Điều 2 của Công ước số 29 quy định “các công việc hoặc dịch vụ mà một người buộc phải làm do một quyết định của Tòa án, với điều kiện là công việc hoặc dịch vụ đó phải tiến hành dưới sự
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-
THÁI THANH BÌNH
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC: THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRONG MỘT SỐ TRẠI GIAM HIỆN NAY
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-
THÁI THANH BÌNH
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC: THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRONG MỘT SỐ TRẠI GIAM HIỆN NAY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Thái Thanh Bình
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC 7
1.1 Nguồn gốc lao động cưỡng bức 8
1.2 Khái niệm và đặc điểm của lao động cưỡng bức 11
1.2.1 Khái niệm lao động cưỡng bức trong pháp luật quốc tế 11
1.2.2 Khái niệm lao động cưỡng bức trong pháp luật Việt Nam 14
1.3 Dấu hiệu nhận diện và phân loại lao động cưỡng bức 18
1.3.1 Dấu hiệu nhận diện lao động cưỡng bức 18
1.3.2 Phân loại lao động cưỡng bức 24
1.4 Những trường hợp ngoại lệ của lao động cưỡng bức 28
1.5 Mục đích, ý nghĩa và trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong việc xóa bỏ lao động cưỡng bức 33
Chương 2.TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI PHẢI CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ TẠI TRẠI GIAM 38
2.1 Tiêu chuẩn lao động quốc tế của người phải chấp hành án phạt tù tại trại giam 38
2.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về lao động của người phải chấp hành án phạt tù tại trại giam 43
2.2.1 Điều kiện về thủ tục thi hành án phạt tù và lao động cải tạo tại trại giam 44
2.2.2 Chế độ lao động của người phải chấp hành án phạt tù tại trại giam 48
2.2.3 Chế độ theo dõi, giám sát lao động của người phải chấp hành án phạt tù tại trại giam 54
Trang 5nhân dưới quyền sử dụng của những tư nhân, công ty hoặc hiệp hội tư nhân 55
Chương 3.THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI PHẢI CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ TẠI TRẠI GIAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
PHÒNG, CHỐNG LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC 57
3.1 Tình hình phạm nhân trong các trại giam ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra 57
3.2 Thực tiễn lao động của người phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam 62 3.2.1 Về chế độ lao động của người phải chấp hành hình phạt tù tại các trại giam 62
3.2.2 Thực tiễn giám sát, kiểm sát hoạt động lao động cải tạo của phạm nhân tại trại giam 68
3.3 Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về phòng chống lao động cưỡng bức đối với phạm nhân 71
3.3.1 Đối với Bộ Luật Lao động 71
3.3.2 Đối với Bộ Luật hình sự 72
3.3.3 Đối với Luật Thi hành án hình sự 75
3.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và phòng, chống lao động cưỡng bức đối với phạm nhân 77
3.4.1 Nâng cao nguồn lực con người 78
3.4.2 Giải pháp cải thiện, nâng cao điều kiện, cơ sở vật chất, môi trường sinh hoạt và lao động của phạm nhân, bảo hộ lao động đối với phạm nhân 78
3.4.3 Giải pháp về tổ chức, thực hiện 80
KẾT LUẬN 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤC LỤC: DANH SÁCH CÁC TRẠI GIAM
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cưỡng bức lao động là hành vi xâm phạm quyền cơ bản của người lao động Xóa bỏ mọi hành vi cưỡng bức lao động là một trong những tiêu chí quan trọng để xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ và đây cũng là một trong những tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản được quốc tế thừa nhận Công ước số 29 của ILO được Hội nghị toàn thể ILO thông qua ngày 28/6/1930 và Công ước số 105 của ILO được Hội nghị toàn thể ILO thông qua ngày 25/6/1957 được coi là hai văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản về lao động cưỡng bức Hiện nay, Việt Nam đã gia nhập Công ước số 29 và đang nghiên cứu để xem xét việc phê chuẩn Công ước số 105 của ILO Trong nội dung của Hiệp định TPP không đưa ra các tiêu chuẩn mới về lao động mà những tiêu chuẩn được đề cập trong Hiệp định TPP chính là tiêu chuẩn lao động được nêu tại Tuyên bố năm 1998 của ILO, trong đó có nội dung Xóa bỏ lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc (theo Công ước số 29 và số 105 của ILO) Ngoài Hiệp định TPP thì Hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA) mà Việt Nam tham gia có các cam kết về lao động, các tiêu chuẩn, các thỏa thuận đa phương về lao động được quy định tại Điều 3 Chương Thương mại và phát triển bền vững Cụ thể chúng ta cam kết đối với các nguyên tắc và các quyền lao động cơ bản được đề cập đến trong Tuyên bố của
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) năm 1998 bao gồm: Tự do hiệp hội và công nhận hiệu quả của quyền thương lượng tập thể; loại bỏ tất cả các hình thức lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc; bãi bỏ hiệu quả lao động trẻ em và xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp Những cam kết về vấn đề lao động trong EVFTA sẽ góp phần thúc đẩy, khuyến khích và cải thiện điều kiện làm việc, chất lượng nguồn lao động …Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của nhiều nước trên thế giới mới chỉ đặt ra những quy định chung về việc nhận diện và xóa bỏ lao động cưỡng bức nên gây ra nhiều khó khăn khi triển khai thực hiện các nội dung liên quan đến lao động cưỡng
Trang 7bức Điều 2 của Công ước số 29 quy định “các công việc hoặc dịch vụ mà một người buộc phải làm do một quyết định của Tòa án, với điều kiện là công việc hoặc dịch vụ đó phải tiến hành dưới sự giám sát và kiểm tra của những nhà chức trách công cộng, và người đó không bị chuyển nhượng hoặc bị đặt dưới quyền sử dụng của những tư nhân, công ty hoặc hiệp tư nhân” không bị coi là lao động cưỡng bức
Theo số liệu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trên thế giới hiện nay
có khoảng 20,9 triệu người là nạn nhân của lao động cưỡng bức, trong đó lao động cưỡng bức do nhà nước áp đặt chiếm khoảng 10 % (2.200.000 người)1
Lao động là các phạm nhân trong các trại giam là một phần trong số các hình thức lao động do nhà nước áp đặt Đây được coi là một trong 11 lĩnh vực nhạy cảm dễ nảy sinh lao động cưỡng bức2
Thực trạng hiện nay pháp luật lao động với tư cách là luật chuyên ngành đóng vai trò chủ yếu điều chỉnh các quan hệ lao động và bảo vệ người lao động khỏi lao động cưỡng bức Song hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống lao động cưỡng bức còn nhiều bất cập, chưa có sự nhận diện minh bạch và rõ ràng về các dạng hành vi cưỡng bức lao động Lao động của người bị kết án đang phải chấp hành hình phạt tù tại các trại giam không được coi là đối tượng điều chỉnh của Bộ luật lao động do đó quy định về các trường hợp được phép áp đặt lao động theo Điều 23 của Công ước số 29 không được
đề cập, điều chỉnh bởi Bộ luật lao động Các quy định này được quy định trong Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật thi hành án hình sự và các văn bản dưới luật khác Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đã đàm phán và ký
1
Những hình thức hiện hành về lao động cưỡng bức và buôn bán người – Marja Paavilainen, Cố vấn kỹ thuật cấp cao, ILO Dự án tăng cường hành động chuống lao động cưỡng bức ở Châu Á Thái Bình Dương (Tài liệu Hội thảo Lấy ý kiến xây dựng bộ chỉ số về tội phạm mua bán người vì mục đích cưỡng bức lao động do Tòa án nhân dân tối cao thực hiện năm 2013)
2 11 lĩnh vực nhạy cảm dễ nảy sinh lao động cưỡng bức gồm: Lao động di trú, lao động là nạn nhân của tệ nạn buôn bán người, lao động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, lao động là trẻ em, lao động trong lĩnh vực phòng, chống mại dâm, lao động là người phải chấp hành hình phạt từ trong các trại giam, lao động trong các trường giáo dưỡng, lao động trong các cơ sở giáo dục bắt buộc, lao động trong các cơ sở cai nghiện bắt buộc và lao động trong quân đội
Trang 8kết Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) và đã tham gia Hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA), các tiêu chuẩn lao động cơ bản ngày càng được xiết chặt thì việc xóa bỏ hoàn toàn lao động cưỡng bức trong mọi lĩnh vực ngày càng trở nên cấp thiết Người phải chấp hành hình phạt tù
có thời hạn (phạm nhân) trong các trại giam là một đối tượng cần được bảo
vệ, nhận thức của xã hội, cũng như chính bản thân phạm nhân, cán bộ quản lý phạm nhân về việc bảo vệ phạm nhân khỏi lao động cưỡng bức còn hạn chế
Do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam và tiêu chuẩn lao động
quốc tế về lao động cưỡng bức: Thực tiễn thực hiện trong một số trại giam hiện nay và những vấn đề đặt ra” làm luận văn thạc sỹ luật học, qua đó đưa
ra định hướng và giải pháp ngăn chặn việc cưỡng bức lao động đối với phạm nhân và nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với lao động là phạm
nhân trong các trại giam
2 Tình hình nghiên cứu
Trong khoa học pháp lý vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ quyền của phạm nhân nói riêng, đặc biệt rong lĩnh vực lao động, phòng chống lao động đều đã được nhiều tác giả, nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm Có nhiều bài viết, công trình nổi bật nghiên cứu từ các góc độ khác nhau, mức độ khác nhau đến hai lĩnh vực trên, có thể kể đến một số công
trình nghiên cứu như sau: Thực hiện pháp luật về quyền con người của phạm nhân trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ của Nguyễn Đức Phúc, Học viện cảnh sát nhân dân, năm 2012; Một số vấn đề chủ yếu về pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ các quyền con người,
Luận văn Thạc sĩ luật học, của Hứa Thị Thơ, Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội, năm 2012; Pháp luật về phòng chống lao động cưỡng bức nhìn từ góc độ phát triển toàn diện, Luận án tiến sỹ của Phạm Thị Nhật Tài, Học viện Khoa học
Xã Hội – Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam…
Trang 9Bên cạnh đó, quá trình tìm kiếm và thu thập tài liệu để tiến hành đề tài, tác giả nhận thấy: dưới góc độ khoa học có nhiều nghiên cứu khoa học về lao động cưỡng bức, về đảm bảo quyền con người của phạm nhân … nhưng dường như chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu về phòng, chống lao động cưỡng bức đối với phạm nhân trong các trại giam; dưới góc các báo cáo, các văn bản hành chính, các số liệu thống kê của Bộ công an về lao động của phạm nhân trong quá trình thi hành án phạt tù tại các trại giam thì các thông tin về vấn đề này thường là những thông tin mật, không được công bố rộng rãi, rất khó để tiếp cận
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài hướng đến làm sáng tỏ phần nào những vấn đề lý luận về lao động cưỡng bức dưới góc độ pháp luật quốc tế và pháp luật lao động Việt Nam, thông qua việc tìm hiểu các tiêu chuẩn lao động quốc tế, các quy định của pháp luật lao động Việt Nam về lao động cưỡng bức, đặc biệt đề tài đi sâu vào tìm hiểu là các tiêu chuẩn về lao động của người bị kết án phạt tù đang chấp hành hình phạt tại các trại giam (phạm nhân), so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành với các tiêu chuẩn lao động quốc tế đối với lao động
là phạm nhân trong các trại giam, từ đó tìm kiếm, đưa ra một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi của pháp luật, xóa bỏ những nguy cơ xảy ra lao động cưỡng bức đối với lao động của người phải chấp hành hình phạt tù trong các trại giam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, đề tài có các nhiệm vụ cần phải giải quyết:
- Phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về lao động cưỡng bức;
- Phân tích những trường hợp ngoại lệ của lao động cưỡng bức theo Công ước 29 của ILO;
Trang 10- Nghiên cứu về các tiêu chuẩn lao động quốc tế liên quan đến lao động của phạm nhân tại trại giam;
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật trong các văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề lao động của người phải chấp hành hình phạt tù trong các trại giam; đánh giá những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện pháp luật Việt Nam hiện hành về những vấn đề này;
- Tìm hiểu thực tiễn thực hiện các quy định về lao động của người phải chấp hành án phạt tù tại trại giam
- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật liên quan việc lao động của những người phải chấp hành hình phạt tù trong các trại giam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu gồm những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh đối với lao động cưỡng bức; pháp luật Việt Nam và các tiêu chuẩn quốc tế về lao động của người phải chấp hành hình phạt tại các trại tạm giam; thực tiễn thi hành pháp luật về lao động của người chấp hành án phạt tù tại trại giam, từ đó tìm kiếm giải pháp và đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống lao động cưỡng bức trong lĩnh vực này để phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam và yêu cầu hội nhập
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề về lao động cưỡng bức có một phạm vi nghiên cứu rất rộng Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, đề tài tập trung nghiên cứu các tiêu chuẩn lao động quốc tế và các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về lao động cưỡng bức; những hành vi không bị coi là lao động cưỡng bức, điều kiện Đặc biệt tác giả tập trung vào tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam, các tiêu chuẩn lao động quốc tế được áp dụng đối với việc lao động của
Trang 11những người phải chấp hành hình phạt tù trong các trại giam (một trong những đối tượng nhạy cảm, dễ nảy sinh lao động cưỡng bức) nhằm phân tích, đánh giá các quy định hiện hành và đề ra những giải pháp hoàn thiện,nâng cao hiệu quả thực thi của pháp luật điều chỉnh những nội dung pháp lý về lao động cưỡng bức; ngăn chặn, xóa bỏ những nguy cơ xảy ra lao động cưỡng bức đối với việc lao động của người phải chấp hành hình phạt tù trong các trại giam
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học Mác – Lênin như phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, thống kê, liệt kê…đồng thời cũng dựa trên cơ sở các quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về chính sách kinh tế - xã hội, bảo vệ và phát triển con người Trong đó, chương 1 chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và thống kê; chương 2 dùng phương pháp phân tích, kết hợp lý luận và thực tiễn; và chương 3 dùng phương pháp thống
kê, phân tích, tổng hợp
6 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Tổng quan về lao động cưỡng bức
Chương 2: Tiêu chuẩn lao động quốc tế và pháp luật Việt Nam về lao động của người phải chấp hành án phạt tù tại trại giam
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về lao động của người phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam và một số kiến nghị nâng cao hiệu quả phòng, chống lao động cưỡng bức
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC
Quan hệ lao động có tính chất là một quá trình hợp tác và tương tác giữa người lao động và người sử dụng lao động Người lao động bằng sức lao động của mình để thực hiện các công việc đã có thỏa thuận với người sử dụng lao động; người sử dụng lao động khai thác sức lao động của người lao động Quan hệ lao động là loại quan hệ pháp luật song phương, đề cao tính bình đẳng, công bằng trong việc thiết lập các thỏa thuận nên các bên không chỉ phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình mà còn có trách nhiệm tạo điều kiện cho phía bên kia thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của họ, trên cơ sở hài hòa lợi ích Bên cạnh đó, quan hệ lao động luôn có tính “động”, thay đổi theo tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong từng giai đoạn
Tuy nhiên, hiện nay trong lĩnh vực lao động, việc làm, một bộ phận không nhỏ người lao động phải đối mặt với tình trạng cưỡng bức lao động - xâm phạm quyền cơ bản của người lao động tại nơi làm việc Theo thống kê của Tổ chức lao động quốc tế, hiện toàn thế giới có khoảng 20,9 triệu người
là nạn nhân của lao động cưỡng bức, bất kể giới tính, quốc tịch, màu da Cứ
1000 người trên thế giới thì có 03 người chịu lao động cưỡng bức trong một thời điểm bất kỳ trong giai đoạn 10 năm (từ 2002 – 2011)3 Xóa bỏ mọi hành
vi cưỡng bức lao động là một trong những tiêu chí quan trọng để xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ, đồng thời cũng là một trong những tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản được cộng đồng thế giới thừa nhận Việc xóa bỏ lao động cưỡng bức, chống lại “một loại tệ nạn xã hội không có chỗ trong thế giới hiện đại” là nghĩa vụ đối với các quốc gia thành viên Công ước số 29 về Lao động cưỡng bức và Công ước số 105 về Xóa bỏ lao động cưỡng bức, trong đó
Trang 131.1 Nguồn gốc lao động cưỡng bức
Lao động cưỡng bức có nguồn gốc từ xã hội chiếm hữu nô lệ, khi những người nô lệ bị xã hội và pháp luật đặt trong tình trạng “vô quyền”, coi
là những công cụ lao động biết nói, một loại tài sản mà giai cấp chủ nô sở hữu
và tự do mua bán, trao đổi Nô lệ bị ép buộc làm việc tại các đồn điền, công xưởng, thậm trí bị đánh đập, giết chết nếu không thực hiện các công việc do giới chủ nô yêu cầu Ở một số hình thái nhà nước phong kiến và tư bản, xuất hiện một bộ phận không nhỏ người ở các nước thuộc địa bị phụ thuộc hoàn toàn vào người khác, không có tự do hay bất cứ quyền nào đối với bản thân,
họ bị bóc lột sức lao động hết sức dã man để đem lại lợi ích cho chính quốc Phạm vi xuất hiện nô lệ ở khắp các ngành nghề, từ khai thác hầm mỏ đến những nghề nghiệp đô thị như thợ thủ công, người bán hàng rong, người giúp việc nhà…Với các hành vi bóc lột lao động tương tự như giai đoạn chiếm hữu
nô lệ nên tình trạng lao động cưỡng bức thời kỳ này được các học giả nghiên cứu gọi bằng thuật ngữ “nô lệ thời hiện đại” – lao động cưỡng bức
Cùng với tiến trình phát triển xã hội và sự hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia về quyền con người, cùng với ý thức của cộng đồng rằng: “mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng nhân phẩm và các quyền”4, trong đó có các quyền trong lĩnh vực lao động Mọi hành vi chiếm hữu, buôn bán và sử dụng lao động ngoài sự tự nguyện của họ đều bị pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia cấm Tuy nhiên, trên thực tế vì nhiều lý do khác nhau mà không phải lúc nào sự tự do và các quyền cơ bản ấy cũng được đảm bảo bằng công cụ pháp lý Ngay cả ở thời điểm hiện nay, trong xu thế dân chủ và công bằng, tình trạng lao động cưỡng bức vẫn tồn tại, thậm trí có
xu hướng gia tăng Theo số liệu báo cáo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), tính đến năm 2013, trên thế giới có ít nhất 12,3 triệu lao động cưỡng bức, trong đó khu vực Châu Á và Thái Bình Dương là 9,49 triệu lao động cưỡng bức (chiếm hơn 77%)5 Một số người sử dụng lao động vì mục đích tối đa hóa
4 Điều 1 Tuyên bố chung về quyền con người của Liên Hiệp Quốc 1948
5 ILO (2013), Đấu tranh chống LĐCB – Sổ tay dành cho Người sử dụng Lao động & Doanh nghiệp, quyển 1, trang 15
Trang 14lợi nhuận đã không ngần ngại sử dụng lao động cưỡng bức, tình trạng này không chỉ diễn ra ở các nước nghèo, kém phát triển mà tồn tại ở hầu hết các nước, trong đó có cả các quốc gia phát triển
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng lao động cưỡng bức, trong đó phải kể đến các nguyên nhân trực tiếp, phổ biến và bao trùm hiện nay gồm:
Đói nghèo và khoảng cách giàu – nghèo quá lớn cũng là nguồn gốc và nguyên nhân sâu xa của lao động cưỡng bức Ở các nước, “nghèo” có những định nghĩa khác nhau Một số nước cho rằng người nghèo là những ai thuộc nhóm thấp nhất hoặc phần ba thấp nhất trong bảng phân bố thu nhập Tại các nước khác, nghèo là những ai tiêu thụ dưới mức nhất định được coi là tối thiểu6 Tuy nhiên, tựu chung lại, “nghèo” được định nghĩa là sự bần cùng hóa
về mặt phúc lợi và nghèo về thu nhập luôn có mối liên hệ với với “nghèo về con người”7 Về nguyên tắc, bất kỳ người nào cũng có thể trở thành nạn nhân của cưỡng bức lao động Tuy nhiên, những người có trình độ thấp, hiểu biết pháp luật hạn chế, có ít lựa chọn trong mưu sinh thuộc về nhóm dân tộc, tôn giáo thiểu số, bị khuyết tật hoặc vì lý do khác khiến họ bị cô lập khỏi cộng đồng dân cư, thường là những đối tượng có nguy cơ bị cưỡng bức lao động cao Để duy trì sự tồn tại của mình, người lao động dễ dàng rơi vào tình trạng
bị lạm dụng sức lao động, chấp nhận sự áp đặt công việc và điều kiện làm việc tồi tệ từ phía người sử dụng lao động trở thành nạn nhân của lao động cưỡng bức Đôi khi người ta tranh luận rằng nghèo đói là nguồn gốc cơ bản của tình trạng lao động cưỡng bức và giải pháp duy nhất để đẩy lùi vấn nạn này là xóa bỏ toàn diện tình trạng đói nghèo Tuy nhiên, ngược lại, nghèo đói cũng có thể là hậu quả trực tiếp của lao động cưỡng bức Theo Báo cáo của
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) năm 2007, “nạn nhân của lao động cưỡng bức thuộc số 522 triệu người nghèo ở Nam Á”8
Trang 15Lao động cưỡng bức ngày nay cũng có thể bắt nguồn từ nạn buôn người Tội phạm buôn người hiện nay không chỉ tập trung vào nạn nhân là phụ nữ vì mục đích bóc lột tình dục mà còn hướng sự quan tâm đến các đối tượng khác nhằm mục đích cưỡng bức lao động Cùng với sự phát triển của những chuẩn mực quốc tế mới đối với vấn nạn buôn người, năm 2010, những nhà lập pháp quốc tế đã có những tranh luận về sử dụng thuật ngữ nào phù hợp: “buôn người”, “buôn người nhằm mục đích cưỡng bức lao động” hay chỉ đơn giản là
“lao động cưỡng bức” Những nhà lập pháp quốc tế cho rằng, chỉ cần loại bỏ được “lao động cưỡng bức” thì đương nhiên loại bỏ được “tội phạm buôn người” vì buôn bán người nhằm mục đích bóc lột sức lao động của nạn nhân chính là một trong những hình thức lao động cưỡng bức phổ biến ngày nay, gắn với xu hướng di cư của người lao động và quá trình toàn cầu hóa
Trong một vài trường hợp, tình trạng lao động cưỡng bức ngày nay có thể do hậu quả của những mô hình phân biệt đối xử kéo dài đối với những dân tộc thiểu số và các giai cấp thấp trong xã hội thời kỳ trước như những người dân bản địa, bộ lạc ở Mỹ Latinh, sự phân chia đẳng cấp và các bộ tộc ở Ấn
Độ hay sự phân biệt đối xử về dân tộc, tôn giáo giữa các bộ lạc bản xứ như ở miền Tây và trong cộng đồng phi hồi giáo ở Nepan; người phụ thuộc tầng lớp thấp ở Nam Á, đặc biệt là phụ nữ
Tóm lại, lao động cưỡng bức là vấn đề có tính lịch sử, có nguồn gốc từ
xã hội chiếm hữu nô lệ Hiện nay, lao động cưỡng bức là vấn nạn mang tính toàn cầu, tác động đến mọi vùng, quốc gia và mọi khu vực kinh tế Đối tượng của lao động cưỡng bức có thể là bất kỳ ai từ người lớn, trẻ nhỏ, không phân biệt quốc tịch dù là công dân của quốc gia nào Do vậy, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật trong chính mỗi quốc gia về lao động, phòng, chống lao động cưỡng bức và nâng cao cơ chế thực thi các quy định của pháp luật sẽ góp phần không nhỏ trong việc xóa bỏ tình trạng lao động cưỡng bức, bảo vệ người lao động, hướng tới bảo đảm quyền con người của mỗi công dân trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và trên thế giới
Trang 161.2 Khái niệm và đặc điểm của lao động cưỡng bức
1.2.1 Khái niệm lao động cưỡng bức trong pháp luật quốc tế
Tác giả cuốn sách “International Labour Law”, Nicola Valticos cho rằng lao động cưỡng bức được đề cập lần đầu tiên vào đầu thế kỉ 19 ở Hội nghị Vienna, nhưng chỉ bắt đầu được quan tâm một cách có hệ thống từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất với quy định đầu tiên trong Công ước về nô lệ 1926 của Hội quốc liên9 Cũng trong thời gian này, lần đầu tiên trên thế giới xuất hiện một cơ quan quốc tế chuyên trách về vấn đề lao động cưỡng bức và bắt buộc -
Ủy ban chuyên gia do Cơ quan điều hành của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) chỉ định, có nhiệm vụ nghiên cứu tình hình thực tiễn vấn đề lao động cưỡng bức trên bình diện quốc tế và đặc biệt tập trung vào những quốc gia đang bị lệ thuộc vào nước ngoài hoặc đang bị đô hộ bởi một quốc gia khác
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, lao động cưỡng bức được quan tâm với góc nhìn mang tính chính trị Trong thời gian này, Liên Hiệp Quốc đã thành lập một Ủy ban đặc biệt về lao động cưỡng bức, bên cạnh Ủy ban chuyên gia của ILO Nhiệm vụ chính của Ủy ban đặc biệt là điều tra những cáo buộc liên quan đến hình thức lao động cưỡng bức theo yêu cầu của các quốc gia thành viên
Khái niệm “lao động cưỡng bức” được định nghĩa lần đầu tiên tại khoản
1 Điều 2 Công ước số 29 (năm 1930): Lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc là
“mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người bị ép buộc phải làm dưới sự đe dọa của một hình phạt nào đó và bản thân người đó không tự nguyện thực hiện”
Theo Công ước này, lao động cưỡng bức được xác định ở tất cả các công việc hoặc dịch vụ khi thỏa mãn các yếu tố:
(1): Về chủ thể: Do bất kỳ cá nhân nào thực hiện công việc hoặc dịch vụ, không phân biệt giới tính, độ tuổi, tôn giáo, trình độ chuyên môn, tay nghề…;
(2): Về ý chí của chủ thể thực hiện: người thực hiện công việc hoặc dịch
vụ không có sự tự nguyện, bị ép buộc phải làm công việc hoặc dịch vụ đó;
9
Tổ chức tiền thân của Liên Hiệp Quốc
Trang 17(3) Về hậu quả: người thực hiện công việc hoặc dịch vụ bị đe dọa và phải chịu một hình phạt (tác động đến bản thân nạn nhân bị lao động cưỡng bức hoặc thân nhân người đó) nếu không thực hiện công việc hoặc dịch vụ được yêu cầu
Tuy nhiên, định nghĩa tại Công ước không có sự phân biệt giữa “lao động cưỡng bức” và “lao động bắt buộc” trong khi đây là hai khái niệm không hoàn toàn trùng lắp với nhau Lao động cưỡng bức thường được dùng trong hoàn cảnh lao động bị cưỡng chế bởi tổ chức hoặc cá nhân gắn với các hành vi luôn bị cấm, trong khi lao động bắt buộc thường được dùng chỉ các công việc hoặc dịch vụ một người phải thực hiện có tính tập quán, phục vụ mục đích công cộng và gắn với các trường hợp áp đặt lao động được phép thực hiện Song, để khắc phục những khó khăn trong việc tìm kiếm, xây dựng một định nghĩa chung, khái quát được bản chất của các hình thức lao động cưỡng bức khác nhau và có khả năng áp dụng tại các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới thì việc xây dựng đồng nghĩa lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc là điều hợp lý Trách nhiệm đặt ra với mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ là thành viên Công ước cần nội luật hóa, cần phân biệt và quy định một cách rõ ràng các hình thức lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc
Ủy ban chuyên gia của ILO tiếp tục diễn giải khái niệm “lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc” bao gồm cả nạn buôn người để bóc lột lao động hoặc tình dục theo định nghĩa của Nghị định thư Palermo về ngăn chặn, cấm và trừng phạt mua bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2000 của Liên Hiệp Quốc Điều 3 Nghị định thư Palermo định nghĩa về tội phạm buôn người như
sau: “Buôn bán người có nghĩa là tuyển chọn, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận người bằng cách đe dọa hoặc sử dụng bạo lực hay các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hay vị thế dẫn đến tổn thương hoặc bằng việc cho hoặc nhận tiền hay những lợi ích vật chất khác
để đạt được sự đồng ý của một người kiểm soát đối với người khác vì mục đích bóc lột” Nghị định thư cũng diễn giải khái niệm “bóc lột” bao gồm ở mức tối
Trang 18thiểu việc bóc lột tình dục, lao động cưỡng bức, nô lệ và các hành vi nô lệ, trừ trường hợp buôn người để lấy nội tạng là không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước số 29 của ILO
Tại khoản 2 Điều 2 Công ước số 29 đưa ra một số ngoại lệ về “lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc” Cụ thể, thuật ngữ “lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc” không bao gồm:
- Mọi công việc hoặc dịch vụ buộc phải làm theo các đạo luật về nghĩa
vụ quân sự bắt buộc và trong những công việc có tính chất quân sự thuần túy;
- Mọi công việc hoặc dịch vụ thuộc những nghĩa vụ công dân bình thường của các công dân trong một nước tự quản hoàn toàn;
- Mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người buộc phải làm do một quyết định của Tòa án, với điều kiện công việc hoặc dịch vụ đó phải được tiến hành dưới sự giám sát và kiểm tra của những cơ quan công quyền, và người
đó không bị chuyển nhượng hoặc bị đặt dưới quyền sử dụng của những tư nhân, công ty hoặc hiệp hội tư nhân;
- Mọi công việc hoặc dịch vụ buộc phải làm trong những trường hợp khẩn cấp, nghĩa là trong những trường hợp có chiến tranh, xảy ra tai họa hoặc
có nguy cơ xảy ra tai họa như cháy, lụt, đói, động đất, dịch bệnh dữ dội của người và gia súc, sự xâm hại của thú vật, côn trùng hoặc ký sinh trùng, và nói chung là mọi tình thế gây nguy hiểm cho đời sống hoặc cho sự bình yên của toàn thể hoặc một phần dân cư;
- Những công việc của thôn xã vì lợi ích trực tiếp của tập thể và do những thành viên của tập thể đó thực hiện, và vì vậy có thể coi như là những nghĩa vụ công dân bình thường của các thành viên tập thể, với điều kiện những thành viên trong tập thể đó hoặc những người đại diện trực tiếp của họ
có quyền được tham khảo ý kiến về sự cần thiết của những công việc ấy
Năm 1957, Công ước số 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức đã bổ sung những ngoại lệ vào định nghĩa về “lao động cưỡng bức” tại Công ước số 29 Theo đó, “lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc” không bao gồm “biện pháp
Trang 19cưỡng chế hay giáo dục chính trị, hoặc một sự trừng phạt đối với những ai đang có hoặc đang phát biểu chính kiến; biện pháp huy động và sử dụng nhân công vào mục đích phát triển kinh tế; biện pháp xử lý vi phạm kỷ luật lao động; sự trừng phạt đối với việc đã tham gia đình công; biện pháp phân biệt đối xử về chủng tộc, xã hội, dân tộc hoặc tôn giáo”
1.2.2 Khái niệm lao động cưỡng bức trong pháp luật Việt Nam
Trên cơ sở khái niệm lao động cưỡng bức tại Công ước số 29 của ILO, trong phạm vi mỗi quốc gia lại có nhiều cách hiểu khác nhau về lao động cưỡng bức Dưới cách tiếp cận phù hợp với thực tiễn, tập quán và điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi quốc gia xây dựng cho mình một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về lao động và phòng, chống lao động cưỡng bức
Trong lịch sử lập pháp Việt Nam qua mỗi thời kỳ, lao động cưỡng bức cũng có những cách hiểu khác nhau
Thuật ngữ “cưỡng bức lao động” được đề cập lần đầu tiên trong Bộ luật lao động năm 1994 (được sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007), tuy nhiên,
Bộ luật lao động năm 1994 lại không xây dựng khái niệm lao động cưỡng bức Khoản 2 Điều 5 Bộ luật lao động năm 1994 quy định các hành vi bị cấm,
trong đó: “Cấm ngược đãi người lao động; cấm cưỡng bức người lao động dưới bất kỳ hình thức nào” Khoản 1 Điều 11 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP
ngày 05/9/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động đã hướng dẫn chi tiết quy định của Bộ luật lao động
như sau: “Bị ngược đãi, cưỡng bức lao động là trường hợp người lao động bị đánh đập, nhục mạ hoặc bị ép buộc làm những công việc không phù hợp với giới tính, ảnh hưởng tới sức khỏe, nhân phẩm, danh dự…”
Như vậy, so với Công ước số 29 của ILO, cách hiểu về lao động cưỡng bức theo hướng dẫn tại Nghị định số 44/2003/NĐ-CP là chưa phù hợp, thu hẹp nội hàm định nghĩa lao động cưỡng bức:
Trang 20- Về phạm vi: Khái niệm “lao động cưỡng bức” theo Công ước số 29
không bó hẹp dưới dạng các hành vi cụ thể là “đánh đập, nhục mạ hoặc ép buộc” mà nó bao gồm cả đe dọa, các hành vi bạo lực, hạn chế thân thể, tước
đoạt quyền tự do và các đặc quyền khác của người bị cưỡng bức lao động
- Về đối tượng bị đe dọa buộc phải làm những công việc, dịch vụ mà họ không tự nguyện theo Công ước số 29 bao gồm người lao động và có thể đối với
cả thân nhân của họ
- Về lĩnh vực sử dụng lao động cưỡng bức theo khái niệm mà Công ước
số 29 đưa ra không chỉ là những việc hợp pháp theo hợp đồng lao động mà có thể là những công việc bất hợp pháp, không có tính chất quan hệ lao động
Khi xây dựng Bộ luật lao động năm 2012, nhà làm luật đã đưa ra khái
niệm cưỡng bức lao động tại khoản 10 Điều 3: “Cưỡng bức lao động là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác nhằm buộc người khác lao động trái ý muốn của họ” Về cơ bản, khái niệm cưỡng bức lao động
theo khoản 10 Điều 3 Bộ luật dân sự 2012 đã có điểm tương đồng với Công ước số 29 của ILO Song vẫn tồn tại một số điểm khác biệt sau:
- Khái niệm “cưỡng bức lao động” theo quy định của Bộ luật lao động nhấn mạnh yếu tố không tự nguyện ở đây chủ yếu thông qua hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực; “các thủ đoạn khác” không được giải thích cụ thể nên nội hàm của khái niệm chưa được làm rõ Điều này vô hình chung làm thu hẹp cách hiểu về các dạng hành vi cưỡng bức lao động so với Công ước số 29;
- Thuật ngữ “lao động” theo quy định tại khoản 10 Điều 3 Bộ luật lao động năm 2012 chưa rõ ràng, dễ dẫn tới cách hiểu “lao động” ở đây chỉ bao hàm những quan hệ lao động được điều chỉnh bởi pháp luật lao động không
bị pháp luật cấm; chưa đồng nhất với Công ước số 29 khi quy định phạm vi lao động cưỡng bức có thể nảy sinh ở những việc làm hợp pháp theo hợp đồng lao động và có thể là công việc bất hợp pháp, không liên quan đến quan
hệ lao động
Trang 21Tuy nhiên, thuật ngữ “lao động cưỡng bức” và “cưỡng bức lao động”
không hoàn toàn giống nhau “Cưỡng bức lao động” theo Bộ luật lao động
2012 được xác định là một việc, một hành động của con người, còn “lao động cưỡng bức” được xác định là một tình trạng, sự việc mà ở đó một người phải làm việc dưới sự ép buộc của người khác
Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về lao động cưỡng
bức như sau: “Lao động cưỡng bức là tình trạng một người không tự nguyện phải thực hiện công việc hoặc dịch vụ do sự cưỡng ép trái pháp luật dưới bất
kỳ hình thức nào, có sự đe dọa về hậu quả có thể xảy ra đối với bản thân hoặc thân nhân người lao động”
Trên cơ sở phân tích các phạm vi và cách tiếp cận khác nhau về lao động cưỡng bức cho thấy, lao động cưỡng bức có những đặc điểm cơ bản sau:
a Lao động cưỡng bức là tình trạng một người bị người khác ép buộc thực hiện công việc hoặc dịch vụ
Hai yếu tố không thể thiếu, tạo nên sự cốt lõi thuộc về bản chất của lao động cưỡng bức là yếu tố “ép buộc” trái pháp luật thực hiện công việc hoặc dịch vụ và yếu tố “không tự nguyện” của người lao động Hai yếu tố này tồn tại gắn kết với nhau tạo thành dấu hiệu không thể thiếu của lao động cưỡng bức Bởi vì, yếu tố ép buộc trái pháp luật một người phải thực hiện công việc hoặc dịch vụ luôn hàm chứa yếu tố không tự nguyện của người lao động10 Sự tự nguyện ban đầu trong việc thiết lập quan hệ lao động cũng có thể dẫn tới lao động cưỡng bức nếu sự tự nguyện đó có được từ sự lừa dối và khi người lao động nhận thấy bị lừa dối nhưng họ không được tự do chấm dứt quan hệ lao động, rút lại những thỏa thuận do bị lệ thuộc vào người sử dụng lao động Yếu
tố “ép buộc” trong lao động cưỡng bức phải xuất phát từ người khác (là cá nhân, tổ chức cụ thể), nếu một người buộc phải thực hiện công việc do hoàn cảnh kinh tế, xã hội tại địa phương khó khăn hoặc do điều kiện bản thân của người đó trình độ chuyên môn thấp, họ không thể làm công việc nào khác thì
10 Phan Thị Thanh Huyền (2015), Luận án tiến sĩ luật học “Điều chỉnh pháp luật lao động Việt Nam đối với
lao động cưỡng bức”, tr.24
Trang 22chưa thể xác định họ rơi vào tình trạng lao động cưỡng bức Trường hợp, người
sử dụng lao động lợi dụng tình trạng khó khăn của người lao động để áp đặt thời gian làm việc quá lớn cho người lao động hoặc giữ tiền, giấy tờ tùy thân của họ thì có khả năng làm phát sinh lao động cưỡng bức
b Mối quan hệ bất bình đẳng giữa người thực hiện công việc và người hưởng lợi công việc mà không lệ thuộc vào công việc là hợp pháp hay không hợp pháp
Trong mối quan hệ lao động cưỡng bức, người lao động luôn phải gánh chịu những thiệt hại về vật chất, tinh thần, quyền hoặc các đặc quyền khác, ngược lại bên ép buộc lao động luôn hưởng lợi ích từ sự ép buộc đó Song khi xem xét về lao động cưỡng bức cần đặt quan hệ lao động đó trong mối tương quan với việc đảm bảo quyền con người và an toàn xã hội Nếu như việc áp đặt lao động xuất phát từ mục đích bảo đảm sự tồn tại và an toàn của cộng đồng, một bộ phận dân cư hay chính sự an toàn của người lao động thay vì chỉ
là lợi ích của bên áp đặt lao động không được coi là lao động cưỡng bức
Sự bất bình đẳng trong lao động cưỡng bức thể hiện qua các dấu hiệu:
- Trong quá trình thực hiện công việc, dịch vụ, người bị cưỡng bức lao động luôn chịu sự theo dõi, giám sát chặt chẽ của người khác Theo Từ điển Tiếng Việt, “theo dõi” là chú ý, theo sát từng hoạt động, từng diễn biến để biết
rõ hoặc có sự ứng phó, xử lý kịp thời; “giám sát” là theo dõi và kiểm tra xem
có thực hiện đúng những điều quy định không? Người lao động bị ép buộc phải thực hiện công việc, dịch vụ chịu sự theo dõi, giám sát chặt chẽ của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động giao trách nhiệm giám sát, theo dõi Tuy nhiên cũng cần phân biệt với quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động được quy định trong pháp luật lao động từng quốc gia Quản lý lao động là tổng hợp nhiều biện pháp, cách thức tổ chức, điều hành các hoạt động lao động mà người sử dụng lao động thực hiện nhằm khai thác sức lao động của người lao động một cách hợp lý, hiệu quả, đem lại những lợi ích vật chất từ hoạt động sản xuất, kinh doanh Như vậy, quản lý lao động trong
Trang 23đơn vị sử dụng lao động hoàn toàn khác biệt với việc theo dõi, giám sát chặt chẽ người bị cưỡng bức lao động Quản lý lao động là nhu cầu tất yếu khách quan của nền sản xuất, bởi vì để đạt được mục đích cuối cùng của quá trình sản xuất, nhất thiết phải có chủ thể đứng ra chỉ đạo các hoạt động chung của người lao động và hướng những hoạt động đó theo kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đã đặt ra
- Người bị ép buộc thực hiện công việc luôn trong tình trạng bị đe dọa
về những hậu quả bất lợi có thể xảy ra đối với bản thân hoặc thân nhân của họ khi họ không thực hiện công việc theo yêu cầu Hậu quả bất lợi có thể xảy ra đối với bản thân hoặc nhân thân của người bị cưỡng bức rất đa dạng với những mức độ nghiêm trọng khác nhau Có thể chỉ từ việc mất đi một số quyền, lợi ích như: cơ hội thăng tiến, khả năng tiếp cận công việc mới, cơ hội tham gia vào các chương trình giáo dục…cho những hậu quả bất lợi nghiêm trọng hơn, ảnh hưởng trực tiếp tới tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị cưỡng bức lao động hoặc nhân thân của họ như: bị bạo lực
về thân thể, bị giữ tiền lương, bạo lực về tình dục; bị buộc sống và làm việc trong các điều kiện không đảm bảo về vệ sinh lao động, an toàn lao động; bị
giữ giấy tờ tùy thân, không thanh toán tiền lương “Thân nhân người lao động” được hiểu là người thân, người nhà của người lao động, có thể trong
các quan hệ về hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, tình cảm…với người bị cưỡng bức lao động Chính sự đe dọa về những hậu quả bất lợi có thể xảy ra đối với những chủ thể này buộc người bị cưỡng bức phải thực hiện công việc, dịch vụ không tự nguyện
1.3 Dấu hiệu nhận diện và phân loại lao động cưỡng bức
1.3.1 Dấu hiệu nhận diện lao động cưỡng bức
Trong những năm gần đây, trước những diễn biến phức tạp của tình trạng lao động cưỡng bức, ILO với tư cách là một tổ chức quốc tế có nhiệm
vụ tạo các cơ hội việc làm bền vững và hiệu quả trong điều kiện bảo đảm quyền con người cơ bản cho các cá nhân lao động đã xây dựng Bộ chỉ số của
Trang 24tổ chức lao động quốc tế về lao động cưỡng bức11 Những chỉ số này được xây dựng trên cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm thực tế của Chương trình Hành động đặc biệt của ILO Phòng chống lao động cưỡng bức (SAP-FL) và cụ thể hóa khái niệm “lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc” tại Công ước số 29 của ILO Những chỉ số này nhằm giúp những người thực thi pháp luật tại các quốc gia thành viên của ILO (các cơ quan tư pháp hình sự, thanh tra lao động, cán bộ công đoàn, các tổ chức phi chính phủ, người lao động, người sử dụng lao động…và bất cứ ai) xác định tình trạng lao động cưỡng bức và những biện pháp hỗ trợ đối với nạn nhân lao động cưỡng bức khi cần thiết
Các chỉ số về lao động cưỡng bức do ILO đưa ra là những dấu hiệu nhận diện chỉ có trong lao động cưỡng bức Trong một tình huống cụ thể nào
đó, có thể chỉ cần một chỉ số đã giúp chúng ta nhận diện tình trạng lao động cưỡng bức Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác, có thể phải kết hợp một
số chỉ số khác mới có thể nhận ra tình trạng lao động cưỡng bức Bộ 11 chỉ số
là những yếu tố chính có thể của một vụ việc về lao động cưỡng bức và đây là
cơ sở để đánh giá, xác định liệu một cá nhân, người lao động nào đó có phải
là nạn nhân của lao động cưỡng bức hay không, gồm:
- Lạm dụng tình trạng khó khăn của người lao động: Bất kỳ người nào đều có thể trở thành nạn nhân của lao động cưỡng bức Tuy nhiên, nhóm người lao động yếu thế như: người lao động làm việc tại các doanh nghiệp không chính quy, hoạt động trái phép; lao động di cư quốc tế, đặc biệt là lao động di
cư qua con đường không chính thống; người lao động thuộc nhóm dân tộc hoặc tôn giáo thiểu số; người lao động có trình độ thấp; người lao động bị khuyết tật…là những người dễ trở thành nạn nhân của lao động cưỡng bức bởi khi lâm vào tình trạng khó khăn, có ít sự lựa chọn trong việc mưu sinh, người sử dụng lao động thường lợi dụng tình trạng này của người lao động để ép buộc, áp đặt người lao động làm các công việc, dịch vụ không theo ý chí của họ Lao động
11
ILO (2014), Các chỉ số của Tổ chức lao động quốc tế về lao động cưỡng bức
Trang 25cưỡng bức cũng phát sinh từ trường hợp người lao động bị lệ thuộc nhiều mặt vào người sử dụng lao động, không chỉ lệ thuộc về công việc mà có thể lệ thuộc về nơi ăn, ở và công ăn việc làm của người thân
- Lừa gạt: Lừa gạt là hành vi không thực hiện những gì đã hứa, bằng lời nói hoặc trên giấy tờ với người lao động Nạn nhân của lao động cưỡng bức thường được tuyển chọn với những lời hứa về việc làm và thu nhập Nhưng khi họ bắt đầu công việc, điều kiện làm việc như lời hứa ban đầu không được thực hiện và người lao động phải làm việc dưới những hoàn cảnh tồi tệ mà không có khả năng thoát khỏi Trong những trường hợp này, người lao động không có sự tự do và đầy đủ thông tin khi đồng ý thực hiện công việc Nếu họ biết được thực tế điều kiện sống và làm việc, họ sẽ không nhận lời thực hiện công việc đó Lừa gạt trong tuyển chọn lao động có thể bao gồm những lời hứa về điều kiện làm việc, mức lương bổng, loại hình công việc, điều kiện sinh hoạt và làm việc, tư cách di cư hợp pháp, địa điểm nơi làm việc hoặc người sử dụng lao động
- Hạn chế đi lại: Người bị cưỡng bức lao động bị giám sát tại nơi ở, nơi làm việc phòng trường hợp họ bỏ trốn Nếu người lao động không có sự tự do
đi đến và rời khỏi nơi làm việc, phải chịu những hạn chế các quyền về tự do
cư trú, tự do di chuyển, việc làm là dấu hiệu của lao động cưỡng bức Người lao động bị cưỡng bức có thể bị kiểm soát khi đi lại tại nơi làm việc, thông qua hệ thống camera giám sát hoặc nhân viên bảo vệ hoặc tại bên ngoài nơi làm việc bởi các thám tử hoặc chủ sử dụng lao động thường xuyên đi cùng họ mỗi khi họ rời khỏi nơi làm việc
- Bị cô lập: Những nạn nhân của lao động cưỡng bức thường bị cô lập ở những nơi xa xôi hẻo lánh, không được tiếp xúc với thế giới bên ngoài Người lao động có thể không biết họ đang ở đâu, nơi làm việc có thể cách xa khu dân cư và không có sẵn bất kỳ phương tiện giao thông nào Tuy nhiên, cũng
có thể người lao động rơi vào tình trạng bị cô lập ngay tại khu đông dân cư
Trang 26khi bị nhốt sau những cánh cửa luôn đóng kín hoặc bị tịch thu điện thoại di động hoặc các phương tiện liên lạc khác để không cho liên hệ với gia đình và tìm sự giúp đỡ Tình trạng bị cô lập thường có mối liên quan đến các cơ sở kinh doanh có người lao động làm việc không hợp pháp, không được đăng ký
Do vậy, rất khó để các cơ quan chức năng hoặc các tổ chức bảo vệ người lao động xác định địa điểm và giám sát những gì xảy ra đối với người lao động
- Bạo lực về thân thể và tình dục: Người lao động bị cưỡng bức và người thân của họ có thể phải chịu đựng tình trạng bạo lực về thân thể hoặc tình dục Bạo lực có thể bao gồm việc dùng vũ lực, bắt ép người lao động phải dùng ma túy hoặc rượu nhằm kiểm soát họ, buộc họ phải thực hiện những công việc không có trong thỏa thuận ban đầu, thậm trí phải hoạt động tình dục theo yêu cầu của chủ sử dụng lao động Việc bắt cóc cũng là một hình thức của bạo lực mà có thể được sử dụng để giam một người rồi sau đó
- Giữ giấy tờ tùy thân: Chủ sử dụng lao động giữ giấy tờ tùy thân hoặc các tài sản cá nhân có giá trị khác là một dấu hiệu của lao động cưỡng bức nếu người lao động không thể tiếp cận được những tài sản này khi có yêu cầu
Trang 27và nếu họ nhận thấy rằng họ không thể rời khỏi nơi làm việc nếu không muốn tài sản mình bị mất mát Trong nhiều trường hợp, nếu không có giấy tờ tùy thân, người lao động không thể tìm được một việc làm khác hoặc tiếp cận những dịch vụ cần thiết, và có thể họ không dám nhờ sự giúp đỡ của các cơ quan hoặc các tổ chức bảo vệ người lao động
- Giữ tiền lương: Người lao động có thể bị bắt buộc phải làm việc để chờ nhận được tiền lương mà chủ sử dụng lao động đang nợ họ Việc chủ sử dụng trả tiền lương vào thời gian không cố định hoặc chậm trả lương không mặc nhiên có nghĩa là người lao động rơi vào tình trạng lao động cưỡng bức Nhưng khi tiền lương bị giữ một cách có hệ thống và chủ ý như là một biện pháp nhằm buộc người lao động phải ở lại, hạn chế cơ hội chuyển việc làm của người lao động được coi là dấu hiệu của lao động cưỡng bức
- Lệ thuộc vì nợ: Tiền nợ có thể phát sinh từ việc ứng trước tiền lương hoặc tiền vay để trang trải chi phí tuyển dụng, chi phí giao thông hoặc cho các chi tiêu cấp thiết trong sinh hoạt thường ngày của người lao động Khoản nợ
có thể được nhân lên do việc sử dụng tài khoản, đặc biệt đối với người lao động không có trình độ văn hóa Người lao động bị cưỡng bức thường làm việc với mong muốn trả hết số nợ phát sinh và nợ lũy kế Lệ thuộc vì nợ có thể xảy ra khi trẻ em được tuyển dụng làm việc để đổi lại một khoản tiền vay trước đó của bố mẹ hoặc thân nhân đứa trẻ Thông thường, người sử dụng hoặc tuyển dụng lao động sẽ tìm cách làm cho người lao động khó có thể thoát khỏi cảnh nợ nần bằng việc đánh giá thấp kết quả công việc của người lao động hoặc tăng mức lãi xuất, tăng các chi phí ăn ở và sinh hoạt đối với người lao động
Lệ thuộc vì nợ - hoặc lao động trói buộc cho thấy sự mất cân bằng về quyền giữa người lao động và người sử dụng lao động Khoản nợ này có tác dụng trói buộc người lao động làm việc cho người sử dụng lao động trong
Trang 28một thời gian không xác định, trong một mùa vụ, trong hàng năm trời, thậm chí từ thế hệ này sang thế hệ khác
- Điều kiện làm việc và sinh hoạt bị lạm dụng: Nạn nhân của lao động cưỡng bức trong nhiều trường hợp phải chấp nhận các điều kiện làm việc và sinh hoạt mà họ không bao giờ tự nguyện đồng ý Họ phải thực hiện công việc trong những điều kiện không đảm bảo (ẩm thấp, bẩn thỉu) hoặc độc hại (khó, nguy hiểm mà không có thiết bị bảo hộ), vi phạm nghiêm trọng pháp luật lao động Bên cạnh đó, người lao động có thể phải chấp nhận điều kiện sinh hoạt thấp kém trong những khu nhà đông đúc, chật chội và điều kiện sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh, không có khu vực riêng tư Tuy nhiên, điều kiện làm việc và sinh hoạt kém chưa phải là dấu hiệu mang tính quyết định của lao động cưỡng bức, nhiều trường hợp người lao động “tự nguyện” chấp nhận điều kiện làm việc thấp kém vì họ không có sự lựa chọn về công việc khác Tuy nhiên, điều kiện làm việc bị lạm dụng được xem là các dấu hiệu bổ trợ của sự ép buộc,
nó ngăn cản người lao động bị lạm dụng chuyển đổi nơi làm việc
- Liên tục làm ngoài giờ: Người lao động bị cưỡng bức có thể bị buộc làm việc ngoài giờ liên tục hoặc làm việc nhiều ngày ngoài thời gian được quy định bởi pháp luật quốc gia hoặc thỏa ước lao động tập thể Họ có thể không được bố trí thời gian nghỉ giải lao hoặc ngày nghỉ trong tuần, phải tăng
ca hoặc làm thay công việc của đồng nghiệp khác nghỉ việc hoặc thường xuyên phải trực 24 giờ trong ngày và 07 ngày trong tuần Việc xác định làm thêm giờ có hay không tạo thành tình trạng lao động cưỡng bức tương đối phức tạp Nguyên tắc đầu tiên là, nếu người lao động phải làm thêm nhiều hơn thời gian cho phép theo quy định của pháp luật quốc gia, dưới một số hình thức đe dọa (dọa sa thải nếu không làm việc) hoặc để có mức tiền lương tối thiểu được coi là các dấu hiệu cấu thành tình trạng lao động cưỡng bức
Trang 29
1.3.2 Phân loại lao động cưỡng bức
Trong lý luận cũng như thực tiễn có nhiều cách tiếp cận và phân loại lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc khác nhau Với mỗi cách tiếp cận và phân loại đều mang những ý nghĩa nghiên cứu nhất định
a Phân loại theo lĩnh vực lao động cưỡng bức
Theo Công ước số 29 của ILO, lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc có
thể xuất hiện ở “mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người bị ép buộc phải làm dưới sự đe dọa của một hình phạt nào đó mà bản thân người đó không tự nguyện làm” Như vậy, lĩnh vực xuất hiện lao động cưỡng bức ở mọi công
việc, dịch vụ và việc làm, không phân biệt ngành nghề, việc làm hợp pháp hay bất hợp pháp
Theo thống kê của ILO, lao động cưỡng bức diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực tư nhân, song các lĩnh vực xuất hiện nhiều vụ việc cưỡng bức lao động và mua bán người vì mục đích cưỡng bức lao động, được xác định là vấn nạn của nhiều quốc gia gồm: Nông nghiệp và làm vườn; Xây dựng; Dệt may trong điều kiện lao động tàn tệ; Vui chơi và giải trí; Khai thác mỏ và khai thác gỗ; Chế biến thực phẩm và đóng gói; Vận tải; Giúp việc gia đình và các công việc chăm sóc, làm vệ sinh khác; Công việc tình dục và mại dâm
Như vậy, hầu hết tình trạng lao động cưỡng bức tập trung vào các nhóm, lĩnh vực công việc:
- Nhóm công việc nặng nhọc, đòi hỏi sức lao động vượt quá so với khả năng về thể chất, tinh thần của người lao động;
- Nhóm công việc độc hại, làm việc trong điều kiện nguy hiểm, ô nhiễm mà không có các biện pháp bảo hộ lao động phù hợp;
- Nhóm công việc có thu nhập thấp, theo mùa vụ;
- Nhóm công việc thuộc lĩnh vực vui chơi, giải trí; môi trường xã hội ở nơi làm việc không lành mạnh, dễ bị lạm dụng thể xác, tình cảm hoặc tha hóa về thể xác, tinh thần
Trang 30b Phân loại theo chủ thể cưỡng bức lao động
Trong quan hệ lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc, chủ thể có hành vi cưỡng bức lao động hoặc bắt buộc lao động gồm:
- Lao động bắt buộc do Nhà nước cưỡng chế: Chủ thể “Nhà nước” ở đây được hiểu là các cơ quan Nhà nước và các cá nhân có thẩm quyền sử dụng quyền lực nhà nước để buộc một cá nhân phải thực hiện công việc, dịch
vụ theo yêu cầu của họ Lao động bắt buộc do Nhà nước cưỡng chế có thể là: Lao động bắt buộc của người bị Tòa án kết án; lao động của cá nhân khi bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị Tòa án áp dụng các biện pháp xử lý hành chính; lao động của những người thực hiện nghĩa vụ quân sự hay các nghĩa vụ của công dân khác với Nhà nước Theo Công ước số 29 của ILO, các hình thức nêu trên không được coi là lao động cưỡng bức mà được hiểu là hình thức lao động bắt buộc đặc biệt với mục đích giáo dục các đối tượng bị áp đặt lao động hiểu được giá trị của lao động chân chính, phục hồi nhân phẩm, sức khỏe hoặc phục vụ xã hội, bảo vệ đất nước
- Lao động cưỡng bức do cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi cưỡng bức lao động nhằm phục vụ những lợi ích cá nhân Hình thức lao động cưỡng bức
do cá nhân, tổ chức tư nhân thực hiện thường được xác định là bất hợp pháp, cần có những chế tài thích hợp để xóa bỏ và phòng ngừa những hình thức lao động cưỡng bức này
c Phân loại theo chủ thể bị cưỡng bức lao động
Lao động cưỡng bức là vấn đề mang tính toàn cầu, tác động đến mọi vùng, mọi quốc gia và mọi khu vực kinh tế Đối tượng của lao động cưỡng bức là bất kỳ ai, bao gồm người trưởng thành cũng như trẻ em, không phân biệt quốc tịch dù là công dân của quốc gia nào
Trang 31- Về đặc điểm giới tính:
+ Đối với nam giới: Lao động cưỡng bức thường gắn với các công việc nặng nhọc, nguy hiểm và độc hại ở các công trường, hầm mỏ, nông nghiệp, làm vườn;
+ Đối với nữ giới: Lao động cưỡng bức chủ yếu là những người làm công việc gia đình, nhà máy, xí nghiệp dệt may hoặc bị cưỡng bức tham gia hoạt động mại dâm;
+ Đối với trẻ em: Lao động cưỡng bức phổ biến trong lĩnh vực giải trí, dệt may…thời giờ làm việc dài, không có thời gian cho học tập, nghỉ ngơi, vui chơi
Như vậy, đối tượng của lao động cưỡng bức ở các lĩnh vực có sự phân biệt rõ nét về giới Có cơ sở khi khẳng định lao động cưỡng bức có chiều dài lịch sử, bắt nguồn từ thời chiếm hữu nô lệ Ở thời kỳ chiếm hữu nô lệ, đối tượng của việc mua bán nô lệ xuyên Sahara thường là phụ nữ để sử dụng làm thê thiếp, làm người phục vụ trong nhà Việc mua bán nô lệ ở Địa Trung Hải tập trung chủ yếu vào đàn ông, các chủ đồn điền và chủ mỏ ở châu Mỹ tìm kiếm lực lượng nhân công cho lao động nặng nhọc và thường không liều lĩnh mua lao động trẻ em vì mức tử vong cao; do đó, ở Châu Phi lúc bấy giờ, đàn ông thường bị bán cho các đồn điền, hầm mỏ còn đàn bà, trẻ em giữ lại làm
12 Tạ Quang Hùng (Chủ biên) (2013), Các nền văn minh thế giới – Chương 25: Châu Phi và người châu Phi
trong thời kỳ mua bán nô lệ Đại Tây Dương, tr.124
Trang 32+ Người lao động di cư, đặc biệt là những người di cư trái phép;
+ Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp không chính quy, bao gồm những người lao động tại nhà và những người lao động ở xa xôi, vùng nông thôn, hoạt động ở những khu vực bên lề của nền kinh tế chính thức;
+ Trẻ em hoặc những lao động phổ thông, trình độ văn hóa hạn chế, nhận thức kém về quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ lao động
d Phân loại theo mục đích cưỡng bức lao động
Lao động cưỡng bức có thể được thực hiện với nhiều mục đích khác nhau Trong đó có một số mục đích chủ yếu sau:
- Lao động cưỡng bức vì mục đích kinh tế: Người lao động bị ép buộc làm những công việc, dịch vụ không tự nguyện để đem lại lợi ích kinh tế cho người sử dụng lao động;
- Lao động cưỡng bức vì mục đích tình dục, mại dâm: người lao động
bị cưỡng ép, đe dọa, bóc lột tình dục và phải thực hiện các hoạt động tình dục, mại dâm nhằm duy trì các nhu cầu sống tối thiểu của cá nhân người lao động, đồng thời vì mục đích kinh tế của người cưỡng bức lao động
- Lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc vì mục đích trừng phạt: Đối tượng
bị cưỡng bức lao động hoặc lao động bắt buộc thường là những người phạm tội bị áp dụng biện pháp lao động bắt buộc như là hình phạt; người có hành vi
vi phạm bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính với mục đích giáo dục, răn đe nhằm thiết lập trật tự xã hội, thực hiện công tác quản lý đất nước
Trong nhiều trường hợp, lao động cưỡng bức với mục đích trừng phạt vì
họ đã tham đình công hoặc phát biểu ý kiến, có ý kiến chống đối về tư tưởng, quyết định của người cưỡng bức hoặc vì có hành vi vi phạm quy định mà những người sử dụng lao động đưa ra Phần lớn hành vi cưỡng bức lao động trong các trường hợp kể trên là bất hợp pháp
- Lao động cưỡng bức nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng, tính mạng, tài sản của công dân trước những tình thế cấp thiết như: thực hiện
Trang 33nghĩa vụ quân sự; huy động người dân lao động trong các tình thế cấp thiết, thiên tai, dịch họa…
1.4 Những trường hợp ngoại lệ của lao động cưỡng bức
Áp đặt lao động là sự vi phạm quyền tự do lựa chọn việc làm của người lao động Tuy nhiên, trong một số trường hợp vẫn có quyền áp đặt lao động
Cơ sở của các ngoài lệ được phép áp đặt lao động xuất phát từ các mục đích: đảm bảo quyền sống của con người, trật tự, an toàn xã hội và vì lợi ích chung của cộng đồng – đây là những mục tiêu được cộng đồng quốc tế bảo vệ Do
đó, việc ngăn chặn, chống lại những hạn chế, hành vi, tình huống có tính chất nguy hiểm ảnh hưởng tới đời sống cộng đồng, đe dọa tới an ninh quốc phòng,
an toàn xã hội và quyền sống của mỗi con người là nghĩa vụ không chỉ của quốc gia mà còn là của mỗi cá nhân Đó chính là lý do pháp luật cho phép áp đặt lao động như một biện pháp bảo đảm sự an toàn của xã hội, vì lợi ích cộng đồng Đây chính là lý do trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định (hoàn cảnh khẩn cấp có nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia, sự an toàn của cá nhân hoặc cộng đồng ….), pháp luật lao động cho phép áp đặt lao động như một nghĩa vụ nhằm đảm bảo thực thi quyền sống, quyền con người mà không
bị coi là cưỡng bức lao động Để xác định các trường hợp được phép áp đặt lao động và phân định việc áp đặt lao động có phải là lao động cưỡng bức hay không thì cần xem xét đến mục đích của việc áp đặt lao động đó, mối quan hệ giữa việc áp đặt lao động với việc đảm bảo quyền của con người Ngoài ra, trong các trường hợp được phép áp đặt lao động cần phải đảm bảo việc bồi hoàn và tái tạo sức lao động đối với người lao động; trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động Những vấn đề này phải được bảo đảm bằng các quy định về điều kiện khi áp đặt lao động và điều kiện sử dụng dụng lao động chặt chẽ vì ranh giới giữa cưỡng bức lao động và những hành vi được quyền áp đặt lao động rất mong manh Các điều kiện cơ bản liên quan
Trang 34đến các trường hợp được phép áp đặt lao động bao gồm: thẩm quyền áp đặt lao động, thủ tục áp đặt lao động, điều kiện lao động, điều kiện chủ thể đối với cá nhân bị áp đặt lao động, thời hạn tối đa cho phép thực hiện việc áp đặt lao động, quyền của người lao động khi thực hiện công việc trong tình trạng
bị áp đặt lao động, điều kiện riêng trong trường hợp áp đặt lao động mà người lao động phải xa nơi ở, làm việc ở những nơi có điều kiện sinh hoạt, điều kiện sống khó khăn, khắc nghiệt…
Về thẩm quyền áp đặt lao động: Đối với việc áp đặt lao động là công việc hoặc dịch vụ mà người lao động bị áp đặt gắn với quan hệ lao động thì thẩm quyền thuộc về người sử dụng lao động; đối với các công việc hoặc dịch vụ bị áp đặt lao động ngoài quan hệ lao động sẽ thuộc thẩm quyền của Nhà nước
Về thủ tục áp đặt lao động: Chủ thể có thẩm quyền áp đặt lao động phải ban hành quy chế đầy đủ và chính xác về việc sử dụng lao động áp đặt
Về điều kiện lao động: Việc áp đặt lao động phải đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về điều kiện lao động cho người lao động ít nhất tương đương với lao động thông thường khác Ngoài ra, để đảm bảo yêu cầu tái tạo sức lao động, bảo vệ sức khỏe, điều kiện an toàn lao động cho người lao động thì những người lao động bị áp đặt lao động có thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi theo tiêu chuẩn lao động thông thường
Theo ILO, trường hợp ngoại lệ của lao động cưỡng bức được xác định tương đối cụ thể tại Điều 2 Công ước số 29, khi một người bị yêu cầu thực hiện những công việc (áp đặt lao động) sau sẽ không coi là họ rơi vào tình trạng lao động cưỡng bức:
- Mọi công việc hoặc dịch vụ buộc phải làm theo các đạo luật về nghĩa
vụ quân sự bắt buộc và trong những công việc có tính chất quân sự thuần tuý
Nghĩa vụ quân sự bắt buộc ở đây là những trường hợp cần thiết phải áp đặt lao động để bảo đảm cho mục đích quốc phòng, an ninh quốc gia Điều này
Trang 35không đồng nghĩa với việc cho phép áp đặt nghĩa vụ bắt buộc đối với việc thực hiện các công trình công cộng, trừ việc tham gia thực hiện các công trình công cộng như xây cầu, đường … là một phần của việc huấn luyện quân sự của quốc gia đó Công việc, dịch vụ có thể được thực hiện dưới một nghĩa vụ quân sự thuần túy của cá nhân trong ngành quân sự (quân nhân chuyên nghiệp
- career military personnel) nhưng cũng có thể là cá nhân “phi quân sự” - một công dân bình thường không công tác, hoạt động trong lĩnh vực quân sự13
- Mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người buộc phải làm do một quyết định của toà án, với điều kiện là công việc hoặc dịch vụ đó phải được tiến hành dưới sự giám sát và kiểm tra của những cơ quan công quyền, và người đó không bị chuyển nhượng hoặc bị đặt dưới quyền sử dụng của những
tư nhân, công ty hoặc hiệp hội tư nhân Công việc, dịch vụ mà một người
buộc phải thực hiện do một quyết định của tòa án (in a court of law) được coi
là ngoại lệ của lao động cưỡng bức Chính vì vậy, những người đang bị tạm giam nhưng chưa bị kết án thì không có nghĩa vụ phải lao động Lao động cưỡng bức cũng được áp đặt bởi các cơ quan hành chính sự nghiệp không có chức năng xét xử và điều này cũng cần phải hạn chế tối đa Không có lao động cưỡng bức được áp dụng trừ khi người có liên quan đã xác định được hành vi phạm tội và hành vi phạm tội này là kết quả của các thủ tục pháp lý cần thiết Mặt khác, công việc buộc thực hiện phải được tiến hành dưới sự
13
ILO (2007), Eradication of Forced labour, Geneva, Switzerland
Trang 36giám sát và kiểm tra của những cơ quan công quyền, để ngăn chặn tình trạng người phải chấp hành hình phạt phải làm việc bằng cách thức khác đi so với quyết định của Tòa án hoặc họ có thể bị lợi dụng, ép buộc thực hiện nhiều công việc hơn so với yêu cầu Việc thực hiện giám sát, kiểm tra này thường được những nhân viên quản chế chịu trách nhiệm
Việc thuê người buộc phải chấp hành hình phạt tù (phạm nhân) hoặc đặt họ dưới sự quản lý, sử dụng lao động của các cá nhân, công ty hoặc hiệp hội tư nhân là không được phép Điều này không có nghĩa là giới hạn hoàn toàn các công việc làm ngoài các trại giam theo yêu cầu của các cơ quan giám sát, kiểm tra mà chỉ cần bảo đảm rằng những người này không được thuê hoặc đặt hoàn toàn dưới quyền quản lý của các cá nhân, công ty, hiệp hội tư nhân nào khác Mặc dù vậy, hiện nay trên thế giới có nhiều quốc gia vẫn bảo lưu và thừa nhận thực tế đó là phạm nhân vẫn có thể làm việc cho các doanh nghiệp tư nhân bên trong và bên ngoài các trại giam với điều kiện bắt buộc là phải đảm bảo có sự đồng ý, tự nguyện của chính phạm nhân đó Một số quốc gia đã sửa đổi luật pháp của mình để tạo điều kiện cho tù nhân lao động cải thiện tình hình của họ liên quan đến tiền lương, điều kiện làm việc và an sinh
xã hội, đồng thời quy định các biện pháp bảo vệ những tù nhân, ví dụ như các quốc gia: Argentina, Chile, Colombia, El salvador, Pháp, Australia, Cameroon, Đức, Morocco 14
Nội dung này trong pháp luật Việt Nam được thể hiện như thế nào sẽ được phân tích và làm rõ hơn trong Chương 3 của luận văn
- Mọi công việc hoặc dịch vụ buộc phải làm trong những trường hợp khẩn cấp (Cases of emergency), nghĩa là trong những trường hợp có chiến tranh, xảy ra tai họa hoặc có nguy cơ xảy ra tai hoạ như cháy, lụt, đói, động đất, dịch bệnh dữ dội của người và gia súc, sự xâm hại của thú vật, côn trùng hoặc ký sinh trùng, và nói chung là mọi tình thế gây nguy hiểm cho đời sống
14
ILO (2007), Eradication of Forced labour, Geneva, Switzerland
Trang 37hoặc cho sự bình yên của toàn thể hoặc một phần dân cư Những công việc
này thuộc trường hợp bất khả kháng, có tính chất bất ngờ cần có biện pháp đối phó kịp thời Tuy nhiên, công việc được huy động thực hiện này phải hợp
lý về mặt thời gian cũng như mức độ của nó, phù hợp với mục đích của công việc nhằm hạn chế sự đe dọa nguy hiểm, thiệt hại đến sự tồn tại cũng như phúc lợi của toàn bộ hay một phần dân cư Hơn nữa, ngoại lệ này cũng không cho phép đòi hỏi quá mức của bất kỳ loại hình công việc bắt buộc trong trường hợp xảy ra chiến tranh, hỏa hoạn, động đất mà việc huy động và buộc thực hiện công việc này phải nằm trong những giới hạn nhất định Chính vì vậy, những yêu cầu thực hiện công việc bắt buộc cho các mục đích thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội của đất nước sẽ không được coi là sử dụng lao động trong tình thế khẩn cấp
- Những công việc của thôn xã vì lợi ích trực tiếp của tập thể và do những thành viên của tập thể đó thực hiện (Minor communal services), và vì vậy có thể coi như là những nghĩa vụ công dân bình thường của các thành viên tập thể, với điều kiện là những thành viên trong tập thể đó hoặc những người đại diện trực tiếp của họ có quyền được tham khảo ý kiến về sự cần thiết của những công việc ấy Các công việc, dịch vụ thôn xã như một nghĩa
vụ công dân bình thường mà một người thực hiện được xác định thông qua một số tiêu chí sau đây: (i) Các dịch vụ phải là “dịch vụ nhỏ” (minor services), có thể ví dụ như dịch vụ liên quan chủ yếu đến công tác bảo trì và trong những trường hợp đặc biệt để xây dựng những công trình quan trọng nhằm cải thiện các điều kiện xã hội của dân cư trong cộng đồng của họ (Cụ thể như một trường học nhỏ, một phòng tư vấn y tế và trị liệu cho người dân ); (ii) Các công việc, dịch vụ phải là “dịch vụ chung, công cộng” (communal services) nhằm phục vụ lợi ích trực tiếp của cộng đồng (in the direct interest of the community) và không liên quan đến việc thực hiện các công trình nhằm mục đích làm lợi cho nhóm người rộng hơn Ví dụ như các
Trang 38công trình liên quan đến vệ sinh chung của làng xã, bảo trì đường dẫn và theo dõi, cung cấp nước tưới tiêu, đào kênh mương và xây dựng hệ thống thủy lợi trong phạm vi nhỏ Chính vì các công việc, dịch vụ này không có quy mô lớn nên chỉ phải thực hiện trong khoảng thời gian ngắn; (iii) Các thành viên của cộng đồng (the members of the community) nơi có công việc, dịch vụ được thực hiện hoặc đại diện trực tiếp của họ (direct representative) phải có quyền được tham khảo ý kiến về sự cần thiết của các công việc này Công trình, dịch
vụ được thực hiện mang lại lợi ích trực tiếp cho người dân trong phạm vi làng
xã đó, do vậy, việc bảo đảm rằng các thành viên của cộng đồng hoặc đại diện của họ có quyền được tham khảo ý kiến là cần thiết Trường hợp các thành viên của cộng đồng, cư dân trong làng xã mặc dù muốn hay không họ cũng phải đóng góp công sức trong việc xây dựng đường giao thông, đào kênh thủy lợi thì đây lại không còn thuộc ngoại lệ theo Công ước số 29
Năm 1957, Công ước số 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức đã thêm vào định nghĩa trước đó những ngoại lệ hoàn toàn mới đó là “lao động cưỡng bức và bắt buộc” không bao gồm “biện pháp cưỡng chế hay giáo dục chính trị, hoặc một sự trừng phạt đối với những ai đang có hoặc đang phát biểu chính kiến; biện pháp huy động và sử dụng nhân công vào mục đích phát triển kinh tế; biện pháp về xử lý vi phạm kỷ luật lao động; sự trừng phạt đối với việc đã tham gia đình công; biện pháp phân biệt đối xử về chủng tộc, xã hội, dân tộc hoặc tôn giáo”
1.5 Mục đích, ý nghĩa và trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong việc xóa bỏ lao động cưỡng bức
Lao động cưỡng bức là tình trạng xảy ra phổ biến trên thế giới, diễn ra
ở mọi quốc gia và vùng lãnh thổ, không phân biệt khu vực kinh tế phát triển nhanh hay chậm Theo ILO, tình hình lao động cưỡng bức ngày càng có chiều hướng phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nạn nhân bị cưỡng bức lao
Trang 39động, làm phát sinh tình trạng đói nghèo và sự gia tăng về tội phạm Lợi nhuận được tạo ra từ lao động cưỡng bức là có con số khổng lồ Theo báo cáo của ILO, mỗi năm, tổng số lợi nhận thu được từ việc sử dụng lao động cưỡng bức trong các nền kinh tế trên toàn thế giới lên tới 150.000.000.000 USD Trong đó, phần lớn lợi nhuận được tạo ra tại Châu Á và hai phần ba lợi nhuận trong khu vực này có nguồn gốc từ cưỡng bức lao động vì mục đích tình dục, mại dâm15 Và đương nhiên, những lợi nhuận thu được từ việc sử dụng lao động cưỡng bức luôn là bất hợp pháp
Quan hệ lao động sẽ tồn tại một cách hài hòa, ổn định và phát triển nếu người lao động được tham gia một cách tự do vào quá trình lao động sản xuất cũng như được hưởng một cách bình đẳng những của cải được làm ra Lao động cưỡng bức xuất phát từ bạo lực, ép buộc khó có thể đem lại sự tự do, sáng tạo cho người thực hiện công việc, dịch vụ đó mà hậu quả chỉ đem lại những tổn thương, sự nghèo đói, bần cùng cho người lao động Vì vậy, xóa bỏ lao động cưỡng bức mang đến mục đích và ý nghĩa hết sức quan trọng:
- Xóa bỏ lao động cưỡng bức đem lại sự hài hoài lợi ích giữa các bên chủ thể trong quan hệ lao động, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế; sự sáng tạo, năng động của người lao động; đảm bảo tự do trong việc lựa chọn việc làm và thực hiện các công việc, dịch vụ Xóa bỏ lao động cưỡng bức là
sự đảm bảo cho giá trị của “toàn cầu hóa công bằng” đối với các quyền con người cơ bản nói chung và quyền của người lao động nói riêng
- Đối với mỗi quốc gia, việc xóa bỏ tình trạng lao động cưỡng bức vừa
là nghĩa vụ pháp lý quốc tế, vừa là hành động nhằm thực hiện cam kết bảo vệ quyền con người, là chỉ số đánh giá dân chủ, tiến bộ xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế đất nước Đồng thời, xóa bỏ lao động cưỡng bức giúp cho các quốc gia tránh được tác động tiêu cực đối với khả năng thu hút nước ngoài
15
ILO (2014), Profits and poverty: The economics of forced labour, Geveva, Switzerland
Trang 40- Đối với người sử dụng lao động: Việc đảm bảo các tiêu chuẩn lao động cơ bản, không sử dụng lao động cưỡng bức giúp người sử dụng lao động phát triển bền vững, có cơ hội được hưởng các ưu đãi về thuế quan, đầu tư từ phía nhà nước, tránh các phản ứng tập thể từ phía khách hàng và các đối tác khi phát hiện tình trạng lao động cưỡng bức tại nơi sản xuất, cung ứng dịch
vụ, ảnh hưởng tới uy tín, hoạt động kinh doanh của người sử dụng lao động
- Đối với người lao động: Xóa bỏ lao động cưỡng bức bảo đảm các quyền cơ bản của người lao động tại nơi làm việc, bảo đảm sự công bằng và
sự bù đắp tương xứng cho công sức người lao động bỏ ra trong quá trình làm việc; khuyến khích tính tích cực, sáng tạo của người lao động, tạo môi trường
và điều kiện lao động hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội
Trên cơ sở mục đích và ý nghĩa của việc xóa bỏ lao động cưỡng bức, trước những phức tạp và tính liên quốc gia của tình hình lao động cưỡng bức, đặt
ra trách nhiệm của cộng đồng quốc tế và mỗi quốc gia trong việc xóa bỏ lao động cưỡng bức Thực tế cho thấy, cộng đồng quốc tế và các quốc gia hiện đang
nỗ lực xây dựng hệ thống các quy định pháp luật về phòng, chống lao động cưỡng bức và bảo đảm thực thi nhằm xóa bỏ tình trạng lao động cưỡng bức
- Đối với cộng đồng quốc tế:
Lao động cưỡng bức là vấn đề mang tính toàn cầu, không có chỗ trong thế giới hiện đại Xóa bỏ lao động cưỡng bức là một trong những tiêu chí quan trọng để xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ Đó cũng là một trong những tiêu chuẩn lao động cơ bản được cộng đồng thế giới thừa nhận
Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa của việc xóa bỏ lao động cưỡng bức mà nó đã được quy định cụ thể trong 02 trên tổng số 08 Công ước cơ bản của ILO16 Ngoài ra, lao động cưỡng bức còn được đề cập ở nhiều Công ước
và khuyến nghị khác của ILO như: Công ước số 182 về loại bỏ các hình thức
16
Công ước số 29 và Công ước số 105