1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân tại các cơ quan nhà nước trung ương ở việt nam

91 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 14,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai, đánh giá được thực trạng văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân ở các cơ quan nhà nước trung ương ở nước ta thời gian qua và xác định những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó

Trang 1

NGÔ MAI PHƯƠNG

VĂN HÓA PHÁP LUẬT CỦA CÁN BỘ TIẾP CÔNG DÂN TẠI CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

TRUNG ƯƠNG Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Lý luận chung Nhà nước và lịch sử pháp luật

Mã số: 60380101

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Hồi

HÀ NỘI - NĂM 2017

Trang 2

TIẾP CÔNG DÂN TẠI CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG Ở

VIỆT NAM 6

1.1 Khái niệm và các chức năng văn hóa pháp luật 6

1.1.1 Khái niệm văn hóa pháp luật 6

1.1.2 Chức năng của văn hóa pháp luật 15

1.2 Khái niệm cán bộ tiếp công dân và văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân tại các cơ quan nhà nước trung ương 19

1.2.1 Khái niệm cán bộ tiếp công dân 19

1.2.2 Khái niệm văn hóa pháp luật và các yếu tố hợp thành văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân 21

1.2.3 Yêu cầu về văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân tại các cơ quan nhà nước trung ương ở Việt Nam 30

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân 36 1.3.1 Yếu tố chủ quan 36

1.3.2 Yếu tố khách quan 39

Chương 2 : THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VĂN HÓA PHÁP LUẬT CỦA CÁN BỘ TIẾP CÔNG DÂN TẠI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 47

2.1 Thực trạng văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân 47

2.1.1 Thực trạng ý thức pháp luật của cán bộ tiếp công dân 47

2.1.2 Thực trạng thái độ và hành vi ứng xử của cán bộ khi tiếp công dân 50

2.1.3 Thực trạng công tác tiếp xúc, đối thoại của cán bộ tiếp công dân với nhân dân 55

2.1.4 Thực trạng lối sống theo pháp luật của cán bộ tiếp công dân 58

Trang 3

trị văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân tại cơ quan nhà nước trung ương ở Việt Nam 59 2.2.2 Một số giải pháp nâng cao văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân tại cơ quan nhà nước trung ương ở Việt Nam 65

KẾT LUẬN 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài

Tiếp công dân là công tác quan trọng trong các hoạt động của Đảng, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta Thông qua việc tiếp công dân, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức tiếp nhận được các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của nhân dân liên quan đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật để có các biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời Làm tốt công tác tiếp công dân là thể hiện bản chất “Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”, tăng cường mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước Cán bộ tiếp công dân được coi là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Từ công tác tiếp công dân, họ trực tiếp tiếp nhận những thông tin phản hồi từ thực tế, những vấn đề nảy sinh từ cuộc sống, chuyển tải đến các cơ quan liên quan giúp cho Đảng và Nhà nước

đề ra những chủ trương, quyết sách đúng đắn, hợp lòng dân Ngược lại, cán

bộ tiếp công dân cũng là người giải thích, tuyên truyền cho người dân những chính sách của Đảng, quy định của pháp luật Nhà nước Những đóng góp của công tác này dù “âm thầm” nhưng góp phần không nhỏ vào việc ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội để phát triển đất nước Do đó, đòi hỏi cán

bộ tiếp công dân phải có trình độ chuyên môn cao cũng như văn hóa pháp luật

và đạo đức nghề nghiệp trong sáng Văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân là tổng thể các yếu tố từ nhận thức sâu sắc về bản chất hoạt động nghề nghiệp, vai trò, vị trí của mình, từ đó hình thành quan niệm đúng đắn và thái

độ tuân thủ pháp luật Văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân không phải

do ai ban cho hoặc sẵn có mà là kết quả của quá trình tu dưỡng bền bỉ, được tích lũy bằng tri thức, các kỹ năng nghề nghiệp và đạo đức của mỗi người thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân

Văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân ở Việt Nam hiện nay đang được nhìn nhận chưa đúng về chức năng xã hội của người tiếp dân Một số

Trang 5

cán bộ tiếp công dân còn thiếu năng lực, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp Ở một số địa phương xảy ra nhiều trường hợp cán bộ không xếp được vào vị trí nào nữa thì “đẩy” vào vị trí tiếp công dân

Chủ trương và đường lối của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng đội ngũ tiếp công dân thể hiện trong Chỉ thị số 35/CT-TW ngày 26-5-2014 của Bộ Chính trị ban hành với mục tiêu đánh giá những mặt được và chưa được, tích cực và hạn chế về công tác tiếp công dân từ đó đề ra tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo:

Kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tiếp dân và tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo có phẩm chất đạo đức tốt, tinh thông nghiệp vụ, có khả năng hướng dẫn, giải thích, thuyết phục để công dân hiểu và chấp hành đúng pháp luật Bảo đảm trụ

sở, trang bị phương tiện và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác tiếp công dân, bảo đảm thuận lợi cho công dân và cán bộ, công chức tiếp công dân

Trước yêu cầu rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với sự tiến bộ của xã hội, việc nghiên cứu và xây dựng nền văn hóa pháp luật nói chung và văn hóa pháp luật của cán bộ, công chức tiếp công dân đã và đang đặt ra hàng loạt nhiệm vụ hết sức cấp thiết nhằm xây dựng, củng cố và hoàn thiện các chân giá trị văn hóa pháp luật tiếp công dân Để đáp ứng các yêu cầu nhiệm

vụ trên đòi hỏi có nhiều hoạt động tích cực khác nhau, trong đó có hoạt động nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt động tiếp công dân, văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân

Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp

công dân tại các cơ quan nhà nước trung ương ở Việt Nam” để thực hiện luận

văn thạc sỹ của mình

Trang 6

2 Tình hình nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đề tài

Việc nghiên cứu văn hóa pháp luật, một bộ phận của văn hóa nói chung được xác định là góp phần thực hiện chủ trương chung của Đảng và xã hội Trong thời gian qua đã có nhiều các nhà nghiên cứu về văn hóa và văn hóa pháp luật dưới các góc độ khác nhau “Vấn đề văn hóa pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” của GS.TS Lê Minh Tâm, đã đề cập đến những vấn

đề lý luận về văn hóa pháp luật ở Việt Nam Tác giả đã phân tích khái niệm

và yếu tố cấu thành của văn hóa pháp luật Đặc biệt tác giả đã phân tích nhiều khía cạnh của văn hóa pháp luật từ nhiều góc độ và làm sáng tỏ nội hàm của khái niệm văn hóa pháp luật Từ đó, tác giả nêu ra vai trò của văn hóa pháp luật trong các hoạt động pháp luật nói chung và cuối cùng tác giả đưa ra các giải pháp để nâng cao văn hóa pháp luật nước ta PGS.TS Nguyễn Thị Hồi trong bài viết về “Ý thức pháp luật và văn hóa” cũng đưa ra khái niệm văn hóa pháp luật Trong bài viết “Về khái niệm văn hóa pháp luật”, TS Ngọ Văn Nhân đã điểm qua một số định nghĩa văn hóa pháp luật hiện có, từ đó tác giả đưa ra định nghĩa văn hóa pháp luật riêng theo quan điểm cá nhân, đồng thời lập luận, phân tích nội hàm của định nghĩa này, góp thêm ý kiến xung quanh khái niệm văn hóa pháp luật PGS TS Trần Ngọc Đường đánh giá thực trạng văn hóa pháp lý ở nước ta từ kinh nghiệm thức tiễn cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền phải đi đôi với quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật trong bài viết “Văn hóa pháp lý với sự nghiệp đổi mới ở nước ta”

PGS.TS Nguyễn Minh Đoan có đề cập đến văn hóa công sở, văn hóa pháp luật trong hoạt động tiếp dân trong cuốn “Thực hiện pháp luật và văn hóa pháp lý trong đời sống xã hội”

Ngoài ra, một số luận văn thạc sĩ cũng nghiên cứu về văn hóa pháp luật như “Văn hóa pháp luật ở công sở trong điều kiện cải cách hành chính và cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay” - Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả

Trang 7

Nguyễn Thị Lê Thu (2003), “Văn hóa pháp luật của luật sư ở Việt Nam” - Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Trần Thị Ngọc (2015), “Văn hóa pháp luật của thẩm phán trong lĩnh vực tố tụng hành chính” trong hoạt động xây dựng pháp luật” - Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Cao Thị Nga (2015)

Các công trình nghiên cứu trên đã tạo cơ sở lý luận và thực tiễn bước đầu rất quan trọng cho tác giả khi nghiên cứu về văn hóa pháp luật một cách sâu sắc và toàn diện hơn nhằm góp phần nâng cao và hoàn thiện văn hóa pháp luật trong phạm vi nghiên cứu đề tài luận văn của mình

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân tại các cơ quan nhà nước trung ương ở Việt Nam Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân các cơ quan nhà nước trung ương

ở nước ta hiện nay

4 Đối tƣợng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có đối tượng nghiên cứu là các yếu tố, thành tố, yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa pháp luật, thực trạng văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân tại các cơ quan nhà nước trung ương ở Việt Nam và các giải pháp nhằm nâng cao văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân ở các cơ quan này

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn xem xét thực trạng văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân ở các cơ quan nhà nước trung ương từ năm 2013 đến nay

Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:

Thứ nhất, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về văn hóa pháp luật của cán

bộ tiếp công dân ở các cơ quan nhà nước ở trung ương như khái niệm, các yếu

tố hợp thành, yêu cầu về văn hóa pháp luật và các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân

Trang 8

Thứ hai, đánh giá được thực trạng văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân ở các cơ quan nhà nước trung ương ở nước ta thời gian qua và xác định những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó

Thứ ba, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao văn hóa pháp luật cho cán bộ tiếp công dân tại các cơ quan nhà nước trung ương thời gian tới

5 Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận nghiên cứu của đề tài là dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, chính sách của Đảng về văn hóa, văn hóa pháp luật, các tri thức khoa học có liên quan để tiếp cận và nghiên cứu các nội dung văn hóa pháp luật và văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân Cơ sở thực tiễn là toàn bộ các hoạt động tiếp công dân tại các cơ quan nhà nước trung ương

Đề tài sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;

- Phương pháp phân tích tổng hợp;

- Phương pháp lịch sử;

- Phương pháp so sánh;

- Phương pháp thống kê

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố trí và trình bày trong 02 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân tại các cơ quan nhà nước trung ương ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao văn hóa pháp luật của cán

bộ tiếp công dân tại các cơ quan nhà nước trung ương ở Việt Nam hiện nay

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VĂN HÓA PHÁP LUẬT CỦA CÁN BỘ TIẾP CÔNG DÂN TẠI CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG Ở VIỆT NAM 1.1 Khái niệm và các chức năng văn hóa pháp luật

1.1.1 Khái niệm văn hóa pháp luật

Vốn là hiện tượng xã hội hết sức đa dạng, đa cấp độ, văn hóa từng được nhìn nhận theo nhiều cách thức khác nhau, ở trình độ lý luận và yêu cầu của

xã hội hiện nay, văn hóa được coi là tất cả những gì liên quan đến con người,

ít nhiều thể hiện sức mạnh bản chất của con người Là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người

và xã hội Văn hóa được truyền từ đời này sang đời khác thông qua quá trình

xã hội hóa Theo đó, có thể hiểu văn hóa là những phương thức và kết quả hoạt động của con người đạt được trong lịch sử, bao gồm giá trị vật chất, giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra Với nghĩa hẹp, văn hóa phản ánh hệ thống các giá trị và quy tắc ứng xử được xã hội chấp nhận, hàm chứa những quan điểm về mục đích và lý tưởng xã hội Văn hóa hướng con người tới các giá trị chân, thiện, mỹ Nói đến văn hóa là nói đến con người, văn hóa là thuộc tính biểu hiện bản chất xã hội của loài người

Văn hóa là một vấn đề phức tạp bởi vì nó thể hiện ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ và nhiều lĩnh vực khác nhau Nguyên nghĩa Latinh, khái niệm

“culture” - văn hóa có nghĩa là sự trồng trọt, vun xới Từ nghĩa gốc của nó, ta

có thể hiểu, văn hóa là quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục từ những cá thể sinh học trở thành những con người Văn hóa là môi trường thứ hai để con người trở thành chính bản thân mình

Với cách hiểu trên đây, văn hóa có mặt trong tất cả các sản phẩm do con người tạo ra, từ công cụ sản xuất đến các vật dụng sinh học, từ tri thức khoa học đến các tác phẩm nghệ thuật Văn hóa cũng đồng thời là phương thức tạo ra các sản phẩm đó Không chỉ có thế, văn hóa còn hiện diện và thấm

Trang 10

sâu vào các quan hệ giữa con người với con người dù đó là quan hệ kinh tế hay quan hệ tôn giáo, quan hệ pháp luật hay quan hệ giao tiếp thông thường Văn hóa còn là bản thân các năng lực cấu thành nhân cách con người, là tri thức, tình cảm, ý chí và mọi năng lực lao động sáng tạo

Theo từ điển tiếng Việt thì văn hóa bao gồm các nghĩa sau:

Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần

do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội; là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần;

là tri thức, kiến thức khoa học; là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh Sống có văn hóa Ăn nói thiếu văn hóa Văn hóa còn là cụm từ để chỉ một nền văn hóa của một thời

kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những

di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau như văn hóa rìu hai vai, văn hóa gốm màu, văn hóa Đông Sơn1

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn

bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của

nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn2

1 Viện ngôn ngữ học (1997), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng

2 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 431

Trang 11

Bản thân tên gọi Ủy ban Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) đã cho thấy UNESCO xếp văn hóa bên cạnh khoa học và giáo dục, nghĩa là đặt lĩnh vực khoa học và giáo dục bên ngoài khái niệm văn hóa Theo UNESCO thì:

Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn

ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên nó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình3

Qua các quan niệm trên có thể thấy, văn hóa là một phạm trù rất rộng Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt đời sống của con người, của cộng đồng xã hội trong quá khứ và hiện tại, tạo nên một hệ thống các giá trị truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó, từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình Theo cách hiểu đó, văn hóa

là một lĩnh vực hoạt động xã hội cụ thể của mỗi dân tộc, được thể hiện qua ba yếu tố cốt lõi: các giá trị tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ (yếu tố ý thức); các giá trị vật chất - kỹ thuật do con người lao động, sáng tạo ra trong lĩnh vực đó (hiện thực hóa yếu tố ý thức); năng lực, cách thức sử dụng các giá trị đã sáng tạo ra để đáp ứng các nhu cầu vật chất, tinh thần của con người (yếu tố hành

vi, lối sống) Các yếu tố này được giữ gìn và lưu truyền từ thế hệ này sang thế thế hệ khác, phản ánh bản sắc riêng của mỗi dân tộc trong từng lĩnh vực hoạt động

Trong lĩnh vực hoạt động pháp luật, văn hóa tồn tại với tư cách là sự thăng hoa trong một lĩnh vực hoạt động xã hội - chính trị đặc thù Yếu tố văn hóa trong lĩnh vực pháp luật là sự thống nhất hữu cơ giữa quá trình hoạt động

3 Ngọ Văn Nhân (2014), “Về khái niệm văn hóa pháp luật”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (04), tr 24-29,

36

Trang 12

của con người trong quan hệ pháp lý và hiệu quả đối tượng hóa năng lực của con người trong lĩnh vực đó Do đó, phát triển yếu tố văn hóa trong lĩnh vực pháp luật không những bảo đảm nâng cao hiệu quả của pháp luật mà còn bảo đảm cho sự phát triển nhân cách của con người Nó biến hoạt động pháp luật với tư cách là một lĩnh vực hoạt động xã hội - chính trị thành một lĩnh vực hoạt động sáng tạo theo quy luật của cái đẹp

Văn hóa pháp luật là thuật ngữ dùng để mô tả mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa các giá trị pháp luật và các giá trị văn hóa, là tổng thể các hoạt động hàm chứa các giá trị pháp luật được hình thành trên cơ sở tri thức pháp luật, lòng tin, tình cảm đối với pháp luật và hành vi pháp lý thực tiễn

Xét trên bình diện tổng quát và theo phương pháp tiếp cận hệ thống, GS.TS Lê Minh Tâm cho rằng:

Văn hóa pháp luật là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần

mà con người đã sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật được ban hành trong các thời kỳ lịch

sử, những tư tưởng, quan điểm, luận điểm, nguyên lí, nguyên tắc, những tác phẩm văn hóa pháp luật, những kinh nghiệm và thói quen tích lũy được trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật4

PGS.TS Nguyễn Thị Hồi cho rằng nếu xem xét văn hóa pháp luật trên

cơ sở xem xét về văn hóa thì văn hóa pháp luật là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật, các tư tưởng, quan điểm, học thuyết về pháp luật, các nguyên tắc pháp luật cho đến các biện pháp, phương tiện, kỹ thuật pháp lý, các kinh nghiệm, thói quen tích lũy được trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật5

Trang 13

Một định nghĩa khác: “Văn hóa pháp luật là tổng hòa những giá trị vật chất và tinh thần về mặt pháp luật mà con người đã, đang sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử của mình, thể hiện ở các lĩnh vực hoạt động xây dựng, thực thi pháp luật, chứa đựng tính nhân văn, tiến bộ, vận động theo quy luật hướng tới chân - thiện - mỹ nhằm đáp ứng, thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích của con người trong đời sống pháp luật”6

Bản thân khái niệm văn hóa pháp luật có nhiều nghĩa, được thể hiện ở trình độ của tư duy pháp lý, trình độ cảm nhận, nhận thức về thực tiễn pháp luật; mức độ tôn trọng pháp luật; trình độ tri thức pháp luật của nhân dân; thực trạng của quá trình lập pháp và thực hiện pháp luật có chất lượng; các phương thức hoạt động pháp luật đặc thù như của các cơ quan pháp luật, kiểm tra hiến pháp; kết quả của hoạt động pháp luật dưới dạng sản phẩm tinh thần

và vật chất do con người xây dựng như luật, hệ thống lập pháp, thực tiễn tư pháp

Một cách tiếp cận khác về văn hóa pháp luật, theo đó, văn hóa pháp luật là quá trình và kết quả hoạt động sáng tạo của con người trong lĩnh vực pháp luật, thể hiện việc xây dựng, khẳng định và giữ gìn những giá trị pháp

lý Văn hóa pháp luật của cá nhân chính là trình độ ý thức pháp luật, trình độ của cá nhân về sử dụng pháp luật trong các hoạt động thực tiễn của mình Văn hóa pháp luật xã hội là trạng thái và đặc thù của ý thức pháp luật, hệ thống thông tin pháp luật, trình độ phát triển của pháp luật, trật tự pháp luật và tình trạng pháp chế trong xã hội Đối với nhà nước và xã hội, có văn hóa pháp luật nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp - một bộ phận cấu thành của văn hóa pháp luật Các lĩnh vực của văn hóa pháp luật cũng rất đa dạng, bao gồm: văn hóa lập pháp, văn hóa trong thực hiện pháp luật; văn hóa phổ biến, giáo dục pháp luật; trong khoa học pháp lý và đào tạo luật

6 Ngọ Văn Nhân (2014), “Về khái niệm văn hóa pháp luật”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (04), tr 24-29

Trang 14

Văn hóa pháp luật có các đặc điểm của văn hóa nói chung, các đặc điểm riêng của mình và luôn có mối quan hệ mật thiết với các dạng văn hóa khác Mối tương quan và sự tác động giữa văn hóa pháp luật và các hình thái văn hóa xã hội khác là điều dễ hiểu vì bản thân các quy phạm pháp luật luôn nằm trong mối liên hệ với các loại quy tắc xã hội khác, các quan hệ pháp luật cũng nằm trong hệ thống các quan hệ xã hội khác

Mục đích của văn hóa pháp luật nói riêng và văn hóa nói chung là dẫn dắt con người tới những giá trị cao đẹp, hướng tới chân - thiện - mỹ Văn hóa giúp tăng cường hiệu quả của pháp luật trong xã hội, đồng thời hiệu quả pháp luật lại phản ánh trình độ văn hóa pháp luật của xã hội đó Phát triển văn hóa pháp luật không những góp phần nâng cao hiệu quả pháp luật mà còn giúp hoàn thiện, phát triển nhân cách con người

Văn hóa pháp luật là một hiện tượng khá phong phú, tùy theo tiêu chí phân loại, thường là tương đối mà có các loại văn hóa pháp luật khác nhau Nếu xét theo “tính chuyên nghiệp” thì có văn hóa pháp luật của những người hành nghề luật chuyên nghiệp và văn hóa pháp luật của những công dân bình thường Giữa hai loại văn hóa pháp luật này có ảnh hưởng qua lại với nhau, văn hóa pháp luật chuyên nghiệp của những người hành nghề luật chuyên nghiệp đạt đến mức độ cao của sự tinh vi và có sự tự chủ nhất định nhưng tôn trọng văn hóa pháp luật chung Văn hóa pháp luật chuyên nghiệp thể hiện trong các học thuyết chung của các lĩnh vực pháp luật khác nhau, bên cạnh đó

nó còn thể hiện trong việc giải quyết các quy phạm xung đột, trong các cuộc tranh luận pháp luật, nghiên cứu pháp luật, trong việc ra quyết định khi xét

xử Ngoài ra, nếu xét theo tiêu chí “lĩnh vực hoạt động” thì có văn hóa pháp luật trong các hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp Nếu xét theo tiêu chí

“chủ thể”, thì có văn hóa pháp luật của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, đội ngũ công chức, viên chức, doanh nhân, nhà báo, nhà giáo

Trang 15

Văn hóa pháp luật là một bộ phận của nền văn hóa nói chung, là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần được con người sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật Do đó, văn hóa pháp luật cũng được cấu thành từ các yếu tố: ý thức pháp luật, hệ thống pháp luật, hành vi pháp luật và lối sống theo pháp luật

Ý thức pháp luật là yếu tố hết sức quan trọng của văn hóa pháp luật Ý

thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm pháp lý tồn tại trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với với pháp luật, đối với quá trình điều chỉnh pháp luật, sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong xử sự của cá nhân, cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội

Là thành tố cơ bản của văn hóa pháp luật, ý thức pháp luật tích cực, tiến bộ là cơ sở, tiền đề tư tưởng trực tiếp để xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật; là nhân tố thúc đẩy việc thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội, đảm bảo cho việc áp dụng đúng đắn các quy phạm pháp luật Việc củng cố và nâng cao ý thức pháp luật trong xã hội hiện nay cần đảm bảo tính tiên tiến và bản sắc dân tộc Tính tiên tiến và bản sắc dân tộc của ý thức pháp luật Việt Nam được quy định bởi những tư tưởng, quan niệm, học thuyết pháp lý tiến

bộ, nhân đạo của nhân loại, của lý tưởng xã hội chủ nghĩa kết hợp với tình cảm pháp luật truyền thống của dân tộc Việt từ ngàn đời nay: sự coi trọng và giữ gìn truyền thống, sống có kỷ cương, tuân theo chuẩn mực; yêu chuộng công lý, tôn trọng chính nghĩa, đạo lý; thật thà và lương thiện Tình cảm pháp luật đó hoàn toàn phù hợp với quy luật của cuộc sống hướng tới chân - thiện -

mỹ

Yếu tố thứ hai, hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật

có mối liên hệ nội tại với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản do nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức nhất định Có thể nói, hệ thống pháp luật là một

Trang 16

biểu hiện rất cao của văn hóa pháp luật, có ý nghĩa to lớn đối với sự hình thành và phát triển của một nền văn hóa pháp luật Hệ thống pháp luật ở chừng mực nhất định được coi là thước đo để đánh giá trình độ phát triển nền văn hóa pháp luật của một quốc gia Bởi vậy, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật vừa là đòi hỏi khách quan của xã hội và của nền văn hóa pháp luật, vừa góp phần thúc đẩy sự phát triển văn hóa pháp luật

Hành vi pháp luật và lối sống theo pháp luật là những thành tố còn lại của văn hóa pháp luật thể hiện cách thức, khả năng và trình độ sử dụng các công cụ pháp luật của từng cá nhân, cộng đồng xã hội và Nhà nước trong quá trình đấu tranh vì công lý, bình đẳng và tiến bộ xã hội theo định hướng chân - thiện - mỹ

Hành vi pháp luật là hành vi có ý thức của con người (công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội ) diễn ra trong môi trường điều chỉnh của pháp luật Hành vi pháp luật có thể mang tính tích cực hay tiêu cực, trong mọi trường hợp, nó chỉ có thể là hành vi hợp pháp hoặc là hành vi bất hợp pháp Với tư cách là yếu tố cấu thành hữu cơ của văn hóa pháp luật, hành vi pháp luật được hiểu với nghĩa là hành vi xử sự tích cực đối với pháp luật, dựa trên

cơ sở những tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật đúng đắn, phù hợp với các yêu cầu đòi hỏi của xã hội Hành vi pháp luật tích cực có ý nghĩa xã hội

và văn hóa rất lớn Một mặt, nó nói lên mục đích, động cơ trong hành vi của chủ thể; mặt khác, phản ánh nhu cầu của tiến bộ xã hội, nói lên sự hài hòa ở những mức độ khác nhau giữa lợi ích xã hội với lợi ích cá nhân, giữa nhu cầu của Nhà nước và nhu cầu của công dân, góp phần giữ gìn sự ổn định, đồng thuận xã hội và tăng cường ý thức tôn trọng pháp luật

Lối sống theo pháp luật luôn gắn liền với hành vi pháp luật và là thành

tố không thể thiếu tạo nên văn hóa pháp luật Lối sống theo pháp luật là biểu hiện về mặt chất lượng của lối sống, đó là, lối sống có sự định hướng chính trị

rõ ràng; lối sống có tổ chức, kỷ luật và trách nhiệm xã hội; lối sống bảo đảm

Trang 17

sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội Lối sống đó được thể hiện trên các mặt sau đây:

Một là, lối sống theo pháp luật là lối sống được định hướng theo các nguyên tắc của pháp luật Đó là nhân đạo, dân chủ, công bằng, bình đẳng, đề cao và tôn trọng các quyền cơ bản của con người, đề cao trách nhiệm xã hội

Hai là, lối sống trong đó những định chuẩn theo pháp luật được nhận thức trở thành tri thức, tình cảm định hướng quan trọng nhất

Ba là, lối sống theo pháp luật thể hiện năng lực thực hiện pháp luật và hành vi pháp luật tích cực trong thực tiễn cuộc sống7

Sống theo pháp luật là đòi hỏi khách quan xuất phát từ tính tổ chức cao của một xã hội văn minh, dân chủ, đa dạng về quan hệ xã hội Sống theo pháp luật đòi hỏi mọi hành vi xử sự phải phù hợp với pháp luật trong một môi trường bình đẳng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm giữa các chủ thể

Lối sống theo pháp luật được thể hiện thông qua hành vi pháp luật, hành vi có ý thức của con người diễn ra trong môi trường của pháp luật Hành

vi pháp luật tích cực là biểu hiện của văn hóa pháp luật, đó là ứng xử theo pháp luật, tiến hành một cách tự nhiên, nền nếp, hoàn toàn tự nguyện

Với tư cách là một bộ phận cấu thành văn hóa pháp luật, hành vi pháp luật và lối sống theo pháp luật phải được thẩm thấu vào trong hành vi tự nguyện chấp hành pháp luật, trở thành thói quen, lối sống của mỗi công dân Xây dựng hành vi pháp luật cho mỗi thành viên trở thành lối sống tích cực trong cộng đồng, ngoài việc giáo dục nâng cao ý thức pháp luật cũng cần phải

có môi trường xã hội công khai, dân chủ

7 Lê Thanh Thập (2011), “Nội dung của lối sống theo pháp luật”, Tạp chí Luật học, (5), tr 34 - 39

Trang 18

1.1.2 Chức năng của văn hóa pháp luật

Văn hóa pháp luật có các chức năng cơ bản sau:

1.1.2.1 Chức năng nhận thức

Đây là chức năng không thể thiếu của bất kỳ hoạt động nào trong lĩnh vực văn hóa, trong đó có văn hóa pháp luật Nếu thiếu chức năng nhận thức thì không thể nói đến bất kỳ một chức năng nào khác Bởi lẽ, một bộ luật, đạo luật nào đó với tư cách một sản phẩm văn hóa pháp luật, trước khi có thể đi vào thực tiễn cuộc sống, phát huy vai trò, hiệu lực trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, thì phải được mọi người nhận thức, nắm bắt nội dung, tinh thần của bộ luật, đạo luật nào đó với tư cách một sản phẩm văn hóa pháp luật, trước khi có thể đi vào thực tiễn cuộc sống, phát huy vai trò, hiệu lực trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, thì phải được mọi người nhận thức, nắm bắt nội dung, tinh thần của bộ luật, đạo luật đó

Văn hóa pháp luật mang lại cho chúng ta sự nhận thức rõ ràng về mối quan hệ giữa văn hóa và pháp luật Văn hóa, xét dưới góc độ nền tảng tinh thần của xã hội, là một mặt cơ bản của đời sống xã hội; chủ nhân của văn hóa chính là yếu tố đầu tiên khơi nguồn cho mọi giá trị Nhà nước - một sản phẩm cao nhất của tư duy con người - là sản phẩm cao nhất của những giá trị văn hóa pháp luật Quá trình lao động, ứng xử của con người với tự nhiên, với các vấn đề xã hội nảy sinh, như sự bất bình đẳng về vị thế xã hội, phân phối của cải, phân chia quyền lực đã đưa con người đến nhận thức cần thiết phải kiến tạo một thiết chế quyền lực nào đó nhằm điều hòa các mối quan hệ - đó là nhà nước Pháp luật là phương tiện để giữ gìn thiết chế nói trên Với ý nghĩa đó, pháp luật cũng là sản phẩm cao của tư duy văn hóa pháp luật, được thể hiện ra thành các quy tắc mà con người sử dụng để định hướng cho sự sáng tạo những giá trị văn hóa khác, như văn hóa nghệ thuật

Nghiên cứu văn hóa pháp luật đòi hỏi chúng ta phải luôn đặt nó trong

sự liên hệ với các lĩnh vực khác của văn hóa nói chung, với từng lĩnh vực kinh

Trang 19

tế, chính trị, xã hội nói riêng Sự phát triển của văn hóa pháp luật cũng gắn bó mật thiết với trình độ, kỹ năng lập pháp Trình độ lập pháp là một biểu hiện của văn hóa pháp luật Các chuẩn mực, quy phạm pháp luật quan trọng chỉ có thể có được khi các nhà làm luật nhận thức sâu sắc các quy luật của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội Những quan hệ xã hội nào mới phát sinh? Có cần các quy phạm pháp luật điều chỉnh không? Điều chỉnh ở mức độ nào và bằng những quy phạm pháp luật cụ thể nào? Văn hóa pháp luật, với chức năng nhận thức giúp các nhà làm luật nhận thức nắm bắt và biết cách xử lý tốt những tình huống mà thực tiễn cuộc sống đặt ra

Văn hóa nói chung và văn hóa pháp luật luôn mang đậm tính nhân văn

Cơ sở của mọi hoạt động trong lĩnh vực văn hóa pháp luật cũng là khát vọng hướng tới cái chân, cái thiện, cái mỹ - ba trụ cột vĩnh hằng của sự phát triển văn hóa Trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, dĩ nhiên, cần chú trọng xây dựng và phát triển văn hóa pháp luật Phát triển văn hóa pháp luật mang lại một sự nhận thức mới mẻ về các quy tắc, chuẩn mực, quan điểm pháp luật theo định hướng chân - thiện - mỹ như những giá trị pháp luật chứ không chỉ thuần túy là pháp luật Giá trị pháp luật là nhân tố quan trọng hàng đầu đối với hành vi của cá nhân, là tiêu chuẩn pháp lý để đánh giá hành động của người khác, để xác định lợi ích xã hội của các thành viên, là nền tảng cho cuộc sống chung Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đang đòi hỏi phát huy chức năng nhận thức của văn hóa pháp luật Đó sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa pháp luật, tạo ra sự nhận thức sâu sắc về vai trò và các giá trị xã hội của pháp luật

Trang 20

1.1.2.2 Chức năng giáo dục

Văn hóa pháp luật là sản phẩm hoạt động pháp luật của con người Văn hóa pháp luật định hướng cho các thành viên xã hội lựa chọn cách xử sự hợp

lý để tránh xung đột với các cá nhân khác, cách giải quyết hài hòa các lợi ích

xã hội và lợi ích cá nhân mà không vi phạm pháp luật Các cách xử sự đó được chọn lọc, kiểm nghiệm qua thời gian và trở thành khuôn mẫu hành vi, thẩm thấu vào ý thức pháp luật của mỗi người, biểu hiện ở tư tưởng, quan điểm về pháp luật, ở thái độ, tình cảm đối với pháp luật Như vậy, văn hóa pháp luật là môi trường giáo dục, nuôi dưỡng ý thức pháp luật của con người Nói đến chức năng giáo dục của văn hóa pháp luật là nói tới sự định hướng văn hóa cho hành vi pháp luật của người Tuy nhiên, ý nghĩa giáo dục từ định hướng văn hóa cho hành vi pháp luật nổi bật ở chỗ, nó giáo dục cách xử sự tích cực đối với pháp luật dựa trên tri thức và tình cảm pháp luật đúng đắn, phù hợp với các giá trị văn hóa pháp luật Bản thân mỗi cá nhân, theo quy luật hướng thiện không muốn thực hiện các hành vi vi phạm, phá vỡ các quy tắc, yêu cầu của chuẩn mực pháp luật Để đạt được điều này, bên cạnh ý thức tự giác, tích cực của mỗi người, còn cần đến chức năng giáo dục Định hướng giá trị văn hóa pháp luật là xu hướng con người muốn vươn lên chiếm lĩnh hoặc tiếp cận với các giá trị đích thực của pháp luật; từ đó dần dần hoàn thiện nhân cách của mình Định hướng giá trị đó xác định thái độ lựa chọn hành vi của con người trước mỗi sự kiện pháp lý, quy định hành vi pháp luật của cá nhân, khuynh hướng và tính tích cực xã hội của nó

1.1.2.3 Chức năng thực tiễn

Chức năng thực tiễn của văn hóa pháp luật thể hiện ở sự vận dụng và phát huy các kết quả nghiên cứu văn hóa pháp luật vào hoạt động thực tiễn hoạch định, xây dựng chính sách pháp luật của Nhà nước Chính sách pháp luật là khâu quan trọng đầu tiên, có ý nghĩa quyết định đối với hoạt động xây

Trang 21

dựng và ban hành pháp luật, có ảnh hưởng mạnh mẽ tới ý thức con người; góp phần hình thành ý thức pháp luật của cá nhân và các nhóm xã hội

Dưới tác động của văn hóa pháp luật, việc hoạch định và xây dựng chính sách pháp luật đúng đắn là định hướng quan trọng cho việc phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật Văn hóa pháp luật đòi hỏi phải có sự phù hợp giữa nội dung hệ thống pháp luật thực định với những đòi hỏi khách quan của thực tiễn đời sống xã hội trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, trong tính thống nhất của hình thức văn bản pháp luật, trong tính dân chủ và khoa học của quy trình soạn thảo và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật

Một khía cạnh quan trọng trong chức năng thực tiễn là dự báo tình hình

và xu hướng phát triển của pháp luật Cơ sở của dự báo pháp luật là sự nhận thức sâu sắc các quy luật phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, là sự hiểu biết đầy đủ các yếu tố, điều kiện làm phát sinh các quan hệ xã hội mới Khi văn hóa pháp luật đạt tới trình độ phát triển cao và các nhà làm luật nêu ra được các chuẩn mực pháp luật cơ bản thì khả năng dự liệu các quy tắc điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh cũng sẽ đạt tới một trình độ cao nhất định Đến lượt mình, dự báo tình hình và xu hướng phát triển của pháp luật lại

là cơ sở để định hướng chính sách của pháp luật

Chức năng thực tiễn của văn hóa pháp luật cũng gắn liền với sự tham gia của các nhà nghiên cứu văn hóa pháp luật trong việc tham mưu, tư vấn cho Nhà nước xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật nhằm tác động và đảm bảo cho văn hóa phát triển phù hợp với sự phát triển của xã hội Để văn hóa có thể phát triển và không ngừng hoàn thiện, Nhà nước cần ban hành các văn bản pháp luật về bảo vệ, tôn tạo và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc “Xây dựng các đạo luật, pháp lệnh, các văn bản pháp quy điều chỉnh các hoạt động trên lĩnh vực văn hóa Bổ sung những luật đã ban hành cho phù hợp với tình hình mới”

Trang 22

Điều đó cũng tạo điều kiện thuận lợi để chúng ta xây dựng và phát triển văn hóa pháp luật

1.2 Khái niệm cán bộ tiếp công dân và văn hóa pháp luật của cán

bộ tiếp công dân tại các cơ quan nhà nước trung ương

1.2.1 Khái niệm cán bộ tiếp công dân

Luật tiếp công dân được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2013 và các văn bản kèm theo quy định tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân quy định tại Điều 4 của Luật này đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật Tuy nhiên chưa có văn bản nào chính thức định nghĩa thế nào là cán bộ tiếp công dân mà chỉ quy định tiêu chuẩn, trách nhiệm của người tiếp dân Tiêu chuẩn phổ biến của người tiếp công dân là người có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn, nắm vững chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, am hiểu thực tế, có khả năng vận động, thuyết phục quần chúng, nhiệt tình, bảo đảm yêu cầu về sức khỏe và có trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao

Xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước, yêu cầu và lợi ích của cơ quan, đơn vị và nhu cầu của công dân, cơ quan, tổ chức thì tiếp công dân được nhìn

từ nhiều khía cạnh khác nhau

Thứ nhất, từ bản chất ngữ nghĩa, tiếp công dân là việc thực hiện giao tiếp từ phía cơ quan nhà nước, giải quyết quan hệ giữa nhà nước và công dân

Thứ hai, từ việc đáp ứng yêu cầu của công dân, tiếp công dân là giải quyết những yêu cầu của công dân, theo đó công dân thực hiện quyền của mình và Nhà nước phải đáp ứng

Trang 23

Thứ ba, với tư cách là một nghiệp vụ của nhà quản lý, hoạt động tiếp công dân là của người thừa hành công vụ, khi đó tiếp công dân thuộc phạm trù kỹ năng, nghiệp vụ công tác của cán bộ, công chức

Do vậy, hoạt động tiếp công dân là sự thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân trong đó Nhà nước giao cho một bộ phận thay mặt Nhà nước tiếp nhận thông tin phản ánh về quá trình thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Trên cơ sở đó Đảng và Nhà nước có thể điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung kịp thời các chính sách, pháp luật cho phù hợp với thực tế đất nước

Từ cách tiếp cận trên, có thể hiểu về khái niệm cán bộ tiếp công dân

như sau: cán bộ tiếp công dân là cán bộ, công chức mang quốc tịch Việt Nam,

được bổ nhiệm, phân công tiếp công dân định kỳ hay thường xuyên tại trụ sở tiếp công dân để tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật

Cán bộ tiếp công dân tại các cơ quan nhà nước trung ương ở Việt Nam thực hiện việc tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân ở trung ương Trụ sở tiếp công dân ở trung ương được đặt tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, là nơi tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với các cơ quan trung ương của Đảng, Chủ tịch nước, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ Văn phòng Trung ương Đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Ban Dân nguyện thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội cử đại diện phối hợp cùng Ban tiếp công dân Trung ương thực hiện việc tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân ở trung ương Các bộ, cơ quan ngang bộ thành lập bộ phận tiếp công dân hoặc bố trí công chức thuộc thanh tra bộ làm công tác tiếp dân tại cơ quan mỗi bộ

Trang 24

1.2.2 Khái niệm văn hóa pháp luật và các yếu tố hợp thành văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân

1.2.2.1 Khái niệm văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân

Văn hóa pháp luật và văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân thể hiện ở trình độ cao của sự tôn trọng pháp luật, trình độ tri thức pháp luật của cán bộ, công chức tham gia hoạt động tiếp công dân

Văn hóa nói chung, văn hóa trong hoạt động tiếp công dân là một phạm trù ý thức thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội, là một trong những quyền, tự do bắt nguồn từ phẩm giá của con người Cùng với các chuẩn giá trị xã hội khác như đạo đức, quy tắc ứng xử, quy chế pháp lý, các chuẩn giá trị văn hóa trong hoạt động tiếp công dân tạo nên nền văn minh hiện đại, minh bạch, hiệu quả, phục vụ tối đa cho lợi ích của con người tham gia trực tiếp trong hoạt động tiếp công dân

Việc ông Lý Hiển Long, Thủ tướng Singapore “chat” trực tiếp trên mạng truyền thông xã hội facebook để giải đáp từng câu hỏi của người dân có thể là một ngạc nhiên thú vị đối với người nước ngoài nhưng đối với người dân Singapore đây là một việc làm rất đỗi bình thường của người đứng đầu Chính phủ Bởi từ lâu họ đã quen thuộc với việc tiếp xúc cả trực tiếp hay gián tiếp của các chính khách trong nước nhằm phản hồi hoặc đưa ra ý kiến trước mỗi vấn đề của quốc gia hay liên quan thiết thực đến đời sống nhân dân Một trong những công việc quan trọng của các nghị sĩ Singapore chính là việc gặp

gỡ, tiếp xúc để lắng nghe ý kiến của người dân

Văn hóa pháp luật trong hoạt động tiếp công dân cũng như các bộ phận văn hóa khác Đó là văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể trong hoạt động tiếp công dân Văn hóa vật thể thông thường được biểu hiện dưới dạng vật chất như trụ sở, phương tiện, thiết bị của văn phòng, trụ sở cơ quan; kiến trúc

và cách bài trí, sự phù hợp và tiện dụng của chúng Còn văn hóa phi vật thể

Trang 25

thể hiện dưới các dạng như hệ thống văn bản pháp luật, các chuẩn mực ứng

xử của các bên cũng như các biểu hiện về truyền khẩu thuộc phạm vi trên

Văn hóa pháp luật trong hoạt động tiếp công dân mới bắt đầu nhen nhóm và hình thành trong khoảng mười lăm năm trở lại đây Các chuẩn mực giá trị văn hóa như vậy rõ ràng là non trẻ, chưa đậm nét, chưa ảnh hưởng và tác động tích cực đến ý thức con người, đến những bên tham gia vào quá trình tiếp công dân Chính vì vậy, mọi hành vi ứng xử thiếu khách quan, minh bạch, không tôn trọng pháp luật hoặc luật không khả thi, thiếu bình đằng dân chủ trong quá trình này đều được coi là các biểu hiện khác nhau của hiện tượng kém văn hóa, là nguy cơ trực tiếp cản trở quá trình hình thành các chuẩn giá trị văn hóa

Từ những phân tích trên, có thể hiểu khái niệm văn hóa pháp luật trong

hoạt động tiếp công dân là hệ thống các yếu tố vật chất và tinh thần được hình

thành trong môi trường pháp luật dưới tác động của pháp luật, được thể hiện trong ý chí và hành vi của con người trong lĩnh vực tiếp công dân

Với ý nghĩa văn hóa bắt nguồn từ hoạt động của con người, từ lao động, sản xuất, chiến đấu của con người và rồi trở lại phục vụ cho con người, tôn thêm vẻ đẹp của con người và khi đạt đến một giá trị nhất định hay các chuẩn mực xác định được thừa nhận chung nó thành văn hóa, văn hóa pháp luật của cán bộ trong hoạt động tiếp công dân vừa là văn hóa cụ thể gắn với hoạt động của cán bộ, công chức vừa liên quan đến hoạt động tiếp công dân

Nó vừa mang nội dung văn hóa nói chung vừa có những nét đặc thù của một loại hình văn hóa cụ thể, hay nói cách khác nội hàm của văn hóa pháp luật của cán bộ trong lĩnh vực tiếp công dân cũng như nội hàm của văn hóa nói chung nhưng mang bản sắc riêng của một dạng văn hóa cụ thể

Tuy nhiên, trong lĩnh vực nghiên cứu vấn đề văn hóa pháp luật của cán

bộ tiếp công dân ở nước ta là hết sức mới mẻ Cho đến nay hầu như chưa có bất kỳ một hoạt động nghiên cứu nào về văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp

Trang 26

công dân Văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động, phục vụ dân như hiện nay Như vậy, việc nghiên cứu văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân ở nước ta hiện nay là cần thiết

Trên cơ sở các khái niệm văn hóa pháp luật và cán bộ tiếp công dân, có

thể định nghĩa văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân là tổng thể những

giá trị vật chất và tinh thần thể hiện qua hành vi, ứng xử của cán bộ, công chức trong quá trình tiếp công dân; là sự phản ánh đời sống tinh thần, trình

độ, năng lực, tri thức, kiến thức, thẩm mỹ của người cán bộ tiếp công dân

Có thể nói, biểu hiện tập trung nhất về văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân là tại nơi tiếp công dân Khi thực hiện việc tiếp công dân thể hiện rõ nét giá trị văn hóa ứng xử của cán bộ tiếp công dân, giá trị văn hóa được thể hiện cả về thời gian, không gian cũng như các hoạt động cụ thể của cán bộ tiếp công dân

Thực tiễn quá trình tiếp công dân tại các cơ quan nhà nước ở trung ương cho thấy, văn hóa của cán bộ tiếp công dân được biểu hiện trong suốt quá trình giải quyết sự việc mà trước hết là việc tiếp nhận thông tin qua đơn, thư, trình bày của người dân Nhận đơn, thư và tài liệu từ người đến khiếu nại,

tố cáo là hoạt động đầu tiên, trong đó cán bộ tiếp công dân căn cứ vào quy định chấp nhận đơn

Việc tiếp nhận đơn thư là một hoạt động văn hóa có ý nghĩa mở đầu cho toàn bộ các hoạt động tiếp theo Nó có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định trách nhiệm thuộc cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết Khi xem xét đơn khiếu nại, tố cáo đòi hỏi cán bộ tiếp công dân phải thận trọng và khẩn trương Trong khoảng thời gian ngắn, cán bộ phải xem nhanh hồ sơ để biết xử lý thế nào Nếu vẫn còn thẩm quyền của địa phương thì làm phiếu chuyển về tỉnh Nếu phát hiện vụ việc có oan sai thì làm báo cáo cấp trên đề xuất hướng giải quyết

Trang 27

Nếu không thận trọng thì có thể thiếu chính xác, nhầm lẫn về vụ việc, thẩm quyền hoặc xác định không đầy đủ điều kiện khiếu kiện dẫn đến hướng dẫn sai vụ việc Nếu không khẩn trương thì có thể ảnh hưởng đến thời gian khiếu kiện Kiểm tra thẩm quyền giải quyết nếu đúng loại việc thì phải xác định thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân nào

Hoạt động tiếp theo là cán bộ tiếp công dân thực hiện việc hỏi và lắng nghe người dân trình bày Đây là loại hoạt động quan trọng và chiếm khá nhiều thời gian vì người dân đến với cơ quan tiếp dân để trình bày sự việc, tìm kiếm người nghe Lắng nghe là một kỹ năng quan trọng của quá trình tiếp công dân Đây là tiến trình nhận thức toàn bộ những tín hiệu đối tuợng thể hiện, đưa ra thông tin một cách có ý thức và cả những gì họ chưa hiểu, hoặc

đã nói ra, không nói ra Lắng nghe trong hoạt động tiếp công dân là thu thập thông tin đầy đủ và chính xác, giúp công dân nhận thức được bản chất vụ việc, giảm thiểu yếu tố cảm tính trong xử lý tình huống làm cho quan hệ giữa cán bộ làm nhiệm vụ tiếp công dân với công dân tốt hơn Để việc lắng nghe

có hiệu quả, cán bộ làm nhiệm vụ tiếp công dân phải bắt đầu bằng một thái độ tích cực và nhiệt tình, duy trì khoảng cách vừa phải, hợp lý giữa người nghe

và người nói; đảm bảo môi trường giao tiếp không bị các tác động khác làm phân tán hoặc ngắt quãng người nghe; tạo cơ hội cho công dân được trình bày kết hợp với khuyến khích bằng lời hoặc bằng cử chỉ thân thiện; có phản hồi lại sau khi nghe công dân trình bày

Việc giữ gìn trật tự nơi tiếp công dân cũng là một biểu hiện của văn hóa Cán bộ tiếp công dân có quyền yêu cầu người vi phạm nội quy chấm dứt hành vi vi phạm, trong trường hợp cần thiết, lập biên bản về việc vi phạm và yêu cầu cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật, thậm chí được quyền từ chối tiếp người trong tình trạng say do dùng chất kích thích, người

có hành vi đe dọa, xúc phạm cơ quan, tổ chức

Trang 28

1.2.2.2 Các yếu tố hợp thành văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân

Văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân là một nội dung cụ thể của văn hóa pháp luật và của văn hóa Do vậy, văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân vừa mang những giá trị chung của văn hóa vừa có những nội dung, yếu tố cấu thành, đặc điểm riêng của nó

Văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân bao gồm ba yếu tố: ý thức pháp luật của cán bộ tiếp công dân (bao gồm tri thức pháp luật và thái độ, tình cảm pháp luật), hành vi thực hiện, áp dụng pháp luật và lối sống theo pháp luật của cán bộ tiếp công dân Ý thức pháp luật của cán bộ tiếp công dân là nguyên nhân, động lực dẫn tới hành vi của cán bộ, công chức tiếp công dân Hành vi đó có thể là tích cực (phù hợp với quy định của pháp luật) hoặc tiêu cực (vi phạm pháp luật)

Một là, ý thức pháp luật của cán bộ tiếp công dân

Ý thức pháp luật của cán bộ tiếp công dân là tổng thể tư tưởng, quan điểm, tình cảm, xúc cảm, thái độ của cán bộ tiếp công dân đối với pháp luật

và đối với các hành vi pháp luật xảy ra trong quá trình tiếp công dân

Ý thức pháp luật của cán bộ tiếp công dân thể hiện qua trình độ, kiến thức pháp luật của họ, qua thái độ, tình cảm đối với pháp luật của họ và qua các hành vi ứng xử trong quá trình tiếp công dân Thông qua các biểu hiện cụ thể đó có thể xác định được ý thức pháp luật của cán bộ tiếp công dân là cao hay thấp Trong ý thức pháp luật của cán bộ tiếp công dân bao gồm tri thức pháp luật về hoạt động tiếp công dân và thái độ, tình cảm của cán bộ, công chức đối với hệ thống pháp luật và tình cảm, niềm tin, sự tôn trọng các quy định pháp luật Xây dựng văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân thì yếu

tố cơ bản nhất là phải nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, xây dựng và phát huy những tình cảm tốt đẹp của cán bộ tiếp công dân đối với pháp luật từ đó nâng cao ý thức pháp luật của họ

Trang 29

Hoạt động tiếp công dân là một trong những nhiệm vụ của các cơ quan chính quyền ở Nhà nước ta hiện nay Đây là hoạt động trao đổi thông tin thường xuyên giữa các cơ quan chính quyền nhà nước với các tầng lớp nhân dân nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của nhiều đối tượng khác nhau vì một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Cán bộ, công chức của các cơ quan chính quyền là những người sâu sát với dân Họ là cầu nối giữa cơ quan nhà nước với nhân dân Họ không thể vì cái toàn cục mà quên đi hoàn cảnh, điều kiện của mỗi người dân, nhưng cũng không vì mỗi người dân cụ thể mà làm trái pháp luật, trái đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Đây là hoạt động trọng tâm, trong đó ý thức pháp luật của cán bộ tiếp công dân có vai trò quan trọng như một tiền đề và điều kiện cần thiết cho quá trình xây dựng một nền văn hóa pháp luật phát triển Có thể nói ý thức pháp luật, dù ở dạng thức hay cấp độ nào cũng đều có khả năng soi sáng, thôi thúc hoặc kìm hãm hoạt động nghề nghiệp của người cán bộ tiếp công dân Sự hiểu biết nhuần nhuyễn, sâu sắc về các học thuyết, tư tưởng pháp luật cũng như hệ thống luật thực định và thực tiễn thi hành pháp luật của cán bộ tiếp công dân có vai trò định hướng đặc biệt đối với hoạt động tiếp công dân

Hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức tiếp dân cũng như các hoạt động công vụ khác, đó là họ được sử dụng quyền lực nhà nước trong thực hiện công vụ của mình Hoạt động của họ có tác động sâu sắc đến quyền và lợi ích hợp pháp của đông đảo người dân Chính vì vậy, ở người cán bộ, công chức đòi hỏi phải có trình độ văn hóa pháp luật cao hơn nhiều so với người dân Nhận thức, tình cảm, thái độ pháp luật của cán bộ, công chức đòi hỏi ở mức rõ ràng, trong sáng, uyên thâm hơn người dân

Cán bộ, công chức hơn ai hết phải là người nhận thức được một cách sâu sắc rằng pháp luật là công cụ không thể thiếu mà trong đó mỗi cán bộ, công chức làm việc trong bộ máy nhà nước là những người trực tiếp sử dụng

Từ nhận thức được tầm quan trọng của pháp luật đối với việc thi hành công

Trang 30

vụ của mình, họ phải là những người am hiểu pháp luật của Nhà nước, nhất là pháp luật trong lĩnh vực chuyên môn của mình để từ đó vận dụng thành thạo pháp luật

Về tình cảm, thái độ đối với pháp luật, cán bộ tiếp công dân phải là người tuân theo nếp sống kỷ cương, coi việc sống làm việc theo Hiến pháp và pháp luật là một nguyên tắc Với họ, nguyên tắc này không phải là sự hạn chế hành vi của họ mà chính là sự chỉ dẫn cho mọi suy nghĩ, hành vi của họ trong công vụ để làm đúng những quy định của pháp luật, chỉ làm những gì pháp luật cho phép Từ đó ở họ hình thành thói quen sử dụng pháp luật tốt như họ

sẽ coi việc nghiên cứu, học hỏi pháp luật là một nhu cầu thiết yếu của cuộc sống và công tác

Từ nhận thức đúng đắn về tình cảm, thái độ pháp luật tốt, trong công việc họ thực hiện đúng quyền hạn, trách nhiệm của mình cũng như bảo vệ được quyền lợi của người dân Ở họ hình thành thói quen trong bất cứ hành vi thực hiện công vụ nào, người cán bộ tiếp công dân cũng chú trọng tới việc kiểm tra, đối chiếu với các quy định hiện hành của pháp luật nhằm thực hiện tốt nhất nhiệm vụ của mình

Ý thức pháp luật của cán bộ tiếp công dân thể hiện trong các mối quan

hệ công việc của họ theo ba nhóm: nhóm quan hệ dọc theo thứ bậc là nhóm quan hệ trên - dưới giữa các nhà quản lý với đội ngũ cán bộ, công chức thừa hành, đây là mối quan hệ chỉ huy - thừa hành; nhóm quan hệ ngang theo chức năng là nhóm quan hệ giữa các đồng nghiệp trong khi thực thi công vụ; nhóm quan hệ trực tiếp giữa cán bộ, công chức với người dân Ở đây chúng ta xem xét ý thức pháp luật của cán bộ tiếp công dân trong quan hệ trực tiếp với người dân

Trang 31

Hai là, hành vi xử sự của cán bộ tiếp công dân theo đúng những đòi hỏi của pháp luật

Hành vi xử sự của cán bộ tiếp công dân theo đúng những đòi hỏi của pháp luật phải trở thành thói quen, trở thành niềm tin nội tâm được xây dựng trên tri thức và tình cảm đúng đắn đối với pháp luật Hành vi xử sự theo đúng những yêu cầu của pháp luật là biểu hiện của văn hóa pháp luật

Trong hoạt động tiếp công dân, văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân được thể hiện qua hành vi thực hiện và tuân thủ đúng pháp luật của cán

bộ tiếp công dân Chỉ khi thực hiện đúng pháp luật, người cán bộ tiếp công dân mới tạo ra những hành vi có văn hóa pháp luật, tức là những hành vi hợp pháp và tích cực Hành vi thực hiện pháp luật của cán bộ tiếp công dân là hành vi hợp pháp, tức là những hành vi phù hợp với các quy định của pháp luật Hành vi hợp pháp sẽ tạo ra môi trường tiếp công dân trong sạch, thể hiện trình độ văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp dân cao hay thấp Hành vi hợp pháp cũng là kết quả của chuỗi quá trình từ nhận thức, suy nghĩ, tôn trọng và tuân thủ hệ thống pháp luật Khi hành vi pháp luật chưa trở thành văn hóa ứng

xử thì pháp luật hiện ra chỉ thuần túy là công cụ mang tính cưỡng bức Muốn thực hiện được hành vi hợp pháp thì ngoài tri thức pháp luật cán bộ tiếp công dân còn cần phải có thái độ, tình cảm tôn trọng, ủng hộ pháp luật, đạo đức công vụ

Sự hiểu biết các điều luật cụ thể trong các văn bản luật là điều không thể thiếu trong việc xác định trình độ hiểu biết pháp luật của cán bộ Điều này

có ý nghĩa thực tiễn to lớn để thực hành văn hóa pháp luật, tạo ra thói quen sống và làm việc theo pháp luật Nó không chỉ góp phần giải quyết những vấn

đề liên quan đến pháp luật một cách đúng đắn mà còn là cơ sở hình thành năng lực tư duy pháp luật và kỹ năng vận dụng, thi hành luật pháp, góp phần phân tích thực tiễn và đưa ra phương hướng hoạt động, chủ trương, chính

Trang 32

sách chính xác, kịp thời Sự hiểu biết pháp luật của cán bộ tiếp công dân càng sâu, càng rộng là điều kiện để thực thi nhiệm vụ càng hiệu quả

Ba là, lối sống theo pháp luật của cán bộ tiếp công dân

Lối sống theo pháp luật là cách thức ứng xử, giao tiếp hằng ngày của mỗi người cũng như của cộng đồng dựa trên các chuẩn mực pháp luật Đó là toàn bộ cách thức ứng xử giữa con người với con người cũng như giữa con người với môi trường xung quanh trong đời sống hằng ngày, dựa trên một loại chuẩn mực xã hội đó là pháp luật

Đội ngũ cán bộ tiếp công dân cũng là thành viên trong cộng đồng, họ cũng tham gia vào các quan hệ gia đình, quan hệ làng xóm, láng giềng cũng như bất kỳ quan hệ xã hội nào khác Với tư cách là cán bộ, công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm, đảm nhiệm công việc tiếp công dân, hằng ngày họ tham gia các quan hệ pháp luật với các cá nhân, tổ chức khác trong xã hội với các quyền, nghĩa vụ do pháp luật quy định

So với phần đông dân cư trong xã hội, cán bộ tiếp công dân là những người có trình độ học vấn cao, có tri thức pháp luật sâu rộng, am tường pháp luật, thông thạo chuyên môn nghiệp vụ Họ là những người được đào tạo bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kiến thức quản lý nhà nước Đây là những tiền đề hết sức quan trọng bảo đảm cho cán bộ tiếp công dân sống và làm việc theo pháp luật Lối sống theo pháp luật của cán bộ tiếp công dân phụ thuộc rất lớn vào ý thức pháp luật mà trước tiên là hiểu biết pháp luật của cán bộ tiếp công dân Không hiểu biết pháp luật, hiểu biết không đầy đủ, không đúng đắn thì không thể sống và làm việc theo pháp luật, ngược lại, đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến vi phạm pháp luật Trong lĩnh vực chuyên môn, cán bộ tiếp công dân nhìn chung thực hiện pháp luật khá nghiêm chỉnh, bởi

đó là nghĩa vụ, bổn phận, trách nhiệm của họ Bên cạnh sự ràng buộc bởi các

kỷ luật công chức, đội ngũ cán bộ tiếp công dân chịu sự giám sát của nhân

Trang 33

dân, người dân luôn theo dõi thái độ và cách hành xử của cán bộ tiếp công dân Như vậy, có nhiều kênh, nhiều phương tiện, nhiều hình thức giám sát sự thực hiện pháp luật của cán bộ, công chức tiếp công dân Có thể nói, đội ngũ cán bộ tiếp công dân chịu áp lực lớn của nguyên tắc sống và làm việc theo pháp luật, bởi vậy nhìn chung họ thực hiện pháp luật có phần nghiêm chỉnh hơn Bản thân cán bộ tiếp công dân cũng luôn ý thức được vị trí vai trò của mình, chấp hành pháp luật một cách nghiêm chỉnh Với tư cách là những cá nhân trong xã hội, họ thường gương mẫu, tự giác, đi đầu trong việc thực hiện các quy định của pháp luật Tuy nhiên, có một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức còn khá tùy tiện, biểu hiện thiếu tính kỷ luật như đi sớm - về muộn, lợi dụng thời gian làm việc công để giải quyết việc cá nhân

1.2.3 Yêu cầu về văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân tại các

cơ quan nhà nước trung ương ở Việt Nam

1.2.3.1 Cán bộ tiếp công dân phải là người có tri thức và năng lực nhận thức pháp lý cao

Trình độ văn hóa nói chung trước hết thể hiện sự hiểu biết, sự nắm được tri thức mà nhân loại đã khám phá, phát minh về thế giới, có ý nghĩa cần thiết cho cuộc sống, những giá trị do con người sáng tạo ra Từ khái niệm văn hóa pháp luật, chúng ta thấy văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân có đầy đủ ba yếu tố tồn tại trong thể thống nhất là ý thức pháp luật, hành vi pháp luật tích cực và lối sống theo pháp luật Do đó, đối với cán bộ tiếp công dân yêu cầu trước hết là phải hiểu biết và có năng lực nhận thức pháp luật

Sự hiểu biết pháp luật của cán bộ tiếp công dân không chỉ dừng lại ở hệ thống pháp luật thực định của Nhà nước mà còn bao gồm cả tri thức về giá trị

xã hội của pháp luật, tầm quan trọng của pháp luật đối với đời sống xã hội cũng như đối với chính bản thân minh Càng có ý thức sâu sắc về những điều này, người cán bộ tiếp công dân càng tìm mọi cách vận dụng một cách triệt để quy định của pháp luật nhằm thực hiện trách nhiệm công vụ của mình Hơn ai

Trang 34

hết, người cán bộ tiếp công dân phải là người hiểu biết một cách chính xác, thấu đáo, tường tận các quy định trong pháp luật, ngoài ra họ phải nắm bắt được quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Điều này có ý nghĩa to lớn

để tạo ra thói quen sống và làm việc theo pháp luật Nó không chỉ góp phần giải quyết những vấn đề có liên quan đến pháp luật một cách đúng đắn mà còn là cơ sở hình thành năng lực tư duy và kỹ năng vận dụng pháp luật giúp cho cán bộ tiếp công dân phân tích thực tiễn và đưa ra quyết định lựa chọn hành vi đúng đắn, chính xác, kịp thời, phù hợp với yêu cầu của pháp luật Điều đó càng thể hiện rõ trong trường hợp khi gặp vụ việc xảy ra trong thực tế

có liên quan đến lợi ích người dân cần được giải quyết bằng pháp luật nhưng lại không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc ấy, đòi hỏi người cán bộ tiếp công dân phải linh động, sáng tạo, giải thích cho người dân theo những tình huống áp dụng pháp luật tương tự

Nhận thức pháp lý của cá nhân là biểu hiện ý thức pháp luật của cá nhân, là sự hiểu biết về những khái niệm pháp lí và những quy định pháp luật (bao gồm cả những quy định pháp luật đã qua và pháp luật hiện hành)8 Năng lực là phẩm chất tâm lý nhân cách của cá nhân dựa trên cơ sở tư chất nhưng chủ yếu được hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của mỗi gnười thông qua sự tiếp nhận giáo dục và rèn luyện

Năng lực nhận thức pháp luật của cán bộ tiếp công dân không phải sẵn

có trong mỗi người, song là điều không thể thiếu trong nhân cách con người sống trong môi trường xã hội nhà nước pháp quyền Đó là cả quá trình tự giác học tập, nghiên cứu, tích lũy của mỗi người Xuất phát từ địa vị xã hội, yêu cầu công tác, mục đích đặt ra khác nhau nên nhận thức của mỗi người cũng khác nhau Quá trình nhận thức pháp luật của mỗi cán bộ tiếp công dân là quá trình tự do ý chí của cá nhân Người nào có thái độ tích cực, chủ động, cầu thị thì khả năng nhận thức pháp luật cao, thái độ tôn trọng pháp luật cao, thể hiện

8 Lê Vương Long (1996), “Vấn đề nhận thức pháp lí của cá nhân”, Tạp chí Luật học, (04), tr 21-24

Trang 35

ở chỗ họ kiềm chế, không thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm, tích cực thực hiện đúng đắn, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình Họ không lạm dụng pháp luật hay quyền lực nhà nước trói buộc người dân, bắt người dân phải cầu khẩn đến sự ban ơn của mình Ngược lại, khi có tri thức pháp luật và năng lực nhận thức pháp luật cao, cán bộ tiếp dân có thể giải thích chính xác các quy định của pháp luật cho công dân, hướng dẫn tận tình người dân tiến hành các thủ tục một cách đầy đủ, đúng đắn, nhờ vậy người dân có thể thỏa mãn phần nào những khúc mắc của mình, nhờ đó, niềm tin vào pháp luật, tin vào chính quyền của người dân cũng tăng cao

Biểu hiện kém văn hóa pháp luật của cán bộ, công chức tiếp công dân bộc lộ rõ ràng nhất là sự thiếu hiểu biết pháp luật, chỉ làm viêc theo mệnh lệnh, khiên cưỡng, theo thói quen mà không biết giải thích, thuyết phục Trong công việc họ thường không đối chiếu áp dụng điều luật hoặc vận dụng sai điều luật do hiểu biết hạn chế, không thực hiện đúng chức năng thẩm quyền được giao Đây có thể coi là thái độ coi thường pháp luật, không đồng tình với quy định của pháp luật thậm chí chống đối pháp luật ngấm ngầm của một bộ phận cán bộ

1.2.3.2 Cán bộ tiếp công dân phải có tình cảm pháp luật đúng đắn

Tình cảm pháp luật là nhân tố quan trọng trong quá trình chuyển hóa, biến tri thức về giá trị và định hướng giá trị pháp lý thành hành vi pháp luật đúng đắn Tình cảm vừa thể hiện tâm lý của chủ thể hành vi, vừa là động lực thúc đẩy hành vi pháp luật Người thực hiện hành vi pháp luật theo các chuẩn mực quy phạm pháp luật, khi đã có sự thấm nhuần về mặt ý thức sẽ nảy sinh cảm xúc về danh dự, nghĩa vụ, trách nhiệm từ đó theo đuổi chân lý và chính nghĩa; thực hiện hành vi pháp luật đúng đắn Nếu không có tình cảm pháp luật trân thành và chính xác thì không có hành vi pháp luật đúng đắn nên có thể hiểu, vì sao có một bộ phận nhỏ cán bộ, công chức rất am hiểu cuộc sống và pháp luật nhưng vẫn vi phạm pháp luật

Trang 36

Tình cảm kết hợp với niềm tin, lý tưởng sẽ đem lại cho hành vi của con người động lực to lớn Cũng như nhận thức và sự hiểu biết của con người, tình cảm phản ánh hiện thực nhưng mang tính chất và sắc thái chủ thể rất sâu sắc Phạm vi phản ánh của tình cảm mang tính lựa chọn, chỉ những gì liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu hoặc động cơ của con người mới tạo ra tình cảm Chính vì thế, phạm vi phản ánh của tình cảm mang tính lựa chọn hơn so với nhận thức Tình cảm nói lên thái độ của cá nhân, là thuộc tính bền vững, ổn định của nhân cách Đối với hành động của con người, tình cảm nảy sinh và biểu hiện trong hành động, thông qua hành động trở thành động lực thúc đẩy hành động của con người

Tình cảm pháp luật biểu thị thái độ của con người đối với yêu cầu của pháp luật trong các quan hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh Vì vậy, cán bộ tiếp công dân phải có tình cảm pháp luật đúng đắn, không thể có tình trạng vô cảm trong những vấn đề có quan hệ với pháp luật mà thực sâu xa là quan hệ con người trong đời sống

Với tình cảm không khoan nhượng với những hành vi vi phạm pháp luật, người cán bộ tiếp công dân giữ được mình, biết giữ gìn phẩm giá và danh dự của mình, tạo niềm tin và sự kính trọng trước tiên từ nhân dân Cán

bộ tiếp công dân không được tư vấn hoặc giúp đỡ người dân thực hiện hành vi

vi phạm pháp luật hoặc gian trá Bản thân mỗi người cán bộ, công chức phải rèn luyện cho bản thân đức tính trung thực, khách quan, nhiệt tình trong công việc, không ngại khó, không ngại khổ, không đổ trách nhiệm cho người khác

Là người nắm được các quy định của pháp luật, cán bộ tiếp công dân phải là người tuân thủ pháp luật, không được trực tiếp hoặc gián tiếp làm việc gì gây ảnh hưởng bất lợi hoặc có khả năng làm ảnh hưởng bất lợi đến Đảng và Nhà nước Cán bộ tiếp công dân phải sử dụng lý lẽ có căn cứ, có đạo đức để giải thích, thuyết phục người dân, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của

Trang 37

người dân - điều này thể hiện được nét văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân trong hoạt động thực tiễn

Như vậy, nếu người cán bộ tiếp công dân có tình cảm pháp luật chân thành, chính xác thì họ sẽ có hành vi pháp luật đúng đắn Họ coi việc sống và làm việc theo pháp luật là một nguyên tắc Với họ, nguyên tắc này không phải

là sự hạn chế hành vi của họ mà chính là sự chỉ dẫn cho mọi suy nghĩ, hành vi của họ trong công vụ để làm đúng những quy định của pháp luật Bằng niềm tin vào pháp luật, họ phân tích, giải thích những mặt được và mặt chưa đáp ứng được của pháp luật trước những tình huống phức tạp của cuộc sống

Ngược lại, nếu cán bộ tiếp công dân sự mang trong mình sự vô cảm, thiếu niềm tin vào pháp luật thì sẽ dẫn đến sự dung túng, đồng lõa với hành vi

vi phạm pháp luật Sự vô cảm ấy khiến cho cán bộ tiếp dân không có nhiệt huyết, né tránh, đùn đẩy khiến người dân bước vào vòng luẩn quẩn, thậm chí dùng pháp luật để trói buộc, sách nhiễu dân

1.2.3.3 Cán bộ tiếp công dân phải có kỹ năng giao tiếp, khả năng thuyết phục

Văn hóa giao tiếp là một bộ phận văn hóa trong hoạt động của nhà nước Thông qua giao tiếp, các cơ quan nhà nước tiếp nhận yêu cầu, kiến nghị của nhân dân Ngược lại, người dân cũng được cung cấp những thông tin cần thiết về hoạt động của nhà nước để chủ động trong việc thực hiện quyền, lợi ích và nghĩa vụ được pháp luật ghi nhận Cán bộ, công chức thực hiện nhiệm

vụ tiếp dân là cầu nối trực tiếp giữa Nhà nước và nhân dân Hành vi giao tiếp của cán bộ tiếp dân quyết định trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước và ảnh hưởng lớn đến uy tín của các cơ quan nhà nước với nhân dân Khi Nhà nước tiến dần đến mô hình nhà nước phục vụ thì hành vi

Trang 38

giao tiếp của cán bộ, công chức phải thể hiện được vị trí của người cán bộ, công chức là người phục vụ nhân dân9

Trong giao tiếp với nhân dân, người cán bộ tiếp dân phải xác định được đúng vị trí của mình đó là người thay mặt Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ hay thỏa mãn những yêu cầu, kiến nghị của người dân Tiếp dân là công việc hết sức phức tạp, người cán bộ tiếp dân phải gặp gỡ, tiếp xúc với nhiều loại người từ những người nghiêm túc, xử sự đúng mực đến những người trình độ văn hóa thấp, những “Chí Phèo thời hiện đại”; phải giải quyết rất nhiều công việc khác nhau từ việc nhà nước cho đến việc không liên quan gì đến nhà nước, việc cỏn con nhưng nhiều người dân cũng tìm đến chính quyền, nhờ chính quyền giải quyết10

Thiếu sót lớn nhất của cán bộ khi thực hiện giao tiếp với nhân dân là thường xác định vị trí của mình là người quản lý, là quan chức, là người lãnh đạo, là cấp trên trong khi họ phải thực sự là người phục vụ nhân dân Đó là thái độ giao tiếp thờ ơ, lạnh nhạt, tạo khoảng cách giữa họ với người dân để chứng tỏ tầm quan trọng của mình, ngôn ngữ được sử dụng không đúng mực, thiếu các từ nhân xưng khi nói chuyện, không giữ được thái độ nhẹ nhàng, gắt gỏng

Thái độ biết lắng nghe nhân dân cho phép người cán bộ tiếp dân thu thập được đầy đủ thông tin cần thiết cho giải quyết công việc từ phía người dân; thái độ biết chia sẻ cũng góp phần tạo ra sự cảm thông của người dân đối với những công việc mà cán bộ tiếp dân phải làm Lời lẽ và cử chỉ đúng mực tạo ra sự nghiêm túc trong quan hệ công việc nhưng không là rào cản cho quan hệ làm việc giữa cán bộ với nhân dân Bên cạnh những yếu tố ảnh hưởng như truyền thống, phong tục, các quy định của pháp luật, nội quy, quy

Trang 39

chế làm việc thì trình độ chuyên môn vững vàng, kỹ năng tốt, sẽ tạo được phong thái tự tin trong giao tiếp Kinh nghiệm cũng là yếu tố giúp cán bộ dễ dàng giải quyết các tình huống, tuy nhiên nếu cán bộ công chức không có thái

độ cầu tiến, biết lắng nghe thì có thể chủ quan, sơ suất trong giao tiếp Cán bộ tiếp công dân cần chú ý phương pháp ứng xử khi giao tiếp, ghi lại chi tiết nguyện vọng của người dân Việc nghiên cứu tài liệu, hồ sơ vụ việc là một hoạt động văn hóa mang tính chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể và cần thiết nhằm góp phần nắm vững nội dung, tính chất vụ việc, phát hiện những thiếu sót, sai lầm của các cơ quan nhà nước nhằm bổ sung, hoàn thiện các tình tiết

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân

Văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân luôn chịu sự tác động của các yếu tố khác nhau và được đặt trong một thể thống nhất các mối quan hệ

xã hội xoay quanh người cán bộ, công chức thực hiện việc tiếp công dân Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân chịu sự tác động mạnh mẽ của nhiều yếu tố, chúng tác động tới vấn đề văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực Tận dụng những ảnh hưởng tích cực và chống lại những tác động tiêu cực nhằm duy trì và nâng cao văn hóa pháp luật của cán bộ tiếp công dân là nhiệm vụ cần được phát huy trong giai đoạn hiện nay ở nước ta Các yếu tố này bao gồm yếu tố chủ quan và khách quan

1.3.1 Yếu tố chủ quan

1.3.1.1 Ý thức pháp luật của cán bộ tiếp công dân

Như trên đã đề cập ý thức pháp luật của cán bộ tiếp công dân là tổng thể tư tưởng, quan điểm, tình cảm, xúc cảm, thái độ của cán bộ tiếp công dân đối với pháp luật và đối với các hành vi pháp luật xảy ra trong quá trình tiếp công dân Ý thức pháp luật giúp cho cán bộ tiếp công dân đánh giá khả năng nhận thức, đời sống pháp luật với các vấn đề như thực trạng của hệ thống

Trang 40

pháp luật hiện hành, hoạt động thực hiện pháp luật của các tổ chức trong xã hội, thái độ hành vi của tầng lớp nhân dân với pháp luật, tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi của bản thân, của người khác Ý thức pháp luật

có thể tác động, điều chỉnh hành vi của mỗi người qua tư tưởng, tâm lý Ý thức pháp luật của cán bộ tiếp dân được hình thành và phát triển trong môi trường sống của họ, qua giao tiếp hàng ngày, qua sự tham gia trực tiếp vào hoạt động tiếp công dân Trong thực tế khi người cán bộ tiếp dân gặp những

vụ việc cần giải quyết nhưng lại chưa có pháp luật điều chỉnh thì họ có thể dựa vào ý thức pháp luật của mình để hướng dẫn nhân dân sao cho phù hợp với những nguyên tắc và tinh thần của pháp luật

Người có ý thức pháp luật đúng đắn, tiến bộ cũng sẽ là người mực thước trong cuộc sống, dẫn đến việc họ xử sự đúng mực với cấp trên, với đồng nghiệp, tôn trọng nhân dân, có sức cổ vũ, cuốn hút đồng nghiệp trong công việc, sáng tạo Trong trường hợp đó, ý thức pháp luật trở thành sức mạnh của người cán bộ tiếp công dân Ngược lại, người có ý thức pháp luật thấp, phiến diện, đặc biệt những người có quan điểm lỗi thời, lạc hậu thì trong giao tiếp có thể sẽ là người nông cạn, bất cẩn, ở họ chứa đựng nhiều nguy cơ

có thể dẫn đến vi phạm quy tắc đối nhân xử thế, vi phạm pháp luật

Như vậy, ý thức pháp luật là một trong những yếu tố giúp cán bộ tiếp công dân tự điều chỉnh hành vi một cách hợp lý và hợp pháp, quyết định nhân cách, phẩm giá và năng lực, trình độ con người Ý thức pháp luật càng cao thì tinh thần tôn trọng và thực hiện pháp luật càng được bảo đảm và chính xác

1.3.1.2 Ý thức tự rèn luyện, tu dưỡng của bản thân cán bộ tiếp công

dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh cán bộ là cái gốc của mọi công việc, mọi việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém Vì vậy, đối với đội ngũ cán bộ công chức nói chung và cán bộ tiếp công dân nói riêng, ý thức tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân có ý nghĩa quan trọng

Ngày đăng: 13/03/2019, 21:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w