1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong pháp luật hình sự việt nam

107 231 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 4,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm lại, trên cơ sở phân tích những quan điểm nêu trên, có thể hiểu các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỀ TÀI

CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN

TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Hoàng Thị Thùy Trang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và tìm hiểu công tác thực tiễn, được sự hướng dẫn, giảng dạy của Quý thầy cô, sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của cơ quan cùng với sự đóng góp của bạn bè, đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành Luận văn Thạc sỹ Luật học

Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:

Ban giám hiệu cùng quý thầy cô Trường Đại học Luật Hà Nội, các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sỹ đã tận tình giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường

Cảm ơn Khoa Sau đại học, Trường Đại học Luật Hà Nội thực hiện quản lý đào tạo, cung cấp thông tin cần thiết về quy chế đào tạo cũng như chương trình đào tạo một cách kịp thời, tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này đúng tiến

độ

Cảm ơn Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã giúp đỡ rất nhiều về số liệu để tôi hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến cô giáo PGS TS Cao Thị Oanh

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập

Hoàng Thị Thùy Trang

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS CTTP TAND TDDC

: Bộ luật hình sự : Cấu thành tội phạm : Tòa án nhân dân : Tự do, dân chủ TNHS : Trách nhiệm hình sự XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Cơ cấu tỉ lệ số vụ và bị cáo về các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân

trong tổng số các tội phạm đã xét xử từng năm giai đoạn 2012 – 2016 55

Bảng 3.2 Cơ cấu tỉ lệ số vụ và bị cáo đã xét xử về các tội xâm phạm quyền TDDC của

Bảng 3.3 Hình phạt áp dụng đối với các bị cáo phạm tội xâm phạm quyền TDDC của

Phụ lục 1: Cơ cấu tỉ lệ số vụ và bị cáo tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật trong

tổng số các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân giai đoạn 2012 – 2016 89

Phụ lục 2: Các hình phạt áp dụng đối với các bị cáo phạm tội xâm phạm quyền TDDC

Trang 6

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO,

1.1 Khái quát về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân 7

1.1.1 Khái niệm quyền con người, quyền công dân, quyền tự do, dân chủ của công dân 7 1.1.2 Khái niệm các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân 10

1.2 Sơ lược lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm quyền tự do, dân

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 12

1.3 Quy định về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới 20

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN 29 2.1 Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ

2.1.1 Dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân 29

2.1.2 Hình phạt đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân 41

2.2 Những điểm mới trong quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân 42

Trang 7

Chương 3 THỰC TIỄN XÉT XỬ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN 54 3.1 Thực tiễn xét xử các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân 54

3.1.1 Số liệu thống kê công tác xét xử các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân

3.2.1 Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ

3.2.2 Một số giải pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về các

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhà nước ta với bản chất là nhà nước của dân, do dân và vì dân, do vậy khi bản Hiến pháp đầu tiên ra đời – Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận các quyền cơ bản của công dân như quyền chính trị, kinh tế, văn hóa và trong đó có cả quyền tự do, dân chủ của công dân Đặc biệt Hiến pháp năm 2013 đã có sự sửa đổi, bổ sung quan trọng, ghi nhận và quy định các quyền con người đồng thời với các quyền cơ bản của công dân, một trong những thành tựu lập hiến thể hiện sự tiến bộ, đổi mới về quan điểm, tư tưởng của Nhà nước về bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Cùng với việc ghi nhận quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các bản Hiến pháp, Đảng và Nhà nước ta đã thực thi nhiều chính sách bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và tham gia hầu hết các điều ước quốc tế về quyền con người như Công ước quốc tế về loại trừ các hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966, Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979, Công ước về quyền trẻ

em năm 1989, Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2006 và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, to lớn, góp phần xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, đóng góp vào cuộc đấu tranh chung vì mục tiêu hòa bình và tiến bộ xã hội của toàn nhân loại1 Trên tinh thần đó, để bảo vệ các quyền tự do, dân chủ, tự do cá nhân của công

dân, Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ

của công dân tại Chương XIII Phần các tội phạm Những quy định về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân qua các Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật

1

Lê Trang Hùng, Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 2013,

nam-2013-345216/ truy cập 20/03/2017

Trang 9

http://cand.com.vn/Xa-hoi/Quyen-con-nguoi-quyen-va-nghia-vu-co-ban-cua-cong-dan-trong-Hien-phap-hình sự năm 1999 đã được quy định đầy đủ, rõ ràng hơn, trở thành cơ sở pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ các quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân Tuy nhiên, quá trình từ việc quy định trong BLHS đến việc thi hành các điều luật về quyền tự do, dân chủ của công dân còn bộc lộ những bất cập và hạn chế, đòi hỏi phải có biện pháp khắc phục nhằm đảm bảo cho quyền lợi của công dân được thực hiện một cách đầy đủ, hoàn thiện

Hiện nay, khoa học luật hình sự trong nước cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về nhóm tội này dưới góc độ lý luận và thực tiễn công tác xét xử các tội này trong giai đoạn hiện nay, từ đó chỉ ra được những hạn chế, vướng mắc của việc áp dụng pháp luật trong quá trình xét xử, những phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả xét xử các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân Trên cơ sở này, tác giả quyết định lựa

chọn đề tài: “Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong pháp luật hình sự Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Ở nước ta, từ trước đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân

- Về giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận có các công trình như: Nguyễn

Ngọc Hòa (chủ biên) (2014), Giáo trình luật hình sự Việt Nam Phần các tội phạm, Nxb Công an nhân dân; Lê Cảm (chủ biên) (2001, tái bản năm 2003 và 2007), Giáo

trình Luật hình sự Việt Nam Phần các tội phạm, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà

Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2001), Giáo trình

luật hình sự Việt Nam Phần các tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Đinh

Văn Quế (2002), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự Phần các tội phạm - Tập 3,

Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân; xâm phạm chế độ hôn nhân

và gia đình: bình luận chuyên sâu, Nxb TP Hồ Chí Minh; Trịnh Tiến Việt (chủ

biên) (2010), Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân theo luật hình

sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Trang 10

- Một số bài báo khoa học có đề cập đến các tội này như: Nguyễn Xuân Hà (2012), Một số kiến nghị, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ

của công dân, Tạp chí Kiểm sát, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Số 18/2012, tr 35

– 42; Trịnh Tiến Việt, Nguyễn Xuân Hà (2012), Hoàn thiện những quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trước yêu cầu

mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, Số 10/2012, tr 11 – 19; Nguyễn Xuân Hà (2012), Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, Số 21/2012,

tr 48 – 58; Vũ Thư (2013), Các quy định về quyền tự do, dân chủ của công dân

trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và kiến nghị, Tạp chí Khoa học pháp lý,

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Số 3/2013, tr 3 – 10; Hoàng Thế Liên (2014), Hiến pháp năm 2013 và việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự hiện

hành nhằm bảo vệ các quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, Tạp

chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, Số 20/2014, tr 69 - 73, 84

- Ở cấp độ luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ có các công trình của các tác giả:

Nguyễn Xuân Hà (2014), Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự

do, dân chủ của công dân, Luận án Tiến sĩ Luật học, Khoa luật Đại học Quốc gia

Hà Nội, Hà Nội; Mai Thị Loan (2011), Quyền cơ bản của công dân về tự do, dân

chủ và tự do cá nhân Thực trạng và giải pháp, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại

học Luật Hà Nội, Hà Nội; Hoàng Thị Ngân (2010), Sự kế thừa và phát triển các

quyền cơ bản của công dân về tự do, dân chủ và tự do cá nhân trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

Có thể thấy, ở nước ta tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, nhưng ở dưới dạng các khía cạnh nhỏ, khía cạnh lý luận, có nhiều vấn đề đã nghiên cứu nhưng nghiên cứu chưa sâu, chưa toàn diện, hoặc chưa nghiên cứu về thực tiễn tội phạm trong giai đoạn hiện nay

Việc chọn nghiên cứu đề tài “Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân

trong pháp luật hình sự Việt Nam” là đòi hỏi khách quan, cấp thiết vừa có tính lý

Trang 11

luận, vừa có tính thực tiễn nhằm tìm ra nguyên nhân, đưa ra một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự, khắc phục những tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn xét xử các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân và đề ra những giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử loại tội phạm này

3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, trong đó tập trung chủ yếu vào quy định của Bộ luật hình sự năm 1999

Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được thông qua và sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018, do vậy ngoài việc phân tích quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, luận văn còn nghiên cứu một số nội dung liên quan trong Bộ luật hình sự năm 2015

3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong pháp luật hình sự Việt Nam Tác giả tập trung phân tích nội dung của các quy định về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong Bộ luật hình sự năm 1999, từ đó so sánh với nội dung của các tội này theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 Đồng thời, tác giả nghiên cứu đánh giá thực tiễn xét xử các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân,

từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh chống và phòng ngừa loại tội phạm này

4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân và làm sáng tỏ các vấn đề như khái niệm, các dấu hiệu pháp lý, trách nhiệm hình sự của các

Trang 12

tội phạm này Trên cơ sở nghiên cứu về mặt lý luận và pháp luật, đồng thời đánh giá thực tiễn, xem xét thực trạng xét xử các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về loại tội phạm này trong luật hình sự Việt Nam

5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn

Nhằm đạt được mục tiêu nêu trên, tác giả đã xem xét một số câu hỏi sau: Khái niệm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân là gì? Khái niệm các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân?

Quy định về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ?

Các dấu hiện pháp lý đặc trưng của các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 là gì? So sánh với quy định của Bộ luật hình sự năm 2015?

Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm quyền tự

do, dân chủ của công dân từ năm 2012 đến năm 2016 trên địa bàn cả nước?

Những tồn tại, hạn chế, những vấn đề cần kiến nghị để nâng cao hiệu quả áp dụng của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong giai đoạn hiện nay?

6 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn giải quyết các nội dung khoa học của đề tài được thực hiện dựa trên

cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020 của Bộ Chính trị

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng một số phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp sử dụng trong phân tích các nội dung quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm quyền tự do, dân

Trang 13

chủ của công dân; phương pháp so sánh, đối chiếu nhằm so sánh giữa quy định của

Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân so với Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới và so với Bộ luật hình sự mới sắp có hiệu lực thi hành; phương pháp thống kê, tổng hợp nhằm phân tích, đánh giá các số liệu từ thực tiễn xét xử các tội phạm này, từ đó tác giải giải quyết các nhiệm vụ được đặt ra đối với luận văn

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa về phương diện lý luận và thực tiễn Về mặt lí luận, luận văn tổng hợp những quan điểm khoa học về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân để xây dựng khái niệm và làm rõ những đặc điểm pháp lý của các tội này Luận văn là công trình đóng góp cho việc hoàn thiện những nhận thức về bản chất của các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân Đồng thời luận văn góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu tham khảo nhằm phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học pháp luật hình sự

Về mặt thực tiễn, từ những nghiên cứu, đánh giá tình hình xét xử các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong thời gian vừa qua, luận văn chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong quy định của pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật Từ

đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả xét xử các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống những tội này hiện nay

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân

Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về các tội xâm phạm quyền

tự do, dân chủ của công dân

Chương 3: Thực tiễn xét xử và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN

1.1 Khái quát về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân

1.1.1 Khái niệm quyền con người, quyền công dân, quyền tự do, dân chủ của công dân

Quyền con người là một vấn đề rộng lớn, phức tạp, nên từ trước đến nay luôn

có các cách hiểu khác nhau về khái niệm, nội dung đến cách thức thực hiện Kể từ khi Liên hợp quốc được thành lập năm 1945, quyền con người đã được quy định cụ thể trong hàng trăm văn kiện pháp luật quốc tế, trở thành một hệ thống tiêu chuẩn pháp lý toàn cầu đòi hỏi mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam, tôn trọng và thực hiện

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền con người, mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ khác nhau Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp

quốc về quyền con người: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có

tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người.” 2

Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền nêu rằng: “ việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần

tử trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới.” 3

Ở góc độ quốc gia, Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1776)

nêu rằng “ mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa ban cho họ những

quyền không ai có thể xâm phạm được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và

2

Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội (2009), Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 41

Trang 15

quyền mưu cầu hạnh phúc ” 4 Những tuyên bố này về sau đã được khẳng định một

lần nữa trong bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền năm 1789 của nước Pháp

và bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1946 của Việt Nam Quyền con người cũng được

đề cập đến trong những công ước quốc tế như: Công ước về chính sách việc làm 1964; Công ước Quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc 1965; Công ước về quyền của những người khuyết tật về tâm thần 1971; Công ước Quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại Phụ nữ 1979; Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm 1984

Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được Nhà nước thừa nhận và pháp luật bảo vệ Hay nói cách khác, quyền con người là các quyền tối thiểu mà các cá nhân, từng con người

cụ thể phải có, quyền con người đòi hỏi Nhà nước thừa nhận và tôn trọng các quyền này, đồng thời bảo vệ nó bằng pháp luật

Quyền con người và quyền công dân là hai phạm trù gần gũi nhưng không đồng nhất Ở nhiều góc độ, quyền con người là khái niệm rộng hơn quyền công dân Quyền công dân là một khía cạnh biểu hiện của mối quan hệ pháp lý giữa một bên

là Nhà nước và công dân, là các quyền con người được mỗi quốc gia thừa nhận và thể chế hóa vào pháp luật làm cơ sở pháp lý điều chỉnh công dân của quốc gia mình trong mối quan hệ với các đối tượng khác trong xã hội5 Về bản chất, các quyền công dân bao gồm những quyền con người được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân của mình Tuy nhiên có những quyền đặc trưng riêng biệt khác mà phải là công dân thì mới được hưởng tại quốc gia đó Không phải ai cũng được hưởng các quyền công dân của một quốc gia nhất định, và không phải hệ thống

4

Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1776)

Quốc gia Hà Nội, Luận văn ThS Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, 2013, Tr 2

Trang 16

quyền công dân của mọi quốc gia đều giống hệt nhau, cũng như đều hoàn toàn tương thích với hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người6

Về vấn đề dân chủ, trong lịch sử các học thuyết chính trị - pháp lý cũng như thực tiễn lịch sử xã hội loài người, “nhân dân” là phạm trù, thế lực luôn giữ vị trí trung tâm Vấn đề dân chủ được đặc biệt coi trọng trong lý luận và thực tiễn tổ chức nhà nước theo hướng pháp quyền Theo đó, dân chủ là dân làm chủ, quyền lực thuộc về nhân dân, lấy dân làm gốc, dân được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Dân chủ là một đặc trưng cơ bản của mọi nhà nước pháp quyền

Tự do và dân chủ thường được dùng thay thế cho nhau, tuy nhiên hai khái niệm này không đồng nghĩa Dân chủ không chỉ là một loạt ý tưởng và các nguyên tắc về tự do, mà còn bao hàm cả những thực tiễn và các tiến trình đã được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử vốn phức tạp Dân chủ là sự thể chế hóa tự do Một trong những chức năng chính của một nền dân chủ là bảo vệ các quyền con người cơ bản như tự do ngôn luận, tự do tôn giáo Nói đến quyền con người đồng thời cũng ngụ ý nói đến dân chủ và nói đến dân chủ cũng hàm ý quyền con người, bởi vì dân chủ chính là tổ hợp của các quyền con người

Quyền TDDC của công dân bao gồm nhiều quyền khác nhau như đã dẫn ở trên Nếu phân chia các quyền của công dân thành các nhóm khác nhau: Quyền chính trị, quyền kinh tế - dân sự, quyền văn hóa – xã hội, quyền tự do cá nhân thì quyền TDDC thuộc nhóm quyền chính trị Mỗi nhóm quyền thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của công dân và giữa chúng có mối quan hệ mật thiết Trong đó, vai trò của quyền chính trị là xác lập quyền làm chủ của nhân dân, tạo cơ sở chính trị cho việc ghi nhận và bảo đảm thực hiện các nhóm quyền khác của công dân7

Tóm lại, dưới góc độ chung, quyền TDDC được hiểu là quyền làm chủ của người dân đối với Nhà nước, xã hội, quyền làm chủ suy nghĩ, hành động của bản

http://vnclp.gov.vn/ct/cms/tintuc/Lists/NhaNuocVaPhapLuat/View_Detail.aspx?ItemID=227 truy cập ngày 12/05/2017

Trang 17

thân mình trên cơ sở tôn trọng lợi ích chung và trật tự của cộng đồng, xã hội Là các quyền con người nên quyền TDDC đương nhiên cũng là quyền tự nhiên, vốn có Tuy nhiên, những quyền này chỉ thực sự có ý nghĩa trên thực tế khi nó được thừa nhận và bảo hộ bởi Nhà nước, được ghi nhận trong Hiến pháp và đồng thời được bảo vệ bằng pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự Quyền TDDC của công dân được quy định trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam gồm những quyền như: Quyền tự do về thân thể, quyền bất khả xâm phạm về nhà ở và thư tín, quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền tự do tín ngưỡng, quyền lao động, quyền tự do hội họp, quyền nam nữ bình đẳng, quyền tác giả, quyền khiếu nại, tố cáo

1.1.2 Khái niệm các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân

Như đã phân tích ở trên, quyền TDDC được hiểu là quyền làm chủ của người dân đối với Nhà nước, xã hội, quyền làm chủ suy nghĩ, hành động của bản thân mình trên cơ sở tôn trọng lợi ích và trật tự của cộng đồng Trong các giáo trình luật hình sự và một số sách nghiên cứu, bình luận chuyên sâu hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân

PGS.TS Trần Văn Luyện quan niệm: “Các tội xâm phạm quyền TDDC của

công dân là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực TNHS gây

ra, có lỗi, làm nguy hại đến những quyền TDDC của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 1992”8

ThS Đinh Văn Quế viết: “Các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân là

những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến quyền TDDC của công dân” 9

TS Trịnh Tiến Việt và tập thể tác giả quan niệm: “Các tội xâm phạm quyền

TDDC của công dân là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do những người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách

luận khoa học BLHS (Phần các tội phạm), Tập thể tác giả, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.144

9 Đinh Văn Quế (2001), Bình luận chuyên sâu BLHS, Tập III - Các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân; xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, tr.14

Trang 18

cố ý, xâm phạm đến quyền TDDC của công dân được Hiến pháp ghi nhận và pháp luật hình sự bảo vệ” 10

Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học, quan điểm của PGS.TS Phạm Hồng Hải và

GS.TSKH Lê Cảm bao quát như sau: “Các tội xâm phạm quyền TDDC của công

dân là những hành vi (hành động hoặc không hành động) nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người đạt tới một độ tuổi nhất định, có đủ năng lực TNHS và trong một số trường hợp có đủ dấu hiệu của chủ thể đặc biệt của tội phạm thực hiện một cách cố ý xâm phạm tới các quyền TDDC của công dân được quy định là khách thể bảo vệ của luật hình sự” 11

Có thể thấy các quan điểm trên đã phản ánh nội hàm khái niệm các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân với các đặc điểm như các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân xâm phạm tới các quan hệ xã hội liên quan tới việc xác lập và thực hiện các quyền TDDC của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật hình sự ghi nhận, hành vi phạm tội của nhóm tội này được thể hiện bằng những hành vi nguy hiểm cho xã hội, chủ thể của các tội phạm này là những người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS do luật định, và hành vi phạm tội xâm phạm quyền TDDC của công dân của người phạm tội đều được thực hiện dưới hình thức lỗi cố

ý Tuy nhiên có quan điểm thì lại chưa đề cập đến yếu tố chủ thể của tội phạm, có quan điểm lại chưa đề cập đến yếu tố tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Tóm lại, trên cơ sở phân tích những quan điểm nêu trên, có thể hiểu các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến quyền TDDC của công dân được Hiến pháp và pháp luật hình sự ghi nhận, bảo vệ

Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.71-72

Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Tập thể tác giả, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.71

Trang 19

1.2 Sơ lƣợc lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm quyền

tự do, dân chủ của công dân

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm

1985

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đánh dấu một cột mốc quan trọng và phát triển trong lịch sử lập pháp nói chung và lịch sử lập pháp hình sự nói riêng Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập ngày 02 tháng 09 năm 1945, ngay từ bản dự thảo Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta đã ghi nhận, tôn trọng và bảo vệ những giá trị cao đẹp về quyền con người, trong đó có quyền TDDC của công dân

Chỉ trong một thời gian rất ngắn kể từ ngày Bản Tuyên ngôn Độc lập được công bố đến ngày 19/12/1946 - Ngày Toàn quốc kháng chiến, Nhà nước Việt Nam

đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật bao gồm các sắc lệnh, nghị định, thông tư Trong đó có những văn bản pháp luật đã quy định về quyền của công dân như:

- Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán ban hành ngày 24/01/1946, có quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt người, tạm giữ, tạm giam và loại trừ các trường hợp bắt bớ, giam người khác không đúng theo quy định của pháp luật Theo đó, ban Tư pháp xã không có nguyền bắt bớ, giam giữ ai trừ khi có trát nã của một thẩm phán hay khi thấy người phạm tội quả tang (Điều 4)

- Sắc lệnh số 40/SL về việc bảo vệ tự do cá nhân ban hành ngày 29/03/1946 quy định: Chỉ trừ khi nào có sự phạm pháp quả tang về khinh tội hay trọng tội còn bao giờ bắt người cũng cần phải có lệnh của thẩm phán viên Lệnh đó phải viết ra giấy và bao giờ cũng phải do nhân viên của các cơ quan chính thức đem thi hành Ở nơi nào chưa đặt thẩm phán viên thì chỉ có những cơ quan do luật pháp đã ấn định

để thay cho thẩm phán viên, thì mới có quyền ra lệnh bắt người (Điều thứ 1); Trong tình thế đặc biệt hiện thời và cho đến khi có lệnh khác, Chủ tịch Uỷ ban hành chính

kỳ đặc cách được phép ra lệnh bắt những người xét ra lời nói hay việc làm có thể làm hại cho sự đấu tranh giành độc lập, cho chế độ dân chủ, cho sự an toàn của công chúng và sự đoàn kết của quốc gia, để đem trừng trị trong những trại giam đặc

Trang 20

biệt Chủ tịch Uỷ ban hành chính kỳ cũng có thể ra lệnh cấm những người kể trên không được ở luôn hoặc lui tới một hay nhiều nơi sẽ ấn định (Điều thứ 7); Khi nào cấp bách đặc biệt, Chủ tịch Uỷ ban hành chính các tỉnh được phép tạm bắt giữ người xét ra lời nói hay việc làm nguy hại cho việc trị an nhưng phải báo tin lập tức ngay trong ngày tạm bắt giữ ấy cho Uỷ ban hành chính kỳ (Điều thứ 9)

Những quy định về việc bắt người tạm giữ, tạm giam đã bước đầu xác lập chặt chẽ thẩm quyền và thủ tục bắt người, giam người theo đúng quy định của pháp luật Ngoài ra cũng có những quy định về quyền bầu cử của công dân như Sắc lệnh

số 51/SL ngày 17/10/1945 về thể lệ tổng tuyển cử quy định: Tất cả những công dân Việt Nam 18 tuổi trở lên không phân biệt nam nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử, trừ những người điên mà dân địa phương đã công nhận là điên, những người hành khất chuyên môn, hay là những người do một hội thiện nào nuôi vĩnh viễn, những người bị can án mà không được hưởng sắc lệnh đại xá của Chính phủ dân chủ cộng hoà (Điều 2)

Ngày 19/11/1946 Quốc hội khoá I thông qua Hiến pháp năm 1946 - bản hiến pháp đầu tiên của Việt Nam được xây dựng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch

Hồ Chí Minh Hiến pháp đã dành Chương II để quy định về nghĩa vụ và quyền lợi của công dân Theo đó 13 điều luật từ Điều thứ 4 đến Điều thứ 16 đã xác định tương đối đầy đủ các quyền cơ bản của công dân Việt Nam, trong đó có các quyền TDDC của công dân như: Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá (Điều thứ 6); Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình (Điều thứ 7); Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung (Điều thứ 8); Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện (Điều thứ 9); Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài (Điều thứ 10); Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam, nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam không ai được xâm

Trang 21

phạm một cách trái pháp luật (Điều thứ 11)

Sau khi Hiến pháp năm 1946 ra đời, hệ thống pháp luật nước ta tuy trong hoàn cảnh chiến tranh vẫn có một bước phát triển mới Tuy nhiên nước ta lúc bấy giờ chưa có BLHS, do đó các quy định Hiến pháp về bảo vệ các quyền TDDC chủ yếu được cụ thể hóa trong các sắc luật, cụ thể là:

- Sắc lệnh 234/SL ngày 14/06/1955 về quyền tự do tín ngưỡng của công dân

có quy định: Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân, không ai được xâm phạm quyền tự do ấy Mọi người Việt Nam đều có quyền tự do theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo nào (Điều 1);

- Luật đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà

ở, đồ vật, thư tín của nhân dân năm 1957 quy định quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật và thư tín của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm, không ai được xâm phạm các quyền ấy (Điều 1) Theo đó việc bắt, giam người phạm đến pháp luật Nhà nước, việc khám người, nhà ở, đồ vật, thư tín phải theo thủ tục quy định cụ thể (Điều 2);

- Luật số 101-SL-L003 ngày 20/05/1957 quy định quyền tự do hội họp Theo

đó, quyền tự do hội họp của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm, không ai được xâm phạm đến quyền tự do hội họp (Điều 1);

- Sắc luật số 003-SL ngày 18/06/1957 quy định quyền tự do xuất bản: Quyền

tự do xuất bản của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm Tất cả các xuất bản phẩm đều không phải kiểm duyệt trước khi xuất bản, trừ trong tình thế khẩn cấp, nếu Chính phủ xét cần (Điều 1);

- Luật số 103-L005 ngày 20/05/1957 quy định về quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của công dân

Song song với việc Hiến pháp và pháp luật ghi nhận và bảo vệ các quyền TDDC của công dân, Nhà nước cũng quy định các biện pháp xử lý khác nhau từ nhẹ đến nặng, trong đó có các biện pháp hình sự đối với các hành vi xâm phạm tới quyền TDDC của công dân như:

- Luật quy định quyền lập hội ban hành ngày 24/01/1957 quy định: Người nào

Trang 22

xâm phạm đến quyền lập hội hoặc đến quyền tự do vào hội, ra hội của người khác

có thể bị cảnh cáo hoặc bị truy tố trước toà án và bị xử phạt tù từ một tháng đến một năm (Điều 7); Người nào lợi dụng quyền lập hội để hoạt động nguy hại đến lợi ích nước nhà, lợi ích nhân dân như là chống pháp luật, chống lại chế độ, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, chia rẽ dân tộc, hại đến thuần phong mỹ tục, phá hoại sự nghiệp đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ của Tổ quốc, phá tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước, tuyên truyền chiến tranh, sẽ bị truy tố trước Toà án và xử phạt theo luật pháp hiện hành, hội có thể bị giải tán và tài sản của hội có thể bị tịch thu (Điều 8);

- Luật bầu cử đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành ngày 13/01/1960 đã dành Chương VIII quy định về kỷ luật bầu cử, trong đó quy định một số hình phạt cụ thể như: Người nào dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại đến quyền tự do bầu cử và ứng cử của công dân thì có thể bị phạt tù đến hai năm (Điều 56); Nhân viên trong các Hội đồng bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử và nhân viên trong các tổ chức chính quyền phạm tội giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng mọi thủ đoạn khác để làm sai lạc kết quả cuộc bầu

cử có thể bị phạt tù đến ba năm (Điều 57); Mỗi người đều có quyền tố cáo các việc làm trái phép trong lúc bầu cử, ai cản trở hoặc trả thù người tố cáo thì có thể bị phạt

Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 83-92

Trang 23

- Sắc luật số 03/SL ngày 15/03/1976 của Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quy định việc bắt, giam, khám người, khám nhà, khám đồ vật;

- Quyết định số 181-NQ/QHK6 ngày 02/01/1978 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao cho TAND đặc biệt xét xử những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng về trật tự

xã hội ở Thành phố Hồ Chí Minh

Có thể thấy trong giai đoạn này Nhà nước ta đã có sự quan tâm đặc biệt đến việc tôn trọng, bảo vệ các quyền cơ bản của công dân như quyền về kinh tế, quyền chính trị, quyền văn hóa, quyền TDDC về chính trị, quyền bầu cử, ứng cử, quyền tự

do ngôn luận, tự do báo chí Những văn bản pháp luật được ban hành trong giai đoạn này đã bước đầu cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về bảo vệ các quyền TDDC đó của công dân và ngày càng được quy định đầy đủ hơn

1.2.2 Giai đoạn Bộ luật hình sự năm 1985 có hiệu lực thi hành

Ngày 27/6/1985, Bộ luật hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ra đời Để bảo vệ các quyền TDDC của công dân, Chương III Phần các tội

phạm của Bộ luật đã quy định về “Các tội xâm phạm những quyền TDDC của công

dân”, gồm 10 điều luật (từ Điều 119 đến Điều 128), trong đó quy định rõ các cấu

thành tội phạm, trách nhiệm hình sự, mức và loại hình phạt tương ứng đối với mỗi tội phạm: Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 119); Tội xâm phạm chỗ ở của công dân (Điều 120); Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện báo của người khác (Điều 121); Tội xâm phạm quyền bầu cử của công dân (Điều 122); Tội buộc người lao động thôi việc trái pháp luật (Điều 123); Tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, quyền hội họp, quyền lập hội của công dân (Điều 124); Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ (Điều 125); Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền sáng chế, quyền phát minh (Điều 126); Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân (Điều 127) Riêng Điều 128 quy định về hình phạt bổ sung, theo đó người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều từ 119 đến

124, Điều 126 và Điều 127, thì có thể bị cấm đảm nhiệm những chức vụ nhất định

từ 02 năm đến 05 năm

Trang 24

Như vậy, với các quy định này, lần đầu tiên các hành vi xâm phạm quyền TDDC bị coi là tội phạm được tập hợp lại và xây dựng thành hệ thống đồng bộ các quy phạm hình sự với các quy định cụ thể về tội danh, các tình tiết, yếu tố CTTP, hình thức TNHS và các hình phạt áp dụng Các điều luật này đã tạo thành hệ thống các quy phạm pháp lý hình sự có tính chất “cấm” – nhằm phòng ngừa và xử lý những hành vi phạm tội xâm phạm đến các quyền TDDC của công dân, đồng thời quy định cụ thể về các mức hình phạt tương ứng với từng hành vi cụ thể

Ngày 15/04/1992, Hiến pháp Việt Nam năm 1992 được ban hành vẫn tiếp tục

kế thừa và ghi nhận các quyền TDDC của công dân từ các bản Hiến pháp trước tại

các quy định tại Chương V về “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” Tương

thích với BLHS năm 1985, Nhà nước cũng ban hành một số văn bản liên quan đến việc bắt, giam giữ, khám nhà, khám người, khám đồ vật nhằm bảo vệ các quyền TDDC của công dân Điển hình nhất là Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã quy định những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong hoạt động tố tụng hình sự để giải quyết vụ án như: Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (Điều 3); Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (Điều 4); Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (Điều 5); Bảo

hộ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự và nhân phẩm của công dân (Điều 6); Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân (Điều 7)13

Sau khi ban hành BLHS năm 1985, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã ban hành Nghị quyết số 04/NQ-HĐTP ngày 29/11/1986 về Hướng dẫn áp dụng một

số quy định trong Phần các tội phạm của BLHS, trong đó tập trung hướng dẫn riêng tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật trong Chương các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân như giải thích rõ: Khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm

Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 95

Trang 25

1.2.3 Giai đoạn Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực thi hành

Trong quá trình thi hành, BLHS năm 1985 đã được sửa đổi bổ sung nhiều lần qua các năm 1989, 1991, 1992, 1997, và đến năm 1999 Quốc hội nước ta đã ban hành BLHS mới Các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân được quy định tại Chương XIII Phần các tội phạm của Bộ luật, gồm 10 điều từ Điều 123 đến Điều

132

So với BLHS năm 1985, quy định về các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân trong BLHS năm 1999 chỉ bổ sung thêm 01 điều tương ứng với một tội danh mới, nhưng thực chất là tách Điều 122 BLHS năm 1985 quy định hai hành vi phạm tội trong cùng một điều luật thành hai điều luật quy định hai tội danh riêng biệt (Điều 126 và Điều 127) Tuy nhiên, đối với các tình tiết là dấu hiệu định khung hình phạt trong các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân, BLHS năm 1999 quy định nhiều hơn và chi tiết hơn Tên tội danh, các khái niệm, các thuật ngữ cũng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn xét xử, phù hợp với tình hình kinh

tế - xã hội của nước ta và quy định của các ngành luật khác14

Ngày 19/06/2009, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 được Quốc hội khóa XII nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam thông qua Tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 131) được chuyển sang Chương XVI về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (thành Điều 170a), do vậy Chương VIII về các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân chỉ còn 09 Điều từ Điều 123 đến Điều 130 và Điều 132

Hiện nay, ngoài BLHS năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân, chúng ta còn có Bộ luật Tố tụng Hình sự

2003, Luật bình đẳng giới 2006 và nhiều văn bản pháp lý khác quy định về các quyền TDDC của công dân

Sau gần 15 năm thi hành BLHS năm 1999, đất nước ta đã có những chuyển

chủ của công dân; xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, Nxb TP, Hồ Chí Minh, 2002, tr.4

Trang 26

biến tích cực về mọi mặt Tuy nhiên trong tình hình mới một số quy định của BLHS năm 1999 tỏ ra không còn phù hợp với điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường Chính vì vậy, ngày 27/11/2015 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua BLHS năm 2015 với nhiều nội dung mới, trong đó có sự thay đổi trong các quy định về các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân Tuy nhiên, do còn nhiều vướng mắc, sai sót trong nội dung và kĩ thuật lập pháp, bộ luật này đã bị hoãn thi hành và tiếp tục được nghiên cứu, sửa đổi Ngày 20/06/2017 tại kì họp thứ ba, Quốc hội khóa XIV đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình

sự năm 2015) đã chỉnh sửa những sai sót về mặt kỹ thuật cũng như sửa đổi, bổ sung nhiều quy định để phù hợp với thực tiễn xã hội Việt Nam Bộ luật bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018

Có thể nói BLHS năm 2015 là sự đánh dấu một bước tiến mới trong kỹ thuật lập pháp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập cũng như phù hợp với tình hình thực tiễn về phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Đặc biệt những sửa đổi về các quy định đối với các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân đã góp phần bảo đảm phù hợp với yêu cầu của Hiến pháp năm 2013 về tăng cường bảo vệ các quyền,

tự do cơ bản của con người, quyền công dân; bảo đảm tính minh bạch, rõ ràng, tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng một cách thống nhất các quy định; đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, phù hợp với Công ước các quyền dân sự, chính trị

Có thể thấy, trong mỗi giai đoạn phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đều có các chủ trương, đường lối, chính sách cụ thể nhằm bảo vệ nền độc lập, dân chủ, bảo vệ chế độ, an ninh chính trị quốc gia và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của đất nước, trong đó có vấn đề bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng thời kỳ Về cơ bản, chúng ta đã có một khung pháp lý tương đối hoàn thiện nhằm bảo vệ các quyền TDDC của công dân

Trang 27

1.3 Quy định về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới

Các quyền TDDC của công dân trước hết đã được ghi nhận trong hai Công

ước quốc tế là Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc năm

1948 15 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 16 Đây là hai văn kiện pháp lý quốc tế nền tảng, ghi nhận các quyền pháp lý cơ bản của con người về dân sự, chính trị Từ đó, các quyền TDDC là một trong những quyền cơ bản của công dân và luôn được tôn trọng, ghi nhận, bảo vệ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Trong đó, Liên Bang Nga, Trung Quốc, Thụy Điển là những quốc gia

có những điểm tương đồng với Việt Nam trong việc quy định về các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân trong Bộ luật hình sự

1.3.1 Bộ luật hình sự Liên bang Nga

Bộ luật hình sự Liên bang Nga được Đuma Quốc gia thông qua ngày 24/05/1996 và tổng thống Liên bang Nga ký Luật số 64 ngày 13/06/1996 về việc thi hành Bộ luật hình sự của Liên bang Nga có hiệu lực từ ngày 01/01/1997

Bộ luật hình sự nước này trước hết quy định ba tội xâm phạm tự do cá nhân tại

Chương 17 - Các tội xâm phạm tự do, nhân phẩm và danh dự cá nhân, cụ thể là: Tội

bắt cóc người (Điều 127); tội tước tự do trái pháp luật (Điều 128); tội đưa người trái pháp luật vào bệnh viện tâm thần (Điều 129)

Chương 19 của BLHS Liên bang Nga với tên gọi là Các tội xâm phạm quyền

Hiến pháp và tự do của con người và công dân điều chỉnh trực tiếp việc bảo vệ các

quyền TDDC của công dân với 13 tội danh cụ thể: Tội xâm phạm quyền bình đẳng của công dân (Điều 137); tội xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về cuộc sống riêng (Điều 138); tội xâm phạm bí mật thư từ, nói chuyện điện thoại, thư tín, điện báo hay các thông tin khác (Điều 138); tội xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 140); tội từ chối cung cấp thông tin cho công dân (Điều 141); tội cản

15 Việt Nam là thành viên của văn kiện này từ năm 1988

Trang 28

trở việc thực hiện quyền bầu cử hoặc công việc của các ban bầu cử (Điều 142); tội giả mạo giấy tờ bầu cử, giấy tờ trưng cầu dân ý hoặc kiểm phiếu sai (Điều 143); tội

vi phạm quy định về bảo hộ lao động (Điều 144); tội từ chối nhận vào làm việc không có căn cứ hoặc buộc thôi việc không có căn cứ phụ nữ đang có thai hoặc phụ

nữ nuôi con dưới ba tuổi (Điều 145); tội xâm phạm quyền tác giả và các quyền liên quan (Điều 146); tội xâm phạm quyền sáng chế, phát minh (Điều 147); tội cản trở việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo (Điều 148); tội cản trở việc tiến hành hoặc tham gia hội họp, mít tinh, biểu tình, diễu hành, canh phòng khi biểu tình (Điều 149)17

Có thể thấy so với BLHS Việt Nam quy định độc lập các tội xâm phạm quyền TDDC tại một chương là Chương VIII - Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, thì BLHS Liên Bang Nga lại quy định các tội này ở 2 chương khác nhau

Quy định của BLHS Liên bang Nga cũng có sự mở rộng hơn so với BLHS Việt Nam khi có quy định các tội như: Tội đưa người trái pháp luật vào bệnh viện tâm thần (Điều 129); tội xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về cuộc sống riêng (Điều 138); tội từ chối cung cấp thông tin cho công dân (Điều 141); tội vi phạm quy định về bảo hộ lao động (Điều 144) Ngoài ra, một số điều luật lại có sự mở rộng đối tượng áp dụng như tội xâm phạm quyền bình đẳng của công dân (Điều 137) mở rộng đối tượng bị tội phạm xâm phạm có thể là nam hoặc nữ, trong khi BLHS Việt Nam năm 1999 chỉ quy định tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ (Điều 130)

Bộ luật hình sự Liên bang Nga còn quy định tội từ chối nhận vào làm việc không có căn cứ hoặc buộc thôi việc không có căn cứ phụ nữ đang có thai hoặc phụ nữ nuôi con dưới ba tuổi (Điều 145) và tội xâm phạm quyền tác giả và các quyền liên quan (Điều 146), trong khi đó BLHS Việt Nam lại quy định là tội buộc người lao động,

17

Trịnh Tiến Việt, Trần Thị Quỳnh (2010), Về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong

Bộ luật hình sự Liên bang Nga, Trung Quốc và Thụy Điển, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học, 26, tr.66

Trang 29

cán bộ, công chức thôi việc trái pháp luật (Điều 128), còn tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 131) đã bỏ và chuyển thành tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 170a) tương ứng Đặc biệt, Bộ luật hình sự Việt Nam quy định tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 132), còn trong Chương tương ứng của BLHS Liên bang Nga không quy định tội phạm này

Chính sách hình sự thể hiện ở những chế tài áp dụng đối với các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân trong BLHS Liên bang Nga chủ yếu mang tính chất giáo dục, phòng ngừa là chính, chủ yếu là phạt tiền (tính trên mức thu nhập tối thiểu hay mức lương hay thu nhập khác của người bị kết án), phạt lao động bắt buộc trong một thời hạn nhất định, hoặc phạt tù nhưng mức hình phạt nhẹ, chủ yếu là dưới 03 năm Chỉ một số tội xâm phạm quyền tự do cá nhân có mức hình phạt nặng hơn lên đến 06, 07 hoặc 08 năm như tội bắt cóc người (Điều 127), tội tước tự do trái pháp luật (Điều 128)

1.3.2 Bộ luật hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Bộ luật hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ II, ngày 01/07/1979, có hiệu lực từ ngày 01/01/1980, sửa đổi, bổ

sung lần thứ 8 ngày 25/02/2011 Chương IV của BLHS nước này với tên gọi là Các

tội xâm phạm quyền tự do thân thể, quyền dân chủ của công dân với 36 điều luật, trong đó một số điều quy định về các tội xâm phạm các quyền TDDC của công dân như:

- Điều 238 quy định về hành vi giam giữ trái pháp luật người khác hoặc bằng các thủ đoạn khác tước đoạt phi pháp quyền tự do thân thể của người khác;

- Điều 239 quy định về hành vi bắt cóc người khác vì mục đích tống tiền hoặc bắt cóc để làm con tin;

- Điều 243 quy định về hành vi bịa đặt nhằm hãm hại người khác, có mưu đồ khiến cho người khác bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Điều 244 quy định về hành vi của đơn vị sử dụng người mà vi phạm quy định về quản lý lao động, hạn chế tự do thân thể, cưỡng bức nhân viên lao động và hành vi của người vi phạm quy định quản lý lao động, sử dụng trẻ em vị thành niên

Trang 30

chưa đủ 16 tuổi lao động vượt quá sức lao động hoặc làm những công việc trên cao, dưới hầm hoặc lao động trong môi trường nguy hiểm, dễ nổ, dễ cháy, phóng xạ, độc hại;

- Điều 245 quy định về hành vi khám người, khám nhà người khác bất hợp pháp hoặc vào nhà của người khác một cách phi pháp;

- Điều 246 quy định về hành vi dùng bạo lực hoặc các biện pháp khác ngang nhiên làm nhục người khác hoặc bịa đặt, phỉ báng người khác;

- Điều 247 quy định về hành vi của nhân viên tư pháp mà tiến hành bức cung đối với bị can, bị cáo hoặc dùng vũ lực bức cung nhân chứng;

- Điều 249 quy định về hành vi kích động gây thù hận, kỳ thị dân tộc;

- Điều 250 quy định về hành vi xuất bản những tài liệu có nội dung kỳ thị dân tộc, làm nhục dân tộc thiểu số, có tình tiết xấu xa;

- Điều 251 quy định về hành vi của nhân viên công tác trong các cơ quan Nhà nước tước đoạt phi pháp quyền tự do tín ngưỡng của công dân hoặc xâm phạm phong tục tập quán của dân tộc thiểu số;

- Điều 252 quy định về hành vi cất giấu, tiêu hủy hoặc bóc thư của người khác một cách phi pháp, xâm phạm quyền tự do thông tin của công dân;

- Điều 253 quy định về hành vi của nhân viên bưu điện tự ý bóc mở hoặc giấu

đi hoặc tiêu hủy thư từ, điện báo;

- Điều 254 quy định về hành vi của nhân viên công tác trong các cơ quan nhà nước lạm dụng chức quyền lấy danh nghĩa công việc hãm hại báo thù những người khiếu nại, tố cáo, phê bình người khác khai báo;

- Điều 256 quy định về hành vi của người lãnh đạo cơ quan nhà nước (khi bầu

cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp) dùng thủ đoạn bạo lực uy hiếp, lừa dối, hối

lộ, làm giả tài liệu bầu cử, báo khống số phiếu bầu phá hoại cuộc bầu cử hoặc xâm hại tới quyền tự do bầu cử và được bầu cử18

Tư pháp, Hà Nội, tr 156

Trang 31

Có thể thấy các điều luật trong BLHS Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không

có tên tội danh mà chỉ mô tả các hành vi phạm tội trong nội dung điều luật

Về các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân BLHS Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng quy định đầy đủ và nói chung cũng có nhiều tội phạm giống và tương đồng với BLHS Việt Nam như: Điều 238 quy định về hành vi giam giữ trái pháp luật người khác hoặc bằng các thủ đoạn khác tước đoạt phi pháp quyền tự do thân thể của người khác; Điều 245 quy định về hành vi khám người, khám nhà người khác bất hợp pháp hoặc vào nhà của người khác một cách phi pháp Tuy nhiên, BLHS Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng có sự mở rộng hơn so với BLHS

Việt Nam Mặc dù tên chương là Các tội xâm phạm quyền tự do thân thể, quyền

dân chủ của công dân, song các điều luật chủ yếu nhấn mạnh đến các hành vi phạm

tội xâm phạm đến quyền tự do thân thể Đồng thời trong Chương này, ngoài một số tội phạm xâm phạm đến quyền TDDC của công dân thì còn quy định các tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người; xâm phạm sở hữu; xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình; xâm phạm hoạt động tư pháp Một số tội phạm có đặc trưng khác với BLHS Việt Nam được quy định trong chương này như: Điều 241 quy định về hành vi mua bán phụ nữ, trẻ em bị đem bán; Điều 242 quy định về hành vi dùng bạo lực hoặc uy hiếp ngăn cản nhân viên thi hành công vụ Nhà nước giải thoát cho phụ nữ, trẻ em bị đem bán; Điều 246 quy định về hành vi dùng bạo lực hoặc các biện pháp khác ngang nhiên làm nhục người khác hoặc bịa đặt, phỉ báng người khác19

Bộ luật hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa áp dụng những chế tài xử phạt

từ nhẹ đến nặng đối với các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân Phần lớn các trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng thì hình phạt là tù có thời hạn dưới 03 năm, hoặc các hình phạt như cải tạo lao động, quản chế, tước quyền chính trị Đối với các trường hợp phạm tội nghiêm trọng hơn, hình phạt áp dụng có thể là tù có thời hạn từ

Bộ luật hình sự Liên bang Nga, Trung Quốc và Thụy Điển, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học, 26, tr.70

Trang 32

03 đến 10 năm (Điều 238; Điều 239; Điều 243; Điều 249) hoặc tù chung thân, hay thậm chí là tử hình khi người phạm tội gây thương tích nghiêm trọng cho nạn nhân hoặc làm nạn nhân chết (Điều 238; Điều 239) Nhìn chung, BLHS Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có khung hình phạt nghiêm khắc hơn so với BLHS Việt Nam

1.3.3 Bộ luật hình sự Thụy Điển

Bộ luật hình sự Thụy Điển thông qua năm 1962 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1965, đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần các năm 1967, 1970, 1974, 1976,

1986, 1988, 1994 và lần sửa đổi gần đây nhất là năm 1999 Chương 4 BLHS Thụy Điển quy định về các tội xâm phạm quyền tự do và chỗ ở của người khác với 13 điều luật, cụ thể:

- Điều 1 quy định hành vi bắt và đưa đi hoặc giam giữ trẻ em hoặc người khác với mục đích gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của họ, buộc họ phục dịch hoặc vì mục đích tống tiền thì bị kết án về tội bắt cóc;

- Điều 2 quy định hành vi của một người nào ngoài các trường hợp quy định tại Điều 1, tước quyền tự do của người khác bằng cách đưa đi hoặc giam giữ người

đó, thì bị kết án về tội tước quyền tự do của công dân trái pháp luật;

- Điều 3 quy định hành vi của một người nào ngoài các trường hợp quy định tại Điều 1 và Điều 2, bằng thủ đoạn lừa gạt hoặc ép buộc trái pháp luật làm người khác phải phục vụ trong quân đội hoặc làm việc cực nhọc hoặc chịu các điều kiện cực khổ khác hoặc xúi giục người khác ra đi và lưu lại một địa điểm ở nước ngoài

mà người đó có thể bị khủng bố hoặc bị bóc lột về tình dục hoặc phải chịu các đau khổ, thì bị kết án về tội đưa người khác vào tình cảnh đau khổ;

- Điều 4 quy định hành vi hành hung hoặc sử dụng các hình thức bạo lực khác hoặc đe dọa thực hiện hành vi phạm tội mà ép buộc người khác làm, cam chịu hoặc không làm một việc gì đó, thì bị kết án về tội ép buộc trái pháp luật; người nào đe dọa truy cứu hoặc kết án người khác về một tội hoặc đưa tin có hại về người khác thì bị kết án về tội ép buộc trái pháp luật với điều kiện sự ép buộc đó là sai trái;

- Điều 5 quy định hành vi chĩa vũ khí vào người khác hoặc bằng cách khác đe dọa thực hiện hành vi phạm tội đủ gây cho người bị đe dọa một nỗi sợ hãi nghiêm

Trang 33

trọng cho sự an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của mình hoặc người khác, thì bị kết án về tội đe dọa trái pháp luật;

- Điều 6 quy định hành vi xâm nhập hoặc ở lại chỗ ở của người khác một cách trái pháp luật, dù là một căn phòng, của một người nào ngoài các trường hợp quy định tại Điều 1, tước quyền tự do của người khác bằng cách đưa đi hoặc giam giữ người đó, thì bị kết án về tội tước quyền tự do của công dân trái pháp luật; hoặc không được phép mà xâm nhập hoặc ở lại một cơ quan, nhà máy, trụ sở hoặc tàu thuyền hoặc khu vực kho tàng hoặc những nơi tương tự khác, thì bị kết án về tội xâm phạm trái pháp luật;

- Điều 7 quy định hành vi bằng chân tay hoặc nổ súng, ném đá, gây ồn lớn hoặc bằng các xử sự vô tâm quấy rầy người khác, thì bị kết tội quấy nhiễu người khác;

- Điều 8 quy định hành vi tiếp cận bất hợp pháp một cuộc giao dịch bằng thư tín hoặc điện thoại, điện tín hoặc các hình thức thông tin khác đang được một cơ quan thông tin liên lạc truyền đi, thì bị kết án về tội xâm phạm bí mật thư tín, điện thoại, điện báo của người khác;

- Điều 9 quy định người nào, ngoài các trường hợp quy định tại Điều 8, mở thư hoặc điện báo hoặc bằng cách khác tiếp cận trái pháp luật vật được niêm phong bằng xi hoặc được khóa hoặc các hình thức đóng khác, thì bị kết án về tội an toàn

đồ gửi;

- Điều 9a quy định, ngoài các trường hợp quy định tại Điều 8, nghe một cách bất hợp pháp và bí mật hoặc sử dụng các phương tiện kỹ thuật ghi âm ghi lại cuộc nói chuyện giữa những người khác hoặc các cuộc thảo luận tại hội nghị hoặc các cuộc họp khác cấm thông báo cho công chúng mà bản thân người đó không tham dự hoặc tham dự không đúng đắn, thì bị kết án về tội nghe trộm;

- Điều 9b quy định hành vi sử dụng các phương tiện kỹ thuật nhằm phạm tội nói tại Điều 8 hoặc tội nói tại Điều 9a, thì bị kết án về hành vi chuẩn bị phạm các tội

đó, nếu người đó không phải chịu trách nhiệm về tội đã hoàn thành;

- Điều 10 quy định hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt hoặc đồng

Trang 34

phạm tội bắt cóc, tước quyền tự do của công dân trái pháp luật hoặc đưa người khác vào tình cảnh đau khổ, không tố giác các tội đó cũng như các hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt tội ép buộc trái pháp luật trong trường hợp nghiêm trọng, hình phạt được quy định tại Chương 23;

- Điều 11 quy định đối với tội xâm phạm chỗ ở của người khác trong trường hợp ít nghiêm trọng, tội nghe trộm không được thực hiện ở nơi công cộng hoặc hành vi chuẩn bị phạm các tội đó, tội quấy nhiễu không xảy ra ở nơi công cộng hoặc tội xâm phạm an toàn đồ gửi thì công tố viên chỉ truy tố nếu: a) người bị hại có đơn yêu cầu truy tố; b) việc truy tố là vì lợi ích công cộng Quy định này cũng được áp dụng đối với các tội ép buộc trái pháp luật bằng thủ đoạn đe dọa truy tố hoặc kết án người khác về một tội hoặc đưa tin có hại về người khác cũng như hành vi chuẩn bị phạm tội hoặc phạm các tội đó chưa đạt20

Như vậy, cũng giống như BLHS Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, BLHS Thụy Điển không đặt tên tội danh tại các điều luật Các quyền TDDC của công dân được quy định trong chương này cũng có đối tượng hẹp hơn so với BLHS Việt Nam, chủ yếu tập trung nhấn mạnh đến các tội xâm phạm quyền tự do và chỗ ở của người khác, đúng như tên gọi của nó Ngoài ra trong chương này, các nhà làm luật Thụy Điển khi quy định các hành vi phạm tội cũng kèm theo quy định cả vấn đề chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và trường hợp không phải chịu TNHS trong một số điều luật về các tội xâm phạm tự do và chỗ ở của người khác (Điều 9b, Điều 10, Điều 11), chứ không tách riêng theo quy định thuộc Phần chung như trong BLHS Việt Nam Điều này một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho thực tiễn áp dụng đối với từng tội cụ thể trong thực tiễn, nhưng mặt khác lại chưa khái quát thành những nguyên tắc áp dụng trong Phần chung của Bộ luật hình sự

Về hình phạt, BLHS Thụy Điển quy định hình phạt tiền hoặc hình phạt tù có thời hạn dưới 02 năm đối với phần lớn các điều luật trong chương này Một số tội

Bộ luật hình sự Liên bang Nga, Trung Quốc và Thụy Điển, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học, 26, tr.71

Trang 35

có khung hình phạt cao nhất là 04 năm (Điều 5 – tội đe dọa trái pháp luật) hoặc 06 năm (Điều 4 – tội ép buộc trái pháp luật) Một số hành vi phạm tội có tính chất nguy hiểm hơn có khung hình phạt cao nhất đến 10 năm được quy định tại Điều 1, Điều 2

và Điều 3 Ngoài ra, hình phạt cao nhất là chung thân cũng có thể được áp dụng đối với hành vi phạm tội thuộc Điều 1 Như vậy, về cơ bản BLHS Thụy Điển áp dụng mức hình phạt tương đối nhẹ đối với hầu hết các điều luật tại chương này khi chủ yếu áp dụng hình phạt tiền hoặc phạt tù dưới 02 năm Tuy nhiên một số trường hợp phạm tội có tính chất nguy hiểm cao hơn, hình phạt áp dụng cũng sẽ nghiêm khắc hơn nhằm đảm bảo tính răn đe và giáo dục

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tại Chương 1, qua việc khái quát những khái niệm cơ bản về quyền con người, quyền công dân, quyền TDDC của công dân, tác giả đưa ra khái niệm các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển, tác giả đã nêu lên những quy định pháp lý ban đầu về các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân cho đến khi được ghi nhận là một tội phạm cụ thể trong các văn bản pháp luật cũng như quá trình hoàn thiện và phát triển quy định về loại tội phạm này Lịch sử phát triển của pháp luật hình sự nói chung và pháp luật hình sự về các tội phạm xâm phạm quyền TDDC của công dân nói riêng đã cho thấy Nhà nước ta rất quan tâm, chú trọng đến vấn đề bảo vệ các quyền của con người, của công dân và pháp luật hình sự nhằm xử lý các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân

Qua phân tích các quy định về các quyền TDDC trong pháp luật hình sự của một số quốc gia trên thế giới, có thể thấy về cơ bản pháp luật các nước đều có những quy định cụ thể, đầy đủ về các tội phạm này dựa trên nội dung của các Công ước quốc tế Việc nghiên cứu quy định về các tội xâm phạm quyền TDDC của một

số nước trên thế giới để học tập kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ quyền TDDC của công dân là việc làm cần thiết giúp Việt Nam có thể hoàn thiện hơn những quy định

về các tội phạm này, góp phần nâng cao việc bảo vệ quyền TDDC của công dân

Trang 36

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH

VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN

2.1 Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm quyền

tự do, dân chủ của công dân

Bộ luật hình sự năm 1999 được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát huy những nguyên tắc, chế định hình sự của nước ta, nhất là của BLHS năm 1985, cũng như những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn phòng ngừa và chống tội phạm trong nhiều thập kỉ qua của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong lĩnh vực bảo vệ các quyền TDDC của công dân, BLHS đã ghi nhận Chương XIII – Các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân làm cơ sở pháp lý hình sự đầy đủ và thống nhất

để xử lý các hành vi của bất kì người nào xâm phạm đến quyền TDDC của công dân

Theo quy định hiện hành, các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân được quy định tại Chương XIII Phần các tội phạm BLHS năm 1999, bao gồm 09 tội: Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 123); tội xâm phạm chỗ ở của công dân (Điều 124); tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác (Điều 125); tội xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân (Điều 126); tội làm sai lệch kết quả bầu cử (Điều 127); tội buộc người lao động, cán

bộ, công chức thôi việc trái pháp luật (Điều 128); tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân (Điều 129); tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ (Điều 130); tội xâm phạm các quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 132)

2.1.1 Dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân

2.1.1.1 Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm nói chung là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại Khách thể là yếu tố rất quan trọng của tội phạm, các

Trang 37

hành vi xâm phạm đến các quan hệ xã hội không phải là khách thể của tội phạm thì không phải là tội phạm Hiểu rõ khách thể của tội phạm giúp chúng ta xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tội phạm, phân biệt tội phạm này với tội phạm khác

Đối với các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân, khách thể của tội phạm chủ yếu là quyền TDDC của công dân Những quyền này là bộ phận hợp thành quan trọng trong các quyền cơ bản của công dân, thể hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và đã được ghi nhận trong Hiến pháp

Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Ở nước Cộng h a xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa,

xã hội được công nhận, tôn trọng bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật.”

và “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật

trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng.” (Điều 14)

Hiến pháp còn khẳng định mạnh mẽ mọi công dân Việt Nam đều quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa,

xã hội; được nhà nước bảo đảm các quyền tự do thân thể, quyền bất khả xâm phạm

về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định pháp luật; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền khiếu nại, tố cáo21

Những quy định trên đã thể hiện sự phát triển quan trọng về nhận thức và tư duy trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người, quyền công dân của Nhà nước

ta Do vậy các quyền này là khách thể của nhóm tội xâm phạm quyền TDDC của công dân quy định tại Chương XIII của BLHS năm 1999 Các hành vi xâm phạm tới các quyền TDDC của công dân, nghĩa là đã xâm phạm tới các quyền Hiến định,

21 Minh Bình (2015), Quyền con người trong Hiến pháp năm 2013 xem tại địa chỉ tuc/2015-08-01/quyen-con-nguoi-trong-hien-phap-nam-2013-dt46.html truy cập ngày 08/05/2017

Trang 38

http://ktcn.tnut.edu.vn/tin-gây thiệt hại trực tiếp cho cá nhân, công dân, làm ảnh hưởng xấu đến việc triển khai chính sách, đường lối xây dựng, phát triển xã hội - đất nước, bảo vệ nhân quyền của Đảng và Nhà nước ta

Có thể thấy đối tượng tác động của các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân luôn liên quan đến con người - chủ thể của các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, thực hiện các quyền TDDC của công dân được quy định trong Hiến pháp và pháp luật Đối tượng đó có thể là con người như người bị bắt, giữ hoặc giam trái pháp luật (Điều 123); là vật chất cụ thể như nhà ở, chỗ ở của công dân (Điều 124), thư, điện báo, telex, fax, các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và máy tính của công dân (Điều 125) Đối tượng tác động cũng có thể là những quyền, lợi ích phi vật chất, khó xác định cụ thể Ví dụ đối với tội xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân, đối tượng tác động không phải là lá phiếu, danh sách bầu cử hoặc ứng cử, mà chính là tinh thần của con người, làm cho người bị lừa gạt, bị mua chuộc, bị cưỡng ép không thực hiện được quyền bầu cử, quyền ứng cử của mình (Điều 126)

Ngoài ra tùy từng trường hợp tương ứng cụ thể mà người phạm tội xâm phạm quyền TDDC của công dân còn có thể xâm phạm đến một số quan hệ khác như tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN nhưng đây không phải là khách thể đặc trưng của các tội này

Ví dụ: Bản án số 506/2014/HSST ngày 29/12/2014 của TAND Thành phố Hồ

Chí Minh và bản án số 193/2015/HSPT ngày 20/04/2015 của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trong quá trình làm ăn với nhau, bà Nguyễn Thúy Hồng có nợ Hồ Thị Yến

Vy số tiền 1,36 tỉ đồng nhưng chưa có tiền trả Tháng 05/2012 Vy thuê Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Hoàng Dũng đi đòi nợ bà Hồng Vy thoả thuận nếu đòi được tiền thì Ngọc sẽ được hưởng 30% trên tổng số nợ đòi được, Ngọc đồng ý Vy cho người chỉ dẫn cho Ngọc biết nơi ở của bà Hồng tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Ngọc bàn bạc với Dũng để gặp Vy thỏa thuận việc Vy làm giấy ủy quyền cho Dũng đòi nợ với chi phí

20 triệu đồng Ngọc, Dũng rủ thêm 6 đối tượng khác tham gia đòi nợ

Trang 39

Sáng 06/06/2012, Ngọc, Dũng cùng Võ Minh Sen, Nguyễn Thanh Bình và các đối tượng Mẫn, Dương, Lâm đến tìm gặp bà Hồng tại trang trại chăn nuôi của Công

ty TNHH Thiên Phúc (trụ sở tại ấp Phước Lộc, xã Phước Hội, huyện Đất Đỏ) để yêu cầu bà Hồng trả nợ cho Vy Trong khi đòi nợ, Dũng và Bình đã dùng tay đánh vào đầu, chích roi điện vào anh Hoàng Minh Phong (con trai bà Hồng) và đe dọa uy hiếp bà Hồng Do con nợ không có tiền, thông qua điện thoại, Vy yêu cầu Ngọc đưa

bà Hồng về nhà hàng Trúc Vân (nhà hàng của Vy tại xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai) Theo yêu cầu của Ngọc, Dũng cùng Lâm, Mẫn lục soát văn phòng của bà Hồng Dũng dùng tay đánh vào đầu anh Phong để ép bà Hồng phải

mở két sắt để lấy đi 3 điện thoại di động, 1 sợi dây chuyền vàng 18K, 1 triệu đồng tiền mặt, 1 con dấu cùng các giấy tờ liên quan đến Công ty TNHH Thiên Phúc bỏ vào túi xách mang theo để chiếm đoạt tài sản Ngọc và đồng bọn đã đe dọa và ép buộc hai mẹ con bà Hồng lên xe ô tô của bà Hồng do Sang điều khiển, còn chị Nguyễn Thị Ngọc (kế toán của Công ty Thiên Phúc) phải lên xe mô tô của Hoàng Quốc Dũng để đi về nhà hàng Trúc Vân để gặp Vy

Tại nhà hàng Trúc Vân, Vy ép bà Hồng phải ký giấy cam kết xác nhận nợ tính đến ngày 06/06/2012 là 2,8 tỉ đồng; để thanh toán nợ, bà Hồng sẽ giao xe tô tô và

15 ngày sau sẽ giao căn nhà 103/2/27, đường Cộng Hòa, phường 12, quận Tân Bình, TP HCM cho Vy để cấn trừ nợ Do bà Hồng không đồng ý nên Dũng và Bình

đã đưa anh Phong - con của bà Hồng ra xe ô tô và dùng roi điện chích vào người, tay của nạn nhân để gây áp lực buộc bà Hồng phải ký vào giấy nợ Quá sợ hãi, bà Hồng đã phải ký vào giấy cam kết sẽ bàn giao giấy tờ nhà và căn nhà Kết quả kiểm tra sức khỏe cho thấy anh Phong bị 11 vết chích điện ở lưng, cột sống và bụng

Do bà Hồng không biết giấy tờ nhà để ở đâu nên Vy yêu cầu Ngọc đi cùng bà Hồng để lấy lại giấy tờ nhà Dũng đưa chị Nguyễn Thị Ngọc ra đón xe về Công ty TNHH Thiên Phúc tìm giấy tờ nhà nhưng không có Gia đình bà Hồng cũng báo không có giấy tờ nhà Sau khi Ngọc điện báo cho biết không tìm được giấy tờ nhà thì Vy yêu cầu Ngọc phải lấy cho được giấy tờ nhà Ngọc và đồng bọn tiếp tục đưa hai mẹ con bà Hồng về giữ tại phòng trọ của Ngọc ở ấp Long Thới, xã Long

Trang 40

Thượng, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An nhằm tạo áp lực buộc gia đình bà Hồng phải giao giấy tờ nhà Tại đây Ngọc còn nói với bà Hồng rằng phải vay 300 triệu đưa cho Ngọc thì Ngọc mới thả 2 mẹ con bà Hồng về nhà

Đến 3h ngày 07/06/2012, khi biết vụ việc bị cơ quan công an phát hiện, Vy đã gọi điện thoại cho Ngọc nói thả hai mẹ con bà Hồng Tổng số tài sản các đối tượng

đã chiếm đoạt của hai mẹ con bà Hồng có giá trị gần 21 triệu đồng, các đối tượng đã mang bán và tiêu xài cá nhân

Tại bản án số 506/2014/HSST ngày 29/12/2014 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh và bản án số 193/2015/HSPT ngày 20/04/2015 của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn Văn Ngọc 4 năm tù, Nguyễn Thanh Bình 3 năm 6 tháng tù, Võ Minh Sen 3 năm 6 tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”22

Trong vụ án trên, có thể thấy ngoài việc xâm phạm đến quyền tự do thân thể - khách thể chính của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, thì các hành vi của các bị cáo còn xâm phạm đến một số quan hệ khác như sức khỏe, tài sản của nạn nhân

2.1.1.2 Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm ra bên ngoài thế giới khách quan bao gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả tác hại do hành

vi đó gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả tác hại, thời gian, địa điểm, phương pháp, phương tiện và công cụ thực hiện tội phạm

Hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi đã gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Trong từng tội phạm cụ thể, biểu hiện của hành vi khách quan xâm phạm các quyền TDDC của công dân cũng rất khác nhau Hành vi đó có thể được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động Hành vi được thực hiện bằng hành động là trường hợp chủ thể làm một

Bản án số 193/2015/HSPT ngày 20/04/2015 của Tòa phúc thẩm TAND tối cao Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày đăng: 13/03/2019, 21:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w