Hoàn thiện công tác kế toán quản trị tại công ty cổ phần xây dựng số 5 Hà NộiHoàn thiện công tác kế toán quản trị tại công ty cổ phần xây dựng số 5 Hà NộiHoàn thiện công tác kế toán quản trị tại công ty cổ phần xây dựng số 5 Hà NộiHoàn thiện công tác kế toán quản trị tại công ty cổ phần xây dựng số 5 Hà NộiHoàn thiện công tác kế toán quản trị tại công ty cổ phần xây dựng số 5 Hà NộiHoàn thiện công tác kế toán quản trị tại công ty cổ phần xây dựng số 5 Hà NộiHoàn thiện công tác kế toán quản trị tại công ty cổ phần xây dựng số 5 Hà NộiHoàn thiện công tác kế toán quản trị tại công ty cổ phần xây dựng số 5 Hà NộiHoàn thiện công tác kế toán quản trị tại công ty cổ phần xây dựng số 5 Hà NộiHoàn thiện công tác kế toán quản trị tại công ty cổ phần xây dựng số 5 Hà NộiHoàn thiện công tác kế toán quản trị tại công ty cổ phần xây dựng số 5 Hà NộiHoàn thiện công tác kế toán quản trị tại công ty cổ phần xây dựng số 5 Hà Nội
Trang 1Nguyễn Thu Thủy
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 5 HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
(Theo định hướng ứng dụng)
HÀ NỘI - 2019
Trang 2Nguyễn Thu Thủy
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 5 HÀ NỘI
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn “Hoàn thiện công tác Kế toán quản trị tại Công ty cổ
phần xây dựng số 5 Hà Nội” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thu Thủy
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP 5
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển kế toán quản trị 5
1.2 Khái niệm, mục tiêu, nhiệm vụ của kế toán quản trị 6
1.2.1 Khái niệm KTQT 6
1.2.2 Mục tiêu của KTQT 8
1.2.3 Nhiệm vụ của KTQT 9
1.3 Phân biệt kế toán quản trị và kế toán tài chính 10
1.3.1 Sự giống nhau 10
1.3.2 Sự khác nhau 11
1.4 Vai trò của KTQT trong việc thực hiện chức năng quản lý doanh nghiệp 12 1.5 Đối tượng, phương pháp của KTQT trong doanh nghiệp 14
1.5.1 Đối tượng của KTQT trong doanh nghiệp 14
1.5.2 Phương pháp để tiến hành KTQT 16
1.6 Đặc điểm của một hệ thống KTQT tốt 18
1.7 Tổ chức công tác KTQT ở các doanh nghiệp SXKD 21
1.7.1 Yêu cầu tổ chức công tác KTQT DN 21
1.7.2 Nguyên tắc 21
1.7.3 Nội dung tổ chức KTQT trong DN 22
1.7.3.1 Tổ chức hệ thống TK KTQT 22
1.7.3.2 Tổ chức hệ thống sổ KTQT 23
1.7.3.3 Tổ chức hệ thống báo cáo KTQT 23
1.8 Nội dung kế toán quản trị 24
1.8.1 Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm 24
1.8.1.1 Kế toán quản trị chi phí 24
Trang 51.8.1.2 Kế toán quản trị giá thành sản phẩm 25
1.8.2 Kế toán quản trị bán hàng và kết quả kinh doanh 26
1.8.2.1 Định giá bán sản phẩm 26
1.8.2.2 Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận 27
1.8.2.3 Lựa chọn thông tin thích hợp 27
1.8.3 Kế toán quản trị một số khoán mục khác 29
1.8.3.1 Kế toán quản trị TSCĐ 29
1.8.3.2 Kế toán quản trị hàng tồn kho 30
1.8.3.3 Kế toán quản trị lao động và tiền lương 30
1.8.3.4 Kế toán quản trị các khoản nợ 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỒNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CTCP XÂY DỰNG SỐ 5 HÀ NỘI 32
2.1 Giới thiệu chung về CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội 32
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển CTCP xây dựng số 5 Hà Nội 32
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý của Công ty cổ phần xây dựng số 5 Hà Nội 33
2.1.3 Đặc điểm kinh doanh và tổ chức sản xuất kinh doanh của CTCP Xây dựng số 5- Hà Nội 35
2.1.4 Kết quả hoạt động SXKD giai đoạn 2015-2017 37
2.2 Thực trạng công tác KTQT DN tại CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội 39
2.2.1 Tổ chức bộ máy KTQT của CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội 39
2.2.2 Hình thức kế toán 41
2.2.3 Tổ chức hạch toán kế toán và hệ thống báo cáo KTQT 41
2.2.3.1 Chứng từ kế toán 41
2.2.3.2.Tài khoản kế toán 42
2.2.3.3 Sổ kế toán 43
2.2.3.4 Báo cáo kế toán quản trị 43
2.2.4 Thực trạng KTQT tại Công ty cổ phần xây dựng số 5 Hà Nội 43
2.2.4.1 Phân loại chi phí 43
2.2.4.2 Kế toán quản trị chi phí 45
2.2.4.3 Kế toán quản trị giá thành sản phẩm 47
2.2.4.4 Kế toán quản trị bán hàng và kết quả kinh doanh 48
2.2.4.5 Kế toán quản trị TSCĐ 54
Trang 62.3 Nhận xét, đánh giá về công tác KTQT tại CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội 54
2.3.1 Ưu điểm 54
2.3.2 Một số tồn tại 56
2.3.3 Nguyên nhân cơ bản của những tồn tại 57
2.3.3.1 Nguyên nhân khách quan 57
2.3.3.2 Nguyên nhân chủ quan 58
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KTQT TẠI CTCP XÂY DỰNG SỐ 5 HÀ NỘI 59
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác KTQT tại CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội 59
3.2 Phương hướng hoàn thiện công tác KTQT tại CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội 60
3.2.1 Yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện công tác KTQT 60
3.2.2 Phương hướng cụ thể để hoàn thiện Công tác KTQT 63
3.3 Giải pháp hoàn thiện công tác KTQT tại CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội 65
3.3.1 Một số giải pháp cụ thể 65
3.3.1.1 Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán 66
3.3.1.2 Hoàn thiện hệ thống chứng từ kế toán 68
3.3.1.3 Hoàn thiện hệ thống tài khoản, sổ kế toán 69
3.3.1.4 Hoàn thiện KTQT tập hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 71
3.3.1.5 Hoàn thiện KTQT hàng tồn kho 74
3.3.2 Điều kiện để thực hiện giải pháp 75
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 01 80
PHỤ LỤC 02 85
PHỤ LỤC 03 86
PHỤ LỤC 04 87
PHỤ LỤC 05 88
PHỤ LỤC 06 89
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
DN Doanh nghiệp
CTCP Công ty cổ phần
SXKD Sản xuất kinh doanh
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
GTGT Giá trị gia tăng
NVLTT Nguyên vật liệu trực tiếp
NCTT Nhân công trực tiếp
BCTC Báo cáo tài chính
TCQTHC Tổ chức quản trị hành chính
TCKT Tài chính kế toán
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu hoạt động SXKD từ năm 2015 đến 2017 38
Bảng: 3.1: Phân loại chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp theo mối quan hệ với mức độ hoạt động 73
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Các chức năng cơ bản của quản lý 12
Sơ đồ 1.2: Mạng lưới phân tích các luồng chi phí 15
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy Công ty Cổ phần xây dựng số 5 33
Sơ đồ 2.2: Tổ chức bộ máy kế toán 39
Sơ đồ 2.3: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung 41
Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy kế toán 67
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình hội nhập và xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có hệ thống thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác phục vụ cho việc điều hành, quản lý và ra quyết định sản xuất kinh doanh Kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế tài chính của một đơn vị, một tổ chức ngày càng giữ vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế của các đơn vị và có ý nghĩa quan trọng cho mọi đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin tùy theo mục đích khác nhau
Xuất phát từ yêu cầu và tính chất của thông tin cung cấp, thông tin kế toán được chia thành thông tin kế toán tài chính và thông tin kế toán quản trị Thông tin kế toán tài chính chủ yếu cung cấp cho các đối tượng bên ngoài đơn vị sử dụng để ra các quyết định hữu ích tùy từng đối tượng, còn thông tin kế toán quản trị cung cấp cho các nhà quản trị nội bộ đơn vị để ra quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh
Kế toán quản trị mới được phát triển trong giai đoạn gần đây nhưng đã thực sự trở thành một công cụ khoa học giúp nhà quản trị trong công tác quản lý, điều hành mọi hoạt động kinh doanh của đơn vị
Hơn nữa, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh việc quản lý tốt chi phí luôn được doanh nghiệp quan tâm và đặt lên hàng đầu Kiểm soát và quản lý tốt chi phí là cơ sở để nhà quản trị đưa ra các quyết định kinh doanh hợp lý, hiệu quả nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Chính vì vậy, việc hoàn thiện kế toán quản trị là rất cần thiết đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn đứng vững trên thương trường
Việc triển khai và ứng dụng kế toán quản trị vào công tác quản trị tại CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội chưa được quan tâm đúng mức Do đó, việc hoàn thiện kế toán quản trị tại Công ty là cần thiết, điều đó sẽ hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý, điều hành của Công ty nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng cường khả năng hội nhập
và cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác kế toán quản trị cả
Trang 10trên phương diện lý luận và thực tiễn, nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác Kế
toán quản trị tại Công ty cổ phần xây dựng số 5 Hà Nội” nhằm góp phần vào việc
nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý của Công ty
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Kế toán quản trị thực sự là công cụ khoa học giúp nhà quản trị thực hiện tốt các chức năng hoạt động Chất lượng và hiệu quả của thông tin kế toán quản trị ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và hiệu quả quản lý, điều hành tổ chức Hiện nay kế toán quản trị ngày càng có vai trò quan trọng trong công tác quản trị, điều hành tổ chức, doanh nghiệp, đặc biệt là các tổ chức, doanh nghiệp có qui mô lớn, hoạt dộng đa lĩnh vực, đa ngành.Qua quá trình tìm hiểu thực tế các tài liệu liên quan, tác giả đã tìm thấy một số kết quả nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp, cụ thể như sau:
Vấn đề kế toán quản trị, trong đó có kế toán quản trị chi phí đã được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, rất quan tâm nghiên cứu Liên quan đến vấn đề này ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ kinh tế đề cập và giải quyết Có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu sau:
- “Chế độ kế toán doanh nghiệp - Quyển 1 & 2” của Bộ tài chính (2015),Nhà
xuất bản tài chính, Hà Nội Quyển sách đề cập đến tài khoản kế toán, sổ kế toán, chứng từ kế toán, báo cáo tài chính của doanh nghiệp,…
- “Kế toán quản trị” của TS Đoàn Ngọc Quế, nhà xuất bản Kinh tế thành phố
Hồ Chí Minh (2016) Quyển sách đã đề cập đến chi phí, phân loại chi phí, phân bổ chi phí, phân tích biến động chi phí…
- Giáo trình “Kế toán quản trị doanh nghiệp” của PGS.TS Đoàn Xuân Tiên
(2009) Nhà xuất bản Tài chính Giáo trình đề cập đến phân loại chi phí, phương pháp tập hợp chi phí, kế toán tập hợp chi phí…
- “Kế toán quản trị” của TS Huỳnh Lợi (2015) Nhà xuất bản Phương Đông
Quyển sách đề cập đến nội dung kế toán chi phí, mô hình kế toán chi phí, hệ thống kế toán chi phí…
- Giáo trình “Kế toán quản trị” của PGS.TS Vương Đình Huệ và TS Đoàn
Trang 11Xuân Tiến (2002) Nhà xuất bản tài chính Quyển sách đề cập đến nội dung kế toán quản trị chi phí, phân loại và tính giá thành chi phí…
- Bài giảng “ Kế toán quản trị” của GS.TS Bùi Xuân Phong và ThS Vũ Quang
Kết (2015), Học viện Bưu chính viễn thông Giáo trình đề cập đến phân loại chi phí, tính giá thành chi phí, phân tích biến động chi phí,…
Về luận văn cao học đề cập đến kế toán quản trị chi phí:
- Phạm Thị Phương Loan (2016), Luận văn thạc sỹ: “Quản trị chi phí tính giá
thành công trình tại Công ty Cổ phần xây lắp bưu điện Hà Nội (Hacisco)”.Học viện
Công nghệ bưu chính viễn thông
- Trần Thị Lan Phương (2009), Luận văn thạc sỹ: “Nghiên cứu công tác kế
toán tập hợp chi phí và tính giá thành dịch vụ viễn thông tại Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam”.Học viện Công nghệ bưu chính viễn thông
- Nguyễn Thị Kim Cường (2010), Luận văn thạc sỹ: “Hoàn thiện kế toán quản
trị chi phí tại Công ty Cổ phần Vinaconex 25”.Đại học Đà Nẵng
- Lê Việt Hùng (2010), Luận văn thạc sỹ: “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí
tại Công ty Cổ phần Xây dựng giao thông I Thái Nguyên”.Đại học Kinh tế quốc dân
Các công trình này đã đề cập đến cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí một cách chung nhất; đánh giá thực trạng kế toán chi phí tác động đến doanh nghiệp, đánh giá được những mặt đã đạt được, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế của công tác kế toán tại doanh nghiệp Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện đến công tác Kế toán quản trị chi phí tại CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội
Do đó, đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán quản trị tại CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội” của tác giả sẽ góp phần hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán quản trị tại doanh nghiệp nói chung và tại CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội nói riêng
3 Mục đích nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Nghiên cứu, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về kế toán
quản trị trong doanh nghiệp Cụ thể nghiên cứu trả lời câu hỏi: Kế toán quản trị là gì? bao gồm những nội dung gì? Những nhân tố ảnh hưởng đến kế toán quản trị là như thế nào?
Trang 12- Về mặt thực tiễn: Đánh giá đúng thực trạng công tác kế toán quản trị của
CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội, trên cơ sở đó nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác kế toán quản trị của Công ty trong thời gian tới Cụ thể nghiên cứu trả lời câu hỏi: Kế toán quản trị của Công ty hiện tại như thế nào? Công ty cần làm gì và làm như thế nào để hoàn thiện công tác kế toán quản trị
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: công tác KTQT tại CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu công tác KTQT tại CTCP Xây dựng số 5
Hà Nội giai đoạn 2015-2017
5 Phương pháp nghiên cứu
Để có thể phân tích, đánh giá và đưa ra giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện công tác KTQT học viên sử dụng các phuơng pháp nghiên cứu sau:
- Phuơng pháp chung: Phuơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Phương pháp cụ thể:
+ Phuơng pháp thu thập thông tin thông qua báo, tạp chí, mạng, báo cáo của các ngành và các đơn vị
+ Phuơng pháp phân tích, diễn giải, tổng hợp các thông tin thu thập
+ Phuơng pháp so sánh các số liệu thu thập
+ Phuơng pháp tổng kết thực tiễn
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn đuợc kết cấu thành 3 chuơng:
Chương 1: Lý luận chung về công tác KTQT trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác KTQT tại CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác KTQT tại CTCP xây dựng số
5 Hà Nội
Trang 13CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN
QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển kế toán quản trị
KTQT xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào những năm đầu của thế kỉ XIX Sự phát triên mạnh của các DN trong giai đoạn này đặt ra yêu cầu cho các nhà quản trị phải kiểm soát và đánh giá được hoạt động của chúng Một trong các DN áp dụng KTQT đầu tiên ở Mỹ là công ty dệt Lyman Mills Để xác định được hiệu quả sản xuất của các sản phàm cụ thể và đánh giá được kết quả hoạt động của các bộ phận, công ty này
đă áp dụng hệ thống kế toán theo dõi tình hình sử dụng vật tư chi phí nhân công và các chi phí trực tiếp phát sinh hàng ngày KTQT cũng được áp dụng tại công ty Louisville & Nashville hoạt động trong ngành đường sắt vào năm 1840 khi phạm vi hoạt động của công ty ngày càng mở rộng và công việc xử lý ngày càng phức tạp Để kiểm soát thu chi trên địa bàn rộng lớn công ty này đã chia kế toán thành hai bộ phận theo dõi chi phí và thu nhập theo từng khu vực để lập báo cáo cho các nhà quản trị Trong ngành luyện kim, các ngành dầu khí, hoá chất và cơ khí chế tạo KTQT cũng được áp dụng từ rất sớm Tuy nhiên, trong giai đoạn này các nhà quản trị mới chỉ kiểm soát được các chi phí sản xuất trực tiếp Các phương pháp phân bổ chi phí chung cho các sản phẩm và các thông tin về sử dụng TSCĐ vẫn bị bỏ qua
KTQT tiếp tục phát triển mạnh vào những năm đầu của thế kỷ XX và những người đóng góp nhiều cho sự phát triển của KTQT trong giai đoạn này là Pierre du Pont, Donaldson Brown và Alfred Sloan, đơn vị ứng dụng KTQT tiêu biêu trong giai đoạn này là Công ty Du Pont Power Với việc chia công ty thành các bộ phận nhò và thay đôi từ mô hình quan trị tập trung sang mô hình quản trị phân quyền Du Pont đã tạo điều kiện cho các nhà quản trị phát huy hết năng lực và chủ động sáng tạo của họ trong việc ra các quyết định phù hợp và kịp thời Sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1930, ở Mỹ việc nghiên cứu K.TQT bị sao nhãng Cho dên thập kỉ 80, do sức ép cạnh tranh và sự thành công vượt bậc của các DN ở châu Á, đặc biệt ở Nhật Bản, KTQT ở Mỹ mới lại được tiếp tục nghiên cứu và phát triển Và lần đầu tiên KTQT cũng được đưa vào giảng dạy tại Đại học Kinh doanh Harvard và Viện Công Nghệ Massachusets
Trang 14Ở Châu Á, sau chiến tranh thế giới thứ 2, cùng với sự phát triển của các trường phái quản trị theo kiểu Nhật Bản, KTQT cũng được hình thành để phục vụ cho nhu cầu thông tin của các nhà quản trị DN
Đối với Việt Nam thuật ngữ KTQT mới xuất hiện trong vòng 15 năm trở lại đây và đã thu hút được sự chú ý của các DN Một số doanh nghiệp đã bước đầu vận dụng và xây dựng cho mình một bộ máy kế toán quản trị riêng biệt Đánh dấu cho sự
mở đầu này là quy định về KTQT ở các đơn vị trong Luật Kế toán Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà XHXN Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2004 Tuy nhiên, việc này chỉ được dừng lại ở góc độ nhìn nhận và xem xét, chưa có một quyết định cụ thể hay hướng dẫn thi hành mang tính tổng quát Do đó việc hiểu và vận dụng KTQT ở các DN Việt Nam còn rất
mơ hồ Ngày 16/01/2006, Bộ tài chính tổ chức lấy ý kiến về việc ban hành thông tư hướng dẫn về thực hiện KTQT tại trường Đại học Kinh tế TP.HCM Có thể nói, đây
là động thái đầu tiên thể hiện sự quan tâm của cấp nhà nước đối với việc thực hiện KTQT tại Việt Nam Đến ngày 12/6/2006, Thông tư số 53/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính về hướng dẫn áp dụng KTQT trong DN chính thức được ra đời nhằm hướng dẫn cho các doanh nghiệp thực hiện KTQT Từ khi ra đời đến nay kế toán quản trị vẫn
mò mẫm lối đi, vẫn chưa có một tổ chức nào có đủ chuyên môn và kinh nghiệm chuyên tư vấn xây dựng hệ thống KTQT Còn đối với các doanh nghiệp, thì KTQT vẫn còn xa vời về mặt lý luận lẫn vận hành
Nói chung, KTQT hình thành và phát triển xuất phát từ nhu cầu thông tin quản trị DN Môi trường cạnh tranh buộc các DN phái tim mọi biện pháp mở rộng và phát triển thị trường, giảm chi phí nâng cao lợi nhuận KTQT là công cụ hữu hiệu cho phép các nhà quản trị kiêm soát quá trình sán xuât, đánh giá hiệu qua hoạt dộng cua từng bộ phận trong DN đê có các quyêt định phù hợp và hiệu quả
1.2 Khái niệm, mục tiêu, nhiệm vụ của kế toán quản trị
1.2.1 Khái niệm KTQT
Về định nghĩa KTQT, nhiều nhà nghiên cứu chuyên môn đã có khái niệm:
- Theo Ronald w Hilton, Giáo sư Đại học Cornell (Mỹ): “KTQT là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong một tổ chức mà nhà quản trị dựa vào đó để
Trang 15hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức”
- Theo Ray H.Garrison: “KTQT có liên hệ với việc cung cấp tài liệu cho các nhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách nhiệm trong việc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức đó”
- Theo các Giáo sư đại học South Florida là Jack L.Smith; Robert M.Keith và William L.Stephens: “KTQT là một hệ thống kế toán cung cấp cho các nhà quản trị
những thông tin định lượng mà họ cần để hoạch định và kiểm soát”
- Theo Luật Kế toán Việt Nam (năm 2003) và Thông tư 53/2006/TT-BTC ngày 12/6/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn áp dụng KTQT trong DN: “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”
Từ những khái niệm trên cho thấy những điểm chung về KTQT là:
- Là một hệ thống kế toán cung cấp các thông tin định lượng
- Những người sử dụng thông tin là những đối tượng bên trong tổ chức, đơn vị
- Mục đích sử dụng thông tin là để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của
tổ chức, đơn vị
Từ đó có thể đưa ra khái niệm về KTQT là: "KTQT là một khoa học thu nhận,
xử lý và cung cấp những thông tin định lượng về hoạt động của đơn vị một cách cụ thế, giúp các nhà quản lý trong quả trình đưa ra các quyết định liên quan đến việc lập
kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị ”
Như vậy, KTQT là loại kế toán dành cho người làm công tác quản lý, nó được coi như một hệ thống trợ giúp cho các nhà quản lý ra quyết định, là phương tiện để thực hiện kiểm soát quản lý trong DN
KTQT trong DN chủ yếu bao gồm các nội dung:
Trang 16+ KTQT chi phí và giá thành sản phẩm
+ KTQT bán hàng và kết quả kinh doanh
+ Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận
+ Lựa chọn thông tin thích hợp cho việc ra quyết định
+ Lập dự toán sản xuất kinh doanh
+ KTQT một số khoản mục khác: TSCĐ, HTK, lao động tiền lương, các khoản nợ + KTQT theo các yêu cầu khác của quản lý DN
1.2.2 Mục tiêu của KTQT
KTQT là loại kế toán dành riêng cho các nhà quản lý, trợ giúp cho việc ra các quyết định theo các tình huống rất cụ thể cuả các nhà quản lý Các quyết định của nhà quản lý hầu hết đều liên quan đến vấn đề chi phí (tiêu dùng nguồn lực) và giá trị thu được (lợi ích) do các chi phí tạo ra Vì vậy mục tiêu của KTQT tập trung vào hai mục tiêu chủ yếu sau:
- Mục tiêu liên kết giữa việc tiêu dùng các nguồn lực (chi phí) và nhu cầu tài trợ với các nguyên nhân của việc tiêu dùng các nguồn lực đó (chi phí phát sinh) để thực hiện các mục đích cụ thể của đơn vị
Đối với KTQT mô hình DN thể hiện dưới dạng gắn các mục đích mà DN theo đuổi với các nguồn lực mà DN có thể huy động với việc tiêu dùng các nguồn lực này
Mục đích mà DN theo đuổi có thể rất đa dạng Ví dụ cụ thê như:
+ Bán được một khối lượng sản phâm nào đó
+ Tôn trọng và thực hiện một thời hạn giao hàng cụ thể
+ Khả năng giải quyết một vấn đề nào đó tại hiện trường trong một khoảng thời gian nhât định
- Mục tiêu tìm cách tối ưu hóa mối quan hệ giữa chi phí với giá trị mà chi phí đó tạo ra
Bất kể khi quyết định lựa chọn một phương án tối ưu của nhà quản trị, bao giờ cũng quan tâm đến hiệu quả kinh tế của phương án mang lại, vì vậy, KTQT phải tìm cách tối ưu hóa mối quan hệ eiữa chi phí và lợi ích của phương án lựa chọn Tuy nhiên, không có nghĩa mục tiêu duy nhất là luôn luôn hạ thấp chi phí
Trang 171.2.3 Nhiệm vụ của KTQT
Ngoài những nhiệm vụ kế toán nói chung là: Thu thập, xử lý, phân tích thông tin - số liệu; Kiểm tra, giám sát tình hình tài chính - tài sản; Cung cấp thông tin, tổ chức phân tích thông tin, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính cùa đơn vị, nhiệm vụ cụ thể của KTQT là:
- Tính toán và đưa ra mô hình nhu cầu vốn cho một hoạt động hay một quyết định cụ thể Để thực hiện những mục tiêu cần phải huy động các nguồn lực vào đầu tư thiết bị, dự trữ HTK, lao động nghĩa là DN phải đương đầu với một nhu cầu đầu tư
về vốn cố định và vốn lưu động Vì vậy, một trong các nhiệm vụ của KTQT là tính toán và đưa ra mô hình về nhu cầu vốn lưu động và vốn cố định cho một loại sản phẩm, một thời hạn giao hàng, một thời hạn giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó
- Đo lường, tính toán chi phí cho một hoạt động, sản phẩm hoặc một quyết định cụ thể Việc sử dụng, tiêu dùng các nguồn lực tạo ra các chi phí của DN Nhiệm
vụ của KTQT là tính toán, đo lường chi phí cho một sản phẩm, một thời hạn giao hàng, hay một thời hạn giải quyết một vấn đề nào đó
Trong thực tế, KTQT phải tính toán, đo lường giá phí, giá thành của từng hàng mua (HTK), từng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ từng loại TSCĐ, cũng như xác định chi phí theo từng địa điểm phát sinh của chi phí đề biết được chi phí - giá thành của từng đối tượng tính giá cụ thể là bao nhiêu nhằm tăng cường trách nhiệm vật chât của các
bộ phận, cá nhân trong DN, tăng cường hạch toán kinh tế nội bộ DN
- Tìm ra những giải pháp tác động lên các chi phí để tối ưu hóa mối quan hệ Chi phí - Khối lượng - Lợi nhuận
Việc đo lường chi phí của một hoạt động theo một mục đích nào đó là kết quả
cụ thể của KTQT Tuy nhiên, một nhiệm vụ quan trọng hơn của KTQT là phải giúp nhà quản lý có những giải pháp tác động lên các chi phí này, nghĩa là cần phải xác định nguyên nhân gây ra chi phí để có thể can thiệp, tác động các nghiệp vụ, các hoạt động phát sinh chi phí Điều đó cũng có nghĩa là cần phải:
+ Một mặt phân tích các chi phí một cách cụ thể để hiểu các chi phí được hình thành như thế nào
+ Mặt khác, khuyến khích những người, những bộ phận có liên quan tác động
Trang 18tới các thành phần chi phí, làm việc phù hợp với chính sách và quy định của DN nhằm tiết kiệm và hạ thấp chi phí Điều đó không có nghĩa mục tiêu duy nhất là luôn hạ thấp chi phí mà cần phải tối ưu hóa mối quan hệ giũa chi phí và lợi ích mà nó tạo ra
Trọng tâm của KTQT là chi phí, do vậy, khi tổ chức KTQT chi phí cần chú ý: + Nắm bắt chi phí một cách đúng đắn
+ Tính toán chi phí theo yêu cầu ra quyết định của nhà quản lý
+ Xem xét và phân tích mối quan hệ Chi phí - Khối lượng - Lợi nhuận
Để KTQT là công cụ hữu ích cho người quản lý, có thế nói rằng việc nắm bắt chi phí là cần thiết với cả ba giai đoạn của quá trình quản lý:
- KTTC và KTQT đều dựa trên hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán Hệ thống ghi chép ban đầu là cơ sở để KTTC soạn thảo các báo cáo Tài chính định kỳ, cung cấp cho các đối tượng bên ngoài Còn với KTQT, hệ thống đó cũng là cơ sở vận dụng, xử lý nhằm tạo ra các thông tin thích họp cho việc ra quyết định của nhà quản trị KTQT sử dụng rộng rãi cách ghi chép hàng ngày của KTTC, mặc dù có triển khai
và tăng thêm số liệu cũng như nội dung của các thông tin đó
Trang 19- KTTC và KTQT đều biểu hiện trách nhiệm của nhà quản lý KTTC biểu hiện trách nhiệm của nhà quản lý cấp cao, còn KTQT biểu hiện trách nhiệm của nhà quản
- Thông tin thích hợp và linh hoạt phù hợp với vấn đề cần giải quyết Thước đo sử dụng - Chủ yếu là thước đo giá trị - Cả giá trị và hiện vật, thời gian Các nguyên tắc sử
dụng trong việc lập
báo cáo
- Phải tuân thủ các nguyên tắc kể toán chung đã được thừa nhận, mang tính bất buộc
- DN tự xây dựng, tự triển khai,
có tính linh hoạt, không mang tính pháp lệnh
Người sử dụng
thông tin
- Các thành phần bên ngoài DN như các tổ chức tín dụng; đổi thủ cạnh tranh: nhà cung cấp vật tư
hàng hóa, người đầu tư tài chính;
người lao động v.v
- Các thành phần bên trong công ty: Giám đốc, quản lý hội đồng quản trị, các giám sát viên, quản đốc
Các báo cáo
kế toán chủ yếu
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính
- Các báo cáo cung cấp, dự trữ vật tư, hàng hóa
- Các báo cáo về quá trình sản xuất (Tiến độ, chi phí, kết quả)
- Các báo cáo về bán hàng (Chi phí giá vốn doanh thu)
Kỳ báo cáo - Quý, năm - Ngày, tuần, tháng, quý, năm
Phạm vi thông tin - Toàn DN - Gắn với các bộ phận trực thuộc
DN Trọng tâm
thông tin
- Chính xác, khách quan, tổng thể - Kịp thời, thích hợp linh hoạt ít
chú trọng đên tính chính xác
Trang 201.4 Vai trò của KTQT trong việc thực hiện chức năng quản lý doanh nghiệp
Trách nhiệm của các nhà quản trị các cấp trong DN là điều hành và quản lý các mặt hoạt động của DN Các chức năng cơ bản của quản lý DN tất cả xoay quanh vấn đề “ra quyết định” Để quản lý và ra quyết định đối với các tình huống thì
cần phải có thông tin Chức năng cơ bản của quản lý có thế khái quát bằng sơ đồ
số 1.1
Sơ đồ 1.1: Các chức năng cơ bản của quản lý
Qua sơ đồ này, có thể thấy sự liên tục của hoạt động quản lý từ khâu lập kế hoạch đến thực hiện, kiểm tra, đánh giá rồi sau đó quay lại khâu lập kế hoạch cho
kỳ sau, tất cả đều xoay quanh trục ra quyết định
Như vậy để làm tốt các chức năng quản lý, nhà quản trị phải có thông tin cần thiết để có thể ra các quyết định đúng đắn KTQT là nguồn chủ yếu cung cấp nhu cầu thông tin đó Vai trò của KTQT trong các khâu của quá trình quản lý được thể hiện cụ thể như sau:
- Trong giai đoạn lập kế hoạch và dự toán: Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu phải đạt và vạch ra các bước thực hiện đề đạt được mục tiêu đó Các kế hoạch này có thể là kế hoạch dài hạn, ngắn hạn Dự toán cũng là một kế hoạch nhằm liên kết các mục tiêu và chỉ rõ cách huy động, sử dụng các nguồn lực để đạt các mục tiêu đề ra
Trang 21KTQT thu thập thông tin thực hiện (quá khứ) và những thông tin liên quan tới tương lai (thông tin dự toán, dự tính) để phục vụ cho việc lập kế hoạch, dự toán
- Trong giai đoạn tổ chức thực hiện:
+ Khâu tổ chức thực hiện, các nhà quản trị phải biết cách liên kết tốt nhất giữa các yếu tố, tổ chức, con người và các nguồn lực sao cho kế hoach được thực hiện ở mức cao nhất và hiệu quả nhất
+ KTQT có vai trò thu thập và cung cấp các thông tin đã và đang thực hiện
để phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh của nhà quản trị và chỉ đạo thực hiện các quyết định như các quyết định loại bỏ hoặc tiếp tục duy trì kinh doanh một bộ phận nào đó, quyết định tự sản xuất hay mua ngoài Ngoài ra còn thu thập thông tin thực hiện để phục vụ cho việc kiểm tra, đánh giá sau này
- Trong giai đoạn kiểm tra và đánh giá: Nhà quản trị sau khi đã lập kế hoạch đầy đủ và hợp lý, tổ chức thực hiện kế hoạch, đòi hỏi phải kiểm tra, đánh giá hoạt động và đánh giá việc thực hiện kế hoạch Phương pháp thường dùng là so sánh số liệu thực hiện với số liệu của kế hoạch và dự toán, xác định những sai biệt giữa kết quả đạt được với các mục tiêu đặt ra Do đó KTQT có vai trò cung cấp thông tin thực hiện từng bộ phận; giúp nhà quản lý nhận diện và đánh giá kết quả thực hiện, những vấn đề còn tồn tại và cần có tác động quản lý đồng thời phục vụ cho việc lập
kế hoạch, dự toán tiếp kỳ sau
- Trong khâu ra quyết định: Phần lớn thông tin do KTQT cung cấp nhằm giúp các nhà quản trị ra quyết định Đó là một chức năng quan trọng xuyên suốt các khâu quản trị DN, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện đến kiểm tra, đánh giá
KTQT có vai trò cung cấp thông tin soạn thảo các báo cáo phân tích số liệu, thông tin; thực hiện việc phân tích số liệu, thông tin thích hợp giữa các phương án đưa ra đê lựa chọn; tư vấn cho nhà quàn trị lựa chọn phương án, quyết định phù hợp
và tối ưu nhất
KTQT giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định không chỉ bàng cách cung cấp thông tin thích hợp mà còn bằng cách vận dụng các kỹ thuật phân tích vào những tính huống khác nhau để từ đó nhà quản trị lựa chọn ra quyết định thích hợp nhất
Trang 221.5 Đối tượng, phương pháp của KTQT trong doanh nghiệp
1.5.1 Đối tượng của KTQT trong doanh nghiệp
KTQT phản ánh đối tượng của kế toán nói chung dưới dạng chi tiết theo
yêu cầu quản trị DN
Là một bộ phận của kế toán DN, tất nhiên đối tượng của KTQT cũng là đối tượng của kế toán nói chung Tuy nhiên, nếu KTTC phản ánh kết quả của DN dưới dạng tổng quát thì KTQT phản ánh chi tiết của sự tổng quát đó Cụ thể như sau:
+ Phản ánh chi tiết các yếu tố sản xuất, kinh doanh như: Vật tư, tài sản cố định, lao động, tiền lương
+ Phản ánh, tính toán, phân bổ chi phí, giá thành chi tiết từng loại tài sản + Phản ánh chi tiết doanh thu và kết quả từng hoạt động, từng bộ phận, địa điểm sản phấm, mặt hàng kinh doanh của DN dưới dạng chi tiết
+ Phản ánh chi tiết các khoản công nợ phải thu, phải trả, các khoản thanh toán khác của DN
KTQT phản ánh, mô tả hoạt động của DN: Để thực hiện mục tiêu nhiệm vụ của mình DN phái thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, tức là phải tổ chức huy động và tiêu dùng các nguồn lực để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ, kinh doanh hàng hóa KTQT dựa trên các hình thức huy động và tiêu dùng các nguồn lực mà phản ánh và mô tả chúng để thực hiện mục đích của mình
Việc tổ chức huy động và sử dụng các nguồn lực ở mỗi DN có thể có những đặc điểm rất khác nhau Điều đó chi phối bởi mô hình tổ chức bộ máy hoạt động và quản lý của DN Do vậy, KTQT gắn liền với tổ chức và công nghệ của DN
Xét về góc độ huy động và sử dụng các nguồn lực, KTQT gắn liền với việc phản ánh, mô tả chi phí diễn biến chi phí trong quá trình sử dụng ở các nơi tiêu dùng những chi phí đó (bộ phận/trung tâm) và sự kết tinh chi phí thành kết quả các hoạt động (giá thành sản phẩm/dịch vụ)
KTQT phản ảnh quả trình chi phi trong hoạt động của DN: Đối tượng chủ
yếu của KTQT là quá trinh chi phí của DN Việc phản ánh, mô tả hoạt động DN của KTQT sẽ dẫn đến xuất hiện một mạng lưới chu chuyển các luồng chi phí hay còn
Trang 23gọi là mạng lưới phân tích các luồng chi phí Mạng lưới phân tích luồng chi phí được thể hiện qua bốn giai đoạn theo sơ đồ 1.2:
Sơ đồ 1.2: Mạng lưới phân tích các luồng chi phí
Để xây dựng mô hình trong mạng lưới phân tích các luồng chi phí phải thực hiện các công việc sau:
* Phân bổ chi phí cho các bộ phận và các hoạt động:
- Những chi phí phát sinh chung liên quan đến bộ phận hoặc hoạt động nào thì quy nạp trực tiếp cho bộ phận hoặc các hoạt động đó
- Những chi phí phát sinh chung liên quan đến nhiều bộ phận, nhiều hoạt động (chi phí QLDN, chi phí bán hàng ) thì phân bổ cho các bộ phận hoặc hoạt động K.TQT đứng trước 3 cách lựa chọn:
+ Không phân bổ các chi phí chung cho các bộ phận hoặc các hoạt động, nghĩa
là không phân bổ các chi phí này cho giá thành sản xuất sản phẩm Theo cách này nhà quản trị sẽ không biết được giá thành đầy đủ của sản phàm Tuy nhiên không phân bổ các chi phí này cũng không có nghĩa là không quản lý các chi phí này
+ Phân bổ các chi phí chung cho các bộ phận, hoặc hoạt động liên quan theo một tiêu chuẩn (tiêu thức) chung Tuy nhiên, tiêu chuẩn phân bổ phải hợp lý, phù hợp với quy luật chi phí chung cần phân bổ
+ Tổ chức lại việc tổ chức sản xuất để có thể quy nạp chi phí trực tiêp theo từng bộ phận hoặc hoạt động Cách làm này đặt ra vấn đề là phải xem xét khả năng sinh lời và chi phí cơ hội của việc tổ chức lại các bộ phận trong DN
* Các tiêu chuẩn phân bổ chi phí:
Việc phân bổ chi phí phát sinh tại một bộ phận có thể xảy ra 4 trường hợp sau:
- Trường hợp 1: Bộ phận (trung tâm ) chỉ có một loại hoạt động tạo ra 1 loại
Trang 24sản phẩm thì toàn bộ chi phí của bộ phận đó được tập hợp trực tiếp cho giá phí của loại sản phẩm đó
- Trường hợp 2: Bộ phận có một loại hoạt động tạo ra nhiều loại sản phẩm thi
chi phí của bộ phận đó được tập hợp theo bộ phận, sau đó phân bổ chi phí cho từng loại sản phẩm liên quan Đại lượng tiêu chuẩn phân bổ gọi là “đơn vị công”
- Trường hợp 3: Bộ phận có nhiều hoạt động nhưng chỉ để tạo ra 1 loại sản
phẩm thì những chi phí trực tiếp liên quan đến hoạt động nào thì được tập họp cho hoạt động đó, còn những chi phí chung sau đó phân bổ cho từng hoạt động theo những tiêu chuẩn phù hợp
- Trường hợp 4: Bộ phận có nhiều hoạt động và các hoạt động tạo ra nhiều sản
phẩm thì phải tập hợp chi phí theo từng hoạt động sau đó tính toán phân bổ chi phí của mỗi hoạt động cho từng sản phẩm liên quan
Để thực hiện phân bổ có thể sử dụng phương pháp bộ phận đồng nhất (lựa chọn một tiêu chuẩn phân bổ cho nhiều loại chi phí)
1.5.2 Phương pháp để tiến hành KTQT
Là một bộ phận của hệ thống kế toán DN, KTQT tất nhiên cũng sử dụng các phương pháp của kế toán nói chung là phương pháp chứng từ kế toán, phương pháp tính giá và phương pháp tổng hợp cân đối để thu thập xử lý và cung cấp thông tin Ngoài ra KTQT còn sử dụng các phương pháp công cụ khác bổ sung cho việc thu thập, tính toán các số liệu, thông tin liên quan đến tương lai; trình bày diễn giải các thông tin, số liệu và báo cáo
- Phương pháp chứng từ kế toán: Chứng từ kế toán là giấy tờ chứng minh sự
phát sinh, hoặc hoàn thành nghiệp vụ kinh tế Chứng từ được lập phục vụ cho cả KTTC và KTQT Dựa vào hệ thống chứng từ bắt buộc và chứng từ hướng dẫn sử dụng trong KTTC để thu thập các thông tin thực hiện (quá khứ) chi tiết theo yêu cầu của KTQT Có thể KTQT còn cần thiết phải thiết lập hệ thống chứng từ riêng dể thu thập những thông tin sử dụng riêng của KTQT Những chứng từ này rất linh hoạt không có tính pháp lý
Trang 25- Phương pháp TK kế toán: là phương pháp tập hợp hệ thống hoá nghiệp vụ
kinh tế theo nội dung kinh tế của nghiệp vụ nhằm phản ánh và giám đốc thường xuyên từng đối tượng kế toán Trong KTQT các TK được sử dụng để theo dõi từng đối tượng của KTQT, đây là đối tượng của kế toán tài chính được chi tiết hoá, theo yêu cầu cung cấp thông tin của nhà quản lý DN Dựa vào hệ thống TK của KTTC (TK tổng hợp, TK chi tiết) để tập hợp số liệu thông tin thực hiện chi tiết theo yêu cầu quản
lý của DN Trên cơ sở yêu cầu quản trị cụ thể đối với từng đối tượng mà KTQT quan tâm, cần tổ chức chi tiết hơn nữa các TK đến cấp 3,4,5,6 KTQT còn cần phải mở hệ thống sổ kế toán chi tiết, ngoài việc theo dõi các chỉ tiêu chi tiết theo quản lý của KTTC, còn bồ sung thêm các sổ chi tiết hoặc các chỉ tiêu trên sổ theo nhu cầu thông tin của KTQT
- Phương pháp tính giá: là dùng tiền biểu hiện giá trị tài sản Nguyên tắc tính
giá của KTTC là: giá gốc (giá thực tế ) Trong KTQT, tài sản cũng được đánh giá theo giá gốc, để đối chiếu số liệu giữa KTTC và KTQT Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin nhanh phục vụ yêu cầu quản lý tức thời, cần thiết phải sử dụng giá ước tính (giá hạch toán ) trong KTQT
- Phương pháp tổng hợp cân đối: KTQT sử dụng phương pháp này trong việc lập báo cáo tổng hợp bộ phận - báo cáo nội bộ, đó là báo cáo thực hiện Đồng thời nó được sử dụng để lập các báo cáo các bảng phân tích số liệu chi phí, doanh thu, kết quả
để so sánh các phương án đang xem xét và quyết định trong tương lai Ngoài ra KTQT còn sử dụng phương pháp tổng hợp cân đối kế toán để lập các cân đối trong dự toán, trong kế hoạch giữa nhu cầu tài chính và nguồn tài trợ, giữa yêu cầu sản xuất, kinh doanh và nguồn lực được huy động
- Phương pháp thiết kế thông tin thành bảng số liệu so sánh được: Khi thiết kế
các bảng số liệu so sánh cần lưu ý:
+ Các thông tin cần sắp xếp thành các khoản mục phù hợp với tiêu chuẩn đánh giá thông tin trong mỗi tình huống quyết định
+ Các khoản mục trong bảng phải có quan hệ chặt chẽ, logic với nhau
+ Các số liệu thực tế, dự toán, định mức hoặc các mục tiêu định trước trong
Trang 26bảng phải so sánh được với nhau
+ Hình thức kết cấu bảng rất đa dạng, linh hoạt tùy thuộc vào tiêu chuẩn đánh giá thông tin đối với mỗi loại quyết định
- Phương pháp phân loại chi phí: Hầu hết các quyết định của nhà quản trị đều
liên quan đến chi phí Đối với mỗi loại quyết định, chi phí liên quan có đặc điểm và nội dung khác nhau Để có thông tin thích hợp về các chi phí liên quan đến từng quyết định, KTQT cần vận dụng cách phân loại chi phí phù hợp
- Phương pháp trình bày mối quan hệ giữa các thông tin dưới dạng phương trình đại số, phương pháp đồ thị
Như vậy phương pháp KTQT cũng là phương pháp kế toán nói chung, nhưng
có các đặc điểm riêng để phù hợp với tính chất thông tin của KTQT, đó là:
- Tính đặc thù nội bộ của các sự kiện
- Tính linh hoạt, tính thích ứng với sự biến biến đổi hàng ngày của các sư kiện
- Tính chất phi tiền tệ được chú trọng nhiều hơn trong các chỉ tiêu báo cáo
- Tính dự báo ( phục vụ việc lập kế hoạch )
- Tính pháp lý đối với tài liệu gốc và tính hướng dẫn ở thông tin trên báo cáo quản trị
- Không có tính chuẩn mực chung
1.6 Đặc điểm của một hệ thống KTQT tốt
Hệ thống KTQT giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chiến lược của tổ chức, nó bao gồm việc cung cấp thông tin để hỗ trợ cho việc sản xuất các sản phẩm với chi phí thấp, chất lượng được giữ vững, giao hàng đúng hạn và khuyến khích việc sáng kiến, điều này cũng có nghĩa là:
- Về bản chất: KTQT là một quá trình đo lường
- Về phạm vi: KTQT gồm các thông tin tài chính như giá phí thông tin tác nghiệp như tỷ lệ sản phẩm hỏng v.v
- Về mục đích: KTQT giúp cho tổ chức đạt mục tiêu chiến lược nhưng đó không phải là mục tiêu lập BCTC hay báo cáo thuế
Trang 27- Về thuộc tính: KTQT gồm ba thuộc tính: Kỹ thuật, hành vi ứng xử và văn hóa:
+ Thuộc tính kỹ thuật: Làm gia tăng sự hiểu biết các hiện tượng được đo lường và cung cấp các thông tin thích hợp cho quyết định chiến lược
+ Thuộc tính hành vi ứng xử : Khuyến khích các hành động nhất quán với mục tiêu của tổ chức
+ Thuộc tính văn hóa: Hỗ trợ hay tạo ra giá trị văn hóa, lòng tin và giá trị đạo đức trong tổ chức và xã hội
Một hệ thống KTQT tốt là một hệ thống đo lường tốt, hướng vào quy trình sản xuất và có tác động tích cực đến hành vi của các cá nhân trong tổ chức cùng hướng vào thực hiện mục tiêu chiến lược của tổ chức
Hệ thống đo lường tốt phải có hai đặc điểm chính:
- Thông tin mà nó đưa ra phải thích hợp và có tác động làm thay đổi hay cải thiện các quyết định theo hướng tích cực Nếu nhà quản lý không biết hay không đưa
ra được quyết định đúng thì thông tin được đưa ra không còn thích hợp
- Tập trung vào đo lường kết quả theo từng trung tâm trách nhiệm trong tổ chức
Hệ thống KTQT hướng vào quy trình sản xuất chủ yếu là hướng vào việc đo lường tính toán kết quả của quy trình sản xuất, theo từng bộ phận tham gia trong quy trình nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng
Với hệ thống kế toán hướng vào quy trình sản xuất sẽ giúp nhà quản trị DN trên các khía cạnh sau:
- Thứ nhất là hiểu được mối quan hệ nhân quả Ví dụ, cái gì làm phát sinh chi phí; tại sao các hoạt động này không sinh lợi
- Thứ hai là nhận diện những hoạt động không làm tăng thêm giá trị ví dụ như nhận diện những công việc thừa hay những hoạt dộng không đáp ứng yêu cầu của khách hàng từ đó có thể tổ chức lại quá trinh sản xuất cho hợp lý
- Thứ ba là hiểu được mối quan hệ giữa các sự kiện trong chuỗi các sự kiện, ví
dụ thông tin KTQT có thể chỉ ra ảnh hưởng của nhà cung cấp hay nhà phân phối đến
Trang 28giá trị sản phẩm hay dịch vụ mà khách hàng phải trả
- Thứ tư là tách biệt các tác động bên trong và bên ngoài tổ chức, ví dụ KTQT
có thể chỉ ra bộ phận nào của quá trình sản xuất cản trở khả năng sản xuất và đưa đến
sự bất mãn cho khách hàng
Hệ thống KTQT có tác động đến hành vi của các cá nhân trong tổ chức là: do cách thức đo lường của KTỌT có thể làm ảnh hưởng đến cách cư xử của con người trong tổ chức, biểu hiện ở chỗ:
- Làm thay đổi nhận thức: Cái mà được đo lường, tính toán, thường được nổi bật và người ta thấy rõ vật đó hơn Vì vậy thông thường các quyết định sẽ được đưa ra sau khi đã có sự đo lường tính toán cụ thể Ví dụ như các tính toán về chi phí cho việc bảo vệ môi trường sẽ làm cho nhà quản trị nghiêng về phía quyết định mua thiết bị không thải khí hại môi trường dù giá cả có đắt hơn
- Khuyến khích các hành vi đúng đắn: Khi một khoản được tính toán thì đó là dấu hiệu của mong muốn thay đổi thái độ và hành vi, ví dụ khi tính toán tỷ lệ việc giao hàng đúng hạn là dấu hiệu của sự mong muốn giao hàng đúng hạn nhiều hơn và sau khi tính toán được tỷ lệ này sẽ dần đến hành vi lựa chọn nhà cung cấp có uy tín về thời hạn giao hàng
- Thay đổi thái độ và sự mong đợi : Việc tính toán là cơ sở cho sự đánh giá có khuynh hướng làm thay đổi thái độ và sự kỳ vọng của mồi cá nhân Ví dụ thiết lập định mức thời gian cho một công việc, chính là thiết lập mục tiêu cho sự kỳ vọng đạt được mục tiêu thời gian Khi đạt được định mức, người ta sẽ nhớ lại những cố gắng những kỳ vọng đã qua và lại cố gắng để đạt thành tích cao hơn, nhưng nếu như không đạt định mức thì thành tích có thề thấp hơn trong kỳ tới
- Thay đổi quan điểm: Người ta thường có khuynh hướng giải thích nguyên nhân của sự thành công gắn với quyết định và hành động của họ, nhưng lại giải thích nguyên nhân của sự thất bại lại gắn với các yếu tố khách quan nằm ngoài sự kiểm soát của họ Do vậy mà người ta có thể thay đổi quan điếm bởi sự tính toán của KTQT và dẫn đến sự thay đổi về hành vi
Tất cả những biểu hiện trên cho thấy: Các tính toán của KTQT đã tạo ra các biến số tác động về tâm lý - xã hội và kết quả của nó là làm thay đôi hành vi của con
Trang 29người trong tổ chức Những hành vi của cá nhân trong tổ chức sẽ tạo ra giá trị văn hóa của một tổ chức Giá trị văn hóa của tổ chức bao gồm: Lòng tin và giá trị đạo đức, quan điểm phân phối lợi ích kinh tế và biểu tượng của tổ chức Đây chính là những biến số văn hoá bị tác động bởi việc tính toán của KTQT
Như vậy một hệ thống KTQT tốt giúp cho việc ra các quyết định, giúp hiểu biết quá trình sản xuất kinh doanh, khuyến khích các hành vi thích hợp, phản ánh giá trị đạo đức và lòng tin Và tất cả những cái đó nhằm đạt mục tiêu chiến lược: Chất lượng, thời gian và giá cả Điều này cũng có nghĩa là KTQT tự nó không phải là điểm kết thúc, nó là công cụ quan trọng để đạt mục tiêu chiến lược cho tổ chức
1.7 Tổ chức công tác KTQT ở các doanh nghiệp SXKD
1.7.1 Yêu cầu tổ chức công tác KTQT DN
Việc tổ chức công tác KTQT trong DN phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Cung cấp kịp thời đầy đủ các thông tin theo yêu cầu quản lý về chi phí của từng công việc, bộ phận, dự án, sản phẩm, ;
- Cung cấp kịp thời, đầy đủ các thông tin thực hiện, các định mức, đơn giá, phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm tra điều hành và ra quyết định;
- Đảm bảo cung cấp các thông tin chi tiết, cụ thể hơn so với kế toán tài chính; Xác lập các nguyên tắc phương pháp phù hợp để đảm bảo được tính so sánh giữa KTTC và KTQT cũng như giữa các thời kỳ hoạt động, giữa dự toán và thực hiện
- Tổ chức công tác KTQT phải đảm bảo phù hợp yêu cầu trình độ quản lý
Trang 30của từng DN Đồng thời phải tính đến xu hướng phát triển của công tác quản lý và trình độ quản lý của từng DN
- Tổ chức công tác KTQT phải đảm bảo cung cấp thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời với yêu cầu ra quyết định kinh doanh từng cấp quản trị trong nội bộ
DN, cũng như việc điều chỉnh kịp thời những biện pháp quản lý và kiểm soát kinh doanh của DN
- Tổ chức công tác KTQT phải có sự kết hợp hài hòa với hệ thống KTTC
DN, tránh sự trùng lẳp giữa KTQT với KTTC
1.7.3 Nội dung tổ chức KTQT trong DN
Tổ chức hệ thống thông tin KTQT: Việc vận dụng các nguyên tắc, phương pháp về lập, luân chuyển, quản lý và sử dụng chứng từ kế toán quản trị phải phù hợp với điều kiện cụ thề của từng DN Có thể cụ thể hoá và bổ sung các nội dung cần thiết vào từng mẫu chứng từ kế toán đã được quy định để phục vụ cho việc thu thập thông tin quản trị nội bộ DN Có thể sử dụng các chứng từ ban đầu, chứng từ thống kê trong điều hành sản xuất, kinh doanh của DN (Lệnh sản xuất; Bảng kê khối lượng; Quyết định điều động lao động; Quyết định điều động (di chuyển) tài sản; Biên bản điều tra tình hình sản xuất, ) để KTQT khối lượng sản phẩm (công việc), thời gian lao động,
lập kế hoạch
1.7.3.1 Tổ chức hệ thống TK KTQT
Để đáp ứng cung cấp đầy đủ thông tin cho quản trị DN, KTQT có thể chi tiêt hoá (cấp 2, 3, 4 ) hệ thống TK KTTC hoặc KTQT có thể thiết kế chi tiết hệ thống TK phù hợp với kế hoạch, dự toán đã lập và yêu cầu cung câp thông tin của KTQT cho các cấp quản trị khác nhau trong DN
Việc chi tiết hoá các cấp TK kế toán dựa trên các yêu cầu sau:
- Xuất phát từ yêu cầu cung cấp thông tin KTQT của từng cấp quản lý
- Các TK có mối quan hệ với nhau cần đảm bảo tính thống nhất về ký hiệu, cấp độ, (Ví dụ: TK 15411, 51111, 63211, 91111, )
- Việc chi tiết hoá TK không được làm sai lệch nội dung, kết cấu và phương pháp ghi chép của TK
DN được mở TK kế toán chi tiết theo các cấp trong các trường hợp sau:
Trang 31- Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành theo từng công việc; sản phầm, mặt hàng, bộ phận sản xuất, kinh doanh,
- Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh theo từng công việc; Sản phẩm, mặt hàng, bộ phận sản xuất, kinh doanh,
- Kế toán HTK theo từng thứ, loại
- Kế toán các nguồn vốn, các khoản vay, các khoản nợ phải thu phải trả, theo chủ thể và từng loại
Ngoài ra tuỳ theo yêu cầu cung cấp thông tin KTQT mà DN thiết kế chi tiết hoá các TK kế toán cho phù hợp
1.7.3.2 Tổ chức hệ thống sổ KTQT
DN căn cứ vào hệ thống sổ kế toán do Bộ Tài chính ban hành hoặc được Bộ Tài chính chấp thuận áp dụng cho DN để bổ sung các chỉ tiêu, yêu cầu cụ thể phục vụ cho KTQT trong DN Việc bổ sung hoặc thiết kế các nội dung của sổ kế toán không được làm sai lệch nội dung các chỉ tiêu đã quy định trên sổ kế toán nhưng cần phù hợp với yêu cầu quản lý của DN
DN có thể thiết kế các sổ kế toán chi tiết phù hợp với yêu cầu quản lý chi phí doanh thu và xác định kết quả kinh doanh theo bộ phận, mặt hàng, công việc và các yêu cầu khác của KTQT (Phiếu tính giá thành sản phẩm; Báo cáo sản xuất; sổ chi tiết bán hàng theo khách hàng, như mầu sổ ở phụ lục kèm theo)
1.7.3.3 Tổ chức hệ thống báo cáo KTQT
Hệ thống báo cáo KTQT chính là sản phẩm của chu trinh KTỌT, do đó tổ chức
hệ thống báo cáo KTQT phải đảm bảo các yêu cầu:
- Hệ thống báo cáo KTQT cần được xây dựng phù hợp với yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ quản lý nội bộ của từng DN cụ thể
- Nội dung hệ thống báo cáo KTQT cần đảm bảo cung cấp đầy đủ và đảm bảo tính so sánh được của các thông tin phục vụ yêu cầu quản lý, điều hành và ra các quyết định kinh tế của DN
- Các chỉ tiêu trong báo cáo KTQT cần phải được thiết kế phù hợp với các chỉ tiêu của kế hoạch, dự toán và báo cáo tài chính nhưng có thế thay đổi theo yêu cầu
Trang 32quản lý của các cấp
* Hệ thống báo cáo KTQT chủ yếu của một DN thường bao gồm:
- Báo cáo tình hình thực hiện:
+ Báo cáo doanh thu, chi phí và lợi nhuận của từng loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ;
+ Báo cáo khối lượng hàng hoá mua vào và bán ra trong kỳ theo đối tượng khách hàng, giá bán, chiết khấu và các hình thức khuyến mại khác;
+ Báo cáo chi tiết khối lượng sản phẩm (dịch vụ) hoàn thành, tiêu thụ;
+ Báo cáo chấp hành định mức HTK;
+ Báo cáo tình hình sử dụng lao động và năng suất lao động;
+ Báo cáo chi tiết sản phẩm, công việc hoàn thành;
+ Báo cáo cân đối nhập, xuất, tồn kho nguyên liệu, vật liệu, sản phẩm, hàng hoá;
+ Báo cáo chi tiết nợ phải thu theo thời hạn nợ, khách nợ và khả năng thu nợ; + Báo cáo chi tiết các khoản nợ vay, nợ phải trả theo thời hạn nợ và chú nợ; + Báo cáo chi tiết tăng, giảm vốn chủ sở hữu
- Báo cáo phân tích:
+ Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận;
+ Phân tích tình hình tài chính của DN;
+ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất
và tài chính;
Ngoài ra, căn cứ vào yêu cầu quản lý điều hành của từng giai đoạn cụ thể, DN
có thể lập các báo cáo KTQT khác
1.8 Nội dung kế toán quản trị
1.8.1 Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm
1.8.1.1 Kế toán quản trị chi phí
DN căn cứ vào đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý để tồ chức tập hợp chi phí theo từng trung tâm phát sinh chi phí, như: Tổ, đội, phân xưởng hoặc cho từng công việc, từng sản phấm, từng công đoạn sản xuất hoặc cho cả quá trình sản xuất và xác định các loại chi phí của DN theo các nội dung sau:
Trang 33* Phân loại chi phí
Việc phân loại chi phí của DN là nhằm mục đích phục vụ cho quản trị hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN, do đó tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu quản trị của DN trong từng thời kỳ, từng hoàn cảnh để lựa chọn tiêu thức phân loại phù hợp
* Phương pháp tập hợp chi phí
DN cần lựa chọn các phương pháp tập họp chi phí phù hợp từng loại chi phí:
- Phương pháp trực tiếp: Áp dụng cho trường hợp chi phí phát sinh chỉ liên quan đến một đối tượng chịu chi phí Theo phương pháp này thì chi phí của đối tượng nào được tập hợp trực tiếp cho đối tượng đó
- Phương pháp phân bổ: Áp dụng cho trường hợp chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí Khi thực hiện phương pháp phân bổ chi phí DN có thể lựa chọn một trong các căn cứ phân bổ sau: Giờ công, ngày công, giờ máy hoạt động, diện tích sử dụng, và phương pháp phân bổ là trực tiếp hoặc phân bổ theo cấp
bậc
* Xác định trung tâm chi phí
Việc xác định trung tâm chi phí phụ thuộc vào quy trình sản xuất và quy mô của từng DN, các trung tâm chi phí thường được phân loại là:
- Trung tâm chính: Trung tâm mua hàng, trung tâm sản xuất (các phân xưởng,
- Phương pháp trực tiếp (Phương pháp giản đơn): Phương pháp này được áp dụng trong DN có quy trình sản xuất đơn giản không bao gồm nhiều khâu sản xuất,
Trang 34chu kỳ sản xuất ngắn, số lượng mặt hàng ít và sản xuất với số lượng lớn Theo cách này Giá thành sản phẩm hoàn thành được xác định như sau:
- Giá thành đơn vị sản phẩm = Giá thành sản phẩm hoàn thành/số lượng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ
- Phương pháp tính giá thành theo quá trình sản xuất (Phương pháp tổng cộng chi phí);
- Phương pháp tính giá thành theo định mức;
- Phương pháp hệ số;
- Phương pháp loại trừ chi phí theo các sản phẩm phụ
* Đối tượng và kỳ tính giá thành
- Đối tượng tính giá thành có thể là một chi tiết thành phẩm, thành phẩm, nhóm thành phẩm, công việc cụ thể hoặc giá thành bộ phận lĩnh vực DN có thể dựa vào một hoặc một số căn cứ sau để xác định đối tượng tính giá thành phù hợp:
+ Đặc điểm tổ chức sản xuất, quản lý;
+ Đặc điểm quy trinh công nghệ sản xuất;
+ Điều kiện và trình độ kế toán, yêu cầu quản lý của DN
1.8.2 Kế toán quản trị bán hàng và kết quả kinh doanh
cứ vào giá thành sản xuất, căn cứ vào biến phí trong giá thành toàn bộ của sản phẩm, dựa vào chi phí nguyên liệu, chi phí nhân công, )
Chi phí dở dang cuối kỳ
Trang 35Kế toán quản trị bán hàng và kết quả bán hàng: DN có thế tổ chức kế toán bán hàng theo từng phương thức bán hàng và thanh toán tiền (bán thu tiền ngay, bán trả góp, bán hàng thông qua đại lý hàng đổi hàng), theo từng bộ phận bán hàng (khu vực
1, khu vực 2, ), theo từng nhóm sản phẩm, loại hoạt động chủ yếu DN cũng có thể tổ chức kế toán bán hàng bằng cách kết hợp nhiều tiêu thức với nhau, tuỳ theo yêu cầu quản lý của mình và điều kiện, hoàn cảnh cụ thế của DN trong từng thời kỳ
DN cần xây dựng mô hình TK, sổ kế toán và báo cáo bán hàng và kết quả bán hàng một cách liên hoàn và linh hoạt để có thê kế toán phù hợp với các trường hợp bán hàng trong từng giai đoạn đáp ứng được yêu cầu xác định kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN
1.8.2.2 Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận
Mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận là mối quan hệ giữa các nhân tố giá bán, khối lượng (số lượng, mức độ hoạt động), kết cấu hàng bán chi phí (cố định, biến đổi) và sự tác động của các nhân tố này đến lợi nhuận của DN
DN cần phân tích mối quan hệ này thông qua hệ thông chỉ tiêu phân tích gồm:
- Lãi tính trên biến phí đơn vị (còn gọi là số dư đảm phí);
- Tổng lãi tính trên biến phí;
- Tỷ suất lãi tính trên biến phí;
- Kết cấu chi phí;
- Đòn bẩy kinh tế;
- Điểm hoà vốn (sản lượng, doanh thu, công suất, thời gian hoà vốn, ); Việc phân tích mối quan hệ này giúp DN đưa ra được các quyết định trong sản xuất, kinh doanh nhằm tối đa hoá lợi nhuận như: lựa chọn sản phẩm và sản lượng sản xuất, giá bán, định mức chi phí
1.8.2.3 Lựa chọn thông tin thích hợp
Ra quyết định là chức năng cơ bản của nhà quản trị DN Quyết định phổ biến ở
DN gồm: định ngắn hạn và quyết định dài hạn
* Thông tin thích hợp cho việc ra quyết định ngắn hạn, kế toán quản trị DN cần
Trang 36thực hiện các bước sau:
- Thu thập thông tin (chi phí, doanh thu) liên quan đến các phương án kinh doanh cần ra quyết định;
- Loại bỏ các thông tin không thích hợp là các chi phí chìm, chi phí giống nhau (cả lượng và tính chất) và doanh thu như nhau của các phương án đang xem xét;
- Xác định các thông tin thích hợp;
- Ra quyết định
* Thông tin thích hợp cho việc ra quyết định đầu tư dài hạn
Quyết định đầu tư dài hạn thường là: Quyết định đầu tư tài sản mới hay tiếp tục
sử dụng tài sản cũ; mở rộng quy mô sản xuất; thuê hay mua TSCĐ; lựa chọn các thiết
bị khác trong thời gian thích hợp;
Để cung cấp thông tin cho lãnh đạo ra quyết định đầu tư, kế toán quản trị của
DN cần thực hiện các viêc sau:
- Phân loại các quyết định thành hai loại sau:
+ Quyết định có tính sàng lọc;
+ Quyết định có tính ưu tiên
- Thu thập thông tin và phân loại thông tin phù hợp với loại quyết định
- Lựa chọn một trong các phương pháp thích hợp để xác định thông tin (lập dự
án đầu tư) phù hợp với loại quyết định:
+ Phương pháp kỳ hoàn vốn;
+ Phương pháp giá trị hiện tại ròng;
+ Phương pháp tỷ lệ sinh lời điều chỉnh theo thời gian;
+ Phương pháp chỉ số sinh lời điều chỉnh theo thời gian
- Quyết định lựa chọn phương án sau khi đã có thông tin thích họp
* Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh
- Yêu cầu lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh
+ Hệ thống chỉ tiêu dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh được xây dựng riêng cho từng quá trình, như: quá trình mua hàng, quá trình sản xuất, quá trình tiêu thụ sản phẩm của hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN và chi tiết cho từng nội
Trang 37dung: Vốn bằng tiền; HTK; từng loại chi phí nghiệp vụ kinh doanh: Chi phí bán hàng; Chi phí quản lý DN; Từng loại báo cáo tổng họp: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,
+ Dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh được lập cho cả năm và chia ra các quý, các tháng trong năm Song, để việc lập dự toán được chính xác và có tính khả thi thì cuối tháng, cuối quý DN căn cứ vào tình hình thực hiện dự toán tháng, quý đó và các yếu tố ảnh hưởng của tháng, quý tiếp theo để lập dự toán
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng từng chỉ tiêu dự toán DN cần gắn với các chi tiêu dự toán khác nhằm tạo thành hệ thống các chỉ tiêu dự toán Hệ thống các chỉ tiêu dự toán bao gồm:
- Chỉ tiêu dự toán tiêu thụ sản phấm, hàng hóa, dịch vụ;
- Chỉ tiêu dự toán sản lượng sản xuất sản phẩm, dịch vụ;
- Chỉ tiêu dự toán chi phí sản xuất, dịch vụ;
- Chỉ tiêu dự toán HTK;
- Chỉ tiêu dự toán chi phí bán hàng;
- Chỉ tiêu dự toán chi phí quản lý DN;
- Chỉ tiêu dự toán vốn bằng tiền;
- Chỉ tiêu dự toán Báo cáo kết quả sản xuất, kinh doanh;
- Chỉ tiêu dự toán Bảng cân đối kế toán
* Trình tự lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh
Các bộ phận trong DN trực tiếp chịu trách nhiệm lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh của bộ phận mình Phòng kế toán DN có trách nhiệm tổng hợp dự toán của các bộ phận thành dự toán ngân sách chung của toàn DN, đồng thời chịu trách nhiệm tổ chức các cuộc họp cùng với các bộ phận liên quan để nhận ý kiến sửa đổi, bổ sung và hoàn chỉnh dự toán Đệ trình lên lãnh đạo DN Sau khi có ý kiến của lãnh đạo DN tiến hành phổ biến lại cho các bộ phận trong DN để thực hiện
1.8.3 Kế toán quản trị một số khoán mục khác
1.8.3.1 Kế toán quản trị TSCĐ
DN cần phải mở sổ kế toán chi tiết và tổng họp để phản ánh được các chỉ tiêu
Trang 38về giá trị hiện vật của quá trình quản lý, sử dụng và phân tích đảnh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ của toàn đơn vị, các bộ phận, các đối tượng TSCĐ chủ yếu đồng thời cung cấp được nhu cầu sử dụng tài sản cố định của từng bộ phận cũng như toàn DN một cách cụ thể để giúp lãnh đạo DN có cơ sở quyết định các phương án khai thác năng lực tài sản cố định hiện có và đầu tư mới thích hợp, hiệu quả
DN có thể xác định cơ cấu TSCĐ theo cách phân loại TSCĐ phù hợp, đồng thời kết hợp kế toán theo từng đối tượng TSCĐ của DN để đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch đầu tư dài hạn cho từng thời kỳ, phân tích hiệu quả
sử dụng TSCĐ cũng như các khoán tổn thất do sử dụng TSCĐ không đúng mục
đích
DN cần xác định phạm vi tổ chức kế toán quản trị cụ thể để xây dựng mô hình TK, số kế toán TSCĐ thích hợp hoặc sử dụng các tài liệu của kế toán tài chính
để phân tích
1.8.3.2 Kế toán quản trị hàng tồn kho
DN cần lập danh điểm HTK và tổ chức kế toán quản trị về số hiện có, số đã
sử dụng, đã bán cả về số lượng và giá trị phù hợp danh điểm vật tư, sản phẩm, hàng hoá đã lập theo yêu cầu quản lý nội bộ DN Để kế toán được số vật tư đã sử dụng và
số tồn kho hợp lý, DN cần xác định được phương pháp tính giá HTK phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của DN, đáp ứng được yêu cầu quản lý cũng như lập
kế hoạch cho tương lai
DN lập định mức chi phí nguyên liệu, vật liệu cho từng công việc, sản phẩm
và lập định mức dự trừ cho từng danh điểm HTK So sánh giữa định mức đã lập và thực tế thực hiện, đưa ra nhận xét và kiến nghị
1.8.3.3 Kế toán quản trị lao động và tiền lương
- Yêu cầu DN cần thực hiện được các việc sau:
+ Lập được định mức giờ công và đơn giá tiền lương cho các bậc thợ, nhân viên của DN;
+ Lập được định mức chi phí nhân công tiêu hao cho từng giai đoạn công việc, sản phẩm, dịch vụ, ;
+ Xác định và kiểm soát được thời gian làm việc của từng lao động;
Trang 39+ Tính toán đầy đủ và phân bổ chi phí nhân công vào các giá phí, trung tâm chi phí và giá thành hợp lý, phù hợp
- Phương pháp thực hiện:
DN cần thiết kế và vận hành tốt hệ thống chấm công, tính lương và bảng thanh toán lương phù hợp với các trung tâm chi phí và giá thành Áp dụng phương pháp kế toán chi phí nhân công phù hợp (với từng thời gian, điều kiện):
+ Phương pháp trực tiếp;
+ Phương pháp phân bổ: Phương pháp này áp dụng trong trường hợp người lao động cùng một lúc tham gia nhiều công việc và DN cần lựa chọn căn cứ phân bồ thích hợp
1.8.3.4 Kế toán quản trị các khoản nợ
Yêu cầu kế toán quản trị các khoản nợ là đảm bảo cung cấp được các thông tin về: Chủ nợ, loại nợ theo kỳ hạn, thời hạn thanh toán và chất lượng của khoản nợ vào bất kỳ lúc nào khi nhà quản lý cần
Căn cứ vào tình hình thực tế của DN để thiết kế các TK phản ánh các khoản nợ theo chủ nợ, khách nợ đồng thời phân tích theo chất lượng nợ và kỳ hạn thanh toán hoặc phản ánh các khoản nợ theo thời hạn nợ, đồng thời phân tích theo chủ nợ, chất lượng của khoản nợ
Kết luận chương 1
Trong chương 1, luận văn đã trình bày tổng quan về công tác KTQT như: khái niệm, bản chất, đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp, nội dung, phạm vi của KTQT; mối quan hệ giữa KTQT và KTTC thông qua việc thu thập xử lý thông tin cho các đối tượng sử dụng Bên cạnh đó, chương này cũng trình bày những đặc điểm của một hệ thống KTQT tốt, nội dung, nguyên tắc tổ chức công tác KTQT tại các DN sản xuất kinh doanh để từ đó có thể làm những tiền đề cho việc hoàn thiện tổ chức công tác KTQT tại các DN nói chung, CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội nói riêng
Trang 40CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỒNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN
TRỊ TẠI CTCP XÂY DỰNG SỐ 5 HÀ NỘI
2.1 Giới thiệu chung về CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển CTCP xây dựng số 5 Hà Nội
Tiền thân là Công trường xây dựng thực nghiệm trực thuộc Sở Xây dựng Hà Nội được thành lập tháng 10 năm 1969 Đến năm 1985, UBND Thành phố Hà Nội ban hành quyết định số 1810BXD/TCCB thành lập Công ty xây dựng số 5 Hà Nội
Từ đó đến năm 2004, công ty hoạt động dưới hình thức là một doanh nghiệp nhà nước độc lập thuộc sự quản lý của Sở Xây Dựng Hà Nội
Năm 2004, trước chủ trương của đảng và nhà nước về sắp xếp , đổi mới , phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, mô hình công ty
mẹ con được khuyến khích Theo quyết định 111/2004/QĐ-TTg của thủ tướng Chính Phủ ngày 23/6/2004 về việc thành lập Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị ( UDIC), Công ty xây dựng số 5- Hà Nội được xem là một công ty thành viên của UDIC
Năm 2006, thực hiện chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước , Công ty xây dựng số 5- Hà Nội được chính thức chuyển thành Công ty cổ phần xây dựng số 5 -
Hà Nội theo quyết định số 2713/QĐ/UBND của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội ngày 9/6/2006 và được sở kế hoạch đầu tư Hà Nội cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103012995 ngày 30/6/2006.Thời gian hoạt động kể từ ngày đăng ký kinh doanh là 30 năm Công ty có vốn góp của Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC)
Hiện nay công ty có:
Tên gọi: Công ty cổ phần xây dựng số 5- Hà Nội
Tên giao dịch: Hanoi Construction Joint - Stock Company No 5
Tên viết tắt: HCJSC5
Trụ sở: Số 101 Láng Hạ - Đống Đa- Hà Nội
Mã số thuế : 0100105493