Ở mức độ nghiên cứu chuyên sâu dưới cả góc độ lý luận và thực tiễn, có thể kể đến các công trình sau: “Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả, thực trạng và biện pháp phòng chống”, Luậ
Trang 1-
-NGUYỄN THU THƯƠNG
TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TRONG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số : 60380104
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Đăng Doanh
HÀ NỘI -2017
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Nguyễn Thu Thương
Trang 3BLHS : Bộ luật hình sự
Trang 4PHẦN NỘI DUNG 6
Chương 1: Một số vấn đề chung về tội sản xuất, buôn bán hàng giả 6
1.1 Khái niệm hàng giả 6
1.2 Khái niệm tội sản xuất, buôn bán hàng giả 12
1.3 Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả 12
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật Hình sự năm 1985 12
1.3.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999 16
1.3.3 Giai đoạn Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực thi hành 19
Chương 2 Quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội sản xuất, buôn bán hàng giả 24
2.1 Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội sản xuất, buôn bán hàng giả 24 2.1.1 Dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất, buôn bán hàng giả 45
2.1.2 Hình phạt và các tình tiết định khung tăng nặng 48
2.2 Những điểm mới trong quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội sản xuất, buôn bán hàng giả 63
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội sản xuất, buôn bán hàng giả và một số đề xuất, kiến nghị 71
3.1 Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội sản xuất, buôn bán hàng giả 71
3.2.Một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả……… ……… … 83
KẾT LUẬN……… ……… ……94
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Một trong những đặc điểm của nền kinh tế thị trường là đa dạng hóa các thành phần kinh tế, xuất nhập khẩu hàng hóa được mở rộng tự do hơn Chính vì lẽ
đó, thị trường hàng hóa nước ta ngày nay, bên cạnh sự đa dạng của hàng hóa sản xuất trong nước, còn hiện diện hầu hết sản phẩm nổi tiếng trên thế giới Điều đó cho thấy, nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn phát triển, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, sản phẩm do xã hội tạo ra phong phú hơn trước Đây là thành quả mà Đảng và Nhà nước ta đã đạt được sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đó, một vấn đề nhức nhối của xã hội
mà chúng ta cần quan tâm là tình hình tội phạm ngày một gia tăng và có chiều hướng phức tạp, với nhiều thủ đoạn phạm tội tinh vi hơn, đặc biệt là tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là một trong những tội phạm kinh tế đã gây nên những tác hại hết sức to lớn trên nhiều mặt kinh tế, xã hội của đất nước Trước hết nó gây nên những thiệt hại về kinh tế cho Nhà nước, cho các đơn vị sản xuất, kinh doanh và cho cả người tiêu dùng Tội phạm này còn tác động xấu đến môi trường cạnh tranh và phát triển lành mạnh của nền kinh tế, làm giảm sút lòng tin của người tiêu dùng đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh Chính điều đó làm cho các nhà đầu tư trong nước thiếu an tâm khi đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh Hiện nay, hàng giả tại Việt Nam xuất hiện hầu như trong mọi lĩnh vực và bao gồm nhiều chủng loại hàng hóa Hàng giả có mặt từ mặt hàng ngoại nhập như điện tử, các mặt hàng công nghiệp đến mặt hàng sản xuất trong nước như giày dép, vật liệu xây dựng Trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang từng bước hội nhập vào thị trường kinh tế thế giới, là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO thì tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả còn tác hại xấu đến môi trường đầu tư nước ngoài vào nước ta, làm giảm uy tín tiêu dùng hàng hóa thật trong lòng người tiêu dùng, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp sản xuất hàng thật
Đấu tranh phòng, chống nạn hàng giả là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội Phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả được thực hiện
Trang 6bằng nhiều biện pháp, trong đó xử lý hình sự là một biện pháp hữu hiệu, nghiêm khắc nhất để bảo vệ trật tự quản lý kinh tế, quyền lợi của người tiêu dùng và các nhà sản xuất, phân phối chân chính Xử lý hình sự đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định của Bộ luật hình sự là một trong những nội dung quan trọng
về phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả Trong cuộc đấu tranh đó, pháp luật hình sự cùng với hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật đóng vai trò hết sức quan trọng Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã chủ động áp dụng nhiều biện pháp, xử lý nghiêm những trường hợp phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả và đã đạt được những kết quả đáng kể Tuy nhiên, quá trình áp dụng pháp luật về tội sản xuất, buôn bán hàng giả còn phát sinh một số hạn chế bất cập: quy định của pháp luật có điểm chưa phù hợp với thực tiễn cuộc đấu tranh phòng chống hàng giả, thiếu tính thống nhất, đồng bộ trong thi hành và áp dụng pháp luật; chưa có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật; biện pháp áp dụng của pháp luật chưa triệt để, nghiêm minh Những hạn chế, bất cập ấy
đã ảnh hưởng đến kết quả thi hành pháp luật đối với tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả
Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong pháp luật hình sự Việt Nam là một nhu cầu thực tế và thiết thực giúp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này; bên cạnh đó giúp triển khai thi hành BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đây là một đề tài không mới trong hệ thống khoa học pháp lý hình sự nhưng lại luôn là đề tài có tính thời sự nên nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học,
nghiên cứu Có thể kể đến một số công trình như: Bình luận khoa học Bộ luật Hình
sự 1999 (Phần các tội phạm) của tập thể tác giả TS Phùng Thế Vắc, TS Trần Văn
Luyện, LS ThS Phạm Thanh Bình, TS Nguyễn Đức Mai, ThS Nguyễn Sĩ Đại,
ThS Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; Bình luận khoa học
Bộ luật hình sự, Phần các tội phạm, tập VI, do Ths Đinh Văn Quế chủ biên, Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam
Trang 7đã được sửa đổi bổ sung năm 2009, do TS Trần Minh Hưởng chủ biên, Nxb Lao
động, 2009; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập 2, Trường Đại học Luật Hà Nội,
Nxb Công an nhân dân, 2014
Ở mức độ nghiên cứu chuyên sâu dưới cả góc độ lý luận và thực tiễn, có thể
kể đến các công trình sau: “Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả, thực trạng và
biện pháp phòng chống”, Luận văn tiến sĩ luật học, Trần Ngọc Việt, Viện nghiên
cứu nhà nước và pháp luật, năm 2001; “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong luật
hình sự Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Khoá luận tốt nghiệp, Phạm
Thị Hải Yến, Hà Nội, 2010; “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định của
BLHS Việt Nam”, Khóa luận tốt nghiệp, Nguyễn Thị Khánh Linh, Hà Nội, 2016…
Mặc dù tội sản xuất, buôn bán hàng giả đã được nghiên cứu cả ở góc độ lý luận và thực tiễn, tuy nhiên nạn hàng giả vẫn tiếp diễn, gia tăng, diễn biến phức tạp với thủ đoạn ngày càng tinh vi Các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về tội sản xuất, buôn bán hàng giả vẫn còn là vấn đề mang tính thời sự, cần được nghiên cứu cụ thể, đầy đủ và toàn diện, phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử và đấu tranh chống tội sản xuất, buôn bán hàng giả ở nước ta hiện nay Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn
về tội phạm này sẽ đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn và yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống hàng giả Quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả cũng đã tiếp thu, kế thừa những điểm phù hợp từ các công trình nghiên cứu trước đó để làm sáng tỏ khía cạnh hình sự của đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài này nhằm làm rõ quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội sản xuất, buôn bán hàng giả, bao gồm khái niệm hàng giả, khái niệm tội sản xuất, buôn bán hàng giả, các dấu hiệu pháp lý, hình phạt và các tình tiết định khung tăng nặng, tổng kết vướng mắc trong thực tiễn xét xử tội phạm và làm rõ những quy định sửa đổi của BLHS năm 2015 Trên cơ sở đó có thể đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định của BLHS về tội sản xuất, buôn bán hàng giả và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này
Trang 8Nhiệm vụ của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội sản xuất, buôn bán hàng giả, trong đó làm rõ khái niệm và phân loại hàng giả, các dấu hiệu pháp lý, hình phạt và các tình tiết định khung tăng nặng; Nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội sản xuất, buôn bán hàng giả và thực tiễn áp dụng các quy định này từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần
bổ sung, hoàn thiện quy định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong pháp luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này cũng như nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả
4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả dưới góc độ luật hình sự Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích quy định của BLHS hiện hành (BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009), từ đó so sánh nội dung của tội này theo quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017,
có hiệu lực vào ngày 1/1/2018)
Đồng thời, tác giả nghiên cứu đánh giá thực tiễn xét xử các sản xuất, buôn bán hàng giả, từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh chống và phòng ngừa loại tội phạm này
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng lãnh đạo, chỉ đạo cũng như chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội sản xuất, buôn bán hàng giả nói riêng
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu, trao đổi với các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và khảo sát thực tiễn
Trang 95 Ý nghĩa của luận văn
Đề tài là công trình chuyên khảo có hệ thống ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong pháp luật hình sự Việt Nam
Kết quả của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo, học tập, đồng thời cung cấp cho cán bộ làm công tác thực tiễn những hướng dẫn, chỉ dẫn cụ thể, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong giai đoạn hiện nay
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội sản xuất, buôn
bán hàng giả
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của Bô luật Hình sự năm 1999 về
tội sản xuất, buôn bán hàng giả và một số đề xuất, kiến nghị
Trang 10PHẦN NỘI DUNG Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ 1.1 Khái niệm hàng giả
Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp thì
khái niệm hàng giả được định nghĩa như sau: “Hàng giả là thứ không có giá trị
sử dụng của loại hàng mà nó mang tên (hàng giả về nội dung) hoặc tuy có giá trị
sử dụng của loại hàng mang tên nhưng mang nhãn hiệu của cơ sở sản xuất khác
Dưới góc độ pháp lý, kể từ khi đất nước được thống nhất, thuật ngữ “hàng giả” lần đầu tiên được sử dụng trong Pháp lệnh Trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu làm hàng giả, kinh doanh trái phép năm 1982 2 Điều 5 của Pháp lệnh này quy định về tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả tuy nhiên khái niệm hàng giả vẫn chưa được làm rõ
Bộ luật Hình sự Việt Nam đầu tiên ra đời năm 1985 quy định về tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả tại Điều 167, thuộc nhóm tội về kinh tế Mặc dù BLHS năm 1985 có quy định chi tiết hơn Pháp lệnh 07 năm 1982 tuy nhiên các điều luật trong BLHS năm 1985 vẫn chưa đưa ra được định nghĩa về hàng giả
Văn bản pháp luật đầu tiên đưa ra khái niệm hàng giả là Nghị định 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về kiểm tra, xử lý
hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả Điều 3 của Nghị định quy định: “Hàng
giả theo Nghị định này, là những sản phẩm, hàng hoá được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hoá được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường; hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó”
1 Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp và Nxb Từ điển Bách khoa, tr 319
2 Pháp lệnh số 07/LCT/HDNN7 ngày 10/7/1982 Trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép năm 1982
Trang 11Điều 4 của Nghị định 140/HĐBT nêu cụ thể 6 trường hợp được coi là hàng giả, bao gồm: 1) Sản phẩm có nhãn giả mạo; 2) Sản phẩm, hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hàng hóa đã được đăng ký, bảo hộ; 3) Sản phẩm, hàng hóa mang nhãn không đúng với nhãn sản phẩm đã đăng ký với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng; 4) Sản phẩm hàng hóa ghi dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam khi chưa được cấp giấy chứng nhận và dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam; 5) Sản phẩm, hàng hóa đã đăng ký hoặc chưa đăng ký chất lượng với
cơ quan Tiêu chuẩn đo lượng chất lượng mà có mức chất lượng thấp hơn mức tối thiểu cho phép; 6) Sản phẩm, hàng hóa có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất, tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó
Tính từ thời điểm Nghị định 140/HĐBT ban hành, khái niệm hàng giả tiếp tục được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật khác từ các văn bản về xử lý vi phạm hành chính, hình sự 3; đến các văn bản về kinh doanh, thương mại 4; bảo hộ
sở hữu trí tuệ 5; hải quan 6 bao gồm cả các văn bản chỉ đạo, điều hành của Chính phủ 7 Nhìn chung các quy định tại các văn bản này đều nói lên hàng giả bao gồm: giả về nội dung, giả về hình thức, giả mạo về sở hữu trí tuệ và các sản phẩm là tem, nhãn, bao bì giả
BLHS năm 1999 quy định tội sản xuất, buôn bán hàng giả tại Điều 156 như sau:
“1 Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới một trăm năm mươi triệu đồng hoặc dưới ba mươi triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 153, 154,
3 Khoản 8 điều 3 Nghị định 06/2008/NĐ-CP ngày 16/1/2008 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính
4 Điều 7 Pháp lệnh số 13/1999/PL-UBTVQH10 ngày 27 tháng 4 năm 1999 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
5 Thông tư liên tịch số 129/2004/TTLT/BTC-BKHCN ngày 29/12/2004 của Bộ Tài chính và Bộ khoa học và Công nghệ về việc hướng dẫn thi hành các biện pháp kiểm soát biên giới về sở hữu công nghiệp đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
6 Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 44/2011/TT- BTC ngày 1/4/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn công tác chống hàng giả và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực hải quan
7 Chỉ thị số 28/2008/CT-TTg ngày 8 tháng 9 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ Về một số biện pháp cấp bách, chống hàng giả, hàng kém chất lượng
Trang 12155, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm…”
Thuật ngữ “hàng giả” được đề cập trong tên gọi của điều luật, tuy nhiên điều luật lại không đưa ra định nghĩa hàng giả, dấu hiệu nhận biết và cách xác định hàng giả mà vấn đề này được quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành dưới luật
Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số BKHCNMT ngày 27/4/2000 của Bộ Thương mại, Bộ Công an, Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả thì hàng giả bao gồm hàng giả về chất lượng hoặc công dụng, giả về nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, giả về nhãn hàng hóa, các loại ấn phẩm đã in sử dụng vào việc sản xuất, tiêu thụ hàng hóa Tuy nhiên, Thông tư chưa bao quát hết được các trường hợp hàng hóa không
10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-có giá trị sử dụng mà loại hàng đó mang tên là hàng giả Thiết nghĩ cần quy định
rõ ràng hơn tiêu chuẩn dưới mức cho phép bao nhiêu thì được xem là hàng giả? Những vấn đề này dần được khắc phục trong các văn bản được ban hành tiếp theo
Thông tư 44/2011/TT-BTC ngày 01 tháng 04 năm 2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn công tác chống hàng giả và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực hải quan đã có những quy định bổ sung về hàng giả như sau:
“Hàng giả bao gồm:
a) Giả chất lượng và công dụng: hàng hoá không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của hàng hoá;
b) Giả mạo nhãn hàng hoá, bao bì hàng hoá: hàng hoá giả mạo tên, địa chỉ của thương nhân khác trên nhãn hoặc bao bì cùng loại hàng hoá; hàng hoá
Trang 13giả mạo chỉ dẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp trên nhãn hoặc bao bì hàng hoá;
c) Giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý; hàng hoá là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan;
d) Các loại đề can, tem chất lượng, tem chống giả, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hoá có nội dung giả mạo tên, địa chỉ thương nhân, nguồn gốc hàng hoá, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng;
e) Đối với hàng hoá thuộc diện quản lý chuyên ngành nếu pháp luật có quy định riêng thì áp dụng các quy định đó để xác định hàng giả.”
Như vậy, Thông tư đã bổ sung khái niệm hàng giả là hàng hóa có “giá trị
sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của hàng hóa” Tuy nhiên, Thông tư vẫn chưa quy định rõ tiêu chuẩn định mức cho phép là bao nhiêu thì được xem là hàng giả?
Ngày 10/1/2013, Chính phủ ban hành Nghị định 08/2013/NĐ-CP Quy định
xử phạt hành chính đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả Tại Điều 4, Nghị định này nêu ra 4 trường hợp được coi là hàng giả, bao gồm: Hàng hóa giả về nội dung; Hàng hóa giả về hình thức; Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ; Trường hợp các sản phẩm tem, nhãn, bao bì giả Bên cạnh đó, Nghị định cũng đã bổ sung quy định về tiêu chuẩn định mức cho phép là bao nhiêu thì được xem là hàng giả:
“b) Hàng hóa có hàm lượng, định lượng chất chính, tổng các chất dinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa”
Ngày 15/11/2013, Chính phủ ban hành Nghị định 185/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán
Trang 14hàng giả, hàng cấm và bảo vệ người tiêu dùng Sau đó, Nghị định này được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ Hai Nghị định này ban hành đã thay thế một loạt các văn bản ban hành trước đó
về xử phạt hành chính, trong đó bao gồm cả Nghị định 08/2013/NĐ-CP về xử phạt hành chính đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả Khái niệm hàng giả được quy định theo hình thức liệt kê, từ điểm a đến điểm h Mặc dù có mức độ chi tiết cao hơn các văn bản trước đây về khái niệm hàng giả, về cơ bản, quy định của các Nghị định này không có sự khác biệt so với quy định tại Nghị định 08/2013/NĐ-CP Theo các văn bản này, khái niệm hàng giả bao gồm bốn trường hợp:
1) Trường hợp giả về nội dung: Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hoá; Có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị
sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn
kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hoá; Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất, có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký, không đủ loại dược chất đã đăng
ký, có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hoá; Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất, có hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng, không đủ loại hoạt chất đã đăng ký, có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa
2) Trường hợp giả về hình thức (giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa), bao gồm: Hàng hóa có nhãn hàng hoá, bao bì hàng hoá giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; Giả mạo tên thương mại, tên thương phẩm hàng hoá, mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc bao bì hàng hoá của thương nhân khác; Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hoá, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa
Trang 153) Trường hợp giả mạo về sở hữu trí tuệ, được quy định tại Điều 213 Luật
157 BLHS năm 1999; Hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú
y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi là đối tượng điều chỉnh của Điều 158 BLHS năm 1999; Hàng giả liên quan đến xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là đối tượng điều chỉnh của Điều 171 BLHS năm 1999
Trên cơ sở khái niệm hàng giả, có thể phân loại hàng giả thành ba loại sau đây:
- Hàng giả về nội dung (hay giả về chất lượng, giá trị sử dụng của hàng hóa) Ví dụ: Mặt hàng Sữa tắm trắng da Floresan dạng xà phòng kem với thành phần từ dầu dừa, dầu đậu nành, chiết xuất rễ cây xà phòng, protein sữa dê thủy phân, dầu hoa bông, dầu hạt lanh, chiết xuất hoa bồ đề Tuy nhiên người phạm tội lại tự chế sữa tắm bằng những nguyên liệu không đảm bảo chất lượng như: muối công nghiệp, chất tạo độ đặc, nước, chất làm bóng, chất tạo màu, tạo mùi,…
- Hàng giả về hình thức (giả về kiểu dáng, nhãn hiệu, tên gọi, xuất xứ,… hàng hóa) Ví dụ: Người phạm tội dán loại nhãn mác của mặt hàng lốp xe ô tô đã
có thương hiệu nhưng được làm giả vào sản phẩm lốp xe ô tô của mình để lừa dối khách hàng
- Hàng giả cả về nội dung và hình thức Ví dụ: Người phạm tội dùng sản phẩm nước rửa bát của các cơ sở tư nhân không đảm bảo chất lượng sau đó đóng vào các chai đựng cũng được tự sao chép từ mặt hàng nước rửa bát chính hãng
Trang 161.2 Khái niệm tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Sản xuất là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế
bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa 8
Buôn bán là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chào hàng,
bày bán lưu giữ, bảo quản vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đưa hàng hóa vào lưu thông 9
Qua các khái niệm về sản xuất, buôn bán, và khái niệm hàng giả như đã phân tích ở phần trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm về tội sản xuất, buôn bán hàng giả Mặc dù theo Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 1999, không có định nghĩa cụ thể như thế nào là tội sản xuất, buôn bán hàng giả nhưng dưới góc độ pháp lý, chúng ta có thể xây dựng định nghĩa tội này trên cơ sở của định nghĩa tội phạm được quy định tại Điều 8 Bộ luật Hình sự 1999 như sau:
Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là hành vi làm ra, mua đi bán lại hàng giả,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm đến trật
tự của nền kinh tế, làm mất ổn định thị trường và xâm hại lợi ích người tiêu dùng
1.3 Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật Hình sự năm 1985
Ngày 2/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời – Nhà nước công nông đầu tiên của Đông Nam Á Nhà nước và bộ máy Nhà nước mới thành lập đã phải đương đầu với bao khó khăn và thử thách để bảo vệ thành quả của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, để bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp mình, nhiệm vụ quan trọng và đặt lên hàng đầu đó chính là giữ vững an ninh quốc gia, đảm bảo phát triển kinh tế ổn định đời sống cho nhân dân Nhiều chính sách pháp luật đã ra đời (Sắc luật, pháp lệnh…) nhưng chưa thể ban hành Bộ luật Hình sự vì hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ chưa cho phép
8 Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
9 Khoản 1 Điều 3 Nghị định 185/2013/NĐ-CP
Trang 17Trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến năm 1975 đất nước ta liên tục có chiến tranh, cả nước tập trung toàn bộ sinh lực vào cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của đất nước, các văn bản pháp luật mang tính hình sự ra đời cũng chỉ tập trung vào các tội phạm phổ biến có liên quan đến công cuộc kháng chiến như: tội phản cách mạng, tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, tội đầu cơ, tội buôn bán hàng cấm… Tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong giai đoạn này chưa được quy định trong bất kỳ văn bản pháp luật hình sự nào Bởi giai đoạn này nền kinh tế nước ta là nền kinh tế tập trung bao cấp, hàng hóa lưu thông trên thị trường đều do các doanh nghiệp Nhà nước sản xuất hoặc do các nước khác viện trợ, vì vậy mà hàng giả gần như không có môi trường để phát triển
Đại thắng Mùa Xuân năm 1975 đã giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà Tuy độc lập nhưng sau khi chiến tranh kết thúc, nền kinh tế đất nước hết sức nghèo nàn, lạc hậu, bọn tư sản ngoại bản được sự tiếp tay của tư sản nước ngoài đã không ngừng gây rối loạn thị trường, trong đó vấn nạn làm hàng giả cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự bất ổn của thị trường
Ở miền Bắc, các văn bản pháp luật hình sự đã ban hành trước đó vẫn tiếp tục được áp dụng
Ở miền Nam, Nhà nước đã kịp thời ban hành một số văn bản pháp luật hình
sự phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ cấp bách là trấn áp bọn phản cách mạng và các tội phạm khác, bảo vệ vững chắc an ninh chính trị và an toàn trật tự xã hội
Ngày 15/3/1976, Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành một
số văn bản pháp luật hình sự như: Luật tổ chức Tòa án nhân dân; Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân; Sắc luật quy định việc bắt giam, khám người, khám nhà ở, khám
đồ vật của người phạm tội; Sắc luật số 03- SL/76 quy định các tội phạm và hình phạt với 7 loại tội phạm Tội sản xuất, buôn bán hàng giả cũng được quy định tại
Điều 6 của Sắc luật này trong các tội kinh tế: “Tội kinh tế là tội gây thiệt hại về tài
chính cho Nhà nước, cho hợp tác xã hoặc cho tập thể nhân dân, gây trở ngại cho việc khôi phục và phát triển sản xuất, cho việc ổn định đời sống nhân dân, gồm các tội: Sản xuất hàng giả cố ý lừa gạt người tiêu thụ; Kinh doanh trái phép, cố ý trốn tránh quy định của Nhà nước; Làm bạc giả hoặc tiêu thụ bạc giả…” Sắc luật cũng
Trang 18quy định mức hình phạt cho những hành vi vi phạm như: “phạm một trong số
những tội đã được nêu trên thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm và phạt tiền đến năm mươi nghìn đồng Ngân hàng hoặc một trong hai hình phạt đó, trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến hai mươi chín năm, tù chung thân hoặc
xử tử hình và tịch thu một phần hoặc toàn bộ sản”
Việc quy định về tội sản xuất hàng giả trong Sắc luật số 03-SL/76 đã phần nào đáp ứng được yêu cầu đấu tranh chống tội phạm về hàng giả trong các tội phạm
về kinh tế Qua đó thể hiện được tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội sản xuất hàng giả và cho thấy thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với loại tội phạm này
Bên cạnh những ý nghĩa tích cực thì việc quy định về tội sản xuất hàng giả trong Sắc luật số 03-SL cũng còn bộc lộ một số hạn chế nhất định Sắc luật chưa phân hóa rõ ràng các tội phạm về kinh tế nói chung và tội sản xuất hàng giả nói
riêng Điều 6 của Sắc luật chỉ quy định “sản xuất hàng giả cố ý lừa gạt người tiêu
thụ” mà không có quy định hành vi buôn bán hàng giả cũng là tội phạm, không đưa
ra đối tượng nào là hàng giả, ví dụ như: hàng giả là lương thực, thực phẩm, là thuốc chữa bệnh… Ngoài Sắc luật này ra thì không có bất kỳ văn bản nào hướng dẫn như thế nào là hàng giả và hàng giả bao gồm những loại hàng hóa nào? Việc quy định như vậy là chưa rõ ràng, chưa cụ thể Về vấn đề hình phạt, nội dung của Sắc luật chỉ quy định mức hình phạt chung cho các tội phạm, chưa cho thấy mức độ và tính chất nguy hiểm cho xã hội của từng tội phạm, cũng như chế tài được áp dụng với tội phạm đó Đây là văn bản pháp luật đầu tiên có quy định về các tội phạm thuộc lĩnh vực kinh tế, việc có một số thiếu sót trong nội dung là không thể tránh khỏi, và Sắc luật này được áp dụng trong cả nước từ năm 1976 đến năm 1982
Nhằm khắc phục những hạn chế, thiếu sót của Sắc luật số 03-SL/76 và để phù hợp hơn với tình hình mới của nền kinh tế, trên cơ sở của Hiến pháp năm 1980, Pháp lệnh số 07-LCT/HĐNN được ban hành ngày 10/7/1982 quy định về việc trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép được coi là văn bản pháp luật đầu tiên quy định về tội làm hàng giả và buôn bán hàng giả trước khi Bộ luật Hình sự năm 1985 ra đời
Trang 19Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả được quy định tại Điều 5 của Pháp lệnh:
“Người nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả nhằm thu lợi bất chính thì
bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm và bị phạt tiền từ năm nghìn đồng đến năm vạn đồng; Phạm tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh hoặc phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 9 Pháp lệnh này thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm, bị phạt tiền đến năm trăm nghìn đồng và có thể bị tịch thu một phần tài sản; Phạm tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả có chất độc hại hoặc các chất khác có thể nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng hoặc phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 9 Pháp lệnh này thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân, bị phạt tiền đến một triệu đồng và có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”
“Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả” được quy định trong Pháp lệnh
đã thể hiện một sự thay đổi căn bản về trình độ lập pháp so với Sắc luật số SL/76 Bởi tội phạm đã được quy định tại một điều luật riêng cụ thể, trong đó hành
03-vi buôn bán hàng giả đã được coi là tội phạm và xét tính nguy hiểm cho xã hội, nó tương đương với hành vi sản xuất hàng giả Bên cạnh đó, hàng giả cũng đã được phân định thành nhiều loại với mức độ nguy hiểm khác nhau, chế tài áp dụng với từng loại hàng giả cũng khác nhau
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mới, nổi bật thì Pháp lệnh cũng còn một số hạn chế nhất định Ví dụ, Điều 5 Pháp lệnh quy định: “Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 9 của Pháp lệnh này thì phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân”, mà theo quy định tại Điều 8 của Pháp lệnh có quy định trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thì hình phạt cao nhất là hình phạt tử hình Những quy định này cho thấy tính không nhất quán của pháp luật đối với hành vi phạm tội Pháp lệnh cũng chưa phân định được tội phạm
và những hành vi vi phạm pháp luật khác mà phải áp dụng Nghị định 46/HĐBT ngày 10/5/1983 quy định về việc xử lý bằng biện pháp hành chính các hành vi đầu
cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép Nghị định này đưa ra một số dấu
Trang 20hiệu định lượng và định tính để xác định tội phạm và vi phạm pháp luật bị xử phạt
vi phạm hành chính cụ thể như sau: “Mọi hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả,
kinh doanh trái phép thuộc loại vi phạm nhỏ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự đều bị xử lý bằng các biện pháp hành chính theo quy định của Nghị định này.”
Cũng theo quy định của Nghị định, “vi phạm nhỏ là vi phạm trong trường
hợp giá trị hàng phạm pháp dưới hai vạn đồng, tính chất việc vi phạm không nghiêm trọng, tác hại gây ra cho sản xuất, đời sống nhân dân, trật tự và an toàn xã hội là không nhiều, người vi phạm không có tiền án, tiền sự, khi bị phát hiện không
có hành vi chống đối lại cán bộ, nhân viên làm nhiệm vụ”
Trên thực tế, khi áp dụng pháp luật để xử lý một hành vi làm hoặc buôn bán hàng giả thì các cơ quan chức năng phải căn cứ vào cả hai văn bản này để xác định
có truy cứu trách nhiệm hình sự hay chỉ áp dụng xử lý vi phạm bằng biện pháp hành chính Việc áp dụng pháp luật này phần nào đã gây ra những trở ngại nhất định, không thuận tiện Vì vậy, việc cho ra đời Bộ luật Hình sự là vấn đề cần thiết để quy định cụ thể và khoa học về tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả nói riêng và các tội phạm hình sự nói chung
1.3.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999
Năm 1985, Bộ luật Hình sự Việt Nam đầu tiên và cũng là Bộ luật đầu tiên của nước ta được ban hành Từ đây các tội phạm không còn được quy định riêng lẻ trong các văn bản pháp luật, văn bản dưới luật nữa mà tất cả sẽ được tập hợp lại vào một quyển Bộ luật Hình sự Mỗi một tội phạm và hình phạt đối với tội phạm đó được quy định trong một điều luật riêng và được sắp xếp vào từng nhóm tội khác nhau “Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả” thuộc nhóm “Các tội kinh tế” quy định tại Điều 167 của Bộ luật:
“ 1 Người nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm
Trang 212 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:
a Hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh;
b Có tổ chức;
c Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc danh nghĩa Nhà nước, tổ chức xã hội;
d Hàng giả có số lượng lớn; thu lợi bất chính lớn;
đ) Tái phạm nguy hiểm
e Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình
3 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm tù chung thân hoặc tử hình”
Như vậy, khoản 2 của điều luật không đưa ra thuật ngữ “phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng” mà thay vào đó là các trường hợp cụ thể Về hình phạt, Điều 167 chỉ quy định hai hình phạt: tước đi quyền tự do (phạt tù) và hình phạt tử
hình
Để giải thích thế nào là hàng giả, theo quy định tại Nghị định 140/HĐBT ngày 25 tháng 4 năm 1991 của Hội đồng bộ trưởng Quy định về kiểm tra, xử lý việc
sản xuất, buôn bán hàng giả thì: “hàng giả là những sản phẩm hàng hóa được sản
xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống với những sản phẩm hàng hóa được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường hoặc những sản phẩm hàng hóa không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi công dụng của nó” 10
Điều 4 của Nghị định này cũng quy định những hàng hóa nào có một trong sáu dấu hiệu sau đây thì được coi là hàng giả:
10 Điều 3 Nghị định 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng bộ trưởng Quy định về kiểm tra, xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả
Trang 22Một là, sản phẩm, hàng hóa (kể cả hàng nhập khẩu) có nhãn sản phẩm giả
mạo hoặc nhãn của sản phẩm của một cơ sở sản xuất khác mà không được chủ của nhãn sản phẩm đó đồng ý
Hai là, sản phẩm, hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa giống hệt hoặc tương
tự có khả năng làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa của cơ sở sản xuất, buôn bán khác đã đăng ký với cơ quan bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Cục sáng chế) hoặc đã được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia
Ba là, sản phẩm, hàng hóa mang nhãn không đúng với sản phẩm đã đăng ký
với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng
Bốn là, sản phẩm, hàng hóa ghi dấu phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng Việt
Nam khi chưa được cấp giấy chứng nhận và dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam
Năm là, sản phẩm hàng hóa đã đăng ký hoặc chưa đăng ký chất lượng với cơ
quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng mà có mức chất lượng thấp hơn mức chất lượng tối thiểu cho phép
Sáu là, sản phẩm, hàng hóa có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc,
bản chất tự nhiên và tên gọi, công dụng của nó
Qua những quy định trên đây, hàng giả đã phần nào được làm rõ hơn với những định nghĩa và dấu hiệu cụ thể của nó, có ý nghĩa lớn trong việc áp dụng để phân định hàng giả, hàng thật và hàng kém chất lượng Tuy nhiên việc đưa ra định nghĩa và dấu hiệu này vẫn chưa phản ánh đúng bản chất của hàng giả Hàng giả được chia ra thành hai loại trong đó có giả về hình thức nhưng từ định nghĩa tới dấu hiệu của loại hàng này cho thấy đây không phải là hàng giả mà là hàng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Nghị định có đưa ra mức chất lượng tối thiểu để phân định hàng giả và hàng kém chất lượng nhưng trên thực tế cho thấy không phải bất
cứ loại hàng hóa nào cũng có được quy định mức chất lượng tối thiểu mà đa phần là không có, do vậy việc áp dụng thực tế các quy định này rất khó khăn
Cũng vì để khắc phục những hạn chế ấy mà trong khoảng 15 năm tồn tại, BLHS năm 1985 được sửa đổi, bổ sung 4 lần Trong đó, Điều 167 được sửa đổi, bổ sung hai lần Ở lần sửa đổi, bổ sung năm 1992, Điều 167 được sửa đổi theo hướng
Trang 23tăng mức hình phạt cao hơn và bổ sung đối tượng hàng giả mới là “vật liệu xây dựng, phân bón, thuốc trừ sâu”
Qua hai lần sửa đổi, bổ sung, các loại hàng giả đã được quy định theo hướng ngày càng đa dạng hơn và việc tăng hình phạt lên mức cao hơn càng cho thấy thái
độ của Nhà nước ngày càng nghiêm khắc hơn đối với loại tội phạm này Tuy nhiên, BLHS năm 1985 vẫn chưa được điều chỉnh lại theo nguyên tắc đồng bộ, phù hợp với những thay đổi và sửa đổi khác trong hệ thống pháp luật về kinh tế, về quản lý kinh tế, về tổ chức… Bởi vậy vẫn còn tồn tại nhiều mặt hạn chế cần khắc phục, ví
dụ như: Các chế tài quy định trong BLHS năm 1985 đối với tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả tuy đã xuất phát từ nhu cầu tạo nên một sự tùy nghi nhất định cho việc
áp dụng điều luật trong thực tế để sát hơn với hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống, nhưng còn nhiều trường hợp chế tài xác định tương đối của điều luật quá rộng từ mức thấp nhất đến mức cao nhất Những trường hợp đó đã gây ra những khó khăn trong khâu áp dụng pháp luật, dẫn đến sự tùy nghi của Tòa án, vi phạm nguyên tắc pháp chế, bình đẳng Bên cạnh đó, Bộ luật vẫn chưa đưa ra các tiêu chuẩn để định lượng cũng như định tính để xác định một hành vi làm, buôn bán hàng giả là tội phạm hay vi phạm pháp luật khác Do vậy một người có hành vi làm, buôn bán hàng giả sẽ có ba khả năng có thể xảy ra: bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều
167 BLHS năm 1985; bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 57/CP ngày 31/5/1997 của Chính phủ quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường chất lượng hàng hóa; hoặc có thể bị xử phạt bằng các biện pháp khác như cảnh cáo, tịch thu tài sản
Bởi vậy, để đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của sự phát triển nền kinh tế xã hội và sự phát triển của tội phạm đòi hỏi phải có văn bản pháp luật hình sự phù hợp
và tiến bộ hơn quy định về loại tội phạm này Bộ luật Hình sự năm 1999 ra đời đã giải quyết được yêu cầu trên
1.3.3 Giai đoạn Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực thi hành
Nhận thức được những bất cập vừa nêu trên, khi xây dựng BLHS năm 1999, riêng đối với tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả, Nhà nước ta đã đưa vào Bộ luật nhiều quy định mới phù hợp với tình hình thực tế hơn so với BLHS năm 1985
Trang 24Điều 156 BLHS năm 1999 quy định tội sản xuất, buôn bán hàng giả như sau:
“1 Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới một trăm năm mươi triệu đồng hoặc dưới ba mươi triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 153, 154,
155, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm…”
Thứ nhất, tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả ở BLHS năm 1985 chỉ được
quy định trong Điều 167 Còn loại tội này trong BLHS năm 1999 đã được quy định trong ba điều: Điều 156 quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả; Điều 157 quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Điều 158 quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi Việc tách ra như vậy là hoàn toàn phù hợp vì mỗi loại hàng giả khác nhau sẽ có những tác động và tác hại đến các đối tượng khác nhau, từ đó trách nhiệm hình sự được áp dụng với mỗi loại tội phạm được đúng đắn hơn
Thứ hai, về dấu hiệu của tội phạm có một số quy định khác nhau giữa Điều
167 BLHS năm 1985 và các Điều 156, 157, 158 BLHS năm 1999 như sau:
Điều 167 BLHS năm 1985 không quy định định lượng cụ thể để phân biệt tội phạm với vi phạm pháp luật khác nhằm phân biệt các khung hình phạt Còn ở các Điều 156, 157, 158 BLHS năm 1999 đã quy định vấn đề này Mức định lượng được quy định khác nhau theo tính chất từng hành vi Cụ thể đối với các tội sản xuất, buôn bán hàng giả từ 30 triệu đồng trở lên mới cấu thành tội phạm
Điều 156 BLHS năm 1999 đã quy định định lượng để xác định tình tiết tăng nặng khi xử lý tội phạm Ví dụ: Phạm tội trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng hàng thật có giá trị từ 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm (điểm e khoản 2 Điều 156)
Trang 25Điều 156 BLHS năm 1999 cũng đã kết hợp giữa định lượng và định tính để quyết định hình phạt Ví dụ: Người nào sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ 30 triệu đồng đến dưới 150 triệu đồng hoặc dưới 30 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm
Bên cạnh đó, sự thay đổi dấu hiệu của một số cấu thành cơ bản để phân biệt
cụ thể hơn giữa tội phạm với các vi phạm pháp luật khác đã được quy định trong các Điều 156, Điều 158 BLHS năm 1999 mà Điều 167 BLHS năm 1985 không đề cập đến, thể hiện quan điểm của Nhà nước ta đối với vi phạm pháp luật trước hết phải là giáo dục hoặc xử lý bằng các biện pháp khác rồi mới đến biện pháp hình sự
Sự thay đổi đó là tái phạm hành chính và tái phạm hình sự được coi là các dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội sản xuất, buôn bán hàng giả (khoản 1 Điều 156, khoản 1 Điều 158)
Thứ ba, về hình phạt đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong BLHS
năm 1999 có một số thay đổi so với BLHS năm 1985 như sau: Nhìn chung, hình phạt đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong BLHS năm 1999 ít nghiêm khắc hơn (trừ khoản 4 Điều 157) so với các hình phạt đối với cùng loại tội này quy định
ở Điều 167 BLHS năm 1985 Bên cạnh đó, khác với Điều 167 BLHS năm 1985, các Điều 156, 157 và 158 BLHS năm 1999 ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, tịch thu một phần tài sản hay toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm
Như vậy, so với quy định về tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả tại BLHS năm 1985, quy định trong BLHS năm 1999 có nhiều thay đổi phù hợp hơn trong việc đáp ứng yêu cầu cuộc đấu tranh phòng, chống tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Tuy nhiên, sau hơn 15 năm áp dụng, quy định của BLHS năm 1999 về tội sản xuất, buôn bán hàng giả đã bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường như hiện nay Các tình tiết mang tính định tính như “gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng”, “thu lợi bất chính lớn, rất lớn, đặc biệt lớn”… chưa được hướng dẫn chi tiết nên còn gây nhiều vướng mắc trong quá
Trang 26trình xét xử BLHS năm 2015 được ban hành ngày 27/11/2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2018) đã kế thừa những nội dung cơ bản của BLHS năm 1999 và có những sửa đổi hợp lý hơn về độ tuổi chịu trách nhiệm hình
sự, trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, vấn đề định lượng trong xử lý hình sự, các tình tiết định khung tăng nặng và hình phạt đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả,… Những nội dung mới tiến bộ này của BLHS năm 2015 sẽ được phân tích sâu hơn ở những phần sau của luận văn
Trang 27Kết luận chương 1
Tại Chương 1, qua việc phân tích khái niệm cơ bản về hàng giả, tác giả đã đưa ra khái niệm về tội sản xuất, buôn bán hàng giả Việc quy định tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong Luật Hình sự Việt Nam mang ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ trật tự quản lý kinh tế, quyền lợi người tiêu dùng và các nhà sản xuất, phân phối chân chính Tội sản xuất, buôn bán hàng giả được quy định trong pháp luật hình sự với những chế tài nghiêm khắc sẽ là một trong những “công cụ” góp phần vào sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế, bảo vệ người tiêu dùng và lòng tin của người tiêu dùng đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh; bảo vệ các doanh nghiệp sản xuất hàng thật, phân phối hàng chân chính; từ đó khiến cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước an tâm khi đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam
Bên cạnh đó, tác giả cũng nghiên cứu lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả qua các thời kỳ: Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật Hình sự năm 1985; Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình
sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999; Giai đoạn Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực thi hành Tác giả nhận thấy về cơ bản, pháp luật hình
sự quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả đã vận động và phát triển trên cơ sở tiếp thu, kế thừa và phát triển những giá trị của luật hình sự Việt Nam các giai đoạn trước, qua mỗi thời kỳ lại đánh dấu một bước tiến mới của pháp luật hình sự Việt Nam Bởi vậy, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về sản xuất, buôn bán hàng giả phải được thực hiện bằng cách duy trì, kế thừa các quy định pháp luật còn phù hợp, nhưng cũng cần phải tiến hành sửa đổi các quy định tỏ ra không hợp lý, không thống nhất, rõ ràng; đồng thời bổ sung thêm những quy định còn thiếu nhằm sớm khắc phục những điểm bất cập so với yêu cầu nâng cao hiệu quả xử lý các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả cũng như công tác đấu tranh phòng chống nạn sản xuất, buôn bán hàng giả
Trang 28Chương 2:
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ TỘI SẢN
XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ 2.1 Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội sản xuất, buôn bán hàng giả
2.1.1 Dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất, buôn bán hàng giả
2.1.1.1 Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị xâm hại được luật hình sự bảo
vệ và bị tội phạm xâm hại 11
Khách thể của từng loại tội phạm cụ thể (còn gọi là khách thể trực tiếp của tội phạm) là quan hệ xã hội cụ thể bị loại tội phạm cụ thể trực tiếp xâm hại Chính
sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại này mà tội phạm xâm hại đến khách thể loại và khách thể chung
Như vậy, khách thể của tội sản xuất, buôn bán hàng giả là các quan hệ xã hội liên quan đến trật tự quản lý kinh tế, trật tự quản lý Nhà nước về sản xuất, lưu thông
và phân phối kinh doanh hàng hóa, đến hoạt động quản lý thị trường, được luật hình
sự bảo vệ và bị hành vi phạm tội xâm hại Khách thể của tội sản xuất, buôn bán hàng giả còn là các quan hệ xã hội liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, sức khỏe, tính mạng con người cùng sự trung thực và lợi ích của người sản xuất kinh doanh hợp pháp và tính ổn định của thị trường
Tội sản xuất, buôn bán hàng giả tại Điều 156 BLHS năm 1999 và tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp tại Điều 171 BLHS năm 1999 có sự khác nhau về khách thể của tội phạm Điều 171 BLHS năm 1999 quy định xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp có nghĩa là người phạm tội vì mục đích kinh doanh mà chiếm đoạt, sử dụng bất hợp pháp sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi, xuất xứ hàng hoá hoặc các đối tượng sở hữu công nghiệp khác đang được bảo hộ tại Việt Nam Vậy để thấy được sự khác biệt về
11 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, tập 2, Nxb Công an nhân dân, 2014
Trang 29khách thể của tội sản xuất, buôn bán hàng giả và tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, chúng ta có thể xét các ví dụ sau đây:
Vụ án 1:
Sáng ngày 25/9, TAND tỉnh Nghệ An đưa vụ án sản xuất, buôn bán, hàng giả do Thân Hữu Phước (sinh năm 1974, trú tại phường 2, quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh) cầm đầu ra xét xử Cùng bị truy tố ra trước pháp luật còn có Lương Thanh Tùng (sinh năm 1982, trú tại phường 12, quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh) và Phạm Văn Độ (sinh năm 1985, trú tại xã Diễn Kim huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An) Thông qua công tác trinh sát và nắm các nguồn tin tố giác của của quần chúng nhân dân, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An đã phát hiện một tụ điểm buôn bán hàng giả tại xã Diễn Kim (Diễn Châu, Nghệ An) Ngày 14/12/2014
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An đã bắt quả tang Phạm Văn Độ đang bán một số mặt hàng tiêu dùng cho nhiều người khác để tiêu thụ ở các huyện Tương Dương, Diễn Châu và Quỳnh Lưu (Nghệ An) Qua đó, cơ quan chức năng thu giữ hàng nghìn sản phẩm như dung dịch vệ sinh Dạ Hương, nước súc miệng Listerine, băng vệ sinh phụ nữ Diana Toàn bộ số hàng trên không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ Thân Hữu Phước khai nhận, do hám lợi nên từ khoảng tháng 4 – 12/2014, Phước đã mua các nguyên liệu trôi nổi trên thị trường rồi trực tiếp chỉ đạo các công nhân trong xưởng sản xuất của mình làm giả một số sản phẩm của các mặt hàng có thương hiệu như dung dịch vệ sinh phụ nữ Dạ Hương, nước súc miệng Listerine, Kem thoa da Cortibion, Lăn khử mùi Nivea Phước đã bán cho Lương Thanh Tùng gần 2.500 sản phẩm để mang tiêu thụ trên thị trường
Hành vi này đã xâm phạm nghiêm trọng đến khách thể là các quan hệ xã hội liên quan đến trật tự quản lý kinh tế, lưu thông và phân phối mặt hàng các sản phẩm trên Bên cạnh đó còn ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng khi sử dụng phải hàng giả không đảm bảo chất lượng Hành vi này lừa dối người tiêu dùng ở chỗ làm cho người tiêu dùng khi mua tưởng là hàng do chính các hãng Dạ Hương, Listerine… sản xuất Căn cứ vào mức độ vi phạm của từng người, HĐXX tuyên phạt Thân Hữu Phước 42 tháng tù về tội “Sản xuất hàng giả” được quy định tại
Trang 30Điều 156 BLHS năm 1999, phạt hành chính Phước 5 triệu đồng; Lương Thanh Tùng bị tuyên phạt 30 tháng tù, Phạm Văn Độ 9 tháng tù cho hưởng án treo về tội
“Buôn bán hàng giả” theo Điều 156 BLHS năm 1999 12
Vụ án 2:
Ngày 21/2/2014, TAND TP Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ Phùng Quốc Quyền (42 tuổi, ngụ quận 11, TP Hồ Chí Minh) về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” theo Điều 171 BLHS năm 1999 Theo cáo trạng, ngày 11/1/2013, Công an quận 11 kiểm tra hành chính cửa hàng kinh doanh mua bán thiết bị vệ sinh Hữu Thành tại số 175 Tạ Uyên, quận 11 do Phùng Quốc Quyền làm chủ Qua kiểm tra, CQĐT phát hiện nơi đây chứa 2.498 sản phẩm phụ kiện, thiết bị vòi nước giả nhãn hiệu “L, INAX” Ngoài ra, dữ liệu lưu trữ trong máy tính của Quyền còn thể hiện trước đó cửa hàng này đã bán ra thị trường 95 sản phẩm thiết bị nhãn hiệu “L, INAX”, trị giá 71 triệu đồng Theo giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa thì nhãn hiệu “L, INAX” đã được công nhận bảo hộ tại Việt Nam Hành vi của Quyền đã xâm phạm đến khách thể của tội này là quyền được bảo hộ về sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam cũng như xâm phạm đến quyền sở hữu nhãn hiệu đó 13
Qua các ví dụ trên có thể thấy, khách thể của tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là quyền bảo hộ về sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa
lý đã được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam Quy định của điều luật nhằm bảo vệ quyền của người sở hữu các nhãn hiệu, chỉ dẫn đã được đăng ký bảo hộ Trong khi đó tội sản xuất, buôn bán hàng giả có khách thể rộng hơn Tội sản xuất, buôn bán hàng giả xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, trật tự quản lý Nhà nước về sản xuất, lưu thông và phân phối kinh doanh hàng hóa, đến hoạt động quản lý thị trường; tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng
12 20150925210347611.html, truy cập ngày 25/4/2017
http://dantri.com.vn/phap-luat/duong-day-san-xuat-buon-ban-hang-gia-quy-mo-lon-linh-an-gan-7-nam-tu-13 http://cand.com.vn/Phap-luat/Bi-phat-50-trieu-dong-vi-xam-pham-quyen-so-huu-cong-nghiep-251925/, truy cập ngày 25/4/2017
Trang 31Về đối tượng của hành vi phạm tội
Đối tượng của hành vi phạm tội (đối tượng tác động của tội phạm) là bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc
đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ 14
Như vậy, đối tượng tác động của tội sản xuất, buôn bán hàng giả là hàng hoá được sản xuất, buôn bán không phải là hàng thật (hàng giả) Như đã phân tích ở chương I về khái niệm hàng giả và phân loại hàng giả, các dấu hiệu và quy định của pháp luật xác định có nhiều loại hàng giả Trong BLHS các loại hàng giả là đối tượng được quy định trong nhiều điều luật, nhiều tội phạm khác nhau Tuy nhiên cần lưu ý:
Đối tượng của Điều 156 BLHS năm 1999 là hàng giả không thuộc đối tượng của các tội quy định tại Điều 157 (hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh) và Điều 158 BLHS năm 1999 (hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi) Như vậy, hàng giả tại Điều 156 là nhóm hàng hóa nói chung trừ những loại hàng hóa quy định tại Điều 157, Điều 158 BLHS năm 1999
Đến BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đối tượng của Điều 192 BLHS là hàng giả không thuộc đối tượng của các tội quy định tại các Điều 193 (hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm), Điều 194 (hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh), Điều 195 (hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi)
Sở dĩ BLHS hiện hành năm 1999 và BLHS năm 2015 đều tách tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm; thuốc chữa bệnh, phòng bệnh; thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi… ra một tội riêng bởi tính chất nguy hiểm của các loại hành vi này có ảnh hưởng nghiêm trọng và trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng và cần có đường lối xử lý khác nhau
14 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, tập 2, Nxb Công an nhân dân, 2014
Trang 32Xét vụ án hai giám đốc câu kết sản xuất thuốc giả chữa bệnh: Nguyễn Anh Văn (34 tuổi, trú tại xã Hạ Long, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh) là Giám đốc Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư LV France Bùi Văn Hiệp (31 tuổi, trú tại xã Trực Mỹ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định) là Giám đốc Công ty cổ phần và thiết
bị y tế HT Hoa Kỳ, đã câu kết với nhau sản xuất hai loại thuốc chữa bệnh giả là thuốc tai biến mạch máu não và thuốc bổ sung kẽm cho trẻ em để bán ra thị trường kiếm lời bất chính Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội, Văn và Hiệp quen biết nhau từ năm 2008 khi buôn bán dược phẩm Tháng 6/2014,
do biết thuốc điều trị và dự phòng tai biến mạch máu não nhãn hiệu Lumbrotine và thuốc bổ sung kẽm cho trẻ em nhãn hiệu Zinc-Kid của Công ty cổ phần Dược phẩm TW3 đang bán chạy trên thị trường, Văn đã bàn với Hiệp tự sản xuất hai loại thuốc trên để bán kiếm lời Hành vi phạm tội của Văn và đồng phạm bị phát hiện vào cuối năm 2014, khi Công an Thành phố Hà Nội kiểm tra Bùi Văn Hiệp đang chuẩn bị giao dịch với một đối tượng tại khu vực vườn hoa trước cổng Trường Đại học Thủy lợi Hà Nội Kết quả kiểm tra cho thấy, Hiệp vận chuyển một thùng cát tông chứa
150 hộp thuốc nhãn hiệu Lumbrotine và 80 hộp thuốc nhãn hiệu Zinc-Kid Cả hai loại thuốc này đều không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc
Ngày 22/4/2016, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã diễn ra phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án trên Sau một ngày xét xử, HĐXX đã tuyên phạt bị cáo Văn 36 tháng tù giam, bị cáo Hiệp 30 tháng tù giam và bị cáo Thanh 18 tháng tù (án treo) về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh” quy đinh tại Điều 157 BLHS năm 1999 15
Trong vụ án trên, thuốc chữa bệnh là mặt hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của người dùng Bởi vậy, việc tách hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh thành một điều luật riêng là để nhấn mạnh tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi này
15 Bản án số: 139/2016/HS-ST về “V/v hai giám đốc câu kết sản xuất thuốc giả chữa bệnh” của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
Trang 33Phân biệt hàng giả về chất lượng và hàng kém chất lượng
Hiện nay, hàng giả và hàng kém chất lượng đang là vấn đề phức tạp có nhiều quan điểm khác nhau trong các cơ quan kinh tế cũng như trong một số cơ quan quản
lý Nhà nước và các cơ quan Tư pháp Do quan điểm thiếu thống nhất nên đường lối
xử lý ở mỗi địa phương, mỗi cơ quan cũng khác nhau Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả đang diễn ra rất phức tạp hiện nay
Hàng giả theo quy định của các văn bản pháp luật hiện hành bao gồm hàng giả về hình thức (giả về kiểu dáng, màu sắc, tên gọi…), hàng giả về nội dung (giả
về chất lượng, công dụng của hàng hóa) và hàng giả cả về hình thức lẫn nội dung
Tuy nhiên, cần chú trọng việc phân biệt hàng giả về nội dung (giả về chất lượng hoặc công dụng) với hàng kém chất lượng, vì đây là vấn đề hiện còn nhiều vướng mắc, gặp lúng túng trong việc xử lý: Nếu là sản xuất, buôn bán hàng giả thì
sẽ bị coi là tội phạm, còn nếu sản xuất, buôn bán hàng kém chất lượng thì hành vi này không bị coi là tội phạm mà được xử lý theo quy định về vi phạm chất lượng hàng hóa
Theo Thông tư liên tịch số 10/2000 ngày 27/4/2000 của Bộ Thương mại, Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 31/1999 ngày 27/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả thì:
- Hàng giả về chất lượng hoặc công dụng (sau đây gọi chung là hàng giả về chất lượng) là:
a) Hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng như bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó
b) Hàng hóa đưa thêm tạp chất, chất phụ gia không được phép sử dụng làm thay đổi chất lượng; không có hoặc có ít dược chất, có chứa dược chất khác với tên dược chất ghi trên nhãn hoặc bao bì; không có hoặc không đủ hoạt chất, chất hữu hiệu không đủ gây nên công dụng; có hoạt chất, chất hữu hiệu khác với tên hoạt chất, chất hữu hiệu ghi trên bao bì
Trang 34c) Hàng hóa không đủ thành phần nguyên liệu hoặc bị thay thế bằng những nguyên liệu, phụ tùng khác không đảm bảo chất lượng so vớI tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa đã công bố, gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sức khoẻ người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường
d) Hàng hóa thuộc danh mục Tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng mà không thực hiện gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sức khoẻ người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường
e) Hàng hóa chưa được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn mà sử dụng giấy chứng nhận hoặc dấu phù hợp tiêu chuẩn (đối với danh mục hàng hóa bắt buộc)
- Hàng kém chất lượng là:
a) Hàng hoá có giá trị sử dụng, công dụng nhưng các chỉ tiêu, thành phần cấu tạo về chất lượng chưa đầy đủ như công bố trên nhãn hàng hoá hoặc quảng cáo, tiếp thị nhưng không gây hại đến sản xuất, sức khoẻ người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường
b) Hàng hoá có một trong các chỉ tiêu chất lượng thuộc danh mục bắt buộc
áp dụng thấp hơn mức chất lượng tối thiểu đã công bố, nhưng không gây hại đến sản xuất, sức khoẻ người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường
c) Hàng hoá có chất lượng thực tế thấp hơn mức ghi trên nhãn hàng hoá hoặc quảng cáo công bố nhưng không gây hại đối với sản xuất, sức khỏe người, động vật, thực vật
d) Hàng hoá cũ tân trang, sửa chữa lại rồi giả mạo hàng mới để lừa dối khách hàng, bán theo đơn giá của hàng mới
e) Hàng hoá đã bị đưa thêm tạp chất hoặc các nguyên liệu khác làm thay đổi định lượng của hàng hoá, nhưng không gây hại đối với sản xuất, sức khoẻ người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường
Hướng dẫn trên đây cho thấy, hàng giả so với hàng kém chất lượng cơ bản không có gì khác nhau, mà chủ yếu nhấn mạnh cơ sở để phân biệt dựa vào yếu tố có gây hại cho sản xuất, gây hại cho sức khỏe người, động vật, thực vật hoặc môi trường Tuy nhiên, trên thực tế cũng có rất nhiều trường hợp hành vi sản xuất, buôn
Trang 35bán hàng giả không gây hại cho sản xuất, gây hại cho sức khỏe người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường (ví dụ: một công ty sản xuất đồng hồ với nhãn hiệu Ý nhưng linh kiện đồng hồ lại được thay thế bằng linh kiện nhập khẩu từ Trung Quốc)
Do vậy, việc phân biệt đối tượng là hàng giả về chất lượng theo Điều 156 BLHS năm 1999 với đối tượng là hàng kém chất lượng cần được xác định trên cơ
sở sau:
- Hàng kém chất lượng là hàng hóa do những công ty, doanh nghiệp được phép sản xuất và đã đăng ký chất lượng sản phẩm hàng hóa với cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước nhưng khi sản xuất, nhập khẩu hàng hóa có vi phạm các tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa đã đăng ký và công bố
- Hàng giả về chất lượng và hàng kém chất lượng đều là loại hàng hóa có mức chất lượng thấp hơn mức chất lượng đã đăng ký và công bố ghi trên nhãn, bao
bì sản phẩm
Như vậy, điểm khác cơ bản giữa hàng giả về chất lượng và hàng kém chất lượng là mức độ thấp hơn tiêu chuẩn đã đăng ký và công bố ghi trên bao bì, nhãn hàng hóa Có nghĩa là cần xác định ranh giới chất lượng thấp đến mức nào thì coi là hàng kém chất lượng và thấp đến mức nào được coi là hàng giả về chất lượng Ranh giới này nếu làm rõ sẽ giúp cho việc phân biệt hàng giả và hàng kém chất lượng có
cơ sở pháp lý nhất định
Phân biệt hàng giả về chất lượng và “hàng nhái”
Bên cạnh việc phân biệt hàng giả về chất lượng với hàng kém chất lượng còn cần phải thống nhất nhận thức về hàng giả và khái niệm “hàng nhái” để có đường lối xử lý phù hợp
Xét theo quy định pháp luật, không có bất cứ văn bản nào quy định về thuật ngữ, khái niệm “hàng nhái” Như vậy, “hàng nhái” không phải là khái niệm có tính pháp lý trong luật nhưng hiện vẫn tồn tại trên sách báo và các bản tin chính thức của các phương tiện thông tin đại chúng Hàng nhái cần được hiểu theo các khía cạnh sau đây:
Trang 36- Hàng nhái (về mặt hình thức) là loại hàng làm theo gần giống về kiểu dáng, mẫu mã, màu sắc, tên gọi,… của loại hàng đã có trên thị trường Loại hàng hóa này
về hình thức dễ gây sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng Ví dụ: Xà phòng với tên gọi Tide thì có loại hàng nhái theo là Tids, nước rửa bát Mỹ Hảo có loại hàng nhái theo
là Vỹ Hảo
- Hàng nhái còn hiểu là loại hàng hóa có tên gọi, kiểu dáng, màu sắc… giống với loại hàng hóa đã có trên thị trường nhưng loại hàng hóa này (hàng thật) đã hết thời gian bảo hộ về nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp Hành vi sản xuất loại hàng hóa này là lợi dụng uy tín sẵn có của loại hàng thật đã được lưu hành để trục lợi nhằm lừa dối người tiêu dùng
- Về chất lượng hàng hóa, nói chung hàng nhái không đảm bảo chất lượng như các loại hàng hóa chính hãng sản xuất
Như vậy, có thể hiểu về bản chất “hàng nhái” phải được coi là hàng giả (ít nhất là giả về hình thức) Do đó, theo nội dung phân tích như trên thì không nên dùng thuật ngữ “hàng nhái” bên cạnh thuật ngữ “hàng giả” bởi dễ đến cách hiểu sai cho rằng “hàng nhái” là loại hàng tồn tại độc lập và không phải là “hàng giả”
Phân biệt hàng giả và hàng hóa được coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo Điều 171 BLHS
Đối tượng là hàng giả tại Điều 156 khác đối tượng tại Điều 171 BLHS năm
1999 Hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả (về hình thức) và hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đều có nội dung giống nhau đó là sử dụng nhãn hiệu hàng hóa giả hay sử dụng trái phép về chỉ dẫn địa lý được in trên nhãn hàng hóa Tuy nhiên đối tượng của Điều 171 là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam, đây là một trong những trường hợp giả về hình thức song không bao quát hết được mọi trường hợp giả về hình thức Như vậy,
sẽ có trường hợp hàng giả của hàng hóa không được đăng ký bảo hộ hoặc giả về hình thức khác thì vẫn thuộc đối tượng của Điều 156 BLHS năm 1999
Cho đến nay, cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thống nhất đường lối xử lý về đối tượng hàng hóa nào được coi là hàng giả về nhãn hiệu
Trang 37và loại hàng hóa nào được coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý Theo quan điểm của tác giả, nếu hàng hóa mang nhãn hiệu của cơ sở sản xuất khác hay vi phạm về chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam nhưng chất lượng hay công dụng của hàng hóa đó tương đương với hàng thật thì chỉ coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và định tội theo Điều 171 BLHS, bởi khách thể trực tiếp bị gây thiệt hại ở đây là quyền sở hữu công nghiệp Còn các trường hợp hàng hóa mang nhãn hiệu của cơ sở sản xuất khác hay vi phạm về chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam nhưng chất lượng hàng hóa không đảm bảo (giả về chất lượng, công dụng) thì phải xử lý về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 BLHS Tuy nhiên, hàng hóa vừa giả về hình thức (nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý), vừa giả về chất lượng thì việc định tội cần được hướng dẫn thống nhất để làm cơ sở phân biệt tội phạm quy định tại Điều 156 và Điều 171 BLHS năm 1999
Bên cạnh đó cũng cần lưu ý: Hàng giả là đối tượng của các tội phạm khác thì người có hành vi sản xuất hoặc buôn bán sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng như: Tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả, séc giả, các giấy tờ
có giá giả khác, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 180 và 181 Bộ luật hình sự
Tuy nhiên, nếu hàng giả lại là đối tượng của các tội phạm quy định tại các Điều 157, 158, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236, và 238 BLHS năm 1999 thì
có nhiều quan điểm khác nhau về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội: Quan điểm thứ nhất cho rằng, người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sản xuất hàng cấm theo Điều 155 BLHS năm 1999 Quan điểm thứ hai cho rằng, người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sản xuất hàng giả theo Điều 156 BLHS năm 1999
Theo quan điểm của tác giả, trong trường hợp này nên xử lý về tội sản xuất hàng cấm theo Điều 155 BLHS năm 1999 Bởi các mặt hàng này nếu làm giả (pháo giả, vũ khí giả…) thì sẽ có tính nguy hiểm cao hơn loại hàng giả lưu thông trên thị trường thuộc Điều 156 BLHS năm 1999
Trang 38Đây chỉ là quan điểm cá nhân của tác giả, nên để áp dụng một cách thống nhất, các cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn cụ thể trong các trường hợp nêu trên, thì truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội về tội gì
2.1.1.2 Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm
Bất cứ tội phạm nào khi xảy ra cũng đều có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài mà con người có thể trực tiếp nhận biết được Đó là: Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành
vi phạm tội (công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội,…)
Tổng hợp những biểu hiện trên đây tạo thành mặt khách quan của tội phạm Như vậy, mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố của tội phạm Không có mặt khách quan thì cũng không có các yếu tố khác của tội phạm và do vậy cũng không
có tội phạm
Hành vi khách quan
Trong mặt khách quan của tội phạm, hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản Những biểu hiện khác của mặt khách quan chỉ có ý nghĩa khi có hành vi khách quan Không thể nói đến hậu quả của tội phạm cũng như những biểu hiện khách quan khác như công cụ, phương tiện, địa điểm, thời gian… khi không có hành vi khách quan
Điều luật quy định hai hành vi khách quan khác nhau, đó là: sản xuất và buôn bán Vì vậy, khi định tội tuỳ vào từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội thực hiện hành vi nào thì định tội theo hành vi đó, mà không định tội hết tất cả hai hành vi được liệt kê trong điều luật Ví dụ: Một người chỉ thực hiện hành vi sản xuất hàng giả thì chỉ định tội là “sản xuất hàng giả”, mà không định tội là “sản xuất, buôn bán hàng giả” Nếu người phạm tội thực hiện cả hai hành vi cùng một đối
Trang 39tượng phạm tội thì định tội là: “sản xuất và buôn bán hàng giả” Các trường hợp trên, Toà án chỉ áp dụng một mức hình phạt
Nếu người phạm tội thực hiện hai hành vi khác nhau đối với hai đối tượng phạm tội khác nhau thì việc định tội có phức tạp hơn Ví dụ: Một người sản xuất
1000 lô khẩu trang hoạt tính giả và buôn bán 500 máy tính CASIO giả, thì người này phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội: tội “sản xuất hàng giả” và tội
“buôn bán hàng giả” Toà án quyết định hình phạt riêng đối với từng tội và áp dụng Điều 50 BLHS để tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội
BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 đều không dùng thuật ngữ “làm hàng giả” như Điều 167 BLHS năm 1985 mà dùng thuật ngữ “sản xuất hàng giả” Việc sản xuất hàng giả là việc tạo ra hàng giả trong đó cũng có sự phân công lao động ra các khâu của quá trình sản xuất, hàng giả làm ra phải trải qua các khâu đó Do vậy
để sản xuất phải có từ hai người trở lên hoặc phải có máy móc và trang thiết bị kỹ thuật số lượng hàng giả làm ra là tương đối nhiều Còn việc “làm” hàng giả là tạo ra sản phẩm giả trên cơ sở bắt chước kiểu dáng, tính năng của một loại hàng hóa nào
đó, người làm hàng giả làm ra nó theo phương pháp thủ công, không có quy trình
kỹ thuật nhất định nào, số lượng hàng giả làm ra là không nhiều Điều 156 BLHS năm 1999 và Điều 192 BLHS năm 2015 quy định như vậy có tính hợp lý hơn, do mục đích của tội phạm là hàng giả làm ra để lừa dối khách hàng nhằm thu lợi bất chính Với mục đích như vậy mà sử dụng thuật ngữ “làm” để chỉ hành vi khách quan của tội phạm này có thể dẫn đến nhầm lẫn với hành vi khách quan của tội phạm khác và cũng có thể là hành vi khác mà không phải tội phạm
Trang 40Hành vi sản xuất hàng giả có thể được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, có thể bằng thủ công hoặc bằng dây chuyền hiện đại với mục đích là lừa dối khách hàng thu lợi bất chính Đối với hành vi này, người phạm tội thực hiện các thủ đoạn sau đây:
Sử dụng các nguyên vật liệu có chất lượng kém để tạo ra những hàng hóa không có giá trị sử dụng đúng với tính năng, công dụng và tên gọi của hàng hóa đó
Ví dụ: Xét vụ việc Nguyễn Thị Thanh Dung (28 tuổi), chủ cơ sở sản xuất mỹ phẩm làm trắng da giả tại TP.HCM đã đầu tư 45 triệu để mua các vật dụng như: xô, chậu, máy trộn, máy ép… cùng các nguyên liệu để sản xuất các sản phẩm “mỹ phẩm cao cấp” giúp làm trắng da Quá trình sản xuất mỹ phẩm giả đơn giản chỉ là việc nhào trộn bột màu, hương liệu và các loại mỹ phẩm mua sẵn ở chợ Bình Tây, sau khi chế biến xong sẽ được đóng hộp với các nhãn hiệu nổi tiếng trên thị trường
16 Trên thực tế, thứ gọi là “mỹ phẩm” này không có tác dụng làm trắng da và không
có giá trị sử dụng đúng với tên gọi của mặt hàng là mỹ phẩm
Bắt chước kiểu dáng, mẫu mã, tên thương mại giống hệt hoặc tương tự với các loại hàng hóa có uy tín trên thị trường
Ví dụ: Ngày 23/2, TAND cấp cao tại Hà Nội đã mở phiên tòa phúc thẩm, xét đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh Dũng về tội "Sản xuất hàng giả" Trước đó, tại phiên sơ thẩm xét xử ngày 14/1/2016, Nguyễn Anh Dũng bị HĐXX TAND Thành phố Hải Phòng tuyên phạt 5 năm tù về tội danh này Tuy nhiên Nguyễn Anh Dũng đã làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt Theo cáo trạng, tháng 3/2013, Nguyễn Anh Dũng (sinh năm 1981, hộ khẩu thường trú tại thôn Ngô Thượng, xã Tiên Nội, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) đã thành lập Cơ sở sản xuất tư nhân Quang Minh, đặt trụ sở, cơ sở sản xuất trên địa bàn xóm 4, thôn Đào Yêu, xã Hồng Thái, huyện An Dương (Thành phố Hải Phòng) để chỉ đạo nhân viên tổ chức sản xuất dép gắn gắn logo, nhãn mác giả các thương hiệu có tính toàn cầu như Nike, Adidas, Puma… Dũng đã có hành vi bắt chước kiểu dáng, mẫu mã và cả tên thương mại của các nhãn hiệu này nhưng giá thành bán ra chỉ 90.000 đồng/đôi, chưa bằng
16 trong-xo-chau-a42740.html, truy cập ngày 22/4/2017