Thực tiễn thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều bất cập, hạn chế, trong đó phải kể đến những bất cập về nhận thức về vai trò của việc bảo
Trang 1LÊ THỊ HỒNG HẠNH
LỒNG GHÉP BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
Trang 2LÊ THỊ HỒNG HẠNH
LỒNG GHÉP BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật Hành chính
Mã số: 60380102
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN VĂN QUANG
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các giảng viên của Đại học Luật
Hà Nội – những người luôn tâm huyết giảng dạy cho lớp cao học Luật niên khoá 2015-2017 Cảm ơn bố mẹ và gia đình đã luôn ủng hộ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để con có thể hoàn thành khoá học và luận văn này Xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Nguyễn Văn Quang, giảng viên Luật Hành chính, Trưởng phòng Hợp tác Quốc tế Trường Đại học Luật Hà Nội, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ dạy tôi trong suốt quá trình làm luận văn Em xin cảm ơn thầy
Luận văn này đánh dấu một bước ngoặt lớn trong cuộc đời và chặng đường nghiên cứu khoa học của bản thân, xin cảm ơn Đại học Luật Hà Nội đã cho tôi cơ hội được gắn bó và cố gắng
Hà Nội, tháng 11 năm 2017
TÁC GIẢ
Lê Thị Hồng Hạnh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Thị Hồng Hạnh
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LĐTBXH Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
LHPNVN Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
CEDAW Convention on the Elimination of all forms of
Discrimination against Women
Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối
xử chống lại phụ nữ
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LỒNG GHÉP BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH 8
1.1 Khái niệm lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh 8
1.1.1 Giới tính, giới, bình đẳng giới, lồng ghép bình đẳng giới 8
1.1.2 Xây dựng luật, pháp lệnh và lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh 14
1.1.2.1 Xây dựng luật, pháp lệnh 14
1.1.2.2 Lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh 17
1.2 Sự cần thiết lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh 20
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh 23
Kết luận chương 1 27
Chương 2 THỰC TRẠNG LỒNG GHÉP BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 28
2.1 Thực trạng pháp luật về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh 28
2.1.1 Quy định pháp luật hiện hành về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh 28
2.1.1.1 Nguyên tắc bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 28
2.1.1.2 Lồng ghép bình đẳng giới trong quy trình xây dựng luật, pháp lệnh 33
Trang 72.1.2 Đánh giá quy định pháp luật hiện hành về lồng ghép bình đẳng
giới trong xây dựng luật, pháp lệnh 51
2.2 Thực tiễn thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh 55
2.2.1 Kết quả đạt được về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh 55
2.2.2 Hạn chế, bất cập về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh 60
2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh 64
Kết luận chương 2 69
Chương 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM LỒNG GHÉP BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH 70
3.1 Quan điểm bảo đảm lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh 70
3.2 Giải pháp bảo đảm lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh 74
3.2.1 Giải pháp về pháp lý 74
3.2.2 Giải pháp về tổ chức thực hiện 79
3.2.3 Giải pháp nâng cao nhận thức về bình đẳng giới 82
Kết luận chương 3 84
KẾT LUẬN 85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bình đẳng giới là mục tiêu cho sự phát triển bền vững của xã hội, là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá sự phát triển của mỗi quốc gia Xuất phát điểm của khái niệm bình đẳng giới chính là kết quả của cả một quá trình lịch sử lâu dài đấu tranh đòi quyền cho người phụ nữ từ những năm cuối thế kỷ XVIII nổ ra ở Pháp Ở thời kỳ này người ta bắt đầu thừa nhận vai trò của phụ nữ trong xã hội, nhìn nhận những thiệt thòi mà phụ nữ phải chịu đựng và đòi quyền lợi cho người phụ nữ Cốt lõi của vấn đề bình đẳng giới chính là sự bình đẳng về
vị thế, cơ hội và các quyền của phụ nữ với nam giới Trên phương diện pháp lý quốc tế, nhiều công ước quốc tế về bảo vệ phụ nữ ra đời để ghi nhận quyền của phụ nữ, toàn diện hơn hết là Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) được Liên Hợp quốc thông qua vào ngày 18 tháng
12 năm 1979 Để có thể đạt được bình đẳng giới thực chất, một trong những biện pháp chiến lược được các quốc gia áp dụng là lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
Ở Việt Nam, lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật mới thực sự được lưu tâm trong khoảng 10 năm trở lại đây, kể từ sau khi có Luật Bình đẳng giới được thông qua năm 2006 Luật này đã chính thức thừa nhận nguyên tắc bảo đảm bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Sự ra đời của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 gần đây đã mở ra bước tiến mới cho hoạt động lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, với nhiều quy định củng cố cơ sở pháp lý cho hoạt động này Việc lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật mà trước tiên là văn bản luật, pháp lệnh có vai trò quan trọng, là
vô cùng cần thiết để có thể xây dựng một hệ thống các quy phạm pháp luật bảo đảm bình đẳng cho nam giới và nữ giới Tuy nhiên, vấn đề lồng ghép bình đẳng
Trang 9giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật vẫn chưa được quan tâm đúng mức Thực tiễn thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều bất cập, hạn chế, trong đó phải kể đến những bất cập
về nhận thức về vai trò của việc bảo đảm lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, những tồn tại trong hệ thống các quy định pháp luật làm cơ sở cho việc thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện lồng ghép bình đẳng giới… Nhận thấy tầm quan trọng của việc lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cùng với mong muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nói chung, và trong xây dựng văn bản luật, pháp lệnh nói riêng, tác giả
đã quyết định lựa chọn đề tài: “Lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật,
pháp lệnh” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ định hướng nghiên cứu của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở bình diện chung, đã có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu về bình đẳng giới và lồng ghép bình đẳng giới trong một số lĩnh vực cụ thể Tuy nhiên vấn đề lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và trong xây dựng luật, pháp lệnh nói riêng vẫn là vấn đề còn khá mới mẻ, chưa được tập trung quan tâm nghiên cứu
Thực tế cho thấy, đến nay mới chỉ có một số bài viết nghiên cứu ở phạm vi hẹp về vấn đề này đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: Nguyễn Văn Huệ
(2007), “Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 10/2007; Đỗ Văn Quân (2009),
“Lồng ghép giới – qua một số tài liệu nghiên cứu tại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu gia đình và Giới số 04/2009; Võ Thị Như Hoa (2016), “Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Ngành
tư pháp”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 05/2016… Các bài viết này đều mới
Trang 10chỉ đề cập tới lồng ghép bình đẳng giới là một nguyên tắc trong xây dựng pháp luật mà chưa đi sâu tìm hiểu, phân tích các nội dung, khía cạnh của vấn đề lồng ghép bình đẳng giới
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta còn rất hạn chế về số lượng, đây
là một lĩnh vực chưa được đầu tư nghiên cứu Đặc biệt kể từ khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực vào ngày 01/7/2016 đến nay, chưa có thêm công trình khoa học nào nghiên cứu về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nói chung và trong xây dựng luật, pháp lệnh nói riêng
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Vấn đề lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng pháp luật nói chung vẫn còn là mới đối với giới nghiên cứu trên thế giới, đặc biệt được quan tâm một cách sâu sắc trong thời gian gần đây
Về sách, cuốn “Mainstreaming gender, democratizing the State”, biên tập
bởi Shirin M Rai, xuất bản dưới sự đặt hàng của Liên hợp quốc, năm 2013, tập hợp nhiều bài viết đề cập tới xu thế dân chủ hóa nhà nước, toàn cầu hóa đặt ra những yêu cầu đối với sự phát triển vai trò của phụ nữ Cuốn sách đề cập tới bài học về lồng ghép bình đẳng giới ở các quốc gia Bắc Âu, Uganda, Hàn Quốc, Li-băng, Úc.v.v
Về tạp chí, bài viết “Resistance to implementing gender mainstreaming in
EU research policy” (2014) của Lut Mergaert và Emanuela Lombardo, đăng
trên tạp chí European Integration online Papers (EIoP), Special issue 1, Vol 18, Article 5, phân tích những sự cản trở đối với việc lồng ghép bình đẳng giới vào
chính sách nghiên cứu của EU Bài viết “Gender mainstreaming in the United States: A new Vision of Equality” của tác giả Melissa Bellitto, tạp chí UCLA
Women’s Law Journal, 22(2), 2015, trình bày về vấn đề lồng ghép bình đẳng giới ở Mỹ trong bối cảnh các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế về giới và bình đẳng
Trang 11giới ngày càng ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật của Mỹ Tác giả coi việc lồng ghép vấn đề giới là một tầm nhìn mới của bình đẳng, nhằm cải thiện những thiếu
sót cố hữu của hệ thống nhân quyền ở Mỹ Bài viết “Mainstreaming gender in the European Union” của Mark A Pollack và Emilie Hafner-Burton, đăng trên
tạp chí Journal of European Public Policy, 7:3, trình bày về vấn đề lồng ghép bình đẳng giới trong 5 chính sách lớn của Liên minh châu Âu bao gồm: Các Quỹ châu Âu, việc làm, phát triển, cạnh tranh, khoa học Qua đó, bài viết làm rõ một khung chiến lược về lồng ghép bình đẳng giới đang được chấp nhận rộng rãi ở châu Âu
Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài cho thấy, lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật vẫn đang là một lĩnh vực mới, nhất là trong lịch sử xây dựng pháp luật của Việt Nam Riêng đề tài lồng ghép bình đẳng giới trong loại văn bản quy phạm pháp luật cụ thể như luật, pháp lệnh là một khía cạnh hết sức mới mẻ, từ trước đến nay chưa được nghiên cứu, phân tích
3 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu
- Các khái niệm có liên quan tới lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh;
- Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh;
- Các quy định của pháp luật hiện hành về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh;
- Thực tiễn thực hiện hoạt động lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng
luật, pháp lệnh ở nước ta hiện nay
Phạm vi nghiên cứu
Với tính chất là một luận văn thạc sĩ luật học theo định hướng nghiên cứu, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực trạng lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng hai loại văn bản quy phạm pháp luật cụ thể là luật
Trang 12và pháp lệnh ở Việt Nam Nội dung lồng ghép bình đẳng giới được Luận văn nghiên cứu trong quy trình xây dựng luật, pháp lệnh với trình tự, thủ tục thông thường, đầy đủ các bước theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, loại trừ trường hợp xây dựng luật, pháp lệnh theo trình tự, thủ tục rút gọn
4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu được một cách có hệ thống một số vấn
đề lý luận về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh; trên cơ sở quan điểm về lý luận, Luận văn phân tích được thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh Thông qua việc đánh giá những ưu, nhược điểm của thực trạng, Luận văn đề xuất được phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật đồng thời kiến nghị được một số giải pháp bảo đảm thực hiện và thực hiện có hiệu quả hoạt động lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh: định nghĩa, nội dung lồng ghép, phương pháp lồng ghép…; chỉ
ra sự cần thiết phải lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này;
- Đánh giá mức độ cụ thể hóa của lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh trong các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành; đánh giá thực tiễn thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh;
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm thực hiện và
nâng cao hiệu quả lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh
5 Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn
Trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luận văn dự kiến sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Trang 13- Phương pháp phân tích tài liệu: Phương pháp này được sử dụng để phân tích các tài liệu thu thập được trên cơ sở đó có những đánh giá khoa học về những ưu điểm, hạn chế của các vấn đề nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng trong cả 3 chương của Luận văn
- Phương pháp thống kê: Bằng phương pháp này, tác giả thu thập được các
số liệu thống kê cần thiết phục vụ cho việc đưa ra các luận chứng khoa học cho việc đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh Phương pháp này được sử dụng trong Chương 2 của Luận văn khi nghiên cứu thực tiễn thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh
- Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để tổng hợp các
số liệu, tri thức có được từ việc phân tích tài liệu, chuyên gia… nhằm đưa ra những luận giải, nhận xét của tác giả về các vấn đề nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng trong chương 2 của Luận văn khi tác giả đưa ra những đánh giá về thực trạng lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để so sánh các vấn
đề nghiên cứu trong nước tại từng thời điểm về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh Từ đó, rút ra bài học và lựa chọn những yếu tố hợp lý, phù hợp để áp dụng trong đề xuất giải pháp bảo đảm thực hiện và nâng cao hiệu quả lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Với trọng tâm nghiên cứu về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh, Luận văn mong muốn có ý nghĩa trong việc là một tài liệu tham khảo góp phần cung cấp cơ sở lý luận cho hoạt động lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nói chung và luật, pháp lệnh nói riêng Đồng thời với những kết quả nghiên cứu thu được sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh trong thực tiễn Tuy nhiên với tính chất của một luận văn thạc sĩ theo định hướng
Trang 14nghiên cứu và vốn hiểu biết còn hạn chế của tác giả, Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót về kiến thức thực tiễn và những hạn chế nhất định Hy vọng rằng Luận văn sẽ thực sự có ý nghĩa trong khoa học pháp lý, là một tài liệu tham khảo có giá trị cho các cơ quan, tổ chức và người học về vấn đề lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh ở Việt Nam
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh;
- Chương 2: Thực trạng lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh ở nước ta hiện nay;
- Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh
Trang 15Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LỒNG GHÉP BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH
1.1 Khái niệm lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh
Bình đẳng giới không còn là khái niệm xa lạ nhưng lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh là vấn đề tương đối mới mẻ về cả lý luận lẫn thực tiễn Trong bối cảnh đó, với số lượng ít ỏi những công trình nghiên cứu trực
lệnh, cần xây dựng và chuẩn hoá một số khái niệm công cụ nhằm làm rõ cả về
1.1.1 Giới tính, giới, bình đẳng giới, lồng ghép bình đẳng giới
Giới tính là một khái niệm được xây dựng từ góc độ sinh học Theo Từ
điển Tiếng Việt, giới tính là: “những đặc điểm chung phân biệt nam với nữ,
“đặc điểm đực và cái trong giới sinh vật, ở người là toàn bộ những đặc điểm riêng biệt tạo nên sự khác nhau giữa nam và nữ, những đặc điểm giải phẫu và
nhau về cách diễn đạt nhưng tựu chung lại giới tính là một khái niệm khoa học
chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học Con người sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính (bẩm sinh), ví dụ như mang thai là đặc điểm giới tính riêng
của phụ nữ Giới tính theo quy định tại Điều 5, khoản 2 Luật Bình đẳng giới
2006 “ chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ”
Giới là thuật ngữ được xây dựng từ từ góc độ xã hội học, chỉ sự khác biệt
giữa nam và nữ về mặt xã hội Nói tới giới là nói tới vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của nam giới và nữ giới trong các quan hệ xã hội iới đề cập đến việc
1Viện Ngôn ngữ học (2003), Hoàng Phê chủ biên, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr.405
2 Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển quốc gia Việt Nam (2002), Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB
Từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội, tr.142
Trang 16phân công lao động, phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong bối
cảnh xã hội cụ thể Quan niệm về giới không đồng nhất, có sự khác nhau ở mỗi
nước, mỗi địa phương, và có thể thay đổi theo thời gian, theo quá trình phát triển kinh tế xã hội Chẳng hạn như theo quan niệm đã hình thành từ rất lâu đời ở nhiều quốc gia, nhiều khu vực trên thế giới, phụ nữ gắn liền với hầu hết các công việc trong gia đình như chăm sóc, nấu ăn, dọn dẹp…; còn nam giới gắn liền với trách nhiệm lao động sản xuất để nuôi gia đình và đảm đương các công việc xã hội Khi sinh ra, con người hoàn toàn chưa có trong bản thân sự phân biệt giới
mà họ dần dần tiếp thu và chấp nhận từ nề nếp của gia đình, quy ước của xã hội
và chuẩn mực của nền văn hoá Một cách khái quát nhất, khái niệm giới được quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Bình đẳng giới 2006: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”
Việc hiểu đúng khái niệm giới tính và giới ảnh hưởng trực tiếp đến việc
hiểu đúng về khái niệm bình đẳng giới Theo từ điển tiếng Việt, “bình đẳng”
Cũng với ý nghĩa này,
có quan điểm cho rằng: “Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống nhau và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới Nam giới và
hiểu bình đẳng giới là nam và nữ ngang hàng nhau về địa vị và quyền lợi trong
xã hội Bình đẳng giới theo nội dung Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân
làm…) mà trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí như nhau, họ có cơ hội bình đẳng để tiếp cận, sử dụng các nguồn lực để mang lại lợi ích cho mình, phát hiện và phát triển tiềm năng của mỗi giới nhằm cống hiến cho sự phát triển của quốc gia Theo Công ước này, bình đẳng giới dựa trên ba nguyên tắc chính: nguyên tắc không phân biệt đối xử, nguyên tắc bình đẳng giới thực chất, và
3
Viện ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên(2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr.68
4Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam (2008), Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong hoạch
định và thực thi chính sách, Hà Nội, tr.6
5 Viẹ t Nam phê chuẩn CEDAW và chính thức trở thành thành viên CEDAW từ na m 1982
Trang 17nguyên tắc nghĩa vụ quốc gia.6 Khi nói tới bình đẳng giới, cần hiểu rằng quyền,
trách nhiệm và cơ hội của nữ giới và nam giới sẽ không phụ thuộc vào việc họ
giữa nam và nữ, mà là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó
Với tính chất phức tạp của vấn đề bình đẳng giới, để hiểu được sâu sắc khái niệm này cần phải hiểu được một số thuật ngữ có liên quan mật thiết, đóng vai
trò bổ trợ cho khái niệm bình đẳng giới, trong đó phải kể tới“vai trò giới”
Vai trò giới thể hiện ở những hoạt động, quyền lợi và trách nhiệm khác
nhau mà xã hội mong chờ nam giới và nữ giới thực hiện trong gia đình và xã hội Ở những nơi có sự phân biệt đối xử giới và bất bình đẳng giữa nam và nữ,
xã hội thường có quan niệm và mong muốn nam giới và phụ nữ có những vai trò tách biệt theo giới tính Chẳng hạn, phụ nữ chuyên làm công việc nội trợ trong nhà, chăm sóc con cái còn nam giới làm việc ở ngoài phạm vi gia đình, tham gia công việc chính quyền, xã hội… do đó, phụ nữ và nam giới cũng sẽ không bình đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng, kiểm soát các nguồn lực cũng như cơ hội ra quyết định trong gia đình và xã hội Vai trò giới thể hiện ở cả ba khía cạnh:
- Vai trò sản xuất: Lao động kiếm sống, sản xuất, có thu nhạ p, làm kinh tế -Vai trò nuôi du ng, tái sản xuất sức lao độ ng: Chăm sóc và tái tạo sức lao động, ví dụ nhu việc nội trợ, việc chăm sóc con cái, chăm nom ngu ời ốm… Đa y
là các việc "không tên", không tạo ra thu nhập và thu ờng do ngu ời phụ nữ phải đảm nhận và ít đu ợc xã hội đánh giá đúng mức
- Vai trò cộng đồng: các hoạt động cải thiẹ n cộng đồng, ví dụ nhu đi thăm hỏi, dự các đám cu ới, công tác hòa giải
6
Phụ nữ nhân quyền Việt Nam, Công ước CEDAW – nguyên tắc không phân biệt đối xử,
https://www.youtube.com/watch?v=8Bv379Q7gcM, ngày truy cập 03/8/2017
7Kate Andrew và Janet Chow (2015), Lồng ghép giới trong quá trình xây dựng chính sách và pháp luật –
Kinh nghiệm của Canada, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề dự án Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật
Trang 18Trong bất cứ vai trò nào, nam và nữ đều phải được coi trọng như nhau, không bên nào nặng hơn bên nào, không phải cứ vai trò sản xuất phải là của nam giới và vai trò nuôi dư ng phải là của nữ giới Vai trò giới thường thay đổi theo thời gian, điều kiện, hoàn cảnh Theo xu thế hiện đại, nam giới và phụ nữ ngày càng chia sẻ với nhau các vai trò và trách nhiệm trong công việc, gia đình và xã hội
Với cách tiếp cận như vậy, bình đẳng giới được thể hiện ở các cấp độ khác nhau: bình đẳng về quyền (vị trí pháp lý và vai trò ngang nhau); bình đẳng về điều kiện, cơ hội tiếp cận các nguồn lực xã hội; bình đẳng về năng lực sử dụng, khai thác các nguồn lực xã hội, bình đẳng trong việc tham gia xây dựng quyết định, chính sách phát triển; bình đẳng trong thụ hưởng các lợi ích và kết quả của
Bình đẳng giới là vấn đề liên quan đến nhân quyền, là một điều kiện tiên quyết
để đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Bình đẳng giới sẽ chỉ là hình thức nếu không tính đến sự khác biệt về giới và giới tính của nam và nữ, nếu chỉ áp dụng các chuẩn mực pháp lý chung đối với nam và nữ mà không tính đến những đặc trưng riêng do giới và giới tính của nam, nữ
Bình đẳng giới được thể hiện trên hai phương diện: Bình đẳng giới về pháp lý
và bình đẳng giới thực chất Bình đẳng giới về pháp lý hay chính là việc bình đẳng
giới đã được thể hiện trong các quy định của pháp luật Theo đó, trong các văn bản quy phạm pháp luật đã có những quy phạm, những điều luật quy định về vấn đề này, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo đảm bình đẳng giới được diễn ra trên thực
tế, ngăn chặn nguy cơ bất bình đẳng giới Bình đẳng giới thực chất tức là bình đẳng
giới đạt được trong thực tế chứ không chỉ dừng lại ở những “quy định trên giấy tờ”
Đó là việc đạt được những mục tiêu bình đẳng giới trong thực tiễn đời sống, thông qua việc triển khai thực hiện các quy định pháp luật Bình đẳng giới về pháp lý và bình đẳng giới thực chất có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại và không thể
8
Giới và lồng ghép giới trong hoạt động của Quốc hội (2009) , NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trang 19tách rời nhau Bình đẳng giới pháp lý là một trong các điều kiện cần để tạo nên cơ
sở cho việc bảo đảm bình đẳng giới thực chất được diễn ra trong thực tiễn đời sống Ngược lại, kết quả bình đẳng giới thực chất sẽ là căn cứ để đánh giá, để nhìn nhận lại các quy định pháp luật hiện hành đã phù hợp, đã đầy đủ chặt chẽ hay chưa, từ đó đưa ra những bài học kinh nghiệm để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật, thông qua hoạt động này bình đẳng giới về pháp lý được củng cố Suy cho cùng, quá trình hoàn thiện bình đẳng giới về pháp lý cũng không nằm ngoài mục tiêu chung là hướng tới việc đạt được bình đẳng giới thực chất, đây là mục tiêu cuối cùng mà mọi biện pháp, mọi chiến lược bình đẳng giới hướng đến
Vì vậy có thể khẳng định bình đẳng giới thực chất là bình đẳng giới dựa trên
cơ sở thừa nhận có sự khác biệt về giới tính và giới giữa nam và nữ để có những biện pháp pháp lý và các biện pháp khác phù hợp nhằm đạt được sự bình đẳng giới
trên thực tế
Phù hợp với tinh thần của Công ước CEDAW, Luật Bình đẳng giới 2006 đã xác định mục tiêu bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình
Trong bối cảnh xã hội hiện nay, không nên bó hẹp quan điểm về bình đẳng giới chỉ là bình đẳng giữa giới nam và giới nữ Quan điểm xuyên suốt về bình đẳng giới thường chỉ coi phụ nữ là trung tâm, bình đẳng giới hiện nay phải được hiểu rộng hơn rằng trong chính mỗi giới cũng phải chú ý tới bình đẳng cho các
cá nhân khác nhau, đồng thời phải quan tâm đến quyền bình đẳng của một số đối tượng tương đối nhạy cảm nhưng càng ngày càng thu hút sự quan tâm của xã hội
Quan điểm về bình đẳng giới cần
10 LGBT là tên viết tắt của cộng đồng những người đồng tính luyến ái nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam (Gay), song tính luyến ái (Bisexual) và hoán tính hay còn gọi là người chuyển giới (Transgender) LGBT thể hiện sự đa dạng của các nền văn hoá nhân loại dựa trên thiên hướng tình dục và bản dạng giới
Trang 20phải được tiếp cận ở góc độ rộng hơn, không chỉ tạo sự công bằng giữa nam và
Trong thời gian gần đây, các quốc gia trên thế giới và tổ chức Liên hợp quốc liên tục ghi nhận nguyên tắc mọi người đều có quyền bình đẳng bất kể thiên hướng tình dục như thế nào, chống hình sự hóa đồng tính, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng của cộng đồng LGBT, xem vấn đề quyền của LGBT là một trong những thách thức của nhân quyền hiện đại … Những động thái đó cho thấy, đã đến lúc cần có sự đổi mới quan niệm về bình đẳng giới Đây là vấn đề sẽ còn gây ra nhiều tranh cãi từ các nhà khoa học, nhưng chúng ta không thể không thừa nhận rằng cộng đồng LGBT đang tồn tại và là một phần trong xã hội, bản thân họ đang chịu rất nhiều sự thiệt thòi, sự kỳ thị… Quan điểm về bình đẳng giới rồi sẽ phải thay đổi để bảo vệ quyền và điều kiện sống cho họ Tuy nhiên, đây không phải là trọng tâm mà luận văn muốn hướng đến, riêng về nội dung này tác giả cho rằng cần bàn luận sâu thêm ở các công trình khác Theo quan điểm cá nhân, bình đẳng giới không chỉ là bình đẳng giữa nam và nữ, mà còn là bình đẳng trong chính giới nam hoặc giới nữ với nhau, quan điểm này có sự tiệm cận với quan điểm bình đẳng giới trên thế giới hiện nay
Từ cách hiểu chung thống nhất về bản chất của bình đẳng giới thực chất,
lồng ghép bình đẳng giới (lồng ghép giới) là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu
bình đẳng giới Đó là viẹ c tính đến nhu cầu và mối quan ta m của nữ giới và nam giới trong quá trình xa y dựng, thực hiẹ n và kiểm tra, giám sát từng chính sách,
Khái niệm lồng ghép giới được đưa ra lần đầu tiên tại Hội nghị quốc tế lần thứ IV về phụ
nữ (Bắc Kinh, 1995) là một khái niệm mới không chỉ đối với Việt Nam, song đã nhanh chóng được chấp nhận như một biện pháp chiến lược của các quốc gia để
https://vi.wikipedia.org/wiki/LGBT
11 https://hongtquang.wordpress.com/2012/06/18/can-thay-doi-quan-niem-ve-binh-dang-gioi/ngày truy cập 05/8/2017
12Justice partnership programme(JPP) Justice initiatives facilitation fund (JFF) (2014), Bọ tài liẹ u Hu ớng dẫn Lồng ghép giới dành cho các t chức phi ch nh phủ hoạt đọ ng trong l nh vực luạ t & tu pháp tại Viẹ t Nam
Trang 21thúc đẩy bình đẳng giới Mục tiêu của lồng ghép giới là đảm bảo cho mọi chính sách, chương trình và dự án khi ban hành đều được cân nhắc dưới góc độ giới nhằm đáp ứng nhu cầu và lợi ích của mọi thành viên trong xã hội và các quyền lợi được phân phối một cách công bằng giữa hai giới
- Lồng ghép bình đẳng giới xuyên suốt: là đu a những u u tiên, nhu cầu của
nam giới và nữ giới một cách hệ thống và rõ ràng vào tất cả cách chính sách, dự
án, co chế và nga n sách Theo đó, bất cứ một chính sách nào của Nhà nước đều phải có tính đến vấn đề bình đẳng giới, cần một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật thống nhất và hoàn thiện các quy định bảo đảm bình đẳng giới thực chất Yếu tố này được thể hiện rõ trong việc lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL
- Xây dựng và thực hiện hành động chuyên biệt về giới nhằm bảo vệ sức
khoẻ sinh sản của nam giới và phụ nữ; và giải quyết những hạ u quả của sự phân biẹ t đối xử giới trong quá khứ hoặc hiện tại bằng cách tăng cu ờng vị thế cho nam giới hoặc nữ giới - thu ờng hay dành cho phụ nữ - đối tu ợng thu ờng gặp nhiều khó khăn ho n về kinh tế, chính trị và xã hội Bên cạnh chiến lược lồng ghép bình đẳng giới xuyên suốt, những chương trình, biện pháp hành động ngắn hạn, dài hạn đóng vai trò quan trọng để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới
Có thể khẳng định, lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh chính là một trong các biểu hiện rõ nét của chiến lược lồng ghép bình đẳng giới xuyên suốt
1.1.2 Xây dựng luật, pháp lệnh và lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh
Trang 22(bao gồm cả bộ luật và luật) được ban hành bởi Quốc hội, có nội dung quy định
về các vấn đề: Tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và cơ quan khác do Quốc hội thành lập; Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến pháp phải do luật định, việc hạn chế quyền con người, quyền công dân; tội phạm và hình phạt; Chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia, ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; Chính sách cơ bản về văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường; Quốc phòng, an ninh quốc gia; Chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước; Hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân; hàm, cấp ngoại giao; hàm, cấp nhà nước khác; huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước; Chính sách cơ bản về đối ngoại; Trưng cầu ý dân; Cơ chế bảo vệ Hiến pháp; Vấn
Pháp lệnh là văn bản quy phạm pháp
luật do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành, có hiệu lực pháp lý thấp hơn Luật,
Luật và pháp lệnh có hiệu lực pháp lý thấp hơn Hiến pháp – đạo luật cơ bản Luật và pháp lệnh chứa đựng những nội dung quy định cơ bản nhất, điều chỉnh mọi lĩnh vực của xã hội Nước ta có một hệ thống VBQPPL tương đối đồ
sộ và trong đó luật, pháp lệnh chiếm vai trò lớn, là tiền đề để các văn bản có hiệu lực pháp lý thấp hơn ra đời
Là điển hình cho nhóm VBQPPL, luật và pháp lệnh mang những đặc điểm đặc trưng của loại văn bản này VBQPPL là văn bản chứa đựng các quy phạm
pháp luật mà những quy phạm đó chính là “quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, t chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà
14 Theo quy định tại Điều 15 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015
15 Theo quy đinh tại khoản 1 Điều 16 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015
Trang 23nước bảo đảm thực hiện”16
Yếu tố này đã khiến cho các VBQPPL, trong đó có luật và pháp lệnh, đều mang những đặc điểm: do chủ thể có thẩm quyền ban hành; nội dung chứa đựng các quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện; được ban hành theo thủ tục, trình tự và hình thức do pháp luật quy định
Xây dựng luật, pháp lệnh mang bản chất của hoạt động xây dựng pháp luật
Một cách khái quát nhất, xây dựng pháp luật là hoạt động ban hành, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ các quy định của pháp luật cho phù hợp với nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội, đó là hoạt động đưa ý chí của Nhà nước, ý
quá trình hoạt động vô cùng quan trọng, phức hợp, bao gồm rất nhiều các hoạt động kế tiếp nhau, liên hệ chặt chẽ với nhau, do nhiều tổ chức và cá nhân có vị trí, vai trò, chức năng, quyền hạn khác nhau cùng tiến hành, nhằm chuyển hóa ý chí của Nhà nước, của nhân dân Việt Nam thành những quy định pháp luật dựa trên những nguyên tắc nhất định và được thể hiện dưới những hình thức pháp lý
xây dựng luật, pháp lệnh là một quá trình hoạt động bao gồm các hoạt động kế tiếp nhau nhằm tạo ra các quy phạm pháp luật Xây dựng pháp luật nói chung và xây dựng luật, pháp lệnh nói riêng là hoạt động mang tính tổ chức rất chặt chẽ, được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định
Luật và pháp lệnh cùng trải qua một quy trình ban hành tương đối giống nhau và quy trình này gồm các khâu, các bước rất chặt chẽ Quy trình ban hành luật, pháp lệnh gồm hai giai đoạn lớn: giai đoạn đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh
và giai đoạn soạn thảo luật, pháp lệnh Trong quy trình đó, việc xây dựng nội dung chính sách và các giải pháp thực hiện chính sách được thực hiện ngay từ
16 Khoản 1 Điều 3 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015
17Nguyễn Minh Đoan (2011), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ ngh a, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 8
18
Nguyễn Minh Đoan, tlđd chú thích 17, tr.13
Trang 24giai đoạn lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; chỉ sau khi chính sách đã được
cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì mới bắt đầu giai đoạn soạn thảo luật, pháp lệnh với nhiệm vụ là “quy phạm hoá” đúng đắn và đầy đủ chính sách cùng các giải pháp thực hiện chính sách đã được phê duyệt
1.1.2.2 Lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh
Lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL nói chung và trong xây
dựng luật, pháp lệnh nói riêng chính là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được
Hay nói cách khác, chính là việc các
chủ thể có thẩm quyền trong quá trình xây dựng VBQPPL hay xây dựng luật, pháp lệnh phải luôn tính đến yếu tố giới, và thực hiện các nội dung lồng ghép bình đẳng giới
Lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng pháp luật là cách thức mà chủ thể
có thẩm quyền phải tiến hành nhằm bảo đảm đưa vấn đề bình đẳng giới vào hệ thống các quy phạm pháp luật, mà trước tiên là những văn bản có hiệu lực pháp
lý cao nhất đó là luật và pháp lệnh Lồng ghép bình đẳng giới tức là phải tính đến nhu cầu và mối quan tâm của nam giới và nữ giới trong quá trình xây dựng pháp luật nhằm xóa bỏ bất bình đẳng giới và giải quyết hiệu quả các yếu tố như định kiến giới, phân công lao động theo giới, nhu cầu giới, phân biệt đối xử về giới… còn tồn tại trong xã hội hiện nay Bất cứ một chính sách nào được thể chế hoá đều phải có tính đến vấn đề giới, nhằm đảm bảo có được những quy định trong luật, pháp lệnh có hiệu quả, tạo ra được môi trường thuận lợi, hài hoà và tạo cơ hội, điều kiện phát triển bình đẳng cho cả nam và nữ Trong suốt quá trình các công đoạn xây dựng luật, pháp lệnh, các chủ thể có liên quan đều phải tính đến yếu tố giới ở trong đó, phải lồng ghép nội dung về bình đẳng giới trong bất cứ một bước nào Theo đó với quy trình xây dựng luật, pháp lệnh
20
Khoản 7 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006
Trang 25gồm rất nhiều các hoạt động liên kết chặt chẽ với nhau, việc lồng ghép bình đẳng giới sẽ phải được bảo đảm tiến hành xuyên suốt với trình tự và mức độ ở mỗi bước là khác nhau
Nội dung lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh bao gồm
Thứ nhất, xác định vấn đề giới và các biện pháp giải quyết trong l nh vực
phân biệt đối xử về giới, khoảng cách giới trong một lĩnh vực, một quan hệ xã
hội cụ thể Phân tích giới là một bộ phận của phân tích chính sách, là việc thu
thập, xử lý thông tin, dữ liệu về thực trạng mối tương quan giữa nam và nữ liên quan đến nhu cầu, cơ hội, điều kiện, năng lực tiếp cận các nguồn lực và thụ hưởng các kết quả, lợi ích từ việc sử dụng, khai thác các nguồn lực trong một lĩnh vực cụ thể, từ đó, xác định được vấn đề giới trong lĩnh vực đó cũng như dự báo được tác động của các chính sách, giải pháp chính sách đối với mỗi giới nhằm đạt được bình đẳng giới ở các cấp độ khác nhau
Theo đó, bằng việc phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành kết hợp với tổng kết số liệu, dẫn chứng phản ánh từ thực tiễn có phân tách theo quan hệ giới, để xác định vấn đề bất bình đẳng giới đang tồn tại, hay đang
có sự phân biệt đối xử về giới trên các lĩnh vực đời sống xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của luật, pháp lệnh Từ đây, xác định các nguyên nhân gây ra vấn đề giới và đề ra những biện pháp và phương án giải quyết cụ thể
Thứ hai, dự báo tác động của các quy định trong luật, pháp lệnh khi được ban hành đối với nữ và nam Dựa trên cơ sở việc thu thập, phân tích, đánh giá
theo định tính và định lượng các thông tin, nội dung dữ liệu cụ thể và phản ánh của nhận thức, thái độ xã hội đối với việc lồng ghép đó…để đưa ra những dự báo tác động chính xác, nhất là liên quan đến tác động về vị trí, vai trò của mỗi
21 Theo quy định tại Điều 21 của Luật Bình đẳng giới năm 2006
22Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ (NCFAW) (2008), Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong hoạch
định chính sách và thực thi chính sách, Hà Nội
Trang 26giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; đến điều kiện tham gia đóng góp năng lực, phát huy khả năng và thụ hưởng từ các nguồn lực của xã hội
và quá trình phát triển Bất cứ một quy định nào, ngay trong khâu lên ý tưởng xây dựng đã phải xem xét có yếu tố giới ở trong đó hay không, liệu có làm xuất hiện bất bình đẳng giới hay không, có tác động như thế nào đến cả hai giới nam
và nữ…
Thứ ba, xác định trách nhiệm và nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong phạm vi luật, pháp lệnh điều chỉnh Để đảm bảo những nguồn lực về tài chính và
con người trong quá trình lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp
lệnh cần phải xác định trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ
chức, cá nhân trong xã hội
Phương pháp lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh là
cách thức để chủ thể có thẩm quyền tiến hành thực hiện việc lồng ghép các nội dung trên đây trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh Căn cứ vào tiêu chí chính sách cụ thể của luật, pháp lệnh, có thể phân định phương pháp lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh bao gồm: lồng ghép trực tiếp và lồng ghép gián tiếp
Lồng ghép bình đẳng giới trực tiếp: đây là phương pháp được áp dụng trong trường hợp xây dựng các chính sách liên quan trực tiếp đến giới, bình đẳng giới, chẳng hạn chính sách bình đẳng giới trong Luật bình đẳng giới; chính sách nghỉ thai sản cho người lao động, chính sách nghỉ hưu cho người lao động trong
Bộ luật lao động… Đối với những chính sách này, vấn đề giới, yếu tố giới và bình đẳng giới rất rõ ràng và dễ nhận diện Sản phẩm của phương pháp lồng ghép bình đẳng giới trực tiếp sẽ là các quy phạm pháp luật quy định rất cụ thể về bình đẳng giới, về chính sách đối với nam, đối với nữ
Lồng ghép bình đẳng giới gián tiếp: phương pháp này được áp dụng trong các trường hợp xây dựng các chính sách không trực tiếp liên quan đến giới, bình đẳng giới nhưng những chính sách này được dự báo có gây ra tác động đến giới
Trang 27Sản phẩm của phương pháp lồng ghép bình đẳng giới gián tiếp là những quy phạm pháp luật không đề cập tới bình đẳng giới, tới giới tuy nhiên những quy định này đều đã dự liệu được tác động đối với giới từ trong quá trình đề xuất, soạn thảo Chẳng hạn như lĩnh vực xây dựng, tưởng chừng không hề liên quan đến giới, tuy nhiên những quy định về độ cao của bậc cầu thang, mặc dù về mặt câu chữ không hề có giới ở đó nhưng để có được quy định chi tiết này, đã phải tính đến sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ về chiều cao, từ đó có được thông
số kĩ thuật hợp lý để đảm bảo cả nam và nữ đều có thể sử dụng thuận tiện những bậc cầu thang này
Dù là lồng ghép bình đẳng giới trực tiếp hay gián tiếp, để có thể nhận diện được vấn đề giới, dự báo được tác động của chính sách đối với giới, xác định được trách nhiệm và nguồn lực giải quyết vấn đề giới trong phạm vi luật, pháp lệnh điều chỉnh, các cá nhân, chủ thể có liên quan phải trả lời rất nhiều những câu hỏi mang tính chuyên môn, kỹ thuật được xây dựng bởi những chuyên gia về giới và xây dựng pháp luật Trong phạm vi luận văn này, tác giả sẽ không đi sâu phân tích kỹ thuật xác định vấn đề giới, kỹ thuật dự báo tác động của chính sách,
kỹ thuật xác định trách nhiệm và nguồn lực giải quyết vấn đề giới Luận văn chỉ làm sáng tỏ về mặt nhận thức đối với phương pháp lồng ghép và sản phẩm đầu
ra của phương pháp này
Lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL vừa là nguyên tắc, vừa
là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới thực chất trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
1.2 Sự cần thiết lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh
Quá trình xây dựng VBQPPL luôn hướng đến mục đích cuối cùng là tạo ra những văn bản chất lượng, làm nên một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất
và hoàn thiện Việc lồng ghép bình đẳng giới trong quá trình xây dựng VBQPPL nói chung và xây dựng luật, pháp lệnh nói riêng là hoạt động có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là yêu cầu khách quan trong tiến trình bảo đảm bình đẳng giới của
Trang 28mỗi quốc gia Sự cần thiết phải lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh được thể hiện ở những khía cạnh sau đây
Thứ nhất, do những đặc trưng riêng khác nhau khách quan của mỗi giới nên việc chịu tác động của mỗi giới từ cùng một chính sách pháp luật là rất khác
sinh học rất khác nhau mà còn có những trải nghiệm và kinh nghiệm sống khác nhau, vì thế họ có nhu cầu, khả năng, mối quan tâm và u u tie n cũng nhu có khả năng đóng góp khác nhau Chính bởi vậy họ cũng chịu tác động khác nhau từ cùng một chính sách phát triển kinh tế - xã hội Mỗi chính sách dù không phân biệt cũng sẽ có tác động riêng biệt lên mỗi giới, do những khác biệt về mặt sinh học, do điều kiện kinh tế - xã hội thực tế khác nhau của nữ giới và nam giới trong xã hội Đây là lý do khách quan dẫn đến việc cần phải lồng ghép bình đẳng giới trong quy trình xây dựng luật, pháp lệnh, cần dự liệu và đánh giá rất kĩ các quy định pháp luật bởi mỗi giới có sự khác biệt đặc thù, điều này có thể ảnh
Thứ hai, cần thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh để kịp thời nhận diện tình trạng bất bình đẳng giới trong các l nh vực khác nhau của đời sống xã hội
Xét ở khía cạnh bảo đảm các quyền con ngu ời của nam và nữ (hay quyền bình đẳng giới), lồng ghép bình đẳng giới chính là cách thức giúp dự liệu và nhận diện tình trạng bất bình đẳng giữa nam và nữ, xác định các nguye n nha n
ga y ra tình trạng bất bình đẳng, từ đó đu a ra những biẹ n pháp can thiẹ p phù hợp Nếu kho ng tiến hành lồng ghép bình đẳng giới sẽ rất có thể dẫn đến nguy cơ không nhạ n ra bất bình đẳng giới và có thể bỏ qua hoạ c kho ng bảo vẹ hiẹ u quả
23 Theo Lương Phan Cừ, Phó chủ nhiệm Uỷ ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội khoá XI, XII Hội
thảo“Ủy ban về các vấn đề xã hội với việc thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới”, Hà Nội, ngày 28 tháng
02 năm 2017
24Quỹ hỗ trợ các sáng kiến tư pháp(2015), Hướng dẫn lồng ghép giới dành cho các t chức xã hội hoạt động
trong l nh vực pháp luật và tư pháp tại Việt Nam, tr.17, 18
Trang 29một hoạt động bắt buộc và phải được đảm bảo thực hiện trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh
Thứ ba, lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh chính là một yếu tố đảm bảo tính khả thi cho luật, pháp lệnh Một trong những tiêu chí để
xác định tính hiệu quả của nền quản trị quốc gia là mọi chính sách đưa ra phải bảo đảm bình đẳng đối với tất cả mọi người, cho cả hai giới, đáp ứng nhu cầu và lợi ích của mọi đối tượng trong xã hội một cách hài hoà; phụ nữ cũng như nam giới đều được tham gia và thụ hưởng một cách bình đẳng từ những chính sách này Để văn bản luật, pháp lệnh có tính khả thi cao, nhất thiết phải đáp ứng được tiêu chí tạo ra môi trường bình đẳng cho cả hai giới nam và nữ Để làm được điều này, vấn đề lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh phải được đảm bảo
Thứ tư, thực tế cho thấy dù đã có rất nhiều nỗ lực để thúc đẩy bình đẳng giới nhưng bất bình đẳng giới vẫn đang còn tồn tại và là cản trở lớn cho sự phát triển Tình trạng bất bình đẳng giới vẫn còn xảy ra trong các lĩnh vực khác nhau
của đời sống xã họ i Ví dụ nhu ở vùng sa u vùng xa, tỉ lẹ ngu ời đàn o ng/ngu ời chồng đứng te n trong các giấy tờ sở hữu tài sản lớn của gia đình cao ho n nhiều
so với phụ nữ/ngu ời vợ, nhiều địa phương phụ nữ vẫn còn không được cho tới trường, không được tiếp cận với giáo dục… Bất bình đẳng giới đu ợc xem là nguye n nha n gốc rễ của đói nghèo, bất co ng xã họ i và cũng là yếu tố cản trở quá trình phát triển và tiến bọ của loài ngu ời Tình trạng bất bình đẳng giới cản trở nam và nữ thực thi hiẹ u quả các quyền của họ trong mọi lĩnh vực của đời sống Bởi vậy, lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh là biẹ n pháp trước tiên để bảo vẹ các quyền con ngu ời của nam và nữ cũng nhu thúc đẩy bình đẳng giới trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã họ i
Mục tiêu của lồng ghép bình đẳng giới suy cho cùng là thu hẹp khoảng cách giới và tiến tới bình đẳng giới thực chất, làm cho cả nam và nữ đều được thụ hưởng một cách bình đẳng các thành quả phát triển của xã hội Từ việc chú trọng đến yếu tố giới trong xây dựng pháp luật sẽ tạo điều kiện cho cả hai giới
Trang 30cùng được tiếp cận bình đẳng những nguồn lực, các cơ hội và lợi ích, phát huy hiệu quả khả năng của mình vào công việc trên mọi lĩnh vực, nâng cao chất lượng cuộc sống của mọi người dân Để đảm bảo được mục tiêu này, việc lồng ghép bình đẳng giới phải được tiến hành trong suốt quy trình xây dựng luật, pháp lệnh từ khâu rà soát, lập đề nghị xây dựng, đánh giá tác động chính sách… tới soạn thảo, thẩm định, thẩm tra và liên quan đến nhiều cơ quan, tổ chức
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh
Việc lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh là vấn đề có
ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần được quan tâm thực hiện Tuy nhiên để tiến hành thành công hoạt động này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Thứ nhất, yếu tố chính trị
Đường lối chính trị của một quốc gia là nhằm bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng một nền kinh tế phát triển, nền dân chủ thực sự Ở Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là điều kiện tiên quyết để bảo đảm nhà nước Việt Nam là nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân Một trong các phương thức để Đảng lãnh đạo Nhà nước môt cách hiệu quả chính là việc Đảng đề ra những chủ trương, đường lối và những chủ trương này sẽ được thể chế hoá, được cụ thể hoá bằng pháp luật của Nhà nước Khi đường lối của Đảng xác định việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới thì chắc chắn việc lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL cũng sẽ được cụ thể hoá trong pháp luật Đường lối chính trị đóng vai trò tiên quyết để từ đó vấn đề bảo đảm bình đẳng giới được cụ thể hoá trong các đạo luật Lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL cũng là một trong các biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới chung của cả quốc gia, không thể nằm ngoài chủ trương mà Đảng đã đề ra
Thứ hai, yếu tố pháp luật
Pháp luật chứa đựng những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung mà các thành viên trong xã hội đều phải tuân thủ Những quy định của pháp luật chính là
Trang 31cơ sở pháp lý để bảo đảm việc lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh Nếu không có những quy định cụ thể về hoạt động lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh thì vấn đề này sẽ rất dễ bị coi nhẹ, thậm chí bị bỏ qua trong quá trình các chủ thể có thẩm quyền tiến hành xây dựng luật, pháp lệnh Thông qua các quy định pháp luật, Nhà nước đã tạo thêm cơ chế để xem xét và lồng ghép các mục tiêu, nguyên tắc bình đẳng giới vào trong VBQPPL mà trước tiên là luật, pháp lệnh (sẽ được trình bày cụ thể ở phần sau) Việc lồng ghép bình đẳng giới được tiến hành bởi chủ thể nào, vào những giai đoạn nào, lồng ghép như thế nào và mức độ ra sao trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh là hoàn toàn phụ thuộc vào quy định của pháp luật Những quy định của pháp luật không chỉ là cơ sở pháp lý mà còn là “kim chỉ nam” mang tính hướng dẫn, định hướng để các chủ thể biết cách thực hiện lồng ghép bình đẳng giới khi tiến hành bất cứ một khâu, một bước cụ thể nào trong quy trình xây dựng luật, pháp lệnh Theo đó, các quy định của pháp luật càng đầy đủ và chi tiết bao nhiêu, hoạt động lồng ghép bình đẳng giới sẽ càng được bảo đảm thực hiện
và dễ dàng thực hiện bấy nhiêu Quy định của pháp luật cũng là cơ sở để phát hiện những sai trái, những vi phạm của các chủ thể có liên quan, từ đó đảm bảo việc lồng ghép bình đẳng giới được diễn ra thực chất và có hiệu quả
Thứ ba, yếu tố con người
Xây dựng VBQPPL nói chung hay luật, pháp lệnh nói riêng là một quá trình phức tạp, trải qua nhiều khâu, nhiều giai đoạn và kết quả của hoạt động này
sẽ là những sản phẩm khoa học pháp lý – những VBQPPL điều chỉnh các quan
hệ xã hội trong mọi lĩnh vực của đời sống Vì thế việc xây dựng một luật, một pháp lệnh có chất lượng, vừa phù hợp với đường lối chủ trương của Đảng, vừa phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân, lại phù hợp với sự vận động phát triển của xã hội luôn là mục tiêu của mọi nhà lập pháp Để đảm bảo thành công cho hoạt động lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh thì yếu tố con người là vấn đề then chốt
Trang 32Một là, nhận thức về tầm quan trọng của việc lồng ghép bình đẳng giới
trong công tác xây dựng luật, pháp lệnh Bảo đảm lồng ghép vấn bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhưng không phải ai cũng biết và hiểu về vấn đề này Điều đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu vẫn là trong cách suy nghĩ và nhìn nhận đã ăn sâu vào tiềm thức của chủ thể, đối tượng có liên quan Có thể khẳng định rằng, chỉ có thể đạt được bình đẳng giới nếu toàn thể xã hội nhận thức và hành động trên tinh thần trách nhiệm chung vì mục tiêu bình đẳng giới Khi các chủ thể có trách nhiệm xây dựng luật, pháp lệnh nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích của việc lồng ghép giới, đương nhiên lồng ghép bình đẳng giới sẽ được chú trọng thực hiện trong toàn bộ quá trình xây dựng luật, pháp lệnh Ngược lại, khi vấn đề này không được nhìn nhận đúng đắn về vai trò cần thiết, việc thực hiện lồng ghép bình đẳng giới chỉ mang tính hình thức, không đảm bảo được bình đẳng giới thực chất
Hai là, về trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ trong quá trình thực hiện
công tác lồng ghép bình đẳng giới Thực tế chỉ ra rằng khi các cá nhân, các chủ thể đảm nhiệm bất cứ một khâu nào trong cả quy trình xây dựng luật, pháp lệnh
có năng lực chuyên môn tốt, và trình độ hiểu biết cơ bản về giới, bình đẳng giới
và phương pháp lồng ghép bình đẳng giới chắc chắn sẽ cho ra đời những văn bản đảm bảo các mục tiêu về bình đẳng giới Ngược lại, nếu có kiến thức trình độ chuyên môn không tốt, lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật sẽ không hiệu quả và tất nhiên dẫn đến hậu quả không mong muốn là văn bản luật, pháp lệnh ra đời không đảm bảo chất lượng và không đạt được mục tiêu bình đẳng giới
Bên cạnh đó, việc tham gia của nhân dân, các tổ chức, nhất là các đội ngũ các nhà khoa học, chuyên gia về lồng ghép bình đẳng giới có tác động quan trọng đến hoạt động này Các chuyên gia, nhà khoa học là những người có khả năng phát hiện, nhận diện và xác định đúng đắn nhu cầu điều chỉnh pháp luật trong từng lĩnh vực cụ thể Với kiến thức và năng lực xử lý các vấn đề chuyên môn về lồng ghép bình đẳng giới, họ có thể hỗ trợ cho cơ quan nhà nước có
Trang 33thẩm quyền trong việc phân tích, đánh giá sâu sắc các nội dung về bình đẳng giới cần điều chỉnh trong các dự thảo luật, pháp lệnh
Thứ tƣ, các yếu tố khác
Việc lồng ghép bình đẳng giới có thực sự đạt hiệu quả cao hay không phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn lực cụ thể về nhân lực, vật lực, tài chính… các yếu tỗ hỗ trợ cụ thể đối với từng dự thảo luật hay pháp lệnh Các yếu tố về kinh
tế, văn hoá – xã hội có những ảnh hưởng nhất định tới việc lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh tại những thời điểm nhất định Vấn đề hội nhập quốc tế với sự tham gia những điều ước quốc tế cũng là một yếu tố chi phối
và ảnh hưởng đến pháp luật trong nước Bên cạnh đó, sự cam kết có trách nhiệm
rõ ràng, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo trong hoạt động lồng ghép bình đẳng giới; hay việc chú trọng vị trí và sử dụng đúng nguồn lực thích hợp của Hội LHPNVN, Ban vì sự tiến bộ phụ nữ…; đồng thời một môi trường thuận lợi, không khí thi đua và các hình thức khuyến khích cá nhân, tập thể làm việc trên tinh thần trách nhiệm giới và công tác kiện toàn bộ máy, cơ cấu tổ chức… cũng ảnh hưởng không nhỏ để tạo thuận lợi cho lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh
Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh là rất cần thiết Để giải quyết những vấn
đề bất bình đẳng giới cần nỗ lực của nhiều bên Lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh kho ng chỉ là nhiẹ m vụ của rie ng các co quan quản lý nhà nước hay các cơ quan lập pháp mà là nhiẹ m vụ chung của tổ chức và cá nha n trong đó có các tổ chức dân sự Trong những na m gần đa y, sự ra đời và phát triển mạnh của các tổ chức xã hội hoạt động trong lĩnh vực luật và tu pháp
đã chứng tỏ vai trò tiên phong của các tổ chức này trong viẹ c bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và nam giới trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Sự phối hợp này giúp lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh có thêm nhiều tiếng nói phản biện, nhiều ý kiến tham vấn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động này
Trang 34Kết luận chương 1
Chương 1 của Luận văn đã đi sâu tìm hiểu các khái niệm về giới tính, giới, bình đẳng giới, lồng ghép bình đẳng giới và đặc biệt là lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh Những vấn đề cơ bản về định nghĩa, đặc điểm, nội dung lồng ghép và phương pháp lồng ghép bình đẳng giới đều đã được làm sáng tỏ Trên cơ sở đó luận văn đã khẳng định sự cần thiết của lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh nhằm tạo ra những văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng, khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới còn đang tồn tại, bảo đảm bình đẳng giới thực chất được diễn ra Chương 1 của Luận văn cũng
đã chỉ rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh, bao gồm yếu tố về chính trị, yếu tố pháp luật, yếu tố con người và một số yếu tố khác Tất cả những nội dung này làm nền tảng lý luận để giải quyết những vấn đề cụ thể trong Chương 2 và 3 của Luận văn
Trang 35Chương 2
THỰC TRẠNG LỒNG GHÉP BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG
XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1 Thực trạng pháp luật về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh
Lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh là vấn đề quan trọng, có ý nghĩa, theo đó các quy định của pháp luật phải tạo ra cơ chế thực hiện hoạt động này Tìm hiểu pháp luật hiện hành của vấn đề này giúp chúng ta nhìn nhận được những tích cực, hạn chế trong các quy định pháp luật Những đánh giá mang tính chủ quan này sẽ góp phần vào mục tiêu chung bảo đảm thực hiện
và nâng cao hiệu quả lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh
2.1.1 Quy định pháp luật hiện hành về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh
2.1.1.1 Nguyên tắc bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Để bảo đảm vấn đề bình đẳng giới được lồng ghép trong xây dựng luật, pháp lệnh, yêu cầu khách quan không thể thiếu là phải có một hệ thống quy định pháp luật hoàn thiện, đồng bộ Ở Việt Nam, Nhà nước ta ngày càng quan tâm đến công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cũng như quan tâm đến lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong các văn bản quy phạm pháp luật Theo đó nội dung này không chỉ có trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên mà còn được quy định trong Hiến pháp năm 2013, Luật Bình đẳng giới năm
2006 và đặc biệt là Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 cùng các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành…
Bình đẳng giới là vấn đề chung của toàn nhân loại, Liên hợp quốc đã xác định rõ một trong các mục tiêu hành động của mình là phấn đấu thực hiện bảo
đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ: “… khuyến khích phát triển sự tôn trọng
Trang 36các quyền con người và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo” (Điều 1 Hiến chương
Liên hợp quốc) Quyền bình đẳng này tiếp tục được khẳng định và ghi nhận
trong Điều 2 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền: “Mọi người đều được hưởng các quyền tự do nêu trong bản tuyên ngôn này, không có bất kỳ sự phân biệt đối
xử nào về màu da, giới tính, tôn giáo, chính kiến hay quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, giống nòi hay các tình trạng khác” Các công ước quốc tế
liên quan đến bình đẳng giới mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia như: Công ước quốc tế về loại bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước quốc tế về quyền của trẻ em; Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị; Cương lĩnh hành động Bắc Kinh 1995… Công ước CEDAW đã có nhiều nội dung cam kết của các quốc gia thành viên về đảm bảo quyền bình đẳng giới, trong đó tại Điều 2 Công ước quy định:
“các quốc gia thành viên phải thể hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ trong hiến pháp quốc gia hoặc trong các văn bản pháp luật thích hợp khác nếu như việc này chưa được thực hiện và bảo đảm việc thực hiện nguyên tắc này một cách thực tiễn qua pháp luật và những biện pháp thích hợp khác” Quy định này được
hiểu là vấn đề bình đẳng giới phải được quy định trong hiến pháp mỗi quốc gia
và trong các văn bản pháp luật, do đó việc cần lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật là yêu cầu tất yếu Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 có quy
định: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện
để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới” (Điều 26) Không phải đến Hiến pháp 2013 mới có
quy định về bình đẳng giới, nội dung này đã có sự kế thừa từ những bản Hiến pháp trước đây Đặc biệt, nếu trong Hiến pháp năm 1992, Điều 63 chỉ quy định
Trang 37nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ
nữ, thì Hiến pháp năm 2013 quy định “nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”
(Điều 26) Tức là đã thay đổi quan niệm và cách tiếp cận về bình đẳng giới, từ chỉ bình đẳng với giới nữ sang bình đẳng với cả giới nam và giới nữ Chủ thể và nội dung quyền bình đẳng về giới, do vậy, được mở rộng và làm sâu sắc hơn Theo Điều 26, công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt; Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội;
điểm của Nhà nước trong việc bảo đảm bình đẳng giới luôn được chú trọng trong đạo luật cơ bản của nước ta Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các chính sách và văn bản pháp luật của Nhà nước triển khai các quy định về bảo đảm bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong quá trình xây dựng VBQPPL, chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội có
ý nghĩa quan trọng, tạo tiền đề pháp lý để thực thi bình đẳng giới trên thực tế Luật Bình đẳng giới được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ X ngày 29/11/2006 Ngày 12 tháng 12 năm 2006, Chủ tịch nước đã ký Lệnh công
bố số 18/2006/L-CTN, theo đó, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 Đây là VBQPPL đầu tiên của nước ta điều chỉnh một cách trực tiếp các quan hệ giới nhằm xác lập bình đẳng giới, là sự tiếp tục phát triển, hoàn thiện tư tưởng pháp luật về quyền bình đẳng nam nữ Luật Bình đẳng giới là công cụ pháp lý quan trọng để xóa bỏ sự phân biệt đối xử về giới và khắc phục những khoảng cách giới bằng cách quy định những biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, đặc biệt là việc áp dụng các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong các lĩnh vực còn tồn tại sự phân biệt giới và khoảng cách giới, xác lập bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình
26 phu-nu-theo-tinh-than-Nghi-quyet-Dai.aspx
Trang 38http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren-duong-doi-moi/2016/39912/Bao-dam-quyen-cua-Luật Bình đẳng giới 2006 đã xác định các nguyên tắc về bình đẳng giới Những nguyên tắc này là sự chuyển hoá các nguyên tắc cơ bản của CEDAW với tinh thần triệt để và đầy đủ nhất, có ý nghĩa chỉ đạo và quán triệt mọi quy phạm pháp luật của tất cả văn bản các luật khác trên mọi lĩnh vực, thể hiện quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật Bình đẳng giới là “nội luật hóa những quy định phù hợp trong các Công ước quốc tế về quyền con người, đặc biệt là Công ước Liên
các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới: “…Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật” (Khoản 5 Điều 6 Luật Bình
đẳng giới 2006)
Nguyên tắc này đòi hỏi khi xây dựng, sửa đổi, bổ sung VBQPPL cần phải
rà soát các văn bản hiện hành để sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới văn bản bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới Luật Bình đẳng giới
2006 đòi hỏi các văn bản pháp luật khác phải đáp ứng được các nguyên tắc cơ
bản của bình đẳng giới: “Việc xây dựng, sửa đ i, b sung các văn bản quy phạm pháp luật trong mọi l nh vực đòi hỏi phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới”, và ngược lại, “các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới là căn
cứ pháp lý quan trọng để rà soát, sửa đ i, b sung các văn bản quy phạm pháp luật” ( Xem Điều 20)
Pháp luật bình đẳng giới quy định “Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới” (khoản 7, Điều 5, Luật bình đẳng giới năm 2006) Để thực hiện
tốt biện pháp bảo đảm bình đẳng giới này, cần phải rà soát, đối chiếu và xem xét những quy phạm pháp luật cần phải sửa đổi, nghiên cứu phát hiện những lĩnh vực mà pháp luật chưa ghi nhận quyền cho người phụ nữ và sự cần thiết phải ban hành các quy phạm điều chỉnh vấn đề này
27
Tờ trình Quốc hội về Dự án Luật Bình đẳng giới (2006)
Trang 39Nguyên tắc này cũng đã được cụ thể hóa ở một số văn bản hướng dẫn Luật này như: Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 của Chính phủ quy định
về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới; Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 04/6/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới
Sau quá trình nghiên cứu, khảo sát và tổng kết đánh giá thực tiễn thực hiện việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL trên tinh thần Luật bình đẳng giới năm 2006 và Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 đã bộc lộ những hạn chế khi một số quy định của hai văn bản này chưa thống nhất về nội dung, có sự vênh nhau giữa quy định pháp luật và việc thi hành trên thực tế, quy định chưa rõ về trách nhiệm tiếp thu, chỉnh lý dự thảo VBQPPL của các chủ thể thực hiện lồng ghép giới… điều này khiến cho các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới còn nhiều lúng túng và mang tính hình thức Nhằm khắc phục những bất cập trên, với ý nghĩa là “Luật
về làm luật” Luật Ban hành VBQPPL 2015 “đã có tính giới” hơn Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 được Quốc hội khoá XIII thông qua tại kỳ họp thứ IX ngày 22/6/2016, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016 đã có quy định cụ thể việc bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong VBQPPL là một nguyên tắc xây dựng VBQPPL với nhiều quy định về vấn đề này đã góp phần khẳng định và nâng cao hơn nữa vai trò, tầm quan trọng của lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật
Tại Điều 3 Luật ban hành VBQPPL năm 2008 quy định các nguyên tắc xây dựng VBQPPL, đến Luật năm 2015, tại Điều 5 quy định thêm một số nguyên tắc xây dựng VBQPPL đó là:
- Bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện; lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật; bảo
đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính;
- Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường;
Lần đầu tiên, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới đã được ghi nhận trong Luật Ban hành VBQPPL thành một nguyên tắc Đây là điểm mới của luật hiện hành
Trang 40nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, định hướng nội dung, quy trình lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, đây là điểm mới tiến bộ so với quy định của Luật Ban hành VBQPPL 2008
Luật 2015 đã mở rộng phạm vi các VBQPPL có nội dung lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, không chỉ đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết (Điều 47 Luật ban hành VBQPPL năm 2008), mà còn bổ sung đến các loại văn bản: Nghị định của Chính phủ; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Từ những quy định này, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới đã trở thành một khâu bắt buộc trong quy trình xây dựng VBQPPL, thậm chí được nâng lên thành một nguyên tắc bắt buộc trong bảo đảm bình đẳng giới và trong xây dựng pháp luật Việc đưa vấn đề này thành một quy phạm nguyên tắc hoàn toàn phù hợp với yêu cầu về việc lồng ghép giới trong quá trình lập pháp đã được ghi nhận trong Cương lĩnh hành động Bắc Kinh 1995, các mục tiêu phát triển thiên niên
kỷ, mục tiêu phát triển bền vững và Công ước CEDAW
2.1.1.2 Lồng ghép bình đẳng giới trong quy trình xây dựng luật, pháp lệnh
Ngoài các quy định mang tính nguyên tắc chung về ban hành, Luật Ban hành VBQPPL 2015 đã bổ sung các quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình lập pháp, đặc biệt quy định trách nhiệm của một số cơ quan trong việc xác định giới, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới; hoàn thiện các quy định về nội dung, quy trình, thủ tục, hồ sơ lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong toàn bộ quá trình xây dựng VBQPPL, bắt đầu từ giai đoạn đề nghị xây dựng chương trình, phân tích chính sách cho đến giai đoạn soạn thảo, thẩm định, thẩm tra và thông qua dự án, dự thảo Quy định lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng luật, pháp lệnh được kết cấu chặt chẽ theo quy trình xây dựng luật, pháp lệnh
Có thể dễ nhận thấy là, Luật Ban hành VBQPPL 2015 đã có một quy định mới tách bạch giữa quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo văn