- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận của quyền tự do giao kết hợp đồng dân sự, quy định của pháp luật Lào và Việt Nam về quyền TDHĐ bao gồm những nội dung liên quan
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HEUANGSUCK SOMVONG
QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT LÀO VÀ VIỆT NAM DƯỚI
GÓC ĐỘ SO SÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ ĐẶNG HẢI YẾN
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HEUANGSUCK SOMVONG
QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT LÀO VÀ VIỆT NAM DƯỚI
GÓC ĐỘ SO SÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HEUANGSUCK SOMVONG
QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT LÀO VÀ VIỆT NAM DƯỚI
GÓC ĐỘ SO SÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ ĐẶNG HẢI YẾN
HÀ NỘI - 2017
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Heuangsuck SOMVONG
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI 5
1.1 Hợp đồng thương mại và quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 5
1.1.1 Hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 5
1.1.2 Quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 7
1.1.3 Nội dung quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 9
1.2 Vai trò, ý nghĩa của việc bảo đảm quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 16
1.3 Các yếu tố chi phối quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 18
1.3.1 Sự chi phối của chế độ sở hữu đối với tài sản và tư liệu sản xuất đến quyền tự do hợp đồng 18
1.3.2 Sự chi phối của cơ chế quản lý kinh tế đến quyền tự do hợp đồng 20
1.3.3 Sự chi phối của hội nhập quốc tế đến quyền tự do hợp đồng 22
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 23
Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT LÀO VÀ VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH 25
2.1 Quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại theo quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh 25
2.1.1 Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp luật Lào và Việt Nam về quyền lựa chọn đối tác và đối tượng hợp đồng 25
2.1.2 Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp luật Lào và Việt Nam về quyền thỏa thuận nội dung của hợp đồng 35
Trang 6Việt Nam về quyền lựa chọn hình thức hợp đồng 39
2.1.4 Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp luật Lào và Việt Nam về quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng 44
2.2 Một số vấn đề rút ra từ việc so sánh quyền tự do hợp đồng theo quy định của pháp luật Lào và Việt Nam 50
2.2.1 Một số thành tựu, bất cập và hạn chế về quyền tự do hợp đồng theo quy định của pháp luật Lào 50
2.2.2 Một số thành tựu, bất cập và hạn chế về quyền tự do hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam 55
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 63
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LÀO VÀ VIỆT NAM VỀ QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI 65 3.1 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Lào về quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 65
3.1.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật Lào về quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 65
3.1.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật Lào về quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 68
3.2 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 76
3.2.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 76
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 78
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 86
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm đổi mới, hệ thống các văn bản về hợp đồng của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào về cơ bản đã được xây dựng và hoàn thiện theo hướng ngày càng bảo đảm quyền tự do hợp đồng (TDHĐ) góp phần thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển Tuy nhiên, pháp luật về hợp đồng còn bộc lộ những bất cập, hạn chế trong việc bảo vệ quyền TDHĐ Trong khi đó, nền kinh tế thị trường, xu hướng hội nhập mọi mặt kinh tế - xã hội, cùng với sự phát triển các giao dịch với quy mô ngày càng mở rộng và tính chất phức tạp, đa dạng đã và đang đòi hỏi sự mở rộng, thông thoáng hơn nữa về quyền TDHĐ
Dưới sức ép mạnh mẽ của tự do thương mại và toàn cầu hóa, pháp luật về hợp đồng của Lào tuy đang được hoàn thiện nhưng vẫn còn sự ảnh hưởng của cơ chế cũ Những quy định còn can thiệp sâu và quyền tự do khế ước vừa không bảo
vệ được trật tự công đôi khi còn làm cho doanh nghiệp rơi vào thế yếu và người tiêu dùng bị thiệt thòi trước các hành vi kinh doanh thiếu bình đẳng, lợi dụng vị thế thị trường gây thiệt hại cho đối tác Việc bảo vệ quyền tự do giao kết hợp đồng của bên có vị thế yếu trước các hành vi lạm dụng quyền TDHĐ của bên có thế mạnh trong quan hệ hợp đồng chưa được pháp luật điều chỉnh một cách cụ thể Chình vì vậy, nghiên cứu để tìm giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật hợp đồng
về quyền TDHĐ là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay
Xuất phát từ những nhận thức đó, là một lưu học sinh người Lào đang học tập, nghiên cứu tại Việt Nam, tác giả cho rằng, việc nghiên cứu pháp luật hợp đồng nói chung, quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại nói riêng của Việt Nam,
sẽ góp phần tìm ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật Lào Chính vì thế, tác giả đã
lựa chọn đề tài “Quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại theo pháp luật
Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền TDHĐ là vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau Trong đó, ở Việt Nam, những năm qua đã có một
số công trình, bài nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến vấn đề này như: sách “Chế
Trang 8định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam” của TS Nguyễn Ngọc Khánh
(2007), NXB Tư pháp, Hà Nội; “Pháp luật về hợp đồng” của Tiến Sĩ Nguyễn Mạnh Bách năm 1995; “Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam” của PGS.TS Dương Đăng Huệ năm 2002; “Chế độ hợp đồng kinh tế - Tồn tại hay
không tồn tại” của GS.TS Lê Hồng Hạnh năm 2005; “Điều kiện thương mại chung và nguyên tắc tự do khế ước” của PGS.TS Nguyễn Như Phát năm 2003;
“Quyền tự do giao kết hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam”, luận
án Tiễn sĩ luật học năm 2006 của Phạm Hoàng Giang; “Điều chỉnh thông tin bất
cân xứng và quản lý rủi ro trong pháp luật hợp đồng Việt Nam” của PGS.TS
Phạm Duy Nghĩa năm 2003; “Một số vấn đề liên quan đến việc sửa đổi pháp
luật Việt Nam về hợp đồng năm 2004 và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm nhìn
từ quyền tự do hợp đồng” của Tiến sĩ Nguyễn Am Hiểu năm 2004; Luận án Tiến
sĩ “Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả của hợp đồng kinh tế vô hiệu” của Lê Thị Bích Thọ năm 2002; “Những điểm mới cơ bản về hợp đồng trong BLDS
năm 2005” của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh đăng trên tạp chí Kiểm sát số
01/2006; “Đổi mới sự điều chỉnh pháp luật về hợp đồng trong BLDS năm
2005”, luận văn Thạc sỹ luật học năm 2006 của Trần Hải Hưng; “Pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài”,
Luận án tiến sỹ luật học của Nguyễn Vũ Hoàng (2008)
Tuy nhiên, do nội dung nghiên cứu của các công trình đặt ra khác nhau nên các tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu một số khía cạnh cụ thể của chế định hợp đồng và chưa nghiên cứu một cách toàn diện, cụ thể về nội quyền TDHĐ trên khía cạnh so sánh pháp luật Lào và pháp luật Việt Nam về vấn đề này Tuy vậy, các công trình nói trên là những tài liệu rất quý giá cho tác giả tham khảo, phục vụ việc nghiên cứu của mình
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung
về TDHĐ; những quy định của pháp luật Lào và Việt Nam về quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại trong mối tương quan so sánh; những bài học kinh nghiệm rút ra từ việc so sánh pháp luật Lào và Việt Nam về quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại cũng như những kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Trang 9nước CHDCND Lào và pháp luật nước CHXHCN Việt Nam về quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận của quyền
tự do giao kết hợp đồng dân sự, quy định của pháp luật Lào và Việt Nam về quyền TDHĐ bao gồm những nội dung liên quan đến tự do giao kết hợp đồng như: Khái niệm; điều kiện; các khía cạnh cũng như những trường hợp ngoại lệ của quyền tự do giao kết hợp đồng dân sự, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị và hoàn thiện chế định về tự do giao kết hợp đồng ở Lào
4 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn này nhằm để có cái nhìn tổng quan
và cụ thể hơn về quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại theo pháp luật Lào trên cơ sở nghiên cứu so sánh pháp luật của Việt Nam, nhận diện những mặt tiến bộ và phù hợp của pháp luật Lào để tiếp tục duy trì và phát huy, đồng thời kiến nghị, đề xuất các điểm mới tiến bộ theo pháp luật Việt Nam và vận dụng một cách phù hợp trong điều kiện pháp luật Lào hiện nay
5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Từ mục đích nghiên cứu của luận văn các câu hỏi nghiên cứu của luận văn được xác định như sau:
- Quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại là gì?
- Quy định của pháp luật Lào về quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại có gì giống với quy định của pháp luật Việt Nam?
- Quy định của pháp luật Lào và Việt Nam về quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại khác nhau ở những điểm nào?
- Tại sao chế định quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại giữa pháp luật hai nước có sự giống và khác nhau đó?
- Từ việc so sánh điểm giống và khác nhau trong các quy định về quyền TDHĐ, có thể rút ra những thành tựu và hạn chế nào trong các quy định của pháp luật Lào và Việt Nam về quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại?
- Việc hoàn thiện pháp luật Lào và Việt Nam về quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại phải dựa trên những phương hướng nào?
Trang 106 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Để nghiên cứu đề tài, tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng macxit và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Nhà nước nước CHDCND Lào; quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước CHXHCN Việt Nam về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), quyền tự do kinh doanh của cá nhân, tổ chức
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả đã s dụng các phương pháp cụ thể như: Phân tích; chứng minh; so sánh, diễn giải, quy nạp; tổng hợp, phương pháp lịch s ; thống kê v.v Trong đó, nhấn mạnh đến việc s dụng phương so sánh để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định
của pháp luật hiện hành hai nước về quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung, phát triển những vấn đề lý luận về quyền TDHĐ nói chung, quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại nói riêng cũng như đóng góp những ý kiến có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại ở nước CHDCND Lào, cũng như ở nước CHXHCN Việt Nam
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của luận văn được s dụng làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu khoa học về quyền TDHĐ nói chung, quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại nói riêng ở các cơ sở nghiên cứu, đào tạo
có liên quan ở nước CHDCND Lào, cũng như nước CHXHCN Việt Nam
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, bố cục của luận văn được chia làm 3 chương sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
- Chương 2: Thực trạng quy định về quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại theo pháp luật Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Lào và Việt Nam về quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN TỰ DO HỢP
ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI 1.1 Hợp đồng thương mại và quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
1.1.1 Hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Lĩnh vực thương mại có những đặc thù, nên trong hệ thống pháp luật của nhiều nước có sự phân biệt giữa hành vi thương mại với các hành vi dân
sự khác, nhất là ở những nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa Vì thế, các nước đã ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ thương mại, như: Bộ luật Thương mại của Pháp năm 1807, Bộ luật Thương mại của Đức năm 1887, Bộ luật Thương mại Nhật Bản năm 1899 Các nước theo hệ thống pháp luật án lệ có truyền thống không phân biệt rõ ràng hành vi thương mại và dân sự Nhưng về sau, do nhu cầu điều chỉnh các quan hệ thương mại phát triển, truyền thống này cũng bị phá vỡ Năm 1958 Hoa Kỳ ban hành Bộ luật Thương mại thống nhất; Vương quốc Anh ban hành Luật Bán hàng năm 1979, 1
Sự ra đời của luật thương mại để điều chỉnh các hành vi thương mại và xác định quy chế của thương nhân Để lưu thông hàng hóa nhanh chóng, các quy định của luật thương mại các nước đã quy định thương nhân có quyền TDHĐ để giao kết, thực hiện và thanh lý hợp đồng, giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng, đơn giản nhất Ngoài ra, các hành vi thương mại là các hành vi có mục đích kinh doanh kiếm lời, có chứa đựng yếu tố rủi ro, cho nên thường xuyên có
xu hướng gây ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội, quyền lợi của bên thứ ba2 Do đó, pháp luật thương mại cũng cần có những quy định để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và các đối tượng khách hàng khác, bảo đảm trật tự công cộng
Theo pháp luật của các nước, có nhiều cách trình bày khái niệm về hành vi thương mại:
1 Phạm Hoàng Giang (2007), Quyền tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam - Những vấn đề
lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.10
2
Tlđđ, tr.10
Trang 12Bộ luật Thương mại của Pháp năm 1807 không đưa ra định nghĩa thế nào là hành vi thương mại, mà từ Điều 623 trở đi, Bộ luật đã liệt kê những hành vi được coi là hành vi thương mại gồm ba nhóm: (i) Nhóm các hành vi thương mại bản chất; (ii) Nhóm các hành vi thương mại hình thức; (iii) Nhóm các hành vi thương mại phụ thuộc Ngoài ra, nó còn bao gồm các hoạt động khác nếu các hoạt động này được thực hiện bởi các thương nhân nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu kinh doanh thương mại của thương nhân
Ở Việt Nam, thời kỳ đầu, hành vi thương mại được pháp luật điều chỉnh có nội hàm hẹp hơn khái niệm kinh doanh và khái niệm thương mại mà pháp luật các nước trên thế giới đề cập Theo Luật Thương mại năm 1997, hành vi thương mại là hành vi của thương nhân trong hoạt động thương mại Theo quy định của Điều 45 Luật Thương mại năm 1997 chỉ điều chỉnh 14 hành vi thương mại gồm: Mua bán hàng hóa, đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác, đại lý mua bán hàng hóa, gia công trong thương mại, đấu giá, đấu thầu, dịch vụ giao thầu, giám định hàng hóa, khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bầy, giới thiệu hàng hóa, hội trợ, triển lãm thương mại Ngoài việc bị giới hạn phạm vi điều chỉnh đối với một số hành vi thương mại, phạm vi áp dụng Luật Thương mại năm 1997 còn bị giới hạn bởi nội hàm của khái niệm hàng hóa Hàng hóa theo Luật Thương mại năm 1997 chỉ bao gồm: Máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các động sản được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình thức cho thuê, mua, bán (khoản 5 Điều 3) Các tài sản khác theo Bộ luật Dân sự năm 1995 không được coi là hàng hóa, như quyền s dụng đất, cổ phiếu và các giấy tờ có giá khác, các quyền tài sản, Những hạn chế trên của Luật Thương mại năm 1997 đã dẫn đến những bất cập của pháp luật thương mại Việt Nam so với thông lệ quốc tế và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế3
Nhằm khắc phục những bất cập trên, Luật Thương mại năm 2005 đã
mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các hành vi thương mại theo nghĩa rộng
hơn Khoản 1 Điều 3 quy định: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm
3
Tlđđ,tr.12
Trang 13mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”
Ở nước CHDCND Lào, do còn nhiều hạn chế về kỹ thuật lập pháp mà cho đến nay vẫn chưa ban hành Luật Thương mại cũng như Bộ luật Dân sự nhằm điều chỉnh các hành vi thương mại Tuy nhiên, dựa vào quy định về hợp
đồng của Luật Hợp đồng và x lý vi phạm hợp đồng năm 2008: “Hợp đồng là
sự thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong một quan hệ dân sự nhất định” (Điều 8) và quy
định về bản chất của hợp đồng: “Hợp đồng được quy định trong Luật này là
hợp đồng dân sự và sẽ trở thành hợp đồng thương mại nếu chủ thể tham gia hợp đồng đó có mục đích kinh doanh” (đoạn 4 Điều 9) có thể đưa ra định
nghĩa chung về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại như sau:
Hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là sự thỏa thuận giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với một bên không phải là thương nhân trong việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại Trong lĩnh vực thương mại, hình thức pháp
lý của hành vi thương mại chính là hợp đồng thương mại
1.1.2 Quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Mặc dù quy định pháp luật về hợp đồng ra đời rất sớm trong lĩnh vực luật tư từ thời La Mã cổ đại, nhưng nền tảng lý luận về quyền TDHĐ bắt nguồn từ thuyết tự do ý chí lại ra đời sau đó Thuyết tự do ý chí xuất hiện từ thế kỷ thứ XVIII và nằm trong hệ thống các quan điểm của trào lưu triết học ánh sáng Nội dung của thuyết này xuất phát từ quan điểm cho rằng, ý chí tự chủ của một con người là tối thượng và tự chủ4
Chỉ các hành vi xuất phát từ ý chí tự chủ của một con người mới có hiệu lực ràng buộc theo cách mà người
đó muốn Một hợp đồng chỉ được coi là công bằng khi các bên được tự do thể hiện ý chí của mình Mỗi bên tham gia hợp đồng nhằm thỏa mãn những lợi ích riêng của mình (có thể là lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể) trong phạm vi phù hợp với lợi ích chung của xã hội Do đó với bản chất được xác lập trên cơ
sở thỏa thuận, phải được coi là kết quả của sự thống nhất ý chí một cách tự
4
Tlđđ, tr.21
Trang 14nguyện của các bên, là cơ sở làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia quan hệ hợp đồng Theo nguyên tắc tự do ý chí, để bảo đảm công bằng trong quan hệ hợp đồng, bảo đảm lợi ích của các bên như họ mong muốn, ý chí của các bên phải được thể hiện một cách độc lập, xuất phát
từ động cơ và lợi ích của họ, do họ tự do quyết định, chứ không phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài, không phụ thuộc vào pháp luật Ý chí của các bên được thể hiện thông qua các hành vi pháp lý của họ, nhất là thông qua hợp đồng Nguyên tắc tự do ý chí đưa đến một hệ quả pháp lý là hợp đồng khi đã được các bên ký kết, sẽ có giá trị bắt buộc đối với các bên
Theo thuyết tự do ý chí dẫn đến quyền TDHĐ, được thể hiện cụ thể ở những điểm sau:
Thứ nhất, hợp đồng phải là kết quả của sự tự nguyện thỏa thuận, là sự
thể hiện ý chí đích thực của các bên
Thứ hai, các bên tự do xác định nội dung của hợp đồng, tự do thỏa
thuận các điều khoản của hợp đồng Các quy định về trật tự công cộng chỉ được áp dụng trong trường hợp ngoại lệ đặc biệt
Thứ ba, chỉ cần các bên thỏa thuận với nhau là coi như hợp đồng đã
được ký kết Việc thể hiện thỏa thuận dưới một hình thức nhất định không phải là yếu tố quan trọng Thường là thỏa thuận thể hiện ý chí chung có thể được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào
Thứ tư, các bên có quyền tự do quyết định việc giải quyết bất đồng khi
có tranh chấp phát sinh
Thuyết tự do ý chí còn dẫn đến hiệu lực của hợp đồng Nguyên tắc tự
do ý chí trong thuyết tự do ý chí dẫn đến hiệu lực bắt buộc của hợp đồng Khi hợp đồng được giao kết thì nó có giá trị bắt buộc thực hiện như quy định của pháp luật đối với các bên Bởi vì đó là mong muốn của các bên Các bên phải chịu trách nhiệm về cam kết của mình Để bảo đảm công bằng và công lý, các bên phải tôn trọng và chịu trách nhiệm về tuyên bố ý chí của mình và thực hiện các nghĩa vụ cam kết, không được đơn phương rút khỏi hợp đồng, không được bội ước Việc thay đổi, bổ sung hợp đồng chỉ có thể thực hiện bởi sự thỏa thuận của các chủ thể mà không ai có quyền can thiệp vào quan hệ của
Trang 15họ, cũng như không có quyền thay đổi ý chí của họ Hợp đồng có hiệu lực bắt buộc ngay với cả đối với cơ quan công quyền, nghĩa là khi xét x , giải thích hợp đồng, Tòa án phải tôn trọng ý chí của các bên, không được s a đổi, giải thích nội dung hợp đồng khác với ý chí, nội dung giai kết của các bên5
Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế, xã hội, các quyền tự do dân chủ của con người được đề cao một cách tuyệt đối, như quyền sở hữu cá nhân, tự do thương mại, tự do cạnh tranh, TDHĐ, Những nguyên lý pháp luật này được ra đời dựa trên cơ sở nền tảng của lý thuyết về tự do ý chí
Qua các nội dung trên cho thấy, thuyết tự do ý chí là cơ sở lý luận quan trọng cho sự ra đời của pháp luật hợp đồng hiện đại, qua việc đề cao quyền tự
do ý chí, TDHĐ (tự do khế ước) của các bên
Vậy phải hiểu thế nào là quyền TDHĐ nói chung và quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại nói riêng? Theo cách hiểu thông thường thì:
Quyền TDHĐ: Là quyền của các chủ thể được thể hiện ở các khía cạnh
sau đây: (i) Quyền được tự do bình đẳng, tự nguyện giao kết hợp đồng, (ii) Quyền được tự do lựa chọn đối tác giao kết hợp đồng; (iii) Quyền được tự do thỏa thuận nội dung giao kết hợp đồng; (iv) Quyền được tự do thỏa thuận thay đổi nội dung hợp đồng trong quá trình thực hiện; (v) Quyền được tự do thỏa thuận các điều kiện đảm bảo để thực hiện hợp đồng; (iv) Quyền được tự do thỏa thuận cơ quan tài phán và giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng”
Với tư cách là một loại hợp đồng cụ thể trong hợp đồng dân sự nên quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại cũng được định nghĩa tương tự
1.1.3 Nội dung quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Từ nghiên cứu về pháp luật hợp đồng cho thấy quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại thể hiện qua nhiều phương diện khác nhau, thông qua các nội dung cơ bản sau: (i) Quyền lựa chọn đối tác và đối tượng hợp đồng; (ii) Quyền thỏa thuận về nội dung của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng; (iii) Quyền lựa chọn hình thức hợp đồng và (iv) Quyền tự do quyết định việc giải quyết tranh chấp hợp đồng
5
Tlđđ, tr.22
Trang 161.1.3.1 Quyền lựa chọn đối tác và đối tượng hợp đồng
Ngày nay, pháp luật hợp đồng quy định quyền TDHĐ với ý nghĩa là nguyên tắc cơ bản được quy định và bảo đảm thực hiện trong các văn bản pháp luật quan trọng của mỗi quốc gia như: Bộ luật dân sự (Luật dân sự), Luật hợp đồng hay Luật thương mại Theo đó, nguyên tắc tự do lựa chọn đối tác ký kết hợp đồng là một nguyên tắc vô cùng quan trọng Theo nguyên tắc này, các bên có quyền tự do giao kết hợp đồng hoặc tự do không giao kết hợp đồng với chủ thể nhất định Tùy theo mỗi quốc gia, nguyên tắc này có thể được quy định trong Bộ luật dân sự (Luật dân sự), Luật Hợp đồng hay Luật Thương mại hoặc các đạo luật về kinh doanh
Theo nguyên tắc này, tất cả các chủ thể có đầy đủ năng lực pháp luật đều có quyền tự do quyết định việc ký kết hợp đồng mà không một chủ thể hay một tổ chức, cá nhân nào được ngăn cản hay can thiệp vào quyền này một cách bất hợp pháp Nguyên tắc này được thể hiện qua các nội dung sau:
Một là, các bên có quyền tự quyết định việc đưa ra đề nghị hay không đưa
ra đề nghị giao kết hợp đồng cũng như nội dung của đề nghị giao kết Khi nhận được đề nghị, các bên có quyền quyết định chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị Việc quyết định ký hay không ký hợp đồng là do ý chí của các bên, không
bị ảnh hưởng bởi ý chí hay sự ép buộc của bên kia hay bên thứ ba nào khác
Hai là, các bên có quyền lựa chọn ký hợp đồng với chủ thể này và từ
chối ký kết hợp đồng với chủ thể khác Các thương nhân có quyền tự do quyết định họ sẽ ký kết hợp đồng với ai Họ có quyền quyết định ai là người họ sẽ bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình và ai là người họ sẽ muốn mua hàng hóa hoặc nhận cung ứng dịch vụ cho mình, cũng như họ có quyền thỏa thuận những điều khoản hợp đồng cụ thể Trong lĩnh vực thương mại, nguyên tắc này được coi là nền tảng của một trật tự kinh tế mang tính mở trên thị trường cạnh tranh
Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có những trường hợp ngoại lệ nhất định
Để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, trật tự công cộng, quyền tự do lựa chọn đối tác ký kết hợp đồng phải được thực hiện không trái với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội, trật tự công cộng Pháp luật các quốc gia thường sẽ
Trang 17quy định các trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc này bao gồm: (i) Hợp đồng bị cấm giao kết trong một số lĩnh vực kinh tế, thương mại nhất định có sự điều chỉnh của Nhà nước hoặc (ii) Đối với từng loại hợp đồng cụ thể, Nhà nước quy định các bên phải ký kết hợp đồng hoặc không được ký kết hợp đồng
1.1.3.2 Quyền thỏa thuận nội dung hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên
Nội dung của hợp đồng là toàn bộ các vấn đề mà các bên đã thỏa thuận với nhau Về mặt hình thức, nội dung của hợp đồng phải được thể hiện dưới dạng điều khoản Về mặt pháp lý, nội dung của hợp đồng chính là các quyền
và nghĩa vụ ràng buộc các bên giao kết hợp đồng với nhau Thông thường, nội dung hợp đồng được xác định gồm các điều khoản như: Đối tượng hợp đồng,
số lượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời gian, địa điểm thực hiện hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên Việc xác định nội dung hợp đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những thỏa thuận được thừa nhận là hợp đồng và những thỏa thuận không được coi là hợp đồng Về cách xác định nội dung hợp đồng, có các quan điểm khác nhau
* Quan điểm thứ nhất cho rằng: Căn cứ vào tính chất và vai trò của
từng nội dung hợp đồng sẽ phân chia nội dung hợp đồng thành các loại sau: (i) Nội dung chủ yếu của hợp đồng (điều khoản cơ bản), là nội dung quan trọng nhất của hợp đồng, mà nếu thiếu những nội dung đó thì hợp đồng coi như chưa được giao kết Tùy theo loại hợp đồng mà điều khoản cơ bản có thể
là đối tượng, giá cả, địa điểm, nhưng có điều khoản đương nhiên là điều khoản cơ bản, vì nếu các bên không thỏa thuận về nó thì sẽ không hình thành hợp đồng Các điều khoản cơ bản của hợp đồng có thể do pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận với nhau (ii) Nội dung thường lệ (điều khoản thông thường) là những nội dung đã được pháp luật quy định, các bên có thể ghi nhận trong hợp đồng hoặc không cần ghi nhận trong hợp đồng và trường hợp này coi như các bên mặc nhiên công nhận và phải có nghĩa vụ thực hiện, chẳng hạn như điều khoản về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng (iii) Nội dung tùy nghi (điều khoản tùy nghi) là những nội dung do các bên tự thỏa thuận khi chưa có quy định pháp luật nhưng các bên thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật, nhằm xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên
Trang 18Đây là quan điểm được thừa nhận trong pháp luật truyền thống của châu Âu lục địa (pháp luật của Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Trung Quốc, quy định đối tượng hợp đồng là một trong các yếu tố cơ bản của hợp đồng)
Về nguyên tắc, khi đàm phán ký hợp đồng, các bên có quyền thể hiện ý chí của mình trong việc thỏa thuận quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như nội dung các điều khoản của hợp đồng, mà không bị ép buộc Nguyên tắc này cho phép các chủ thể tự do quy định các điều kiện của hợp đồng; các bên có quyền thỏa thuận bất cứ nội dung gì trong hợp đồng miễn là không trái pháp luật Theo pháp luật hợp đồng một số nước, các điều khoản của hợp đồng do các bên ấn định và thông thường bao gồm các nội dung: Tên các bên, địa chỉ của họ; đối tượng của hợp đồng; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; giải quyết tranh chấp; Đối với các bên đã có mối quan hệ kinh doanh lâu dài, đã từng
ký với nhau nhiều hợp đồng trong kinh doanh, các bên có thể áp dụng hợp đồng mẫu, tập quán và thói quen thương mại nếu như giữa họ đã từng nhất trí,
áp dụng nhiều lần các điều khoản, tập quán đó trong quan hệ hợp đồng Điều 2.19 Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế
Xuất phát từ lợi ích của mình, các bên đưa ra các đề nghị giao kết hợp đồng trên cơ sở ý chí đích thực của họ Nội dung thỏa thuận hợp đồng và hợp đồng được ký kết thì không ai có quyền thay đổi nội dung hợp đồng, nếu không
có sự đồng ý của các bên tham gia ký kết Khi đạt được thỏa thuận chung thì coi như hợp đồng đã được ký kết Điều 8 Luật hợp đồng năm 1999 của Trung
Quốc quy định: “Một hợp đồng được thiết lập một cách hợp pháp sẽ ràng buộc
các bên về mặt pháp lý Các bên phải thực hiện nghĩa vụ tương ứng theo quy định của hợp đồng, không bên nào được thay đổi hoặc chấm dứt hợp đồng một cách tùy tiện Một hợp đồng được thiết lập một cách hợp pháp được pháp luật bảo vệ” Trong trường hợp một bên không tôn trọng thực hiện các nội dung
hợp đồng, thì bên đó phải gánh chịu những hậu quả bất lợi theo như các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về x lý trường hợp vi phạm hợp đồng6
6
Tlđđ, tr.27
Trang 19* Quan điểm thứ hai cho rằng, coi hợp đồng là một quá trình điều tiết
Vì vậy, không thể yêu cầu các bên phải xác định cụ thể nội dung của các thỏa thuận trong hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên tại thời điểm giao kết Quan điểm này có ưu điểm là nó bảo đảm tối đa quyền TDHĐ, phù hợp và đáp ứng yêu cầu thực tiễn hoạt động thương mại, nhất là đối với các hợp đồng thương mại dài hạn Trong thực tiễn giao kết hợp đồng, nghĩa vụ của các bên không nhất thiết chỉ giới hạn trong các quy định rõ ràng tại hợp đồng, mà có thể còn có các ý nghĩa ngầm hiểu Nguồn của nghĩa vụ ngầm hiểu có thể là thói quen được thiết lập giữa các bên, tập quán thương mại hoặc có thể xuất phát từ việc giải thích hợp đồng trên cơ sở nguyên tắc thiện chí, trung thực hoặc tính hợp lý của hợp đồng Hạn chế của quan điểm này là việc chứng minh nghĩa vụ hợp đồng và việc bảo vệ quyền lợi của các bên có thể gặp nhiều khó khăn, trong trường hợp phát sinh tranh chấp do quyền và nghĩa vụ của các bên không được các bên thỏa thuận rõ ràng, cụ thể Ngày nay, nội dung này ngày càng được thể hiện trong pháp luật hợp đồng hiện đại, đặc biệt
là đối với các hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Ví dụ: theo Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, điều khoản về giá cả có thể không được thể hiện trong hợp đồng, nhưng có thể được xác định theo các phương pháp quy định tại điều 55 Công ước7
1.1.3.3 Quyền tự do quyết định hình thức hợp đồng
Hình thức hợp đồng là phương thức ký kết, phương tiện ghi nhận nội dung thỏa thuận của các bên Nó có thể là thủ tục ký kết hợp đồng hoặc hình thức thể hiện thỏa thuận của các bên, bằng lời nói, hành vi hoặc bằng văn bản Hình thức của hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng Nó là chứng cứ xác nhận quan hệ hợp đồng đã, đang tồn tại giữa các bên, từ đó xác định trách nhiệm khi có vi phạm hợp đồng xảy ra Theo nguyên tắc tự do thỏa thuận, các bên có quyền xác lập hợp đồng dưới bất cứ hình thức nào, theo cách mà họ muốn, chỉ cần đạt được sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên là hợp đồng coi như đã hình thành Sự thỏa thuận hợp đồng không phải theo một công thức nào Người ta có thể lập hợp đồng bằng cách trao đổi văn
7
Tlđđ, tr.25
Trang 20bản, thư từ truyền thống; bằng điện tín, bằng điện thoại, qua mạng internet và các phương tiện điện tự khác Nhìn chung, tất cả các hệ thống pháp luật trên thế giới đều công nhận nguyên tắc này Các bên có quyền tự do lựa chọn hình thức hợp đồng dưới dạng: Bằng lời nói, c chỉ, hành vi hay bằng văn bản Trong đó, hình thức văn bản hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được pháp luật hợp đồng các nước để cập không chỉ là văn bản viết theo quan niệm truyền thống, mà bao gồm cả thông điệp dữ liệu điện t Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin và thời đại công nghệ số, sự phát triển của thương mại điện t (là việc thực hiện các hoạt động thương mại thông qua các phương tiện điện t , mạng internet) trên phạm vi toàn cầu đã đặt ra yêu cầu cần loại bỏ rào cản pháp lý của pháp luật hợp đồng ảnh hưởng đến sự phát triển của thương mại điện t Do vậy, pháp luật hợp đồng của các nước đã coi hình thức thông điệp điện t có giá trị pháp lý tương đương văn bản viết truyền thống trong giao kết hợp đồng8
Theo nguyên tắc tự do xác lập hình thức hợp đồng, hiệu lực của hợp đồng không bị ràng buộc bởi các yêu cầu về hình thức, trừ những trường hợp ngoại lệ Nguyên tắc này cũng gián tiếp công nhận sự hình thành, s a đổi hoặc chấm dứt hợp đồng bằng thỏa thuận giữa các bên Trong quá trình giao kết hợp đồng thương mại, nhất là đối với các hợp đồng phức tạp đòi hỏi sự đàm phán kỹ lưỡng và kéo dài, nếu hai bên chưa thỏa thuận về hình thức cụ thể của hợp đồng, thì hợp đồng chưa được giao kết Các hành vi phổ biến loại này gồm: Các tuyên bố ý chí mà các bên đưa ra trong quá trình giao kết hay thực hiện hợp đồng hoặc trong trường hợp khác
Nguyên tắc này rất phù hợp với yêu cầu nhanh chóng, thuận tiện của các hoạt động thương mại Nhờ vào các phương tiện truyền thông hiện đại, nhiều giao dịch được giao kết nhanh chóng bằng các cuộc điện thoại, fax, giao dịch điện t , internet, văn bản giấy tờ, Tuy nhiên, một số nước quy định các trường hợp ngoại lệ Đối với một số hợp đồng nhất định, pháp luật quy định điều kiện hình thức hợp đồng được coi là yêu cầu bắt buộc về hiệu
8
Tlđđ, tr.29
Trang 21lực của hợp đồng Trong khi đó, ở một số nước khác, các ngoại lệ được đặt ra chỉ nhằm mục đích để làm bằng chứng về việc giao kết hợp đồng
1.1.3.4 Quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng
Theo nguyên tắc hiệu lực bắt buộc thực hiện của hợp đồng, sau khi hợp đồng được giao kết hợp pháp, các bên có trách nhiệm nghiêm túc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng luôn tiềm
ẩn những vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, nhất là đối với các hợp đồng dài hạn
Đó có thể là hành vi không thực hiện hợp đồng, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng làm cho lợi ích của các bên có nguy cơ bị xâm hại, dẫn đến tranh chấp hợp đồng
Tranh chấp hợp đồng là mâu thuẫn, bất đồng ý kiến, lợi ích giữa các bên liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo thỏa thuận hợp đồng Tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là một loại tranh chấp trong thương mại Nó có thể được giải quyết thông qua các phương thức như thương lượng, hòa giải hay tố tụng tư pháp hoặc tố tụng trọng tài
Do tranh chấp hợp đồng phát sinh trực tiếp từ quan hệ hợp đồng nên việc giải quyết tranh chấp thuộc quyền tự định đoạt của các bên, dựa trên nguyên tắc tự do ý chí Theo nguyên tắc này, các bên trong hợp đồng có quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, cơ quan giải quyết tranh chấp, địa điểm giải quyết tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, bảo đảm trật tự công cộng, phòng ngừa vi phạm hợp đồng, việc giải quyết tranh chấp hợp đồng phải chính xác, đúng pháp luật, bảo đảm công bằng và công lý Ngoài ra còn phải bảo đảm các yêu cầu của hoạt động thương mại còn phải bảo đảm các yêu cầu như nhanh chóng, thuận lợi, không hạn chế, cản trở các hoạt động thương mại; khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh; giữ bí mật kinh doanh và bảo đảm hiệu quả kinh tế
Để đảm bảo quyền TDHĐ và lợi ích của các bên trong giải quyết tranh chấp hợp đồng, pháp luật các nước đều quy định các bên có quyền lựa chọn giải quyết tranh chấp hợp đồng được thực hiện thông qua một trong các phương thức giải quyết tranh chấp sau: Thương lượng, hòa giải, trọng tài hoặc
Trang 22Tòa án Từ đó, pháp luật quy định về thủ tục giải quyết các tranh chấp bằng các phương thức trên để các bên lựa chọn khi giải quyết tranh chấp pháp sinh
Như vậy, có thể thấy cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được pháp luật quy định rất mềm dẻo trên cơ sở tôn trọng quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận của các bên Pháp luật không quy định các bên phải tuân theo một phương thức hay thủ tục giải quyết tranh chấp nào Các bên có quyền lựa chọn một trong các phương thức giải quyết tranh chấp
mà họ thấy phù hợp nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của mình
1.2 Vai trò, ý nghĩa của việc bảo đảm quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, với những đặc trưng và quy luật của nó, các chủ thể ở vào vị thế bình đẳng, có quyền tự do sở hữu, quyền tự do kinh doanh, TDHĐ Hợp đồng có bản chất là sự thỏa thuận giữa các chủ thể, đóng vai trò quan trọng trong sự vận hành của nền kinh tế, là hình thức pháp lý của các giao dịch dân sự, thương mại
Về mặt kinh tế và pháp lý, việc bảo đảm quyền TDHĐ có vai trò, ý nghĩa quan trọng sau:
Một là, với tính cách là một công cụ điều chỉnh các quan hệ tài sản, lợi
ích kinh tế, hợp đồng trước hết là căn cứ để các chủ thể thực hiện các giao dịch dân sự của mình và là cơ sở để giải quyết khi phát sinh tranh chấp giữa các bên, bảo đảm trật tự trong các giao dịch dân sự, thương mại Trong đời sống pháp lý, hợp đồng là công cụ bảo vệ các quyền tài sản của tổ chức, cá nhân; là một trong những cách thức quan trọng và phổ biến nhất để xác lập và bảo vệ quyền tài sản Vì vậy, việc bảo vệ quyền TDHĐ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội9
Trong các giao dịch dân sự, hợp đồng được các chủ thể s dụng phổ biến và thông dụng, thông qua hợp đồng các bên có thể thỏa thuận với nhau bất kỳ điều gì, với bất cứ điều kiện nào, dưới bất cứ hình thức nào, miễn là
9
Nguyễn Thị Hường (2011), Tự do giao kết hợp đồng - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ
luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.20
Trang 23pháp luật không cấm Vì thế, bảo đảm quyền TDHĐ còn nhằm bảo đảm sự bình đẳng và lợi ích của các chủ thể, là cơ sở pháp lý cho sự hợp tác
Hai là, trong mối quan hệ với quyền TDKD, quyền TDHĐ là yếu tố cơ
bản của quyền TDKD Vì vậy, việc bảo đảm quyền TDHĐ cũng chính là bảo đảm quyền TDKD được thể hiện trên thực tế Khi quyền TDKD được bảo đảm sẽ là điều kiện và động lực cho sự phát triển và tăng trưởng kinh tế
Ba là, trong các giao dịch dân sự, thương mại thì hợp đồng ngày càng trở
thành phương tiện quản lý rủi ro, thông qua hợp đồng các bên đều tự nguyện cam kết thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng, do đó nó tạo cho các chủ thể luôn ý thức được việc phải tuân thủ các điều khoản đã cam kết đó, nếu không tuân thủ bên vị phạm phải chịu trách nhiệm và phải bồi thường thiệt hại (nếu có) cho bên bị vi phạm và phải chịu các chế tài khác mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của pháp luật Vì vậy, đối với các chủ thể, việc bảo vệ quyền TDHĐ có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do sở hữu, TDKD, tự do cạnh tranh, Trong thực tế, việc bảo đảm quyền TDHĐ còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền
và lợi ích của các bên chủ thể, chống lại các hành vi lạm dụng quyền TDHĐ nhằm vi phạm quyền TDHĐ và lợi ích của các chủ thể khác10
Về mặt xã hội, việc bảo đảm quyền TDHĐ có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc thực thi các quyền cơ bản của con người về dân sự, kinh tế Trong xã hội hiện đại, hợp đồng được đến như là một giao dịch không thể thiếu của mỗi thành viên trong xã hội có tổ chức; s dụng điện thoại, điện nước, mua nhu yếu phẩm hằng ngày, đi du lịch, giải trí, hầu hết các hoạt động của con người đều được thực hiện trong khuôn khổ của mỗi quan hệ khế ước (hợp đồng) Hợp đồng ngày càng trở thành một hiện tượng hết sức phổ biến, phong phú, phức tạp trong cuộc sống hằng ngày của mỗi thành viên trong xã hội Vì vậy, việc bảo đảm quyền TDHĐ có vai trò quan trọng cho việc quản lý và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền tự do
cơ bản của con người về dân sự, kinh tế
10
Tlđđ, tr.20
Trang 241.3 Các yếu tố chi phối quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Như đã trình bày, ngày nay, không có sự thừa nhận quyền TDHĐ một cách tuyệt đối Do nhiều nguyên nhân khác nhau, pháp luật các nước cần phải tác động vào quan hệ hợp đồng ở mức độ nhất định Ngay cả trong phạm vi quốc gia, trong mỗi giai đoạn lịch s nhất định, pháp luật quy định quyền TDHĐ có những thay đổi Việc nghiên cứu về quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại cho thấy nó bị chi phối bởi các yếu tố như: Chế độ sở hữu; cơ chế quản lý kinh tế và yêu cầu hội nhập kinh tế
1.3.1 Sự chi phối của chế độ sở hữu đối với tài sản và tư liệu sản xuất đến quyền tự do hợp đồng
Quan hệ sở hữu có vai trò đặc biệt quan trọng, vì nó quyết định tính chất
và nội dung các quan hệ kinh tế khác Việc xác định quan hệ sở hữu một cách đúng đắn, phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các quan hệ kinh tế phát triển
và ngược lại, sẽ làm kìm hãm sự phát triển của các quan hệ kinh tế và kéo theo
đó là sự trì trệ của toàn bộ nền kinh tế - xã hội Điều này đã được được thực tế chứng minh rất rõ ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Lào và Việt Nam
- Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và xã hội phong kiến, tất cả các tư liệu sản xuất và của cải trong xã hội đều tập trung trong tay giai cấp thống trị là chủ nô và giai cấp phong kiến Giai cấp bị trị là nô lệ và nông dân chiếm đa
số, là những người không có địa vị trong xã hội, không có quyền sở hữu tài sản gì Vì vậy, quyền TDHĐ đối với họ cũng không có ý nghĩa trên thực tế, khi mà họ gần như không có tài sản làm đối tượng để giao kết hợp đồng
- Chủ nghĩa tư bản ra đời, trong giai đoạn đầu, đã đề cao quyền tự do, dân chủ của con người, nhất là quyền sở hữu cá nhân Cơ sở pháp lý quan trọng này đã làm nền tảng cho việc bảo đảm sự tồn tại các quyền tự do về kinh tế khác như TDKD, TDHĐ, Với việc bảo vệ mạnh mẽ quyền tự do sở hữu, quyền TDHĐ cũng được pháp luật tư sản thời kỳ đầu đề cao11
11 Phạm Hoàng Giang (2007), Quyền tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam - Những vấn
đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.44
Trang 25- Đối với các nước phát triển theo con đường XHCN, thời kỳ đầu chỉ có
sự thừa nhận hai hình thức sở hữu chủ yếu là: Sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Đây được coi là cơ sở của quan hệ sản xuất XHCN, cũng là cơ sở của quan hệ hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị kinh doanh Trong hai hình thức sở hữu đó, sở hữu toàn dân giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Vai trò này thể hiện ở chỗ: Tất cả các tư liệu sản xuất quan trọng trong xã hội đều thuộc sở hữu toàn dân (Điều 18 Hiến pháp Hiến pháp 1980, Điều 17 Hiến pháp 1992 của Việt Nam, Điều 7 Hiến pháp năm 1991 (s a đổi, bổ sung năm 2003) của Lào) Việc hình thành, phát triển sở hữu tập thể đều xuất phát từ sự giúp đỡ, hỗ trợ của Nhà nước Các hình thức sở hữu khác cũng như các thành phần kinh tế khác như: Kinh tế cá thể, tư bản tư nhân, không được Nhà nước và pháp luật khuyến khích phát triển Pháp luật chỉ cho phép các đơn vị kinh tế tập thể, tổ chức, cá nhân được quyền sở hữu tài sản nhất định, còn tất cả các tài sản khác trong xã hội, nhất là những tư liệu sản xuất quan trọng đều thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thay mặt toàn dân sở hữu Chính đặc điểm về chế độ sở hữu này đã làm triệt tiêu cơ sở tồn tại của quyền TDHĐ Bởi vì, không có sự đa dạng của hình thức sở hữu thì không thể có TDHĐ Việc ký kết các hợp đồng kinh tế chủ yếu giữa các doanh nghiệp nhà nước với nhau chỉ là hình thức, vì các tài sản trong xã hội chủ yếu thuộc một chủ sở hữu là Nhà nước Hơn nữa, các đơn vị kinh doanh chỉ có quyền quản lý tài sản chứ không có quyền định đoạt tài sản đó nên việc giao kết hợp đồng giữa các đơn vị kinh doanh đều do Nhà nước định đoạt trên
cơ sở chỉ tiêu, kế hoạch Do đó, có thể nói quyền TDHĐ ở giai đoạn này không được pháp luật thừa nhận và không tồn tại trên thực tế
Kể từ khi Liên Xô tan rã cùng với sự sụp đổ của cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, một số nước XHCN đã phát triển kinh tế thị trường Việc đầu tiên các nước này thực hiện trong phát triển kinh tế là đa dạng hóa chế độ sở hữu Hiến pháp và pháp luật các nước đều thừa nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu trong nền kinh tế Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam và Hiến pháp năm 2003 của Lào đã thừa nhận sự tồn tại khách quan của các hình thức sở hữu trong nền kinh tế, đó là: Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, sở hữu hỗn hợp, sở hữu
Trang 26chung Pháp luật quy định chủ sở hữu có quyền trực tiếp sở hữu tất cả các loại tài sản hợp pháp thuộc quyền sở hữu của mình (trừ đất đai thuộc sở hữu toàn dân) Quyền sở hữu gồm ba quyền năng: Chiếm hữu, s dụng, định đoạt Quyền định đoạt của các chủ sở hữu được thực hiện qua hợp đồng12
Việc thừa nhận nhiều hình thức sở hữu đã tạo cơ sở, tiền đề pháp lý cho
sự tồn tại của quyền TDHĐ Việc pháp luật ghi nhận và quy định quyền TDKD,
tự do cạnh tranh, đã tạo cơ sở cho quyền TDHĐ được thực hiện trên thực tế
Như vậy, qua việc nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ sở hữu đối với việc bảo đảm quyền TDHĐ có thể thấy rằng: Việc bảo đảm sự tồn tại đa dạng của các hình thức sở hữu đối với tài sản và các quyền tài sản, nhất là sở hữu
cá nhân là cơ sở quyết định cho các quyền TDHĐ tồn tại, phát triển ở cả phương diện lý luận cũng như trên thực tế Chỉ khi Nhà nước và pháp luật thừa nhận quyền tự do sở hữu thì mới có quyền TDHĐ
1.3.2 Sự chi phối của cơ chế quản lý kinh tế đến quyền tự do hợp đồng
Mỗi một mô hình kinh tế, mỗi một cơ chế kinh tế đều có một kiểu pháp luật hợp đồng kinh tế của mình Tính chất của các quan hệ kinh tế quyết định tính chất của sự điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ kinh tế ấy Đối với quyền TDHĐ cơ chế quản lý kinh tế có ý nghĩa quan trọng quyết định tính chất, mức độ, phạm vi của quyền TDHĐ Yếu tố này được thể hiện rõ nét thông qua tác động của cơ chế quản lý kinh tế theo cơ chế tập trung bao cấp ở các nước XHCN trước đây và cơ chế quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường
Trong suốt thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung ở Lào và Việt Nam cũng như nhiều nước XHCN trước đây, quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại không được bảo đảm do bị chi phối bởi cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp của Nhà nước Điều này thể hiện ở các nội dung cơ
bản sau: (i) Về mặt kinh tế, cơ chế bao cấp dựa trên mệnh lệnh hành chính và
các chỉ tiêu kế hoạch đã hạn chế các hoạt động thương mại Các loại hàng hóa, dịch vụ, tài sản trong xã hội không vận động theo các quy luật của thị trường mà theo ý chí chủ quan của Nhà nước Quyền TDHĐ không được bảo đảm thực hiện, dẫn đến hậu quả là sự giao lưu kinh tế, thương mại, trao đổi
12
Tlđđ,tr.45
Trang 27hàng hóa không có điều kiện phát triển trên thực tế (ii) Về mặt pháp lý, các
quy định pháp luật trong cơ chế cũ chủ yếu quan tâm đến việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế theo chiều dọc, không quan tâm đến quan hệ kinh tế theo chiều ngang Do vậy, làm cho các yếu tố tổ chức, kế hoạch, mệnh lệnh hành chính chi phối toàn yếu tố tài sản trong nền kinh tế Điều này còn tạo ra sự bất bình đẳng trong quan hệ hợp đồng giữa các doanh nghiệp Hợp đồng được giao kết chứa đựng ý chí của cơ quan nhà nước, thay vì ý chí của các bên, yếu
tố tổ chức - kế hoạch thay cho yếu tố tài sản, yếu tố hành chính, mệnh lệnh thay cho yếu tố tự do thỏa thuận Những quy định của Nhà nước trong thời kỳ này đã thể hiện sự can thiệp sâu rộng của Nhà nước vào quan hệ hợp đồng trong nền kinh tế, làm mất đi quyền TDHĐ của các chủ thể
Khi thực hiện việc chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ cuối những năm
80 của thế kỷ XX, một số nước XHCN thực hiện việc xóa bỏ cơ chế quản lý
cũ, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong đó có Việt Nam và Lào Nội dung chủ yếu của việc chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế là xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó các quyền về hợp đồng, quyền định đoạt, tự chịu trách nhiệm phải được bảo vệ Việc chuyển sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, đòi hỏi việc xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế hành chính quan liêu bao cấp, xác lập và mở rộng quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, quyền TDHĐ Cơ chế thị trường đòi hỏi phải đảm bảo cho các quan hệ hợp đồng trong kinh doanh thực sự thực sự
là thống nhất ý chí của các bên tham gia giao kết theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi Điều này đòi hỏi, hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế, thương mại nói chung, cũng như pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng cũng phải được đổi mới phù hợp với những đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN Sự chuyển biến đó thể hiện ở việc nhiều nước XHCN trước đây đã ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường, ghi nhận và bảo vệ quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại, trả lại bản chất thực sự của hợp đồng là sự tự do thỏa thuận Điển hình là Lào đã ban hành Luật Hợp đồng năm 1990, Luật Hợp đồng và x lý vi phạm hợp đồng năm
Trang 282008; Trung Quốc han hành Luật Hợp đồng năm 1999; Việt Nam ban hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, Bộ luật Dân sự năm 1995, 2005, Luật Thương mại năm 1997 Theo các văn bản này, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quan hệ kinh tế nói chung, quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng như trong cơ chế quản lý kinh tế cũ Nhà nước chỉ can thiếp ở tầm vĩ mô, với tư cách là chủ thể quyền lực công, ban hành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại13
Ngoài ra, nội dung quyền TDHĐ không chỉ phụ thuộc vào tính chất của
cơ chế quản lý kinh tế mà còn phụ thuộc rất nhiều vào mức độ hoàn thiện của chính cơ chế quản lý kinh tế đó
Qua việc nghiên cứu tác động của cơ chế quản lý kinh tế đối với quyền TDHĐ có thể thấy rằng, cơ chế quản lý kinh tế có vai trò quyết định tính chất, mức độ và phạm vi của quyền TDHĐ Nội dung của quyền TDHĐ không chỉ phụ thuộc vào tính chất của cơ chế quản lý kinh tế mà còn phụ thuộc rất nhiều vào mức độ hoàn thiện của cơ chế quản lý kinh tế
1.3.3 Sự chi phối của hội nhập quốc tế đến quyền tự do hợp đồng
Quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới ngày ngay đang là một quy luật của thời đại Các quan hệ thương mại cũng không nằm ngoài quy luật đó Trong quá trình hội nhập, pháp luật thương mại nói chung và pháp luật về hợp đồng nói riêng luôn phải hoàn thiện nhằm đạt đến những chuẩn mực chung, bảo đảm sự phù hợp giữa pháp luật của quốc gia với các chuẩn mực của pháp luật quốc tế để phục vụ hội nhập quốc tế
Trong lĩnh vực hợp đồng, để tạo ra khuôn khổ pháp lý chung điều chỉnh các quan hệ hợp đồng, Cộng đồng Châu Âu đã ban hành Luật Hợp đồng chung
để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng ở tất cả các quốc gia thành viên trong khối
Ở phương diện rộng lớn hơn, Liên Hợp quốc đã thông qua Công ước về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Luật Mẫu về trọng tài (Uncitral Law) nhằm quy định các chuẩn mực chung điều chỉnh các quan hệ hợp đồng thương mại quốc tế, Ngoài ra, thực tiễn sự nỗ lực nhằm thống nhất các quy định về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại giữa các quốc gia, các nước còn thừa nhận và
13
Tlđđ, tr.46
Trang 29áp dụng rộng rãi các “tập quán thương mại quốc tế” năm 1994 (s a đổi năm 2004) Chính vì hội nhập là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia và sự hoàn thiện của pháp luật quốc tế về thương mại quốc tế nói chung và hợp đồng thương mại quốc tế nói riêng đã đặt ra cho các quốc gia, trong đó có Lào và Việt Nam phải xây dựng, hoàn thiện pháp luật nhằm khẳng định và bảo vệ quyền TDHĐ để tham gia vào sân chơi chung của quốc tế Điều này chính là
cơ sở quan trọng để Lào s a đổi, bổ sung Luật Hợp đồng năm 1990 vào năm
2008, cũng như cơ sở để Việt Nam ban hành Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Thương mại năm 2005 cùng các văn bản luật có liên quan khác14
Như vậy, sự chi phối của hội nhập quốc tế đến quyền TDKD trong bối cảnh hiện nay là sự chi phối (ảnh hưởng) mang tính tích cực để buộc các quốc gia phải xây dựng và hoàn thiện pháp luật quốc gia để phù hợp với pháp luật quốc tế, trong đó có việc khẳng định và bảo vệ quyền TDHĐ
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Như vậy, thông qua việc tìm hiểu, phân tích những vấn đề lý luận chung về quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại, tác giả rút một số kết luận sau đây:
Một là, với vai trò quan trọng trong giao lưu dân sự, thương mại nên
chế định hợp đồng đã được pháp luật quy định ngay từ thời Nhà nước La Mã
cổ đại Bên cạnh quan niệm truyền thống là sự thống nhất ý chí của các bên nhằm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý, hợp đồng ngày nay còn mang tính chất của một quá trình điều tiết Trong xã hội hiện đại, hợp đồng được pháp luật các nước đề cập đến như là một quyền cơ bản của con người về dân sự, kinh tế - quyền TDHĐ
Hai là, nội dung cơ bản của quyền TDHĐ được pháp luật quy định bao
gồm: Quyền quyết định lựa chọn đối tác ký kết; quyền tự do thỏa thuận nội dung các điều khoản hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên; quyền lựa chọn hình thức hợp đồng và quyền quyết định giải quyết tranh chấp hợp đồng
14
Tlđđ, tr.47
Trang 30Ba là, tùy thuộc vào sự phát triển của từng giai đoạn lịch s cũng như
điều kiện kinh tế - xã hội ở mỗi nước, các nội dung trên của quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại được thể hiện ở những mức độ khác nhau do nó chịu sự chi phối của các yếu tố: Chế độ sở hữu, cơ chế quản lý kinh tế và yếu
tố hội nhập quốc tế Chính vì vậy, việc bảo đảm sự đa dạng các hình thức sở hữu, tôn trọng tính thị trường trong việc thực hiện cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước; đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế là các cơ sở có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại Bởi vì, việc xây dựng một hệ thống pháp luật bảo đảm quyền TDHĐ phù hợp cơ chế thị trường có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm các quyền cơ bản của con ngươi về dân sự, kinh tế
Những kết luận trên đây sẽ là cơ sở để tác giả giải quyết những vấn đề đặt ra trong Chương 2 của luận văn
Trang 31
Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT LÀO VÀ VIỆT NAM
DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH 2.1 Quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại theo quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh
Hợp đồng là một chế định rất rộng, bao hàm gần như tất cả các giao lưu dân sự, kinh tế Ở Việt Nam, pháp luật điều chỉnh hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói chung và quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại nói riêng được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cùng các văn bản hướng dẫn có liên quan Trong khi đó, ở nước CHDCND Lào, pháp luật điều chỉnh hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói chung và quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại nói riêng chỉ được quy định trong Luật Hợp đồng và
x lý vi phạm hợp đồng năm 2008, Luật Tố tụng dân sự năm 2004 cùng các văn bản hướng dẫn có liên quan Chính vì vậy, việc so sánh quy định về quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại theo pháp luật Lào và Việt Nam sẽ xoay quanh các văn bản kể trên
2.1.1 Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp luật Lào và Việt Nam về quyền lựa chọn đối tác và đối tượng hợp đồng
Quyền lựa chọn đối tác và đối tượng của hợp đồng theo pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005 và các luật chuyên ngành của Việt Nam cũng như Luật Hợp đồng và x lý vi phạm hợp đồng năm 2008 và các luật chuyên ngành của Lào Trên cơ sở so sánh các quy định tương ứng, có thể thấy một số điểm tương đồng và khác biệt sau đây về quyền lựa chọn đối tác và đối tượng của hợp đồng nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng
Thứ nhất, về nguyên tắc tự nguyện trong giao kết hợp đồng nói chung
và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng
Trang 32- Điều 9 Luật Hợp đồng và x lý vi phạm hợp đồng năm 2008 của Lào
tại đoạn 4 quy định: “Hợp đồng được quy định trong Luật này là hợp đồng
dân sự và sẽ trở thành hợp đồng thương mại nếu chủ thể tham gia hợp đồng
đó có mục đích kinh doanh” Điều 10 quy định về điều kiện có hiệu lực:
“Hợp đồng được giao kết phải đáp ứng các điều kiện sau đây: Các bên ký kết phải tự nguyện lập hợp đồng; các bên ký kết phải năng lực pháp luật đầy đủ; tôn trọng và tuân thủ pháp luật các quy định và truyền thống tốt đẹp của đất nước Lào” Khi đáp ứng các điều kiện này thì các chủ thể được quyền tự do
trong giao kết hợp đồng Điều 11 quy định về sự tự nguyện trong giao kết hợp
đồng: “Sự tự nguyện của các bên trong giao kết hợp đồng là sự đồng ý của
các bên trong hợp đồng mà không mà không có sự gian lận, đe dọa hoặc bạo lực Gian lận là đưa ra những thông tin không đúng để giao kết hợp đồng Đe dọa hoặc bạo lực là một trong hai bên giao kết hợp đồng có hành vi gây nguy hiểm cho bên còn lại, gia đình của bên còn lại, tài sản của bên còn lại” Đây
chính là các quy định về khái quát lên nguyên tắc tự nguyện trong giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng
- Trong khi đó, Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam quy
định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Một trong những
điều kiện để hợp đồng nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói
riêng có hiệu lực đó là: “Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi
phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội” (điểm c khoản 1 Điều
117 Bộ luật Dân sự năm 2015) Do đó, đây được coi là một trong những nguyên tắc giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng đã từng được quy định trong khoản 1 Điều 389 Bộ luật Dân sự năm 2005 Điều 11 Luật Thương mại năm 2005 quy định về nguyên tắc tự do,
tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương mại: “1 Các bên có quyền tự
do thoả thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục
và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó 2 Trong hoạt
Trang 33động thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào”
- Các quy định này có các điểm tương đồng sau: Đều đưa ra nguyên tắc
tự nguyện trong giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng dựa trên việc liệt kê các hành vi vi phạm sự tự nguyện trong giao kết hợp đồng như áp đặt, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản (gian lận, đe dọa hoặc bạo lực) Hơn thế nữa, để có được sự tự nguyện trong giao kết hợp đồng, pháp luật hai nước đều quy định mục đích, hình thức và nội dung của hợp đồng phải tuân thủ các quy định của pháp luật và truyền thống tốt đẹp của đất nước (không trái đạo đức xã hội)
- Trong sự so sánh, có thể rút ra một số nét khác biệt sau đây:
+ Một là, số lượng các hành vi vi phạm sự tự nguyện trong giao kết hợp
đồng nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng theo Luật Hợp đồng và x lý vi phạm hợp đồng năm 2008 của Lào chỉ là gian lận, đe dọa hoặc bạo lực Trong khi đó, hành vi vi phạm sự tự nguyện trong giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng theo pháp luật Việt Nam bao gồm hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản (khoản 2 Điều 11 Luật Thương mại năm 2005) Như vậy, hành vi vi phạm sự
tự nguyện theo pháp luật Việt Nam rộng hơn so với quy định tương ứng của pháp luật Lào
+ Hai là, các hành vi vi phạm sự tự nguyện trong giao kết hợp đồng nói
chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng được Luật Hợp đồng
và x lý vi phạm hợp đồng năm 2008 của Lào làm rõ Trong khi đó, Luật Thương mại năm 2005 nói riêng và Bộ luật Dân sự năm 2015 nói chung không làm rõ các hành vi vi phạm sự tự nguyện trong giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng
Thứ hai, quyền lựa chọn đối tác giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng
- Theo Điều 17 Luật Hợp đồng và x lý vi phạm hợp đồng năm 2008 của Lào quy định về đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng như sau:
Trang 34“Trong trường hợp các bên có nhu cầu giao kết hợp đồng bằng lời nói
mà bên đề nghị giao kết không quy định thời gian chấp nhận giao kết, khi bên được đề nghị giao kết nhận được đề nghị giao kết có thể chấp nhận đề nghị giao kết vào bất kỳ thời điểm nào và địa điểm nào Thời điểm và địa điểm đó được coi là thời điểm và địa điểm hợp đồng được giao kết
Trong trường hợp các bên có nhu cầu giao kết hợp đồng bằng văn bản
mà bên đề nghị giao kết không quy định thời gian chấp nhận giao kết, người nhận được đề nghị giao kết phải trả lời người đề nghị giao kết trong vòng ba mươi ngày kể từ ngày nhận được đề nghị giao kết Nếu bên đề nghị giao kết quy định thời hạn chấp nhận, hợp đồng sẽ được coi là đã được giao kết vào ngày cuối cùng trong thời hạn chấp nhận giao kết mà bên đề nghị giao kết đặt
ra, nếu bên đề nghị giao kết không rút lại đề nghị giao kết
Trong quá trình trên các bên có quyền đơn phương thay đổi, hủy bỏ nội dung đề nghị giao kết”
- Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam, các chủ thể kinh tế có quyền tự quyết định việc đưa ra:
+ Đề nghị giao kết hợp đồng, thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng, hủy bỏ giao kết hợp đồng theo quy định của pháp luật:
Điều 386 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về đề nghị giao kết hợp
đồng: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp
đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị)
Trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh”
Điều 389 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thay đổi, rút lại đề nghị
giao kết hợp đồng: “1 Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại
đề nghị giao kết hợp đồng trong trường hợp sau đây: a) Bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị; b) Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị
Trang 35phát sinh trong trường hợp bên đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh
2 Khi bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đó là đề nghị mới”
Điều 390 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hủy bỏ đề nghị giao
kết hợp đồng: “Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể huỷ bỏ đề nghị nếu đã
nêu rõ quyền này trong đề nghị và bên được đề nghị nhận được thông báo về việc hủy bỏ đề nghị trước khi người này gửi thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng”
+ S a đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:
Điều 392 Bộ luật Dân sự năm 2015 về s a đồi đề nghị do bên được đề
nghị đề xuất quy định: “Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp
đồng nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới”
Điều 393 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về chấp nhận đề nghị giao
kết hợp đồng: “1 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên
được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị
2 Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”
- Các quy định này có một số điểm tương đồng sau: (i) Pháp luật hiện hành của hai nước không đưa ra bất cứ một hạn chế hay ngoại lệ nào cản trở quyền lựa chọn đối tác để giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng (ii) Pháp luật hiện hành của hai nước quy định nội dung của quyền lựa chọn đối tác giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng bao gồm quyền đưa ra đề nghị giao kết, quyền; quyền thay đổi, rút lại đề nghị giao kết; quyền hủy bỏ đề nghị giao kết; quyền s a đổi đề nghị giao kết, quyền chấp nhận đề nghị giao kết
- Các quy định này có một số điểm khác biệt sau:
+ Một là, về đề nghị giao kết Pháp luật hiện hành của Lào không quy
định về thế nào là đề nghị giao kết hợp đồng, mà chỉ quy định về đề nghị giao
Trang 36kết hợp đồng bằng lời nói hoặc hợp đồng bằng văn bản được thực hiện như thế nào Trong khi đó, pháp luật Việt Nam quy định rõ đề nghị giao kết là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị với bên được đề nghị Việc pháp luật Lào không làm rõ thế nào là đề nghị giao kết thực tế là không ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lựa chọn đối tác để giao kết hợp đồng mà việc không làm rõ này chỉ gây khó khăn cho các chủ thể có nhu cầu đề nghị giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng
Hơn thế nữa, pháp luật Lào không quy định trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu
có thiệt hại phát sinh Trong khi đó, đây là quy định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên được đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
+Hai là, về thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng Theo quy định
của pháp luật Lào thì bên đề nghị được quyền rút lại đề nghị giao kết trong
trường hợp muốn giao kết hợp đồng bằng văn bản Điều đó có nghĩa là trong
trường hợp muốn giao kết hợp đồng bằng lời nói thì người đề nghị giao kết không có quyền rút lại đề nghị giao kết hợp đồng Bên đề nghị cũng có quyền thay đổi nội dung giao kết hợp đồng nhưng lại không quy định rõ các trường hợp cũng như điều kiện để thay đổi đề nghị giao kết hợp đồng
Trong khi đó, theo pháp luật hiện hành của Việt Nam việc thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong hai trường hợp: (i) Bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị; (ii) Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh Điều này có nghĩa là, bên đề nghị dự liệu các trường hợp họ được quyền thay đổi, rút lại đề nghị giao kết trong đề nghị giao kết và khi các trường hợp dự liệu đó xảy ra trong thực tế thì bên đề nghị giao
Trang 37kết được quyền thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng Bên cạnh đó, khi bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đó là đề nghị mới
+ Ba là, về hủy bỏ đề nghị giao kết Pháp luật hiện hành của Lào có quy
định về quyền hủy bỏ nội dung đề nghị giao kết hợp đồng nhưng lại không quy định rõ trường hợp nào được bên nghị giao kết được quyền hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng Trong khi đó, pháp luật hiện hành của Việt Nam quy định bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể hủy bỏ đề nghị nếu đã nêu rõ quyền này trong đề nghị và bên được đề nghị nhận được thông báo về việc hủy bỏ đề nghị trước khi người này g i thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
+ Bốn là, về sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất Pháp luật
hiện hành của Lào có quy định về quyền đơn phương thay đổi (hay s a đổi) nội dung đề nghị giao kết cho cả bên đề nghị giao kết và bên được đề nghị giao kết nhưng lại không quy định rõ trường hợp nào được thay đổi (s a đổi)
đề nghị giao kết hợp đồng của bên đề nghị giao kết và hậu quả pháp lý của việc thay đổi (s a đổi) đó Trong khi đó, pháp luật Việt Nam quy định khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện hoặc
s a đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới
+ Năm là, về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Pháp luật hiện hành
của Lào không quy định cụ thể thế nào về quyền chấp nhận giao kết hợp đồng
mà chỉ quy định về thời hạn chấp nhận nếu nhận được đề nghị giao kết hợp đồng bằng lời nói mà không quy định thời gian chấp nhận giao kết, khi bên được đề nghị giao kết nhận được đề nghị giao kết có thể chấp nhận đề nghị giao kết vào bất kỳ thời điểm nào và địa điểm nào Thời điểm và địa điểm đó được coi là thời điểm và địa điểm hợp đồng được giao kết Trong trường hợp các bên có nhu cầu giao kết hợp đồng bằng văn bản mà bên đề nghị giao kết không quy định thời gian chấp nhận giao kết, người nhận được đề nghị giao kết phải trả lời người đề nghị giao kết trong vòng ba mươi ngày kể từ ngày nhận được đề nghị giao kết Nếu bên đề nghị giao kết quy định thời hạn chấp nhận, hợp đồng sẽ được coi là đã được giao kết vào ngày cuối cùng trong thời hạn chấp nhận giao kết mà bên đề nghị giao kết đặt ra, nếu bên đề nghị giao kết không rút lại đề nghị giao kết Hơn thế nữa, pháp luật hiện hành của Lào
Trang 38cũng không quy định sự im lặng của bên được đề nghị giao kết không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên
Trong khi đó, pháp luật hiện hành của Việt Nam quy định cụ thể về quyền chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Theo đó, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị và sự im lặng của bên được đề nghị giao kết không được coi
là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên
Thứ ba, quy định quyền lựa chọn đối tượng hợp đồng và ngoại lệ trong quyền lựa chọn đối tượng hợp đồng
- Về mặt nguyên tắc tự do ý chí thì các bên chủ thể nói chung và chủ thể kinh tế nói riêng có quyền lựa chọn đối tượng hợp đồng Điều này được thể hiện ở Điều 13 Luật Hợp đồng và x lý vi phạm hợp đồng năm 2008 của Lào:
“Trong giao kết hợp đồng các bên giao kết được quyền lựa chọn đối tượng của hợp đồng theo ý chí của mình nhưng đối tượng của hợp đồng phải rõ ràng, tồn tại một cách hợp pháp, không mâu thuẫn với trật tự công cộng và có khả năng thực hiện được” Như vậy, theo pháp luật Lào thì quyền lựa chọn đối tượng
hợp đồng không phải là quyền tuyệt đối nên nó sẽ có những ngoại lệ sau đây:
+ Đối tượng của hợp đồng phải rõ ràng, tồn tại một cách hợp pháp Tức
là đối tượng của hợp đồng phải rõ ràng, tồn tại một cách hợp pháp tức là nó phải được thể hiện dưới dạng tài sản hữu hình, tài sản trí tuệ và thuộc sở hữu hợp pháp của bên đề nghị giao kết hoặc bên được đề nghị giao kết hợp đồng Điều này được quy định trong Luật Sở hữu 1990, Luật Sở hữu trí tuệ năm
2010, Luật Đất đai năm 2006
+ Đối tượng của hợp đồng không mâu thuẫn với trật tự công cộng và có khả năng thực hiện được Nội hàm “trật tự công cộng” là rất rộng và khó định lượng Tuy nhiên có thể hiểu nếu đối tượng của hợp đồng mà các bên lựa chọn gây nguy hại cho xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của con người, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội thì được coi là “mâu thuẫn với trật tự công cộng” Đó có thể là hàng hóa,
Trang 39dịch vụ bị cấm kinh doanh, đầu tư; hàng hóa, dịch vụ bị hạn chế kinh doanh, đầu tư Bên cạnh đó, đối tượng của hợp đồng phải thực hiện được, tức là có khả năng dịch chuyển quyền sở hữu
- Về mặt nguyên tắc tự do ý chí thì các chủ thể nói chung và chủ thể kinh tế nói riêng có quyền lựa chọn đối tượng của hợp đồng Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu bảo đảm trật tự công cộng và lợi ích chung của xã hội, pháp luật Việt Nam quy định nguyên tắc lựa chọn đối tượng hợp đồng trong lĩnh vực thương mại phải bảo đảm hai điều kiện
Một là, đối tượng của hợp đồng không trái với các quy định của pháp
luật Theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015, điều cấm của luật
là những quy định không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định Theo pháp luật hiện hành, những hành vi bị pháp luật luật cấm bao gồm:
+ Các hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh theo quy định tại Điều 6 Luật Đầu tư năm 2014 và phụ lục của Luật này;
+ Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004 tại các Điều 8, Điều 13 và Điều 14 về các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm, các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, hành vi tập trung kinh tế bị cấm;
+ Các hợp đồng bị cấm theo quy định của Luật Phá sản năm 2014 và các hợp đồng bị cấm trong các luật chuyên ngành như Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Doanh nghiệp năm 2014
Hai là, đối tượng của hợp đồng không trái với đạo đức xã hội Theo
quy định của Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng x chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng
Ngoài yêu cầu không trái luật và đạo đức xã hội, quyền lựa chọn đối
tác ký kết hợp đồng trong lĩnh vực thương mại còn bị hạn chế bởi điều kiện
về chủ thể đối với một số hoạt động thương mại Pháp luật quy định các bên phải đáp ứng các yêu cầu về chủ thể nhất định đối với một số loại hợp đồng
Ví dụ: Điều 234 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Điều kiện chủ thể
kinh doanh dịch vụ logistic phải là doanh nghiệp và có đủ điều kiện kinh
Trang 40doanh theo quy định của pháp luật” Điều 250 Luật Thương mại năm 2005
quy định chủ thể kinh doanh dịch vụ quá cảnh phải là doanh nghiệp Điều 257 Luật Thương mại quy định điều kiện chủ thể kinh doanh dịch vụ giám định phải là doanh nghiệp
- Các quy định này có một số điểm tương đồng sau: (i) Quyền lựa chọn đối tượng của hợp đồng là một quyền không tuyệt đối theo quy định của pháp luật Lào và Việt Nam (ii) Từ đó, pháp luật của hai nước quy định một số hạn chế trong việc thực hiện quyền lựa chọn đối tượng hợp đồng của các chủ thể (ii) Các hạn chế về việc thực hiện quyền lựa chọn đối tượng hợp đồng theo quy định của pháp luật hai nước có nội hàm rất rộng, khó nắm bắt vì nằm ở nhiều luật chuyên ngành
- Các quy định này có một số điểm khác biệt sau:
+ Một là, pháp luật hiện hành của Lào quy định về quyền lựa chọn đối
tượng hợp đồng trong một điều luật cụ thể Đó là Điều 13 Luật Hợp đồng và
x lý vi phạm hợp đồng năm 2008 Trong khi đó, pháp luật hiện hành của Việt Nam không có quy định chung về quyền lựa chọn đối tượng hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng như các luật chuyên ngành
+ Hai là, cách thức quy định những hạn chế trong việc thực hiện quyền
lựa chọn đối tượng của hợp đồng theo pháp luật hiện hành của Lào cụ thể hơn
so với pháp luật hiện hành của Việt Nam Theo đó, pháp luật hiện hành của Lào đưa ra các hạn chế trong việc thực hiện quyền lựa chọn đối tượng hợp đồng bao gồm: Đối tượng của hợp đồng phải rõ ràng, tồn tại một cách hợp pháp, không mâu thuẫn với trật tự công cộng và có khả năng thực hiện được Trong khi đó, pháp luật hiện hành của Việt Nam quy định trong việc lựa chọn đối tượng của hợp hợp đồng các chủ thể cần phải bảo đảm hai điều kiện là: Đối tượng tượng của hợp đồng “không trái với quy định của luật” và đối tượng của hợp đồng không trái đạo đức xã hội
+ Ba là, pháp luật hiện hành của Việt Nam có quy định rõ thế nào là
“trái với quy định của luật” tại Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Điều
cấm là những quy định không cho phép chủ thể thực hiện hành vi nhất định”,
cũng như quy định rõ thế nào là “đạo đức xã hội” tại Điều 123 Bộ luật Dân sự