1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố hà nội

113 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 3,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với đó, Nhà nước ta cũng đẩy mạnh việc tham gia ký kết các Điều ước quốc tế, các Hiệp định song phương, đa phương để giải quyết các vấn đề về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

ĐẶNG THỊ KIM QUYÊN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

ĐẶNG THỊ KIM QUYÊN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính

Mã số: 60.38.01.02

HÀ NỘI – NĂM 2017

Trang 3

hướng dẫn của cô giáo, TS.Trần Kim Liễu Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực, công bố theo đúng quy định Kết quả nghiên cứu do tự bản thân tôi tìm hiểu, phân tích dựa trên các tài liệu

đã được công bố, chú thích rõ ràng, phù hợp với đề tài Công trình nghiên cứu khoa học này chưa từng được công bố trong bất cứ nghiên cứu nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Học viên

Đặng Thị Kim Quyên

Trang 4

đến cô giáo, TS.Trần Kim Liễu đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình hoàn thành luận văn Em chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Hành chính nhà nước; các thầy cô giáo Khoa Sau đại học Trường Đại học Luật Hà Nội đã hết lòng truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện học tập tốt nhất cho chúng

em trong hai năm học vừa qua

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị đồng nghiệp Bộ phận một cửa, phòng Kiểm soát thủ tục hành chính – Sở Tư pháp thành phố Hà Nội đã giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện tốt nhất để em có thời gian hoàn thành luận văn

Cuối cùng em kính chúc cô giáo, TS.Trần Kim Liễu cùng quý thầy cô giáo dồi dào sức khỏe và đạt được nhiều thành công trong sự nghiệp cao quý Đồng kính chúc các anh chị, bạn bè đạt được nhiều tốt đẹp trong công việc và cuộc sống

Học viên

Đặng Thị Kim Quyên

Trang 5

Tên đầy đủ Viết tắt

Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 : Hiến pháp năm 2013 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam

năm 2000 : Luật HN&GĐ 2000 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam

năm 2014 : Luật HN&GĐ 2014

Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 : BLTTDS 2015

Bộ luật Tố tụng Dân sự : BLTTDS 2005

Ủy ban thường vụ quốc hội : UBTVQH

Tòa án nhân dân : TAND

Viện kiểm sát nhân dân : VKSND

Ủy ban nhân dân : UBND

Trang 6

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 5 1.1. Quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 5

1.2. Nguyên tắc, hình thức và chủ thể quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 16

1.3. Điều chỉnh pháp luật quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 25

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng, tác động đến quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 38

1.5 Vai trò của quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

HÀ NỘI 42 2.1 Thực trạng pháp luật quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có

yếu tố nước ngoài 42

2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý nhà nước về hôn nhân và

gia đình có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội 53

2.3 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong quản lý nhà nước

về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 69

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 73 3.1 Quan điểm của Nhà nước tăng cường quản lý nhà nước về hôn nhân

và gia đình có yếu tố nước ngoài 73

3.2 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có

yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội 75

KẾT LUẬN 89 PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với quá trình lịch sử của đất nước, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được pháp luật điều chỉnh khác nhau qua từng giai đoạn, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị của từng thời kỳ Trong thời kỳ mở cửa, hội nhập quốc tế hiện nay, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn đổi mới các chính sách, pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự quốc tế nói chung và quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng

Để quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài phù hợp với các chính sách đối ngoại rộng mở của nước ta, Nhà nước đã xây dựng một hệ thống pháp luật quốc gia tương đối hoàn chỉnh để điều chỉnh các quan

hệ phát sinh trên thực tế, có hiệu lực pháp lý cao cụ thể như Luật hôn nhân và gia đình 2014, Luật hộ tịch 2014, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân

sự 2015, Luật quốc tịch 2008,…và các văn bản hướng dẫn khác

Cùng với đó, Nhà nước ta cũng đẩy mạnh việc tham gia ký kết các Điều ước quốc tế, các Hiệp định song phương, đa phương để giải quyết các vấn đề

về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự giữa Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nước cộng hòa Pháp năm 1999, Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình, lao động và hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Belarus 2000,…Việc đàm phán, ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình góp phần tăng cường hợp tác, h trợ lẫn nhau giữa các cơ quan tư pháp của Việt Nam và các nước, góp phần tích cực để giải quyết các tranh chấp và yêu cầu khác phát sinh trong quan hệ giữa công dân của Việt Nam và các quốc gia trên thế giới

Hệ thống pháp luật trong nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết là cơ sở pháp lý quan trọng để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong điều kiện đổi mới, hội nhập kinh

tế quốc tế hiện nay Đặc biệt, đối với thành phố Hà Nội là thủ đô của Việt Nam, trung tâm đầu não về chính trị, văn hoá và khoa học kỹ thuật, đồng thời

là trung tâm lớn về giao dịch kinh tế và quốc tế của cả nước, các mối quan hệ

Trang 8

về hôn nhân và gia đình rất đa dạng và phức tạp, cần sự quản lý chặt chẽ của pháp luật và cả hệ thống chính trị

Nhận thức được vai trò quan trọng về quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, học viên tìm hiểu, nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội”, với mong muốn đưa ra những phân tích và đề xuất những giải pháp để tăng cường việc quản lý nhà nước trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng và nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong phạm vi toàn quốc nói chung

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, đã có rất nhiều

công trình nghiên cứu của các tác giả như “Quan hệ hôn nhân và gia đình có

yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế”, NXB Tư pháp,

năm 2006 của TS Nông Quốc Bình và TS Nguyễn Hồng Bắc; “Pháp luật

điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, năm 2003, luận án tiến sĩ, tác giả Nguyễn Hồng Bắc;“Chế định kết hôn trong Luật hôn nhân và gia đình, vấn đề lý luận và thực tiễn”, năm 2015,

luận văn tiến sỹ luật học, tác giả Bùi Thị Mừng; “Pháp luật Việt Nam về quan

hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài”, tạp chí Luật học số 09/2011 của tác giả

Lê Thị Hoàng Thanh, Trương Quang Hồng;“Một số quy định pháp luật Việt

Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong thời kỳ hội nhập”, năm 2015, luận văn thạc sỹ luật học, tác giả Nguyễn Thị Thu Phương;

“Pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài và thực tiễn thi hành tại tỉnh Bắc Giang”, năm 2016, luận văn thạc sỹ luật học, tác giả Nguyễn Thị Đà; “Vấn

đề kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, năm 2014, luận văn thạc sỹ luật học, tác giả Tạ Tùng Hoa,…Nhìn

chung, các đề tài nghiên cứu, bài viết của các tác giả trên đều khai thác nghiên cứu vấn đề quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong tư pháp quốc tế, giải quyết xung đột pháp luật, bàn về quan hệ hôn nhân và gia đình dưới góc độ quan hệ pháp luật dân sự Với đề tài “Quản lý nhà nước về hôn

Trang 9

nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội”, học viên đi nghiên cứu, khai thác dưới góc độ khoa học luật hành chính về quản lý nhà nước của mối quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trên một phạm vi cụ thể là thành phố Hà Nội Do vậy, đề tài nghiên cứu luận văn này của học viên không trùng lặp về tên đề tài và nội dung với các đề tài nghiên cứu trước đó

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Về đối tượng nghiên cứu, luận văn nghiên cứu lý luận về quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, các quy định pháp luật và thực trạng thực thi pháp luật về quản lý nhà nước đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Về phạm vi nghiên cứu, quản lý nhà nước là hoạt động có nội hàm rộng, được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau như cơ quan quyền lực nhà nước ban hành luật để quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, cơ quan hành chính nhà nước quản lý hành chính nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, cơ quan tòa án xét xử các vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Trong phạm vi luận văn, học viên tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi hệ thống cơ quan hành chính nhà nước

Về không gian, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu việc quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội và giới hạn phạm vi thời gian là các văn bản pháp luật quy định về quản

lý hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trước và sau khi Luật hôn nhân

và gia đình năm 2014, Luật hộ tịch năm 2014 ra đời, cụ thể trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 06 tháng đầu năm 2017

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình triển khai, thực hiện đề tài luận văn, học viên sử dụng phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Trong phần Chương 1 về một số vấn đề lý luận, học viên sử dụng phương pháp hệ thống, liệt kê, phân tích và tổng hợp

Trang 10

để làm rõ các khái niệm, nội dung của quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Tại Chương 2 nêu thực trạng quản lý nhà nước, học viên sử dụng phương pháp lịch sử, thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp để nêu lên thực trạng quản lý trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để đưa ra những giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Chương 3

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn tổng hợp những nội dung lý luận cơ bản về quản lý nhà nước trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nên luận văn sẽ cung cấp những kết luận khoa học luật hành chính về một số nội dung lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu

Luận văn có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và có ý nghĩa

về thực tiễn cho cơ quan quản lý nhà nước khi xây dựng và thực hiện các giải pháp quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội Luận văn cũng là nguồn tư liệu tham khảo cho những người nghiên cứu các đề tài liên quan đến hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục kèm theo, luận văn được chia làm 03 chương, có bố cục như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu

tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÔN

NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

1.1 Quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1.1.1 Khái niệm hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Khái niệm hôn nhân đã được nghiên cứu ở nhiều tài liệu khác nhau Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển – NXB Khoa học xã hội xuất bản năm 1994 thì khái niệm hôn nhân được hiểu là “việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng” Theo giải thích của Oxford advanced Learner’s Dictionary do Oxford University Press xuất bản năm 1992 thì “hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người đàn ông với một người đàn bà như vợ chồng” Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội thì “hôn nhân là sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc

tự nguyện, bình đẳng theo điều kiện và trình tự luật định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hòa thuận” Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2014 (viết tắt là Luật HN&GĐ 2014) thì “hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”

Khái niệm “gia đình” đã được đề cập trong các sách nghiên cứu và trong các văn bản pháp luật của nước ta từ rất lâu Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển – NXB Khoa học xã hội xuất bản năm 1994 thì gia đình được hiểu là “tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái”1 Theo giải thích của Oxford advanced Learner’s Dictionary do Oxford University Press xuất bản năm 1992 thì “gia đình” là nhóm người bao gồm cha mẹ và con cái của họ Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học “gia đình là tập hợp những người cùng chung sống gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, có

Trang 12

quyền và nghĩa vụ tương xứng với nhau”2 Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật HN&GĐ 2014 “gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền

và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này” Đây là khái niệm pháp lý đầy đủ nhất về gia đình, là sự tập hợp những người gắn bó với nhau

do quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, từ đó làm phát sinh nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và các quy tắc của đạo đức xã hội biểu hiện qua những phong tục tập quán, truyền thống đạo lý của gia đình

Có thể thấy “hôn nhân” và “gia đình” là hai khái niệm có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, cùng tồn tại và cùng phát triển trong sự phát triển của xã hội Hiện nay, do sự phát triển của các mối giao lưu dân sự quốc tế nên tập hợp những người tạo nên gia đình trong xã hội Việt Nam không chỉ bó hẹp giữa các thành viên có cùng quốc tịch và cùng cư trú ở các nước khác nhau Trong gia đình này có thể là vợ chồng khác quốc tịch hoặc có thể là vợ, chồng, con (và các thành viên khác) khác quốc tịch Họ có thể là những người cùng quốc tịch nhưng cư trú ở các nước khác nhau Quan hệ hôn nhân, quan

hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng ở đây cũng có thể phát sinh từ sự kiện pháp lý xảy ra ở nước ngoài Sự khác nhau về quốc tịch, nơi cư trú giữa các thành viên trong gia đình hoặc căn cứ pháp lý làm nảy sinh quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng đó cũng làm phát sinh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Trước đây, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được hiểu

là quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam, hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan

hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài3 Tuy nhiên, có một số ý kiến cho rằng chủ thể tham gia vào quan hệ

2Trường Đại học Luật Hà Nội, (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, NXB CAND, Hà Nội,

tr.146

3

Trang 13

hôn nhân và gia đình rộng hơn, theo đó có thể gồm ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; hoặc giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài Như vậy, sự kiện pháp lý “phát sinh tại nước ngoài” là yếu tố cần thiết tham gia xác lập quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Đảm bảo tính chính xác, đầy đủ và phù hợp với tinh thần của Bộ luật Dân sự; có sự thống nhất khi ngoài việc điều chỉnh quan

hệ hôn nhân gia đình có ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài còn điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình phát sinh giữa người Việt Nam định cư

ở nước ngoài với công dân Việt Nam ở trong nước; lược bỏ yếu tố nước ngoài

“giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam” Quan điểm này về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là khá hợp lý, với tiêu chí xác định yếu tố nước ngoài trên đã khẳng định sự phát triển về cơ sở lý luận của pháp luật Việt Nam trong việc điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài

Từ đó, có thể định nghĩa quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như sau:

Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân

và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài

Theo định nghĩa trên, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài bao gồm:

Thứ nhất, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 3 Luật HN&GĐ 2014, “kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” Kết hôn là thủ tục bắt buộc để xác lập mối quan hệ giữa vợ chồng Dựa vào điều kiện chính trị, kinh tế, phong tục

Trang 14

tập quán khác nhau mà pháp luật các nước đưa ra các quy định khác nhau cho việc xác định tính hợp pháp của việc kết hôn Dù có sự khác nhau trong nội dung của quy phạm pháp luật, nhưng nhìn chung khi quy định về vấn đề kết hôn, pháp luật của các nước đều tập trung vào hai vấn đề pháp lý cơ bản đó là điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn Nói cách khác, để xác định một hôn nhân hợp pháp hay không người ta dựa vào hai tiêu chí pháp lý: đó là điều

kiện kết hôn và nghi thức kết hôn

Việc xác định tính hợp pháp của các điều kiện kết hôn được đề cập qua các vấn đề như ý chí, độ tuổi, sức khỏe, tình trạng hôn nhân, quan hệ huyết thống,… của các bên khi kết hôn Nghi thức kết hôn là tiến trình hành chính nhằm thiết lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật Một số quốc gia thừa nhận nghi thức kết hôn chính thức (duy nhất) là việc kết hôn phải được tiến hành trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền (gọi là nghi thức kết hôn theo thủ tục dân sự), một số quốc gia khác thừa nhận nghi thức theo thủ tục dân sự hoặc nghi thức kết hôn theo thủ tục tôn giáo (được tiến hành trước người đại diện cho tôn giáo theo thủ tục và quy định của tôn giáo đó) Ở nước

ta, quan hệ vợ chồng được xác lập thông qua thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Khi Nhà nước công nhận quan hệ vợ chồng, giấy chứng nhận kết hôn sẽ được cấp cho hai bên nam, nữ - đây là căn cứ phát sinh quan hệ vợ chồng mà nội dung là quyền và nghĩa vụ của vợ chồng

Hiện nay vẫn chưa có khái niệm về kết hôn có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, kết hôn có yếu tố nước ngoài bao gồm:

Quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài.Trong

quan hệ kết hôn này, một bên chủ thể là công dân Việt Nam, bên còn lại là người nước ngoài Người nước ngoài theo quy định của Luật Quốc tịch 2008 gồm công dân nước ngoài và người không quốc tịch Do đó, người nước ngoài có thể là công dân nước ngoài mang một hay nhiều quốc tịch khác

ngoài quốc tịch Việt Nam hoặc người không quốc tịch Quan hệ kết hôn giữa

người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam, ví dụ như hai công dân

Anh sinh sống và kết hôn tại Việt Nam Quan hệ kết hôn giữa người Việt Nam

định cư ở nước ngoài và người Việt Nam thường trú trong nước Người Việt

Trang 15

Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư

trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài Quan hệ kết hôn giữa người Việt Nam với

nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài

Thứ hai, quan hệ giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài

Sự kiện kết hôn hợp pháp làm phát sinh quan hệ giữa vợ chồng bao gồm hai nhóm quan hệ là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản Nội dung của quan

hệ pháp luật đó bao gồm các quyền và nghĩa vụ pháp lý về nhân thân và tài sản được pháp luật bảo hộ Nói đến quan hệ pháp lý giữa vợ và chồng có yếu

tố nước ngoài là nói đến quan hệ giữa vợ và chồng xảy ra trong những trường hợp có yếu tố nước ngoài như:

Chủ thể là vợ và chồng có quốc tịch khác nhau.Trong trường hợp này, có

ít nhất một bên vợ chồng là người nước ngoài hoặc trường hợp cả hai bên vợ

chồng là người Việt Nam nhưng định cư lâu dài ở nước ngoài Khách thể liên

quan đến quan hệ đó ở nước ngoài Trường hợp này vợ, chồng đều là người Việt Nam nhưng tài sản đang tranh chấp lại nằm ở nước ngoài Ví dụ như hai

vợ chồng là công dân Việt Nam nhưng đang tranh chấp với nhau về một ngôi

nhà hiện đang tồn tại ở Mỹ Sự kiện pháp lý làm căn cứ xác lập, thay đổi,

chấm dứt quan hệ giữa vợ và chồng xảy ra ở nước ngoài Trường hợp này vợ, chồng đều là người Việt Nam nhưng căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan

hệ giữa họ xảy ra ở nước ngoài Ví dụ: Hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau tại Ba Lan, theo pháp luật Ba Lan và chung sống tại Ba Lan 10 năm, sau

đó chuyển về Việt Nam sinh sống Sau một thời gian giữa họ phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu ly hôn tại Toà án Việt Nam Hai vợ chồng cùng quốc tịch

cư trú ở hai nước khác nhau Ví dụ như tranh chấp về tài sản giữa vợ, chồng

là công dân Việt Nam nhưng vợ cư trú ở Việt Nam, chồng cư trú ở Trung Quốc

Từ phân tích trên, có thể khái quát: Quan hệ vợ chồng có yếu tố nước ngoài là quan hệ giữa vợ và chồng trong đó ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ vợ chồng mà các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm

Trang 16

dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài

Thứ ba, chấm dứt quan hệ vợ chồng

Các sự kiện làm chấm dứt quan hệ vợ chồng gồm:

Hôn nhân chấm dứt do sự kiện chết của một bên vợ hoặc chồng Điều này có nghĩa là nếu một trong các bên vợ, chồng bị chết thì hôn nhân đó đương nhiên bị chấm dứt mà không cần có sự tuyên bố của cơ quan nhà nưóc

có thẩm quyển, trường hợp này hôn nhân sẽ hoàn toàn bị chấm dứt

Hôn nhân chấm dứt do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước tuyên bố

sự kiện chết của một bên vợ hoặc chồng Việc cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước công bố sự kiện chết của một bên vợ hoặc chồng là cơ sở pháp lý chấm dứt một quan hệ hôn nhân

Hôn nhân chấm dứt do ly hôn Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật theo yêu cầu của một hoặc của cả hai bên vợ chồng Sự

tự nguyện yêu cầu chấm dứt hôn nhân của một bên hoặc cả hai bên sẽ là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền của nhà nước xem xét cho phép ly hôn Cơ

sở pháp lý để chấm dứt một quan hệ vợ chồng bằng việc ly hôn thông thường

là một bản án do Toà án có thẩm quyền tuyên Ở một số quốc gia, ly hôn có thể được thực hiện bằng một thủ tục hành chính do cơ quan có thẩm quyền thực hiện Ví dụ, ở một số nước như Đài Loan, Nhật Bản, trong trường hợp nếu vợ chồng thuận tình ly hôn thì có thể tới cơ quan công chứng, hộ tịch để làm thủ tục công nhận sự thuận tình ly hôn của họ Theo quy định của pháp luật Việt Nam, việc ly hôn chỉ có thể được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét khi có một hoặc cả hai bên yêu cầu ly hôn

Thứ tư, quan hệ giữa cha, mẹ và con có yếu tố nước ngoài

Quan hệ giữa cha, mẹ và con phát sinh dựa trên sự kiện pháp lý là sự kiện sinh đẻ hoặc sự kiện nhận nuôi con nuôi Quan hệ giữa cha, mẹ và con

do họ sinh ra là quan hệ huyết thống Quan hệ giữa cha, mẹ và con có yếu tố

nước ngoài là quan hệ giữa cha, mẹ và con xảy ra trong các trường hợp: Cha,

mẹ và con có quốc tịch khác nhau hoặc cùng quốc tịch nhưng có ít nhất một người cư trú ở nước ngoài, ví dụ, cha, mẹ là công dân Việt Nam yêu cầu con

Trang 17

là công dân Nga cấp dưỡng Cha, mẹ và con có cùng quốc tịch nhưng tài sản

liên quan đến quan hệ giữa họ ở nước ngoài, ví dụ, cha, mẹ và con đều là

công dân Việt Nam tranh chấp với nhau về tài sản ở Nga Sự kiện pháp lý làm

phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ cha, mẹ và con xảy ra ở nước ngoài, ví

dụ, nhận con ngoài giá thú ở nước ngoài, cấp dưỡng cho con ở nước ngoài Ngoài ra, quan hệ giữa cha, mẹ và con còn phát sinh qua sự kiện nhận nuôi con nuôi Theo quy định tại khoản 5 Điều 5 Luật nuôi con nuôi 2010,

“Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài” Khái niệm này đã nêu lên việc xác lập quan hệ giữa cha, mẹ và con bằng con đường nuôi dưỡng để phân biệt với việc hình thành quan hệ giữa cha, mẹ và con trên cơ sở huyết thống

Thứ năm, quan hệ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài

Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà

có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người

đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu

Khi xét về yếu tố nước ngoài trong quan hệ cấp dưỡng có thể nhận thấy, trong quan hệ này yếu tố nước ngoài chủ yếu là yếu tố nơi cư trú của các bên đương sự ở hai nước khác nhau hoặc các bên đương sự ở cùng một nước nhưng lại có quốc tịch khác nhau Do vậy, có thể đưa ra định nghĩa cấp dưỡng

có yếu tố nước ngoài là việc một người (người cấp dưỡng) có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác đế đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người (người được cấp dưỡng) không sống chung với mình trên lãnh thổ một nước hoặc cùng sống lãnh thổ một nước nhưng khác quốc tịch mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản

để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu

Trang 18

Ngoài ra, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài còn bao gồm quan hệ giữa các thành viên trong gia đình như quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa anh, chị, em và giữa các thành viên trong gia đình

có yếu tố nước ngoài Việc làm sáng tỏ khái niệm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và nội hàm của khái niệm đó là hết sức cần thiết, là

cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tô nước ngoài được pháp luật điều chỉnh

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1.1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Quản lý là khái niệm phức tạp và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học tự nhiên và xã hội, vì vậy m i ngành khoa học định nghĩa về

“quản lý” dưới góc độ riêng Nhưng quan niệm chung nhất về “quản lý” là do điều khiển học đưa ra Theo đó “quản lý là tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định”4 Là tác động định hướng nên quản lý có các yếu tố cấu thành gồm chủ thể là nơi phát sinh tác động quản lý, khách thể là cái mà tác động quản lý hướng đến – đó là hành vi của đối tượng bị quản lý và mục đích, nhiệm vụ quản lý là đích mà chủ thể hướng tới

Quản lý nhà nước được hiểu theo hai phạm vi gồm nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo đó “quản lý nhà nước theo nghĩa rộng” là toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước Chủ thể của quản lý nhà nước theo nghĩa rộng là tất cả các cơ quan nhà nước của bộ máy nhà nước, tức là tất cả ba hệ thống cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp Nhân dân cũng là chủ thể của quản lý nhà nước theo nghĩa rộng khi thực hiện quyền trưng cầu dân ý – bỏ phiếu toàn dân, hoặc tham gia quản lý nhà nước bằng các hình

4

Học viện Hành chính Quốc gia (2011), Giáo trình quản lý hành chính nhà nước, tập 1, NXB Lao

động, Hà Nội, tr.48

Trang 19

thức khác Các tổ chức xã hội, các cơ quan xã hội,… cũng là chủ thể của quản

lý nhà nước theo nghĩa rộng nếu được nhà nước trao quyền thực hiện chức năng nhà nước.Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp là hoạt động chấp hành hiến pháp, luật và điều hành trên cơ sở hiến pháp và các luật Do đó, quản lý nhà nước theo nghĩa rộng bao hàm quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp Cách hiểu này chính là nghĩa vốn có của thuật ngữ “quản lý nhà nước” trong khoa học luật hành chính xã hội chủ nghĩa cũng như ở Việt Nam từ trước đến nay Chủ thể chủ yếu của quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp là toàn bộ hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước đứng đầu là Chính phủ và các cơ quan phái sinh từ chúng, các cơ quan, đơn vị, tổ chức trực thuộc Vì vậy, trong thực tiễn quản lý và lý luận khoa học pháp lý chúng còn được gọi là các

cơ quan hành chính nhà nước hoặc quản lý nhà nước Nguyên thủ quốc gia ở nhiều nước là người đứng đầu hệ thống hành pháp cũng là chủ thể của quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp Nguyên thủ quốc gia nước ta tuy không phải là người đứng đầu hệ thống hành pháp, những vẫn có nhiều quyền trong lĩnh vực hành pháp nên cũng coi là một chủ thể tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp

Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý nhà nước là sự

tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ

tổ quốc xã hội chủ nghĩa” 5

Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn

bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân

5

Học viện Hành chính Quốc gia (2011), Giáo trình quản lý hành chính nhà nước, tập 1, NXB Lao động, Hà Nội, tr.50

Trang 20

dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật

Quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là sự tác động và điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước đối với các quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành, nhằm đảm bảo cho các hoạt động về hôn nhân và gia đình được thực hiện đầy đủ các chức năng và vận hành theo đúng mục tiêu, định hướng của Nhà nước mong muốn Quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được thực hiện bởi cơ quan quyền lực nhà nước như Quốc hội ban hành luật, pháp lệnh, nghị quyết

để điều chỉnh quản lý về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; hệ thống

cơ quan hành chính nhà nước gồm Chính phủ, Bộ và cơ quan ngang Bộ; UBND các cấp, Sở, phòng, ban, thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Tòa án thực hiện quản lý nhà nước thông qua hoạt động xét xử các vấn đề như ly hôn, xác định cha mẹ con có yếu tố nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quản lý nhà nước thông qua hoạt động kiểm sát xét xử để bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như sau:

Quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là việc chấp hành pháp luật và tổ chức điều hành pháp luật về quản lý nhà nước đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1.1.2.2 Đặc điểm quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là một hoạt động quản lý nhà nước, vì vậy nó mang các đặc điểm chung của quản lý

nhà nước như sau:

Trang 21

Thứ nhất, quản lý nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức

cao và tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước Quản lý nhà nước được

thiết lập trên cơ sở mối quan hệ “quyền uy” và “sự phục tùng”

Thứ hai, quản lý nhà nước mang tính tổ chức và điều chỉnh Tổ chức ở

đây được hiểu như một khoa học về việc thiết lập những mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thực hiện quá trình quản lý xã hội Tính điều chỉnh được hiểu là nhà nước dựa vào các công cụ pháp luật để buộc đối tượng

bị quản lý phải thực hiện theo quy luật xã hội khách quan nhằm đạt được sự

cân bằng trong xã hội

Thứ ba, quản lý nhà nước mang tính khoa học, tính kế hoạch Đặc trưng

này đỏi hỏi nhà nước phải tổ chức các hoạt động quản lý của mình lên đối lên đối tượng quản lý phải có một chương trình nhất quán, cụ thể và theo những

kế hoạch được vạch ra từ trước trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học

Thứ tư, quản lý nhà nước là những tác động mang tính liên tục và ổn

định lên các quá trình xã hội và hệ thống các hành vi xã hội Cùng với sự vận động biến đổi của đối tượng quản lý, hoạt động quản lý nhà nước phải diễn ra thường xuyên, liên tục, không bị gián đoạn Các quyết định của nhà nước phải

có tính ổn định, không được thay đổi quá nhanh Việc ổn định của các quyết định của nhà nước giúp cho các chủ thể quản lý có điều kiện kiện toàn hoạt động của mình và hệ thống hành vi xã hội được ổn định

Bên cạnh đó, quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có những đặc điểm riêng, thể hiện như sau:

Thứ nhất, thể hiện ở tính đặc thù của quan hệ hôn nhân và gia đình có

yếu tố nước ngoài đó là đối tượng quản lý là các quan hệ hôn nhân và gia đình như quan hệ kết hôn, quan hệ ly hôn, quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ cấp dưỡng, quan hệ cha mẹ con,…mà các quan hệ này đều có yếu tố nước ngoài

Thứ hai, pháp luật điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố

nước ngoài là pháp luật được lựa chọn để điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội nhất định - đó là quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Pháp luật được lựa chọn này rất đa dạng, có thể là pháp luật quốc gia (đơn phương) hoặc có thể là điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương do các bên liên

Trang 22

quan ký kết, nhưng dù là quy phạm pháp luật quốc gia hay quy phạm điều ước quốc tế thì pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là phương tiện để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội và các bên tham gia quan hệ Pháp luật này bao gồm một tổng thể các quy phạm xung đột và quy phạm pháp luật thực chất Trong các quy phạm pháp luật đó, quy phạm xung đột là quy phạm cơ bản điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài

Thứ ba, chủ thể quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố

nước ngoài gồm nhiều cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức

xã hội…Tất cả các chủ thể quản lý đều hướng đến mục đích quản lý quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, đảm bảo quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hệ này

1.2 Nguyên tắc, hình thức và chủ thể quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1.2.1 Nguyên tắc quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Xét về khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp là hoạt động chấp hành, điều hành, cũng chính là quản lý hành chính nhà nước Nguyên tắc trong quản lý nhà nước là tập hợp các quy phạm pháp luật có nội dung là tư tưởng chủ đạo làm cơ sở cho việc tổ chức và thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước Có thể thấy, nguyên tắc quản lý nhà nước về hôn nhân

và gia đình có yếu tố nước ngoài tuân theo đầy đủ các nguyên tắc trong quản

lý hành chính nhà nước nói chung

Các nguyên tắc trong quản lý nhà nước được ghi nhận trong các văn bản pháp luật của Nhà nước, từ Hiến pháp đến luật và các văn bản dưới luật Nó mang tính bắt buộc, ràng buộc đối với mọi cá nhân tổ chức tham gia và được bảo đảm thực hiện Các nguyên tắc quản lý nhà nước mang tính chất khách quan bởi vì chúng được xây dựng, đúc kết từ thực tiễn cuộc sống và phản ánh các quy luật phát triển khách quan Tuy nhiên, các nguyên tắc trên cũng mang yếu tố chủ quan bởi vì chúng được xây dựng bởi con người mà con người dựa trên những nhận thức chủ quan để xây dựng Các nguyên tắc đó có tính ổn

Trang 23

định cao, ít thay đổi (vì được quy định trong Hiến pháp) nhưng không phải là nguyên tắc bất di bất dịch Nó gắn liền với quá trình phát triển của xã hội, tích lũy kinh nghiệm, thành quả của khoa học về quản lý hành chính nhà nước, là nền tảng của các hoạt động pháp lý Mặc dù có sự thay đổi, nhưng sự thay đổi không lớn và không thường xuyên

Các quan điểm chính trị là cơ sở của việc tổ chức hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động quản lý nhà nước thực hiện tốt không chỉ đòi hỏi được trên pháp luật (luật), mà còn phải thực hiện đúng đắn các quan điểm chính trị (chính sách) M i nguyên tắc quản lý nhà nước có nội dung riêng, phản ánh những khía cạnh khác nhau của quản lý nhà nước Tuy nhiên, những nguyên tắc này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một thể thống nhất.Việc thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ tạo tiền đề cho việc thực hiện có hiệu quả nguyên tắc khác Vì thế nên các nguyên tắc quản lý nhà nước luôn thể hiện tính hệ thống, tính thống nhất và đây là một thuộc tính vốn có của chúng

Dựa trên những cơ sở khoa học về quản lý nhà nước, ta chia các nguyên tắc trong quản lý nhà nước thành hai nhóm là nhóm những nguyên tắc chính trị - xã hội và nhóm những nguyên tắc tổ chức kỹ thuật Tuy nhiên, sự phân chia này cũng chỉ mang tính chất tương đối vì yếu tố tổ chức kỹ thuật và chính trị trong quản lý hành chính nhà nước có mối liên hệ chặt chẽ nhau Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức kỹ thuật là để thực hiện một cách đúng đắn các nguyên tắc chính trị - xã hội và việc thực hiện các nguyên tắc chính trị - xã hội là cơ sở để thực hiện các nguyên tắc tổ chức kỹ thuật

Hệ thống các nguyên tắc quản lý nhà nước bao gồm hai nhóm nguyên tắc Thứ nhất, nhóm những nguyên tắc chính trị - xã hội, gồm nguyên tắc Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước; nguyên tắc nhân dân tham gia vào quản lý hành chính nhà nước; nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc và nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Thứ hai, nhóm những nguyên tắc tổ chức kỹ thuật, gồm nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo lãnh thổ; nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng và nguyên tắc phân định chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với quản lý sản xuất kinh doanh

Trang 24

Bên cạnh những nguyên tắc chung về quản lý nhà nước, thì quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản của hôn nhân và gia đình, các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cụ thể gồm nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ; nguyên tắc xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc;…Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

ở Việt Nam phù hợp các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc

tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia Nguyên tắc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế Đồng thời không phân biệt đối xử với người nước ngoài trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài đối với quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam về hôn nhân và gia đình Nguyên tắc áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam đối với quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, việc áp dụng pháp luật cũng tuân theo các nguyên tắc trên và được cụ thể hóa như sau: Các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật HN&GĐ thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó Trong trường hợp pháp luật của Việt Nam có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài được áp dụng, nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của Luật HN&GĐ 2014 Trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam Trong trường hợp điều ước quốc

tế mà Việt Nam là thành viên có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước

Trang 25

ngoài thì pháp luật nước ngoài được áp dụng Ví dụ, chị Lê Hồng Hà là công dân Việt Nam với anh Jonh Piatkowski là công dân Ba Lan kết hôn tại Việt Nam Trong trường hợp này, Việt Nam và Ba Lan đã ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự năm 1993, tại Điều 23

về kết hôn quy định “1 Hình thức kết hôn được xác định theo pháp luật của

nước ký kết nơi tiến hành kết hôn 2 Về điều kiện kết hôn, mỗi bên đương sự phải tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người đó là công dân.” Trong

trường hợp này có hai vấn đề đặt ra: về điều kiện kết hôn, chị B phải tuân theo quy định tại Điều 8 Luật HN&GĐ Việt Nam 2014, anh Piatkowski phải tuân theo điều kiện kết hôn quy định của nước Ba Lan; về hình thức kết hôn

sẽ theo các quy định của pháp luật Việt Nam, bởi hai người tiến hành thủ tục kết hôn trên lãnh thổ Việt Nam

1.2.2 Hình thức quản lý nhà nước đối với quan hệ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài

Hình thức quản lý nhà nước là biểu hiện có tính chất tổ chức – pháp lý của những hoạt động cụ thể cùng loại của chủ thể quản lý nhà nước nhằm hoàn thành những nhiệm vụ đặt ra trước đó Trong thực tiễn quản lý nhà nước, hoạt động quản lý nhà nước được tiến hành dưới hai hình thức đó là hình thức pháp lý và hình thức không pháp lý Hiện nay các hình thức pháp lý được chiếm ưu thế nhưng việc sử dụng các hình thức không pháp lý ngày càng phổ biến trong hoạt động của chủ thể quản lý

Trong quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, hình thức quản lý được áp dụng như sau:

Một là ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Nhà nước đã ban hành một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định các quy tắc xử sự chung, quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Cơ quan đại diện ở nước ngoài, UBND cấp tỉnh – cấp huyện – cấp xã,… Xác định rõ thẩm quyền và thủ tục

Trang 26

tiến hành hoạt động của các chủ thể quản lý và mối liên hệ giữa chúng, thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật và đặt ra nhưng bảo đảm pháp lý để duy trì trật tự đó Mặt khác, pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có thể là pháp luật quốc gia (đơn phương) hoặc có thể là điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương do các bên liên quan ký kết

Hai là ban hành các văn bản áp dụng quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Việc ban hành các văn bản áp dụng quy phạm pháp luật, các chủ thể quản lý giải quyết được những việc cụ thể liên quan đến cơ quan, tổ chức hay

cá nhân trên cơ sở những yêu cầu và điều kiện được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời thực hiện được những nhiệm vụ được giao trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Thông qua việc ban hành các văn bản áp dụng quy phạm pháp luật, các chủ thể quản lý tác động một cách tích cực và trực tiếp đến mọi mặt hoạt động của các cơ quan cấp dưới, các cơ quan và tổ chức nước ngoài tham gia vào quan hệ quản lý

Ba là, thực hiện những hoạt động khác mang tính chất pháp lý

Đây là hình thức pháp lý quan trọng của hoạt động quản lý nhà nước Hình thức hoạt động này được tiến hành khi phát sinh những điều kiện tương ứng được định trước trong quy phạm pháp luật nhưng không cần ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật Trong quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, đây là hình thức quản lý được áp dụng hiệu quả nhất, quy định cụ thể chi tiết về các hoạt động như: quy định thủ tục đăng

ký kết hôn, thủ tục ly hôn có yếu tố nước ngoài, thủ tục xác định cha mẹ con,…với nội dung về thẩm quyền, trình tự thực hiện cụ thể

cơ quan đơn vị để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ

Trang 27

1.2.3 Chủ thể quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

a) Chính phủ

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình nói chung, hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng Nội dung quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài bao gồm: Chính phủ xây dựng các cơ chế, chính sách hợp tác quốc tế về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài Chính phủ quy định chi tiết việc giải quyết quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và bảo đảm thực hiện quy định về cấm các hành vi kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo, tảo hôn, cưỡng ép kết hôn,…Chính phủ chỉ đạo việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; tiến hành thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

b) Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong phạm vi toàn quốc

Bộ Tư pháp xây dựng, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Hướng dẫn UBND cấp tỉnh và phối hợp với Bộ Ngoại giao chỉ đạo, hướng dẫn Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong việc thi hành pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; phổ biến, giáo dục pháp luật và giải quyết các việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Xây dựng, ban hành thống nhất sổ và biểu mẫu đăng ký các việc hộ tịch có liên quan đến hôn nhân và gia

đình theo quy định

Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật

về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; giải quyết khiếu nại, tố cáo

Trang 28

theo quy định của pháp luật; xử lý vi phạm hành chính về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Hằng năm, Bộ Tư pháp thực hiện thống kê số liệu về đăng ký kết hôn; nhận cha, mẹ, con; cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; ghi vào sổ việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con; ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn, hủy kết hôn trái pháp luật theo quy định Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật

Bộ Ngoại giao thực hiện quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Chỉ đạo Cơ quan đại diện trong việc thi hành pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài,

về nghiệp vụ đăng ký hộ tịch; thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình phù hợp với pháp luật của nước tiếp nhận và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Chỉ đạo Cơ quan đại diện thực hiện thống kê số liệu, báo cáo định kỳ hàng năm về tình hình đăng ký kết hôn; nhận cha, mẹ, con; ghi vào sổ việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con thuộc thẩm quyền giải quyết gửi Bộ

Tư pháp

Cập nhật, cung cấp những thông tin cơ bản về pháp luật, văn hóa, phong tục, tập quán của các nước sở tại để làm cơ sở định hướng công tác truyền thông, tư vấn trong nước Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Cơ quan đại diện; giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật; xử lý vi phạm hành chính về hôn nhân

và gia đình có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Giải quyết theo thẩm quyền những vấn đề đối ngoại phát sinh trong quá trình thực hiện các điều ước quốc tế về hôn nhân và gia đình mà Việt Nam là thành viên Cấp bản sao Giấy chứng nhận kết hôn, Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật Ngoài ra, thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

Bộ Công an thực hiện quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu

tố nước ngoài theo quy định của pháp luật thông qua việc chỉ đạo, hướng dẫn Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ trì, phối hợp với Sở Tư

Trang 29

pháp xác minh theo chức năng chuyên ngành các vấn đề được yêu cầu trong

hồ sơ đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; cấp Hộ chiếu kịp thời và tạo điều kiện thuận lợi cho công dân Việt Nam đã được đăng ký kết hôn, công nhận là cha, mẹ, con xuất cảnh khi có yêu cầu

Chỉ đạo và thực hiện các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống các hoạt động môi giới kết hôn nhằm mục đích kiếm lời, các hành vi lợi dụng việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con nhằm mục đích trục lợi, mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục và các hành vi khác vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ

Tư pháp trong việc thực hiện quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

c) Các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài:

Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài (gọi tắt là Cơ quan đại diện) bao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự, cơ quan đại diện tại tổ chức quốc tế, thực hiện quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thông qua thực hiện việc đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con; ghi vào sổ việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con phù hợp với pháp luật của nước tiếp nhận và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Thống kê số liệu, báo cáo Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp theo định kỳ 06 tháng

và hàng năm về tình hình đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con; ghi vào sổ việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan đại diện theo quy định Cập nhật những thông tin cơ bản về pháp luật, văn hóa, phong tục, tập quán của nước sở tại, báo cáo Bộ Ngoại giao Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm hành chính liên quan đến giải quyết các việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

Trang 30

d) Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phối hợp với Bộ Tư pháp, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam có trách nhiệm thành lập Trung tâm tư vấn, h trợ về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo quy định của Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật HN&GĐ và thực hiện quản lý hoạt động của Trung tâm này Chỉ đạo, hướng dẫn Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập, hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của Trung tâm tư vấn, h trợ về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Phối hợp với Bộ Tư pháp kiểm tra, thanh tra về tổ chức và hoạt động của các Trung tâm tư vấn, h trợ về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

e) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trên địa bàn Chỉ đạo thực hiện đăng ký việc kết hôn có yếu

tố nước ngoài theo quy định của pháp luật trên địa bàn UBND tỉnh quản lý Phổ biến, giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Thực hiện việc thống kê số liệu, báo cáo Bộ Tư pháp theo định kỳ 06 tháng và hàng năm về tình hình đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con; ghi vào sổ việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con; tình hình thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài ở địa phương Bảo đảm những điều kiện cần thiết để Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Trung tâm tư vấn và h trợ về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; tạo điều kiện để Trung tâm hoạt động có hiệu quả; quản lý hoạt động của các Trung tâm trên địa bàn Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trên địa bàn; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử

lý vi phạm hành chính về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

Trang 31

Sở Tư pháp giúp UBND cấp tỉnh trong việc thực hiện quản lý nhà nước

về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại địa phương; đăng ký việc nhận cha, mẹ, con; ghi vào sổ việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con; thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể theo quy định

f) Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã

UBND cấp huyện, cấp xã là cơ quan trực tiếp thực hiện, giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1.3 Điều chỉnh pháp luật quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1.3.1 Điều chỉnh quan hệ về kết hôn có yếu tố nước ngoài

Để quản lý nhà nước về kết hôn có yếu tố nước ngoài, pháp luật đã quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài ở trong nước và ở nước ngoài, công nhận việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

Điều chỉnh thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài:

Pháp luật quy định cụ thể thẩm quyền đăng ký kết hôn ở trong nước và ở nước ngoài Theo đó, UBND cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư

ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài Trường hợp người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có yêu cầu đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì UBND cấp huyện nơi cư trú của một trong hai bên thực hiện đăng ký kết hôn

Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện đăng ký các việc

hộ tịch theo quy định của Luật hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài, nếu việc đăng ký đó không trái pháp luật của nước tiếp nhận và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Đối với những nước mà Việt Nam có

từ hai Cơ quan đại diện trở lên thì thẩm quyền đăng ký hộ tịch thuộc Cơ quan đại diện ở khu vực lãnh sự mà người yêu cầu cư trú Đối với những nước

Trang 32

chưa có Cơ quan đại diện thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại Cơ quan đại diện tại nước kiêm nhiệm hoặc Cơ quan đại diện thuận tiện nhất

Về thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền ở Việt Nam Để thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước

ngoài, pháp luật quy định về thành phần hồ sơ, trình tự thủ tục, thời hạn giải quyết để các bên thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền ở Việt Nam

Hai bên nam, nữ nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài xác nhận người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình cho cơ quan đăng ký hộ tịch Người nước ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài phải nộp thêm giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân, bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu Pháp luật cũng quy định một khoảng thời gian vừa đủ kể từ ngày hoàn thiện hồ sơ để công chức làm công tác hộ tịch có trách nhiệm xác minh, nếu thấy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật thì cơ quan thực hiện báo cáo Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết

Trong một số trường hợp, pháp luật quy định việc phỏng vấn, xác minh mục đích kết hôn khi giải quyết yêu cầu đăng ký kết hôn; thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam để kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài do Chính phủ quyết định nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên

Về thủ tục đăng ký kết hôn tại Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài:

Cơ quan đại diện ở khu vực lãnh sự nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ

là công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài với nhau hoặc với người nước ngoài Trường hợp đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài thì việc đăng ký kết hôn đó không được trái với pháp luật của nước sở tại Hai bên nam, nữ phải nộp tờ khai đăng ký kết hôn, bên kết hôn là công dân Việt Nam, tùy từng trường hợp phải nộp giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân sau đây:

Trang 33

Trường hợp công dân Việt Nam có thời gian thường trú tại Việt Nam, trước khi xuất cảnh đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của Luật HN&GĐ Việt Nam thì phải nộp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do UBND cấp xã nơi người đó thường trú trước khi xuất cảnh cấp Trong trường hợp công dân Việt Nam đã có thời gian cư trú ở nhiều nước khác nhau thì phải nộp thêm Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Cơ quan đại diện ở khu vực lãnh sự nơi đã cư trú cấp Trường hợp không thể xin được xác nhận tình trạng hôn nhân tại các nơi đã cư trú trước đây thì công dân có thể viết văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian cư trú ở các nơi đó và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung cam đoan Nội dung cam đoan phải thể hiện rõ về thời gian, giấy tờ tùy thân, địa điểm cư trú và tình trạng hôn nhân Trường hợp công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài thì phải nộp giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó có quốc tịch cấp

Trường hợp công dân Việt Nam thường trú ở nước ngoài không đồng thời có quốc tịch nước ngoài hoặc công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài nhưng thường trú ở nước thứ ba thì phải nộp giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó thường trú cấp Trường hợp công dân Việt Nam đã ly hôn hoặc hủy việc kết hôn tại

cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thì phải nộp bản sao trích lục hộ tịch về việc ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn hoặc hủy việc kết hôn

Bên nam hoặc bên nữ là người nước ngoài phải nộp giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân xác nhận hiện tại người đó không có vợ hoặc không có chồng Trường hợp pháp luật nước ngoài không quy định việc cấp giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân thì thay bằng giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài xác nhận người đó có đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nước đó Giá trị sử dụng của giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài được xác định theo thời hạn ghi trên giấy tờ Trường hợp giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài không ghi thời hạn sử dụng thì giấy tờ này có giá trị 06 tháng kể từ ngày cấp

Trang 34

Trường hợp công dân Việt Nam tạm trú ở nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam thường trú ở nước ngoài; công dân Việt Nam thường trú ở nước ngoài kết hôn với nhau hoặc công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài thì bên nam và bên nữ phải nộp thêm Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài cấp không quá 06 tháng, xác nhận không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi

Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cán bộ lãnh sự nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ, trường hợp cần thiết thì tiến hành các biện pháp xác minh Nếu thấy các bên đăng ký kết hôn có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật thì cán

bộ lãnh sự báo cáo Thủ trưởng Cơ quan đại diện ký bản chính Giấy chứng nhận kết hôn Sau đó Cơ quan đại diện tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ

Khi đăng ký kết hôn, dù ở cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam, hay Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, pháp luật đều yêu cầu hai bên nam,

nữ phải có mặt trực tiếp để cán bộ, công chức xem xét ý kiến hai bên nam nữ, nếu các bên tự nguyện kết hôn thì ghi việc kết hôn vào Sổ đăng ký kết hôn; hướng dẫn hai bên nam, nữ ký tên vào Giấy chứng nhận kết hôn, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ đăng ký kết hôn M i bên vợ, chồng sẽ được nhận một bản chính Giấy chứng nhận kết hôn, trích lục kết hôn (bản sao) được cấp theo yêu cầu Trong trường hợp một trong hai bên không thể có mặt để nhận Giấy chứng nhận kết hôn theo thông báo thì phải có văn bản đề nghị được gia hạn thời gian tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn Pháp luật quy định khoảng thời gian gia hạn kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp huyện, Thủ trưởng Cơ quan đại diện ký Giấy chứng nhận kết hôn Hết thời hạn này mà hai bên nam, nữ không đến nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì hủy Giấy chứng nhận kết hôn đã

ký Nếu sau đó hai bên nam, nữ vẫn muốn kết hôn với nhau thì tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn từ đầu

Điều chỉnh về những trường hợp từ chối đăng ký kết hôn:

Ngoài việc quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục, thời hạn giải quyết

hồ sơ, pháp luật cũng quy định trong một số trường hợp từ chối việc đăng ký

Trang 35

kết hôn của các bên Việc đăng ký kết hôn bị từ chối nếu một hoặc cả hai bên

vi phạm điều cấm hoặc không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật HN&GĐ Việt Nam, việc từ chối đăng ký kết hôn phải được thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do cho hai bên nam, nữ

Điều chỉnh về ghi vào sổ hộ tịch việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại nước ngoài

Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài được ghi vào Sổ hộ tịch nếu tại thời điểm kết hôn, các bên đáp ứng đủ điều kiện kết hôn và không vi phạm điều cấm theo quy định của Luật HN&GĐ Việt Nam Nếu vào thời điểm đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, việc kết hôn không đáp ứng điều kiện kết hôn, nhưng không vi phạmđiều cấm theo quy định của Luật HN&GĐ, nhưng vào thời điểm yêu cầu ghi vào Sổ hộ tịch việc kết hôn, hậu quả đã được khắc phục hoặc việc ghi chú kết hôn là nhằm bảo vệ quyền lợi của công dân Việt Nam và trẻ em, thì việc kết hôn cũng được ghi vào Sổ hộ tịch

1.3.2 Điều chỉnh về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS), những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong

đó có vấn đề ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn Xét về thẩm quyền, việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại TAND Việt Nam Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc

ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng, nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó

Khi giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài, BLTTDS 2015 quy định về thẩm quyền chung của TAND Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự

có yếu tố nước ngoài Sau khi xác định thẩm quyền, TAND Việt Nam áp

Trang 36

dụng các quy định tại Chương III của BLTTDS 2015 để xác định thẩm quyền giải quyết riêng biệt của TAND cụ thể để giải quyết như vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam;

vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam,…Khi TAND Việt Nam thụ lý giải quyết theo quy định thì Tòa án đó tiếp tục giải quyết dù trong quá trình giải quyết có sự thay đổi quốc tịch, nơi

cư trú, địa chỉ của các đương sự hoặc có tình tiết mới làm cho vụ việc dân sự

đó thuộc thẩm quyền của Tòa án khác của Việt Nam hoặc của Tòa án nước ngoài

Pháp luật cũng hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình cụ thể như đối với trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với công dân Việt Nam đã đi ra nước ngoài; trường hợp các bên đều là công dân Việt Nam kết hôn ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài, nay họ về Việt Nam xin ly hôn; trường hợp người Việt Nam ở nước ngoài kết hôn với người nước ngoài mà việc kết hôn

đó được công nhận tại Việt Nam, nay người Việt Nam về nước và người nước ngoài xin ly hôn; trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài trong Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân

sự, hôn nhân và gia đình

1.3.3 Điều chỉnh về quan hệ xác định cha mẹ con có yếu tố nước ngoài

Trong đời sống xã hội, việc người phụ nữ sinh con là cơ sở phát sinh mối quan hệ giữa cha mẹ con, đây là mối quan hệ huyết thống tự nhiên theo quy luật sinh học, quan hệ này không phụ thuộc vào hôn nhân của cha mẹ hợp pháp hay không hợp pháp Việc xác định mối quan hệ cha mẹ con làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản trong mối quan hệ mẹ - con, cha – con và là cơ sở pháp lý để Tòa án giải quyết các tranh chấp về xác định cha mẹ con trong thực tế

Trang 37

Pháp luật quy định nguyên tắc để xác định cha mẹ con được hiểu như sau, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha

mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định

Để quản lý nhà nước về xác định cha mẹ con có yếu tố nước ngoài, pháp luật đã quy định về thẩm quyền xác định cha mẹ con như sau:

Thứ nhất, quy định cơ quan đăng ký hộ tịch Việt Nam có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con mà không có tranh chấp giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau mà ít nhất một bên thường trú tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về hộ tịch

Về trình tự thủ tục để đăng ký nhận cha, mẹ, con cần nộp các tờ khai, giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha con hoặc

mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch Trường hợp đăng ký nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau pháp luật yêu cầu người nước ngoài phải nộp thêm bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu để chứng minh về nhân thân Chứng cứ

để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con gồm một trong các giấy tờ, tài liệu như: Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con Trường hợp không có văn bản trên thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng

Pháp luật quy định một khoảng thời gian từ ngày nhận đủ giấy tờ công chức làm công tác hộ tịch xác minh, niêm yết việc nhận cha, mẹ, con tại trụ

sở cơ quan đồng thời gửi văn bản đề nghị UBND cấp xã nơi thường trú của người được nhận là cha, mẹ, con niêm yết tại trụ sở UBND cấp xã Khi đăng

Trang 38

ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt trực tiếp, công chức làm công tác

hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng các bên ký vào Sổ hộ tịch, Chủ tịch UBND cấp huyện cấp trích lục cho các bên

Thứ hai, pháp luật quy định về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết việc xác định cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài đối với trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con; người không được nhận là cha, mẹ của một người; con nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết; con đã thành niên nhận cha, không cần phải có sự đồng ý của mẹ; nhận mẹ, không cần phải có sự đồng ý của cha; người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ; trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con, bên nhờ mang thai hộ không được từ chối nhận con; trường hợp bên nhờ mang thai hộ chậm nhận con hoặc vi phạm nghĩa vụ về nuôi dưỡng, chăm sóc con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa

án buộc bên mang thai hộ giao con, giải quyết tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật h trợ sinh sản, mang thai hộ; trường hợp chưa giao đứa trẻ mà cả hai

vợ chồng bên nhờ mang thai hộ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì bên mang thai hộ có quyền nhận nuôi đứa trẻ, các trường hợp khác có tranh chấp

1.3.4 Điều chỉnh về quan hệ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài

Pháp luật quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài tuân theo pháp luật của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng cư trú Việc áp dụng pháp luật nơi cư trú để điều chỉnh quan hệ cấp dưỡng là hoàn toàn hợp lý bởi hiện nay pháp luật trong nước cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết với các nước điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thường có xu hướng thiên về áp dụng nguyên tắc nơi cư trú của đương

sự Việc mở rộng áp dụng nguyên tắc này là phù hợp với thực tế, vì thông thường, nơi thường trú của đương sự là nơi mà người đó là công dân (cũng có trường hợp nơi thường trú không phải là nơi mà ngưòi đó là công dân) và việc

Trang 39

áp dụng nguyên tắc nơi thường trú của đương sự làm đơn giản hoá quá trình dẫn chiếu của quy phạm xung đột Trường hợp người yêu cầu cấp dưỡng không có nơi cư trú tại Việt Nam thì áp dụng pháp luật của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng là công dân

Cơ quan có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu cấp dưỡng của người quy định trên là cơ quan của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng cư trú Các tranh chấp về cấp dưỡng mà có đương sự, tài sản ở nước ngoài hay cần phải ủy thác

tư pháp cho cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài nếu không thuộc trường hợp giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam thì thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh

1.3.5 Điều chỉnh về áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận; giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng

mà không đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài

Nhằm quản lý nhà nước về áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, pháp luật đã có những chỉnh sửa, hoàn thiện các quy định chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận Trước đây, pháp luật chỉ quy định một chế độ tài sản duy nhất của vợ chồng là chế độ tài sản theo luật định mà không có quy định cho phép vợ chồng được lựa chọn chế độ tài sản theo thoả thuận, vì vậy chưa thực sự đảm bảo cho vợ chồng thực hiện được quyền tự thoả thuận, tự định đoạt đối với tài sản của mình trước khi kết hôn cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của m i bên Khắc phục hạn chế đó, hiện nay Luật HN&GĐ quy định trong trường hợp có yêu cầu giải quyết việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận; quan hệ nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài thì cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam áp dụng các quy định của Luật HN&GĐ

và các luật khác có liên quan của Việt Nam để giải quyết Điều này có nghĩa

là Toà án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về tài sản theo thoả thuận của vợ chồng thì sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam

Trang 40

Pháp luật quy định cụ thể chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ chồng trong từng trường hợp sau: trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thoả thuận thì thoả thuận này phải được lập trước khi kết hôn bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực và có hiệu lực kể từ ngày đăng kí kết hôn Nội dung của chế độ tài sản theo thoả thuận do vợ chồng quyết định cần có những nội dung cơ bản như tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của

vợ, chồng; quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng

và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình; điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản; nội dung khác có liên quan Khi thực hiện chế độ tài sản theo thoả thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thoả thuận hoặc thoả thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định

Đối với việc giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 thì được Pháp luật Việt Nam thừa nhận quan hệ hôn nhân Quyền lợi của người phụ nữ

sẽ được bảo vệ như người vợ trong trường hợp nam, nữ có đăng ký kết hôn, đây là một nguyên tắc thể hiện sâu sắc tính nhân văn và tiến bộ trong tư tưởng cũng như bản chất nội dung pháp luật nước ta nói chung và pháp luật về hôn nhân gia đình nói riêng Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không được pháp luật Việt Nam thừa nhận có thể hiểu nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có giá trị pháp lý, khi đó pháp luật điều chỉnh quan hệnhân thân giữa họ không phát sinh quan hệ hôn nhân, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng giữa họ nên Tòa án sẽ không tuyên bố quan hệ đó chấm dứt Quan hệ về tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Ngày đăng: 13/03/2019, 21:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w