Trong dạy học môn Toán ở tiểu học, kĩ năng lập đề toán là một trongnhững kĩ năng quan trọng, góp phần hình thành và phát triển năng lực phát triểnchương trình cho giáo viên.. Sau đó, các
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Thu Hương
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được aicông bố trong bất kỳ công trình nào khác, các thông tin trích dẫn trong luận văn
đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Ngọc Quỳnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS Lê ThịThu Hương, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiêncứu và hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học - TrườngĐại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thờigian tôi học tập và nghiên cứu tại đây
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của các thầy cô giáocác trường: Tiểu học Archimedes Academy, Tiểu học Vinschool - cơ sởGardenia, Tiểu học Đoàn Thị Điểm Ecopark - thành phố Hà Nội đã tạo mọiđiều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình khảo sát và khảo nghiệm sư phạm
Để hoàn thành luận văn: “Phát triển kĩ năng lập đề toán lớp 1 bằng tiếng Anh cho giáo viên tiểu học” tôi đã sử dụng, kế thừa có chọn lọc các
nghiên cứu của các tác giả đi trước, đồng thời nhận được rất nhiều sự quan tâm,chỉ bảo của các thầy, cô giáo; sự giúp đỡ của bạn bè, người thân đã động viêntôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng và nỗ lực để hoàn thành tốt luận văn nhưngchắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự chỉbảo, đóng góp của các thầy, cô giáo và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Ngọc Quỳnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC .iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU v
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ vi
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 10
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Giả thuyết khoa học 10
6 Phương pháp nghiên cứu 10
7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 11
8 Phạm vi nghiên cứu 11
9 Đóng góp của luận văn 11
10 Cấu trúc của luận văn 12
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG LẬP ĐỀ TOÁN BẰNG TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 13
1.1 Một số khái niệm công cụ 13
1.1.1 Kĩ năng 13
1.1.2 Kĩ năng lập đề toán
14 1.1.3 Kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh
14 1.2 Lập đề toán tiểu học bằng tiếng Anh 14
1.2.1 Mục đích và ý nghĩa 14
1.2.2 Phân loại các bài toán ở tiểu học
Trang 61.2.3 Những lưu ý khi lập đề toán bằng tiếng Anh .19
Trang 71.2.4 Các bước lập đề toán bằng tiếng Anh 21
1.3 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học 22
Kết luận chương 1 25
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG LẬP ĐỀ TOÁN BẰNG TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
26 2.1 Dạy học môn Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học 26
2.1.1 Mục tiêu dạy học môn Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học 26
2.1.2 Nội dung dạy học Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học 27
2.2 Thực trạng kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh của giáo viên tiểu học
48 2.2.1 Thực trạng 48
2.2.2 Kết quả khảo sát thực trạng 49
Kết luận chương 2 54
Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG LẬP ĐỀ TOÁN LỚP 1 BẰNG TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC VÀ KHẢO NGHIỆM SƯ PHẠM 55
3.1 Định hướng để đề xuất các biện pháp 55
3.2 Một số biện pháp nhằm phát triển kĩ năng lập đề toán lớp 1 bằng tiếng Anh cho giáo viên tiểu học 55
3.2.1 Biện pháp 1: Phát triển kĩ năng lập đề toán tiếng Anh từ bài toán đã có nhờ tương tự, khái quát hoá, đặc biệt hoá 55
3.2.2 Biện pháp 2: Rèn kĩ năng lập đề toán tiếng Anh dựa trên dạng toán và cách giải bài toán đã có 62
3.2.3 Biện pháp 3: Rèn kĩ năng lập đề toán tiếng Anh dựa trên tóm tắt, hình vẽ, sơ đồ 69
3.2.4 Biện pháp 4: Lập đề toán tiếng Anh theo hướng vận dụng toán học vào thực tiễn 74
3.3 Khảo nghiệm sư phạm 79
3.3.1 Mục đích khảo nghiệm sư phạm 79
Trang 83.3.2 Đối tượng khảo nghiệm sư phạm 79
3.3.3 Phương pháp khảo nghiệm sư phạm 79
3.3.4 Tổ chức khảo nghiệm sư phạm 79
3.3.5 Đánh giá kết quả khảo nghiệm sư phạm 79
Kết luận chương 3 82
B KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Khuyến nghị 83
C DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Tài liệu tiếng Việt 84
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1 Vai trò của dạy học toán bằng tiếng Anh cho học sinh tiểu học 50Bảng 2.2 Vai trò của việc rèn kĩ năng lập để toán bằng tiếng Anh cho giáo
viên tiểu học 50Bảng 2.3 Mức độ thường xuyên lập đề toán bằng tiếng Anh của giáo viên 50
Bảng 2.4 Những khó khăn khi lập đề toán bằng tiếng Anh 51Bảng 2.5 Tự đánh giá về kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh của GV 52Bảng 2.6 Mức độ thường xuyên thực hiện các biện pháp lập đề toán bằng
tiếng Anh của giáo viên 53Bảng 3.1 Ý kiến đánh giá của giáo viên về sự cần thiết và mức độ khả thi
của các biện pháp được đề xuất 80
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Hình 1.1 Các bước lập đề toán lớp một bằng tiếng Anh 22
Trang 12A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Giáo dục có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển con người Giáo dụcgóp phần cải thiện nguồn vốn con người - động lực phát triển của mỗi quốc gia.Hầu hết các nước trên thế giới đều coi việc phát triển giáo dục là ưu tiên hàng
đầu Ở Nhật: “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu; cần kết hợp hài hòa
giữa bản sắc văn hóa lâu đời phương Đông với những tri thức phương Tây hiện đại” [22] Singapore với phương châm: “Thắng trong cuộc đua về giáo dục sẽ thắng trong cuộc đua về kinh tế” [22] Cũng như nhiều nước trên thế giới, Đảng
ta khẳng định giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúcđẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồnlực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và
bền vững Nghị quyết trung ương VIII, khóa XI: “Giáo dục và đào tạo là quốc
sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình,
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” [3]
Nước ta đang trong quá trình hội nhập và phát triển Xã hội ngày nay đòihỏi những người phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ và thực sự năngđộng, sáng tạo, tích cực, chủ động học hỏi tiếp thu kiến thức mới Giáo dụcluôn gắn liền và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội, thậm chí giáo dụcphải đi trước và có tác dụng định hướng xã hội Chính vì thế, việc phát triểnnăng lực giao tiếp cho HS càng phải chú trọng, đặc biệt là phát triển ngôn ngữnước ngoài để hội nhập với các nước trên thế giới
1.2 Giáo dục tiểu học được coi là cấp học nền tảng trong hệ thống giáodục quốc dân Mục tiêu của giáo dục tiểu học được xác định rõ trong Luật Giáo
dục: “Giúp cho HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn
Trang 13và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để HS tiếp tục học THCS” [28].
Ở tiểu học, một trong những năng lực quan trọng cần hình thành cho HS
là năng lực giao tiếp mà năng lực giao tiếp có thể được thể hiện thông qua tiếng
mẹ đẻ hay ngôn ngữ khác (như tiếng Anh)
1.3 Trong dạy học môn Toán ở tiểu học, kĩ năng lập đề toán là một trongnhững kĩ năng quan trọng, góp phần hình thành và phát triển năng lực phát triểnchương trình cho giáo viên Nội dung môn Toán ở tiểu học tuy đơn giản nhưng
là những kiến thức cơ bản, tạo tiền đề cho việc học tập tốt môn Toán và cácmôn học khác trong nhà trường Việc tiếp cận môn này bằng ngôn ngữ thứ haigiúp các em dễ ghi nhớ và củng cố kiến thức, đồng thời có thể vận dụng tiếngAnh trong tình huống thực tế Đây là sự kết hợp giúp trẻ phát triển song song tưduy logic và ngôn ngữ
1.4 Nghị quyết Hội nghị Trung ương VIII, khóa XI về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ nhiệm vụ: “Đa dạng hóa nội dung, tài liệu
học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo
và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người” [3] Thực tiễn dạy học tiểu học chothấy, giáo viên còn nhiều hạn chế về năng lực phát triển chương trình nói chung
và kĩ năng lập đề toán nói riêng Nguồn học liệu còn nghèo nàn nhưng lại chiphối nhiều đến hoạt động lập kế hoạch cũng như thực hiện kế hoạch bài học củagiáo viên
Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Phát triển kĩ năng lập
đề toán lớp 1 bằng tiếng Anh cho giáo viên tiểu học” làm đề tài luận văn nghiên
cứu
2 Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu
2.1 Định hướng dạy học tiếp cận năng lực người học
Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực còn gọi là dạy họcđịnh hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ XX
Trang 14và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướng pháttriển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học Giáo dục địnhhướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiệnmục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vậndụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con ngườinăng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Chương trìnhnày nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhậnthức Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh là
“competentia” Có nhiều tác giả định nghĩa về năng lực theo những cách khác
nhau Tổng hợp những định nghĩa đó ta có thể khái quát: Năng lực là sự biểu
hiện quá trình chuyển hóa những kiến thức, kĩ năng của một cá nhân thành các thao tác hoạt động diễn ra trong một tình huống cụ thể với những đặc điểm phẩm chất đặc trưng của cá nhân ấy Nói cụ thể hơn, năng lực được xem như
sự tích hợp sâu sắc của kiến thức - kĩ năng - thái độ làm nên khả năng thực hiệnmột công việc chuyên môn và được thể hiện trong thực tiễn hoạt động
Tác giả Nguyễn Văn Tuấn (2010) trình bày khái niệm năng lực theo quan
điểm tâm lí, giáo dục học: “Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là
điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm” [34].
Như vậy có thể xem năng lực như là sự tích hợp của kiến thức kĩ năng thái độ làm nên khả năng thực hiện một công việc nào đó của một cá nhân vớitinh thần trách nhiệm cao
-Trên thế giới, thuật ngữ nền giáo dục dựa trên kết quả (Outcomes - BasedEducation - OBE) thường được sử dụng đồng nghĩa với giáo dục dựa vào nănglực hoặc giáo dục tiếp cận năng lực (Competency - Based Education - CBE).Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, mục tiêu dạy họccủa chương trình được mô tả thông qua các nhóm năng lực Những mục tiêunày được xác lập và mô tả giúp cho người học xác định những gì mình có thểlàm
Trang 15được và nó còn được dùng để mô tả dung lượng và nội dung kiến thức, kĩ năng
mà giáo viên trong mong người học sẽ đạt được từ chương trình đào tạo
- Giáo dục định hướng năng lực ở Mỹ
Nguồn gốc của CBE, được xem như một sự tất yếu đáp ứng những thayđổi của xã hội bấy giờ, được ra đời và thúc đẩy bởi Bộ Giáo dục Hoa Kỳ vàonăm 1968 với 10 khoản tài trợ cho các trường cao đẳng và đại học phát triển các
mô hình đào tạo giáo viên tiểu học theo hướng tiếp cận năng lực Các mô hìnhnày đều tập trung vào các năng lực: năng lực tự học hoặc khám phá có hướngdẫn; module hóa nội dung dạy học, năng lực đánh giá, năng lực cá nhân và nănglực chuyên môn Theo đó, chỉ có những giáo viên có năng lực mới được phépbước vào nghề và việc kiểm tra để chuẩn bị, cấp giấy chứng nhận hay bằng cấpnghề nghiệp đều được đánh giá dựa trên năng lực Sau đó, các chương trình đàotạo hướng tiếp cận năng lực được hình thành và phát triển rộng khắp trên toànnước Mỹ, mở rộng tới các trường tiểu học, trường trung học và các trườngchuyên nghiệp vào những năm 1970 và đều được thừa nhận là có nguồn gốc từcác chương trình đào tạo giáo viên (Burke và cộng sự, 1975; Houston, 1980).Như vậy, đến những năm 1970, việc đào tạo giáo viên theo hướng tiếp cậnnăng lực đã gần như trở thành một sự chuyển biến tất yếu và nhận được sựquan tâm của đông đảo các tầng lớp xã hội, các nhà quản lí, các chính trị giatrên khắp nước Mỹ (Lindsey, 1976) Bộ Giáo dục Hoa Kỳ đã tiếp tục hỗ trợviệc thúc đẩy CBE thông qua Hiệp hội quốc gia của các Trung tâm Giáo dụcdựa trên năng lực Hiệp hội đã quản lí và điều phối hiệu quả các hoạt động của
9 trung tâm lớn hỗ trợ cho chương trình đào tạo hướng năng lực Hiệp hội này
đã xây dựng bộ tiêu chí để mô tả và đánh giá các chương trình đào tạo dựa trênnăng lực như sau:
Hệ thống CEB ở Mỹ được phát triển trên toàn các khu vực và tiểu bangnhưng dù sao vẫn tồn tại một sự khác biệt khá lớn bên trong và giữa các tổchức, các cơ sở giáo dục trong việc tiếp nhận, xây dựng và triển khai chươngtrình đào tạo tiếp cận năng lực người học Có thể xem đây là nơi khởi đầu chogiáo dục
Trang 16định hướng năng lực mà ngày nay đã trở nên phổ biến và phát triển trên khắp thế
giới
- Giáo dục định hướng năng lực ở Anh
Xu hướng này được bắt đầu ở Anh từ những năm 1980 Sự nhấn mạnh vềnăng lực cần thiết như là chuẩn đầu ra của các chương trình đào tạo đã đượcquan tâm đến trong một số giai đoạn của nền giáo dục Anh, đặc biệt là trong cáctrường chuyên nghiệp
Có 2 cách tiếp cận giáo dục định hướng năng lực: Cách tiếp cận thứ nhấtdựa trên việc phân tích các năng lực cần thiết để thực hiện một công việcchuyên môn Phương án này thường đưa đến một danh sách các năng lực đượcphân loại theo các nhóm nhiệm vụ hoặc chức năng chính để đảm nhiệm mộtcông việc nào đó Một sản phẩm quan trọng của cách tiếp cận phân tích nănglực này là bản đồ năng lực được thiết lập để làm căn cứ phát triển các chươngtrình đào tạo Cách tiếp cận thứ hai dựa trên việc phân tích trong đó quan tâmnhiều hơn tới năng lực của những cá nhân xuất sắc, vượt trội
- Giáo dục định hướng năng lực ở Úc
Đại học Victoria (Úc) xác lập 4 khối năng lực: năng lực cốt lõi (CoreCompetencies), năng lực xuyên văn hóa (Cross Cultural Competencies), nănglực chuyên biệt của chương trình/ngành đào tạo (Program SpecificCompetencies), và năng lực nghề nghiệp đã được quốc gia thể chế hóa(Professional Competencies) Trong đó, khối năng lực cốt lõi bao gồm 10 nănglực khác nhau là: quản trị cá nhân, giao tiếp, quản lý thông tin, nghiên cứu vàphân tích, quản lí công việc và dự án, làm việc nhóm, tinh thần vì trách nhiệm
xã hội và học tập suốt đời
Gardner đã cho rằng: “Sai lầm lớn nhất của nền giáo dục những thế kỉ
trước là đã xem tất cả mọi HS như là những biến thể của cùng một cá nhân và trên cơ sở đó tiền hành quá trình dạy học cùng một nội dung, theo cùng một cách cho tất cả HS” [35] Tổng quan như vậy để thấy rằng tiếp cận năng lực
Trang 17thành và phát triển rộng khắp tại Mỹ vào những năm 1970 trong phong tràophát triển các mô hình đào tạo giáo viên và sau đó đã lan tỏa mạnh mẽ và bướcđến một nấc thang mới trong những năm 1990 ở Mỹ, Anh, Úc, Đức,… Giáodục dựa vào năng lực và phát triển chương trình đào tạo theo hướng tiếp cậnnăng lực đã được xem như một quan điểm có tính chất toàn cầu và ngày nay nótrở thành một xu thế tất yếu của giáo dục Việt Nam, trong đó có giáo dục tiểuhọc.
2.2 Phát triển chương trình giáo dục tiểu học và kĩ năng lập đề toán tiểu học
Phát triển chương trình giáo dục là quá trình điều chỉnh, bổ sung, cậpnhật, làm mới toàn bộ hoặc một số thành tố của chương trình giáo dục, bảođảm khả năng phát triển và ổn định tương đối của chương trình giáo dục đã có,nhằm làm cho việc triển khai chương trình theo mục tiêu giáo dục đặt ra đạtđược hiệu quả tốt nhất, phù hợp với đặc điểm và nhu cầu phát triển của xã hội
và phát triển của cá nhân HS Phát triển chương trình bao gồm xây dựngchương trình, đánh giá, chỉnh sửa và hoàn thiện chương trình
Chương trình giáo dục cấp tiểu học nhằm giúp HS hình thành những cơ
sở ban đầu cho sự hình thành và phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần,phẩm chất và năng lực được nêu trong mục tiêu chương trình giáo dục phổthông; định hướng chính vào giá trị gia đình, dòng tộc, quê hương, những thóiquen cần thiết trong học tập và sinh hoạt; có được những kiến thức và kĩ năng
cơ bản nhất để tiếp tục học trung học cơ sở
Trong dạy học môn Toán ở tiểu học, giải toán chiếm một ví trí quantrọng Để thực hiện phát triển chương trình mạch nội dung giải toán, giáo viêntiểu học cần được trang bị và rèn luyện kĩ năng lập đề toán Từ những năm 60của thế kỉ XX, các tác giả Pierre Barrouilet và Micheal Fayol đã bàn đến sựthú vị của các bài toán, cách giải cũng như cách khai thác các bài toán lí thútrong cuốn “Suy luận và giải các bài toán” Bên cạnh đó, nhà giáo dục người MĩG.Polya với hai cuốn sách “Sáng tạo toán học” “Giải bài toán như thế nào” đãgiúp giáo viên tiểu học và những người quan tâm đến toán học khám phá sự thú
vị trong việc khai thác và lập đề toán Theo G.Polya, muốn thiết kế được một đề
Trang 18hết giáo viên phải nắm được các kĩ năng giải toán cơ bản, phải gắn bài toán vớicác tình huống thực trong thực tiễn cuộc sống, trên cơ sở đó thiết kế các bàitoán theo các phương pháp nhất định.
Ở Việt Nam, tác giả Phạm Đình Thực đã đưa ra những yêu cầu đối vớimột đề toán trong cuốn “Phương pháp sáng tác đề toán ở tiểu học” Các tác giảkhác như Trần Diên Hiển, Vũ Quốc Chung cũng thể hiện sự quan tâm đến vấn
đề này thông qua các công trình nghiên cứu và sách tham khảo toán tiểu học
2.3 Định hướng dạy học tích hợp
- Tích hợp là một xu thế, một trào lưu dạy học và giáo dục phổ biến trên
thế giới trong nhiều thập kỉ qua Quan điểm dạy học tích hợp được xem là địnhhướng lí luận của chương trình tiểu học Việt Nam hiện hành và những năm sắptới Để đào tạo nguồn lực giáo viên tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới, chươngtrình đào tạo GV tiểu học ở các trường đại học, cao đẳng Sư phạm trong nhiềunăm nay đã và đang quan tâm tìm hiểu, vận dụng quan điểm tích hợp để chuẩn
bị cho giáo sinh có thể đáp ứng với chương trình dạy học ở tiểu học theo quanđiểm tích hợp
- Nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra,đánh giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của HStrên tinh thần Nghị quyết 29 - NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo, sau khi Quốc hội thông qua Đề án đổi mới chương trình, sách giáokhoa giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục chỉ đạo các cơ sởgiáo dục tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên sẵnsàng đáp ứng mục tiêu đổi mới, trong đó tăng cường năng lực dạy học theohướng “tích hợp, liên môn” là một trong những vấn đề cần ưu tiên
- Theo “Hội thảo Dạy học tích hợp ở tiểu học - Hiện tại và Tương lai”:+ Tích hợp là một khái niệm rộng, ở mỗi lĩnh vực khoa học khác nhaucũng được hiểu và ứng dụng khác nhau Trong dạy học, tích hợp được hiểu là
sự phối kết hợp các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một hayvài
Trang 19lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học hoặc có thể là sự liên kết,hợp nhất nội dung các môn học có nguồn tri thức khoa học và có những quyluật chung, gần gũi với nhau Tích hợp nhằm làm giảm bớt được những phầnkiến thức trùng nhau, tạo điều kiện nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo Cóthể thấy tích hợp trong dạy học không phải là phương pháp dùng để rút bớt mônhọc, nhằm giảm tải kiến thức mà thực chất là sự phối hợp một cách tối ưu cácquá trình học tập riêng rẽ, các môn học, các phân môn theo những mô hình,hình thức, cấp độ riêng biệt nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêucầu khác
nhau
+ Ở cấp Tiểu học, cấp học nền tảng đối với sự phát triển tư duy, trí tuệ vànhân cách của trẻ, dạy học tích hợp càng đóng một vai trò quan trọng về nhiềumặt Dạy học tích hợp sẽ giúp cho giáo viên tiếp cận tốt hơn với chương trình
và sách giáo khoa, cũng như mềm dẻo, linh hoạt trong việc xử lí tình huống.Trong khi đó, HS học được nhiều, được chủ động tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức
và rèn luyện kĩ năng, nâng cao tính tích cực của các em qua đó góp phần đổimới nội dung và phương pháp dạy học ở trường tiểu học Thạc sĩ Đào ThịHồng trong bài viết “Ý nghĩa của việc dạy học tích hợp ở Tiểu học” đã đưa ra
ví dụ chứng minh rằng các bài dạy theo hướng tích hợp sẽ làm cho nhà trườnggắn liền với thực tiễn cuộc sống, với sự phát triển của cộng đồng Những nộidung dạy HS theo các chủ đề “Gia đình”, “Nhà trường”, “Cuộc sống quanh ta”,
“Trái đất và hành tinh”,… làm cho HS có nhu cầu học tập để giải đáp đượcnhững thắc mắc, phục vụ cho cuộc sống của mình và cộng đồng Học theohướng tích hợp sẽ giúp cho các em quan tâm hơn đến con người và xã hội ởxung quanh mình, việc học gắn liền với cuộc sống đời thường là yếu tố để các
em học tập Những thắc mắc nảy sinh từ thực tế làm nảy sinh nhu cầu giảiquyết vấn đề của các em Chẳng hạn “vì sao có sấm chớp?’, “vì sao khôngđược chặt cây phá rừng?”, “vì sao…?”, [19]
Trang 20Từ góc nhìn vĩ mô, dạy học tích hợp ở tiểu học đã được các nước có nềngiáo dục phát triển cao như Anh, Pháp, Mỹ,… áp dụng từ lâu nhằm giải quyếtmâu thuẫn giữa yêu cầu về học vấn, khả năng tiếp thu của HS, thời gian học ởnhà trường với khối lượng tri thức khổng lồ của nhân loại đang ngày một tănglên nhanh chóng Cụ thể hơn nữa, theo PGS.TS Đỗ Ngọc Thống (Viện Khoahọc Giáo dục Việt Nam), ở Hàn Quốc, vấn đề tích hợp đang được thực hiện cao
độ và đậm đặc ở lớp 1 và 2 với các nội dung như Chúng ta là một, Cuộc sống
dễ chịu, Cuộc sống thông minh, Cuộc sống kỉ luật; ở các lớp sau, nội dung tíchhợp thể hiện rõ ở hai môn Khoa học và Tìm hiểu xã hội Trong khi đó ở ViệtNam, từ những năm 1987, việc nghiên cứu xây dựng môn “Tìm hiểu Tự nhiên
và xã hội” Hội thảo Dạy học tích hợp ở Tiểu học - Hiện tại và Tương lai Theoquan điểm tích hợp đã được thực hiện và môn học này được thiết kế để đưavào dạy học ở trường Tiểu học Chương trình năm 2000 hoàn chỉnh thêm mộtbước, quan điểm tích hợp đã được thể hiện trong chương trình, và các hoạtđộng dạy học ở tiểu học Tuy nhiên khái niệm tích hợp vẫn còn mới lạ vớinhiều giáo viên Trong những năm đầu của thế kỉ XXI, quan điểm tiếp cận tíchhợp, được hiểu là phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trìnhhọc tập riêng rẽ các môn học, phân môn khác nhau theo những hình thức, môhình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng mục tiêu, mục đích và yêu cầu khác nhau
đã ảnh hưởng nhiều hơn tới giáo dục Việt Nam Ý thức được tầm quan trọnghình thức giáo dục tiên tiến này, trong vòng 5 năm trở lại đây, Bộ Giáo dục vàĐào tạo đã đưa quan điểm dạy học tích hợp trở thành trong những nội dungđáng chú trọng thuộc nhiệm vụ trọng tâm của năm học, cũng như cụ thể hóabằng các nội dung giảng dạy trong sách giáo khoa thông qua việc tăng cườngtích hợp các nội dung giáo dục: bảo vệ môi trường; sử dụng năng lượng tiếtkiệm, hiệu quả; quyền và bổn phận của trẻ em; bình đẳng giới; an toàn giaothông, tích hợp dạy học tiếng Việt cho HS dân tộc thiểu số vào tất cả các mônhọc và hoạt động giáo dục,… hoặc các phân môn trong môn Tiếng Việt nhưTập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập
Trang 21làm văn trước đây ít gắn bó với nhau, nay đã có mối quan hệ chặt chẽ về nộidung, kĩ năng, phương pháp dạy học Ngữ liệu dùng để dạy phân môn này cũngđồng thời được sử dụng để dạy phân môn khác, kiến thức và kĩ năng của phầnhọc này được vận dụng để giải quyết nhiệm vụ ở phần học khác và các phânmôn đều nhằm rèn luyện bốn kĩ năng nghe, nói, đọc và viết cần hình thành ở
HS như mục tiêu của môn Tiếng Việt đã đề ra
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu những vấn đề lí luận và thực tiễn về vấn đề nghiêncứu để đề xuất một số biện pháp sư phạm thích hợp nhằm phát triển kĩ năng lập
đề toán lớp 1 bằng tiếng Anh cho giáo viên tiểu học
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và những vấn đề liên quan đến việc phát triển kĩnăng lập đề toán lớp 1 bằng tiếng Anh cho giáo viên tiểu học
- Tìm hiểu thực trạng kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh của giáo viêntiểu học
- Đề xuất một số biện pháp sư phạm để phát triển kĩ năng lập đề toán lớp
1 bằng tiếng Anh cho giáo viên tiểu học và khẳng định được tính khả thi của các biện pháp
- Khảo nghiệm sư phạm để bước đầu xem xét tính đúng đắn của giảthuyết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
5 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực hiện tốt một số biện pháp rèn kĩ năng lập đề toán lớp
1 bằng tiếng Anh cho giáo viên tiểu học thì sẽ giúp GV lập được các đề toánbằng tiếng Anh một cách thuận lợi và hiệu quả Qua đó, góp phần nâng cao chấtlượng dạy học môn Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu, xin ý kiến các chuyên gia để tổng
Trang 22quan về vấn đề cần nghiên cứu.
6.2 Phương pháp thực tiễn
Quan sát, trao đổi, điều tra, phỏng vấn, dự giờ,… giáo viên và HS tiểuhọc để tìm hiểu tìm hiểu và đi đến những nhận định về kĩ năng lập đề toán bằngtiếng Anh của giáo viên tiểu học
6.3 Phương pháp điều tra
Tiến hành điều tra, khảo sát để tìm hiểu thực trạng về kĩ năng lập đề toánbằng tiếng Anh của giáo viên tiểu học hiện nay
6.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lí các số liệu thu thậpđược
6.5 Phương pháp khảo nghiệm sư phạm
Khảo nghiệm sư phạm để xin ý kiến một số GV ở tiểu học về sự hợp lí vàtính khả thi của các biện pháp đã đề ra
7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh của giáoviên tiểu học
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Toán bằng tiếng Anh ởtiểu học
8 Phạm vi nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu và khảo nghiệm tại các trường: Tiểu họcArchimedes Academy, Tiểu học Vinschool - cơ sở Gardenia, Tiểu học ĐoànThị Điểm Ecopark - thành phố Hà Nội
9 Đóng góp của luận văn
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn việc lập đề toán bằng tiếng Anh cho
GV tiểu học
Trang 23- Tìm hiểu thực trạng của lập đề toán bằng tiếng Anh của GV tiểu học, từ
đó vận dụng một số kỹ thuật sáng tác đề toán để phát triển kĩ năng lập đề toánlớp 1 bằng tiếng Anh cho GV
- Tổ chức khảo nghiệm sư phạm để khẳng định tính cần thiết và khả thicủa đề tài trong việc phát triển kĩ năng lập đề toán lớp 1 bằng tiếng Anh cho GVtiểu học
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo thì nội dung luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc phát triển kĩ năng lập đề toán bằng tiếngAnh cho GV tiểu học
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc phát triển kĩ năng lập đề toán bằngtiếng Anh cho GV tiểu học
Chương 3: Một số biện pháp sư phạm phát triển kĩ năng lập đề toán lớp 1bằng tiếng Anh cho GV tiểu học và Khảo nghiệm sư phạm
Trang 24Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG LẬP ĐỀ TOÁN
BẰNG TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
1.1 Một số khái niệm công cụ
1.1.1 Kĩ năng
Kĩ năng là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa, tìm hiểu Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm cho rằng kĩ năng là khảnăng
vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp, ) để giải quyết mộtnhiệm vụ mới
Theo tâm lí học đại cương, kĩ năng được hiểu là “năng lực sử dụng các
dữ liệu, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định” [24].
Trong từ điển Tâm lí học do Vũ Dũng chủ biên kĩ năng được định nghĩa
là “năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được
chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [8]
Theo từ điển Hán - Việt của Phan Văn Các: “Kĩ năng là khả năng vận
dụng tri thức khoa học vào thực tiễn, trong đó khả năng được hiểu là: sức đã
có (về một mặt nào đó) để thực hiện một việc gì” [7]
Theo Polya G: “Trong toán học kĩ năng là khả năng giải các bài toán,
thực hiện các chứng minh cũng như phân tích có phê phán các lời giải và chứng minh nhận được” [12].
Các nhà nghiên cứu như V.A.Knchexi, A.G.Coovaliov, Trần TrọngThủy xem kĩ năng là mặt kĩ thuật, phương thức của hành động Chỉ xem kĩnăng là một yếu tố và không phải là yếu tố quan trọng nhất đưa đến kết quảhành động [30]
Các tác giả như N.Đ.Levitov, X.L.Kixêgov, A.V.Pêtrovxki, quan niệm
kĩ năng là năng lực thực hiện có kết quả một hành động phức tạp dựa trên sựvận dụng tri thức và kĩ xảo, tức là kĩ năng không chỉ nắm vững lí thuyết về cáchthức hành động mà còn bao hàm khả năng vận dụng nó vào thực tế [30]
Trang 25Như vậy có thể hiểu: kĩ năng là năng lực thực hiện một hành động củacon người dựa trên những tri thức về phương thức hành động và kinh nghiệmcũng như năng lực bản thân để đạt được mục đích trong những điều kiện, tìnhhuống hành động nhất định.
1.1.2 Kĩ năng lập đề toán
Có rất nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về kĩ năng lập đề toán
Có thể hiểu: Kĩ năng lập đề toán là khả năng vận dụng các tri thức toán học,những kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy để lập đề toán
Để có thể lập đề toán được tốt, ngoài việc thường xuyên phải tự học đểnâng cao trình độ toán học, trình độ sử dụng tiếng Việt chúng ta cần phải:
- Nghiên cứu và thành thạo chương trình môn Toán ở toàn cấp tiểu học, ởtừng lớp, ở từng chương, ở từng phần, ở từng bài, ở từng mạch nội dung (Sốhọc, Hình học, Đo lường và Giải toán);
- Xác định đúng các yêu cầu của một bài toán;
- Lập được những bài toán tương đối mới dựa trên các bài toán đã có sẵn;
- Lập được đề toán hoàn toàn mới theo các yêu cầu do bản thân mình đặt ra;
- Khái quát hóa được các sự kiện toán học để đề ra những giả thuyết, kiểmđịnh các giả thuyết ấy để rồi lập đề toán và tự giải
1.1.3 Kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh
Trên cơ sở những phân tích đã có về kĩ năng, kĩ năng lập đề toán, chúng
tôi cho rằng “Kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh là khả năng sử dụng ngôn
ngữ tiếng Anh để vận dụng có mục đích tri thức, kinh nghiệm toán học đã có kết hợp với vốn văn hóa ngôn ngữ tiếng Anh vào lập những bài toán cụ thể bằng tiếng Anh”.
1.2 Lập đề toán tiểu học bằng tiếng Anh
1.2.1 Mục đích và ý nghĩa
Tiếng Anh là một ngôn ngữ quốc tế được sử dụng rộng rãi trong rất nhiềulĩnh vực khác nhau trong đó có lĩnh vực giáo dục - đào tạo Chính vì vậy, tiếngAnh là công cụ cho chúng ta tiếp cận với nền giáo dục tiên tiến và khoa học
Trang 26nghệ hiện đại bắt kịp với xu hướng toàn cầu hóa Việt Nam là một đất nướcđang phát triển, hội nhập quốc tế giúp chúng ta nâng cao hiệu quả giáo dục vàđào tạo, trao đổi và áp dụng mô hình giáo dục của một số nước có nền giáo dụcđứng đầu thế giới như Hoa Kỳ, Phần Lan, Anh…
Việc dạy học cho HS tiểu học kĩ năng giải toán bằng tiếng Anh là một hướng
đi đúng đắn, mang tính chiến lược lâu dài, nâng cao chất lượng giáo
dục
Học Toán và các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh đang là xuhướng được các bậc phụ huynh định hướng cho con em mình, ngay từ khi cònhọc tiểu học Tiếng Anh đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng các tháchthức của toàn cầu hóa và sự bùng nổ thông tin nên Bộ Giáo dục muốn cải thiệncũng như nâng cao khả năng thành thạo tiếng Anh ở các cấp học đặc biệt từ cấpnền tảng là cấp tiểu học Và môn Toán nói riêng, các môn khoa học nói chung làcác lĩnh vực kiến thức thay đổi cơ động và nhanh chóng nhất, có những đónggóp ý nghĩa cho sự phát triển của đất nước Mà hầu hết các tiến bộ trong toán vàkhoa học được trình bày trong các tài liệu viết bằng tiếng Anh Việc dạy các nộidung trong các môn khoa học bằng tiếng Anh sẽ thúc đẩy việc lĩnh hội kiếnthức khoa học để phát triển thành một quốc gia mạnh về khoa học vào năm2020
Như vậy cơ sở để dạy học môn Toán nói riêng và các môn hoa học nóichung bằng tiếng Anh bao gồm những phát biểu về các nhu cầu sau đây:
Cải thiện năng lực ngoại ngữ của HS trong việc sử dụng tiếng Anh vìđây là ngôn ngữ quốc tế, là điều kiện để mỗi người lĩnh hội kiến thức và giaotiếp trong bối cảnh toàn cầu hóa
Ngăn chặn sự xuống dốc về thông thạo ngoại ngữ tiếng Anh ở HS trongtất cả các cấp học
Trang bị cho thế hệ tương lai một ngoại ngữ mà nó sẽ giúp họ tiếp cậncái tiến bộ và phát triển mới trong khoa học và công nghệ để đáp ứng nhữngthách thức của toàn cầu hóa
Trang 27 Giải quyết những nhiệm vụ khó khăn gặp phải khi dịch những pháttriển công nghệ mới sang tiếng Việt.
Trang 28Việc thực thi chính sách dạy toán và khoa học bằng tiếng Anh tạo chogiáo viên dạy toán và các môn khoa học có một sự thay đổi đầy trách nhiệmnhằm đảm bảo cho HS có đủ năng lực hoạt động trong các lĩnh vực hoạt độngmôn học này bằng tiếng Anh Vai trò của giáo viên trong việc quyết định sựphát triển các chính sách mà họ có thể thực hiện và sự tiến triển của các đổi mớigiáo dục cốt yếu dựa vào các cách thức phát triển năng lực ngoại ngữ của giáoviên Việc dạy học môn Toán cho người học ngoại ngữ tiếng Anh không chỉnằm ở việc tạo ra các bài học hiểu được đối với HS mà còn phải đảm bảo HS sửdụng ngoại ngữ mình có để hiểu sự chỉ dẫn và biểu thị việc nắm khái niệm toánhọc bằng cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Người học ngoại ngữ tiếng Anh cónhiệm vụ kép là học đồng thời một ngôn ngữ thứ hai và nội dung môn học.
Lập đề toán tiểu học bằng tiếng Anh không những giúp HS dần tích lũyđược những thuật ngữ đơn giản của môn học, làm quen và đọc được tài liệu.Bên cạnh đó, những thuật ngữ đó sẽ kết nối thành những bài toán nhỏ, đơn giản
là phép tính và những sự vật, hiện tượng trong quá trình học mà còn nâng cao
kĩ năng vốn từ vựng tiếng Anh cho giáo viên
1.2.2 Phân loại các bài toán ở tiểu học
Có nhiều cách phân loại bài toán ở tiểu học Có thể kể đến những cáchphân loại thông dụng sau:
Dạng 1: Bài toán có lời văn và bài toán thực hiện phép tính
- Bài toán có lời văn: A notebook label is a rectangle with the length of
8cm and the width of 5cm Calculate the area of the notebook label.
- Bài toán thực hiện phép tính: Fill in the table as appropriate (as shown)
Chiều dài
Length
Chiều rộngWidth
Diện tích hình chữ nhậtArea of rectangle
Chu vi hình chữ nhậtPerimeter of rectangle15cm 9cm 15 × 9 = 135 (cm²) (15 + 9) × 2 = 48 (cm)
Trang 29Trong 2 ví dụ trên ta thấy ví dụ 1 là bài toán có lời văn còn ví dụ 2 là bàitoán thực hiện phép tính trong bảng chỉ cần áp dụng qui tắc tính chu vi và diệntích hình chữ nhật.
Dạng 2: Bài toán đơn và bài toán hợp
- Bài toán đơn là bài toán khi giải chỉ có một phép tính.Việc rèn luyện cho
HS giải thành thạo các bài toán đơn là cơ sở để giải các bài toán hợp
Ví dụ: In the morning, a store sold 635l of petrol In the afternoon, it sold
128l of petrol less than it did in the morning How many litres of petrol did it sell in the afternoon?
Trong bài toán trên yêu cầu tìm số lít xăng buổi chiều bán được, biết số
lít xăng buổi chiều bán được ít hơn số lít xăng buổi sáng bán được là 128l dựa
vào từ khóa “less than” (ít hơn) Như vậy để giải bài toán trên chỉ cần dùng một
phép tính duy nhất đó là: 635 - 128 = 507 (l) Vì thế đây là bài toán đơn.
- Bài toán hợp là bài toán khi giải có từ hai phép tính trở nên và giới hạnnhiều nhất là bốn phép tính (lớp 4, 5), với các dạng toán điển hình cơ bản sau:tìm hai số khi biết tổng và hiệu; tìm hai số khi biết hiệu và tỷ số; tìm hai số khibiết tổng và tỷ số; toán về tính tuổi, toán chuyển động; các bài toán tính chu vi,diện tích, thể tích các hình đã học
Ví dụ: A factory produces 680 televisions in 4 days If the number of
televisions is equally produced each day, how many televisions does the factory produce in 7 days?
Bài toán trên yêu cầu tính số ti vi mà nhà máy sản xuất trong 7 ngày biếttrong 4 ngày nhà máy đó sản xuất được 680 chiếc ti vi
Để giải được bài toán trên ta cần thực hiện qua hai phép tính đó là:
+ Phép tính 1: 680: 4 = 170 (chiếc)
+ Phép tính 2: 170 × 7 = 1190 (chiếc)
Như vậy bài toán trên là bài toán hợp của hai bài toán đó là:
+ Bài toán 1: A factory produces 680 televisions in 4 days How many
televisions does the factory produce in 1 day? Thực hiện phép tính: 680: 4 =
170 (televisions)
Trang 30+ Bài toán 2: A factory produces 170 televisions in 1 day How many
televisions does the factory produces in 7 days? Thực hiện phép tính: 170 × 7 =
1190 (televisions)
Và trong thực tế giáo viên có thể tách bài toán thành hai bài toán như trênnếu HS không suy nghĩ được cách giải
Dạng 3: Bài toán điển hình và bài toán không điển hình
- Bài toán điển hình: Là bài toán mà lời giải đã có mẫu cho trước, cứ ápdụng mẫu là có bài giải
Ví dụ: To travel a distance of 23,1km, a person cycles at a speed of
13,2km/h Find the time it takes him to travel.
Trong bài toán trên ta thấy muốn tính thời gian người đó đi chỉ cần ápdụng qui tắc: thời gian chuyển động bằng quãng đường đi được chia cho vậntốc
Thời gian người đó đi là: 23,1: 13.2 = 1,75 (giờ)
- Bài toán không điển hình: Là những bài toán mà bài giải chưa có mẫucho trước để giải được những bài toán này, HS phải suy nghĩ một cách tích cực,phải tư duy linh hoạt và sáng tạo
Ví dụ: A rectangular field has the length of 234m and the width is 1 of
3
the length Find the perimeter of that field.
Trong bài toán trên ta không thể áp dụng qui tắc tính chu vi hình chữ nhậtngay vì chưa biết chiều rộng của hình chữ nhật, do đó trước hết ta phải đi tìmchiều rộng của hình chữ nhật GV có thể tách bài toán trên thành hai bài toánđiển hình như sau:
+ Bài toán 1: A rectangular field has the length of 234m and the width is
Trang 31+ Bài toán 2: A rectangular field has the length of 234m and the width of
78m Find the perimeter of that field HS sẽ thực hiện phép tính: (234 + 78) × 2
= 624 (m)
Như vậy, trong dạy học giải toán ở tiểu học, ta có thể tách một bài toánhợp thành các bài toán đơn, một bài toán không điển hình thành các bài toánđiển hình để gợi mở, hướng dẫn HS Ngược lại để rèn tư duy phân tích, tổnghợp, GV có thể tạo ra một bài toán hợp từ các bài toán đơn, một bài toán khôngđiển hình thành các bài toán điển hình khi mà HS đã giải thành thạo các dạngtoán đó
Dạng 4: Bài toán ngược của bài toán đã cho
Người ta quan niệm, khi giải một bài toán nếu ta thay một trong những
dữ kiện của đề bài bằng đáp số của bài toán rồi đặt câu hỏi cho dữ kiện ấy thì tađược bài toán ngược của bài toán ban đầu
Ví dụ: - Bài toán thuận: A square has the perimeter of 24cm Find the
area of the square.
Ở bài toán thuận đưa ra chu vi một hình vuông là 24cm, yêu cầu tính diệntích hình vuông đó
- Bài toán ngược: A square has the area of 36cm² Find the perimeter of
the square.
Ở bài toán ngược đưa ra diện tích của một hình vuông là 36cm², yêu cầutính chu vi hình vuông đó
1.2.3 Những lưu ý khi lập đề toán bằng tiếng Anh
1.2.3.1 Về cấu trúc của một đề toán
Cấu trúc của một bài toán là hệ thống những quan hệ trong bài toán đó.Nói cách khác đó là hệ thống các điều kiện ở trong bài toán Khi xem xét cấutrúc bài toán ta chỉ lưu tâm đến sự tồn tại của dữ kiện chứ không để ý giá trị cụthể của dữ kiện
Trang 32Có hai cách thường dùng để mô tả cấu trúc bài toán là "sử dụng biểu thứcchữ để ghi lại cách tìm ẩn số thông qua giá trị của các dữ kiện" hoặc "sử dụngcông thức chữ để ghi lại mối quan hệ giữa các ẩn số và dữ kiện".
1.2.3.2 Yêu cầu khi soạn các đề toán
- Giáo viên cần có hiểu biết vững chắc về chương trình môn Toán tiểu học
- Xác định đúng yêu cầu của một bài toán
- Phát triển thành các bài toán tương đối mới dựa trên bài toán đã có sẵn
- Có khả năng khái quát hóa các sự kiện toán học
- Thành thạo về thuật ngữ toán học, sử dụng chính xác, dễ hiểu nhất có thể.Đặc biệt việc lập đề toán bằng tiếng Anh phải được tiến hành từ dễ đếnkhó, từ đơn giản đến phức tạp Để dần dần nâng cao kĩ năng ra đề cũng nhưthuật ngữ tiếng Anh về lĩnh vực toán học
1.2.3.3.Yêu cầu của một bài toán
- Bài toán phải có nội dung phải đáp ứng được mục đích yêu cầu của bài dạy
- Bài toán phải phù hợp với trình độ của HS
Một bài toán bất kì đưa ra cho HS giải bằng tiếng Việt hay tiếng Anh đềuphải phù hợp với chương trình Bên cạnh việc nắm vững nội dung từng mạchkiến thức, kĩ năng của lớp mình được phân công dạy thì giáo viên cần nắmvững trình độ nhận thức của HS lớp mình để đưa ra đề toán phù hợp với trình
độ của các em, không quá khó hoặc không quá dễ
- Bài toán phải đầy đủ dữ kiện, không thừa hoặc không thiếu dữ kiện.Nghĩa là những cái đã cho là vừa đủ để tìm ra đáp số của bài toán mà nếu
bỏ bớt đi một trong những cái đã cho thì sẽ không tìm ra được đáp số xác địnhcủa bài toán Khi sáng tác một bài toán thì dữ kiện đưa ra phải đủ chứ không thểthiếu hoặc thừa dữ kiện, dẫn đến tình trạng một bài toán có nhiều đáp án khácnhau
- Câu hỏi hoặc yêu cầu của bài toán phải rõ ràng và đủ ý nghĩa
Với cùng một dữ liệu nhưng có nhiều cách đặt câu hỏi khác nhau Tuynhiên, khi lựa chọn câu hỏi ta phải chọn câu hỏi ngắn gọn, đủ ý nghĩa, dự kiến
Trang 33được phép tính để giải Bởi trong nhiều trường hợp hiểu rõ nội dung câu hỏi củabài toán cũng là điều kiện để các em xác định đúng phép tính và giải đúng bàitoán.
- Số liệu của bài toán phải phù hợp với thực tiễn và có tính sư phạm
Giải đề toán bằng tiếng Anh sẽ giúp HS vận dụng những khả năng tínhtoán và vốn từ vựng tiếng Anh vào trong thực tiễn cuộc sống Chính vì vậy, đềtoán cần giúp HS thấy được mối quan hệ giữa toán học và thực tiễn, phải đảmbảo được tính phù hợp với thực tiễn, đồng thời, thể hiện được tính sư phạm,tính giáo dục thông qua bài toán đó Ngôn ngữ của bài toán phải gần gũi vớithực tế cuộc sống của HS Ví dụ những bài toán hỏi về số lượng của thùng đựngdâu tây (boxes contain strawberry), về những quả chuối (bananas)…
- Ngôn ngữ của bài toán phải ngắn gọn, mạch lạc, trong sáng và dễ hiểu.Bất kì một bài toán nào cũng cần được trình bày ngắn gọn, tránh tình trạng
sử dụng câu từ dài dòng như văn viết Bên cạnh đó, phải đảm bảo tính mạch lạc,trong sáng, diễn đạt câu hỏi rõ ràng để không hiểu lầm, khó đi vào trọng tâm đểlựa chọn phép tính đúng khi giải toán
1.2.4 Các bước lập đề toán bằng tiếng Anh
Theo kinh nghiệm của bản thân cũng như sưu tầm các đề toán bằng tiếngAnh của các thầy cô tiểu học, chúng tôi cho rằng để lập một đề toán bằng tiếngAnh GV cần thực hiện các bước như sau:
+ Bước 1: Tìm đọc nội dung bài toán tương tự bằng tiếng Anh rồi lọc racác thuật ngữ chính, các cấu trúc câu chính của đề
+ Bước 2: Phân tích rõ mục tiêu bài toán: mục tiêu kiến thức toán học, tiếng
Anh và các kĩ năng, thái độ
+ Bước 3: Tìm trọng tâm bài toán và xác định cấu trúc của bài toán
Giáo viên cần chuẩn bị từ vựng về thuật ngữ toán học và xác định cấu trúc dạngbài rồi lựa chọn cách ra đề phù hợp với từng đối tượng HS
+ Bước 4: Thiết kế đề toán bằng tiếng Anh
Trang 34Thiết kế những đề toán liên quan đến chủ đề, các dạng toán củng cố kiếnthức cũng như các dạng toán chiếm lĩnh tri thức.
- Các bước lập đề toán bằng tiếng Anh nói trên có thể được trình bày bởi
sơ đồ dưới đây:
Trang 35Bước 1: Tìm đọc nội dung
bài toán tương tự bằng tiếng
Anh
Xác định thuật ngữ chínhTìm hiểu các cấu trúc câu
Bước 2: Phân tích mục tiêu
bài toán
Mục tiêu kiến thứcMục tiêu kĩ năngMục tiêu thái độ
Đề toán có lời văn
Hình 1.1 Các bước lập đề toán bằng tiếng Anh 1.3 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học
Lứa tuổi HS tiểu học là lứa tuổi từ 6 đến 11 tuổi Đây là lứa tuổi các emtrở thành một hoc sinh ở trường phổ thông chứ không còn là một em bé mẫugiáo “học mà chơi, chơi mà học” nữa Đó là một sự biến chuyển lớn rất quantrọng của lứa tuổi này
Trang 36Đây là giai đoạn HS bắt đầu tham gia vào hoạt động mang tính xã hộihóa mạnh mẽ để tiếp nhận hệ thống tri thức khoa học của loài người Lứa tuổinày diễn ra một sự phát triển toàn diện về các quá trình nhận thức như sau:
- Tri giác của các em đã được phát triển hơn hẳn.Trẻ có khả năng địnhhướng tốt với các hình dạng và màu sắc khác nhau Song sự tri giác ấy mới chỉdừng lại ở mức nhận biết và gọi tên hình dạng và màu sắc Trẻ chưa biết phântách một cách có hệ thống bản thân các thuộc tính và phẩm chất của các đốitượng được tri giác Sau quá trình học tập tại trường phổ thông khả năng phântích và phân biệt các đối tượng đã được tri giác được phát triển mạnh mẽ vàhình thành một dạng hoạt động mới là quan sát
- Trí nhớ của các em đang phát triển mạnh Ban đầu trẻ áp dụng phươngpháp ghi nhớ đơn giản nhất là nhắc đi nhắc lại nhiều lần để ghi nhớ nguyên văntài liệu Sau đó, các em được dạy ghi nhớ có chủ định một cách lâu dài Ghi nhớmáy móc dần dần tiến tới ghi nhớ có ý nghĩa dựa trên mối quan hệ lôgic của nộidung
- Trí tưởng tượng của các em phát triển mạnh hơn và phong phú hơn Sovới giai đoạn đầu khả năng tưởng tượng của trẻ khá nghèo nàn thì đến giai đoạnthứ hai, khi trẻ học lớp 2 lớp 3 thì khả năng tưởng tượng của trẻ tăng lên rõ rệt.Trẻ có khả năng tạo những hình ảnh mà không cần có sự cụ thể hóa đặc biệtnhờ vào trí tưởng tượng hoặc những sơ đồ
- Tư duy của các em phát triển rất nhanh Giai đoạn đầu cấp tiểu, học tưduy của các em giống với tư duy của trẻ mẫu giáo Sư phân tích tài liệu của lứatuổi này chủ yếu diễn ra trong bình diện hành động trực quan Nghĩa là trẻ chỉ
có khả năng tư duy khi các đối tượng tác động trực tiếp đến trẻ Khả năng kháiquát hóa của trẻ giai đoạn này chủ yếu dựa trên những dấu hiệu sặc sỡ của đốitượng Giai đoạn cuối cấp tiểu học, tư duy của các em chuyển dần từ tính cụ thểsang tư duy trừu tượng khái quát Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợpkiến thức còn sơ đẳng ở phần đông HS tiểu học
- Năng lực trừu tượng hóa và khái quát hóa đang phát triển mạnh Khảnăng khái quát hóa, trừu tượng hóa phát triển dần theo lứa tuổi, đặc biệt HS lớp4,5 các em bắt đầu biết khái quát hóa
Trang 37- Ngôn ngữ của các em có sự phát triển rõ rệt Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầuxuất hiện ngôn ngữ viết đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầuhoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển
mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thực thế giới xung quanh và tự khámphá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau Ngôn ngữ có vai trò hếtsức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ
- Căn cứ vào đặc điểm nhận thức, sự phát triển tâm sinh lý của HS tiểuhọc mà cấu trúc nội dung môn toán có sự phù hợp với từng giai đoạn phát triểncủa
HS:
+ Giai đoạn đầu cấp (lớp 1, 2, 3)
HS bắt đầu tự chuyển hoạt động chủ đạo là hoạt động chơi mà học Do
đó, học tập trong giai đoạn này là “ học mà chơi, chơi mà học” học trong hoạtđộng và bằng hoạt động, nên việc tổ chức hoạt động trò chơi trong một giờ họctoán ở giai đoạn này là hết sức cần thiết GV cần phải đưa HS vào các tìnhhuống hoạt động trong một giờ học toán tức là mọi HS đều phải được hoạtđộng (bằng tư duy, ngôn ngữ, hành vi)
Nhận thức của HS giai đoạn này chủ yếu là nhận thức cảm tính dựa vàocác đồ vật gắn liền với đời sống hằng ngày của HS Vì vậy, dạy học giai đoạnnày nhất thiết phải sử dụng các yếu tố trực quan
+ Giai đoạn cuối cấp (lớp 4, 5)
Nhận thức của HS ở giai đoạn này bắt đầu chuyển sang nhận thức lýtính trên cơ sở quan sát, phân tích, so sánh các sự vật và hiện tượng trong họctập và trong đời sống Vì vậy, khi dạy học ở giai đoạn này cần giảm dần về thờigian sử dụng và mức độ trực quan của yếu tố trực quan
Ngoài ra, việc tổ chức các hoạt động trò chơi trong một giờ học toán giaiđoạn này là không bắt buộc, tuy nhiên nên khuyến khích việc tổ chức các hoạtđộng trò chơi mang tính trí tuệ, trò chơi xử lý tình huống trong học tập và trongcuộc sống
Trang 38Kết luận chương 1
Trong quá trình dạy học môn Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học, kĩ năng lập
đề toán có vai trò quan trọng trong việc tạo ra hệ thống các bài toán phong phú,đáp ứng mục tiêu dạy học đề ra Việc phát triển kĩ năng lập đề toán bằng tiếngAnh cho GV tiểu học tạo điều kiện cho GV nâng cao được năng lực sư phạm, tựtạo ra được những tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy phù hợp với tình hìnhthực tế Từ đó, giúp HS phát triển được kiến thức, kĩ năng cũng như thái độ họctập môn Toán
Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày một số khái niệm công cụ về kĩnăng và kĩ năng lập đề toán; phân tích được mục đích và ý nghĩa của việc lập đềtoán ở tiểu học, đề xuất được quy trình cũng như những yêu cầu khi lập đề toánbằng tiếng Anh Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tìm hiểu về đăc điểm nhận thứccủa HS tiểu học Qua đó khẳng định ý nghĩa của kĩ năng lập đề toán bằng tiếngAnh của GV tiểu học Để tìm hiểu rõ về thực trạng phát triển kĩ năng lập đềtoán bằng tiếng Anh của GV tiểu học hiện nay, chúng tôi tiến hành tìm hiểuthực trạng của GV một số trường tiểu học Nội dung này được trình bày trongchương 2 của luận văn
Trang 39Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG LẬP ĐỀ TOÁN BẰNG TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
2.1 Dạy học môn Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học
2.1.1 Mục tiêu dạy học môn Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học
2.1.1.1 Mục tiêu dạy học môn Toán
Mục tiêu dạy học môn Toán tiểu học nhằm giúp học sinh:
- Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số,
số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơngiản
- Hình thành các kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiềuứng dụng thiết thực trong đời sống
- Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp
lí và diễn đạt chúng (nói và viết) cách phát hiện và cách giải quyết những vấn
đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thúhọc tập toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có
kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo
Ngoài ra, môn Toán góp phần hình thành và rèn luyện phẩm chất các đạođức của người lao động trong xã hội hiện đại
2.1.1.2 Mục tiêu dạy học môn tiếng Anh tiểu học
Ngày nay xu hướng hội nhập quốc tế trong nhiều lĩnh vực kể cả lĩnh vựcgiáo dục đã đưa tiếng Anh lên một vị trí hết sức quan trọng Tiếng Anh là công
cụ giao tiếp là chìa khóa dẫn đến kho tàng nhân loại Mặt khác việc ứng dụngrộng rãi công nghệ thông tin đã làm cho việc học tiếng Anh trở thành cấp bách
và không thể thiếu Vì vậy việc học tiếng Anh của HS các cấp nói chung, cấpTiểu học nói riêng được HS, phụ huynh HS, GV hết sức quan tâm Tiếng Anh
đã trở thành môn học chính yếu trong chương trình học của HS
Việc học và sử dụng tiếng Anh đòi hỏi cả một quá trình luyện tập cần cùsáng tạo của cả người học lẫn người dạy Đặc biệt trong tình hình cải cách giáo
Trang 40dục như hiện nay, dạy tiếng Anh theo hướng giao tiếp được nhiều người ủng
hộ Theo phương pháp này HS có nhiều cơ hội để giao tiếp với bạn bè, với GV
để rèn luyện ngôn ngữ, chủ động tích cực tham gia vào các tình huống thực tế:Học đi đôi với hành
Dạy và học tiếng Anh ở tiểu học được xem là nền tảng quan trọng gópphần hình thành cho HS những kĩ năng giao tiếp cơ bản, giúp các em có thêmnhiều kiến thức, hiểu biết, áp dụng khi lên các cấp học cao hơn Yêu cầu cần đạtđặt ra với HS tiểu học về năng lực sử dụng ngoại ngữ là đạt bậc 1 (khung nănglực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam)
2.1.1.3 Mục tiêu dạy học môn Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học
Việc dạy và học song ngữ được xem là cơ hội giúp HS thực hành ngoạingữ Đây là mô hình mới, đáp ứng nhu cầu hội nhập cho HS khi môi trường họctập ngày càng rộng mở
Mục đích của việc dạy toán bằng tiếng Anh nhằm nâng cao chất lượngnhân lực để đẩy mạnh tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế, đồng thời giúp
GV và HS tăng cường năng lực ngoại ngữ, có khả năng tiếp cận và khai thácnguồn tài liệu khoa học và chuyên môn bằng tiếng Anh phục vụ cho việcnghiên cứu, học tập và các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, từ đó tăng thêm
cơ hội việc làm và phát triển sự nghiệp cho người học
Trên thực tế, việc định hướng cho HS học Toán bằng tiếng Anh ngay từcấp tiểu học không chỉ giúp trẻ có một tư duy Toán học mạch lạc, tiếp thu ngônngữ tiếng Anh một cách chủ động, mà còn giúp các em thấy Toán học và tiếngAnh trở nên thu hút hơn
Không những thế, HS còn có thêm cơ hội để tham gia các kỳ thi Toánhọc trong nước và quốc tế Đây chính là chiếc “chìa khóa” giúp các em mở cáccánh cửa đầy triển vọng trong tương lai
2.1.2 Nội dung dạy học Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học
Hiện nay chưa có một quyết định chính thống nào quy định về chươngtrình học toán bằng tiếng Anh ở cấp tiểu học Tuy nhiên, ở một số trường tiểu