chế phẩm chiết suất từ Sả Java và thời gian ngâm thuốc đến khả năng phòng chống nấm mốc của Mây nếp 38

4.2.1 Hiệu lực của thuốc và chế phẩm bảo quản phòng, chống nấm mốc hại Mây nếp chẻ sợi 38

Trang 12

4.2.2 Hiệu lực của thuốc bảo quản phòng, chống nấm mốc hại Mây nếpnguyên đoạn 49

Trang 13

4.3 Đề xuất giải pháp bảo quản Mây nếp phục vụ sản xuất đồ thủ công

mỹ nghệ 61

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63

5.1 Kết luận 63

5.2 Kiến nghị 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 PHỤ LỤC

Trang 14

1.1 Đặt vấn đề

Phần 1

MỞ ĐẦU

Mây nếp (Calamus tetradactylus Hance, 1975) là nguồn Lâm sản ngoài

gỗ có đặc tính dẻo dai, dễ uốn, màu trắng đẹp Với bàn tay khéo léo của ngườithợ thủ công đã tạo ra các mặt hàng gia dụng, các sản phẩm mỹ nghệ được thịtrường trong nước và thế giới ưa chuộng, đem lại giá trị kinh tế lớn cho nềnkinh tế quốc dân Do đặc điểm thuận lợi về khí hậu, đất đai đã tạo cho ViệtNam nguồn nguyên liệu tre, trúc, song, mây rất đa dạng về chủng loại và phân

bố ở hầu hết các tỉnh Đông Bắc và Bắc Trung Bộ như: Yên Bái, Bắc Giang,Lào Cai, Hiện nay một số loài Mây có giá trị kinh tế cao được gây trồng tạimột số tỉnh đồng bằng như Thái Bình, Nam Định và trồng dưới tán rừng ở cáctỉnh miền núi

Tuy nhiên, mây có độ bền tự nhiên kém, dễ bị mốc, mối, mọt phá hoại,làm giảm chất lượng nguyên liệu ngay sau khi chặt hạ đến suốt quá trình giacông và sử dụng sản phẩm nếu không có biện pháp xử lý thích đáng, kịp thời.Hiện nay, các cơ sở sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ thường áp dụng các biệnpháp cổ truyền như: ngâm xuống ao bùn, nước vôi, sấy diêm sinh, luộc dầu, Các biện pháp trên đã phần nào hạn chế được sư gây hại của sinh vật đối vớicác sản phẩm, tuy nhiên với điều kiện môi trường có độ ẩm cao hoặc quátrình xử lý chưa kỹ càng nên các sản phẩm từ mây vẫn bị mốc, mối, mọt xâmnhập và gây hại dẫn đến nhiều lô hàng bị loại bỏ, gây tổn thất về tiền của vàcông sức của người dân Mặt khác, tại các làng nghề sản xuất với mật độ lớn,

lò sấy diêm sinh đã là nguồn gây ô nhiễm nặng cho môi trường sống

Để khắc phục nhược điểm từ các phương pháp cổ truyền và đáp ứngyêu cầu đối với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đã có nhiều đề tài nghiêncứu bảo quản mây được thực hiện và đem lại kết quả cao Trên cơ sở tiếpthu có chọn lọc các thành tựu nghiên cứu về các chế phẩm bảo quản cũng nhưcác kỹ thuật tác động xử lý, bảo quản, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

Trang 15

1975) bằng thuốc Cislin 2.5EC và chế phẩm chiết suất từ Sả Java phục

1.2.2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá được ảnh hưởng của nồng độ thuốc hóa học Cislin 2.5EC,chế phẩm chiết suất từ Sả Java và thời gian ngâm tẩm đến khả năng thấmthuốc của Mây nếp

- Đánh giá được ảnh hưởng của nồng độ thuốc hóa học Cislin 2.5EC,chế phẩm chiết suất từ Sả Java và thời gian ngâm tẩm đến khả năng phòngchống nấm mốc của Mây nếp

- Đề xuất giải pháp bảo quản Mây nếp phục vụ sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ

1.2.3 Ý nghĩa của đề tài

1.2.3.1 Ý nghĩa khoa học

- Đề tài là cơ sở khoa học trong việc lựa chọn được loại thuốc có tínhhiệu quả cao

- Không gây ô nhiễm môi trường

- Không làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người

1.2.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu của đề tài được thông qua quá trình thực hiện sửdụng thuốc Cislin 2.5EC và chế phẩm chiết suất từ Sả Java để bảo quản Mâynếp sẽ là cơ sở khách quan nhất để biết được tác dụng của thuốc trong việcbảo quản Mây nếp khỏi nấm mốc

- Làm cơ sở cho việc lựa chọn phương pháp bảo quản thích hợp nhấttại các cơ sở chế biến thủ công mỹ nghệ

- Có thể làm tài liệu tham khảo cho các phương pháp bảo quản khác

Trang 16

2.1 Cơ sở khoa học TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1.1 Bảo quản lâm sản và tầm quan trọng của công tác bảo quản lâm sản

2.1.1.1 Bảo quản lâm sản

Bảo quản lâm sản là biện pháp tổng hợp giữ gìn nhằm kéo dài thời gian

sử dụng, chống sự xâm nhập phá hoại của mối mọt, nấm mốc, hạn chế tácđộng không tốt của môi trường Bao gồm:

1) Bảo quản kỹ thuật: Là phương pháp bảo quản tác động vào gỗ làmcho gỗ kéo dài thời gian sử dụng, phương pháp này không dùng hóa chất như:cách li gỗ với đất, nước, hơi ẩm, hong, phơi, sấy hoặc ngâm gỗ trong bùn ao

2) Bảo quản bằng hoá chất: Là phương pháp dùng hóa chất để phuntẩm vào gỗ, quét, ngâm gỗ, tẩm gỗ hoặc xông hơi, dùng hoá chất xử lí trựctiếp sinh vật hại gỗ

3) Bảo quản bằng biện pháp sinh học: Dùng một số loài nấm, côntrùng để diệt sinh vật hại gỗ [5]

2.1.1.2 Tầm quan trọng của công tác bảo quản lâm sản

Gỗ và lâm sản ngoài gỗ được sử dụng phổ biến để làm nguyên liệutrong xây dựng, làm đồ nội thất và đồ gia dụng thiết yếu khác

Từ lâu đời nhân dân ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và tìm racác biện pháp hạn chế sự tấn công này như: chặt tre, gỗ vào mùa đông đểgiảm lượng dinh dưỡng trong cây, ngâm tre gỗ dưới ao hồ để phá hủy mộtphần lượng dinh dưỡng đó, để gác bếp, hun khói,… Đặc điểm nổi bật làchúng ta sống trong môi trường nhiệt đới nóng ẩm Điều kiện này thuận lợicho sự phát triển của sinh vật nói chung song đối sinh vật gây hại cũnghoạt động mạnh quanh năm Công nghệ bảo quản bằng các loại chế phẩm

tự nhiên ra đời chính là đã kế thừa các thành tựu của việc nghiên cứu cơbản về sinh vật học

Trang 17

thọ sử dụng lâm sản ngoài gỗ và gỗ gấp hàng chục lần so với việc sử dụngtheo độ bền tự nhiên Nhằm tăng giá trị sử dụng của các sản phẩm, hạn chếcác tổn thất nặng nề do các sinh vật hại gỗ như mối mọt, nấm mục,… gây ra

kể từ ngay sau khi chặt hạ đến suốt quá trình sử dụng

Bằng các biện pháp kỹ thuật (có hoặc không sử dụng chế phẩm bảoquản) phải kéo dài tuổi thọ sử dụng gỗ và lâm sản ngoài gỗ lên nhiều lần sovới gỗ không được xử lý bảo quản, góp phần đảm bảo an toàn cho các sảnphẩm và các công trình sử dụng lâm sản

Công nghệ bảo quản ra đời được đánh giá là một bộ phận của cuộccách mạng khoa học - kỹ thuật của thế kỷ XX Nó không những đã mang lạihiệu quả kinh tế to lớn, tiết kiệm tài nguyên rừng, góp phần sử dụng tàinguyên hợp lý, chủ động, hiệu quả, do đó nó có vai trò trong chiến lược pháttriển, bảo vệ tài nguyên rừng và trong nền kinh tế quốc dân [4]

2.1.2 Phương pháp bảo quản lâm sản

2.1.2.1 Phương pháp ngâm thường

Đặc điểm chung: Ngâm gỗ hoặc lâm sản ngoài gỗ vào chế phẩm bảoquản trong điều kiện bình thường là một trong những phương pháp cổ điểnnhất Khi ngâm gỗ hoặc lâm sản ngoài gỗ trong một chất lỏng có hiện tượngsau: Sự dịch chuyển của các phần tử trong chế phẩm bảo quản vào trong gỗnhờ hiện tượng thẩm thấu và sự chuyển động của dung dịch bảo quản vào gỗnhờ áp dụng lực mao quản Hiện tượng thẩm thấu thường xảy ra ở gỗ hoặcTre có độ ẩm cao trên điểm bão hòa và ngâm trong dung dịch Các màng tếbào được coi là màng bán thấm, tạo ra sự thấm một chiều của các phần tửthuốc từ ngoài vào Đồng thời với quá trình thấm thuốc vào gỗ thì có một sốphần tử nước từ trong gỗ chuyển động ngược trở ra vào dung dịch thuốc Tốc

độ chuyển động của hai chiều ngược nhau này phụ thuộc vào độ ẩm gỗ, nồng

độ dung dịch, loại gỗ [10]

Trang 18

Đặc điểm chung: Nguyên lý cơ bản của phương pháp chính là quátrình khuyếch tán của ion hoặc phân tử từ chế phẩm bảo quản vào gỗ.

Khi gỗ có độ ẩm cao được ngâm vào dung dịch chế phẩm có nồng độcao, hoặc quét cao xung quanh, do chênh lệch nồng độ các phân tử hoặc ioncủa chế phẩm từ dung dịch chuyển vào sâu trong gỗ

Ẩm độ gỗ ít nhất phải trên 50%, nồng độ dung dịch phải cao hơngấp 2 - 3 lần so với nồng độ chế phẩm cùng loại khi tẩm bằng phươngpháp khác [10]

2.1.2.3 Phương pháp nóng - lạnh

Khi gỗ được làm nóng lên, không khí và hơi nước trong gỗ cũng bịnóng dần và dãn nở thể tích Song thể tích gỗ tăng không đáng kể, do vậy ápsuất trong gỗ sẽ cao hơn áp suất bên ngoài, một phần không khí và hơi nước

sẽ thoát ra khỏi gỗ

Khi gỗ bị chuyển sang trạng thái lạnh, không khí và hơi nước còn lạitrong gỗ sẽ bị lạnh và trở về trạng thái ban đầu, thể tích không gian mà chúngchiếm chỗ sẽ nhỏ hơn Kết quả làm cho áp suất trong khoang rỗng tế bào gỗ

bị giảm, thấp hơn áp suất môi trường xung quanh Do sự chênh lệch áp suấtnày, dung dịch chế phẩm lạnh sẽ dễ dàng thấm vào gỗ [10]

2.1.2.4 Phương pháp chân không áp lực

Phương pháp này gồm hai quá trình:

Tăng áp lực: Tạo ra sức ép để ép chế phẩm thấm vào gỗ, trị số áp lựcthông thường 6 - 12.105pa

Hút chân không: Độ sâu chân không thường là 600 – 650 mmHg Cụthể hút chân không ở các thời điểm: Chân không trước khi tăng áp lực, chânkhông giữa các quá trình áp lực, chân không sau quá trình áp lực

Trật tự của hai quá trình cơ bản này thay đổi tùy theo quy trình, tức phụ thuộcvào nhiều yếu tố: Khả năng thấm chế phẩm của các loại gỗ, độ ẩm gỗ, loại

Trang 19

chế phẩm, lượng thấm chế phẩm cần thiết,…Sự thay đổi của hai quá trình đãtạo nên nhiều phương pháp tẩm gỗ như: Phương pháp tế bào đầy, phươngpháp tế bào rỗng, phương pháp bán dẫn [10]

2.1.2.5 Phương pháp bóc vỏ cây

Phương pháp này để hạn chế sự xâm nhập của mọt hại gỗ tươi và mốihại vỏ cây, sau khi khai thác thường được bóc vỏ ( trừ một số loại gỗ chuyêndùng cần giữ vỏ) Bóc vỏ làm gỗ ráo mặt nhanh, ẩm độ giảm xuống tạo điềukiện bất lợi cho các sinh vật hại gỗ tươi xâm nhập [10]

2.1.2.6 Phương pháp phơi, sấy gỗ

Gỗ phơi sấy là một biện pháp bảo quản lâm sản khỏi một số loại côntrùng hại gỗ tươi Gỗ có độ ẩm cao được xếp thành chồng lên nhau hoặc đượcxếp lên đà kê để ngoài không khí hoặc cho vào lò sấy

Với phương pháp này, ngoài loại bỏ được những yếu tố gây hại do sinhvật gây ra còn hạn chế được tác nhân phi sinh vật như cong vênh, nứt nẻ ở gỗ

Trong việc xếp đống gỗ để hong phơi tránh hiện tượng để ánh sángchiếu hoặc gió lùa trực tiếp vào đầu của cây hoặc tấm ván gỗ Khi đó làm cho

độ ẩm thoát ra quá nhanh dẫn đến hiện tượng gỗ bị nứt đầu

Việc xếp thanh kê phải đúng kỹ thuật: kích thích các thành kê, khoảngcách giữa các thanh kê phải đều nhau, các thanh kê giữa các trồng ván phảithẳng hàng Khoảng cách giữa các thanh kê phụ thuộc vào loại gỗ, chiều dàytấm ván, kích thước thanh kê thường dày 2.5 cm, rộng 5 - 6 cm [10]

2.1.2.7 Phương pháp hun khói, ngâm

Phương pháp này áp dụng theo kinh nghiệm dân gian Phương pháp hunkhói trên bếp giúp cho tre, nứa, song, mây khô nhanh, chống được mốc Mặtkhác trên bề mặt sẽ có một lớp bồ hóng có thành phần hóa học tương tự nhưsản phẩm dầu nhựa có khả năng phòng được nấm mốc và mọt

Phương pháp ngâm tre, gỗ trong ao hồ hoặc bùn với một thời gian 6tháng đến 1 năm hoặc lâu hơn sẽ hạn chế được mọt mốc Phương pháp này sẽ

Trang 20

làm biến đổi thành phần hóa học trong gỗ, cụ thể làm cho hàm lượng đường

và tinh bột có trong tre, gỗ giảm đi [10]

2.1.2.8 Phương pháp tẩm cây đứng

Phương pháp này có tên là tẩm cây sống (cây chưa bị chặt hạ) Lợidụng đặc điểm của cây phải hút nước, muối khoáng từ đất qua hệ thống rễ,theo các mạch dẫn lên lá để sau quá trình quang hợp tạo thành nhựa luyệnnuôi cây Phương pháp này sẽ tác động chặn dòng nhựa luyện và thay bằngdung dịch chế phẩm bảo quản, chế phẩm sẽ đi theo mạch dẫn và phân bốtrong cây [10]

2.1.2.9 Phương pháp thay thế nhựa

Gỗ sau khi chặt 2 - 3 ngày, nhựa cây vẫn ở trang thái lỏng sẽ dịchchuyển được nếu có lực đẩy từ phía gốc đến ngọn của khúc gỗ

Lợi dụng đặc điểm này, người ta dùng dung dịch chế phẩm tiếp vàomột đầu của khúc gỗ (phía gốc), nhờ sự chênh lệch áp lực của dung dịch ởđầu gốc và đầu ngọn khúc gỗ, dung dịch tẩm sẽ ép vào các mạch, dồn dầnnhựa về một phía và sẽ thay thế vị trí của nhựa vào các khoảng trống

Thời gian ngâm tẩm tùy thuộc vào từng loại gỗ, bình quân 5 - 12 ngày Sau khi kết thúc quá trình tẩm một tuần lễ có thể tiến hành bóc vỏ vàtùy theo thời gian hong phơi tương ứng với yêu cầu về độ ẩm ta có thể đem

sử dụng

Lượng thuốc tiêu hao cho phương pháp này khoảng 400 - 500kg/m3dung dịch thuốc nước Có nồng độ dung dịch thuốc tẩm tùy thuộc vào từngloại thuốc mà sử dụng [10]

2.1.2.10 Phương pháp quét

+ Phương pháp quét

Là phương pháp bảo quản thô sơ nhất, thường gặp trong thực tế sảnxuất, như trong các khâu bảo quản tạm thời gỗ ở các bãi bến trong một thờigian ngắn và bảo quản lớp mặt các vật dụng bằng gỗ [10]

Trang 21

+ Phương pháp phun

Phương pháp phun nhanh hơn phương pháp quét tuy vậy do lượng haophí của phương pháp này quá lớn, nhất là những chi tiết nhỏ nên phạm vi sửdụng ít

Tác dụng bảo quản: mang tính tạm thời, bảo quản lớp mặt Nó cũng cótầm quan trọng nhất định trong một số trường hợp như bảo quản bổ sungnhững vật dụng ở những chỗ hiểm yếu của các công trình như gầm cầu, trầnnhà các chỗ khe ngóc ngách quét [10]

2.2 Cơ sở lý luận về bảo quản mây

2.2.1 Nấm hại mây

Mây là loại cây mọc nhanh, do đó lượng đường và tinh bột cao Đây lànguồn thức ăn rất hấp dẫn đối với nấm mốc.Trong thực tế cho thấy mây chỉsau chặt hạ vài ngày đã bị nấm mốc xâm nhập, gây biến màu mây Theo hệthống phân loại thực vật thì nấm là loài thực vật bậc thấp xếp ngang hàng với

hệ tảo, nhưng khác với tảo ở đặc điểm nấm không có diệp lục tố, nên không

tự quang hợp được mà phải ký sinh trên một giá thể khác để sống

Hiện nay trên thế giới đã ghi nhận có khoảng trên 80.000 loài nấm khácnhau được chia ra ở các lớp như sau:

Lớp Archimycetes (Nấm sơ cấp)

Lớp Phycomycetes (Nấm tảo)

Lớp Asomycetes (Nấm túi)

Lớp Basidiomycetes (Nấm đảm)

Lớp Fungi imperfecti (Nấm bất toàn)

Nấm xâm nhập vào mây bằng các phương thức sau :

Sợi nấm từ phần mây đang bị mục lây lan sang phần còn tốt

Bào tử rơi trên bề mặt mây rồi nảy mầm phát triển thành sợi, xâm nhậpvào mây

Trong thành mây, nấm sinh trưởng, phát triển và duy trì mọi hoạt động

Trang 22

sống, chính quá trình này dẫn đến sự biến mầu và phân huỷ mây Tuỳ loàinấm mà các quá trình trao đổi chất diễn biến khác nhau [5]

Sự xâm nhập của nấm vào mây có thể chia thành các giai đoạn sau:

Khi mây mới được chặt hạ có độ ẩm cao, các loài nấm tiên phong bắt đầuxuất hiện trong các tế bào sống và chết, từ đó phát triển loang ra các tế bàobên cạnh và đi sâu vào bên trong thân mây Tuy nhiên, các loài này thườngchỉ sử dụng chất đường, bột chứa trong mây, làm chất dinh dưỡng và chỉ gâybiến màu mà không có khả năng phá hại vách tế bào

Khi độ ẩm mây giảm đi một lượng đáng kể là điều kiện thuận lợi cho các loàinấm có sức phá hại yếu xuất hiện Các loài nấm này thường sử dụng các chấtchứa mà nấm tiên phong không sử dụng đến và phá vách tế bào nhưng ở mức

độ yếu, chúng không có khả năng phá huỷ hoàn toàn vách tế bào Độ ẩm củamây càng giảm, trong các tế bào có nhiều khoảng trống chứa không khí, tức làlượng ôxy lớn Đây là điều kiện bất lợi cho hai nhóm nấm trên nhưng lạithuận lợi cho nhóm nấm thứ ba xuất hiện Đó chính là các loài nấm có khảnăng phá hoại mạnh xenluloza và lignin làm mất hoàn toàn tính cơ học củamây [5]

Từ sự phân tích về quá trình xâm nhập và phá mây của các loài nấm cóthể chia nấm phá hại thành 2 nhóm chính:

Nhóm nấm mốc: Xâm nhập khi độ ẩm mây cao, bao gồm một số loài

chủ yếu Penicillium glaucum, Coniosporium bamboosea, Coniosporium shiraianum, Asperginus niger

Nhóm nấm mục: Xâm nhập khi độ ẩm trong mây đã giảm, thường gâyhại các kết cấu mây sử dụng ngoài trời, tiếp xúc trực tiếp với đất Một số loài

nấm mục hại mây thường thấy có nấm chân chim Schizophyllum commune, nấm gây mục hỗn hợp Hirschioporus flavus, Pleurotus osTreatus, Auriculeria Polytricha [5]

Như vậy, độ ẩm mây và không khí giữ vai trò quyết định cho việc sinhtrưởng và phát triển của nấm Các nhóm nấm hại lâm sản kể trên chỉ có thể

Trang 23

tồn tại và phát triển ở các ngưỡng độ ẩm nhất định Đối với sản xuất hàng thủcông mỹ nghệ , mây nguyên liệu trong quá trình tập kết tại kho bãi, chưa đưavào sản xuất kịp thời cũng rất dễ bị nâm mốc gây biến màu mây Hàng hoátrong quá trình lưu kho hoặc vận chuyển, khi điều kiện môi trường không khí

có ẩm độ cao, các sản phẩm mây hút ẩm trở lại cũng rất dễ bị nấm mốc [5]Mỗi nhóm nấm hại lâm sản đòi hỏi điều kiện sinh thái khác nhau, do đónghiên cứu về nấm hại lâm sản là công việc hết sức phức tạp So với nhữngnghiên cứu về côn trùng hại lâm sản thì các kết quả nghiên cứu về nấm hạimây còn rất ít Padmanabhan cho biết tại Ấn Độ một số loài nấm hại lâm sản

chủ yếu đó là: Corilus versicolor, Polystictus sanguineus, Coriolellus palustris, Postia placenta, Aspergillus niger, Penicillium sp, Alternaria sp, Fungi imperfECti Phòng thí nghiệm bảo quản lâm sản của Trường Đại học Lâm

nghiệp Philippin thường dùng bốn loài nấm hại lâm sản điển hình để thử hiệu

lực thuốc bảo quản đó là: Aspergillus niger, Botryodiplodia theobromate, Fungi imperfECti, Penicillium sp [5]

Nguyễn Thu Hoài (1994), Bước đầu tìm hiểu về một số loài nấm mốcxuất hiện trên mây nguyên liệu Tác giả đã xác định trên mây nguyên liệu có

độ ẩm cao thường xuất hiện một số loài nấm gây hại bao gồm: Coniosporium bamboosea, Rhyopus micrasporus, Aspergillus clavatus, Aspergillus Ochraceus [3]

Phòng nghiên cứu bảo quản lâm sản phối hợp với trung tâm Công nghệsinh học của trường Đại học Quốc gia đã xác định ba loài nấm phá hoại lâmsản điển hình sử dụng để thử hiệu lực của thuốc bảo quản lâm sản trong điều

kiện phòng thí nghiệm đó là: Nấm mục Pleurotus oTreatus, Nấm mục Deadalea elegans và Nấm mốc Aspergillus niger Kết quả thử hiệu lực với

các loài nấm nêu trên sẽ cho phép xác định nồng độ, liều lượng tối thiểu củathuốc có khả năng chống lại sự xâm nhập và phát triển của nấm hại mây

Với các tài liệu khoa học nghiên cứu về nấm hại lâm sản đã công bố,tuy số lượng còn hạn chế, song đã cung cấp những thông tin cần thiết vềnhững điều kiện gây hại mây của các nhóm nấm

Trang 24

2.2.2 Thuốc bảo quản mây

Thuốc bảo quản lâm sản là những chế phẩm hoá học, sinh học có khảnăng tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào lâm sản nhằm ngăn cản, tiêu diệtcác tác nhân gây hại

2.2.2.1 Các dạng thuốc bảo quản có thể áp dụng bảo quản mây

Thuốc bảo quản có thể áp dụng để ngâm tẩm mây có thể chia ra làm 2loại chính sau:

- Chế phẩm dạng dầu và hoà tan trong dầu: Từ đầu thế kỷ 19, tính chấtbảo quản gỗ của các loại dầu nhựa than đá đã được phát hiện Dầu Creosoteđược Bethell đăng ký bản quyền và được dùng để tẩm gỗ theo phương phápchân không áp lực Vào thời điểm đầu thế kỷ 20, loại dầu này nhanh chóngđược sử dụng phổ biến để bảo quản gỗ ở các nước Châu Âu và Mỹ Năm

1988 Sulthoni đã sử dụng dầu điezen để thử nghiệm bảo quản tre và đượcđánh giá có hiệu lực chống lại sự tấn công của mối Tuy nhiên, do Creosoteảnh hưởng nhiều đến mầu sắc tự nhiên của lâm sản và mùi hắc nên loại chếphẩm bảo quản này không được sử dụng nhiều [4]

- Từ năm 1930, các loại hoá chất hoà tan trong dầu có độ độc đảmbảo hiệu quả bảo quản gỗ xuất hiện, tuy giá thành đắt song đã được sử dụngnhiều trong thời gia chiến tranh thế giới thứ II đó là Pentachlorophenol, chođến nay loại hoá chất này đang dần hạn chế sử dụng Từ năm 1937, DDT và

666 hoà tan trong dung môi hữu cơ được sử dụng bảo quản gỗ ở nhiều nướcdưới các tên thương phẩm khác nhau như Hylotox, Duotex, đây là 2 loại hoáchất có độ độc cao với côn trùng hại gỗ nhưng không có tác dụng chống mốc.Năm 1960, Wu và Shinh đã thử nghiệm dùng DDT, gamma – BHC, dielrinsữa, Tanalit để chống mọt tre Tewari và Singh (1979) cho biết DDT 7- 10 %trong dầu hoả có hiệu lực bảo quản Mây rất tốt chống lại côn trùng hại tre.DDT và Lindan là những chất tồn tại lâu trong đất, gây độc hại cho môitrường, cho người, động vật và các côn trùng có ích nên đã bị cấm trên toàncầu Tuy nhiên, đối với

Trang 25

mây làm hàng thủ công mỹ nghệ rất ít sử dụng các chế phẩm dạng dầu này

[12] Vào đầu những năm 80 của thế kỷ 20, dựa vào kinh nghiệm sử dụng hoa

cúc dại tạo thuốc trừ sâu, các nhà khoa học đã nghiên cứu xác định được trong

hoa cúc dại chứa các hoạt chất có tính sát trùng rất tốt như Chrysamthemun cinerariaefolium, Chrysamthemun roseum và có 6 este độc với côn trùng của axit Xiclopropancacboxylic là Pyrethrin I và II, Cienrin I và II, Jasmolin I

và II trong bột hoa cúc dại, các este Pyrethrin chiếm tới 73% [4]

Rất nhiều nước trên thế giới đã sử dụng dịch chiết từ hoa cúc dại làmthuốc trừ sâu trong nông nghiệp đạt hiệu quả tốt Tuy nhiên, nguồn cung cấphoa cúc dại trong tự nhiên có số lượng hạn chế, để đáp ứng nhu cầu sử dụngthuốc bảo vệ thực vật với khối lượng lớn, đã có nhiều công trình nghiên cứucấu trúc của các ette Xiclopropancacboxylat đặc biệt là Pyrethrin để tổng hợpđược bằng con đường hoá học Chính bằng con đường này đã tạo ra rất nhiềudẫn xuất pyrethrin, những dẫn xuất đó được gọi là các hợp chất Pyrethroit cóhiệu lực cao đối với sâu và có nhiều ưu điểm hơn các este tự nhiên [9]

Hiện nay, một số hoạt chất được tổng hợp thuộc nhóm Pyrethroit nhưDeltamethrin, Cypermethrin, tribromphenol hoà tan trong dung môi hữu cơvới các tên thương mại như Cislin, Antiborer, Celcide, InjECtaAB là cácloại chế phẩm bảo quản lâm sản được giới thiệu có độ an toàn cao với môitrường, đang được dùng phổ biến ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới

- Chế phẩm hoà tan trong nước:

Thuốc bảo quản dạng này thường là hỗn hợp của hai hay nhiều hợpchất là muối của kim loại như: kẽm, đồng, crôm, arsenic… Sau khi ngâm tẩmcác hoá chất này có thể phản ứng với nhau tạo thành hợp chất bền vững, ổnđịnh có hiệu lực chống sinh vật hại gỗ tốt hơn Sau đây là các loại thuốc muốiđiển hình:

+ HgCl: Được sử dụng sớn nhất, do Homberg giới thiệu từ năm 1705,đến đầu thế kỷ 19 loại thuốc này mới được sử dụng rộng rãi ở châu Âu và

Trang 26

Mỹ Trong kỹ thuật bảo quản HgCl thường được dùng phối hợp với một sốmuối khác như K2Cr2O7, Na2CO3… Đến nay loại hoá chất này không đượcdùng để bảo quản gỗ nữa do có độ độc cao đối với người và động vật [6]

+ CuSO4: Được sử dụng để ngâm tẩm gỗ từ năm 1767, khi phương pháptẩm Boucherie ra đời CuSO4 được sử dụng rộng rãi ở châu Âu để bảo quản cộtđiện, cột điện thoại CuSO4 có độ độc với nấm, côn trùng và hà biển nhưngkhông trừ được các loài nấm tiết ra axit oxalic như nấm Poria vaporaria DoCuSO4 có tính ổn định, dễ rửa trôi và bị các hoá chất khác tác dụng làm mấthiệu lực với sinh vật hại gỗ, nên sun phát đồng thường được bổ sung thêmmột số thành phần khác để khắc phục những nhược điểm kể trên Sulthoni(1988), đã bảo quản tre bằng dung dịch CuSO4 nồng độ 7% và kết quả khảonghiệm ngoài bãi thử tự nhiên cho biết tre tẩm có hiệu quả chống lại sự tấncông của mối Singh và Tewari đã xử lý tre tươi bằng dung dịch CCA 10%

+ Các hợp chất của Bo: Vào những năm 30 của thế kỷ 20, các hợp chấtcủa Bo được sử dụng chống cháy cho gỗ Tuy nhiên trong số các hợp chất của

Bo thì axit Boric và Borax được đánh giá là có khả năng chống lại các sinhvật hại gỗ Năm 1945, Wimbrush đã dùng borac nồng độ 4% để bảo quản tre,tác giả cho biết thuốc đã có tác dụng hạn chế sự phá hoại của mọt tre Hiệnnay borac, boric được dùng rộng rãi làm thuốc bảo quản lâm sản [6]

Ngày nay, với mục đích bảo vệ môi trường, xu hướng phát triển chungcủa các nước trên thế giới là sử dụng các hoạt chất sich học làm thuốc bảo

Trang 27

quản lâm sản Năm 2002 các nhà khoa học Trường Đại học Kyushu vàTrường Đại học Quốc gia Đài Loan đã tiến hành nghiên cứu đánh giá khảnăng phòng chống các sinh vật hại lâm sản bằng hoạt chất tanin chiết xuất từthực vật hỗn hợp với amoniac - đồng, mẫu gỗ tẩm có hiệu lực phòng mối tốt

Trường Đại học Quốc gia Delta của Nigera (2001) nghiên cứu chiết

xuất phenolic từ lá của loài cây Acalypha hispida, với hàm lượng 10- 14

mg/ml dung dịch có khả năng hạn chế sự phát triển của hai loài nấm hại gỗ

Tại Ấn Độ, Thái Lan, Mỹ từ nguồn nguyên liệu dầu hạt Neem đã chếtạo ra rất nhiều chế phẩm trừ sâu hại nông nghiệp như Neen Bonda A, NeemOil, Neem AZal…

Tại Indonesia, Jain – Narayan và Gazwal (1989) đã nghiên cứu thăm dòkhả năng sử dụng dầu vỏ hạt điều làm thuốc bảo quản lâm sản Các tác giả so

sánh hiệu lực phòng chống mối đất Odontotermes của dầu vỏ hạt điều với

Creosote thông thường

Ở nước ta, thuốc bảo quản lâm sản có nguồn gốc từ thực vật mới bắtđầu được quan tâm nghiên cứu Theo những nghiên cứu của Đặng ĐìnhLuyến và Đỗ Hồng Sâm đã đánh giá khả năng triển vọng của dầu vỏ hạt điềulàm thuốc bảo vệ thực vật

Năm 2004 Bùi Văn Ái đã tiến hành nghiên cứu sử dụng dầu vỏ hạt điềulàm thuốc bảo quản lâm sản Tác giả đã đánh giá sơ bộ hiệu lực của dầu vỏhạt điều đối với côn trùng hại lâm sản, sau đó tiến hành nghiên cứu nâng caohiệu lực của dầu vỏ hạt điều bằng phương pháp sục khí Clo Kết quả đã xácđịnh được 2 loại thuốc bảo quản lâm sản từ dầu vỏ hạt điều có hiệu lực phòngchống côn trùng gây hại lâm sản tốt và đảm bảo các chỉ tiêu về an toàn môitrường [1]

Nguyễn Thị Bích Ngọc, Nguyễn chí Thanh, Lê văn Nông (2007) đãbước đầu đánh giá hiệu lực phòng chống côn trùng gây hại lâm sản của một

số chất chiết từ nguyên liệu thực vật Kết quả bước đầu cho biết dầu Neem và

Trang 28

tanin củ nâu có hiệu lực phòng chống mối ở nồng độ dung dịch từ 4% trở lên.Đây là một cơ sở khoa học để mở rộng khả năng sử dụng các hoạt chất sinhhọc làm thuốc bảo quản lâm sản, phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện nay [6]

Ngoài ra, Phòng nghiên cứu bảo quản lâm sản cũng đã phối hợp vớiTrung tâm kiểm định thuốc bảo vệ thực vật phía Bắc khảo nghiệm hiệu lựcmột số loại thuốc bảo quản gỗ nhập nội trước khi cho phép đăng ký sử dụngtại Vịêt Nam như: KAA - Antiblu 55SC, Cislin 2.5EC, Celcide 10EC,Celbrite TC, Mapboxer 30EC…

Trên đây là một số hoá chất vô cơ và hữu cơ được các nước trên thếgiới cũng như ở Việt Nam dùng phổ biến để bảo quản lâm sản trong suốt thể

kỷ qua Ở từng nước khác nhau tỷ lệ của thành phần các hoạt chất của chếphẩm có thể thay đổi tạo ra những tên thương mại khác nhau, nhưng tựuchung vẫn dựa trên một số hoá chất cơ bản kể trên Xu hướng phát triển thuốcbảo quản lâm sản hiện nay sử dụng hoá chất mô phỏng các hợp chất từ thiênnhiên, có khả năng phân giải nhanh hơn và an toàn với môi trường

2.2.2.2 Cơ chế tác dụng của thuốc bảo quản đối với nấm gây hại mây

Thuốc bảo quản hiện nay rất phong phú về số lượng, cơ chế tác dụngbảo quản cũng rất khác nhau Thuốc có thể được xử lý trực tiếp lên cơ thểsinh vật hại lâm sản (như đối với mối) hoặc được tẩm sâu vào gỗ, hoặc xônghơi, nhưng dù cách xử lý thế nào cũng đều nhằm phòng ngừa hoặc tiêu diệtcác tác nhân sinh vật gây hại lâm sản với các tác động như sau:

Thuốc bảo quản đã được tẩm vào mây, trước hết nó đã tạo ra một môitrường khác hẳn với mây không tẩm, nó tước bỏ những điều kiện tối ưu hoặc

ít ra là không thuận lợi cho việc nảy mầm của các bào tử nấm, hơn thế nữa nóphá hoại ngay các bào tử nấm Các chất thấm vào các bào tử, phản ứng vớicác thành phần chủ yếu của bào tử làm cho bào tử không thể nảy mầm được

vì trong thành phần cấu tạo của bào tử có nhiều nhóm có hoạt tính hoá họcnhư nhóm Hydroxin, Photphatamin, Cacbonxin, Sunfrin, Amidzol trong đó

Trang 29

nhóm nào cũng có khả năng phản ứng với hoá chất tích luỹ trong bào tử Mặtkhác, các hoá chất khi đã xâm nhập được vào nấm, chúng có khả năng tạothành các lực liên kết Vanderval, liên kết hydro, liên kết ion, liên kết bán phâncực hoặc liên kết đồng hoá trị với các axit amin, protein và các chất kháctrong quá trình cơ bản trao đổi chất của nấm, ức chế sự phân chia tế bào, làmbiến đổi cấu trúc bên trong của tế bào Tuỳ loại hoá chất mà một số men của

tế bào bị ức chế làm rối loạn các hoạt động dinh dưỡng như hút nước, hútglucose quá nhiều, làm ngưng kết hoặc biến tính protit Kết quả tổng hợp củacác tác động nói trên của chế phẩm bảo quản sẽ làm cho nấm biến dạng vềhình thái hoặc bị tiêu diệt ngay trên mây đã tẩm [5]

2.2.2.2.Cơ chế thấm thuốc bảo quản vào mây

Thuốc bảo quản dùng để xử lý lâm sản theo các phương pháp tẩm sẽthấm sâu vào mây theo các cơ chế khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện mâynguyên liệu, loại thuốc và pháp pháp tẩm

Mây là một trong những loại vật liệu xốp – mao mạch, bao gồm các bómạch phân bố rải rác trên nền các tế bào nhu mô Các tế bào mây hầu hết xếpsong song với trục dọc thân cây Với đặc điểm cấu tạo như vậy khi ngâmtrong dung dịch thuốc bảo quản, quá trình thẩm thấu tự nhiên của thuốc vàomây là một quá trình vật lý gồm hai giai đoạn:

- Quá trình mao dẫn

Với cấu tạo giải phẫu của mây có thể phân định rõ ràng hệ thống maomạch có kích thước lớn bao gồm có ống mạch, hệ thống này được liên hệ vớicác thành phần cấu tạo khác bởi các lỗ thông ngang Hệ thống mao mạch cókích thước rất nhỏ bao gồm khoảng không gian giữa các vách tế bào và giữacác mao mạch nhờ hiện tượng mao dẫn Việc nghiên cứu động lực học củaquá trình nâng cao chất lỏng trong mao mạch không phụ thuộc vào vật liệu đãđược Ostvald (1908) nghiên cứu, tác giả kết luận rằng khối lượng chất lỏngchuyển động trong mao mạch là đại lượng thay đổi Tuy nhiên, do cấutrúc

Trang 30

phức tạp, không đồng nhất của mây nên việc xác định độ lớn thực của các bán

kính mao mạch cho dòng chất lỏng chảy qua không có khả năng thực hiện

Theo tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc cho biết độ thấm của mây biểu thịbằng hệ số thấm không phụ thuộc vào độ xốp của vật liệu, mà nó phụ thuộcbởi cấu tạo giải phẫu đặc biệt của mỗi loài riêng biệt và bởi trạng thái các phần

từ dẫn của mây Để giảm bớt tính toán một số tác giả như Stone, Onach đãđưa ra giả thiết thay thế tiết diện của các phần tử dẫn chất lỏng mây bằng kháiniệm bán kính hiệu quả của hệ thống mao mạch Với giả thiết như vậy, chophép nghiên cứu độ thấm của mây từ đại lượng lưu lượng chất lỏng thu đượcbằng thực nghiệm và tìm được sự biểu diễn định lượng bán kính hiệu quảcủa hệ thống mao mạch [5]

Ngoài ra, cũng vận dụng định luật Puazeil để thấy rằng lượng thuốc bảoquản thấm vào các mao mạch mây phụ thuộc vào độ chênh lệch áp suất giữađầu vào và đầu ra của ống mạch, vào độ nhớt của thuốc bảo quản và kíchthước của mao mạch Tuy nhiên, trong trường hợp vật liệu có cấu tạo phứctạp, quy luật thấm không hoàn toàn tuân theo mao dẫn

Quá trình thấm do khuếch tán

Bản chất của quá trình khuếch tán là quá trình truyền làm cho dung dịchđồng nhất về khối lượng riêng và áp suất Do vậy, các phần tử hoặc ion chấthoà tan trong nước sẽ có chuyển động với một động năng trung bình củachuyển động tịnh tiến

p = n0.k.TTrong đó: n0 là số phân tử chất hoà tan trong một đơn vị thể tích

T là nhiệt độ tuyệt đối

Trang 31

NA là hằng số Avogadro

Áp suất p còn gọi là áp suất thẩm thấu Vận tốc chuyển động của cácion hoặc phân tử chế phẩm còn phụ thuộc vào nhiệt độ Khi nhiệt độ càng caothì vận tốc chuyển dịch tăng lên

Khi ngâm Mây có độ ẩm cao trong dung dịch chế phẩm bảo quản, vách

tế bào gỗ được coi là màng bán thấm, các phân tử hoặc ion chế phẩm sẽkhuếch tán vào trong mây Như vậy, quá trình thấm mao dẫn và quá trìnhthấm khuếch tán cũng có nhiều điểm giống nhau Đó là quá trình thấm maodẫn là sự dịch chuyển của chất lỏng do sự chênh lệch áp suất, còn quá trìnhkhuếch tán là sự vận động của phân tử chất hoà tan do có sự chênh lệch vềnồng độ

Quá trình khuếch tán của thuốc bảo quản vào mây chịu ảnh hưởng củarất nhiều yếu tố Trong đó độ ẩm mây là yếu tố cần đề cập trước tiên, do nước

là xúc tác trung gian nên khi độ ẩm mây càng cao sẽ làm tăng tốc độ khuếchtán Các thí nghiệm của Viden (1984) đã chững minh được rằng khi độ ẩm gỗthấp hơn 50% thì quá trình khuếch tán diễn ra rất chậm Bởi với độ ẩm mâythấp nước tự do trong khoang rỗng các tế bào không liên tục làm cho quátrình khuếch tán bị cản trở Nồng độ và nhiệt độ của dung dịch có quan hệ tỷ

lệ thuận với tốc độ khuếch tán Quá trình khuếch tán còn chịu ảnh hưởng củaphản ứng giữa các ion điện tích và vách tế bào Xenluloza, mỗi một gốcđường gluco có 3 nhóm OH tự do, các nhóm OH này có thể tạo ra nhiều liênkết hoá học với các ion mang điện tích dương và có xu hưóng đẩy các ionmang điện tích âm Khi hoá chất bảo quản hoà tan trong dung môi nướccũng sẽ phân ly thành các ion mang điện tích Các ion này sẽ có liên kếtvới gốc OH của phân tử xenluloza tạo thành hiện tượng “nhị điện” và hiệntượng này sẽ dãn đến một số thành phần của thuốc bảo quản cố định vàovách tế bào, làm cho nồng độ ion tham gia khuếch tán giảm xuống do đóquá trình khuếch tán bị chậm lại [6]

Trang 32

2.3 Tài nguyên mây và tình hình sử dụng để sản xuất hàng thủ công mỹ

nghệ ở Việt Nam

Mây được đánh giá là nguồn lâm sản quan trọng phục vụ cuộc sống conngười Diện tích rừng và đất rừng tự nhiên cũng như điều kiện sinh thái đadạng đã tạo cho Việt Nam có nguồn nguyên liệu phong phú về loài Theo tài

liệu "Thực vật chí tổng quát của Đông Dương” tập VI năm 1937 và những kết

quả điều tra gần đây của các nhà khoa học, mây của Việt Nam có 6 chi và 30loài được phân bố rộng khắp toàn quốc và chiếm 55,5% số loài đặc hữu củavùng Đông Nam Á Nguồn nguyên liệu mây của Việt Nam hiện nay tập trungở

3 vùng chủ yếu Tây Bắc, vùng Bắc Trung Bộ, Trung và Nam Trung Bộ Ngoài

ra mây cũng mọc rải rác trong các rừng cây gỗ lá rộng xen tre, nứa Ở nhữngkhu rừng thứ sinh sau khai thác chọn, độ tàn che còn 0.4 – 0.5, mây mọc vàphát triển mạnh, vừa phong phú về thành phần loài, vừa nhiều về số lượng (Vũ

Văn Dũng và Lê Huy Cường, 1996) Mây nếp (Calamus tetradactylus Hance,

1975) là loài mây phổ biến nhất của Việt Nam, cả trong hoang dã và trongtrồng trọt Có thể gặp Mây nếp từ ven biển đến miền núi cao dưới 800m [13]

Đến năm 2010, đã phát hiện ở Việt Nam có thêm 15 loài mới phân bố ởcác vùng sinh thái khác nhau, nâng tổng số các loài mây ở Việt Nam lênkhoảng 4 – 5 loài, nhiều nhất ở các tỉnh ven biển Hiện nay ở khu vực ĐôngNam Á cũng như ở nước ta, mây được xác định là sản phẩm thương mại quantrọng đứng thứ 3 sau gỗ và tre, trúc Tuy nhiên, đến những năm cuối của thế

kỷ trước các sản phẩm này chủ yếu được khai thác ở trong rừng tự nhiên, dochúng phân bố rất rải rác ở trong rừng tự nhiên nên không thể thống kê đượcdiện tích và dự đoán được trữ lượng Những năm đầu của thế kỷ 21 phần lớnsản phẩm này đã được khai thác từ rừng trồng nên có thể thống kê được diệntích Diện tích trồng mây đến hết năm 2009 Theo Nguyễn Quốc Dựng và cáccộng sự (2010), tính đến hết năm 2009 cả nước có 12 tỉnh trồng được hơn3.031ha mây gồm 3 loài chủ yếu là: Mây nếp (Calamus tetradactylus), Mâynước (Daemonorops poilanei) và Mây đắng (Calamus walkeri), nhưng phần

Trang 33

lớn diện tích này là Mây nếp Ngoài ra, một số tỉnh khác đã trồng tới hàngchục hecta nhưng chưa thống kê được như: Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang,Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ninh,…[13]

Mây nếp được sử dụng từ rất lâu đời và rất quen thuộc ở nước ta Cáchđây hàng trăm năm, Mây nếp đã được trồng làm hàng rào ở nhiều gia đìnhthuộc các tỉnh đồng bằng sông Hồng như: Thái Bình, Hà Nam, HưngYên, Mây có độ dài lóng của sợi thay đổi từ 10 – 30 cm, khối lượng riêng0,432, lực căng kéo 38,0 N/mm2 Hàm lượng lignin 18,17%, chất lượng sợimây phụ thuộc vào tuổi cây, độ ẩm trong sợi, điều kiện môi trường sống, độdài và đường kính của lóng Mây nếp có độ bền, dẻo và chịu lực kéo tốt,cấu tạo đồng đều, mặt ngoài có mầu trắng ngà, bóng rất đẹp, dễ uốn, kết hợptốt với kim loại và vật liệu khác như gỗ, da, nhựa để làm bàn ghế, đồ dùng mỹnghệ cao cấp Do đó, Mây nếp là một trong những loài mây được dùng làmhàng thủ công mỹ nghệ, đan lát, tạo mặt bàn ghế cao cấp có giá trị ở thị trườngtrong nước và xuất khẩu [13], [14]

Việt Nam có khoảng trên 1.000 làng nghề mây tre đan, chiếm 24% tổng

số các làng nghề trong cả nước Đến nay, các sản phẩm mây, tre đan đã xuấtkhẩu tới hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với kim ngạch xuấtkhẩu trung bình đạt trên 200 triệu USD/năm, chiếm khoảng 14% tổng kimngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong cả nước Thống kê mới nhấtcủa Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) cho thấy: Kể từ đầu năm 2017 đến hếtngày 15/11/2017, tổng giá trị xuất khẩu nhóm hàng mây, tre, cói đạt trên230,16 triệu USD Mặc dù đã có sự gia tăng xuất khẩu mặt hàng mây tre đansang các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, Song điểm đáng lưu ý trong xuấtkhẩu mây tre đan là Việt Nam hiện đang chiếm một thị phần rất nhỏ trên thịtrường thế giới Cụ thể, theo thống kê của Trademap (hệ thống cơ sở dữ liệucập nhật về tình hình thương mại của các nước): Thị phần mây, tre đan ViệtNam trên thị trường thế giới mới đạt khoảng 3,37% Trong đó, thị trường chủđạo Nhập khẩu mây, tre lá của Việt Nam là Mỹ, chiếm đến 20% và NhậtBản

Trang 34

chiếm 16% tổng giá trị xuất khẩu [8]

Một số chuyên gia đánh giá, cơ hội phát triển cho ngành mây tre đancủa Việt Nam còn khá rộng mở Khả năng nâng con số 3,37% thị phần thếgiới lên khoảng 8-10% trong tương lai hoàn toàn khả thi Cùng với đó, kimngạch xuất khẩu của ngành này có thể đạt tới 1 tỷ USD chứ không chỉ mãi đìđẹt với vài trăm triệu USD mỗi năm như hiện nay Những năm gần đây, một

số thị trường mới nổi như Trung Quốc, Tây Ban Nha, Australia, đang có xuhướng nhập khẩu mặt hàng mây tre đan từ Việt Nam Cụ thể, Trung Quốc vàTây Ban Nha đã gia tăng nhập khẩu mặt hàng mây tre đan Việt Nam với mứctăng lần lượt là 40% và 13,2% một năm [13]

Theo kết quả điều tra của Cục chế biến thương mại Nông lâm thuỷsản và nghề muối của Bộ NN&PTNT đến năm 2006 thì hầu hết các cơ sởsản xuất mây, tre đan xuất khẩu đều thiếu tới 50% nguyên liệu đầu vào

Vì vậy, Bộ NN&PTNT đã phê duyệt “Đề án bảo tồn và phát triển LSNGgiai đoạn 2006 – 2020” Nội dung bảo tồn và phát triển LSNG đã đượclồng ghép trong chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 – 2020.Khái quát về tài nguyên mây và tình hình sử dụng ở nước ta trên đây, đãkhẳng định vai trò to lớn của mây nói riêng và nguồn LSNG nói chungtrong đời sống kinh tế xã hội [2]

2.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bảo quản trên thế giới và

ở Việt Nam

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Năm 1945, Wimbush đã thực nghiệm bảo quản tre tươi bằng cách dựngtre tươi mới chặt hạ còn giữ nguyên lá vào thùng đựng dung dịch Wolman2.5% hoặc dung dịch Borac 4% trong 24 giờ Tác giả cho biết tre tẩm có khảnăng chống lại sự xâm nhập của mọt tre rất tốt

Singh và Tewari (1980) đã thí nghiệm bảo quản tre tươi sau khi chặt hạ,tre được dựng đứng trong thùng chứa dung dịch thuốc bảo quản, phần gốc ởdưới, phần ngọn phía trên Dung dịch thuốc chỉ cần ngập khoảng 25cm kể từ

Trang 35

dưới lên Thời gian xử lý từ 7-10 ngày, phụ thuộc vào chiều dài của khúc tre,khi quan sát thấy những giọt thuốc xuất hiện trên các đốt là được [12]

Một số phương pháp bảo quản như phun, nhúng, quét cũng đượcTewari và Singh thực hiện với một số loại thuốc bảo quản dạng sữa như:Dieldrin 0.03%, aldrin 0.015% Wu và Shinh đã phun một số loại thuốc nhưDDT, gamma – BHC, diedrin sữa, PCP Na để chống mọt tre Đây là cácphương pháp bảo quản tạm thời khi tre được lưu giữ trong kho hoặc trước khi

áp dụng các phương pháp ngâm tẩm [12]

Một số thí nghiệm ngâm tẩm tre theo phương pháp nóng - lạnh đãđược thực hiện tại Viện nghiên cứu lâm nghiệp Dehra Dun, Ấn Độ Tređược ngâm trong creosote nóng 900 C với thời gian 3 giờ, sau đó để nguội

12 giờ đạt lượng thuốc thấm ở tre nguyên ống là 54kg/m3 và 57kg/m3 ở trechẻ thanh Tuy nhiên do lý do về kinh tế nên phương pháp này không đượcứng dụng rộng rãi để bảo quản tre [12]

Ở Indonesia, năm 1974, Rachman tiến hành bảo quản song, mây bằngcách vùi sâu trong bùn, nung nóng trong 24 giờ, dùng sơ dừa để làm sạch,phơi nắng trong khoảng 1 tuần, rồi phân loại và bó thành từng bó Tác giảcũng đã luộc song, mây trong dầu nhằm loại bỏ lớp sáp và các chất gôm, loạibớt nước hay giảm độ ẩm, vì thế giúp song, mây tránh được nấm mốc và nấmmục tấn công, đồng thời cải thiện được màu sắc cho song, mây [12]

Bước quan trọng trong quá trình luộc dầu là giữ cho song, mây ngậptrong dầu ở dưới điểm sôi trong một khoảng thời gian nhất định từ 5 - 10phút, 30 - 40 phút, tùy thuộc vào loài cây và đường kính Trong quá trình này,các chất sáp, gôm và nhựa sẽ bị hòa tan và loại bỏ, độ ẩm trong thân sẽ giảm.Phần dầu bám trên bề mặt song, mây phải được loại bỏ ngay sau khi luộc Cácvật liệu như mùn cưa, vỏ bao tải, rẻ rách, xơ dừa, bông thép hoặc cát mịnđược dùng để làm sạch dầu bám trên bề mặt song, mây Tuy nhiên, mùn cưa

là thích hợp hơn cả bởi nó không chỉ làm sạch bề mặt dễ dàng, nhanh hơn, mà

Trang 36

còn thấm hết toàn bộ lượng dầu dư bám trên bề mặt Có thể kết hợp các biệnpháp chống nấm mốc và côn trùng phá hoại trong quá trình luộc dầu Cụ thể

là thêm hóa chất chống nấm mốc và côn trùng vào trong bể dầu Tuy nhiên,

để tránh cho hóa chất bị phân hủy do nhiệt, nên nhúng các sợi mây đã luộcdầu còn đang nóng vào dung dịch thuốc bảo quản được đựng trong một bểchứa khác [12]

Ở Ấn Độ người ta thường dùng dung dịch NaPCP 1%; ZnCl25%;CuSO4 để phun, nhúng, quét, ngâm nguyên liệu và các sản phẩm từ tre, nứa, song,

mây

Trường Đại học Lâm nghiệp Nam Kinh (Trung Quốc) đã dùng các hợpchất có acid boric + muối B, phương pháp này không gây ô nhiễm, giá rẻ,không làm mất màu mẫu tẩm

Trong những năm gần đây người ta đã biến tính song, mây, gỗ bằng cácchất hoá học như ankyl anhyđrit, isoxyanat, focmadehyt tác dụng với nhómhyđroxyl của polysacarit để tạo ra các nhóm chức bền vững, có liên kết cônghoá trị và ít ưa nước hơn song, mây, tre, gỗ sau khi xử lý sẽ chịu được nước

và khó bị mủn Ngoài ra còn có thể dùng sóng viba để sấy nóng và làm biếntính song, mây, tre Phương pháp này nhanh và tương đối rẻ tiền Hiện nayphương pháp này được sử dụng phổ biến để bảo quản gỗ hơn so với song, mây

Một số phương pháp hoá sinh cũng đã được sử dụng để bảo quản song,mây người ta đã sử dụng các chất ức chế enzym giúp sinh vật hại không biếnđổi và chuyển hoá được thức ăn là song, mây Cũng có thể sử dụng một loạinấm khác, diệt loại nấm hại song, mây Đối với côn trùng có hại, người ta sửdụng các chất kìm hãm rối loạn sinh trưởng, không làm cho chúng sinhtrưởng và phát triển bình thường [9]

Một số hoá chất như: NaOH, H2O2, Ca(OH)2, NH3, Oxalicaxit, H2SO4,thuốc tím, HCl và HClO, cũng được sử dụng ở dạng đơn lẻ hoặc pha chộn

Trang 37

lẫn theo các thang nồng độ khác nhau để tẩy trắng cho gỗ đồng thời hạn chếđược nấm mốc xâm nhập [12]

2.3.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Trước những năm 90 đã có một số công trình nghiên cứu bảo quản tre,nứa, song, mây bằng các phương pháp hoá học Lê Văn Nông đã nghiên cứukhả năng thấm thuốc của Luồng Thanh Hoá khi ngâm tẩm bằng phương phápngâm thường và phương pháp Boucherie Tác giả cho biết khi ngâm tre bằngthuốc CuSO4 và LN2, thuốc có thể thấm vào tre theo cả 4 chiều, tuy nhiênchiều dọc thớ thấm tốt nhất Tre ngâm 60 giờ trong dung dịch thuốc LN2 4%

và CuSO4 5% có khả năng ngăn ngừa sự phá hại của mọt tre và hạn chế sựphá hại của Nấm chân chim ở mức độ nhất định [7]

Lê Văn Nông (1994) đã nghiên cứu phòng chống mốc cho song, mây.Kết quả nghiên cứu đã xác định được loại thuốc PBB với nồng độ 5% xử lýsong, mây không vỏ luộc trong dầu và song, mây không luộc trong dầu đều cóhiệu lực chống mốc tốt [7]

Phương pháp sấy diêm sinh cũng được sử dụng phổ biến trong thực tếsản xuất hàng thủ công mỹ nghệ ở nước ta và một số nước nhiệt đới như:Indonesia, Philipin,…Trong phương pháp này, người ta thường đốt lưu huỳnhtrong buồng kín, khi đốt sinh hơi của lưu huỳnh sẽ len lỏi vào các phần rỗngcủa sợi mây, giang, tạo ra môi trường độc hại đối với sinh vật và có tác dụngtẩy trắng sản phẩm mây, tre đan Phương pháp này có nhược điểm rất lớn làgây độc cho môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người dokhí lưu huỳnh Hiện nay ở các nước Châu Âu đã không sử dụng phương phápnày [12]

Gần đây, một số đề tài nghiên cứu của sinh viên trường Đại học Lâmnghiệp cũng đã bước đầu nghiên cứu xử lý chống mốc kết hợp tẩy trắng cho

cây Mây nước (Deamonorops pierreanus BECc) bằng dung dịch H2O2 Kếtquả mới xác định được hiệu quả xử lý sơ bộ do chưa có đánh giá hiệu lựcchống mốc, mọt trong điều kiện chuẩn [11]

Trang 38

Trên đây là các kết quả nghiên cứu sơ lược về kỹ thuật bảo quản mâynói riêng và LSNG nói chung trong và ngoài nước trong suốt thế kỷ qua.Ngày nay, mặc dù các thiết bị ngâm tẩm có hiện đại hơn, song vẫn dựa trêncác nguyên lý cơ bản của từng phương pháp Trong thực tế, tuỳ thuộc vàođiều kiện của từng đối tượng bảo quản và phạm vi áp dụng mà chúng ta có thểlựa chọn phương pháp này hay phương pháp khác Tuy nhiên, đối với nguyênliệu mây là một trong những đối tượng nghiên cứu khác với tre, gỗ, vì vậyviệc áp dụng các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực bảo quản gỗ để bảo quảncho Mây dùng trong sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ là rất cần thiết.

Các loại thuốc dùng để bảo quản mây rất khác nhau Một số hoá chất cóhiệu lực chống mốc tốt song đã bị cấm sử dụng ở nhiều quốc gia Chính vìvậy, việc nghiên cứu tuyển chọn loại thuốc bảo quản thích hợp cho cây mây

để làm hàng thủ công mỹ nghệ cần thiết được đặt ra Với yêu cầu các côngthức thuốc tuyển chọn vừa phải đảm bảo hiệu lực bảo quản, vừa không ảnhhưởng tới các tính chất cơ vật lý của mây và các quá trình xử lý khác như tẩytrắng, trang sức bề mặt và thuốc không chứa các thành phần hoá chất bị cấm

sử dụng trong nông nghiệp

Trang 39

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Khả năng kháng nấm mốc của thuốc hóa học Cislin 2.5EC và chế phẩmbảo quản chiết suất từ Sả Java

- Thuốc hóa học Cislin 2.5EC có nồng độ: 1%, 2%, 3%

- Chế phẩm chiết suất từ Sả Java nồng độ 10%, 15% và 20%

- Dụng cụ, thiết bị thí nghiệm: Sử dụng các trang thiết bị có trongphòng thí nghiệm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và tự trang bịdụng cụ cần thiết

- Phương pháp: Phương pháp ngâm thường

- Chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ và thời gianngâm thuốc, chế phẩm đến: Khả năng phòng trừ nấm mốc

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu

- Địa điểm: Tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2018 đến tháng 5/2018

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Ảnh hưởng của nồng độ thuốc hóa học Cislin 2.5EC, chế phẩm chiếtsuất từ Sả Java và thời gian ngâm tẩm đến khả năng thấm thuốc của Mây nếp

Trang 40

- Ảnh hưởng của nồng độ thuốc hóa học Cislin 2.5EC, chế phẩm chiếtsuất từ Sả Java và thời gian ngâm tẩm đến khả năng phòng chống nấm mốccủa Mây nếp

- Đề xuất giải pháp bảo quản Mây nếp phục vụ sản xuất đồ thủcông mỹ nghệ

3.4 Phương pháp nghiên

cứu

3.4.1 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của nồng độ thuốc hóa học Cislin, chế phẩm chiết suất từ Sả Java và thời gian ngâm tẩm đến khả năng thấm thuốc bảo quản của Mây nếp

- Quy cách mẫu:

Mây chẻ sợi: 10 sợi (có kích thước 1000mm/sợi) cuộn thành một mẫu,tổng số mẫu thí nghiệm: 18 mẫu

Mây nguyên đoạn: 18 mẫu (kích thước 1000mm/ mẫu)

- Pha thuốc và chế phẩm theo nồng độ và tỷ lệ như sau:

Thuốc hóa học Cislin 2.5ECNồng độ (%) Lượng thuốc (ml) Lượng nước

Lượng dầuđiezen(ml)

Ngày đăng: 13/03/2019, 23:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Văn Ái (2002), Nghiên cứu sử dụng dầu vỏ hạt điều làm thuốc bảo quản lâm sản, Luận án tiến sĩ kỹ thuật, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng dầu vỏ hạt điều làm thuốc bảoquản lâm sản, Luận án tiến sĩ kỹ thuật
Tác giả: Bùi Văn Ái
Năm: 2002
5. Nguyễn Thị Bích Ngọc, Nguyễn Chí Thanh, Lê Văn Nông (2006), Bảo quản Lâm sản, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảoquản Lâm sản
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Ngọc, Nguyễn Chí Thanh, Lê Văn Nông
Năm: 2006
6. Nguyễn Thị Bích Ngọc, Nguyễn Chí Thanh, Lê Văn Nông (2007), Bảo quản Lâm sản, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảoquản Lâm sản
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Ngọc, Nguyễn Chí Thanh, Lê Văn Nông
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2007
7. Lê Văn Nông (1994), Bảo quản song mây chống sinh vật và môi trường, Đề mục KC.07.08, Viện KHLN Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo quản song mây chống sinh vật và môi trường
Tác giả: Lê Văn Nông
Năm: 1994
8. Phan Sinh, Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ mây tre đan của Việt Nam, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, số 1, tháng 7 năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ mây tre đan của Việt Nam
10. Nguyễn Thị Tuyên (2008), Bài giảng bảo quản và chế biến nông lâm sản, giáo trình giảng dạy trường đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng bảo quản và chế biến nông lâm sản
Tác giả: Nguyễn Thị Tuyên
Năm: 2008
2. Bộ Nông nghiệp và PTNT , Chiến lược phát triển Lâm nghiệp đến năm 2020 Khác
3. Nguyễn Thị Thu Hoài (1994), Bước đầu tìm hiểu và nghiên cứu về nấm mốc và một số loài nấm mốc hại mây nguyên liệu, Trường ĐHLN, Hà Tây Khác
11. Viện Khoa học Lâm Nghiệp (2002), Kiểm nghiệm hiệu lực của thuốc bảo quản Lâm sản đối với nấm, tiêu chuẩn ngành Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w