Điều này đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn thi hành pháp luật về bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của TAND ở vùng DTTS cụ thể, từ đó nhận định nhữ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 60.38.01.02
HÀ NỘI -2017
HÀ NỘI – NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, đƣợc trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả luận văn
Đao Thị Bích Thảo
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DTTS : Dân tộc thiểu số TAND : Tòa án nhân dân TTHS : Tố tụng hình sự TTDS
TTHC
: Tố tụng dân sự : Tố tụng hành chính HĐXX : Hội đồng xét xử TGPL : Trợ giúp pháp lý
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 6 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 6 1.1 Người dân tộc thiểu số và quyền của người dân tộc thiểu số 6 1.1.1 Khái niệm người dân tộc thiểu số 6 1.1.2 Vấn đề quyền của người dân tộc thiểu số 10 1.2 Khái niệm bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số trong hoạt động của tòa án nhân dân 13 1.2.1 Định nghĩa bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số trong hoạt động của Tòa án nhân dân 13 1.2.2 Đặc điểm của bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số trong hoạt động của Tòa án nhân dân 16 1.3 Nội dung bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số trong hoạt động của Tòa án nhân dân 23
1.3.1 Các quyền được bảo đảm 23 1.3 2 Trách nhiệm đảm bảo quyền của người DTTS từ phía Tòa án 30 1.3.3 Những yêu cầu đặt ra đối với bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số trong hoạt động của Tòa án nhân dân 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35 CHƯƠNG 2 36 THỰC TIỄN BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN 36 2.1 Khái quát về tình hình người dân tộc thiểu số ở Điện Biên, các đơn vị Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên 36
2.1.1 Người dân tộc thiểu số ở Điện Biên và những vấn đề đặt ra trong công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số ở Điện Biên 36 2.1.2 Đặc điểm các Tòa án nhân dân ở tỉnh Điện Biên 39 2.2 Thực tiễn bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số tại Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên 42
Trang 62.2.1 Trong công tác xét xử, giải quyết các loại án 42
2.2.2 Trong các công tác khác nhằm bảo đảm hiệu quả hoạt động của Tòa án 50
2.2.3 Trong công tác phối hợp với các cơ quan, tổ chức khác có liên quan đến hoạt động bảo đảm quyền người dân tộc thiểu số trong hoạt động của Tòa án: 53
2.3 Đánh giá về công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số trong hoạt động của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên 55
2.3.1 Kết quả đạt được 55
2.3.2 Hạn chế 58
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 61
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN 68
3.1 Những vấn đề đặt ra đối với công tác bảo đảm quyền con người của người dân tộc thiểu số ở Điện Biên 68
3.1.1 Những điều kiện thuận lợi 68
3.1.2 Những thách thức 73
3.2 Kiến nghị 75
3.2.1 Đối với công tác xét xử, giải quyết các loại án 75
3.2.2 Đối với các công tác khác nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động của Tòa án 79
3.2.3 Đối với công tác phối hợp với các cơ quan Nhà nước liên quan đến hoạt động bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số tại Tòa án 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nằm trong khuôn khổ quyền con người, quyền của người dân tộc thiểu
số (DTTS) thuộc nhóm xã hội dễ bị tổn thương là một nội dung quan trọng được Hiến pháp ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện Người DTTS ở Việt Nam mặc dù chỉ chiếm 14,6 % với gần 13,4 triệu người nhưng lại sinh sống trên địa bàn miền núi chiếm ¾ diện tích tự nhiên của cả nước
Đó là vùng có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường, sinh thái của cả nước Bảo đảm quyền của người DTTS không chỉ đơn thuần là bảo đảm sự bình đẳng cho người DTTS được phát triển về mọi mặt mà còn có ý nghĩa ngày càng quan trọng đối với công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng của đất nước Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn đặc biệt quan tâm, tạo điều kiện để người DTTS phát triển về mọi mặt, từ đó góp phần đảm bảo tốt nhất quyền của người DTTS
Nhằm thể chế hóa mục tiêu của Chiến lược cải cách tư pháp là “xây dựng nền tư pháp trong sạch,vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý”, Hiến pháp 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 6, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014 đã ghi nhận nhiều quy định có tính mới,
có tính đột phá thể hiện vai trò nền tảng để hoàn thiện các thiết chế tư pháp nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân Lần đầu tiên kể từ sau Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp 2013 đã xác định rõ địa vị pháp lý của Tòa án nhân dân (TAND) là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp và là một trong những cơ quan Nhà nước có trách nhiệm to lớn về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trong đó bao gồm quyền của người DTTS Bởi vậy, bảo đảm quyền của người DTTS bằng hoạt động của TAND là vấn đề rất cần được quan tâm theo yêu cầu của cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay Đồng thời đây cũng là mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mà chúng ta đang hướng đến
Những năm qua, hệ thống TAND đã có những chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức và hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người cũng như quyền của người DTTS theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 Nhờ đó ngành TAND đã tạo được sự tin tưởng của người DTTS đối với Nhà
Trang 8nước Song bên cạnh đó, việc bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của TAND vẫn có những tồn tại, tạo những kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá, xuyên tạc đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước gây ra những bất ổn về chính trị, xã hội Điều này đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn thi hành pháp luật về bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của TAND ở vùng DTTS cụ thể, từ đó nhận định những vấn đề còn khúc mắc, tìm ra nguyên nhân để xây dựng những biện pháp pháp lý phù hợp để nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của người DTTS trong xu thế vấn đề nhân quyền ngày càng được đề cao như hiện nay
Điện Biên là một tỉnh miền núi biên giới thuộc vùng Tây Bắc, với 21 dân tộc anh em cùng sinh sống Phần lớn đồng bào ở đây là người DTTS với trình độ dân trí còn hạn chế, tồn tại nhiều phong tục tập quán lạc hậu nên dễ
bị xúi giục, tham gia buôn bán ma túy, hay gây mất trật tự an toàn xã hội Mặt khác, với địa hình phức tạp, đồi núi hiểm trở và có nhiều sông suối chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, kinh tế chủ yếu tập trung vào lâm nghiệp và nông nghiệp nên tỉnh Điện Biên vẫn nằm trong danh sách các tỉnh có nền kinh tế chậm phát triển Với vai trò là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, những năm qua, TAND hai cấp tỉnh Điện Biên đã có nhiều nỗ lực, khắc phục mọi khó khăn, áp dụng nhiều biện pháp trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị đề nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các loại án, đẩy mạnh việc tuyên truyền pháp luật cũng như phối hợp với các cơ quan nhà nước khác nhằm bảo đảm tốt hơn quyền của người DTTS Sự nghiên cứu về vấn đề bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của TAND tỉnh Điện Biên - một địa phương điển hình với hơn 80% dân số là người DTTS thể hiện ý nghĩa thực tiễn vô cùng lớn lao Đây cũng là cơ sở để nhân rộng việc nghiên cứu trên phạm vi cả nước về vấn đề quyền của người DTTS nói riêng, quyền con người nói chung,
từ đó có những đóng góp tích cực cho việc nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay
Xuất phát từ yêu cầu trên, tác giả chọn đề tài “Bảo đảm quyền của
người dân tộc thiểu số trong hoạt động của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên” làm luận văn thạc sĩ luật học, với hi vọng góp phần nâng cao hơn nữa
hiệu quả bảo đảm quyền của người DTTS ở địa phương này nói riêng cũng như trên phạm vi cả nước nói chung
Trang 92 Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu về quyền con người và trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người đã được nhiều nhà luật học quan tâm trong các thời kỳ với những góc độ tiếp cận khác nhau Các công trình nghiên cứu quan trọng như: Luận án tiến sĩ luật học với đề tài: “Vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đặng Công Cường năm 2013, Trường Đại học Luật Hà Nội; Luận án tiến sĩ luật học “Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Quang Hiền năm 2015, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam…
Về vấn đề quyền của người DTTS cũng có nhiều công trình nghiên cứu như: Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nông Thị
Kiều Diễm năm 2014, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận văn thạc sĩ
luật học “Đảm bảo các quyền con người của người dân tộc thiểu số trong giải quyết vụ án hình sự” của tác giả H’Năm BKRông năm 2015, Khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội; Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài "Quyền của người dân tộc thiểu số trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam" của tác giả Đào Ngọc Vân năm 2016, Trường Đại học Luật Hà Nội…
Bên cạnh đó cũng có nhiều bài viết nghiên cứu của các tác giả như: Tác giả Phạm Minh Tuyên với bài viết “Bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số
và người tàn tật theo quy định của pháp luật tố tung hình sự, thực tiễn áp dụng
và những vấn đề vướng mắc”; Tác giả Nguyễn Xuân Đại với bài viết “Cơ sở đảm bảo và thực hiện quyền của các dân tộc thiểu số hiện nay”; Tác giả Lừ Văn Tuyên với bài viết “Quyền của các dân tộc thiểu số trong pháp luật quốc
tế và pháp luật Việt Nam”- Bài đăng trên tạp chí Lý Luận chính trị số 10/2015…
Tuy nhiên, sau khi tìm hiểu và nghiên cứu các công trình trên, tác giả nhận thấy hầu hết các công trình đều tập trung nghiên cứu về quyền của người DTTS theo hướng bảo đảm quyền chung về phát triển đời sống kinh tế - xã hội, chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về đảm bảo quyền của người DTTS theo hướng làm rõ trách nhiệm của các nhánh quyền lực nhà nước, đặc biệt là bảo đảm bằng quyền tư pháp trong hoạt động của TAND Việc nghiên cứu vấn đề đảm bảo quyền của người DTTS từ phía trách nhiệm của Nhà
Trang 10nước, cụ thể là TAND với vai trò là cơ quan chủ chốt của giai đoạn cải cách
tư pháp thể hiện một góc nhìn mới về quyền con người và bảo đảm quyền con người, từ đó góp phần nâng cao công tác bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay Ở tỉnh Điện Biên, việc nghiên cứu về bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của TAND cũng chưa từng được đặt ra, trong khi mọi hoạt động của các đơn vị TAND tỉnh Điện Biên đều liên quan trực tiếp đến vấn đề đảm bảo quyền của người DTTS khi tham gia tố tụng Đây
cũng chính là lý do tác giả xây dựng và thực hiện đề tài “Bảo đảm quyền
người dân tộc thiểu số trong hoạt động của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên”
làm luận văn thạc sĩ luật học
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu vào các đối tượng sau:
- Vấn đề quyền người DTTS và quy định của pháp luật về bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của TAND;
- Thực tiễn bảo đảm quyền của người DTTS tại TAND tỉnh Điện Biên
Về phạm vi nghiên cứu của đề tài, do thời gian hạn hẹp và yêu cầu về nội dung, dung lượng của luận văn thạc sĩ cũng như đặc thù của việc thi hành pháp luật phụ thuộc vào tình hình kinh tế- chính trị- xã hội ở mỗi giai đoạn là khác nhau, trong khi đề tài lại là một vấn đề khá rộng, phức tạp, đòi hỏi phải
có kiến thức tổng hợp và hiểu biết thực tế sâu rộng, nên tác giả chỉ dừng lại ở việc đề cập đến công tác bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của TAND tỉnh Điện Biên giai đoạn 2011-2016
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là tìm ra các luận cứ khoa học và thực tiễn, từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đảm bảo quyền của người DTTS trong hoạt động của TAND tỉnh Điện Biên nói riêng
và trên phạm vi cả nước nói chung
Để đạt được mục tiêu nói trên, luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về quyền của người DTTS, nội dung quyền của người DTTS trong phạm vi bảo đảm của TAND;
- Phân tích, đánh giá về công tác bảo đảm quyền của người DTTS trong thực tiễn hoạt động của TAND tỉnh ĐIện Biên
Trang 11- Xây dựng những kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của TAND tỉnh Điện Biên
5 Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng để thực hiện luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử Các phương pháp nghiên cứu trực tiếp là: so sánh, tổng hợp, thống kê tình hình thực tiễn xét xử, giải quyết các loại án, các hoạt động công tác khác nhằm bảo đảm quyền của người DTTS tại TAND tỉnh Điện Biên
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Dưới góc độ khoa học, những kết quả nghiên cứu mới của luận văn sẽ làm rõ khái niệm, nội dung, ý nghĩa của vấn đề đảm bảo quyền của người DTTS trong hoạt động của TAND; thống kê một cách có hệ thống những quyền tố tụng cơ bản của người DTTS khi tham gia tố tụng tại TAND, đưa ra những đánh giá về tính hợp lý, mức độ khả thi của việc bảo đảm các quyền của người DTTS và nêu kiến nghị về những vấn đề còn tồn tại đối với công tác bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động tố tụng của TAND
Dưới góc độ thực tiễn, luận văn chỉ ra những bất cập, hạn chế trong công tác xét xử, giải quyết các loại án cũng như những công tác khác nhằm tăng cường cho việc bảo đảm quyền của nhười DTTS trong hoạt động của TAND, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của người DTTS ở tỉnh Điện Biên, góp phần cải thiện và nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người của pháp luật Việt Nam, phù hợp với yêu cầu và xu thế quốc tế về vấn đề nhân quyền
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được kết cấu thành 03 chương như sau:
Chương I: Những vấn đề chung về bảo đảm quyền của người dân tộc tộc thiểu số trong hoạt động của Tòa án nhân dân
Chương II: Thực tiễn bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số tại Tòa
án nhân dân tỉnh Điện Biên
Chương III: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số trong hoạt động của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 1.1 Người dân tộc thiểu số và quyền của người dân tộc thiểu số
1.1.1 Khái niệm người dân tộc thiểu số
Người DTTS là một trong những dạng người thiểu số trong nhóm người thiểu số được cộng đồng quốc tế ghi nhận Theo đó, người thiểu số bao gồm những nhóm người ít về số lượng, có một đặc thù chung về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ Đã có nhiều tranh cãi về việc đưa ra một định nghĩa thống nhất về “người thiểu số” nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào được chính thức ghi nhận và chấp nhận rộng rãi Việc tìm hiểu về khái niệm người thiểu số dựa vào những thuộc tính trên cơ sở các định nghĩa đã được Liên hợp quốc và các nhà nghiên cứu đưa ra Theo đó, xét
về đặc điểm khách quan: Người thiểu số là nhóm người có số lượng ít so với nhóm đa số sinh sống trên cùng lãnh thổ; là nhóm yếu thế trong xã hội (thể hiện ở tiềm lực, vai trò và ảnh hưởng của nhóm tới đời sống chính trị, kinh tế,
xã hội ở lãnh thổ nơi họ sinh sống); người thiểu số có những đặc điểm riêng
về chủng tộc, dân tộc, ngôn ngữ, phong tục tập quán… mà vì thế có thể phân biệt họ với nhóm đa số; người thiểu số có thể là công dân hoặc kiều dân của quốc gia nơi họ sinh sống Về đặc điểm chủ quan: Nhóm người thiểu số phải
có ý thức bảo tồn truyền thống văn hóa của mình
Ở Việt Nam thuật ngữ “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ nhóm thiểu số về dân tộc (tộc người) Việc xác định dân tộc ở Việt Nam được dựa trên ba tiêu chí là: Ngôn ngữ, Văn hóa, và Ý thức tự giác tộc người Theo các tiêu chí này, một dân tộc phải có một tiếng nói riêng, có những đặc trưng văn hóa riêng và phải tự nhận mình thuộc về tộc người đó Vào năm 1979 các nhà Dân tộc học Việt Nam đưa ra một bảng danh mục xác định có 54 tộc người ở Việt Nam
Từ đó đến nay, bảng danh mục này được coi là văn bản pháp lí chính thống về tên gọi các tộc người cư trú trên lãnh thổ Việt Nam1
Trong khoa học pháp lý, có rất ít đề tài nghiên cứu xác định rõ định nghĩa
về DTTS mà thường dựa trên tiêu chí số lượng trên cơ sở thành phần các dân
1
Viện nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường, Định kiến tộc người: Vài nét khái quát và một số đề xuất cho bước nghiên cứu tiếp theo, Trang 12
Trang 13tộc của Việt Nam để xác định người DTTS Nói một cách khác, chúng ta không có định nghĩa cụ thể về DTTS mà chỉ xác định dựa vào dấu hiệu về số lượng của các thành phần dân tộc Cho đến nay Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14 tháng 11 năm 2011 là văn bản quy phạm pháp luật duy nhất đưa ra định nghĩa về người DTTS, theo đó tại điều 4 của Nghị định này đã xác định: “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoản 2) Cũng theo Nghị định này thì Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia (khoản 3 Điều 4) Theo cách xác định dựa trên tiêu chí về số lượng này thì ở Việt Nam có 54 dân tộc hợp lại, trong đó có 53 DTTS và dân tộc đa số là người Kinh (Việt) Tiêu chí xác định dân tộc về số lượng này cũng phù hợp
và đồng nhất với việc xác định dân tộc ở Việt Nam được dựa trên các tiêu chí
về ngôn ngữ, văn hóa, và ý thức tự giác tộc người mà các nhà dân tộc học đã đưa ra
Như vậy, từ những phân tích ở trên có thể hiểu: Dân tộc thiểu số ở Việt
Nam chỉ các nhóm người ít về số lượng so với nhóm đa số(người Kinh/Việt),
là một cộng đồng mang tính tộc người liên kết với nhau bằng những đặc điểm
về ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ý thức tự giác tộc người Sự nhìn nhận này
hoàn toàn phù hợp với những dấu hiệu khái quát về đặc điểm số lượng, vị thế
xã hội, bản sắc, vị thế pháp lý và bao gồm cả đặc điểm về ý thức bảo tồn truyền thống văn hóa của người thiểu số trong pháp luật quốc tế
Nghiên cứu về người DTTS ở Việt Nam cho thấy đối tượng này có những đặc điểm cơ bản sau:
-Thứ nhất, về dân cư và phân bố dân cư
Các DTTS có quy mô dân số không đồng đều Theo số liệu của Tổng cục thống kê về Kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu
số năm 2015, có 05 dân tộc có số dân trên 1 triệu người; 18 dân tộc có số dân
từ trên 10 000 người đến dưới 1 triệu người; các dân tộc còn lại có số dân dưới 10 000 người Điều này dẫn đến nguy cơ vị thế xã hội của mỗi DTTS sẽ khác nhau, phụ thuộc vào quy mô dân số của mỗi dân tộc đó so với các dân tộc khác Nghĩa là vị thế xã hội của người các DTTS sẽ có chênh lệch về khoảng cách với nhiều cấp độ giữa các DTTS với nhau, giữa DTTS và dân
Trang 14tộc đa số Như vậy, việc bảo đảm quyền con người của người DTTS phải được thực hiện ở nhiều cấp độ, tầng mức nhất định mới bảo đảm đạt đến mục tiêu sự bình đẳng về quyền con người cơ bản của người DTTS
Các DTTS ở Việt Nam cư trú vừa phân tán, vừa xen kẽ nhau, không tách riêng theo vùng lãnh thổ hay cư trú duy nhất trên một địa bàn Theo số liệu thống kê, tại Việt Nam không có tỉnh, huyện nào thuần nhất có một dân tộc cư trú (ở khu vực miền núi phía Bắc chỉ có 2,8% số xã có một dân tộc sinh sống) Trong khi đó, các DTTS cư trú xen kẽ ở nhiều địa phương khác nhau như người Dao ở 17 tỉnh, người Mông ở 13 tỉnh, người Tày ở 11 tỉnh, người Thái ở 8 tỉnh…2
Người DTTS ở Việt Nam cư trú chủ yếu ở miền núi, chiếm ¾ diện tích
tự nhiên của cả nước Đặc điểm về địa bàn cư trú là một trong những nguyên nhân cản trở sự phát triển kinh tế -xã hội ở vùng DTTS và vì thế càng làm suy giảm vị thế xã hội của người DTTS Bên cạnh đó, các DTTS cư trú dọc biên giới phía Bắc, Tây và Tây Nam có nhiều cửa ngõ thông thương giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới có vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam Đồng thời khu vực cư trú của người DTTS cũng là những địa bàn có tiềm năng to lớn về khoáng sản, lâm sản, xây dựng thủy điện có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng về môi trường sinh thái và sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước
Thứ hai, về trình độ triển kinh tế -xã hội
Kinh tế vùng người DTTS còn chậm phát triển, tình trạng du canh, du
cư, di dân tự do vẫn diễn biến phức tạp Kết cấu hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, dịch vụ) ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn khó khăn Tỉ lệ nghèo của người DTTS còn quá cao, năm 2015 là 48,7 % và vẫn còn khoản 10% hộ dân tộc thiểu số đói hàng năm3
Sự yếu kém về kinh tế kéo theo những hạn chế về nhận thức pháp luật, về trình độ phát triển xã hội và dân trí là một trong
Trang 15những nguyên nhân làm cho người DTTS có vị thế yếu trong xã hội Đây là một trong những cản trở đối với việc bảo đảm quyền con người của người DTTS bằng pháp luật
Chính vì đặc điểm trình độ phát triển kinh tế, xã hội không đồng đều, điều kiện sống và mức sống còn chênh lệch giữa các dân tộc, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, thực hiện đường lối phát triển bình đẳng, đoàn kết, tôn
Thứ ba, yếu tố về ngôn ngữ là một trong những rào cản để người DTTS
do sự khác biệt về ngôn ngữ của các DTTS đã dẫn đến những rào cản trong việc học tập, giao lưu văn hóa, tham gia vào đời sống kinh tế xã hội hội Mặc
dù hiện nay tỉ lệ người DTTS biết sử dụng tiếng Việt đã được nâng cao hơn rất nhiều nhưng hầu hết người DTTS vẫn gặp khó khăn trong giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ là Tiếng Việt Khi tham gia vào các hoạt động tố tụng tại Tòa
án thì người DTTS lại càng khó khăn hơn khi phải tiếp cận với các thuật ngữ pháp lý, đòi hỏi trình độ nhận thức cao
Thứ tư, Mỗi DTTS đều có một bản sắc văn hóa riêng, độc đáo, góp
phần làm nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa Việt Nam
Các DTTS tại Việt Nam đều có bản sắc văn hóa riêng, độc đáo, góp phần tạo nên sự phong phú và đa dạng của nền văn hóa Việt Nam thống nhất
Tổ chức xã hội truyền thống ở mỗi dân tộc có những sắc thái riêng; mỗi thôn, bản, buôn, phum, sóc được các hộ dân cư trú quây quần bên nhau theo dòng
họ huyết thống hoặc do hôn nhân hợp thành Hôn nhân, tang lễ và thờ cúng tổ tiên ở mỗi dân tộc cũng có sự khác nhau về nghi lễ, tạo thành một tổng thể văn hóa độc đáo và đa dạng
Như vậy, các DTTS tại Việt Nam tuy chỉ chiếm số lượng ít nhưng lại
có vị trí vô cùng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tuy nhiên do sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn,
Trang 16với phong tục tập quán lạc hậu và nhận thức pháp luật của hầu hết các DTTS còn hạn chế nên việc bảo đảm quyền của người DTTS hiện nay còn phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ và thách thức Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với Nhà nước ta hiện nay đối với quyền con người, quyền công dân là phải đặc biệt quan tâm tới vấn đề bảo đảm quyền của người DTTS, để cho người DTTS được tiếp cận và thực hiện một cách đầy đủ, thuận lợi và bình đẳng những quyền con người đã được pháp luật ghi nhận
1.1.2 Vấn đề quyền của người dân tộc thiểu số
Về bản chất quyền của người DTTS không tách biệt với quyền con người nói chung Xuất phát từ sự yếu thế về địa vị xã hội, địa vị pháp lý và những đặc trưng riêng về dân tộc nên ngoài các quyền cơ bản của con người, người DTTS còn có thêm quyền đặc thù Quyền đặc thù ở đây không mang nghĩa những đặc quyền theo hướng đối xử thiên vị hơn với người DTTS mà là những quy định để tạo điều kiện cho người DTTS có thể bảo tồn những bản sắc, đặc trưng và truyền thống văn hóa của họ, đảm bảo sự đối xử bình đẳng giữa nhóm người thiểu số so với nhóm đa số trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia Để tạo vị thế ngang bằng cho người thiểu số với nhóm người đa số thì biện pháp cần thiết là phải đảm bảo cho người DTTS được sử dụng ngôn ngữ riêng của họ, được hưởng những quyền và lợi ích chính đáng và quan trọng nhất là được tham gia vào đời sống chính trị, kinh tế của quốc gia
Trong nỗ lực bảo vệ và thúc đẩy quyền của người thiểu số, trong đó có nhóm người thiểu số về dân tộc, đã có nhiều văn kiện quốc tế ghi nhận quyền con người cơ bản và những quyền đặc thù của nhóm người thiểu số về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ Các văn kiện đó bao gồm: Công ước về Ngăn ngừa
và trừng trị tội diệt chủng (Điều 2), Công ước về Xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc (Điều 2, Điều 4), Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh
tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 - ICESCR (Điều13), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị - ICCPR (Điều 27), Công ước về quyền trẻ em (Điều 30), Công ước của UNESCO về Chống phân biệt đối xử trong giáo dục (Điều 5), Tuyên bố của UNESCO về chủng tộc và thành kiến chủng tộc (Điều 5), Tuyên bố của Liên hợp quốc về dân tộc, chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo (Điều 5)
Trang 17Xét về nội dung cụ thể, quy định về quyền của người thiểu số được thể
hiện rõ nhất tại điều 27 ICCPR Điều luật đã ghi nhận: “Ở những quốc gia có
nhiều nhóm thiểu số về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ, những cá nhân thuộc các nhóm thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không bị khước từ quyền có đời sống văn hoá riêng, quyền được theo và thực hành tôn giáo riêng, hoặc quyền được sử dụng ngôn ngữ riêng của họ” Theo
đó, bản chất các quyền được bảo đảm theo điều luật này là các quyền cá nhân
và khả năng thực hiện chúng phụ thuộc vào việc các nhóm thiểu số có thể giữ gìn được nền văn hóa, ngôn ngữ hay tôn giáo của họ hay không Để làm được điều đó thì nghĩa vụ của các quốc gia thành viên là xây dựng các biện pháp tích cực, chủ động để bảo vệ bản sắc của các nhóm thiểu số, và phải bảo đảm mối quan hệ bình đẳng giữa các nhóm thiểu số với nhau và giữa các nhóm thiểu số với bộ phân dân cư còn lại
Việc tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy và bảo đảm quyền của người thiểu số phải được thực hiện dựa trên nguyên tắc bình đẳng và đối xử công bằng Các quốc gia phải cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của mình các quyền mà người thiểu số đã được công nhận, không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác Mọi người, trong đó bao gồm cả người DTTS đều có quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng Để bảo đảm điều này, pháp luật phải nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử và bảo đảm cho mọi người sự bảo hộ bình đẳng và có hiệu quả chống lại những phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác
Nằm trong khuôn khổ các nhóm thiểu số nên quyền của người DTTS mang những đặc điểm về quyền của nhóm người thiểu số:
- Quyền của người DTTS không tách rời quyền con người mang tính toàn cầu, nhưng xét ở phạm vi một quốc gia thì quyền của người DTTS là quyền công dân được thực hiện bởi cá nhân là người DTTS Dù thuộc nhóm thiểu số hay đa số thì ai cũng là con người, do đó tất cả đều phải được hưởng
Trang 18những quyền cơ bản như nhau Quyền của người DTTS thực chất chỉ được bảo đảm khi xem xét trên phạm vi một quốc gia nhất định, và vì thế quyền của người DTTS là quyền công dân được thực hiện bởi những cá nhân là người DTTS Việc xem xét quyền của người DTTS không có ý nghĩa nếu xác định trên phạm vi một khu vực hoặc toàn cầu, bởi trên thực tế một dân tộc được coi là thiểu số ở quốc gia này nhưng lại là đa số ở quốc gia khác Ví dụ người Hoa được coi là dân tộc đa số ở Trung Quốc nhưng lại là người DTTS
ở Việt Nam Tương tự, người Thái là dân tộc đa số ở Thái Lan nhưng là người DTTS ở Việt Nam
- Quyền của người DTTS là quyền mang tính chuyên biệt về chủ thể và địa vị xã hội Nhóm thiểu số là nhóm có số lượng ít nếu so với nhóm đa số trong một lãnh thổ quốc gia Họ chịu sự yếu thế trong mối quan hệ tương quan về vị trí, vai trò trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội đối với nhóm
đa số Việc thực hiện quyền của người DTTS không thể thuận lợi như những người dân tộc đa số Để người DTTS được bình đẳng về thực hiện quyền giống như những người dân tộc đa số thì pháp luật cần đưa ra những biện pháp pháp lý để làm cơ sở, tạo điều kiện cho người DTTS thực hiện quyền của họ
- Quyền của người DTTS là quyền mang tính chuyên biệt về dân tộc, văn hóa và ngôn ngữ Đặc điểm của quyền này là mang bản sắc riêng về chủng tộc, ngôn ngữ, tập quán Người DTTS có quyền hưởng nền văn hóa, được thừa nhận và sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng họ, dưới hình thức riêng rẽ hoặc trong tập thể, một cách tự do và không bị can thiệp hay bị bất kỳ hình thức phân biệt đối xử nào Có rất nhiều nhóm xã hội dễ bị tổn thương được pháp luật ghi nhận và bảo vệ về phương diện quyền con người Với những đặc điểm riêng, người DTTS có những khó khăn, bất lợi trong việc thụ hưởng quyền hoàn toàn khác biệt so với những nhóm xã hội dễ bị tổn thương khác Nếu như phụ nữ bị yếu thế do quan niệm bất bình đẳng về giới tính, trẻ em bị yếu thế do chưa phát triển nhận thức một cách toàn diện, người cao tuổi bị yếu thế do sự suy yếu về sức khỏe, nhận thức do tuổi tác mang lại, người bị nhiễm HIV bị yếu thế do sự kỳ thị về bệnh hiểm nghèo thì sự yếu thế của người DTTS lại bị chi phối bởi: yếu tố ngôn ngữ, yếu tố truyền thống văn hóa, yếu tố về trình độ phát triển kinh tế, sự lạc hậu về phong tục, tập quán
Trang 19Do vậy, quyền của người DTTS có sự khác biệt so với quyền của những nhóm xã hội dễ bị tổn thương khác, đòi hỏi phải có những bảo đảm pháp lý khác biệt để thực hiện quyền
Ở Việt Nam quyền của người DTTS luôn được quan tâm, chú trọng để bảo đảm thực hiện Kể từ khi giành được độc lập đến nay, Đảng và Nhà nước luôn thực hiện theo đường lối nhất quán đối với công tác bảo đảm quyền của người DTTS đó là bảo đảm sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc Nhìn chung vấn đề quyền của người DTTS ở Việt Nam đã được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam thể chế hóa và tuân thủ đúng nguyên tắc bảo vệ và thúc đẩy quyền của người thiểu số được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc tế mà Việt Nam là thành viên
1.2 Khái niệm bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số trong hoạt động của tòa án nhân dân
1.2.1 Định nghĩa bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số trong hoạt động của Tòa án nhân dân
Bảo đảm quyền con người là thuật ngữ thường xuyên được sử dụng nhưng trên thực tế rất ít các tài liệu chỉ rõ khái niệm về bảo đảm quyền con
người, và vì thế khái niệm “Bảo đảm quyền của người DTTS” cũng một vấn
đề chưa được chú trọng về nghiên cứu và làm rõ nội hàm Để tìm hiểu về khái niệm này trước hết phải làm rõ khái niệm bảo đảm quyền con người
Theo quan niệm chung được thừa nhận hiện nay thì bảo đảm được hiểu là
“làm cho chắc chắn, thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì
cần thiết”4
Trong cuốn từ điển Luật học cũng đã diễn giải về bảo đảm pháp
luật là “mọi quyền, quyền lợi chính đáng, hợp pháp của công dân… đều được
nhà nước bảo hộ bằng những điều luật cụ thể trong các đạo luật cụ thể” 5
.Vì vậy, nhà nước có trách nhiệm bảo đảm các quyền công dân đã được ghi nhận trong các đạo luật phải được thực thi, phải tạo điều kiện tốt nhất để mọi công dân được hưởng các quyền con người của mình
Về khái niệm “đảm bảo quyền con người”, cho đến nay còn tồn tại nhiều
Trang 20-Tác giả Hoàng Hùng Hải cho rằng: “bảo đảm là sự tôn trọng, bảo vệ và
thực hiện quyền của các chủ thể”6
.Tuy nhiên, theo tác giả quan niệm này là chưa đầy đủ vì theo Hiến pháp 2013 đã khẳng định: Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân (Điều 3) Như vậy bảo đảm là nhiệm
vụ hoàn toàn độc lập với trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ
-Tác giả Trần Thị Phương Hảo cho rằng: “Những bảo đảm về mặt pháp lý
thực hiện quyền con người được hiểu là hệ thống các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công dân gắn với các thiết chế bảo đảm thực hiện nó trong hệ thống pháp luật và cơ chế bảo đảm cho các quy định và thiết chế đó được thực hiện trên thực tế”7
.Định nghĩa này mới chỉ đưa ra phương thức bảo đảm quyền con người mà chưa chỉ ra được chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền con người cũng như những hậu quả pháp lý các chủ thể khi có những sai phạm về trách nhiệm làm ảnh hưởng hoặc xâm phạm đến quyền con người của chủ thể khác
- Xem xét từ góc độ trách nhiệm của Nhà nước đối với việc bảo đảm
quyền con người, tác giả Trần Thị Hòe khẳng định: “Bảo đảm quyền con
người là việc các chủ thể (cá nhân, nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội ) có nghĩa vụ sử dụng các biện pháp, cách thức để hiện thực hóa các nguyên tắc, tiêu chuẩn về quyền con người nhằm bảo vệ và thực thi hiệu quả các quyền và tự do cơ bản của con người trong các hoạt động của mình, ngăn ngừa sự lạm dụng, vi phạm quyền từ các chủ thể khác”8
Khái niệm này đã
chỉ ra chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền con người thuộc về Nhà nước
nhưng chưa chú trọng đến yếu tố pháp lý trong bảo đảm quyền con người
- Xem xét từ góc độ pháp luật tố tụng hành chính, Theo tác giả Phạm Hồng Thái và Nguyễn Thị Thu Hương trong bài viết Bảo đảm, bảo vệ quyền
con người, quyền công dân trong pháp luật hành chính Việt Nam thì: “Bảo
đảm các quyền con người, quyền công dân là việc tạo ra các tiền đề, điều
Trang 21kiện về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý và tổ chức để cá nhân, công dân, các
tổ chức của công dân thực hiện được các quyền, tự do, lợi ích chính đáng của
họ đã được pháp luật ghi nhận” 9 Đây là cách nhìn nhận rất sát với bản chất của bảo đảm quyền con người với phạm vi các quyền thuộc lĩnh vực hành chính và với trách nhiệm bảo đảm thuộc về cơ quan hành chính nhà nước
Như vậy, từ những phân tích trên đây có thể hiểu bảo đảm quyền con người là việc các chủ thể, mà trước hết là Nhà nước, theo các quy định của pháp luật phải thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm để quyền con người của cá nhân, công dân được tổ chức thực hiện, đồng thời các chủ thể này phải tạo điều kiện cho họ được sử dụng các quyền đó Nếu các chủ thể thực hiện hoặc không thực hiện đúng trách nhiệm mà làm ảnh hưởng, xâm phạm đến các quyền con người của chủ thể khác thì phải có nghĩa vụ bồi thường theo quy định của pháp luật
Trong các cơ quan nhà nước thì Tòa án đã được xác định là một trong những chủ thể chính có trách nhiệm bảo đảm quyền con người, trong đó bao gồm cả quyền của người DTTS Hoạt động của Tòa án là hoạt động xét xử, giải quyết các loại án theo thẩm quyền mà pháp luật quy định Thông qua hoạt động của mình, Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ
về tài sản, quyền nhân thân Qua đó, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác
9 Phạm Hồng Thái và Nguyễn Thu Hương, Bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong pháp luật hành chính Việt Nam (Một số vấn đề có tính phương pháp luận, định hướng nghiên cứu), Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học số 28/2012, Trang 01
Trang 22Quyền của người DTTS trong hoạt động của Tòa án thực chất là các quyền trong tố tụng Và khi tham gia vào các thủ tục tố tụng đó, quyền của người DTTS phải được Tòa án bảo đảm bằng những biện pháp pháp lý nhất định Hay nói cách khác, khi tham gia các hoạt động tố tụng tại Tòa án, người DTTS phải được đảm bảo các điều kiện cần thiết, tốt nhất trong khả năng có thể để các quyền của họ được thực hiện một cách đầy đủ, hiệu quả nhất và không bị xâm phạm Việc bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của Tòa án là nhằm tạo các điều kiện pháp lý để người DTTS được thực hiện các quyền của mình theo quy định của pháp luật một cách bình đẳng Và lẽ tất nhiên khi Tòa án không thực hiện đúng trách nhiệm của mình, làm xâm phạm đến quyền của người DTTS thì phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật
Như vậy,đặt trong bối cảnh về trách nhiệm bảo đảm quyền con người
của Tòa án có thể xác định: Bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số trong
hoạt động của Tòa án nhân dân được hiểu là việc Tòa án thông qua hoạt động của mình thực thi các quy định của pháp luật nhằm tạo điều kiện để quyền của người thiểu số được thực hiện một cách tốt nhất khi tham gia vào hoạt động tố tụng tại Tòa án Tòa án phải chịu trách nhiệm về việc không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng trách nhiệm về bảo đảm quyền của
người DTTS làm ảnh hưởng hoặc, xâm phạm đến quyền của người DTTS
1.2.2 Đặc điểm của bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số trong hoạt động của Tòa án nhân dân
Trước hết cần phải khẳng định rằng bảo đảm quyền của người DTTS khác với bảo vệ quyền của người DTTS Bảo vệ quyền con người, quyền công dân (trong đó bao gồm quyền của người DTTS) là việc xác định các biện pháp pháp lý, các biện pháp tổ chức, cơ chế để bảo vệ các quyền con người, quyền công dân khi bị xâm phạm từ phía cơ quan công quyền, hay từ các chủ thể khác nhằm khôi phục các quyền đã bị xâm phạm Bảo vệ quyền của người DTTS trong hoạt động của Tòa án là việc Tòa án xét xử, thi hành công lý, đưa ra những kết luận về việc vi phạm quyền con người và cuối cùng
là quyết định áp dụng chế tài xử phạt đối với hành vi vi phạm đó Bảo vệ quyền của người DTTS là trách nhiệm của Tòa án nhưng chỉ được thực hiện khi có sự vi phạm xảy ra, mục đích của bảo vệ là nhằm khôi phục lại quyền
Trang 23đã bị xâm phạm Trong khi đó bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của Tòa án là những bảo đảm về pháp lý nhằm tạo điều kiện để quyền của người thiểu số được thực hiện một cách tốt nhất khi tham gia vào hoạt động tố tụng tại Tòa án để đạt được vị thế ngang bằng về quyền con người như đối với người dân tộc đa số Ở phương diện bảo đảm quyền của người DTTS nhấn mạnh đến mục đích nhằm nâng cao nhận thức về các quyền mà người DTTS được hưởng và việc thực hiện các quyền đó khi tham gia tố tụng tại tòa án được tiến hành như thế nào Hơn nữa, khác với bảo vệ, bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của TAND thể hiện sự chủ động hơn, yêu cầu cao hơn về trách nhiệm của Tòa án trong việc thực hiện quyền của người DTTS
Bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của TAND về bản chất là bảo đảm quyền con người khi tham gia vào hoạt động tố tụng tại Tòa
án Do đó hoạt động bảo đảm quyền của người DTTS cũng mang những đặc điểm chung của hoạt động bảo đảm quyền con người trong hoạt động của TAND, cụ thể:
- Quyền con người, quyền của người DTTS được bảo đảm một cách toàn diện bằng pháp luật
Nội dung các quyền tố tụng đều được ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm thực hiện bởi Hiến pháp, các văn bản pháp luật về tố tụng Địa vị pháp lý cũng như chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong hoạt động xét xử, giải quyết các loại án qua đó bảo đảm quyền con người cũng được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật tổ chức TAND và các văn bản pháp luật tố tụng Như vậy, sự bảo đảm của pháp luật mà đặc biệt là Hiến pháp về các quyền tố tụng
cơ bản, về địa vị của Tòa án là cơ sở pháp lý bảo đảm quyền lực nhà nước mạnh mẽ và là phương diện thể hiện rõ ràng nhất tính pháp lý của hoạt động bảo đảm quyền con người nói chung, quyền của người DTTS trong hoạt động của TAND nói riêng
Pháp luật tố tụng cũng phân định một cách rõ ràng về thẩm quyền giải quyết, xét xử các loại án và cơ cấu tổ chức hệ thống Tòa án Theo đó, Tòa án thực hiện xét xử, giải quyết các vụ án về hình sự, những tranh chấp về dân sự, hành chính, lao động, kinh doanh thương mại nếu pháp luật quy định những
vụ việc đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Hoạt động xét xử, giải
Trang 24quyết các loại án cũng thể hiện là hoạt động có tính hình thức pháp lý nghiêm ngặt Những quy trình, thủ tục giải quyết và xét xử các loại án đều được pháp luật quy định chặt chẽ và yêu cầu thực hiện một các nghiêm minh Khi thực hiện chức năng xét xử, Tòa án không được đưa ra những phán quyết trái với quy định của pháp luật
Rõ ràng, bảo đảm quyền con người trong hoạt động của TAND là loại hoạt động được thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật và chịu sự chi phối toàn diện của pháp luật về mặt nội dung, quy trình và biện pháp bảo đảm Chính bởi đặc điểm này mà hoạt động của Tòa án có khả năng tiệm cận với công bằng và công lý xã hội Đây cũng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho quyền con người nói chung, quyền của người DTTS nói riêng được thực hiện một cách đầy đủ, hiệu quả nhất khi tham gia vào các hoạt động tố tụng tại Tòa án
- Các quyền, nghĩa vụ của chủ thể được hưởng quyền được xác định bởi tư cách tham gia tố tụng:
Công dân khi tham gia vào hoạt động tố tụng được xác định là người tham gia tố tụng Tùy theo từng lĩnh vực tố tụng, tư cách tham gia khác nhau
mà pháp luật quy định cho họ những quyền và nghĩa vụ khác nhau Trong tố tụng hình sự, họ có thể là: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người giám định, người phiên dịch Trong tố tụng dân sự, họ có thể là đương sự (nguyên đơn, bị đơn) hoặc người tham gia tố tụng khác (Người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự, người đại diện, người làm chứng) Tương
tự như vậy, trong tố tụng hành chính họ có thể là đương sự, người đại diện
của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch Theo đó, với mỗi tư cách tố tụng trong từng lĩnh vực tố tụng cụ thể, pháp luật quy định cho họ những quyền và lợi ích hợp pháp nhất định liên quan đến thủ tục tố tụng tại Tòa án
Tuy nhiên xem xét từ góc độ nghiên cứu những quy định của pháp luật
về bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của Tòa án với tư cách là nhóm xã hội dễ bị tổn thương nên trong bài viết, chúng ta chỉ nghiên cứu về bảo đảm quyền của người DTTS với tư cách là người tham gia tố tụng có
Trang 25quyền và lợi ích trực tiếp gắn với việc giải quyết các vụ án, vụ việc tại tòa án nhân dân (Bao gồm: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong các vụ
án hình sự; các đương sự trong các vụ án dân sự và hành chính) Đối với những người DTTS là người làm chứng, người bào chữa, người phiên dịch do địa vị pháp lý của những tư cách tố tụng này là nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án hoặc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bị cáo, các đương sự tham gia tố tụng nên không đặt ra vấn đề xem xét sự bảo đảm quyền đối với những người này trong bài viết
- Về thời điểm, thời gian thực hiện quyền:
Quyền tố tụng của mỗi cá nhân trong hoạt động của Tòa án xuất hiện
kể từ khi họ tham gia vào hoạt động tố tụng tại Tòa án với tư cách tham gia cụ thể theo luật định và kết thúc khi Tòa án ra bản án, quyết định về việc xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc mà không có kháng cáo, kháng nghị Trong trường hợp có kháng cáo, kháng nghị thì quyền của họ kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án được xét xử phúc thẩm và giải quyết thỏa đáng, triệt để những yêu cầu về đảm bảo quyền và lợi ích của họ trong các vụ án
- Nội dung các quyền được bảo đảm là các quyền về tố tụng
Bao gồm những quyền, lợi ích hợp pháp của con người đã được pháp luật quốc tế ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm thực hiện Các quyền này được pháp luật quy định cụ thể trong mỗi lĩnh vực tố tụng, mỗi giai đoạn tố tụng và
tư cách tham gia tố tụng khác nhau Ví dụ trong tố tụng hình sự, bị cáo có quyền suy đoán vô tội Trong tố tụng dân sự, khi xảy ra tranh chấp, các bên được quyền yêu cầu Tòa án tranh chấp, nguyên đơn sẽ có quyền được Tòa án tiến hành các biện pháp, thủ tục nhằm giải quyết yêu cầu khởi kiện, đồng thời đối với bị đơn pháp luật cũng bảo đảm quyền được nhận thông báo, nêu ý kiến, đưa tài tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền của mình đối với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn
Bên cạnh đó, bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của TAND cũng có những điểm đặc thù vì đối tượng được bảo đảm quyền là những người yếu thế thuộc nhóm xã hội dễ bị tổn thương, cụ thể như sau:
Thứ nhất, bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của TAND nhằm hướng tới mục đích giúp họ nhận thức và thực hiện các quyền của mình
Trang 26Do chủ thể hưởng quyền là người DTTS với những hạn chế về nhận thức, phong tục tập quán lạc hậu, trình độ văn hóa chưa phát triển nên tình trạng chung khi tham gia tố tụng là người DTTS không nhận thức đúng, thậm chí là không nhận thức được các quyền mà mình được hưởng Việc tiến hành các hoạt động tố tụng tại Tòa án luôn tiềm ẩn nguy cơ xung đột lợi ích từ nhiều phía Trong các tranh chấp về dân sự, việc thực hiện quyền và lợi ích của các bên
sẽ không ngang bằng giữa một bên đương sự là người DTTS còn bên kia là người dân tộc đa số, hoặc giữa một bên là người DTTS có nhận thức pháp luật cao hơn với một bên là người DTTS có trình độ nhận thức pháp luật thấp hơn Trong tố tụng hình sự, hành chính thì bị cáo, đương sự vốn đã phải chịu sự yếu thế trong mối quan hệ bất bình đẳng với Nhà nước, huống hồ những bị cáo, đương sự là người DTTS với trình độ nhận thức về pháp luật còn hạn chế Như vậy, trong bất cứ tình huống nào thì người tham gia tố tụng là người DTTS luôn phải chịu sự thiệt thòi khi thực hiện các quyền tố tụng Hơn nữa, nguy cơ lạm dụng quyền lực của những cơ quan và cá nhân được pháp luật trao quyền cũng
có thể là yếu tố xâm phạm đến quyền của người DTTS Chính vì vậy, vấn đề bảo đảm quyền của người DTTS – những đối tượng yếu thế trong quá trình tố tụng không chỉ dừng lại ở việc thực hiện đúng và đủ các quy định của pháp luật mà còn phải tạo cho họ một vị thế bình đẳng với cơ quan tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng khác trước Tòa án Để làm được điều đó, pháp luật phải quy định cho họ có những điều kiện thực hiện quyền tố tụng để họ có thể tự bảo
vệ mình thông qua việc đòi hỏi một sự phán xét công minh từ phía Nhà nước Và qua việc thực hiện những quyền năng đó họ dần nhận thức một các đầy đủ, toàn diện về các quyền của mình Mục đích cuối cùng của bảo đảm quyền của người DTTS là đưa người DTTS đến vị thế ngang bằng về quyền với người dân tộc đa
số Để giữa người DTTS và người dân tộc đa số không có sự khác biệt trong nhận thức về quyền tố tụng và trong phương cách thực hiện quyền tố tụng Đó là kết quả cuối cùng của sự nỗ lực bảo đảm quyền của người DTTS mà pháp luật nhân quyền hướng đến Cho đến khi đạt đến mục tiêu đó thì việc cần thiết trong vấn đề bảo đảm quyền của người DTTS là phải không ngừng nâng cao việc nhận thức và thực hiện quyền của chính những người DTTS
Thứ hai,Tòa án giữ vai trò chủ động trong việc bảo đảm quyền của người DTTS
Trang 27Tòa án là chủ thể có trách nhiệm tuân thủ và áp dụng các quy định của pháp luật về quy trình, thủ tục tố tụng để tạo điều kiện, cơ sở cho người tham gia tố tụng, bao gồm cả người DTTS được thực hiện/thụ hưởng quyền Như
đã nói ở trên, người DTTS thường không nhận thức được quyền của mình và việc thực hiện quyền đó ra sao nên hiệu quả bảo đảm quyền của người DTTS khi tham gia tố tụng tại Tòa án phụ thuộc vào trách nhiệm của Tòa án Đối với người dân tộc đa số, việc bảo đảm quyền trong hoạt động của Tòa án thường rất thuận lợi vì bản thân họ đã có trình độ nhận thức nhất định về pháp luật, không có rào cản về ngôn ngữ Nhưng đối với người DTTS thì yêu cầu đặt ra đối với những người tiến hành tố tụng là phải chủ động trong mọi thủ tục tố tụng Nếu Tòa án không thực hiện việc bảo đảm quyền của người DTTS thì người DTTS sẽ không biết, không tự yêu cầu Tòa án thực hiện trách nhiệm bảo đảm Sự không chủ động của Tòa án sẽ là yếu tố dẫn đến việc thực hiện quyền của người DTTS không được đảm bảo trên thực tế Chẳng hạn, khi tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử Thư ký Tòa án phải kiểm tra kỹ năng sử dụng tiếng Việt của bị cáo, hỏi bị cáo về việc yêu cầu người phiên dịch tại phiên tòa Nếu Thư ký Tòa án không xác minh và mời người phiên dịch trong trường hợp bị cáo là người DTTS không thể sử dụng Tiếng Việt thì tại phiên tòa xét xử, bị cáo sẽ không thực hiện những quyền tố tụng cơ bản đã được pháp luật ghi nhận, không thể nhận thức đúng về quyền và nghĩa vụ của mình, kéo theo đó là việc đưa ra bản án của Tòa án sẽ không đảm bảo sự trung thực, khách quan, xảy ra tình trạng oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm
Thứ ba, bảo đảm quyền của người DTTS có sự đòi hỏi cao về kỹ năng
tố tụng của những người tiến hành tố tụng
Với tư cách là nhóm người dễ bị tổn thương, pháp luật luôn quy định những điều kiện cụ thể nhằm hỗ trợ về mọi mặt để cho người DTTS được thực hiện quyền của mình Khi tham gia tố tụng, hầu hết người tham gia tố tụng là người dân tộc đa số đều đã hiểu về quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc dù không biết về nội dung các quyền thì sau khi được giải thích họ đều nhận thức được những quyền mà mình được làm Trong khi đó, người DTTS thường không am hiểu pháp luật, do phong tục tập quán còn lạc hậu nên thường có ý kiến chủ quan và mang tính chất bảo thủ, thậm chí vô lý trong việc thực hiện quyền tố tụng Vì vậy, Tòa án không thể áp dụng và thực hiện
Trang 28những quy định nhằm đảm bảo quyền con người trong hoạt động tố tụng một cách giản đơn như với nhóm người đa số Yêu cầu đặt ra đối với những người tiến hành tố tụng khi tiến hành giải quyết các vụ án, vụ việc liên quan đến người DTTS là phải logic khi nhìn nhận về định hướng xét xử, phải am hiểu tâm lý của người DTTS và đặc biệt là có kỹ năng truyền đạt những thuật ngữ pháp lý cho người DTTS
Thứ tư, có sự tham gia của chủ thể khác ngoài những người tiến hành
tố tụng (người phiên dịch)
Bảo đảm quyền của người DTTS hay quyền con người khi tham gia tố tụng tại Tòa án là trách nhiệm chủ yếu của Tòa án Song đó cũng là trách nhiệm của các cấp, các ngành, của công dân và toàn xã hội Với vị thế yếu trong xã hội, người DTTS khi tham gia tố tụng có những khó khăn về mặt nhận thức pháp luật, về việc sử dụng ngôn ngữ khi tham gia tố tụng Để bảo đảm quyền của người DTTS, pháp luật cho phép các chủ thể khác ngoài những người tiến hành tố tụng tham gia trợ giúp để người DTTS thực hiện quyền của mình được hiệu quả hơn, toàn diện hơn Do đặc thù về ngôn ngữ nên khi tham gia tố tụng, quyền của người DTTS được bảo đảm với sự giúp
đỡ của người phiên dịch Thông qua người phiên dịch, việc trao đổi thông tin liên nhằm giải quyết vụ án giữa Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký
và người tham gia tố tụng là người DTTS được thực hiện chính xác, biểu đạt đúng nội dung trao đổi từ đó làm rõ sự thật khách quan của vụ án, vụ việc và
bảo đảm cho quyền của người DTTS
Tóm lại, nghiên cứu về định nghĩa, đặc điểm của bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của Tòa án cho thấy trong mối quan hệ giữa chủ thể thực hiện quyền và chủ thể bảo đảm quyền thì hiệu quả của công tác bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của Tòa án phục thuộc chủ yếu vào vai trò và hiệu quả hoạt động của Tòa án Nếu Tòa án không nhận thức đúng về các quyền của người DTTS cũng như việc bảo đảm, quyền của người DTTS trong hoạt động tố tụng sẽ dẫn đến người DTTS không cảm nhận được công lý, có cái nhìn phiến diện về vấn đề bảo vệ công lý của Tòa án, của Nhà nước
Trang 291.3 Nội dung bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số trong hoạt động của Tòa án nhân dân
Quyền của người DTTS trong phạm vi bảo đảm của Tòa án được thực hiện dựa trên cơ chế bảo đảm cho người DTTS được thực hiện quyền đặc thù (mang tính chất bổ trợ cho việc thực hiện quyền cơ bản của con người trong
tố tụng tại Tòa án) nhằm mục đích đảm bảo cho người DTTS được thực hiện, thụ hưởng một cách tối đa quyền cơ bản của con người trong tố tụng tại Tòa
án như những quyền mà người dân tộc đa số được thực hiện,thụ hưởng Vì vậy, có thể xác định quyền của người DTTS bao gồm các quyền tố tụng cơ bản và quyền đặc thù của người DTTS khi tham gia tố tụng tại Tòa án
Về các quyền tố tụng cơ bản: Sử dụng phương pháp thống kê các quyền
đã được quy định trong các công ước quốc tế và được cụ thể hóa trong hệ thống pháp luật quốc gia (đặc biệt là trong các văn bản pháp luật về thủ tục tố tụng tại Tòa án) thì quyền tố tụng cơ bản của con người tại tòa án gồm các quyền sau đây:
- Quyền bình đẳng trước pháp luật:
Việc ghi nhận quyền bình đẳng trước pháp luật thể hiện tại Điều 16 Hiến pháp, Điều 12 Luật tổ chức TAND năm 2014 (sau đây gọi là Luật tổ chức TAND), Điều 8 Bộ luật TTDS năm 2015 (sau đây gọi là Bộ luật TTDS), điều 19 Bộ luật TTHS năm 2003 (sau đây gọi là Bộ luật TTHS), Điều 17 Luật TTHC năm 2015 (Sau đây gọi là Luật TTHC)
Trang 30Quyền bình đẳng trước pháp luật là nhu cầu của một chủ thể tự nhiên với tư cách là một con người buộc phải có và cần phải có Trong xã hội không thể có tự do nếu không có sự bình đẳng thật sự giữa các thành viên trong xã hội với nhau Bản chất của sự bình đẳng là công nhận các giá trị như nhau của các thành viên xã hội trong tất cả các lĩnh vực khác nhau: kinh tế, xã hội và pháp luật Do đó, quyền bình đẳng trước pháp luật phải là quyền được ghi nhận đầu tiên trong nội dung về quyền con người
TAND là cơ quan hiến định có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Pháp luật quy định Tòa án xét xử theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội; cá nhân, cơ quan, tổ chức đều bình đẳng trước Tòa án Trong hoạt động tố tụng tại Tòa án, người có cùng tư cách tố tụng thì đều có quyền và lợi ích ngang bằng nhau bất kể người đó là nam hay
nữ, là người DTTS hay dân tộc đa số, là người có tôn giáo hay không có tôn giáo, thuộc thành phần xã hội nào, địa vị xã hội ra sao, tư cách chủ thể là cá nhân hay cơ quan, tổ chức Việc đối xử bất công, kỳ thị đối với người tham gia tố tụng vì họ mang một trong những yếu tố trên đều bị coi là vi phạm pháp luật về bảo đảm quyền con người Quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền
tố tụng cơ bản của con người đồng thời cũng là mục tiêu bảo đảm, nguyên tắc bảo đảm quyền con người xuyên suốt trong quá trình tố tụng tại Tòa án, đây cũng là mục tiêu cao nhất mà pháp luật về bảo đảm quyền của người DTTS với vị thế là nhóm xã hội dễ bị tổn thương đang nỗ lực thực hiện
- Quyền được xét xử kịp thời, công bằng, công khai:
Quyền được xét xử công bằng, công khai được ghi nhận tại khoản 2 Điều 31 Hiến pháp 2013 đồng thời cũng một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức
và hoạt động của Tòa án nhân dân Nội dung quyền này được thể chế hóa một cách cụ thể trong Điều 11 Luật tổ chức TAND ; Điều 15 Bộ Luật TTDS; Điều
18 Bộ Luật tố TTHS và Điều 16 Luật TTHC
Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội người đó trong các vụ án hình sự, hoặc để bảo đảm
Trang 31quyền và nghĩa vụ của người đó trong các vụ kiện dân dân sự, hành chính Công bằng trong thủ tục tố tụng là việc không có những ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, sự áp đặt của bất cứ phía nào với việc xét xử Nếu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong hoạt động xét xử thể hiện thái độ phân biệt, có thành kiến dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ làm phương hại đến việc thực hiện quyền của người tham gia tố tụng tại phiên tòa đều bị coi
là vi phạm nguyên tắc xét xử công bằng
Bên cạnh đó, việc xét xử, giải quyết các vụ án, vụ việc tại Tòa án phải được thực hiện công khai kể từ khi Tòa án bắt đầu thụ lý cho đến khi đưa ra phán quyết cuối cùng Tòa án phải cung cấp thông tin về thời gian và địa điểm của phiên tòa cho công chúng, các bị cáo hoặc các đương sự trong vụ án được đưa ra xét xử Mọi phán quyết trong vụ án hình sự hoặc vụ kiện dân sự cũng như những vụ án, vụ việc khác phải được tuyên công khai trừ trường hợp vì lợi ích của người chưa thành niên hay những vụ việc liên quan đến những tranh chấp hôn nhân hoặc quyền giám hộ trẻ em Tất cả hoạt động xét xử các
vụ án phải được thực hiện trên nguyên tắc tranh tụng công khai tại phiên tòa Chỉ khi hoạt động của Tòa án được công khai, minh bạch thì việc bảo đảm quyền và lợi của mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội mới thực sự có ý nghĩa
Tuy nhiên trong một số trường hợp báo chí và công chúng có thể không được phép tham dự toàn bộ hoặc một phần của phiên tòa vì lý do đạo đức, trật
tự công cộng hoặc an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ, hoặc vì lợi ích cuộc sống riêng tư của các bên tham gia tố tố tụng, hoặc trong trường hợp mà Tòa án xét thấy việc xét xử công khai có thể làm phương hại đến công lý và buộc phải xét xử kín
Ngoài ra, người tham gia tố tụng còn có quyền được xét xử trong thời hạn luật định Việc xét xử tại Tòa án bị trì hoãn một cách vô lý là trái với nguyên tắc công bằng, công khai trong xét xử
- Quyền bào chữa, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân Quyền này được ghi nhận tại khoản 4 Điều 31 và khoản 7 Điều 103 Hiến pháp, được thể chế hóa tại Điều 14 Luật tổ chức TAND; Điều 9 Bộ luật TTDS; Điều 11 Bộ luật TTHS và Điều 19 Luật TTHC
Trong tố tụng, Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm Người bị buộc tội có quyền tự mình
Trang 32bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình Các đương sự trong các
vụ án dân sự, hành chính được quyền bảo vệ hoặc nhờ luật sự hay người khác
có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án Để bảo đảm công lý, trong một số trường hợp luật định, Tòa án có trách nhiệm mời người bào chữa cho người tham gia tố tụng dù họ không có yêu cầu về việc bào chữa Nhằm hỗ trợ về mọi mặt cho người DTTS khi tham gia tố tụng, pháp luật quy định người DTTS được thực hiện bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua trợ giúp pháp lý miễn phí Sự ghi nhận về quyền được bào chữa, quyền được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là để bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người, quyền của người DTTS đồng thời góp phần ngăn ngừa, kiểm soát việc lạm quyền, vi phạm pháp luật của các cá nhân từ phía các cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luật
- Quyền của người bị buộc tội:
Do đặc thù của hoạt động xét xử trong tố tụng hình sự là việc Tòa án nhân danh nhà nước quyết định hình phạt đối với hành vi phạm tội mà người phạm tội thực hiện cho nên so với các lĩnh vực tố tụng khác thì quyền con người trong lĩnh vực hình sự có nguy cơ bị xâm phạm cao hơn Đó cũng là lý
do mà hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia đều nhấn mạnh trước hết đến quyền của người bị buộc tội khi xem xét về quyền con người
Quyền của người bị buộc tội được ghi nhận với nhiều nội dung quyền
cụ thể như: Quyền suy đoán vô tội, quyền không bị kết án hai lần về cùng một tội, quyền bất khả xâm phạm về thân thể Pháp luật quy định rất cụ thể đối với các cơ quan tiến hành tố tụng (đặc biệt là Tòa án) về việc bảo đảm cho người
bị buộc tội thực hiện các quyền này
Hiến pháp và pháp luật tố tụng hình sự hiện hành ghi nhận người bị buộc tội không bị coi là có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực Mọi người được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là có tội trên cơ sở các quy định của pháp luật Quyền suy đoán vô tội là quyền cơ bản cho việc bảo đảm quyền con người, yêu cầu việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử phải dựa trên những căn
cứ pháp luật cụ thể Bị cáo mới chỉ là người bị tình nghi thực hiện hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật thì không được coi là có tội Những
Trang 33nghi ngờ về pháp luật và chứng cứ phải được giải thích theo hướng có lợi cho người bị tình nghi, bị can, bị cáo Để bảo đảm quyền này thì yêu cầu đặt ra là bản án kết tội của Tòa án phải được chứng minh theo trình tự, thủ tục luật định trên cơ sở đảm bảo tính khách quan, toàn diện, có đầy đủ chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội cùng với những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Việc bảo đảm quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự yêu cầu Tòa án phải có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về quyền suy đoán vô tội trong các hoạt động kể từ khi chuẩn bị xét xử cho đến khi tiến hành xét xử tại phiên tòa, xét hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án
Cụ thể hóa quy định tại khoản 7 Điều 14 ICCPR, Hiến pháp Việt Nam khẳng định không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm (khoản 3 Điều 31) Có nghĩa là không ai bị xét xử và trừng phạt lại vì một tội danh mà họ đã bị tuyên
án hoặc được miễn trách nhiệm hình sự theo trình tự, thủ tục luật định Việc kết án lần thứ hai về cùng hành vi đã được Tòa án xét xử và đưa ra một bản
án có hiệu lực pháp luật bị coi là vi hiến Tuy nhiên sẽ không bị coi là vi phạm quy định này trong trường hợp tòa án cấp cao hơn hủy bỏ bản án và quyết định xét xử lại vụ án
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể khi tham gia tố tụng tại Tòa án được ghi nhận tại Điều 20 Hiến pháp, Điều 6 Bộ luật TTHS Theo đó mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát trường hợp phạm tội quả tang Pháp luật quy định việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn do Tòa án thực hiện phải tuân theo đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục và trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn
Những quy định về quyền của người bị buộc tội đã phân tích ở trên cho thấy pháp luật Việt Nam đã đưa ra những quy định nhằm loại bỏ tối đa những bất lợi có thể xảy đối với người bị buộc tội khi tham gia tố tụng tại Tòa án cũng như các cơ quan tiến hành tố tụng khác, việc quy định những quyền này
là cơ sở pháp lý có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm quyền con người theo
Trang 34đúng tinh thần của pháp luật nhân quyền quốc tế
- Quyền được xem xét lại bởi Tòa án cấp cao hơn:
Mặc dù trong nội dung Chương II của Hiến pháp về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân không có quy định nào ghi nhận về quyền này nhưng căn cứ vào khoản 6 Điều 103 Hiến pháp, Điều 6 Luật tổ chức TAND, Điều 17 Bộ Luật TTDS, Điều 20 Bộ luật TTHS, Điều 11 Luật TTHS có thể khẳng định Quyền được xem xét lại bởi Tòa án có cấp cao hơn
là một quyền tố tụng cơ bản của người tham gia tố tụng tại Tòa án
Mọi cá nhân khi tham gia tố tụng nếu không đồng ý với phán quyết của Tòa án có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm Việc thực hiện quyền kháng cáo đối với bản án, quyết định của Tòa án chỉ được thực hiện trong thời hạn luật định, khi mà bản án, quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật, đồng thời pháp luật cũng có quy định về phạm vi và giới hạn kháng cáo Quyền này được bảo đảm ngay cả khi người tham gia tố tụng là bị can, bị cáo đang bị tam giam, tuy nhiên phạm vi thực hiện kháng cáo như thế nào tùy thuộc vào quy định của pháp luật tố tụng và tư cách tham gia tố tụng của mỗi người trong từng vụ việc cụ thể Việc kháng cáo quá hạn chỉ được chấp nhận khi người kháng cáo có lý do chính đáng vì trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của pháp luật
Quyền được xem xét lại bởi Tòa án cấp cao hơn buộc Tòa án có trách nhiệm xem xét trên cơ sở đầy đủ bằng chứng và trên cơ sở pháp luật về các phán quyết và cáo buộc nhưng phải đảm bảo phù hợp với thủ tục tố tụng và nội dung của vụ việc Bên cạnh đó người tham gia tố tụng còn có quyền đề nghị Tòa án xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Đây là quyền có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với người tham gia tố tụng, góp phần phát hiện, phòng ngừa việc Tòa án đưa ra những phán quyết không công bằng, trái pháp luật
- Quyền được khiếu nại, tố cáo:
Quyền này được ghi nhận trong Điều 30 Hiến pháp, Điều 25 Bộ Luật TTDS, Điều 31 Bộ Luật TTHS, Điều 28 Luật TTHC và Luật Khiếu nại, Luật
tố cáo
Những vi phạm pháp luật xảy ra trong quá trình áp dụng pháp luật của
Trang 35Tòa án và những người tiến hành tố tụng luôn có khả năng nảy sinh và xâm phạm đến các quyền, lợi ích chính đáng của người tham gia tố tụng Việc tạo điều kiện cho những người tham gia tố tụng tại Tòa án có quyền khiếu nại, tố cáo về những hành vi vi phạm pháp luật của những người tiến hành tố tụng là một trong những biện pháp bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng tại Tòa án Thông qua giải quyết những yêu cầu về khiếu nại, tố cáo của những người tham gia tố tụng đối với những sai phạm của những người tiến hành tố tụng có thể ngăn chặn kịp thời các vi phạm pháp luật xảy ra trong quá trình tố tụng, và hơn hết là bảo vệ kịp thời quyền con người của người tham gia tố tụng, bảo đảm cho hoạt động tố tụng tại Tòa án được thực hiện một cách chính xác, khách quan
- Quyền được bồi thường nhà nước nếu Tòa án để xảy ra oan sai: Quyền này được ghi nhận tại khoản 5 Điều 31 Hiến pháp, Điều 30 Bộ Luật TTHS, Luật bồi thường nhà nước
Người tham gia tố tụng có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh sự, quyền lợi khi bị oan sai Pháp luật quy định người bị oan do người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng
đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan; người đã gây ra thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan
có thẩm quyền theo quy định pháp luật
Quy định về quyền được bồi thường trong lĩnh vực tư pháp là một trong những biện pháp hiệu quả, có tính khả thi cao để bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền của người DTTS Đồng thời cũng góp phần tăng cường trách nhiệm của Tòa án và cả những người tiến hành tố tụng, nâng cao
uy tín và trách nhiệm của Tòa án trong hoạt động bảo đảm quyền con người cũng như về chất lượng giải quyết, xét xử các loại án, làm cho việc giải quyết các loại án ngày càng đúng đắn, hợp pháp, bảo đảm công lý và lẽ công bằng
Về quyền đặc thù: Trong lĩnh vực tố tụng, người DTTS có quyền đặc
thù duy nhất là quyền được sử dụng tiếng nói và chữ viết tại Tòa án nhân dân Quyền này được ghi nhận tại Điều 42 Hiến pháp, Điều 15 Luật tổ chức TAND, Điều 20 Bộ luật TTDS, Điều 24 Bộ luật TTHS, Điều 21 Luật TTHC
Mọi công dân đều có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn
Trang 36ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp khi tham gia vào các hoạt động tố tụng tại TAND Ngôn ngữ được sử dụng thống nhất ở Việt Nam là Tiếng Việt Nhưng nếu việc sử dụng tiếng Việt có thể ảnh hưởng hoặc cản trở việc thực hiện quyền, lợi ích của người DTTS khi tham gia các hoạt động tố tụng tại Tòa án thì họ có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình Quyền này được pháp luật bảo đảm thông qua chế định về người phiên dịch Người phiên dịch phải thực hiện đúng các nghĩa vụ về phiên dịch được quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng Khi tiến hành lấy lời khai, chứng cứ tại Tòa án mà người DTTS không biết viết thì được quyền nhờ người khác viết lời khai, được người tiến hành tố tố tụng ghi lại lời khai, ý kiến trình bày và được đọc, giải thích về những nội dung đã được ghi nhận trước khi ký nhận vào các biên bản, văn bản tố tụng Quyền sử dụng tiếng nói và chữ viết của bị cáo trước Tòa án được tôn trọng và bảo đảm thực hiện, mọi hành vi cản trở, xâm phạm việc thực hiện quyền này đều là hành vi vi phạm pháp luật
Quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình khi tham gia hoạt động tố tụng tại Tòa án được áp dụng với tất cả người DTTS với bất kỳ tư cách tố tụng nào: dù là bị cáo, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan Sự ghi nhận quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc quyền đặc thù dành cho người DTTS, đây cũng là cơ sở để người DTTS có thực hiện những quyền tố tụng khác khi tham gia vào hoạt động tố tụng tại Tòa án
1.3 2 Trách nhiệm đảm bảo quyền của người DTTS từ phía Tòa án
Tòa án là nơi thể hiện trực tiếp và sâu sắc nhất sự bảo đảm công lý, sự đối xử công bằng đối với mọi công dân trong tất cả các mối quan hệ, là hoạt động biểu hiện tập trung cụ thể nhất của thực thi quyền lực tư pháp bảo đảm quyền con người, quyền công dân và cả quyền của người DTTS So với các chủ thể khác của Nhà nước thì bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của Tòa án có tính hiệu quả hơn cả, bởi lẽ:
1) Thông qua hoạt động xét xử, Tòa án nhân danh Nhà nước, căn cứ vào pháp luật để đưa ra các phán quyết đối với những vấn đề liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực quan trọng nhất như tự do, danh dự, tài sản, nhân thân và
cả tính mạng con người, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với những vụ việc cụ thể Bởi vậy, hoạt động của Tòa án phản ánh trực tiếp và sâu sắc nhất
Trang 37chức năng bảo vệ công lý, bảo vệ và bảo đảm quyền con người của nhánh quyền lực tư pháp, trong đó bao gồm cả quyền của người DTTS
2) Cơ cấu tổ chức của hệ thống tòa án nhân dân được quy định gồm có: TAND tối cao, TAND cấp cao, TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện Trong
đó, TAND cấp tỉnh và cấp huyện là những cấp xét xử trực tiếp, giữ vai trò chủ yếu về thực hiện trách nhiệm bảo đảm quyền con người TAND cấp tỉnh, cấp huyện được tổ chức tương đương với địa giới hành chính cấp tỉnh, cấp huyện nên sẽ cơ quan nắm rõ nhất về tình hình thực hiện và bảo đảm quyền của người DTTS ở mỗi địa phương cụ thể, từ đó định hướng công tác giải quyết, xét xử các loại án ở những địa phương có người DTTS sinh sống Ở những đơn vị Tòa án có người DTTS tham gia tố tụng sẽ phải thực hiện tốt công tác xét xử, giải quyết các loại án gắn với bảo đảm quyền của người DTTS khi tham gia tố tụng, phù hợp với đặc điểm của người DTTS ở từng địa phương, vùng, miền
3) Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra rất nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm đảm bảo quyền của người DTTS Tuy nhiên việc bảo đảm quyền của người DTTS được quy định một cách chung chung và chủ yếu là
về vấn đề phát triển kinh tế - xã hội đối với người DTTS, với nguyên tắc xuyên suốt là bảo đảm cho người DTTS được phát triển bình đẳng về mọi mặt Sẽ rất khó khăn để nhìn nhận và đánh giá chính xác quyền của người DTTS trên bình diện chung này được bảo đảm như thế nào, thực hiện ra sao bởi chúng ta không có cơ chế nào để kiểm tra tính hiệu quả của những quy định đó trên thực tế Nhưng khi xem xét trong hoạt động của Tòa án, chúng ta hoàn toàn có cơ hội để đánh giá về tình hình đảm bảo quyền của người DTTS khi tham gia tố tụng Chỉ khi bị xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm quyền và lợi ích thì người DTTS mới phải yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích đó của mình Kể cả khi người DTTS là bị can, bị cáo trong các vụ án hình sự thì quyền của họ vẫn phải được bảo đảm thực hiện Xem xét sự bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của TAND là một phương thức để tìm hiểu, đánh giá về tính khả thi của những quy định pháp luật trong bảo đảm quyền của người DTTS với tư cách là nhóm xã hội dễ bị tổn thương
Tòa án có trách nhiệm tuân thủ và áp dụng các quy định của pháp luật
về quy trình, thủ tục tố tụng để tạo điều kiện, cơ sở cho người tham gia tố
Trang 38tụng là người DTTS được thực hiện/thụ hưởng quyền Những người tiến hành
tố tụng tại Tòa án là những người có trách nhiệm trực tiếp thực thi các nhiệm
vụ để bảo đảm quyền của người DTTS Vì vậy, pháp luật yêu cầu họ phải có trình độ chuyên môn về pháp luật, có tư chất đạo đức nghề nghiệp và được tuyển chọn, bổ nhiệm theo quy trình hợp lý đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ xét
xử, bảo đảm quyền của người DTTS Sự đặc thù về vị trí yếu thế trước pháp luật của người DTTS cũng đòi hỏi những người tiến hành tố tụng phải thường xuyên nâng cao trình đô, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng cần thiết để tiến hành xét xử, giải quyết các loại án, thực hiện bảo đảm quyền của người DTTS Quyền của người DTTS trong hoạt động tố tụng tại Tòa án được đảm bảo tốt nhất khi những người tiến hành tố tụng có ý thức pháp luật cao, nhận thức được toàn diện các quyền của người DTTS Chỉ có như vậy họ mới có thể đưa ra những nhận định chính xác, vận dụng đúng đắn pháp luật, bảo đảm
sự độc lập và khách quan khi đưa ra các phán quyết Những người này nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định của pháp luật tố tụng dẫn để không bảo đảm quyền cho những người tham gia tố tụng thì sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, nếu tiến hành tố tụng mà đưa ra các bản án oan sai, trái pháp luật thì phải bồi thường
1.3.3 Những yêu cầu đặt ra đối với bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số trong hoạt động của Tòa án nhân dân
Một là, Bảo đảm tính độc lập của Tòa án:
Tính độc lập của Tòa án thể hiện ở việc Tòa án phải có quyền đưa ra các phán quyết một cách vô tư, không thiên vị, dựa trên bản chất của sự việc
và tuân theo pháp mà không chịu sự tác động, chi phối từ bất kì chủ thể nào với bất cứ lý do nào Tòa án có toàn quyết phán quyết đối với các vụ việc trong thẩm quyền luật định Tòa án phải độc lập khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Điều này đòi hỏi không có một chủ thể nào xét lại các phán quyết của Tòa án, chỉ có các Tòa án cấp trên mới có quyền xét lại các phán quyết của Tòa án cấp dưới theo quy trình tố tụng Sự độc lập của Tòa án chỉ toàn vẹn khi bản thân những người tiến hành tố tụng cũng hoạt động độc lập, nhất là Thẩm phán Hiến pháp đã xác định một trong những nguyên tắc
cơ bản về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân là Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập khi xét xử và hoàn toàn tuân theo pháp luật Điều này
Trang 39đã thể hiện rất rõ mục đích bảo đảm quyền con người, bảo đảm sự bình đẳng của công dân trước pháp luật, tránh mọi sự lợi dụng chức quyền để xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của công dân
Hai là, Bảo đảm sự bình đẳng của người DTTS trước pháp luật:
Bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng là một nguyên tắc cơ bản trong đảm bảo quyền con người Tuy nhiên đối với đối tượng yếu thế là người DTTS thì vấn đề đảm bảo sự bình đẳng cần phải đặc biệt quan tâm, chú trọng hơn Chỉ khi tạo điều kiện cho người DTTS bình đẳng trước pháp luật, thực hiện các quyền một cách bình đẳng thì sự bảo đảm của Tòa án mới thực sự có ý nghĩa trên thực tế
Ba là, phải bảo đảm sự vô tư, khách quan của những người tiến hành tố
tụng:
Những người tiến hành tố tụng là những người trực tiếp thực thi pháp luật về bảo đảm quyền của người DTTS trong hoạt động của Tòa án Để việc bảo đảm quyền của người DTTS có hiệu quả thì những người tiến hành tố tụng phải độc lập, chỉ tuân theo pháp luật khi giải quyết, xét xử các vụ án Đặc biệt là đối với Thẩm Phán, của Hội Thẩm nhân dân, khi tiến hành tố tụng những người này phải căn cứ vào sự thật khách quan của vụ án và dựa vào những quy định của pháp luật để đưa ra những phán quyết đúng đắn, không mang định kiến cá nhân hay sự thiên vị nào vì lý do người DTTS có điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ nhận thức pháp luật còn hạn chế, không có khả năng sử dụng tiếng Việt hay bất cứ lý do nào khác
Bốn là, Bảo đảm sự giám sát của nhân dân là người DTTS đối với hoạt
động xét xử:
Dù là người DTTS hay người dân tộc đa số thì cũng đều là công dân Việt Nam, là chủ nhân của đất nước Đại diện nhân dân cần được tham gia vào hoạt động xét xử để giám sát hoạt động của Tòa án thông qua Hội thẩm nhân dân Sự tham gia của Hội thẩm vào công tác xét xử nhằm bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong hoạt động tư pháp, đưa tiếng nói nhân dân vào quá trình xét xử, giúp cho việc xét xử các vụ án được chính xác khách quan, giúp Tòa án thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong nhân dân Chính vì vậy, đối với những người tham gia tố tụng là người DTTS với nhận thức pháp luật còn lạc hậu, quan niệm về quyền của bản thân còn
Trang 40chưa đầy đủ thì vai trò của Hội thẩm nhân dân càng trở nên quan trọng Cơ cấu Hội thẩm TAND cần phải hợp lý, phù hợp với yêu cầu xét xử các loại án nói trên và tình hình đặc điểm xã hội của từng địa phương Bên cạnh việc chú
ý lựa chọn những người thuộc các tổ chức xã hội, các đoàn thể căn cứ vào tình hình thực tế địa phương thì HTND cũng phải đáp ứng yếu tố về cơ cấu người DTTS Người DTTS có đủ điều kiện, tiêu chuẩn trở thành HTND tham gia xét xử tại Tòa án là một lợi thế dành cho những người tham gia tố tụng là người DTTS Việc am hiểu tâm lý, quan niệm, phong tục tập quán truyền thống của người DTTS sẽ góp phần giúp HTND đưa ra quan điểm giải quyết
vụ án một cách thấu đáo, qua đó quyền của người DTTS trong hoạt đông tố tụng tại Tòa án cũng được bảo đảm