1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế thực tiễn thi hành tại chi cục thuế quận hoàng mai, thành phố hà nội

93 187 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 5,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn phân tích và tổng kết lại những kết quả của các công trình nghiên cứu về thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính; các số liệu thu thập

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGÔ THỊ THANH HIẾU

ĐỀ TÀI

THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THUẾ- THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI.

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGÔ THỊ THANH HIẾU

ĐỀ TÀI

THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THUẾ- THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI.

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 60380102

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Hiền

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

Tác giả luận văn

Ngô Thị Thanh Hiếu

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

6 Kết cấu của Luận văn 4

Chương 1 LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THUẾ 5

1.1 Thuế và thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế 5

1.1.1 Khái niệm về thuế và quản lý thuế 5

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế 7

1.2 Nguyên tắc xây dựng thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế 14

1.2.1 Nguyên tắc tuân thủ pháp luật 14

1.2.2 Nguyên tắc phù hợp với thực tế khách quan 15

1.2.3 Nguyên tắc đơn giản, dễ hiểu, thực hiện thuận lợi 16

1.2.4 Nguyên tắc có tính hệ thống 16

1.3 Nguyên tắc thực hiện thủ tục hành chính thuế 17

1.3.1 Nguyên tắc thẩm quyền 17

1.3.2 Khi thực hiện thủ tục hành chính phải đảm bảo chính xác, khách quan, công minh 18

1.3.3 Thủ tục hành chính thuế phải rõ ràng và được thực hiện công khai 19

1.3.4 Các bên tham gia thủ tục hành chính thuế bình đẳng trước pháp luật 20

1.3.5 Thủ tục hành chính thuế được thực hiện đơn giản tiết kiệm 20

1.4 Nghĩa vụ của các cơ quan thuế trong việc thực hiện thủ tục hành chính thuế 21

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THUẾ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NÔI 24

2.1 Pháp luật về thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế - sự kế thừa và phát triển 24

2.1.1 Thủ tục về đăng ký thuế 29

Trang 5

2.1.2 Thủ tục về khai thuế 302.1.3 Thủ tục về hoàn thuế 332.1.4 Thủ tục về phát hành và sử dụng hóa đơn 342.1.5 Chuyển đổi áp dụng các phương pháp tính thuế Giá trị gia tăng 352.2 Thực tiễn thi hành thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế tại Chi cục thuế Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội 362.2.1 Tổ chức và hoạt động của Chi cục thuế Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội 362.2.2 Những thành tựu trong việc xây dựng thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế và thực hiện thủ tục hành chính thuế tại Chi cục thuế quận

Hoàng Mai 392.2.3 Những hạn chế cần khắc phục trong việc xây dựng thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế và thực hiện thủ tục hành chính thuế tại Chi cục thuế Quận Hoàng Mai 44

Chương 3 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ XÂY DỰNG THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THUẾ, NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THUẾ 58

3.1 Nhận thức mới về hoạt động quản lý hành chính trong lĩnh vực thuế 583.2 Đề xuất về xây dựng, sửa đổi thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế 593.2.1 Thường xuyên rà soát các thủ tục hành chính thuế để loại bỏ các thủ tục còn phức tạp gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp 593.2.2 Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm sự tham gia của công chúng vào quá trình xây dựng, sửa đổi các thủ tục hành chính thuế 603.2.3 Chú trọng đánh giá tác động của việc xây dựng, sửa đổi thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế 623.3 Chuẩn hóa lại bộ thủ tục hành chính thuế phù hợp với quy định pháp luật hiện hành; nghiêm túc thực hiện quy định về công khai, minh bạch trong thực hiện thủ tục hành chính thuế 653.4 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức ngành thuế cả về

chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức công vụ 663.5 Tăng cường hiệu quả hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về thủ tục hành chính thuế 703.6 Hiện đại hoá nền hành chính nói chung và hoạt động quản lý trong lĩnh vực thuế nói riêng 71

KẾT LUẬN 74

Trang 6

1

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Thủ tục hành chính là công cụ điều hành cần thiết của các cơ quan hành chính, không thể tách rời khỏi hoạt động của các cơ quan hành chính Trong các văn bản của chính phủ về cải cách nền hành chính luôn chú trọng vào cải cách thủ tục hành chính lấy Cải cách thủ tục hành chính là "khâu đột phá của cải cách hành chính"

Thuế là công cụ quản lý kinh tế quan trọng của quyết định đến tồn tại và phát triển của một quốc gia Trong quá trình đổi mới, phát triển kinh tế xã hội

và hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam đã có những thay đổi lớn về chính sách kinh tế hướng tới xây dựng nền kinh tế thị trường, với nhiều thành phần kinh

tế tham gia Đi cùng với nó là yêu cầu ngày càng khó khăn và phức tạp hơn đối với hoạt động quản lý trong lĩnh vực thuế Thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế của Việt Nam được các chuyên gia trong nước và quốc tế đánh giá là rườm rà, phức tạp gây khó khăn cho các doanh nghiệp, cá nhân

Trong nhiều năm liền thực hiện cải cách thủ tục hành chính về thuế, Chính phủ, các bộ ban ngành và đội ngũ công chức đã có nhiều nỗ lực; thu được nhiều thành tựu nhưng chưa đáp ứng hoàn toàn được yêu cầu từ phía người dân và mục tiêu đề ra của nhà nước

Chi cục thuế Quận Hoàng Mai, TP Hà Nội là quận nội thành được thành lập năm 2004 Đến hết năm 2016, Chi cục thuế Quận Hoàng Mai TP Hà Nội quản lý khoảng 10 nghìn tổ chức, doanh nghiệp và hơn 7 nghìn hộ cá nhân kinh doanh trên địa bàn Quận; số thuế thu ngân sách đạt 3.200 tỷ đồng Là một Quận có đối tượng quản lý đa dạng, số lượng lớn; Chi cục thuế Hoàng Mai hàng năm tiếp nhận và giải quyết hơn 100 nghìn lượt thủ tục hành chính

Vì vậy, việc nghiên cứu những cơ sở lý luận, nghiên cứu thực tiễn tình hình thực hiện thủ tục hành chính từ đó nhận thức được thực trạng và đưa ra

Trang 7

2

những kiến nghị hoàn thiện hơn việc xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế là điều cấp thiết

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về thủ tục hành chính Thủ tục hành chính được đưa vào giảng dạy trong môn học Luật Hành chính của các trường đào tạo chuyên ngành Luât, trường Học viện Hành Chính đưa thủ tục hành chính vào nội dung chương trình đào tạo là một môn học độc lập Cải cách thủ tục hành chính cũng là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm khi thực hiện luận văn, luận án Có thể kể đến một

số công trình như: Nguyễn Phúc Sơn (2014), Cải cách thủ thục hành chính-

Thông qua thực tiễn tỉnh Nam Định, luận văn thạc sỹ luật học, Đại học quốc

gia Hà Nội; Nguyễn Văn Linh (2015), Thực hiện pháp luật về giải quyết thủ

tục hành chính của cơ quan nhà nước cấp Tỉnh ở Việt Nam hiện nay, Luận án

Tiến sỹ luật học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Đặng Ngọc Thanh

(2014), Cải cách thủ tục hành chính ở ủy ban nhân dân xã, thị trấn tại huyện

Quảng Xương, Thanh Hóa, luận văn thạc sỹ luật học, Đại học quốc gia Hà

Nội; Vũ Thị Thanh Hương (2017), Cải cách thủ tục hành chính tại Ủy bạn

nhân dân Huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, Luận văn thạc sỹ quản lý công,

Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Tuy nhiên chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp vấn đề về

“thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế”

Trong luận văn này, tôi xin tìm hiểu rõ hơn về đề tài: “Thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế- Thực tiễn thi hành tại Chi cục thuế Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội” với mong muốn có hiểu biết sâu sắc hơn về những vấn đề lý luận cũng như thực trạng quy định pháp luật và thực tế thực hiện thủ tục hành chính thuế ở Việt Nam trong thời gian gần đây để từ đó đưa ra một

Trang 8

3

số kiến nghị về giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động cải cách thủ tục hành chính thuế

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Những vấn đề lý luận về thủ tục hành chính trong lĩnh thuế: khái niệm và đặc điểm của thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế…; thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực thi quy định tại Chi cục thuế Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; kiến nghị một số biện pháp nhằm hoàn thiện quy định về xây dựng thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính thuế

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Lịch sử hình thành và phát triển quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế; thực trạng quy định pháp luật

và thực tiễn thi hành pháp luật về thủ tục hành chính Thuế ở Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu và hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu thông thường của khoa học

xã hội và luật học như:

- Phương pháp lịch sử: Tìm hiểu những quy định pháp luật về thủ tục hành chính thuế trong lịch sử pháp luật Việt Nam để nắm rõ về sự hình thành

và thay đổi, quy luật thay đổi theo mỗi giai đoạn

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn phân tích và tổng kết lại những kết quả của các công trình nghiên cứu về thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính; các số liệu thu thập được trên thực tế liên quan đến hoạt động giải quyết thủ tục hành chính và đưa ra những nhận xét, đánh giá của bản thân từ đó căn cứ vào điều kiện thực tế đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật Việt Nam về xây dựng thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính thuế

Trang 9

4

Nguồn tài liệu nghiên cứu để hoàn thành Luận văn là các văn bản pháp luật quốc gia liên quan đến đề tài nghiên cứu, các báo cáo, nghiên cứu, tổng kết, đánh giá của các cơ quan nhà nước cũng như của các chuyên gia về pháp luật Bên cạnh đó, luận văn còn được hoàn thành trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo một số bài viết về vấn đề này trên các tạp chí, website, diễn đàn nghiên cứu về tài chính, luật học

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn nhằm đóng góp vào việc làm rõ hơn những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế Đồng thời, luận văn cũng đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động xây dựng các quy định và thực thi pháp luật về thủ tục hành chính thuế trên thực tế

6 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì luận văn gồm các phần chính sau:

Chương 1: Lý luận về thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế và thực tiễn thi hành tại Chi cục thuế Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội

Chương 3: Một số đề xuất hoàn thiện quy định về xây dựng thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính thuế

Trang 10

5

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THUẾ 1.1 Thuế và thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế

1.1.1 Khái niệm về thuế và quản lý thuế

Thuế là hiện tượng tất yếu, xuất hiện và tồn tại cùng với các hiện tượng kinh tế - xã hội khác Sự xuất hiện, phát triển của thuế gắn với mỗi giai đoạn, lợi ích mà nhà nước sử dụng nó làm công cụ điều tiết nguồn thu của nền kinh

tế xã hội ấy

Để đưa ra khái niệm mới về thuế hoàn toàn không đơn giản Các nhà kinh tế học đã có quá trình nghiên cứu sâu sắc ở nhiều khía cạnh khác nhau

nhằm tìm khái niệm thuế theo cách đánh giá của mình Các Mác viết: “Thuế

là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của nhà nước”

1

Bằng cách định nghĩa khác, các nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng thuế là:

“Một hình thức phân phối thu nhập tài chính của Nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào quyền lực chính trị, tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế và không hoàn lại” 2 Ở khía cạnh nghiên cứu thuế với tư cách là một nội dung điều chỉnh của luật pháp, các

chuyên gia về luật thuế cũng đã nhận định “thuế là một trật tự xã hội đã được

thiết lập hòa bình giữa chính phủ với cộng đồng trong sự tôn trọng thực hiện nghĩa vụ thu, nộp vào ngân sách Thuế không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào giữa các bang hay vùng lãnh thổ” 3

Trang 11

Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà nước lên nền kinh tế quốc dân, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ cấu có thể có để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra, trong điều kiện hội nhập

và mở rộng giao lưu quốc tế Trong khi đó quản lý tài chính công là quá trình Nhà nước hoạch định, xây dựng chính sách, chế độ; sử dụng hệ thống các công cụ và phương pháp thích hợp tác động đến các hoạt động của tài chính công, làm cho chúng vận động phù hợp với yêu cầu khách quan của nền kinh tế- xã hội, nhằm phục vụ tốt nhất cho việc thực hiện các chức năng do Nhà nước đảm nhận Quản lý thuế rõ ràng là một nội dung của quản lý nhà nước

về kinh tế Ngoài ra, nó là một nhánh quan trọng của quản lý tài chính công

Do vậy, khái niệm quản lý thuế cũng có một số nét tương đồng với hai khái niệm trên

Quản lý thuế là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu ngân sách nhà nước thực hiện Đó là những hoạt động thường xuyên của cơ quan thu hướng về phía đối tượng nộp nhằm bảo đảm thu thuế đầy

đủ, kịp thời và đúng luật định Với quan niệm như vậy, quản lý thuế là quản lý thu thuế Nó bao gồm xây dựng kế hoạch thu thuế, tổ chức các biện pháp hành thu và tổ chức bộ máy ngành thuế Tuy nhiên thực tế cho thấy quản lý nhà nước về thuế không đồng nhất với quản lý thu thế Quản lý thuế là quá trình nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ và phương pháp

Trang 12

7

thích hợp tác động lên đối tượng của quản lý thuế làm cho chúng vận động phù hợp với mục tiêu đặt ra

Trong hoạt động quản lý, các vấn đề về chủ thể quản lý, đối tượng quản

lý, công cụ và phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý là những yếu tố trung tâm đòi hỏi phải được xác định đúng đắn

Đối tượng của quản lý thuế là các quan hệ phát sinh trước, trong và sau quá trình triển khai tổ chức thu nộp thuế cho nhà nước Các quan hệ này có thể diễn ra giữa cơ quan thuế với người nộp thuế, giữa người nộp thuế với nhau, giữa nội bộ cơ quan thuế, thậm chí giữa cơ quan thuế trong nước với cơ quan thuế các nước khác… vì vậy nó hết sức đa dạng và phức tạp đòi hỏi phải

có các công cụ và phương pháp quản lý thích hợp

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế

Theo nghĩa chung nhất, thủ tục là phương thức, cách thức giải quyết công việc theo một trật tự nhất định, một thể lệ thống nhất, gồm một loạt nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau để đạt được kết quả mong muốn

Hoạt động của các cơ quan nhà nước cần phải tuân theo pháp luật, trong

đó có những quy định về trình tự, cách thức sử dụng thẩm quyền của từng cơ quan để giải quyết công việc theo chức năng nhiệm vụ được giao Khoa học pháp lý gọi đó là những quy phạm thủ tục Quy phạm này quy định về các loại thủ tục trong hoạt động quản lý nhà nước như: thủ tục lập pháp, thủ tục tố tụng tư pháp, thủ tục hành chính

Theo quy định của pháp luật và thực tiễn quản lý nhà nước ở nước ta, hoạt động chấp hành và điều hành (hành pháp) của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện bằng những hoạt động liên tục theo một trình

tự nhất định nhằm đạt mục đích quản lý đã được đề ra Đó là thủ tục quản lý hành chính nhà nước, được gọi là thủ tục hành chính

Trang 13

Quan niệm khác thì cho rằng thủ tục hành chính là trình tự giải quyết bất

kì một nhiệm vụ cá biệt, cụ thể nào trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước Như vậy, ngoài thủ tục xử lý các vi phạm hành chính, thì các thủ tục cấp giấy phép, thủ tục đăng kí các sự kiện, sự việc nhất định hay thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo… cũng được coi là thủ tục hành chính Quan niệm này

đã xác định phạm vi các hoạt động được coi là quản lý hành chính theo thủ tục hành chính rộng hơn nhưng vẫn chưa thật đầy đủ, hợp lý Bởi vì ngoài trình tự giải quyết bất kì một vụ việc cá biệt, cụ thể nào, thì hoạt động ban hành các quyết định quản lý mang tính chủ đạo và mang tính quy phạm, một trong những hoạt động quan trọng của quản lý hành chính, cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt những thủ tục nhất định nhằm đảm bảo tính hợp pháp và hợp lý của các quyết định được ban hành

Nghị định 63/2010/NĐ-CP ngày 6/8/2010 của chính phủ về kiểm soát

thủ tục hành chính quy định: “thủ tục hành chính là trình tự, cách thức

thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân,

tổ chức” Trong định nghĩa này, thì thủ tục hành chính được hiểu không chỉ

là trình tự thực hiện công việc mà còn bao gồm cách thức thực hiện, hồ sơ

và các yêu cầu điều kiện để giải quyết công việc Tuy nhiên, định nghĩa về thủ tục hành chính theo nghị định 63/2010/NĐ-CP cũng bộc lộ những hạn chế như chưa xác định được phạm vi những công việc được giải quyết theo thủ tục hành chính nên không làm nổi bật được thủ tục hành chính là thủ tục thực hiện thẩm quyền trong quản lý hành chính nhà nước hay chỉ hiểu

Trang 14

9

thủ tục hành chính là thủ tục giải quyết những công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức mà không bao gồm những thủ tục hành chính trong nội bộ các cơ quan nhà nước và đặc biệt là thủ tục xử lý vi phạm hành chính, thủ tục thanh tra (Điều 1 nghị định 63/2010/NĐ-CP) là những nhóm thủ tục hành chính quan trọng

Theo Nghị quyết 38/CP ngày 4/5/1994 của chính phủ về Cải cách một bước thủ tục hành chính trong giải quyết công việc của công dân tổ chức, Quyết định 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt chương trình tổng thể về các cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-

2010 thì thủ tục hành chính có nội dung rất rộng bao gồm:

- Số lượng những hoạt động cụ thể cần thực hiện để tiến hành những hoạt động quản lý hành chính nhất định; nội dung của các hoạt động đó

- Trình tự thực hiện và mối liên hệ giữa các hoạt động đó;

- Thẩm quyền của các cơ quan, cá nhân trong cơ quan nhà nước trong thực hiện những công việc cụ thể

- Cách thức tiến hành, thời hạn tiến hành các hoạt động cụ thể

Cách hiểu về thủ tục hành chính với nội dung như vậy có thể coi là đầy

đủ nhất Cách hiểu này không chỉ giúp các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật xác định rõ những nhiệm vụ cụ thể cần giải quyết đối với từng cơ quan, người có thẩm quyền theo một trình tự bắt buộc về thời gian để hoàn thành từng hoạt động quản lý hành chính nhất định làm cơ sở cho những hoạt động quản lý hành chính trên thực tế, cũng như hạn chế việc các cơ quan, người có thẩm quyền tùy tiện đặt ra những công việc buộc công dân phải thực hiện khi tham gia vào những thủ tục hành chính

Vậy “thủ tục hành chính là cách thức tổ chức thực hiện hoạt động quản

lý hành chính nhà nước theo đó các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền

Trang 15

10

trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn; cá nhân, tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ theo một trình tự nhất định nhằm giải quyết các công việc của quản lý hành chính nhà nước” 4

Cũng như các lĩnh vực quản lý nhà nước khác, quản lý nhà nước về thuế đòi hỏi các hoạt động nhà nước phải tuân theo những quy tắc pháp lý quy định về trình tự, cách thức khi sử dụng thẩm quyền để xử lý công việc Các quy tắc pháp lý này là các quy phạm thủ tục, là một bộ phận của pháp luật hành chính

Thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế là một loại cụ thể của thủ tục hành chính, vì vậy khái niệm thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế thống nhất với những nội dung cơ bản về thủ tục hành chính

“Thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế là cách thức tổ chức thực hiện

hoạt động quản lý hành chính nhà nước về thuế theo đó các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn; cá nhân, tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ theo một trình tự nhất định nhằm giải quyết các công việc của quản lý thuế”

Căn cứ vào tính chất công việc được tiến hành, thủ tục hành chính trong

lĩnh vực thuế được chia thành hai nhóm

Thứ nhất: Các thủ tục hành chính nội bộ trong quản lý thuế Bao gồm

các thủ tục hành chính trong việc cơ cấu tổ chức, nhân sự trong nội bộ cơ quan thuế; các thủ tục quan hệ lãnh đạo, kiểm tra của các cơ quan thuế cấp trên với cơ quan thuế cấp dưới; quan hệ hợp tác, phối hợp giữa các cơ quan cùng cấp, ngang cấp, ngang quyền; phân cấp đối tượng quản lý giữa các cơ quan thuế; thủ tục về khen thưởng, kỉ luật… Đây là những thủ tục chủ yếu

Hà Nội, Tr 144

Trang 16

11 được thực hiện trong nội bộ các cơ quan nhà nước hoặc giữa các cơ quan thuế với nhau trong quản lý nhà nước về thuế

Thứ hai: Các thủ tục hành chính liên hệ trong quản lý nhà nước về lĩnh

vực thuế Đây là những thủ tục để tiến hành giải quyết các công việc liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của công dân theo các quy định nội dung; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế; … Khi thực hiện các thủ tục này, cơ quan thuế và các công chức thuế có thẩm quyền thực hiện quyền lực nhà nước bằng các hoạt động áp dụng quy phạm pháp luật thuế để giải quyết các công việc, tình huống cụ thể, làm xuất hiện các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của người nộp thuế Kết quả của thủ tục này thường là các quyết định hành chính hay các văn bản hành chính nhà nước

Trong phạm vi Luận văn tác giả xin được giới hạn phạm vi nghiên cứu là thủ tục hành chính liên hệ trong lĩnh vực thuế Từ khía cạnh này, thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế được điều chỉnh bằng

quy phạm thủ tục- là cơ sở pháp lý cho các cơ quan quản lý thuế thực hiện chức năng của mình

Thủ tục hành chính là một bộ phận cấu thành của hệ thống quy phạm thủ tục Hệ thống quy phạm thủ tục là toàn bộ các quy tắc pháp lý quy định về trình tự, trật tự thực hiện thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết công việc công việc nhà nước và thực hiện nghĩa vụ hành chính đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân Đó cũng chính là các hệ thống các nguyên tắc quản lý và điều hành bắt buộc các cơ quan nhà nước cũng như các công chức phải tuân theo trong giải quyết công việc thuộc thẩm quyền của mình

Trang 17

12

Là quy phạm thủ tục, thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế có chức năng làm cho các quy phạm nội dung của pháp luật thuế được thực hiện thuận lợi Thiếu thủ tục hành chính việc thực thi luật pháp sẽ gặp khó khăn, thậm chí không có khả năng đi vào đời sống thực tế Ví dụ: Nhà nước muốn thu thuế thì cần có thủ tục để người dân thực hiện việc nộp thuế

Hoạt động quản lý thuế chủ yếu là hoạt động áp dụng pháp luật mà ở đó, hành vi áp dụng pháp luật liên quan chủ yếu đến việc xác định tình trạng thực

tế của vụ việc, lựa chọn quy phạm pháp luật tương ứng và ra quyết định về vụ việc đó Các hành vi áp dụng pháp luật này được tiến hành theo những thủ tục hành chính nhất định Như vậy nếu thiếu các thủ tục cần thiết thì quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong hoạt động quản lý sẽ không được đảm bảo thực hiện

Thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế là một nhân tố bảo đảm cho sự hoạt động chặt chẽ, thuận lợi và đúng chức năng quản lý của cơ quan nhà nước, vì nó là chuẩn mực hành vi cho tổ chức, cá nhân và công chức thuế để

họ tuân theo và thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà nước Dựa vào các thủ tục hành chính các công việc hành chính sẽ được xử lý và đạt được những hiệu quả pháp luật đúng như dự định

Thứ hai, thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế là trình tự thực hiện thẩm

quyền trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước

Xét trong quá trình giải quyết công việc của các cơ quan hành chính nhà nước thì thủ tục hành chính là cách thức, trình tự mà các cơ quan hành chính nhà nước áp dụng để giải quyết các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật Trình tự này có thể từ dưới lên, từ cấp trên xuống mà cũng có những trình tự thực hiện song hành

Nói như vậy có nghĩa là thủ tục hành chính được phân biệt với thủ tục lập pháp và thủ tục tố tụng pháp Thủ tục lập pháp là trình tự, cách thức xây

Trang 18

13

dựng Hiến pháp và ban hành luật thuộc thẩm quyền của cơ quan lập pháp; thủ tục tố tụng tư pháp thuộc thẩm quyền của cơ quan tư pháp liên quan đến những hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, định tội

Thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế được thực hiện chủ yếu bởi các

cơ quan quản lý thuế thuộc hệ thống cơ quan thực hiện chức năng hành pháp

Thứ ba, thủ tục hành chính thuế rất đa dạng và phức tạp Tính đa dạng

phức tạp được biểu hiện như sau:

+ Do nhiều cơ quan và công chức nhà nước thực hiện;

+ Quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia mối quan hệ hành chính, trong đó bao gồm cả công việc của các cơ quan quản lý thuế và tổ chức, cá nhân;

+ Việc quy định thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế phải kết hợp với những khuôn mẫu ổn định tương đối và chặt chẽ với các biện pháp thích ứng cho từng loại công việc và từng loại đối tượng;

+ Nền hành chính nhà nước hiện nay đang chuyển từ hành chính cai quản sang hành chính phục vụ đã tác động mạnh mẽ vào thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế;

+ Thực hiện chủ yếu ở các cơ quan quản lý thuế, gắn liền với công tác văn thư

và tổ chức ban hành, quản lý văn bản, giấy tờ;

+ Do chủ thể cơ quan hành chính nhà nước xây dựng để giải quyết công việc nên phụ thuộc rất nhiều vào ý chí chủ quan của chủ thể ban hành;

+ Trong bối cảnh của quá trình hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay, các thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế có yếu tố nước ngoài cần phải phù hợp với thông lệ quốc tế

Trang 19

14

Thứ tư, thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế có tính năng động hơn so

với các quy phạm nội dung của luật hành chính, đòi hỏi phải thay đổi nhanh hơn để thích ứng và phù hợp với nhu cầu thực tế của đời sống xã hội

Đây chính là yếu tố cần nhận thức đúng đắn giúp cho các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền ban hành các quy định phù hợp với thực tế khách quan

và tiến trình phát triển kinh tế xã hội

1.2 Nguyên tắc xây dựng thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế

Xây dựng thủ tục hành chính thuế là việc nghiên cứu để đề ra những cách thức giải quyết công việc nhằm giải quyết các quy định nội dung của luật pháp và đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tế Sau đây là một số nguyên tắc chủ yếu cần được áp dụng thống nhất:

1.2.1 Nguyên tắc tuân thủ pháp luật

Thủ tục hành chính thuế phải được xây dựng phù hợp pháp luật hiện hành của nhà nước, có tính hệ thống, nhằm tạo được một công cụ quản lý hữu hiệu cho cơ quan thuế nói riêng và cho bộ máy nhà nước nói chung

Theo nguyên tắc này, chỉ có những cơ quan nhà nước có thẩm quyền do luật định mới được ban hành thủ tục hành chính thuế

Nghị quyết của Chính phủ số 38-CP ngày 04-05-1994 về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức quy định: Ngoài luật, pháp lệnh và các văn bản pháp quy của Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ, chỉ bộ trưởng mới có quyền quy định các thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của mình và chịu trách nhiệm trước chính phủ về các quy định đó Việc quy định mới hoặc bổ sung, sửa đổi bãi bỏ các quy định

về thủ tục hành chính đã có phải được thể hiện bằng văn bản, đảm bảo tính đồng bộ, chính xác, không được trái với luật, pháp lệnh và các văn bản pháp quy của Chính phủ và Thủ tướng chính phủ Các quy định thủ tục hành

Trang 20

15

chính phải đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện và phải được công bố công khai

để mọi người, cơ quan, đơn vị và nhân dân biết

Như vậy, việc xây dựng các thủ tục hành chính dù thuộc ngành nào cũng phải đảm bảo các thủ tục không trái pháp luật, không mâu thuẫn với các văn bản của cấp trên, phải thực hiện đúng trình tự với phương tiện, biện pháp, hình thức được pháp luật cho phép Việc xây dựng các thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế thuế không tuân thủ với nguyên tắc này sẽ dẫn đến việc phá vỡ tính hệ thống của các thủ tục hành chính, làm rối loạn kỷ cương xã hội, tạo điều kiện cho nạn tham nhũng, lợi ích nhóm phát triển và gây ra những hậu quả khôn lường khác Vì vậy, nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền khi ban hành các thủ tục hành chính thuế phải chịu trách nhiệm trước pháp luật

1.2.2 Nguyên tắc phù hợp với thực tế khách quan

Việc xây dựng thủ tục hành chính thuế phải dựa trên cơ sở nhận thức đầy

đủ những yêu cầu khách quan của tiến trình phát triển xã hội Với tinh thần đổi mới toàn diện đất nước, trong công cuộc xây dựng một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa một nên kinh tế mở, đa phương hóa và

đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, việc xây dựng hệ thống thủ tục hành chính thuế sao cho tạo điều kiện tốt cho các hoạt động của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh có thể phát triển đúng hướng, đồng thời ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục được các mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trương là một yêu cầu bức xúc, một nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước

Thuế là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô của nhà nước, thủ tục hành chính thuế phải được xây dựng sao cho phù hợp với tình hình thực tế vừa tạo điều kiện cho các hoạt động của các thành phần kinh tế vừa thực hiện quản lý thu nộp thuế thực thi hữu hiệu Nếu thiếu hiểu biết khách quan đặt ra thủ tục

Trang 21

16

hành chính thuế thì rất dễ gây ra tác động tiêu cực đến cả nền kinh tế Thủ tục hành chính thuế phải tạo điều kiện để khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư trong cũng như ngoài nước để phát triển kinh tế một cách mạnh mẽ

Cùng với việc xây dựng các thủ tục thuế mới, chúng ta cũng cần kịp thời sửa đổi, bãi bỏ những thủ tục xét thấy lỗi thời để tạo điều kiện tốt cho các hoạt động của nền kinh tế thị trường phát triển đúng hướng

1.2.3 Nguyên tắc đơn giản, dễ hiểu, thực hiện thuận lợi

Thủ tục hành chính thuế phải được xây dựng trên cơ sở quan tâm đầy đủ đến nguyện vọng và sự thuận tiện cho người nộp thuế Cần nhanh chóng loại bỏ những thủ tục rườm rà, phức tạp quá mức cần thiết, bởi lẽ chúng làm cho người thực hiện cũng như người tham gia khó hiểu, khó thực hiện, khó chấp hành, và cũng chính những loại thủ tục như thế là mảnh đất màu mỡ cho bệnh quan liêu, cửa quyền phát triển Thủ tục đơn giản sẽ cho phép tiết kiệm sức lực, tiền của của cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình, đồng thời, cũng hạn chế việc lợi dụng chức quyền vi phạm tự do của công dân

Theo nguyên tắc này, các thủ tục hành chính thuế khi ban hành cần có sự giải thích cụ thể, rõ ràng Phải chỉ rõ không những nội dung của thủ tục mà

cả về phạm vi áp dụng nó Cần tránh tình trạng thủ tục hành chính thuế khi ban hành không có điều kiện để thực thi do đối tượng không hiểu được thủ tục một cách rõ ràng hoặc do các yêu cầu đặt ra không thể đáp ứng được trên thực tế Cần đảm bảo rằng mọi thủ tục hành chính thuế đều được công khai cho mọi người biết để tuân thủ Việc công khai như vậy còn có ý nghĩa là để kiểm tra được tính nghiêm túc của cơ quan thuế khi giải quyết các công việc có liên quan đến cá nhân, tổ chức

1.2.4 Nguyên tắc có tính hệ thống

Nguyên tắc này là hệ quả của nguyên tắc tuân thủ pháp luật và thực hiện được nguyên tắc này sẽ tạo điều kiên thuận lợi cho việc thực hiện nguyên

Trang 22

cơ quan thuế Ngoài ra thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế phải đồng bộ với các hoạt động quản lý khác đặc biệt là quy định thủ tục về đăng ký kinh doanh và hoạt động chuyên môn nghề nghiệp

Đây là một nguyên tắc rất quan trọng vì nếu các thủ tục hành chính về thuế không có tính hệ thống thì khi thực hiện sẽ tạo ra một sự hỗn loạn trong công việc mà không thể kiểm soát được

1.3 Nguyên tắc thực hiện thủ tục hành chính thuế

1.3.1 Nguyên tắc thẩm quyền

Nguyên tắc này thể hiện rõ nhất trong thủ tục hành chính Theo đó, chỉ có

cơ quan nhà nước, công chức nhà nước có thẩm quyền do pháp luật quy định mới được thực hiện các thủ tục hành chính về thuế và phải thực hiện đúng trình tự với những phương tiện, biện pháp và hình thức được pháp luật cho phép Chính các cơ quan nhà nước đề ra các thủ tục để giải quyết công việc trên nguyên tắc phù hợp với chức năng quản lý được giao và theo thẩm quyền

do pháp luật quy định, do đó cũng có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục được ban hành

Nghĩa vụ thực hiện thủ tục hành chính về thuế đòi hỏi cần có những quy định rõ ràng về chế độ cộng vụ và quy chế làm việc để tránh tình trạng vô trách nhiệm trong công tác, nhằm giảm bớt phiền hà cho người dân trong quá trình giải quyết công việc có liên quan đến công dân Nhà nước phải quy rõ trách nhiệm của các cán bộ, công chức thuế trong việc tiếp nhận giải quyết đơn

Trang 23

18 thư khiếu kiện của nhân dân, để đảm bảo yêu cầu không đùn đẩy trách nhiệm

từ cơ quan, đơn vị, cá nhân này sang cơ quan, đơn vị, cá nhân khác

Nguyên tắc thẩm quyền còn liên quan đến nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền: Các quyết định ban hành không đúng thủ tục phải

bị đình chỉ, sửa đổi hoặc bãi bỏ và cơ quan, người ban hành quyết định đó có

thể bị truy cứu trách nhiệm

1.3.2 Khi thực hiện thủ tục hành chính phải đảm bảo chính xác, khách quan, công minh

Tính chính xác, khách quan khi thực hiện thủ tục hành chính thuế thể hiện ở việc cơ quan thuế tiến hành thủ tục phải có đủ tài liệu, chứng cứ khi xem xét giải quyết công việc, đảm bảo thực hiện đúng các yêu cầu của thủ tục nhằm giải quyết một cách đúng đắn nhất các công việc của nhà nước, các kiến nghị, yêu cầu hợp pháp của công dân, tổ chức Khi thực hiện thủ tục hành chính thuế, công chức thuế phải bảo đảm tính khách quan, không vì vụ lợi mà gây thiệt hại cho nhà nước, tập thể và cá nhân Để thực hiện tốt nguyên tắc này đòi hỏi:

Thứ nhất, các cơ quan thuế có quyền được yêu cầu cung cấp thông tin,

và các cơ quan, tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ cung cấp một cách chính xác, đầy đủ các thông tin khi được yêu cầu Ngoài ra các cơ quan thuế phải có một chế độ công vụ rõ ràng và khoa học, có sự phân công trách nhiệm rõ ràng, rành mạch tránh tình trạng người nộp thuế phải cung cấp một thông tin nhiều lần cho cơ quan thuế

Thứ hai, các cơ quan thuế cần có công chức có trình độ nghiệp vụ để

thực thi công vụ, có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn và có trách nhiệm cao với công việc được giao và đảm bảo được trang bị những phương tiện vật chất phù hợp, cần thiết phục vụ cho việc bảo quản, xử lý, lưu trữ và tìm kiếm thông tin như hệ thống sổ sách, các thiết bị công nghệ thông tin…

Trang 24

19

Chính vì vậy, ngành thuế phải có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, giáo dục đạo đức chính trị tư tưởng, có chế độ đãi ngộ hợp lý và trang bị những phương tiện vật chất đầy đủ

1.3.3 Thủ tục hành chính thuế phải rõ ràng và được thực hiện công khai

Thủ tục hành chính thuế phải rõ ràng Đây là một nguyên tắc quan trọng

vì sự thiếu rõ ràng của hệ thống thủ tục hành chính thuế trong việc giải quyết các nhu cầu, đề nghị của công dân, tổ chức gây nhiều khó khăn cho công dân,

tổ chức khi đến cơ quan thuế để giải quyết một vấn đề nào đó Sự không rõ ràng của thủ tục hành chính cũng nảy sinh tiêu cực trong thực hiện thủ tục hành chính thuế Bởi vì người dân không biết mình phải thực hiện những quy định gì, các quy định đó được giải quyết ở đâu? Do sự không rõ ràng này mà trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính, công chức thuế đã lợi dụng gây khó dễ hoặc gây ra sự chậm trễ Thủ tục hành chính thuế rõ ràng đòi hỏi thủ tục hành chính phải được xây dựng một cách khoa học, hợp lý, dễ hiểu và dễ thực hiện

Thủ tục hành chính thuế phải công khai Công khai hoá quy trình, thủ tục hành chính, đặc biệt trong việc giải quyết các yêu cầu, đề nghị của người nộp thuế là đều kiện góp phần tăng hiệu quả thực hiện thủ tục hành chính thuế Công dân, các tổ chức biết rõ được họ cần phải làm gì, cần chuẩn bị những vấn đề gì, loại giấy tờ gì trước khi đến cơ quan thuế Mặt khác công chức khi thực thi công vụ sẽ không có điều kiện để lợi dụng, sách nhiễu, gây phiền hà cho người nộp thuế Công khai còn là cơ sở để kiểm tra quá trình thực hiện thủ tục, do đó nó là căn cứ để đánh giá trách nhiệm của nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ với dân, nâng cao trách nhiệm của cơ quan thuế, cán bộ công chức thuế khi thực hiện thủ tục hành chính

Như vậy, công khai các thủ tục hành chính cũng là sự biểu hiện cao nhất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho hệ thống pháp luật được thực

Trang 25

+ Đối với chủ thể thực hiện thủ tục hành chính thuế, phải giải quyết yêu cầu, đòi hỏi của cá nhân, tổ chức khi đề nghị của họ có đủ điều kiện theo luật định Cần tránh tình trạng yêu cầu của dân gửi đến cơ quan thuế không được giải quyết kịp thời, mặc dù thủ tục hoàn toàn đầy đủ, chính xác

Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này, đòi hỏi những quy định về thủ tục hành chính về phải rõ ràng, cụ thể, quy định rõ trách nhiệm, nội dung, thời hạn giải quyết công việc của cơ quan nhà nước, cán bộ có thẩm quyền

1.3.5 Thủ tục hành chính thuế được thực hiện đơn giản tiết kiệm

Thực tế, thủ tục hành chính thuế còn rườm rà, phức tạp qua nhiều cửa khác nhau vì vậy, nguyên tắc thủ tục hành chính được thực hiện đơn giản, tiết kiệm có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, giảm phiền hà, tốn kém cho cá nhân và tổ chức

Thủ tục hành chính thuế đơn giản, tiết kiệm sẽ là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển kinh tế Điều này đòi hỏi phải giảm bớt các cấp, các cửa các giai đoạn Giảm tới mức tối thiểu và trong nhiều thủ tục bỏ hẳn các loại phí, lệ phí đối với

cá nhân, tổ chức Do đó, nhà nước phải rà soát lại các văn bản pháp luật về thủ

Trang 26

21

tục hành chính thuế, bãi bỏ các cửa, các cấp các khâu và các loại giấy tờ không cần thiết; Cần có sự phân công rành mạch rõ ràng trách nhiệm giữa các cơ quan, bộ phận trong cùng một cơ quan và từng cán bộ có thẩm quyền, tránh sự chồng chéo chức năng nhiệm vụ, sự đùn đẩy trách nhiệm; Cần phải nhanh nhạy

sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin vào việc thực hiện thủ tục hành chính thuế; Nâng cao trình độ nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm, kỹ năng giao tiếp của cán bộ, công chức thực hiện thủ tục hành chính thuế

1.4 Nghĩa vụ của các cơ quan thuế trong việc thực hiện thủ tục hành chính thuế

Hiệu quả thực hiện thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính thuế

có mối liên quan trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của các cơ quan thuế trong việc tổ chức và thực hiện các thủ tục hành chính thuế Để tổ chức và thực hiện giải quyết thủ tục hành chính đạt kết quả tốt, các cơ quan thuế cần đáp ứng được các yêu cầu:

* Nghĩa vụ quy định rõ ràng chế độ công vụ Thủ tục hành chính thuế liên quan đến thể chế quản lý, tổ chức bộ máy, chế độ công vụ, quy chế làm việc

và sự phối hợp giữa các cơ quan hành chính, giữa các cơ quan thuế theo ngành dọc Do vậy, các cơ quan thuế phải quy định một cách hợp lý về thể chế quản lý, phân công, phân nhiệm rõ ràng để tránh tình trạng vô trách nhiệm, giảm bớt phiền hà khi giải quyết công việc Cụ thể là các cơ quan thuế phải xây dựng được quy chế hoạt động chuẩn để tổ chức điều hành các hoạt động trong nội bộ cơ quan được suôn sẻ và làm căn cứ, trong đó cần phải nêu

rõ mục tiêu hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của lãnh đạo cơ quan và các phòng ban chức năng liên quan cũng như sự phối hợp giữa họ với nhau trong quá trình giải quyết công việc cho người nộp thuế

* Nghĩa vụ công khai hóa các thủ tục hành chính về thuế Cụ thể:

- Thực hiện niêm yết tại công sở;

- Tuyên truyền, phố biến pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng;

Trang 27

22

- Công khai qua các chương trình phổ biến pháp luật;

- Bản thân cơ quan và công chức thuế phải gương mẫu thực hiện;

- Không tuỳ tiện thay đổi hoặc bổ sung các thủ tục thiếu căn cứ

* Cơ quan thuế có nghĩa vụ thường xuyên rà soát các thủ tục hành chính thuế Bộ tài chính, cơ quan thuế các cấp (Tổng cục thuế; Cục thuế; Chi cục thuế) cần rà soát các thủ tục hành chính thuế trong các văn bản quy phạm pháp luật của các cấp có thẩm quyền Việc rà soát cần thực hiện thường xuyên

và liên tục

* Cơ quan thuế có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các giai đoạn trong giải quyết công việc cụ thể Việc giải quyết thủ tục hành chính thuế bao gồm 4 giai đoạn: (1) Khởi xướng vụ việc; (2) Xem xét và ra quyết định giải quyết vụ việc; (3) Thi hành quyết định xử lý; (4) Khiếu nại và xem xét lại quyết định đã ban hành khi phát hiện có tình tiết mới

* Cơ quan thuế có nghĩa vụ xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức thuế có năng lực và đạo đức công vụ trong thực hiện thủ tục và cải cách thủ tục hành chính thuế Cụ thể là:

- Về trình độ nghiệp vụ: Phải được được đào tạo bài bản về chuyên môn lĩnh vực công tác và bố trí công việc phù hợp chuyên môn;

- Về đạo đức công vụ: Phải nhận thức rõ bản chất của nền hành chính phục vụ để khi thực thi thái độ và hành vi đều phải thể hiện rõ tính phục vụ tận tình và hết trách nhiệm

- Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng và sự hợp tác chặt chẽ trong quá trình giải quyết các thủ tục hành chính: Quy định rõ ràng trách nhiệm của cơ quan thuế, phòng (đội) thuế, công chức thuế trong việc thực hiện thủ tục hành chính; Quy định phương thức phối hợp giữa các bộ phận trong cơ quan; Quy định phương thức phối hợp giữa các cơ quan nhà nước

Trang 28

23

Kết luận chương 1

Trong chương 1 đã phân tích khái niệm về quản lý thuế, thủ tục và đặc điểm thủ tục hành chính thuế, nguyên tắc xây dựng thủ tục hành chính thuế, nguyên tắc thực hiện thủ tục hành chính thuế, yêu cầu đối với cơ quan thuế trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính thuế Các nội dung này là

cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu pháp luật hiện hành về thủ tục hành chính thuế và đánh giá hiệu quả việc thực hiện pháp luật về thủ tục hành chính thuế

để từ đó đưa ra các kiến nghị và giải pháp hoàn thiện về quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục hành chính về thuế

Trang 29

24

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THUẾ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NÔI

2.1 Pháp luật về thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế - sự kế thừa và phát triển

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (Tháng 6/1991) đã đề ra

yêu cầu: "Tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và đổi

mới quản lý kinh tế Phải phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, bổ sung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân thống nhất Cơ chế vận hành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác "5 Nghị quyết

cũng đã đề ra yêu cầu "Tiếp tục đổi mới và bổ sung các luật thuế Kiện toàn

hệ thống thu thuế, chống thất thu và lạm thu, chống mọi biểu hiện tiêu cực trong công tác thuế Tăng cường thanh tra tài chính, kiểm soát việc chấp hành Pháp lệnh kế toán, thống kê” 6

Nhận thức được vai trò quan trọng của pháp luật thuế trong công cuộc đổi mới đất nước, các nhà hoạch định chính sách luôn chú trọng vào việc cải cách thuế Cải cách thuế của Việt Nam đến nay trải qua 4 giai đoạn

Giai đoạn 1: iai đoạn đầu của cải cách thuế (1990-1998) nhằm phù hợp

với nền kinh tế đa thành phần bằng việc thiết lập nền tảng cơ bản cho khối kinh tế ngoài quốc doanh, đặc biệt là khuyến khích cá nhân bỏ vốn kinh doanh

Trang 30

25

Giai đoạn 2 iai đoạn cải cách thuế thứ hai bắt đầu từ năm 1999 đến năm

2004 với ưu tiên cải cách thay thuế doanh thu bằng Thuế giá trị gia tăng và thay thuế lợi tức bằng Thuế thu nhập doanh nghiệp Đây là giai đoạn thực hiện đề án cải cách hành chính thuế bước II với mục tiêu là đổi mới, hoàn thiện và ổn định hệ thống chính sách thuế cùng với những cải tiến công tác hành thu, cải cách hành chính của cả nước Công tác cải cách hành chính thuế được coi là một trong những biện pháp cơ bản để thực hiện thành công nhiệm

vụ chính trị của toàn ngành, được triển khai từ năm 1990 Việc cải cách hành chính thuế được thực hiện theo hướng: đơn giản, rõ ràng, công khai và tiến đến máy tính hoá nhằm thực hiện được các mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định của luật, tập trung nhanh các nguồn thu vào ngân sách nhà nước, giảm bớt cả thủ tục phiền hà, tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng nộp thuế, đề cao tính tự giác và trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của Hiếp pháp với mọi đối tượng nộp thuế Thực hiện quy trình hành thu tiên tiến để hạn chế và tiến tới xoá bỏ các hiện tượng tiêu cực cả trong và ngoài ngành thuế

Giai đoạn 3 iai đoạn năm 2005-2010 của công cuộc cải cách thuế, một

giai đoạn mà nền kinh tế - xã hội có bước phát triển đặc biệt quan trọng với việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới ( TO), và tiếp tục thực hiện các cam kết song phương và đa phương với các nước khu vực và trên thế giới Công tác cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế đã được đặt ra với trọng tâm

là tạo môi trường thông thoáng, bình đẳng, thuận lợi, giảm tỷ lệ động viên để khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ có chọn lọc, có mức độ

để thúc đẩy sản xuất trong nước, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo đảm nguồn thu cho thu cho ngân sách nhà nước Cải cách về thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế đã được Bộ Tài chính xác định là một khâu trọng tâm mang tính đột phá trong kế hoạch cải cách hành chính trong lĩnh vực Thuế được thực hiện đồng bộ trên cả hai mặt: Quan hệ giữa Nhà nước với dân (quan hệ giữa người thu và người nộp) và quan hệ giữa các cơ quan Nhà

Trang 31

26 nước, giữa cấp trên với cấp dưới trong từng hệ thống… được triển khai thực hiện trong tất cả các khâu công việc Quốc hội khóa XI (2002-2007) và khóa XII (2007-2011) đã thông qua nhiều luật thuế với nhiều điểm mới phù hợp với chuẩn mực thuế quốc tế, trong đó phải kể đến Luật quản lý thuế năm

2006 Lần đầu tiên các quy phạm thủ tục thuế được tập hợp vào một văn bản luật Về nội dung được đánh phù hợp với Luật Quản lý thuế mẫu của Quỹ tiền

tệ quốc tế (IMF) và tương thích với Luật Quản lý thuế của các nước cũng như thông lệ quốc tế trong việc quản lý thuế

Giai đoạn 4 (2011-2020) Ngày 17/5/2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành

Quyết định số 732/QĐ-TTg về việc phê duyệt chương trình cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020 với mục tiêu tổng quát là: Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mức động viên hợp lý nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước và là một trong những công

cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả, hiệu lực của Nhà nước; xây dựng ngành thuế Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; công tác quản lý thuế, phí và lệ phí thống nhất, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện dựa trên ba nền tảng cơ bản là (i) thể chế chính sách thuế minh bạch, quy trình thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học phù hợp với thông lệ quốc tế; (ii) nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính; (iii) ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hóa cao Theo đó, Bộ Tài chính, Tổng cục thuế

đã có nhiều cải cách trong quy định và triển khai thực hiện thủ tục hành chính thuế phù hợp với định hướng phát triển của chính phủ

Vấn đề cải cách thủ tục hành chính về thuế là yêu cầu bức thiết đặt

ra trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế Nhận thức rõ vai trò quan trọng của công tác cải cách thủ tục hành chính đối với sự phát triển, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, trong nhiều năm qua, ngành Thuế đã đẩy mạnh thực hiện lĩnh vực này Kết quả ban đầu cho thấy

Trang 32

27

đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ Tuy nhiên, trước yêu cầu của phát triển, cải cách thủ tục hành chính thuế cần tiếp tục được thực hiện triệt để hơn nữa Sau 26 năm, kể từ khi hệ thống thuế đi vào hoạt động thống nhất đến nay, bên cạnh việc đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị về thu ngân sách nhà nước, Tổng cục Thuế đã thực hiện thành công Chương trình cải cách, hiện đại hóa công tác quản lý thuế theo Chiến lược cải cách hệ thống thuế

đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (giai đoạn trước năm 2010 và giai đoạn 2011-2020) Theo đó, ngành Thuế cả nước đã chuyển từ cơ chế thông báo thuế sang cơ chế người nộp thuế tự xác định, tự khai, tự nộp; Cơ quan thuế tăng cường tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế và đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra

Các thủ tục hành chính về thuế chủ yếu được quy định trong Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành luật quản lý thuế; một số được quy định trong các luật nội dung là các luật thuế, pháp lệnh về phí, lệ phí và các văn bản hướng dẫn thi hành Các sắc thuế thuộc thẩm quyền quản lý của Tổng cục thuế gồm có: Thuế giá trị gia tăng; Thuế Thu nhập doanh nghiệp; Thuế thu nhập cá nhân; Thuế tài nguyên; Thuế bảo vệ môi trường; Thuế tiêu thụ đặc biệt

Các thủ tục hành chính về thuế được chuẩn hóa và công bố theo Quyết

định của Bộ tài chính Tính đến tháng 6/2016; Bộ tài chính đã ban hành 26 Quyết định công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế trong đó 22 quyết định do Tổng cục thuế rà soát; 04 quyết định do các vụ thuộc bộ rà soát Bộ thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế hiện hành có 300 thủ tục đã được chuẩn hóa được ban hành kèm theo quyết định 1500/QĐ-BTC ngày 30/6/2016 về việc công bố thủ tục hành chính được chuẩn hóa trong lĩnh vực quản lý thuế thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ tài chính trong đó: Cấp tổng cục thuế 12 thủ tục; cấp Cục thuế 165 thủ tục; cấp Chi cục thuế 123 thủ tục thuế Quyết định 1500/QĐ-BTC đã bãi bỏ toàn bộ 25 quyết định và bãi bỏ một phần một quyết định được ban hành trước đó

Trang 33

28 Theo đó, các yếu tố cấu thành thủ tục hành chính thuế:

Thành phần bắt buộc Thành phần không bắt buộc + Tên thủ tục hành chính;

+ Trình tự thực hiện;

+ Cách thức thực hiện;

+ Hồ sơ (thành phần, số lượng hồ sơ);

+ Thời hạn giải quyết;

+ Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính

Toàn bộ thủ tục hành chính thuế được thực hiện theo quy chế “một cửa”

từ năm 2007 Cơ chế một cửa tại cơ quan thuế là cách thức giải quyết công việc của công chức thuế, cơ quan thuế các cấp trong việc công khai, hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính thuế, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là “Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả” của

cơ quan thuế Với mục đích: quy định thống nhất trình tự thực hiện công việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính thuế của người nộp thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế các cấp; Bảo đảm việc tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính thuế của người nộp thuế được thuận lợi nhất, đồng thời bảo đảm giám sát được công chức thuế trong việc thực hiện giải quyết thủ tục hành chính thuế của người nộp thuế Ngày 11/12/2015 Tổng cục Trưởng Tổng cục Thuế ban hành Quyết định số 2351/QĐ-TCT về việc Ban hành Quy

Trang 34

29

trình tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính thuế của người nộp thuế theo

cơ chế một cửa tại cơ quan thuế quy định cụ thể việc tiếp nhận, giải quyết hồ

sơ và trả kết quả cho người nộp thuế tại cơ quan thuế đối với tất cả thủ tục hành chính thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế

Do số lượng thủ tục hành chính thuế nhiều, trong phạm vi luận văn, tác giả tập trung tìm hiểu về một số thủ tục hành chính cơ bản, thường xuyên áp dụng bao gồm các nhóm thủ tục liên quan đến:

Thủ tục về đăng ký thuế được quy định trong Luật quản lý thuế năm

2006 và các Luật sửa đổi bổ sung; các nghị định hướng dẫn thi hành và được

Bộ tài chính cụ thể hóa trong Thông tư số 95/2016/TT- BTC ngày 28 tháng 6 năm 2016 Hướng dẫn về đăng ký thuế Thông tư này đã quy định chi tiết về

hồ sơ, trình tự, thủ tục thực hiện về đăng ký thuế

Nhìn chung các hồ sơ thực hiện thủ tục về đăng ký thuế tương đối đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện Như hồ sơ đăng ký thuế lần đầu là các mẫu tờ khai đăng ký thuế; Bản sao không cần chứng thực các giấy tờ về đăng ký kinh

Trang 35

30 doanh đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh; bản sao không cần chứng thực chứng minh nhân dân (thẻ căn cước) đối với cá nhân kinh doanh Hồ sơ thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế; khôi phục mã số thuế; tạm ngừng kinh doanh là các mẫu đơn được quy định trong thông tư 95/2016/TT-BTC

Cơ quan thuế, công chức tiếp nhận hồ sơ về đăng ký thuế có trách nhiệm:

Trường hợp hồ sơ được nộp trực tiếp tại cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế tiếp nhận và đóng dấu tiếp nhận hồ sơ, ghi thời gian nhận

hồ sơ, ghi nhận số lượng tài liệu trong hồ sơ

Trường hợp hồ sơ được gửi qua đường bưu chính, công chức quản lý thuế đóng dấu ghi ngày nhận hồ sơ và ghi vào sổ văn thư của cơ quan quản lý thuế

Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, trong thời hạn quy định, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan quản lý thuế phải thông báo cho người nộp thuế để hoàn chỉnh hồ sơ

Cơ quan thuế, công chức giải quyết hồ sơ về đăng ký thuế có trách nhiệm: kịp thời cập nhật các thông tin liên quan đến người nộp thuế trên hệ thống ứng dụng quản lý về đăng ký thuế của cơ quan thuế

2.1.2 Thủ tục về khai thuế

Thủ tục về khai thuế bao gồm các trường hợp: khai thuế giá trị gia tăng; khai thuế thu nhập doanh nghiệp; khai thuế tiêu thụ đặc biệt; khai thuế tài nguyên; khai thuế tiêu thụ đặc biệt; khai thuế bảo vệ môi trường; khai thuế thu nhập cá nhân; Khai thuế, khoản thu thuộc ngân sách nhà nước về đất đai; Khai phí, lệ phí, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước; Khai thuế đối với trường hợp nộp thuế theo phương pháp khoán thuế

Trang 36

31

Thủ tục về khai thuế được quy định trong Luật quản lý thuế năm 2006 và các Luật sửa đổi bổ sung; các nghị định hướng dẫn thi hành Bộ tài chính đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn có liên quan đến thủ tục về khai thuế và được hợp nhất trong thông tư 14/VBHN-BTC ngày 15 tháng 5 năm 2017 hướng dẫn thi hành một số điều của luật quản lý thuế; luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật quản lý thuế và nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ

Cơ chế tự khai thuế là một thay đổi quan trọng về quản lý thuế chuyển đổi từ cơ chế thông báo của cơ quan quản lý thuế sang cơ chế tự xác định, tự khai thuế của người nộp thuế Quy định tự khai thuế bắt đầu được thực hiện

từ 1/7/2007

Cơ chế tự khai tự nộp thuế là cơ chế quản lý thuế trong đó các đối tượng nộp thuế tự giác căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh trong kì khai thuế của mình và căn cứ vào những quy định của pháp luật tự xác định nghĩa vụ thuế của mình, khai thuế, nộp thuế vào ngân sách Nhà nước, và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của việc khai thuế

Cơ chế tự khai, tự nộp là cơ chế quản lý thuế hiện đại, hiệu quả, được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng, nó cho phép các cơ quan thuế phân bổ nguồn lực theo hướng chuyên môn hóa, chuyên sâu trong quản lý cải tiến các quy trình quản lý rõ ràng làm tăng sự minh bạch trong quản lý thuế, đồng thời giảm bớt chi phí quản lý, thúc đẩy cải cách hành chính thuế

Theo quy định pháp luật hiện hành, việc khai thuế đang được thực hiện theo kì khai thuế theo tháng, quý, năm hoặc theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế

Thủ tục kê khai thuế gồm có:

- Hồ sơ khai thuế gồm: Tờ khai thuế (theo mẫu quy định của Bộ tài chính); các hồ sơ liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế

Trang 37

32

- Cơ quan, công chức tiếp nhận hồ sơ khai thuế có trách nhiệm:

Trường hợp hồ sơ khai thuế được nộp trực tiếp tại cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế tiếp nhận và đóng dấu tiếp nhận hồ sơ, ghi thời gian nhận hồ sơ, ghi nhận số lượng tài liệu trong hồ sơ

Trường hợp hồ sơ khai thuế được gửi qua đường bưu chính, công chức quản lý thuế đóng dấu ghi ngày nhận hồ sơ và ghi vào sổ văn thư của cơ quan quản lý thuế

Trường hợp hồ sơ khai thuế được nộp thông qua giao dịch điện tử thì việc tiếp nhận, kiểm tra, chấp nhận hồ sơ hoàn thuế do cơ quan quản lý thuế thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử

Trường hợp hồ sơ khai thuế chưa đầy đủ, trong thời hạn quy định, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan quản lý thuế phải thông báo cho người nộp thuế

để hoàn chỉnh hồ sơ

- Cơ quan, công chức giải quyết thủ tục khai thuế: Công chức thực hiện cập nhật thông tin khai thuế của người nộp thuế vào hệ thống dữ liệu ngành thuế theo quy định; ban hành các thông báo thuế đối với các loại hồ sơ khai thuế

có trả kết quả theo quy định pháp luật (thông báo nộp thuế thu nhập cá nhân với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán; thông báo nộp thuế với hộ cá nhân kinh doanh…)

Cải cách thủ tục khai thuế luôn được xác định là “bước đột phá” trong quá trình cải cách thủ tục hành chính thuế Sở dĩ vậy vì phần lớn thời gian người nộp thuế thực hiện thủ tục hành chính thuế được dành cho việc người nộp thuế tự xác định nghĩa vụ thuế và khai thuế Việc cải cách được thực hiện dưới cả 3 góc độ: (i) đơn giản hồ sơ khai thuế; (ii) giảm số lần phải khai thuế; (iii) điện tử hóa công tác nộp và tiếp nhận hồ sơ khai thuế của người nộp thuế

Trang 38

33

2.1.3 Thủ tục về hoàn thuế

Các trường hợp hoàn thuế: hoàn thuế Giá trị gia tăng; hoàn thuế Thu nhập cá nhân; hoàn thuế Tiêu thụ đặc biệt; hoàn các loại thuế, phí, lệ phí khác

có số tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước lớn hơn số tiền phải nộp

Thủ tục về hoàn thuế được quy định cụ thể tại Chương VII Luật quản lý thuế năm 2006 và các Luật sửa đổi bổ sung; và được hướng dẫn chi tiết tại các thông tư 14/VBHN-BTC ngày 15 tháng 5 năm 2017 hướng dẫn thi hành một số điều của luật quản lý thuế; luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật quản lý thuế và nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ Thủ tục hoàn thuế được thực hiện như sau:

- Hồ sơ hoàn thuế bao gồm: Văn bản yêu cầu hoàn thuế (theo mẫu được

Bộ tài chính quy định); Các tài liệu liên quan đến yêu cầu hoàn thuế

- Cơ quan thuế, công chức thuế tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm thực hiện: Trường hợp hồ sơ hoàn thuế được nộp trực tiếp tại cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế tiếp nhận và đóng dấu tiếp nhận hồ sơ, ghi thời gian nhận hồ sơ, ghi nhận số lượng tài liệu trong hồ sơ

Trường hợp hồ sơ hoàn thuế được gửi qua đường bưu chính, công chức quản lý thuế đóng dấu ghi ngày nhận hồ sơ và ghi vào sổ văn thư của cơ quan quản lý thuế

Trường hợp hồ sơ hoàn thuế được nộp thông qua giao dịch điện tử thì việc tiếp nhận, kiểm tra, chấp nhận hồ sơ hoàn thuế do cơ quan quản lý thuế thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử

Trường hợp hồ sơ hoàn thuế chưa đầy đủ, trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan quản lý thuế phải thông báo cho người nộp thuế để hoàn chỉnh hồ sơ

Trang 39

34

- Cơ quan thuế, công chức giải quyết hồ sơ hoàn thuế căn cứ các tài liệu

do người nộp thuế cung cấp; hồ sơ dữ liệu thuộc quản lý của cơ quan thuế và các cơ quan quản lý có liên quan trong thời gian pháp luật quy định cơ quan quản lý thuế phải quyết định hoàn thuế hoặc thông báo bằng văn bản cho người nộp thuế lý do không hoàn thuế

2.1.4 Thủ tục về phát hành và sử dụng hóa đơn

Các thủ tục về phát hành và sử dụng hóa đơn gồm có: thủ tục Đề nghị

sử dụng hóa đơn tự in, đặt in; mua hóa đơn do cơ quan thuế đặt in; Báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn/mất, cháy, hỏng hóa đơn; Thông báo phát hành hóa đơn đặt in/hóa đơn tự in/hóa đơn in trực tiếp từ máy tính tiền và hóa đơn điện tử; Thông báo về hóa đơn không tiếp tục sử dụng/Thông báo kết quả hủy hóa đơn; Cấp hóa đơn lẻ

Các thủ tục về phát hành và sử dụng hóa đơn được quy định trong Nghị định số 51/2010/NĐ-CP quy định về hóa đơn bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ; và được hướng dẫn chi tiết tại thông tư số 39/2014/TT-BTC hướng dẫn thi hành nghị định số 51/2010/NĐ-CP và nghị định số 04/2014/NĐ-CP

Hóa đơn là chứng từ kế toán do người bán lập để ghi nhận thông tin bán hàng hóa hoặc dịch vụ Đây là một loại chứng từ gốc đặc biệt quan trọng

cả trên phương diện quản lý tài chính doanh nghiệp và trên phương diện quản

lý thuế của cơ quan nhà nước Bằng việc ban hành Nghị định 51/2010/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 89/2002/NĐ-CP về quản lý hóa đơn, ngành Tài chính

đã có sự đổi mới cơ bản trong phương thức quản lý hóa đơn Theo đó, chuyển

từ việc cơ quan thuế in hóa đơn bán cho người nộp thuế sang để người nộp thuế tự in hoặc tự đặt in hóa đơn Tức là, giao quyền tự chủ về in hóa đơn cho người nộp thuế Cơ quan thuế chỉ in hóa đơn bán cho một số đối tượng đặc thù như các đơn vị sự nghiệp không sử dụng thường xuyên hóa đơn, cá nhân kinh doanh có nhu cầu mua hóa đơn lẻ, đối tượng có rủi ro cao về thuế… Với việc thay đổi này, người nộp thuế sử dụng nhiều hóa đơn sẽ rất thuận lợi,

Trang 40

35

không phải mất thời gian để làm các thủ tục mua hóa đơn, hoàn toàn chủ động trong việc in và phát hành hóa đơn Cơ quan thuế cũng giảm bớt nguồn nhân lực xử lý việc giao nhận và bán hóa đơn Cơ quan thuế tập trung vào theo dõi, quản lý quá trình phát hành, in ấn và sử dụng hóa đơn

2.1.5 Chuyển đổi áp dụng các phương pháp tính thuế Giá trị gia tăng

Theo quy định tại Khoản 7 điều 11 thông tư 14/VBHN-BTC ngày 15 tháng 5 năm 2017 hướng dẫn thi hành một số điều của luật quản lý thuế; luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật quản lý thuế và nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ Người nộp thuế thay đổi phương pháp tính thuế Giá trị gia tăng hoặc thuộc đối tượng được tự nguyện

áp dụng phương pháp khấu trừ thực hiện thủ tục Chuyển đổi áp dụng các phương pháp tính thuế Giá trị gia tăng

Thủ tục thực hiện:

- Hồ sơ Thông báo áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng theo mẫu số 06/ T T ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC

- Cơ quan thuế, công chức thực hiện tiếp nhận:

Trường hợp hồ sơ được nộp trực tiếp tại cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế tiếp nhận và đóng dấu tiếp nhận hồ sơ, ghi thời gian nhận hồ sơ, ghi nhận số lượng tài liệu trong hồ sơ

Trường hợp hồ sơ được gửi qua đường bưu chính, công chức quản lý thuế đóng dấu ghi ngày nhận hồ sơ và ghi vào sổ văn thư của cơ quan quản

lý thuế

- Cơ quan thuế, công chức thực hiện giải quyết hồ sơ: thông báo cho doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở kinh doanh biết việc chấp thuận hay không chấp thuận về việc áp dụng phương pháp khấu tính thuế của người nộp thuế

Ngày đăng: 13/03/2019, 21:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w