1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xử lý tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng vay tài sản tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam – thực trạng và giải pháp hoàn thiện

102 140 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 6,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn - Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, bình luận để làm rõ các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 60380103

Người hướng dẫn khoa học: TS Vương Thanh Thúy

Hà Nội - 2017

Trang 3

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả luận văn

Phạm Tuấn Anh

Trang 4

+ Nghị định số 11/2012/NĐ-CP: Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm

+ Thông tư liên tịch số 16: Thông tư liên tịch số BTNMT-NHNN hướng dẫn về xử lý tài sản bảo đảm do Bộ trưởng Bộ Tư pháp -

16/2014/TTLT-BTP-Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành

+ Nghị quyết số 42/2017/QH14: Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc Hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các Tổ chức tín dụng

Trang 5

THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM 7

1.1 Tài sản bảo đảm 7

1.1.1 Khái niệm về tài sản 7

1.1.2 Khái quát về biện pháp bảo đảm và tài sản bảo đảm 7

1.1.3 Đặc điểm của tài sản bảo đảm 11

1.1.4 Mối quan hệ giữa Hợp đồng vay tài sản và giao dịch bảo đảm tại các Tổ chức tín dụng 14

1.2 Xử lý tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ 17

1.2.1 Khái niệm xử lý tài sản bảo đảm 17

1.2.2 Mô hình lý thuyết của cơ chế xử lý tài sản bảo đảm 19

1.2.3 Đặc điểm của xử lý tài sản bảo đảm 20

1.2.4 Nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm 22

1.2.5 Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm 23

1.2.6 Phương thức xử lý tài sản bảo đảm 25

1.2.7 Xử lý tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tại các tổ chức tín dụng 25

1.3 Các quy định nội bộ liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TRẢ TIỀN TRONG HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 31

2.1 Bất cập, vướng mắc khi Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam tự xử lý tài sản bảo đảm 31

2.1.1 Về quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý 31

2.1.2 Về việc bán đấu giá tài sản bảo đảm 33

2.1.3 Về thủ tục sang tên đối với tài sản bảo đảm được xử lý 35

2.2 Bất cập, vướng mắc khi Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam xử lý tài sản bảo đảm thông qua thủ tục tố tụng 36

2.3 Bất cập, vướng mắc trong một số trường hợp xử lý tài sản bảo đảm cụ thể 38

2.3.1 Xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất 38

2.3.2 Xử lý tài sản bảo đảm là nhà ở hình thành trong tương lai 40

2.3.3 Xử lý tài sản bảo đảm là các dự án đầu tư xây dựng nhà ở 44

2.3.4 Xử lý tài sản thế chấp là phương tiện giao thông vận tải 45

2.3.5 Xử lý tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh 46

2.3.6 Xử lý tài sản cầm cố là tiền gửi tiết kiệm do một ngân hàng/tổ chức tín dụng khác quản lý 46

2.3.7 Xử lý tài sản bảo đảm của bên thứ ba 47

Trang 6

2.3.11 Xử lý tài sản bảo đảm của các khoản nợ được Ngân hàng Thương mại

cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam bán nợ sang Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam 53

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55

CHƯƠNG 3 - ĐỊNH HƯỚNG VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY

ĐỊNH VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM 56 3.1 Định hướng về xử lý tài sản bảo đảm 56

3.1.1 Thực trạng nợ xấu và kết quả xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ trong thời gian qua tại các Tổ chức tín dụng và Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư

và Phát triển Việt Nam 56 3.1.2 Định hướng 58 3.1.3 Yêu cầu chung 59

3.2 Kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm 59

3.2.1 Nhóm kiến nghị bổ sung, chỉnh sửa quy định của pháp luật để bảo đảm thực thi quyền tự xử lý tài sản bảo đảm của các tổ chức tín dụng 61 3.2.2 Nhóm kiến nghị để khắc phục những bất cập khi xử lý tài sản bảo đảm thông qua thủ tục tố tụng 62 3.2.3 Nhóm kiến nghị để khắc phục sự bất cập, vướng mắc của pháp luật trong một số trường hợp xử lý tài sản bảo đảm cụ thể 63 3.2.4 Nhóm kiến nghị để khắc phục bất cập của pháp luật về giao dịch bảo đảm đang gây ra khó khăn trong việc xử lý tài sản bảo đảm 67

3.3 Kiến nghị đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam và các Tổ chức tín dụng 70

3.3.1 Đối với hệ thống văn bản quy định nội bộ liên quan đến biện pháp bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm 70 3.3.2 Đối với công tác thẩm định điều kiện của tài sản bảo đảm 70 3.3.3 Đối với công tác xử lý tài sản bảo đảm thu hồi nợ trong thời gian tiếp theo 71

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 72

KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Giới thiệu khái quát về đề tài và tính cấp thiết của đề tài

Tài sản bảo đảm là tài sản được sử dụng để bảo đảm cho một nghĩa vụ dân sự; Khi nghĩa vụ dân sự được bảo đảm không được thực hiện theo cam kết, thì tài sản bảo đảm sẽ được xử lý để thực hiện nghĩa vụ Trong hoạt động tín dụng, tài sản bảo đảm được xem là biện pháp quan trọng để giảm thiểu rủi ro cho các Tổ chức tín

toàn bộ nợ gốc và lãi của khoản nợ

Trong thời gian qua, ở vị trí công tác là một cán bộ Ngân hàng thương mại cổ

trình, quy định trong hoạt động tín dụng; các quy trình, quy định về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; các hồ sơ cấp tín dụng, hồ sơ tài sản bảo đảm của khách hàng cũng như thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Qua thời gian tiếp cận, học viên nhận thấy: trong những năm gần đây, mặc dù đã có nhiều văn bản pháp luật được ban hành để điều chỉnh vấn đề này (như Luật đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở và gần đây nhất là Bộ luật Dân sự năm 2015…), tuy nhiên thực tế quá trình áp dụng các quy định để xử lý tài sản bảo đảm vẫn gặp phải rất nhiều khó khăn vướng mắc Đó có thể là những vướng mắc do sự bất cập, xung đột giữa các quy định pháp luật, do thiếu văn bản quy phạm để áp dụng, do áp dụng sai quy định pháp luật và cũng có thể là những vướng mắc gặp phải do sự cố tình cố ý của các chủ thể tham gia giao dịch bảo đảm… Những vướng mắc này đã gây rất nhiều khó khăn cho các

cơ quan chức năng khi áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm, gây khó khăn cho hệ thống các Tổ chức tín dụng và Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói riêng trong việc xử lý tài sản bảo đảm thu hồi nợ dẫn đến sự cản trở ách tắc trong quá trình xử lý nợ xấu và tái cơ cấu hoạt động hệ thống ngân hàng

1 Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân (Khoản 1 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010)

2 Một số thông tin về Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam tại Phụ lục 1 Luận văn

Trang 8

Xuất phát từ thực trạng và ý nghĩa quan trọng như nêu trên, học viên đã lựa chọn

vấn đề: "Xử lý tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng vay tài sản tại Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện" để nghiên cứu với mong muốn đưa ra một bức

tranh về thực tiễn quá trình xử lý tài sản bảo đảm tại các Tổ chức tín dụng và Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Trên cơ sở đó đề xuất một

số giải pháp, định hướng nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm, quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động xử lý tài sản bảo đảm cũng như các quy định nội bộ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý tài sản bảo đảm, từng bước giải quyết được gánh nặng nợ xấu đang đè nặng lên hoạt động ngân hàng nói riêng

và nền kinh tế Việt Nam nói chung

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm qua, ở Việt Nam đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu

về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung và biện pháp bảo đảm bằng tài sản nói riêng liên quan đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại/các Tổ chức tín dụng dưới các góc độ và cấp độ khác nhau như:

- Sách do Tiến sĩ Lê Thị Thu Thuỷ làm chủ biên (2006), Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội: Sách

đã nêu lên được những vấn đề lý luận về, thực trạng pháp luật giao dịch bảo đảm, bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các Tổ chức tín dụng Trên cơ sở đó đề xuất một

số giải pháp để hoàn thiện pháp luật về biện pháp bảo đảm

- Sách của PGS.TS Đỗ Văn Đại (2012), Luật nghĩa vụ dân sự và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự - Bản án và bình luận bản án, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,

Hà Nội: Trên cơ sở sưu tầm, nghiên cứu và bình luận một số các bản án, quyết định tiêu biểu của Tòa án liên quan đến biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, 2 tập của sách đã nêu lên được những vấn đề pháp lý cơ bản, những điểm tích cực và hạn chế về giao dịch thế chấp tài sản và xử lý tài sản thế chấp đồng thời đưa ra được

một số định hướng hoàn thiện quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005

Trang 9

- Sách của tác giả Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang (2012), Hợp đồng tín dụng và

biện pháp bảo đảm tiền vay, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội: Sách đã trình bày những

vấn đề lý luận về hợp đồng tín dụng, biện pháp bảo đảm, xử lý tài sản bảo đảm tiền

vay; thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật để xử lý tài sản bảo đảm

- Sách của tập thể tác giả Trường đại học Luật Hà Nội, Chủ biên: Phạm Văn

Tuyết, Lê Kim Giang, Vũ Thị Hồng Yến,…(2015), Hoàn thiện chế định bảo đảm

thực hiện nghĩa vụ dân sự, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội: Sách đã trình bày những

vấn đề lý luận, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Đánh giá những bất cập trong quy định của pháp luật về vấn đề này và đề xuất hướng hoàn thiện

- Luận án tiến sĩ của Vũ Thị Hồng Yến (2013), Tài sản thế chấp và xử lý tài sản

thế chấp theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành, Đại học Luật Hà

Nội: Có thể nói đây là một trong những công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện

và có tính hệ thống những quy định của pháp luật và thực áp dụng các quy định pháp luật về tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp Trên cơ sở đó, luận án đã nêu ra được những kiến nghị cũng như các giải pháp đồng bộ để hoàn thiện các quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp

- Luận văn thạc sĩ của Ngô Ngọc Linh (2015), Xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là

bất động sản qua thực tiễn hoạt động của các Tổ chức tín dụng, Khoa luật Đại học

Quốc gia Hà Nội: Luận văn đã làm rõ một số vấn đề lý luận về tài sản bảo đảm tiền vay là bất động sản, xử lý tài sản bảo đảm là bất động sản; Chỉ ra những vướng mắc, bất cập của pháp luật từ thực tiễn hoạt động xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là bất động sản của các Tổ chức tín dụng; Đề xuất một số giải pháp tổng thể và kiến nghị

cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là bất động sản

Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã tập trung vào phân tích, nghiên cứu để làm

rõ các vấn đề lý luận chung, các quy định pháp luật về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, vấn đề xử lý tài sản bảo đảm Những nghiên cứu này chủ yếu được thực hiện trên cơ sở khung pháp lý của Bộ luật Dân sự năm 2005 (đã hết hiệu lực từ ngày 01/01/2017) và thực hiện ở mức độ khái quát, cơ bản mang tính lý luận mà

Trang 10

chưa đi sâu vào phân tích thực tiễn quá trình thực thi các quy định pháp luật tại các

Tổ chức tín dụng Ngoài ra, chưa có bất kỳ đề tài nào phân tích nội dung liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng vay tài sản tại

Tổ chức tín dụng cụ thể là Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam Xuất phát từ tình hình thực tiễn hiện nay, khi mà Bộ luật Dân sự năm 2015 mới có hiệu lực thay thế cho Bộ luật Dân sự năm 2005, trong khi áp lực giải quyết bài toán nợ xấu cho nền kinh tế ngày càng lớn, tính đa dạng phức tạp của hoạt động

xử lý tài sản bảo đảm thu hồi nợ tại các Tổ chức tín dụng ngày càng cao thì việc nghiên cứu đề tài gắn với thực tiễn tại các Tổ chức tín dụng là hết sức cần thiết góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, tháo gỡ khó khăn cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam, cho các Tổ chức tín dụng và nền kinh tế nói chung

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Trong khuôn khổ của đề tài, bên cạnh việc nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định pháp luật hiện hành về tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm như các công trình nghiên cứu trước đó, luận văn sẽ tập trung vào nghiên cứu thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam thông qua việc tìm hiểu và phân tích các quy trình, quy định nội bộ liên quan đến việc nhận và xử lý tài sản bảo đảm

- Để phù hợp với định hướng học ứng dụng, luận văn sẽ chủ yếu tập trung vào làm rõ những bất cập, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật vào thực tiễn quá trình xử lý tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong các hợp đồng vay tài sản tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam

và các Tổ chức tín dụng tại Việt Nam, trong đó luận văn sẽ lồng ghép phân tích một

số vụ việc thực tế/một số trường hợp đặc trưng nhằm làm rõ thêm các nội dung đánh giá

- Ngoài ra, luận văn sẽ nghiên cứu, tìm hiểu thêm một số định hướng, giải pháp của Chính phủ, của ngành ngân hàng liên quan đến vấn đề tái cơ cấu nền kinh tế, tái

cơ cấu các ngân hàng thương mại giai đoạn 2016 - 2020 mà tâm điểm là vấn đề xử lý

nợ xấu; nghiên cứu quy định của pháp luật một số nước trên thế giới về biện pháp

Trang 11

bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm để tham khảo kinh nghiệm, trên cơ sở đó đưa ra một số hướng giải quyết nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về giao dịch bảo đảm

4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Việc nghiên cứu của đề tài nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể sau:

- Thứ nhất, làm sáng tỏ về mặt lý luận, cơ sở pháp lý liên quan đến tài sản bảo

đảm và xử lý tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong Hợp đồng vay tài sản

- Thứ hai, trình bày và đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về biện pháp bảo

đảm bằng tài sản và xử lý tài sản bảo đảm; thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề này tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam, tại các Tổ chức tín dụng khác và trong ngành ngân hàng nói chung

Từ đó chỉ ra được những khó khăn vướng mắc trong quá trình áp dụng

- Thứ ba, đưa ra một số định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về

giao dịch bảo đảm, quy định nội bộ của ngành ngân hàng, của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam nhằm tháo gỡ các khó khăn vướng trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm thu hồi nợ

5 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, bình luận để làm

rõ các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật hiện hành đồng thời làm nổi bật các khó khăn bất cập cụ thể liên quan đến biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và xử lý tài sản bảo đảm tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói riêng và các Tổ chức tín dụng tại Việt Nam nói chung;

- Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, tổng kết thực tiễn nhằm khái quát hóa thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, xử lý tài sản bảo đảm và củng cố thêm các nội dung phân tích, bình luận

- Luận văn sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu để tìm ra những nét tương đồng, hay khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước, đồng thời đối chiếu với các đường lối, chính sách, định hướng đổi mới của Đảng và Nhà nước để nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm khắc hoàn thiện quy định pháp luật, quy định nội bộ của ngành ngân hàng nhằm nâng cao hiệu quả xử lý tài sản bảo đảm

Trang 12

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu như đã nêu trên, luận văn sẽ đưa ra được một bức tranh toàn cảnh, chân thực về hoạt động xử lý tài sản bảo đảm thu hồi nợ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói riêng và các Tổ chức tín dụng ở Việt Nam nói chung, từ đó chỉ ra được những điểm bất cập của pháp luật cũng như các quy trình, quy định nội bộ của các Tổ chức tín dụng và đưa ra được những định hướng, những giải pháp hoàn thiện Luận văn hy vọng sẽ trở thành một tài liệu tham khảo hữu ích không chỉ trong công tác nghiên cứu, học tập và xây dựng pháp luật mà còn có giá trị tham khảo mang tính ứng dụng cao cho những người đang trực tiếp công tác trong các Tổ chức tín dụng ở Việt Nam

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục kèm theo, luận văn được kết cấu làm ba chương với nội dung cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở pháp lý và quy định nội bộ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam về xử lý tài sản bảo đảm

Chương 2: Thực trạng xử lý tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng vay tài sản tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam

Chương 3: Định hướng và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về xử lý tài sản bảo đảm

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ QUY ĐỊNH NỘI BỘ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM 1.1 Tài sản bảo đảm

1.1.1 Khái niệm về tài sản

Tài sản là một thuật ngữ hết sức quen thuộc trong đời sống thường ngày cũng như trong các lĩnh vực xã hội Theo cách hiểu thông thường, tài sản là những của cải vật chất tồn tại dưới dạng cụ thể như nhà cửa, đồ đạc, phương tiện đi lại, máy móc thiết bị, tiền, vàng,…; hiểu theo nghĩa rộng hơn thì tài sản còn bao gồm cả những đối tượng vô hình như quyền tài sản hay những của cải mang giá trị tinh thần tồn tại khách quan, do con người chiếm hữu, chi phối và có thể khai thác để mang lại lợi ích cho con người

Tài sản và quyền sở hữu là một chế định quan trọng được ghi nhận trong các Bộ luật Dân sự (BLDS) của Việt Nam Tuy nhiên cũng giống như nhiều nước trên thế giới, các BLDS của Việt Nam từ trước cho đến nay đều chưa đưa ra một khái niệm

cụ thể về tài sản, thay vào đó, khái niệm tài sản được trình bày theo phương pháp liệt

kê những đối tượng được xem là tài sản Cụ thể, khái niệm tài sản lần đầu tiên được

quy định tại Điều 172 BLDS năm 1995 “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ

trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản” Tiếp đó, Điều 163 BLDS năm 2005 quy

định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Hiện nay, theo quy định tại Khoản 1 Điều 105, BLDS năm 2015 xác định "Tài sản là vật, tiền, giấy

tờ có giá và quyền tài sản"

Như vậy, có thể thấy khái niệm tài sản theo quy định của BLDS hiện hành đã mở rộng hơn BLDS năm 1995 về những đối tượng nào được coi là tài sản, theo đó, tài sản bao gồm cả các vật (có tính hữu hình) và các quyền tài sản trên các vật đó (có tính vô hình), không chỉ những “vật có thực” mới được gọi là tài sản mà cả những vật được hình thành trong tương lai cũng được gọi là tài sản

1.1.2 Khái quát về biện pháp bảo đảm và tài sản bảo đảm

Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là quy định của pháp luật hoặc thỏa

thuận giữa các chủ thể nhằm đặt ra các biện pháp mang tính chất dự phòng để bảo đảm cho việc thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra Biện pháp bảo

Trang 14

đảm thực hiện nghĩa vụ chính là việc một bên (sau đây gọi là bên bảo đảm) sử dụng tài sản hoặc sử dụng uy tín/cam kết của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình hoặc của chủ thể khác (sau đây gọi là bên được bảo đảm) với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo đảm) Trong trường hợp bên có nghĩa vụ vì lý do nào

đó không thực hiện được nghĩa vụ của mình thì bên có quyền sẽ được phép xử lý tài sản để khấu trừ giá trị nghĩa vụ (nếu sử dụng tài sản để bảo đảm) hoặc có quyền yêu cầu bên bảo đảm thực hiện nghĩa bảo đảm đã cam kết (nếu dùng uy tín/cam kết để bảo đảm)

Hiện nay, BLDS năm 2015 của Việt Nam thừa nhận 09 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (Điều 292), bao gồm: Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, cầm giữ tài sản, bảo lãnh, tín chấp Nếu xét về tính chất đối vật và đối nhân, thì biện pháp bảo đảm đcòn có thể được chia thành hai nhóm là:

+ Nhóm các biện pháp bảo đảm bằng tài sản (đối tượng của biện pháp bảo đảm

là tài sản như vật, tiền, giấy tờ có giá, các quyền tài sản): Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, cầm giữ tài sản

+ Nhóm các biện pháp bảo đảm không dùng tài sản (đối tượng của biện pháp bảo đảm là uy tín/cam kết của bên bảo đảm): Bảo lãnh, tín chấp

Tài sản bảo đảm (TSBĐ) là một thuật ngữ được sử dụng rất nhiều trong hệ

thống các văn bản pháp luật nói chung, các văn bản dưới luật nói riêng và các văn bản trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng Trong BLDS năm 2005, tài sản bảo đảm được đề cập đến tại Điều 320, 321 và 322 thông qua việc liệt kê các dạng tài sản cụ

thể bao gồm "Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự", "Tiền, giấy tờ có giá dùng để

bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự" và "Quyền tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự" Từ sau ngày 01/01/2017, khi BLDS năm 2015 chính thức có hiệu

lực thi hành thay thế cho BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 đã lược bỏ bớt các nội dung tại Điều 320, 321, 322 và thay thế bằng Điều 295 quy định chung về TSBĐ Tuy nhiên, nội dung điều luật chỉ đưa ra một số đặc điểm về tài sản mà chưa đưa ra khái niệm chính thức về TSBĐ

Căn cứ theo quy định của BLDS năm 2005, ngày 29/12/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm (Nghị định số

Trang 15

163/2006/NĐ-CP) Trong đó, khái niệm TSBĐ đã được Nghị định khái quát hóa

thành một khái niệm đầy đủ như sau: "TSBĐ là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo

đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm" (Khoản 7 Điều 3 Nghị

định) Sau khi BLDS năm 2015 chính thức có hiệu lực thay thế cho BLDS năm

2005, hiện Chính phủ vẫn chưa ban hành Nghị định mới về giao dịch bảo đảm để thế

chính thức về TSBĐ của pháp luật hiện hành

Với cách tiếp cận như trên, có thể hiểu pháp luật Việt Nam thừa nhận TSBĐ là đối tượng của biện pháp bảo đảm bằng tài sản, hay nói một cách khác, TSBĐ là tài sản được bên bảo đảm sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự với bên nhận bảo đảm Do đó, về nguyên tắc tất cả các loại tài sản được quy định trong BLDS đều

có thể trở thành TSBĐ, không phân biệt là động sản hay bất động sản, tài sản hiện có hay tài sản hình thành trong tương lai (trừ trường hợp pháp luật cấm hoặc các bên không thỏa thuận chọn làm TSBĐ) Như vậy, TSBĐ có thể là:

- Vật: BLDS 2015 không đưa ra định nghĩa cụ thể về “vật”, tuy nhiên, dựa trên những đặc tính cũng như các quan điểm pháp lý thì có thể hiểu "vật" là một bộ phận của thế giới vật chất (tồn tại dưới dạng thể rắn, thể lỏng, thể khí và các dạng khác mà con người có thể nắm giữ, chi phối); Tuy nhiên, không phải bất cứ bộ phận nào của thế giới vật chất đều được coi là vật mà chỉ những vật chất ích tức có khả năng thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người, con người có khả năng chiếm hữu được thì mới được coi là "vật" Ví dụ: nước tự nhiên tại sông, suối không được coi là vật nhưng nếu được đóng vào bình để phục vụ sinh hoạt của con người thì được coi là vật

- Tiền: là một loại tài sản đặc biệt do Nhà nước độc quyền phát hành Tiền vừa là công cụ thanh toán, công cụ tích lũy tài sản đồng thời là công cụ định giá các loại tài sản khác

3 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP là những văn bản hướng dẫn các quy định về giao dịch bảo đảm trong BLDS năm 2005 Theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì các Nghị định này đã hết hiệu lực theo sự chấm dứt hiệu lực của BLDS năm 2005, tuy nhiên, trong thực tế vẫn đang được áp dụng bởi vì sau khi BLDS năm 2015 chính thức có hiệu lực thay thế cho BLDS năm 2005, hiện Chính phủ vẫn chưa ban hành Nghị định mới về giao dịch bảo đảm

Trang 16

- Giấy tờ có giá4: là những loại giấy tờ có giá trị và có thể thanh toán, trao đổi như: cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật Giấy tờ có giá tồn tại dưới chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ để xác nhận nghĩa vụ trả nợ/trả tiền của tổ chức phát hành giấy tờ có giá đối với người sở hữu giấy tờ có giá Các loại giấy tờ có giá tuy có giá trị như tiền nhưng khi lưu thông và sử dụng trong các giao dịch dân sự với mức độ hạn chế hơn so với tiền/ hoặc chỉ được lưu thông giữa một số chủ thể nhất định theo quy định của pháp luật

- Quyền tài sản: Quyền tài sản được hiểu là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình Quyền tài sản là một loại tài sản vô hình "trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền sử dụng đất, quyền chuyển giao tài sản, quyền đòi nợ, quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ và các quyền tài sản khác" (Điều 115 BLDS 2015)

Về cách phân loại TSBĐ, nhìn chung, có rất nhiều cách để phân loại TSBĐ dựa theo từng tiêu thức được lựa chọn Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, tùy thuộc vào mục tiêu phân loại mà các chủ thể sẽ lựa chọn các tiêu thức phù hợp khác nhau

để thực hiện phân loại TSBĐ Ví dụ: Theo dạng tồn tại, TSBĐ có thể phân loại thành TSBĐ hữu hình (TSBĐ là vật) và TSBĐ vô hình (TSBĐ là quyền); Dựa vào đặc tính

có thể di dời được của tài sản, TSBĐ có thể phân loại thành TSBĐ là bất động sản và TSBĐ là động sản; Theo quy định của pháp luật về đăng ký quyền sở hữu/quyền sử dụng/quyền khác đối với tài sản, TSBĐ có thể được phân chia thành tài sản bắt buộc phải đăng ký và tài sản không bắt buộc phải đăng ký; Dựa vào thời điểm hình thành, TSBĐ có thể phân chia thành tài sản đã hình thành và tài sản hình thành trong tương lai; …

Như vậy, từ các phân tích nêu trên có thể rút ra định nghĩa về TSBĐ như sau:

"TSBĐ là vật, tiền, giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản được pháp luật quy định/ hoặc được các chủ thể thỏa thuận lựa chọn để bảo đảm quyền cho bên nhận bảo đảm khi

có sự vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm"

4 Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở

hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác (Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nước nước Việt Nam năm 2010)

Trang 17

1.1.3 Đặc điểm của tài sản bảo đảm

TSBĐ là đối tượng của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự do đó, TSBĐ vừa mang đặc điểm chung của tài sản theo quy định của BLDS, đồng thời vừa phải mang những đặc điểm riêng và phải đáp ứng những điều kiện nhất định để có thể thành đối tượng của các biện pháp bảo đảm Bao gồm:

- Thứ nhất, TSBĐ với bản chất là tài sản theo quy định của BLDS nên luôn nằm

trong mối quan hệ mật thiết với chế định về quyền sở hữu; các quan hệ liên quan đến TSBĐ luôn xuất phát từ quan hệ sở hữu và ngược lại, quan hệ sở hữu luôn là tiền đề, xuất phát điểm cho tính hợp pháp của các quan hệ về TSBĐ Nói cách khác, chỉ có chủ sở hữu tài sản hoặc người được chủ sở hữu ủy quyền mới có quyền quyết định đem tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho mình hoặc cho người khác Đặc điểm

này của TSBĐ đã được cụ thể hóa bằng quy định tại Điều 295 BLDS năm 2015: "Tài

sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu" Sở dĩ, BLDS quy định TSBĐ thuộc quyền sở hữu của

bên bảo đảm là bởi vì xét về hậu quả pháp lý của việc bảo đảm, nhất là trường hợp phải xử lý TSBĐ để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm thì có thể coi quyền bảo đảm tương

tự như quyền định đoạt tài sản có điều kiện Điều này đồng nghĩa với việc, khi đã sử dụng tài sản vào giao dịch bảo đảm thì chủ sở hữu sẽ bị rơi vào trạng thái có thể mất quyền sở hữu (đối với biện pháp đặt cọc, ký cược, ký quỹ) hay buộc phải xử lý quyền sở hữu tài sản để thực hiện nghĩa vụ thanh toán (đối với biện pháp cầm cố, thế chấp) Trong thực tế, vấn đề này thường được các TCTD đặc biệt quan tâm áp dụng khi nhận tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong các hợp đồng vay tài sản, thể hiện thông qua các quy định mang tính nguyên tắc khi nhận tài sản bảo đảm

là "tài sản phải thuộc quyền sở hữu/quyền sử dụng của bên bảo đảm" và hàng loạt các quy định mang tính hướng dẫn cách thức xác định, cách thức thẩm định quyền sở hữu đối với tài sản bảo đảm

- Thứ hai, TSBĐ là đối tượng của một loại nghĩa vụ dân sự (nghĩa vụ phát sinh

từ hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ), do đó TSBĐ phải đáp ứng được điều kiện

về đối tượng của nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 276 BLDS năm 2015

Theo đó, TSBĐ đáp ứng điều kiện "phải được xác định" Điều này được hiểu là

TSBĐ phải mô tả được một cách cụ thể, rõ ràng: nếu tài sản là động sản phải có tên

Trang 18

gọi, có định lượng rõ ràng về số lượng, chủng loại, phẩm chất, giá trị, …; nếu là bất động sản thì phải có vị trí, ranh giới, diện tích, phẩm cấp, kết cấu… rõ ràng; nếu tài sản là quyền tài sản nói chung thì phải có tên cụ thể của quyền tài sản, căn cứ pháp lý phát sinh quyền, giá trị thành tiền của quyền tài sản (nếu có) hoặc các thông tin khác

có liên quan đến quyền tài sản; nếu tài sản là quyền yêu cầu thì phải xác định được rõ chủ thể có nghĩa vụ, nội dung nghĩa vụ; nếu tài sản là quyền sở hữu trí tuệ thì phải có đăng ký/giấy chứng nhận quyền; nếu là tài sản hình thành trong tương lai thì phải có căn cứ xác định tài sản sau khi hình thành là gì và sau khi hình thành tài sản chắc chắn thuộc sở hữu của bên bảo đảm

- Thứ ba, TSBĐ có thể trị giá được thành tiền Đặc điểm này xuất phát từ việc

TSBĐ là đối tượng của biện pháp bảo đảm, nhưng mục đích cuối cùng của bảo đảm

là tạo ra nguồn thu dự phòng khi nghĩa vụ không thực hiện được, do đó TSBĐ phải

là những gì trị giá được bằng tiền Theo đó, tất cả các loại TSBĐ dù là vật, giấy tờ có giá, quyền tài sản thì đều phải được định giá trước khi tham gia vào các giao dịch bảo đảm Việc định giá có thể thực hiện theo nhiều cách nhưng phải đảm bảo được nguyên tắc bám sát theo giá trị thị trường của tài sản nhằm đảm bảo quyền lợi cho bên nhận bảo đảm trong trường hợp phải xử lý TSBĐ

- Thứ tư, TSBĐ vẫn thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm Liên quan đến sự

chuyển dịch quyền sở hữu trong các biện pháp bảo đảm bằng tài sản, pháp luật các nước trên thế giới có hai quan điểm trái ngược nhau Ví dụ: Luật pháp của Anh coi thế chấp là biện pháp bảo đảm có sự chuyển dịch quyền sở hữu từ bên bảo đảm sang bên nhận bảo đảm nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và bên bảo đảm được bảo lưu quyền chuộc lại tài sản trong trường hợp hoàn thành nghĩa vụ; Trong khi đó, luật pháp Mỹ không bắt buộc phải chuyển dịch quyền sở hữu bất động sản mà trao cho người nhận thế chấp quyền xử lý tài sản thế chấp và quyền ưu tiên thanh toán Theo quy định của pháp luật Việt Nam, TSBĐ khi tham gia vào các giao dịch bảo đảm không có sự chuyển giao về quyền sở hữu từ bên bảo đảm sang bên nhận bảo đảm; bên bảo đảm không hoàn toàn mất đi quyền sở hữu, tùy theo từng hình thức bảo đảm

mà bên bảo đảm sẽ bị mất hoặc hạn chế một phần trong số các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản Điều này được minh chứng cụ thể bằng những quy định về

Trang 19

quyền và nghĩa vụ của bên bảo đảm được quy định rải rác tại một số Điều trong BLDS năm 2015:

+ Đối với tài sản cầm cố, khi mang tài sản cầm cố, chủ sở hữu vẫn có quyền được đòi lại tài sản khi đã thực hiện xong nghĩa vụ, được yêu cầu bên nhận cầm cố chấm dứt các hành vi xâm hại đến tài sản, được yêu cầu bồi thường thiệt hại xảy ra

đối với tài sản, thậm chí được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản cầm cố nếu

được bên nhận cầm cố đồng ý hoặc theo quy định của luật" (Điều 312 BLDS năm 2015);

+ Đối với tài sản thế chấp, trong thời gian thế chấp, bên bảo đảm vẫn có các quyền chiếm hữu và sử dụng tài sản như khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức

từ tài sản thế chấp; cho thuê, cho mượn tài sản; đầu tư làm tăng giá trị của tài sản thế chấp thậm chí bên thế chấp vẫn có quyền được bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp nếu tài sản đó là hàng hoá luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh (Điều 321 BLDS năm 2015)

+ Đối với các biện pháp đặt cọc, ký cược, ký quỹ: Khoản 2 các Điều từ 328 đến

330 của BLDS năm 2015 đều quy định rõ tiền đặt cọc, ký cược, ký quỹ sẽ chỉ thuộc

về bên nhận bảo đảm sau khi bên đặt cọc, bên ký cược, bên ký quỹ không thực hiện được nghĩa vụ

+ Đối với biện pháp bảo lưu quyền sở hữu: quyền sở hữu tài sản sẽ được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán của bên mua được thực hiện đầy đủ (Điều

331 BLDS năm 2015)

+ Đối với biện pháp cầm giữ tài sản: bên cầm giữ sẽ chỉ có quyền nắm giữ tài sản cho đến khi nghĩa vụ được thực hiện hoặc xuất hiện các căn cứ chấm dứt việc cầm giữ tài sản theo quy định tại Điều 350 BLDS năm 2015 (tài sản cầm giữ không còn, có biện pháp bảo đảm thay thế hoặc theo thỏa thuận của các bên)

- Thứ năm, TSBĐ phải có khả năng xử lý được để thực hiện nghĩa vụ được bảo

đảm Đây là một đặc điểm rất quan trọng của TSBĐ, bởi vì dù tài sản có đầy đủ tính pháp lý và giá trị cao đến đâu nhưng nếu không thể truy thu và xử lý được thì việc xác lập giao dịch bảo đảm cũng không còn ý nghĩa

- Thứ sáu, TSBĐ luôn có xu hướng xuất hiện những loại TSBĐ mới bởi vì bản

chất tài sản là một khái niệm "động" và "mở" Do đó, bên cạnh các loại TSBĐ truyền

Trang 20

thống như nhà ở, đất đai, phương tiện vận tải, máy móc thiết bị, hàng hóa,… cùng với sự phát triển của thực tiễn đời sống kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật, TSBĐ đã xuất hiện thêm nhiều loại hình mới như: các quyền tài sản phát sinh từ các hợp đồng dân sự (như quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; quyền đòi nợ; các khoản phải thu; khối lượng xây lắp hoàn thành; quyền cho thuê lại tài sản; quyền nhận tiền bảo hiểm…), giá trị lợi thế thương mại, giá trị thương hiệu, … hay thậm chí là cả một số đối tượng được coi là tài sản đang gây ra nhiều tranh cãi như tiền ảo/tài sản ảo trong game online, khoảng không, hệ thống khách hàng, giọng hát ca sĩ, bào thai người, các sản phẩm của trí tuệ…

1.1.4 Mối quan hệ giữa Hợp đồng vay tài sản và giao dịch bảo đảm tại các Tổ chức tín dụng

Hợp đồng vay tài sản tại các Tổ chức tín dụng (TCTD): là một trong số những

loại hợp đồng quan trọng, thông dụng nhất trong quan hệ dân sự đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, nhu cầu huy động vốn để đầu

tư phát triển, sản xuất kinh doanh cũng như tiêu dùng ngày càng gia tăng Theo quy

định tại Điều 463 BLDS năm 2015: "Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các

bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định" Hợp đồng vay tài sản nói

chung có thể được xác lập giữa nhiều loại chủ thể khác nhau như giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với tổ chức hay giữa các tổ chức kinh tế với nhau Trong hoạt động của các TCTD, hợp đồng vay tài sản thường tồn tại dưới dạng các hợp đồng có

tài sản là tiền được xác lập giữa TCTD với các khách hàng của mình là cá nhân, pháp nhân đáp ứng đủ điều kiện vay vốn

Nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng vay tài sản tại các TCTD: Nghĩa vụ được

hiểu là xử sự bắt buộc của chủ thể này với một chủ thể khác; khi một chủ thể được

5 Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng

một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (Khoản 14 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010)

Trang 21

xác định là có nghĩa vụ thì họ bắt buộc phải thực hiện, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thì sẽ bị coi là vi phạm nghĩa vụ và phải chịu gánh

chịu một hậu quả bất lợi do pháp luật quy định Điều 274 BLDS năm 2015 đã đưa ra

định nghĩa: "Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung

là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)" Nghĩa vụ có

thể phát sinh từ các căn cứ như: Hợp đồng; Hành vi pháp lý đơn phương; Thực hiện công việc không có ủy quyền; Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật hoặc căn cứ khác

do pháp luật quy định (Điều 275 BLDS năm 2015)

Đối chiếu với các quy định hiện hành của BLDS thì nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng vay tài sản tại các TCTD cũng là một loại nghĩa vụ được quy định tại Điều 274 BLDS năm 2015; Nghĩa vụ này được phát sinh căn cứ theo các Hợp đồng tín dụng

và các bảng kê/chứng từ rút vốn vay đã được ký kết giữa TCTD và khách hàng vay

Cụ thể, theo quy định của BLDS năm 2015 thì nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tài sản bao gồm:

+ Nghĩa vụ hoàn trả tài sản vay (hay còn gọi là nợ gốc) khi đến hạn (Điều 466); + Nghĩa vụ trả lãi vay theo thỏa thuận trong hợp đồng vay (Điều 468);

+ Nghĩa vụ trả lãi vay quá hạn trong trường hợp chậm trả (Thông thường lãi trên

nợ gốc quá hạn chưa trả được xác định bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả - Khoản 5 Điều 466)

+ Và các nghĩa vụ khác được thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng như các khoản phí/chi phí phát sinh liên quan đến việc cấp tín dụng và bảo đảm tiền vay, tiền phạt, khoản bồi thường thiệt hại,… (Khoản 1 Điều 293)

Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền phát sinh từ các hợp đồng vay tài sản tại các TCTD: Hoạt động cho vay của các TCTD là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao, các rủi

ro này có thể xuất phát từ nguyên nhân khách quan là những sự biến động thị trường, pháp lý, chính trị dẫn tới khách hàng vay kinh doanh thua lỗ không có khả năng trả

nợ, hoặc cũng có thể là rủi ro xuất phát từ nguyên nhân chủ quan do các TCTD chưa đánh giá được đúng năng lực và khả năng trả nợ của khách hàng dẫn tới không thu

Trang 22

hồi được nợ Vì vậy, mặc dù pháp luật hiện hành không bắt buộc6 việc các TCTD khi cho vay phải có TSBĐ, tuy nhiên để hạn chế được rủi ro có thể phát sinh thì ngoài việc nâng cao chất lượng thẩm định, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, các TCTD thường yêu cầu khách hàng có biện pháp bảo đảm kèm theo Đó có thể là các biện pháp bảo đảm bằng tài sản như cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký quỹ; hoặc là các biện pháp bảo đảm không dùng tài sản như bảo lãnh Đối với các biện pháp bảo đảm

sử dụng tài sản, để xác lập giao dịch bảo đảm, các TCTD sẽ yêu cầu khách hàng ký kết các hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, việc giao kết các hợp đồng bảo đảm thường được thực hiện theo các hình thức cụ thể là hợp đồng thế chấp, hợp đồng cầm

cố, hợp đồng ký quỹ,… tách bạch với các hợp đồng vay tài sản (hợp đồng tín dụng) Việc tách bạch này nhằm mục đích giúp cho các TCTD thuận tiện hơn trong việc quản lý khoản vay và kiểm soát rủi ro, bởi vì việc lập riêng các hợp đồng bảo đảm không những giúp chi tiết hóa các nội dung thỏa thuận mà còn giúp cho các bên giảm bớt được thủ tục có thể phát sinh trong tương lai (các bên có thể chỉ cần ký một hợp đồng bảo đảm để bảo đảm cho nhiều khoản vay/nhiều nghĩa vụ khác nhau, thậm chí

có thể thỏa thuận bảo đảm cho các khoản vay sẽ phát sinh trong tương lai, khi khoản vay cũ được trả hoặc phát sinh thêm nghĩa vụ mới, các bên không cần thiết phải ký lại hợp đồng thế chấp) Mặc dù có tác bạch như vậy, nhưng giữa hai hợp đồng này luôn có mối mật thiết với nhau Cụ thể:

+ Mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng/hợp đồng vay tài sản và hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có thể coi là mối quan hệ giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ Trong đó, Hợp đồng tín dụng (với tư cách là hợp đồng chính) là hợp đồng có hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (hợp đồng phụ) thể hiện thông qua quy định tại khoản 2, 4 Điều 15 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, theo đó giao dịch bảo đảm dù bị vô hiệu hoặc bị huỷ bỏ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện thì đều không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm; Còn hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (với tư cách là hợp đồng phụ) có hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính (hợp đồng tín dụng) thể hiện ở việc hợp đồng tín dụng luôn chứa đựng nghĩa vụ được bảo đảm, hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chỉ

6 Biện pháp bảo đảm tiền vay không phải là quy định bắt buộc đối với các TCTD; việc quyết định cho vay có hay không có biện pháp bảo đảm là do TCTD tự quyết định và chịu trách nhiệm theo nguyên tắc thoả thuận giữa TCTD và khách hàng (Điều 15 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/ 2016)

Trang 23

tồn tại và có ý nghĩa khi nghĩa vụ được bảo đảm còn tồn tại, khi các bên hoàn thành đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng chính thì hợp đồng phụ đương nhiên hết hiệu lực

+ Tuy nhiên, giữa Hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ vẫn có sự độc lập nhất định khi pháp luật đã có quy định: trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ hợp đồng tín dụng đã được thực hiện, nếu hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm (hợp đồng chính) bị vô hiệu/bị huỷ bỏ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thoả thuận khác (Điều 15 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP)

1.2 Xử lý tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ

1.2.1 Khái niệm xử lý tài sản bảo đảm

"Xử lý tài sản bảo đảm" là một thuật ngữ được đề cập trong rất nhiều các văn bản pháp luật cũng như các văn bản áp dụng pháp luật, mặc dù chưa có một định nghĩa chính thức về "xử lý tài sản bảo đảm", tuy nhiên, theo cách hiểu thông thường,

xử lý TSBĐ được hiểu là việc bán/chuyển nhượng tài sản để thực hiện một nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản Xử lý tài sản là một khâu quan trọng để bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ kinh tế, dân sự

Về bản chất pháp lý thì quyền xử lý TSBĐ được coi là một quyền dân sự Quá trình xử lý TSBĐ chính là quá trình hiện thực hóa quyền của bên nhận bảo đảm đối với TSBĐ/hoặc các lợi ích thu được từ việc bán, chuyển nhượng, mua lại tài sản để khấu trừ giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện/ thực hiện không đúng/hoặc vi phạm nghĩa vụ

Trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng, các TCTD, xử lý TSBĐ được coi

là một giai đoạn của quy trình cấp tín dụng Đó chính là quá trình thực hiện các biện pháp đối với TSBĐ nhằm thu hồi khoản nợ mà TCTD đã cho vay khi có sự vi phạm nghĩa vụ của khách hàng vay, bên bảo lãnh theo những cam kết tại hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay

Hiện nay, theo quy định của một số hệ thống pháp luật phát triển trên thế giới như Pháp, Đức, Nhật, BLDS được thiết kế dựa trên hai chế định cơ bản là trái quyền

và vật quyền; Các quy định về biện pháp bảo đảm vì vậy cũng được thiết kế theo triết

Trang 24

lý trái quyền và vật quyền và được chia thành hai loại là vật quyền bảo đảm và trái quyền bảo đảm:

+ Vật quyền bảo đảm được dùng để chỉ quyền trực tiếp và ngay tức khắc của bên nhận bảo đảm trên TSBĐ Về mặt cấu trúc, quan hệ vật quyền bảo đảm được xác lập trên nguyên tắc giải quyết mối quan hệ giữa hai yếu tố: chủ thể của quyền (bên nhận bảo đảm) và đối tượng của quyền (tài sản) Do đó, quan hệ vật quyền bảo đảm cho phép bên nhận bảo đảm có thể chủ động áp đặt các quyền của mình trên tài sản (như quyền được kê biên, thu giữ, truy đòi tài sản cầm cố, thế chấp để xử lý) trong trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm không được thực hiện đầy đủ mà không cần hỏi ý kiến chủ sở hữu hay bất kỳ một chủ thể nào khác

+ Trái quyền bảo đảm (hay còn gọi là quyền đối nhân) được hiểu là quyền cho phép một chủ thể (bên nhận bảo đảm) được phép yêu cầu một chủ thể khác (bên bảo đảm) thực hiện một nghĩa vụ liên quan đến TSBĐ; trong đó có nghĩa vụ chuyển giao TSBĐ cho bên nhận bảo đảm để xử lý Về mặt cấu trúc, quan hệ trái quyền bảo đảm được hình thành từ ba yếu tố: bên nhận bảo đảm, bên bảo đảm (chủ sở hữu tài sản)

và TSBĐ (đối tượng) Điều đó có nghĩa rằng, để quan hệ trái quyền bảo đảm vận hành hoàn hảo, để bên nhận bảo đảm có thể xử lý TSBĐ trong trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm không được thực hiện đầy đủ thì cần thiết phải có sự hợp tác của cả bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm

Tại Việt Nam, mặc dù các quy định của BLDS về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã bước đầu tiếp cận những đặc điểm cơ bản của vật quyền bảo đảm bằng các quy định mang dáng dấp của vật quyền bảo đảm như quy định về hiệu lực đối kháng với người thứ ba và quyền truy đòi TSBĐ khi biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba (Điều 297), quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ (Điều 308) Tuy nhiên, các quy định đó lại đang được nhìn nhận và xây dựng trên cơ sở kết hợp với lý thuyết về trái quyền Cụ thể: theo quy định của BLDS, biện pháp bảo đảm được tiếp cận dưới giác độ là một loại hợp đồng dân sự (hợp đồng thế chấp, cầm cố, đặt cọc…), việc xử lý TSBĐ để bảo vệ quyền lợi cho bên nhận bảo đảm được thực hiện theo nguyên tắc trái quyền, theo đó, xử lý TSBĐ sẽ phải căn cứ vào nội dung thỏa thuận giữa bên nhận bảo đảm và bên bảo đảm (được ghi trong hợp đồng bảo đảm) vì vậy thông thường bên nhận bảo đảm chỉ

Trang 25

có quyền xử lý TSBĐ nếu có sự đồng ý của bên bảo đảm (hay chủ sở hữu tài sản) thông qua việc tự nguyện bàn giao tài sản; Còn trong trường hợp bên bảo đảm không đồng ý và không tự nguyện bàn giao tài sản thì bên nhận bảo đảm bắt buộc phải tiến hành khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi (Theo

quy định tại tại Điều 63 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành BLDS năm 2005 đã hết hiệu lực) Với cách tiếp cận theo lý thuyết trái quyền như trên thì vấn đề xử lý TSBĐ để thực hiện nghĩa vụ theo quy định của BLDS Việt Nam đang bộc lộ một số điểm bất cập làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên nhận bảo đảm như: hạn chế về quyền chủ động thu giữ và xử lý TSBĐ; chưa giải quyết được triệt để vấn

đề thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận bảo đảm với các chủ thể khác trong trường hợp TSBĐ là vật chứng trong các vụ án hình sự, hành chính…

1.2.2 Mô hình lý thuyết của cơ chế xử lý tài sản bảo đảm

Thông thường quá trình xử lý TSBĐ nói chung sẽ có 03 bước chính là:

+ Bước tạo quyền để thực thi: là việc bên nhận bảo đảm phải chứng minh mình

là chủ thể có quyền để thực thi các biện pháp xử lý TSBĐ; Căn cứ chứng minh quan trọng nhất chính là các Hợp đồng bảo đảm (Hợp đồng thế chấp, cầm cố, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, hay hợp đồng mua bán có quy định về việc bảo lưu quyền sở hữu) và các bằng chứng chứng minh việc vi phạm nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ Với những căn cứ pháp lý trên, theo quy định của BLDS hiện hành, bên nhận TSBĐ sẽ có 02 hướng để tạo quyền xử lý tài sản là thông qua thỏa thuận với bên bảo đảm hoặc thông qua con đường tố tụng dân sự (khởi kiện, xét xử, thi hành án dân sự) Cụ thể: theo quy định tại Điều 303 BLDS năm 2015, bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp; Trong trường hợp không thỏa thuận được, bên bảo đảm (chủ sở hữu tài sản) không tự nguyện bàn giao tài sản thì bên nhận bảo đảm phải tiến hành khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi (Điều 301 BLDS năm 2015) Kết quả cuối cùng của bước tạo quyền để thực thi là: văn bản ghi nhận sự thỏa thuận và

7 Điều 301 Giao TSBĐ để xử lý: "Người đang giữ TSBĐ có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật này; Trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác".

Trang 26

bàn giao tài sản giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm; hoặc bản án/quyết định của Tòa án có thẩm quyền làm căn cứ để bên nhận bảo đảm thực hiện hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thực hiện các thủ tục phát mại, chuyển nhượng TSBĐ để thu hồi nợ/ bù trừ nghĩa vụ vi phạm

+ Bước thực hiện các biện pháp đối với TSBĐ: Căn cứ theo kết quả của bước tạo quyền để thực thi (Thỏa thuận xử lý, bàn giao tài sản; Bản án/quyết định của Tòa án

có thẩm quyền), bên nhận bảo đảm thực hiện các thủ tục để chủ động xử lý TSBĐ (như bán đấu giá; giao bên bảo đảm tự bán tài sản; nhận chính TSBĐ để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ; thỏa thuận khác) hoặc gửi đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên, thu giữ và phát mại tài sản Trước khi xử lý TSBĐ, người xử lý tài sản phải có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác trong một thời hạn hợp lý

+ Bước thanh toán số tiền thu được từ việc bán tài sản: Số tiền có được từ việc

xử lý tài sản cầm cố, thế chấp tại bước thứ hai, sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp được thanh toán theo thứ tự ưu tiên quy định tại Điều 308 BLDS năm 2015 (Ưu tiên theo nguyên tắc: Nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba được ưu tiên thanh toán trước nghĩa

vụ có biện pháp bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba; Nếu các nghĩa vụ có các biện pháp bảo đảm cùng có hiệu lực / hoặc cùng không có hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì ưu tiên biện pháp nào có thứ tự xác lập trước) Số tiền còn lại sau khi thanh toán hết các chi phí và nghĩa vụ được bảo đảm thì sẽ được hoàn trả lại cho bên bảo đảm

1.2.3 Đặc điểm của xử lý tài sản bảo đảm

- Thứ nhất, xử lý tài sản bảo đảm là một quá trình được tiến hành theo một trình

tự, thủ tục cụ thể và chặt chẽ do pháp luật quy định: Xử lý tài sản là một quá trình có

mối liên hệ chặt chẽ với hình thức xác lập của biện pháp bảo đảm; tùy thuộc vào hình thức của biện pháp bảo đảm bằng tài sản là thế chấp hay cầm cố hay một biện pháp khác thì cách thức xử lý tài sản, độ dài ngắn, độ phức tạp của quá trình xử lý tài sản

sẽ có sự khác nhau Ví dụ như xử lý TSBĐ đối với trường hợp đặt cọc, ký cược, ký quỹ sẽ là đơn giản hơn rất nhiều so với các biện pháp bảo đảm bằng tài sản còn lại do đối tượng của các biện pháp này chủ yếu là tiền hoặc các tài sản có tính thanh khoản

Trang 27

cao và đã được bên nhận bảo đảm chiếm hữu, do đó bên bảo đảm không phải mất công để bán/chuyển nhượng tài sản; hoặc xử lý tài sản cầm cố sẽ là đơn giản và nhanh chóng hơn tài sản thế chấp bởi vì đối với cầm cố người nhận bảo đảm sẽ không cần thiết phải thực hiện các thủ tục để nhận bảo giao tài sản hay thu giữ, truy đòi tài sản… Việc xử lý TSBĐ không những ảnh hưởng đến lợi ích của các bên tham gia vào quan hệ bảo đảm, mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của những chủ thể khác có liên quan đến TSBĐ Vì vậy, việc xử lý TSBĐ chỉ được thực hiện khi đủ căn cứ pháp lý và phải được tiến hành theo một trình tự, thủ tục được quy định trong rất nhiều văn bản pháp luật như BLDS, Bộ luật tố tụng dân sự, các luật chuyên ngành, văn bản hướng dẫn dưới luật liên quan đến giao dịch bảo đảm, xử lý TSBĐ và các thủ tục hành chính có liên quan

- Thứ hai, đối tượng của xử lý là TSBĐ: Đối tượng của xử lý TSBĐ cũng chính

là đối tượng của các biện pháp bảo đảm bằng tài sản, đó là những tài sản được bên bảo đảm sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự với bên nhận bảo đảm Trong suốt quá trình bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, tùy theo từng hình thức bảo đảm, bên bảo đảm có thể bị hạn chế một hoặc một trong số các quyền chiếm hữu, sử dụng hay định đoạt tài sản, nhưng tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm

- Thứ ba, kết quả của xử lý TSBĐ là không chắc chắn và sẽ bị chi phối bởi

nhiều yếu tố khác nhau: Mục đích của việc thiết lập các biện pháp bảo đảm là nhằm

tạo ra một biện pháp dự phòng bảo vệ quyền lợi cho bên có quyền (bên nhận bảo đảm) khi tham gia vào các quan hệ dân sự Tuy nhiên, không phải lúc nào mục đích này cũng đạt được, trong rất nhiều trường hợp, vì nhiều lí do khác nhau mà TSBĐ không thể xử lý để thực hiện nghĩa vụ được hoặc có xử lý được nhưng số tiền thu hồi cũng không đủ bù đắp nghĩa vụ Đó có thể là những lý do mang tính chủ quan xuất phát từ sự sơ suất hay cố tình của các chủ thể tham gia trong quá trình xác lập giao dịch bảo đảm như việc thẩm định đánh giá tài sản, đánh giá năng lực chủ thể ký kết hợp đồng, tiến hành các thủ tục ký kết hợp đồng, công chứng, công bố quyền dẫn tới không có đủ căn cứ pháp lý để xử lý; hay lý do khách quan như sự mất mát tài sản, hao mòn hay giảm giá trị của tài sản dẫn đến không đủ thực hiện nghĩa vụ; hay những khó khăn do sự thiếu hợp tác của chủ sở hữu/người chiếm hữu tài sản dẫn đến không thu giữ, truy đòi được tài sản; hay cả những vướng mắc, bất cập về luật pháp,

Trang 28

thủ tục hành chính trong nhiều trường hợp cũng trở thành rào cản khiến cho việc xử

lý TSBĐ không đạt được kỳ vọng

- Thứ tư, hậu quả pháp lý của xử lý TSBĐ là làm chấm dứt quyền sở hữu tài sản

của bên bảo đảm: Xử lý TSBĐ là quá trình hiện thực hóa quyền của bên nhận bảo

đảm trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện được/ thực hiện không đúng/hoặc vi phạm nghĩa vụ; để xử lý TSBĐ bên nhận bảo đảm có thể thỏa thuận với bên bảo đảm để thực hiện bán, chuyển nhượng, nhận chính TSBĐ để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ hoặc thông qua con đường tố tụng dân sự (khởi kiện ra Tòa án) Đây đều là những hoạt động có tính định đoạt quyền sở hữu của tài sản, do đó sau khi thực hiện các biện pháp đối với TSBĐ thành công, tài sản sẽ có sự dịch chuyển quyền sở hữu từ bên bảo đảm sang người mua/người nhận chuyển nhượng tài

- Thứ năm, xử lý TSBĐ để thu hồi nợ không phải là hoạt động kinh doanh tài

sản của bên nhận bảo đảm: đặc điểm này đã được khẳng định rõ tại khoản 5 Điều 58

Nghị định 163/2006/NĐ-CP) Đây cũng chính là lý do mà khoản 3 Điều 1 Thông tư

số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 8 Điều 4 Thông

tư số 219/2013/TT-BTC quy định đối tượng không chịu thuế GTGT có trường hợp:

"Bán TSBĐ tiền vay do TCTD hoặc do cơ quan thi hành án hoặc bên đi vay vốn tự bán TSBĐ theo ủy quyền của bên cho vay để trả nợ khoản vay có bảo đảm"

1.2.4 Nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm

Nguyên tắc được hiểu là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo cơ bản có tính xuất phát điểm được đặt ra và mang tính bắt buộc chung Nhìn chung việc xử lý TSBĐ phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:

- Thứ nhất, nguyên tắc thoả thuận: Bản chất của quan hệ bảo đảm thực hiện

nghĩa vụ trả nợ là một quan hệ hợp đồng nên quyền xử lý tài sản bảo đảm cũng được hình thành trên cơ sở thoả thuận Đó là sự thoả thuận giữa TCTD và khách hàng vay

về các biện pháp bảo đảm tiền vay và các phương thức xử lý tài sản bảo đảm tiền vay khi khách hàng vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng tín dụng hoặc hợp đồng bảo đảm tiền vay Thỏa thuận về việc xử lý TSBĐ có thể được thiết lập tại thời điểm

8 Theo khoản 2 Điều 221 BLDS năm 2015: một trong những căn cứ xác lập quyền sở hữu là "Được chuyển quyền sở hữu theo thoả thuận hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác"

Trang 29

ký kết hợp đồng bảo đảm tiền vay hoặc có thể được thiết lập tại thời điểm xử lý tài sản Trường hợp các bên đã có thỏa thuận về việc xử lý TSBĐ thì việc xử lý tài sản

sẽ được thực hiện theo nội dung thỏa thuận Chỉ khi các bên không có thỏa thuận cụ thể thì tài sản sẽ được xử lý theo phương thức được pháp luật quy định (bán đấu giá)

- Thứ hai, nguyên tắc khách quan, công khai, minh bạch nhằm bảo đảm quyền

và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch bảo đảm, lợi ích hợp pháp của các

cá nhân, tổ chức có liên quan: Đây là nguyên tắc quan trọng nhằm bảo đảm sự công bằng lợi ích giữa các chủ thể có liên quan đến TSBĐ; vừa đảm bảo quyền thu nợ tối

đa của TCTD, vừa bảo vệ quyền lợi chính đáng của bên bảo đảm có tài sản bị đưa ra

xử lý, tránh tình trạng một bên lợi dụng việc xử lý TSBĐ ép giá/hoặc nâng giá TSBĐ làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bên còn lại cũng như các cá nhân, tổ chức có liên quan

- Thứ ba, nguyên tắc bảo đảm tiết kiệm về thời gian và chi phí: Đây là một

nguyên tắc cần thiết trong xử lý TSBĐ tiền vay để đảm bảo hạn chế được rủi ro và chi phí cho các bên Đối với các TCTD, việc xử lý TSBĐ nhanh chóng, tiết kiệm chi phí sẽ làm tăng được khả năng thu hồi nợ, hạn chế được rủi ro mất vốn, hạn chế triệt

để thiệt hại cho TCTD và khách hàng vay do TSBĐ bị xuống cấp, hư hỏng, mất giá đồng thời nhanh chóng đưa nguồn tiền thu hồi được quay lại với hoạt động kinh doanh để tiếp tục sinh lời Đối với bên vay vốn/bên thế chấp, việc xử lý nhanh về TSBĐ thu hồi nợ sẽ giúp hạn chế được gánh nặng lãi có thể phát sinh trong thời gian chờ xử lý

1.2.5 Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm

Theo tại Điều 299 của BLDS năm 2015, trong trường hợp các bên không có thỏa thuận hoặc không có thỏa thuận khác thì quyền xử lý TSBĐ sẽ có hiệu lực kể từ thời điểm phát sinh các căn cứ sau:

- Thứ nhất, khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ

không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ: đây là trường hợp bên có nghĩa vụ không vi phạm nghĩa vụ hoặc có vi phạm nhưng chưa đến mức phải chấm dứt/hủy bỏ giao dịch Tuy nhiên, khi kết thúc thời hạn phải thực hiện nghĩa vụ, bên

có nghĩa vụ vẫn không thực hiện nghĩa vụ

Trang 30

- Thứ hai, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn

do vi phạm nghĩa vụ theo thoả thuận: đây là trường hợp mặc dù chưa đến thời hạn phải thực hiện nghĩa vụ, nhưng do bên có nghĩa vụ vi phạm các điều kiện dẫn tới chấm dứt nghĩa vụ (hủy bỏ giao dịch) trước thời hạn, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn Ví dụ như trường hợp khách hàng sử dụng tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ vay tại một TCTD; theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, khách hàng vay phải có nghĩa vụ sử dụng vốn vay đúng mục đích, tuy nhiên sau khi cho vay, TCTD phát hiện khách hàng vi phạm nghĩa vụ sử dụng vốn sai mục đích nên yêu cầu chấm dứt hợp đồng tín dụng trước thời hạn đồng thời yêu cầu khách hàng trả nợ Nếu khách hàng không trả được nợ, TCTD sẽ có quyền xử lý TSBĐ để thu hồi nợ

- Thứ ba, xử lý TSBĐ trong trường hợp pháp luật quy định phải xử lý để thực

hiện các nghĩa vụ khác: đây có thể là trường hợp bên bảo đảm sử dụng tài sản để bảo đảm đồng thời cho nhiều nghĩa vụ khác nhau khi một nghĩa vụ đến hạn và phải xử lý TSBĐ thì các nghĩa vụ khác dù chưa đến hạn cũng sẽ được coi là đến hạn và được

xử lý TSBĐ đồng thời (khoản 3 Điều 296 BLDS năm 2015); hoặc có thể là trường hợp chủ sở hữu TSBĐ (bên bảo đảm) phải xử lý tài sản theo phán quyết của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự… nhưng không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thực hiện nghĩa vụ (Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP; Khoản 1 Điều 90 Luật thi hành án

sản (Điều 57 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP)…

- Thứ tư, trường hợp khác do các bên thoả thuận hoặc luật có quy định: ngoài

các trường hợp nêu trên, tài sản có thể được xử lý theo thỏa thuận của các bên mà không phụ thuộc vào thời hạn thực hiện nghĩa vụ và yếu tố vi phạm (như thỏa thuận

về xử lý TSBĐ để thực hiện nghĩa vụ trước hạn) hoặc trường hợp có quy định cho phép xử lý TSBĐ ngay để tránh nguy cơ tài sản hư hỏng, giảm sút giá trị (Điều 300 BLDS năm 2015)

9 Khoản 1 Điều 90 Luật thi hành án dân sự năm 2008: "Trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án"

Trang 31

1.2.6 Phương thức xử lý tài sản bảo đảm

Việc xử lý TSBĐ trước hết phải được thực hiện theo các phương thức đã được thoả thuận trong hợp đồng bảo đảm, hợp đồng tín dụng mà bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm ký kết Nếu không có thoả thuận về biện pháp xử lý TSBĐ, bên nhận bảo đảm có thể lựa chọn các biện pháp đã được quy định tại Điều 59 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP Bao gồm:

- Bán tài sản bảo đảm: Bán TSBĐ có thể được thực hiện bằng cách TCTD giao cho bên bảo đảm tự bán tài sản; hoặc TCTD ủy quyền bán đấu giá tài sản cho tổ chức bán đấu giá tài sản; hoặc TCTD trực tiếp tổ chức bán tài sản (theo phương thức đấu giá, niêm yết thông báo việc bán tài sản, nơi bán đấu giá,… theo đúng quy định của pháp luật)

- Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm

- Bên nhận bảo đảm nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ

- Phương thức khác do các bên thoả thuận

1.2.7 Xử lý tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tại các tổ chức tín dụng

Về cơ bản hoạt động xử lý TSBĐ tại các TCTD cũng mang các đặc điểm tương

tự như hoạt động xử lý TSBĐ để thực hiện các nghĩa vụ dân sự khác như nguyên tắc

xử lý, căn cứ xử lý, phương thức xử lý,… Tuy nhiên, do sự khác nhau về chủ thể mang quyền xử lý (một bên là TCTD, một bên là các cá nhân, tổ chức nhận bảo đảm khác) dẫn đến hoạt động xử lý tại TCTD cũng mang một số nét đặc thù như:

- Ngoài việc phải tuân thủ theo một trình tự, thủ tục cụ thể và chặt chẽ do pháp luật quy định, thì hoạt động xử lý nợ trong các TCTD còn phải được thực hiện theo các quy định nội bộ do NHNN và do chính các TCTD ban hành do đó thường được thực hiện một cách bài bản, chuẩn mực hơn

- Việc xử lý TSBĐ tại các TCTD thường phức tạp và có mức độ rủi ro cao do quy mô của nghĩa vụ lớn, đối tượng tài sản có thể nhận làm tài sản bảo đảm cũng đa dạng hơn rất nhiều so với các giao dịch bảo đảm thông thường (Ví dụ: trường hợp thế chấp đối một số loại quyền sử dụng đất, đặc biệt là quyền sử dụng đất của tổ

Trang 32

chức, theo quy định của Luật đất đai chỉ có thể được thực hiện tại các TCTD được phép hoạt động tại Việt Nam; hoặc các loại tài sản bảo đảm đặc thù, giá trị lớn…)

- Trong một số thời điểm, để phù hợp với định hướng phát triển kinh tế chung, việc xử lý TSBĐ tại các TCTD gặp nhiều thuận lợn hơn do có các cơ chế hỗ trợ đặc thù từ các quy định của pháp luật, các chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ

mà trường hợp Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD là một ví dụ điển hình với hàng loạt các quy định đặc thù trong hoạt động xử lý nợ tại các TCTD (như quy định cho phép TCTD tiếp tục thu giữ TSBĐ; quy định về áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến TSBĐ tại Tòa án; quy định cho phép xử lý TSBĐ là dự án bất động sản chưa đủ điều kiện chuyển nhượng…)

1.3 Các quy định nội bộ liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam

và Phát triển Việt Nam (BIDV) được thực hiện theo 02 văn bản quy định nội bộ là: Quy định về giao dịch bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng của BIDV đối với khách hàng được ban hành kèm theo quyết định số 8955/QĐ-QLTD ngày 31/12/2014 của Tổng giám đốc BIDV; và Quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền thực hiện giao dịch bảo đảm được ban hành kèm theo quyết định số 8956/QĐ-QLTD ngày 31/12/ 2014 của Tổng giám đốc BIDV Theo đó, có 04 biện pháp bảo đảm đang được áp dụng chính thức trong hoạt động cấp tín dụng đối với khách hàng tại

sản, ký quỹ) và 01 biện pháp bảo đảm không dùng tài sản (Bảo lãnh)

Nhìn chung hệ thống quy định, quy trình nội bộ của BIDV được xây dựng trên

cơ sở của BLDS, các luật chuyên ngành và các văn bản dưới luật như Nghị định 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Nghị định số 83/2010/NĐ-

CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm (Nghị định số 83/2010/NĐ-CP), các Nghị định /Thông tư hướng dẫn về nhận thế chấp và đăng ký thế chấp đối với quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, nhà ở hình thành trong

10

BLDS năm 2015 của Việt Nam quy định có 09 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là: Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, cầm giữ tài sản, bảo lãnh, tín chấp

Trang 33

tương lai và các văn bản sửa đổi bổ sung liên quan Nội dung các quy định nội bộ về biện pháp bảo đảm và xử lý TSBĐ đã bám sát theo các quy định của pháp luật, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và các bộ ngành Bên cạnh đó, BIDV cũng bổ sung một số quy định riêng, một số hướng dẫn cụ thể nhằm thống nhất trình tự thực hiện cũng như hạn chế rủi ro trong việc nhận và xử lý TSBĐ

Cụ thể:

- Về nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm: Nguyên tắc xử lý TSBĐ được BIDV áp

dụng theo quy định tại Điều 58 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP Theo đó, việc xử lý TSBĐ cũng phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc như phân tích tại mục 1.2.4 của luận văn (nguyên tắc thoả thuận; nguyên tắc khách quan, công khai, minh bạch nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch bảo đảm, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức có liên quan; nguyên tắc bảo đảm tiết kiệm về thời gian và chi phí)

- Về các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm: Theo quy định nội bộ của BIDV

(Khoản 1 Điều 25 quy định số 8955/QĐ-QLTD), trong trường hợp các bên không có thỏa thuận hoặc không có thỏa thuận khác thì quyền xử lý TSBĐ sẽ có hiệu lực kể từ thời điểm phát sinh các căn cứ sau: khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; khi bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thoả thuận; khi pháp luật quy định phải xử lý để thực hiện các nghĩa vụ khác; hoặc trường hợp khác do các bên thoả thuận hoặc luật có quy định Đối chiếu với quy định của BLDS hiện hành (Điều 299 BLDS năm 2015), mặc dù được ban hành trước khi có BLDS năm 2015, tuy nhiên đến này quy định về các trường hợp hợp xử

lý TSBĐ theo Khoản 1 Điều 25 quy định số 8955/QĐ-QLTD của BIDV vẫn bao gồm đầy đủ các trường hợp xử lý TSBĐ được quy định trong BLDS Ngoài ra, quy định nội bộ của BIDV còn làm rõ thêm trường hợp xử lý TSBĐ trong trường hợp khác luật có quy định như trường hợp bên bảo đảm bị phá sản, giải thể

- Về phương thức xử lý tài sản bảo đảm: Phương thức xử lý TSBĐ được BIDV

thực hiện theo Điều 16 Quyết định số 8956/QĐ-QLTD ngày 31/12/ 2014 quy định về

"Trình tự, thủ tục, thẩm quyền thực hiện giao dịch bảo đảm" của Tổng giám đốc BIDV Theo đó, việc lựa chọn phương thức xử lý tùy thuộc vào từng biện pháp bảo

Trang 34

đảm/tài sản bảo đảm và quan hệ tín dụng với từng khách hàng, BIDV lựa chọn phương thức xử lý tài sản phù hợp để có kết quả thu hồi nợ cao nhất Các phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo các hình thức như sau:

+ BIDV giao cho bên bảo đảm tự bán tài sản: Bên bảo đảm trực tiếp ký hợp đồng mua bán TSBĐ với người mua Đơn vị xử lý TSBĐ của BIDV có trách nhiệm hỗ trợ, giám sát chặt chẽ bên bảo đảm trong việc bán TSBĐ (giới thiệu người mua, tư vấn thủ tục, kiểm soát về giá bán tài sản và quá trình thanh toán … ) Việc thanh toán phải thực hiện qua BIDV: Tiền bán tài sản có thể trả trực tiếp từ bên mua cho BIDV hoặc bên mua thanh toán vào tài khoản phong toả của bên bảo đảm mở tại BIDV dùng để ưu tiên thanh toán nợ, phần thừa trả lại cho bên bảo đảm Sau khi thu nợ, BIDV sẽ tiến hành giải chấp TSBĐ

+ BIDV ủy quyền bán đấu giá tài sản cho tổ chức bán đấu giá: BIDV phối hợp với bên bảo đảm hoặc chỉ BIDV ký hợp đồng với tư cách là bên uỷ quyền bán đấu giá cho tổ chức bán đấu giá và thực hiện xử lý theo quy định của Luật đấu giá tài sản + BIDV tự bán TSBĐ: BIDV trực tiếp tổ chức bán tài sản (theo phương thức đấu giá, niêm yết thông báo việc bán tài sản, nơi bán đấu giá); BIDV ký kết hợp đồng mua bán với bên mua tài sản và xuất hóa đơn cho bên mua tài sản (nếu bên mua tài sản có yêu cầu)

+ BIDV nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ bên thứ ba (bên thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ, Công ty bảo hiểm trong trường hợp thế chấp quyền thụ hưởng tiền bảo hiểm, hoặc từ bên thứ ba có nghĩa vụ liên quan đến TSBĐ)

+ BIDV nhận TSBĐ để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm

- Về trình tự xử lý tài sản bảo đảm tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam:

Bước 1- Phê duyệt chủ trương xử lý TSBĐ: Bộ phận quản lý khách hàng lập báo cáo đề xuất xử lý TSBĐ trình cấp có thẩm quyền phê duyệt

Bước 2 - Thông báo về việc xử lý TSBĐ trong trường hợp bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ: Trước khi xử lý TSBĐ, BIDV với tư cách là người xử lý tài sản phải thông báo bằng văn bản về việc xử lý TSBĐ cho các bên cùng nhận bảo đảm khác

Trang 35

theo địa chỉ được bên bảo đảm cung cấp hoặc đăng ký văn bản thông báo về việc xử

lý TSBĐ theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm

Bước 3 - Tổ chức xử lý tài sản theo một trong các phương thức: bán đấu giá tài sản, TCTD tự bán tài sản, TCTD nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ hoặc các phương thức khác

Bước 4 - Thanh toán tiền thu được từ việc xử lý TSBĐ: Số tiền thu được được từ

xử lý TSBĐ được thanh toán theo thứ tự: Các chi phí cần thiết để xử lý TSBĐ; Thuế

và các khoản phí nộp ngân sách Nhà nước (nếu có); Thanh toán nghĩa vụ cho bên nhận bảo đảm

Bước 5- Làm thủ tục giải chấp TSBĐ, trả lại hồ sơ tài sản cho bên bảo đảm/bên nhận chuyển nhượng tài sản

- Thanh toán tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm:

Sau khi thực hiện thành công một trong các biện pháp xử lý nêu trên, việc thanh toán thu hồi nợ từ việc xử lý TSBĐ chính là khâu cuối cùng trong quá trình xử lý TSBĐ Hiện nay việc thanh toán tiền thu được từ xử lý TSBĐ được BIDV hướng dẫn (tại Điều 26 quy định số 8955/QĐ-QLTD) căn cứ theo quy định của BLDS và Điều 6 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, theo đó ngoài việc tuân thủ các quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán theo quy định của BLDS (căn cứ theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm quy định tại Điều 325 BLDS năm 2005/ căn cứ vào thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng theo quy định tại Điều 308 BLDS năm 2015) trường hợp pháp luật không có quy định khác, số tiền thu được được thanh toán theo thứ tự như sau:

- Các chi phí cần thiết để xử lý tài sản bảo đảm: chi phí bảo quản, quản lý, định giá, quảng cáo bán tài sản, bán tài sản, tiền hoa hồng, chi phí, lệ phí bán đấu giá và các chi phí cần thiết, hợp lý khác liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm

- Thuế và các khoản phí nộp ngân sách Nhà nước (nếu có)

- Thanh toán nghĩa vụ cho bên nhận bảo đảm: trường hợp tài sản bảo đảm được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, thì tiền bán tài sản được thanh toán cho các bên nhận bảo đảm theo thứ tự ưu tiên thanh toán

- Trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm thanh toán là khoản nợ: thanh toán theo thứ tự nợ gốc, lãi, lãi quá hạn, các khoản phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại (nếu có), trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, tính đến ngày bên bảo đảm hoặc bên

Trang 36

giữ tài sản giao tài sản cho BIDV xử lý hoặc đến ngày tài sản được xử lý xong hoặc theo một thứ tự khác do BIDV toàn quyền quyết định

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong hoạt động tín dụng của các TCTD nói chung và BIDV nói riêng, xử lý TSBĐ được coi là một giai đoạn của quy trình cấp tín dụng Đó chính là quá trình thực hiện các biện pháp đối với TSBĐ nhằm thu hồi khoản nợ mà TCTD/BIDV đã cho vay khi có sự vi phạm nghĩa vụ của khách hàng vay Về bản chất pháp lý thì quyền xử lý TSBĐ được coi là một quyền dân sự Quá trình xử lý TSBĐ chính là quá trình hiện thực hóa quyền của bên nhận bảo đảm đối với TSBĐ/hoặc các lợi ích thu được từ việc bán, chuyển nhượng, mua lại tài sản để khấu trừ giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm

Tại Việt Nam, mặc dù các quy định của BLDS về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã bước đầu tiếp cận những đặc điểm cơ bản của vật quyền bảo đảm thể hiện thông qua các quy định về hiệu lực đối kháng với người thứ ba và quyền truy đòi TSBĐ hay quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ Tuy nhiên, các quy định đó lại đang được nhìn nhận và xây dựng trên cơ sở kết hợp với lý thuyết về trái quyền, việc xử lý TSBĐ vẫn còn phụ thuộc rất nhiều vào sự hợp tác của bên bảo đảm (hoặc người quản lý TSBĐ) Với cách tiếp cận theo lý thuyết trái quyền như trên thì vấn đề xử lý TSBĐ để thực hiện nghĩa vụ theo quy định của BLDS Việt Nam

sẽ bộc lộ một số điểm bất cập làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các TCTD, gây khó khăn cho hệ thống các TCTD và BIDV nói riêng trong việc xử lý TSBĐ thu hồi nợ Những cơ sở lý luận, thực trạng của pháp luật cũng như những quy định nội bộ của BIDV nêu trên chính là những nội dung cốt lõi về mặt lý thuyết để làm căn cứ phân tích, đánh giá những điểm bất cập, vướng mắc trong quá trình xử lý TSBĐ sẽ được trình bày cụ thể ở chương 2

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TRẢ TIỀN TRONG HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG

MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

Để xử lý TSBĐ, các TCTD nói chung và BIDV nói riêng có thể lựa chọn một trong các phương thức như thỏa thuận, phối hợp với bên bảo đảm (chủ sở hữu tài sản) để xử lý; Hoặc là tự xử lý (tự bán tài sản, bán thông qua thủ tục bán đấu giá, nhận chính TSBĐ để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ); Hoặc tiến hành thông qua thủ tục tố tụng (khởi kiện ra Tòa án sau đó yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý TSBĐ) Thông thường, nếu nhận được sự hợp tác của bên bảo đảm (chủ sở hữu tài sản) thì BIDV sẽ lựa chọn phương thức xử lý thứ nhất là phối hợp với bên bảo đảm (chủ sở hữu tài sản) để xử lý theo thỏa thuận và quá trình xử lý TSBĐ không gặp nhiều vướng mắc Tuy nhiên, trong trường hợp không có sự hợp tác, tự nguyện giao tài sản từ bên bảo đảm (chủ sở hữu tài sản) thì việc tự xử lý TSBĐ hoặc thông qua con đường tố tụng (tòa án, thi hành án dân sự) đều gặp phải rất nhiều khó khăn Trên

cơ sở kết quả phân tích quy định của pháp luật hiện hành và quy định nội bộ của BIDV liên quan đến xử lý TSBĐ, nội dung Chương 2 sẽ cố gắng tập trung vào phân tích, đánh giá một số điểm bất cập, vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật để xử lý TSBĐ thu hồi nợ vay

2.1 Bất cập, vướng mắc khi Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam tự xử lý tài sản bảo đảm

2.1.1 Về quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý

Đối với tài sản thế chấp, đặc biệt là quyền sử dụng đất và nhà ở do đặc điểm không được chuyển giao cho bên nhận bảo đảm trong quá trình thế chấp, vì vậy khi phải xử lý tài sản nếu không nhận được sự hợp tác của bên thế chấp hoặc người đang giữ tài sản thì việc xử lý tài sản gặp rất nhiều khó khăn Để giải quyết vấn đề này, Điều 63 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, Điều 9 Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT- BTP-BTNMT-NHNN ngày 6/6/2014 về hướng dẫn một số vấn đề về

xử lý TSBĐ (Thông tư liên tịch số 16) đã có quy định về quyền thu giữ tài sản của bên nhận bảo đảm/người xử lý tài sản, theo đó trong trường hợp bên giữ tài sản

Trang 38

không tự nguyện bàn giao tài sản, người xử lý tài sản sẽ được phép tiến hành các thủ tục thông báo, thu giữ tài sản, thậm chí còn có quyền được đề nghị Ủy ban nhân dân

xã, phường, thị trấn và cơ quan Công an nơi tiến hành thu giữ TSBĐ cùng tham gia vào quá trình thu giữ tài sản Tuy nhiên, thực tế nhiều trường hợp xử lý TSBĐ cho thấy, nếu như bên thế chấp/bên giữ tài sản vẫn cố tình không hợp tác, chống đối, cản

không được quyền cưỡng chế tịch thu tài sản, việc tham gia của các cơ quan như Ủy ban nhân dân xã hay Công an cũng chỉ mang tính chất hỗ trợ, giữ gìn an ninh trật tự chứ không thể can thiệp buộc bên thế chấp phải bàn giao tài sản Thậm chí trong nhiều trường hợp, dù đã gửi trước hồ sơ và kế hoạch thu giữ tài sản đến chính quyền địa phương theo đúng quy định nhưng nhiều địa phương không đồng ý hỗ trợ, thậm chí ngăn cản hoạt động xử lý TSBĐ Đơn cử như một trường hợp trong tháng 7/2015, BIDV Sơn La đã tiến hành thu giữ TSBĐ là nhà đất của hộ kinh doanh Trần Thị L tại xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La là minh chứng điển hình cho những khó khăn cho việc thu giữ TSBĐ để xử lý Trong vụ việc này, mặc dù Ngân hàng đã làm đầy đủ các thủ tục để thu giữ TSBĐ (bao gồm cả việc gửi văn bản đề nghị chính quyền địa phương hỗ trợ) nhưng vẫn không thể thu giữ được tài sản do vấp phải sự chống đối quyết liệt từ phía Chủ tài sản Vụ việc sau đó thậm chí còn bị một số trang mạng xã hội đưa ra thông tin sai lệch về việc BIDV siết nợ trái quy định của pháp luật làm ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng

Việc thu giữ tài sản trong thực tế khó khăn là thế, tuy nhiên kể từ sau khi BLDS năm 2015 ra đời và chính thức có hiệu lực, quyền lợi của bên nhận bảo đảm lại tiếp tục bị hạn chế bởi vì tại Điều 301 về “Giao TSBĐ để xử lý”, BLDS năm 2015 quy định: Người đang giữ TSBĐ có nghĩa vụ giao TSBĐ cho bên nhận bảo đảm để xử lý

theo quy định; tuy nhiên, nếu “người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên

nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.” Tức là, theo quy định mới của BLDS năm 2015, nếu không có luật

11 Điều 22 Hiến pháp 2013 quy định: "1 Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp; 2 Mọi người có quyền bất

khả xâm phạm về chỗ ở Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý; 3 Việc khám xét chỗ ở do luật định"

Trang 39

liên quan quy định12 thì bên nhận bảo đảm không còn quyền thu giữ TSBĐ như quy định tại Nghị định số 163/2006/NĐ-CP Quy định như vậy của BLDS sẽ kéo theo một số điểm bất cập như sau:

- Trước khi đi vay, người vay đã tự nguyện đưa tài sản của mình vào cầm cố, thế chấp nghĩa là đã đồng ý cho ngân hàng có quyền xử lý tài sản khi không trả được

nợ Việc gỡ bỏ quy định về thu giữ tài sản thế chấp của các TCTD là đang đi ngược lại những cố gắng của BLDS trong bước đầu tiếp cận những đặc điểm cơ bản của vật quyền bảo đảm bằng các quy định mang dáng dấp của vật quyền bảo đảm như quy định về hiệu lực đối kháng với người thứ ba và quyền truy đòi TSBĐ khi biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba (Điều 297), quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ (Điều 308)

- Khuyến khích sự chây ỳ của bên có nghĩa vụ và làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các TCTD cũng như gián tiếp ảnh hưởng đến quyền hợp pháp của đa

số người gửi tiền, tiềm ẩn rủi ro gây mất an toàn hệ thống TCTD, an toàn trật tự xã hội

- Tạo ra áp lực lớn lên cho các cơ quan xét xử và thi hành án bởi vì với quy định như trên, chắc chắn số vụ tranh chấp liên quan đến các hợp đồng vay tài sản và bảo đảm tiền vay được xử lý qua tòa án và cơ quan thi hành án dân sự sẽ tăng lên rất nhiều

2.1.2 Về việc bán đấu giá tài sản bảo đảm

Tại Điều 303 về phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp, BLDS năm 2015 quy định các bên có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm

cố, thế chấp là “bán đấu giá tài sản”; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 16 quy định TCTD được quyền thực hiện chuyển nhượng TSBĐ kể cả khi bên bảo đảm không hợp tác, và các hợp đồng thế chấp đều có điều khoản thoả thuận

về việc bên nhận thế chấp được quyền bán tài sản thế chấp, thậm chí ghi nhận rõ việc bên thế chấp uỷ quyền cho bên nhận thế chấp Tuy nhiên, việc BIDV hay một TCTD khác đứng ra bán đấu giá TSBĐ vẫn là bất khả thi trong một số trường hợp không có

sự hợp tác bàn giao tài sản của bên bảo đảm; nhiều trường hợp tài sản đã được bán

12 Ngày 30/12/2016, NHNN đã ban hành thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của

tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng nhưng cũng không quy định về việc thu giữ tài sản bảo đảm

Trang 40

đấu giá thành công, tài sản thậm chí đã được bàn giao về thủ tục pháp lý nhưng không thể bàn giao trong thực tế… sau khi bán đấu giá bởi vì bên bảo đảm tiếp tục gây khó dễ bằng cách kiện yêu cầu hủy Hợp đồng bán đấu giá, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cấp cho người mua; Bên trúng đấu giá thì khởi kiện vì không thể nhận bàn giao tài sản/nhà, đất dẫn đến phát sinh tranh chấp kéo dài Trong khi đó, không có cơ chế buộc Bên thế chấp/Bên giữ TSBĐ giao tài sản cho bên mua, tổ chức bán đấu giá cũng như

chiếm giữ tài sản bất hợp pháp sau khi hoàn tất các thủ tục thu giữ theo quy định, vì

cơ quan thi hành án chỉ thi hành cưỡng chế theo nội dung bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án có thẩm quyền, đồng thời cũng chưa có văn bản pháp luật nào quy định việc cưỡng chế bàn giao tài sản đấu giá thành cho bên mua Và như vậy, để hoàn tất việc thu nợ theo phương án này, phải phát sinh thêm một vụ kiện đòi

hàng Nguyễn Mỹ H tại BIDV Chi nhánh Nam Hà Nội: Bà Nguyễn Mỹ H là khách hàng vay vốn tại BIDV Chi nhánh Nam Hà Nội Ngày 21/5/2014, BIDV Nam Hà Nội giải ngân cho bà H vay 9 tỷ đồng theo HĐTD số 75/2014/HĐTD ngày 21/5/2014 Mục đích thanh toán nhận chuyển nhượng QSDĐ và nhà tại số 15 ngõ Hòa Bình 2, Minh Khai,

Hà Nội Khoản vay được bảo đảm bằng chính tài sản hình thành từ vốn vay là quyền sử dụng đất và nhà tại số 15 ngõ Hòa Bình 2 (diện tích 130,7 m2 + căn nhà 05 tầng) theo hợp đồng thế chấp công chứng số 2516/2014/HĐTC ngày 21/5/2014 Giá trị định giá khi nhận thế chấp là 10 tỷ đồng Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định Tháng 7/2014, khoản vay của bà H phát sinh nợ quá hạn BIDV Nam Hà Nội đã thực hiện các biện pháp đôn đốc việc trả nợ nhưng bà H vẫn không thể trả được

do gặp khó khăn trong kinh doanh Sau nhiều lần đôn đốc và yêu cầu bà H trả nợ cũng như bàn giao TSBĐ để xử lý nhưng bà H vẫn không chịu hợp tác Ngày 16/11/2015, BIDV Nam Hà Nội đã thông báo và làm các thủ tục cần thiết để đưa TSBĐ ra bán đấu giá tài sản Quá trình bán đấu giá QSD đất được thực hiện qua Công ty CP DV đấu giá Việt Nam theo đúng quy định pháp luật (HĐ bán đấu giá số 128/2015/HĐBĐG- VAS.HN) Ngày 1/12/2015, Công ty đấu giá có văn bản số 128-8/CV-VAS.HN thông báo đấu giá thành công với giá 8,25 tỷ đồng Người trúng đấu giá là bà Trần Thị S Ngày

Ngày đăng: 13/03/2019, 21:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w