Tuy nhiên, trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật dân sự cơ bản, chủ yếu được vận dụng trong quá trình giải quyết tranh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2-
PHẠM XUÂN NGỌC HOÀNG
ÁP DỤNG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Đình Nghị
HÀ NỘI - 2017
Trang 3tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này./
Tác giả luận văn
Phạm Xuân Ngọc Hoàng
Trang 4TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
VPQPPL Văn bản quy phạm pháp luật
Trang 5MỞ ĐẦU 1
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN 8
1.1 Một số khái niệm có liên quan 8
1.1.1 Quyền nhân thân 8
1.1.2 Tranh chấp lao động cá nhân 9
1.1.3 Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 10
1.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 10
1.3 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 12
1.3.1 Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo thủ tục sơ thẩm 14
1.3.2 Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại tòa án cấp phúc thẩm 20
1.3.3 Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật 22
1.3.4 Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động cá nhân vô hiệu 26
1.4 Mối quan hệ giữa BLDS với BLLĐ trong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 27
Chương 2 NỘI DUNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN 29
2.1 Các quyền nhân thân của NLĐ được pháp luật bảo vệ 29
2.1.1 Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể 29
2.1.2 Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín 30
2.1.3 Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình 31
2.2 Quy định bảo vệ quyền của người lao động và người sử dụng lao động trong tranh chấp lao động cá nhân 33
2.2.1 Nội dung bảo vệ người lao động và người sử dụng lao động 33
2.2.2 Quy định về bảo vệ tài sản của người lao động và người sử dụng lao động 36
2.2.3 Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bằng kiện dân sự 45
Trang 6SỰ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN 56 3.1 Thực tiễn giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 56 3.1.1 Những kết quả đạt được trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 56 3.1.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại, hạn chế 60 3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong việc áp dụng quy định của BLDS trong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 62 3.2.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật trong việc áp dụng quy định của BLDS trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 62 3.2.2 Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của BLDS trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 69 KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
BLDS năm 2015 đã thực sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xã hội BLDS là một đạo luật có ý nghĩa to lớn không chỉ về mặt bảo đảm quyền con người, quyền công dân, phát triển kinh tế - xã hội mà còn cả về mặt xây dựng pháp luật; thể chế hóa đầy đủ, đồng thời tăng cường các biện pháp để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực của đời sống dân sự, cũng như những tư tưởng, nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa về quyền sở hữu, quyền tự
do kinh doanh, quyền bình đẳng giữa các chủ thể thuộc mọi hình thức sở hữu
và thành phần kinh tế đã được ghi nhận trong trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị và nhất là trong Hiến pháp năm 2013
Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động là hàng hoá, quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ là quan hệ trao đổi sử dụng giá trị sức lao động Trong mối quan hệ này, NLĐ đem sức lao động của mình làm việc cho NSDLĐ và phải tuân theo sự quản lý, điều hành của NSDLĐ thông qua việc thuê mướn, sử dụng lao động nhằm thu được những giá trị mới lớn hơn – lợi nhuận Do vậy, mục tiêu đạt được lợi ích tối đa luôn là động lực trực tiếp của các bên nên giữa họ khó có thể thống nhất được các quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện quan hệ lao động Những lợi ích đối lập này giữa NLĐ và NSDLĐ
Trang 8sẽ trở thành mâu thuẫn, bất đồng nếu hai bên không dung hoà được quyền lợi của nhau Do vậy, tranh chấp lao động xảy ra là điều dễ nhận thấy Theo đó, tranh chấp lao động cá nhân là các tranh chấp trong đời sống dân sự, mang tính chất đơn giản, quy mô nhỏ nhưng trên thực tế đây là loại tranh chấp phổ biến, dễ xảy ra và chiếm đa số trong các tranh chấp lao động Nếu có một cơ chế giải quyết tranh chấp lao động cá nhân thích hợp, thấu đáo thì không chỉ bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân NLĐ mà còn góp phần củng cố, bảo vệ các quan hệ sản xuất, thúc đẩy xã hội phát triển
BLDS năm 2015 đã có các quy định cụ thể để bảo vệ quyền nhân thân của NLĐ; bảo vệ tài sản của NLĐ và NSDLĐ; tạo ra cơ sở pháp lý cần thiết
để giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân trong thực tế hiện nay còn gặp một số vướng mắc mà nguyên nhân chính xuất phát từ những thiếu sót, mâu thuẫn của các quy định pháp luật Do vậy việc nghiên cứu cả về mặt
lý luận cũng như thực tiễn về tranh chấp lao động nói chung và tranh chấp lao động cá nhân nói riêng nhằm khắc phục những điểm yếu, những điểm không phù hợp với tình hình thực tế đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các bên tham gia quan hệ lao động Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn
và nghiên cứu đề tài: “Áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự trong giải
quyết tranh chấp lao động cá nhân” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Một số công trình nghiên cứu đã thực hiện liên quan đến vấn đề giải quyết tranh chấp lao động cá nhân như:
- Đề tài cơ bản cấp Đại học Quốc gia về “Tranh chấp lao động và giải
quyết tranh chấp lao động ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
năm 2005 của tác giả Lê Thị Hoài Thu
Trang 9- Dương Anh Sơn và Lê Thị Bích Thọ, “Một số ý kiến về phạt vi phạm
do vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Khoa
học pháp lý, số 1/2005, tr 26-31: Phạt vi phạm là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi chưa có hành vi vi phạm nghĩa vụ Và khi có vi phạm thì nó được coi là hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng Pháp luật Việt Nam giới hạn tối đa mức phạt vi phạm: 8% giá trị nghĩa vụ bị vi phạm trong Luật Thương mại và 5% trong Bộ luật Dân sự Để các quy phạm pháp luật phát huy hiệu quả thì giới hạn trên không nên tồn tại Hơn nữa, pháp luật không thể cấm sử dụng chế tài phạt vi phạm khi chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ được sử dụng
- Năm 2007, Bộ môn Luật dân sự, Khoa Luật dân sự - Trường Đại học
Luật Hà Nội đã tổ chức một hội thảo khoa học chuyên đề về “Các biện pháp
bảo vệ quyền sở hữu trong pháp luật dân sự Việt Nam” với nhiều ý kiến, quan
điểm tiếp cận khác nhau của các giảng viên trong trường về vấn đề bảo vệ quyền sở hữu như: vấn đề kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình; vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân; vấn đề bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản; tự bảo vệ quyền sở hữu; vấn đề thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu; một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân…
- Đề tài “Bảo đảm và bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân ở Việt
Nam hiện nay” của tác giả Hà Thị Mai Hiên
- Đề tài “Tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động”, Đặc san tuyên truyền pháp luật số 02/2014 của tác giả Vũ Thu Hiền; “Giải quyết
tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân - Từ pháp luật đến thực tiễn và một
số kiến nghị”, tạp chí Luật học số 10 của Phạm Công Bảy
Trang 10- Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Xuân Thu “Cơ chế ba
bên trong việc giải quyết tranh chấp lao động ở Việt Nam” nhấn mạnh đến
vai trò của cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp, xây dựng các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả vận dụng cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp lao động
- Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Công Bảy về “Pháp luật về thủ tục
giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại tòa án Việt Nam” là đề tài viết khá
chuyên sâu về cơ chế giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án đồng thời đưa ra hướng giải quyết những bất cập còn tồn tại trong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án
- Luận văn thạc sỹ “Giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân
dân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Vũ Thị Thu Hiền năm 2012
- Luận văn thạc sỹ “Pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá
nhân - Một số bất cập và hướng hoàn thiện” của tác giả Ngô Thị Tâm năm
2012 tại trường Đại học Luật Hà Nội
Các bài viết được nhìn nhận dưới các góc độ khác nhau vì vậy khi lựa chọn đề tài này để nghiên cứu tác giả mong muốn sẽ có cái nhìn hoàn thiện, đầy đủ hơn về cơ chế giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, qua đó nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về nội dung này
Các nghiên cứu nêu trên đã đi sâu phân tích các yếu tố về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, bảo vệ quyền sở hữu của con người; cũng như
đã đưa ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Tuy nhiên, BLDS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung các quy định còn bất cập, hạn chế trong thực tiễn thi hành, nhất là đã tạo cơ sở pháp lý hữu hiệu để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của các cá nhân, pháp nhân, đặc biệt là trong bảo vệ quyền, lợi ích của bên yếu thế, bên thiện chí trong quan hệ dân sự; hạn chế đến mức tối đa sự can thiệp của cơ
Trang 11quan công quyền vào việc xác lập, thay đổi chấm dứt các quan hệ dân sự; điều đó đã thay đổi quan niệm, biện pháp trong giải quyết tranh chấp lao động
cá nhân Vì thế, trong luận văn này, tác giả tiếp tục kế thừa có chọn lọc những nghiên cứu trước đó và tập trung vào vấn đề cơ bản quy định của BLDS trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
3 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tranh chấp lao động cá nhân và giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Đồng thời Luận văn cũng đề cập tới những điểm mới, những điểm theo tác giả còn bất cập trong quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân nhằm đưa ra những giải pháp để hoàn thiện pháp luật
và nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của BLDS trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Luận văn tập trung chủ yếu vào các vấn đề: phân tích lý luận chung về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân; nội dung của việc áp dụng các quy định của BLDS trong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Tuy nhiên, trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật dân sự cơ bản, chủ yếu được vận dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, cụ thể như: Quy định về quyền sống, quyền được bảo đảm tính mạng, sức khoẻ, thân thể; bảo vệ danh
dự, đời tư và quyền bảo vệ tài sản của NLĐ và NSDLĐ
Qua đó, nhận ra được những tồn tại, hạn chế trong áp dụng quy định của BLDS trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân để kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong việc áp dụng quy định của BLDS trong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc nghiên cứu pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo quy định của BLDS để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm vận dụng vào điều kiện thực tế ở Việt Nam Đồng thời luận văn cũng dựa trên cơ sở những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước trong việc hoàn thiện pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp biện chứng khoa học; phân tích, đánh giá; tổng hợp, so sánh, đối chiếu; khảo sát thực tiễn; thống kê; hệ thống và một số phương pháp bổ trợ khác… Đồng thời, thực hiện việc kết hợp giữa các nhóm phương pháp để nghiên cứu, giải quyết những yêu cầu mà đề tài đặt ra
5 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tiếp tục làm rõ một số vấn đề lý luận về tranh chấp lao động cá nhân và giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Đánh giá các quy định của BLDS về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân qua đó thấy được những điểm đã đạt được và những điểm còn tồn tại, hạn chế để có thể kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật đối với giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của BLDS, BLLĐ về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, đặt trong mối quan hệ với các quy định pháp luật trước đó Ngoài ra, luận văn cũng đề cập tới những quy định khác có liên quan trong giải quyết tranh chấp lao động
cá nhân để có thể áp dụng những quy định phù hợp với thực tiễn, góp phần hoàn thiện pháp luật áp dụng quy định của BLDS trong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Trang 136 Cơ cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Lý luận chung về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Chương 2: Nội dung của việc áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự
trong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Chương 3: Thực tiễn thực hiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong
việc áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Trang 14Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN
1.1 Một số khái niệm có liên quan
1.1.1 Quyền nhân thân
Trong Hiến pháp năm 2013, nội dung về quyền con người, quyền công dân được quy định cụ thể tại Chương II “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân” đã thể hiện định hướng đối với vấn đề quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Theo đó, giá trị của những nội dung về quyền công dân, quyền con người đã được quan tâm đúng mức hơn
BLDS năm 2015, các quyền dân sự đã được quy định đảm bảo yếu tố thể chế hóa các quyền con người, quyền công dân đã được khẳng định trong Hiến pháp năm 2013 Với góc độ là bộ luật nền của hệ thống luật tư, sự thể chế hóa đã được thể hiện một cách có chọn lọc, vừa đảm bảo sự thống nhất với định hướng chỉ đạo của Hiến pháp đối với toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung, vừa đảm bảo được bản chất dân sự của các quy định được thể hiện trong BLDS nói riêng BLDS đã thể hiện rõ yêu cầu thể chế hóa các quy định
về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013, đặc biệt là các quy định về quyền nhân thân của cá nhân Các quyền nhân thân được ghi nhận và bảo đảm thực hiện tại BLDS được quy định theo hướng chọn lọc, phân biệt rõ ràng hơn giữa những quyền mang tính dân sự, có ý nghĩa trong quan hệ dân sự đã được lựa chọn một cách hợp lý những quyền con người, quyền công dân mang bản chất dân sự
Theo đó, Điều 25 BLDS năm 2015 đã quy định “Quyền nhân thân
được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân,
Trang 15không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”
Quy định này đã nêu lên khái niệm về quyền nhân thân thông qua hai đặc điểm cơ bản là: gắn liền với cá nhân, không chuyển dịch
BLDS 2015 đã cụ thể hóa các dấu hiệu về nhân thân trong xác định tư cách chủ thể của cá nhân và đã nêu rõ những quyền nhân thân gắn liền với lợi ích tinh thần của cá nhân (từ Điều 25 đến Điều 39) Các quyền nhân thân này
có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, mỗi tiêu chí thể hiện một khía cạnh pháp lý đặc thù
1.1.2 Tranh chấp lao động cá nhân
Tranh chấp lao động là sản phẩm tất yếu của quan hệ lao động được hình thành trong quá trình sử dụng sức lao động giữa một bên là NLĐ với một bên là NSDLĐ Tranh chấp lao động cá nhân là hệ quả có thể dự báo trước trong quá trình sử dụng sức lao động của NLĐ với NSDLĐ Bởi lẽ, các bên tham gia quan hệ lao động có những mục đích về kinh tế đối lập nhau
Cụ thể: NLĐ có nhu cầu, mong muốn bán được sức lao động với giá cao, có môi trường làm việc tốt để chuyển giao sức lao động cho NSDLĐ một cách thuận lợi; NSDLĐ lại mong muốn trả giá thấp khi sử dụng sức lao động của NLĐ vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận Như vậy, giữa NLĐ và NSDLĐ hình thành nên quan hệ lao động mà mỗi bên đều có quyền
và nghĩa vụ đối với nhau
Trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động, quan hệ giữa NLĐ với NSDLĐ không phải lúc nào cũng diễn biến một cách ổn định bình thường theo đúng những thỏa thuận Giữa họ có thể sẽ xuất hiện những bất đồng về quyền và lợi ích trong lao động Có những bất đồng được các bên thỏa thuận và giải quyết được song cũng có thể có những bất đồng mà sự thương lượng của hai bên không thể giải quyết được Những bất đồng, xung
Trang 16đột nếu được giải quyết tốt thì sẽ không trở thành mâu thuẫn, ngược lại, nếu không được giải quyết thì dễ trở thành những mâu thuẫn gay gắt Lúc này, họ phải cần đến một trung gian (người thứ thứ ba hoặc một cơ quan có thẩm quyền được pháp luật quy định) để giải quyết
Theo Khoản 7 Điều 3 BLLĐ năm 2012 quy định: “Tranh chấp lao
động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa NLĐ với NSDLĐ và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với NSDLĐ" Đây là một định nghĩa hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay
trong pháp luật lao động Việt Nam vì nó không những chỉ ra được nội dung tranh chấp mà còn phân biệt được đối tượng tranh chấp
1.1.3 Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là việc áp dụng các quy định pháp luật về nguyên tắc, thẩm quyền giải quyết, trình tự của pháp luật để giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là việc các cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành những thủ tục theo luật định nhằm giải quyết những tranh chấp phát sinh giữa cá nhân NLĐ với NSDLĐ về việc thực hiện quyền nghĩa vụ và lợi ích của hai bên trong quan hệ lao động, khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm hại; xóa
bỏ tình trạng bất bình, mâu thuẫn giữa NLĐ và NSDLĐ, duy trì và củng cố quan hệ lao động, đảm bảo sự ổn định trong sản xuất
1.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
BLDS năm 2015, quy định cơ chế pháp lý về thực hiện, bảo vệ quyền dân sự, trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền dân
sự, cụ thể:
- Quy định trách nhiệm của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác trong việc bảo vệ quyền dân sự (Điều 14 và Điều 15) Để bảo đảm quyền dân sự
Trang 17của cá nhân, pháp nhân được bảo vệ kịp thời, phát huy vai trò bảo vệ công lý của Tòa án, phát huy trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền khác trước người dân, BLDS quy định trách nhiệm của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác trong việc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân Theo
đó, trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài; việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tục hành chính được thực hiện trong trường hợp luật quy định; quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục hành chính có thể được xem xét lại tại Tòa án; Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác có quyền hủy quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trái pháp luật xâm phạm đến quyền dân sự cá nhân, pháp nhân
Đặc biệt, BLDS quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự với lý do chưa có điều luật để áp dụng Trường hợp này nếu không có tập quán và không áp dụng được tương tự pháp luật thì Tòa án vận dụng nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết
Theo đó, BLTTDS năm 2015 quy định những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (Khoản 1, 3, 4, 5 Điều 32 BLTTDS
2015) Quy định lại tranh chấp lao động cá nhân giữa NLĐ với NSDLĐ như
sau: Tranh chấp lao động cá nhân giữa NLĐ với NSDLĐ phải thông qua thủ
tục hòa giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc không hòa giải trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:
+ Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
+ Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động + Giữa người giúp việc gia đình với NSDLĐ
Trang 18+ Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội,
về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
+ Về bồi thường thiệt hại giữa NLĐ với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
- Bổ sung các tranh chấp sau: Tranh chấp liên quan đến lao động gồm:
+ Tranh chấp về học nghề, tập nghề
+ Tranh chấp về cho thuê lại lao động
+ Tranh chấp về quyền công đoàn, kinh phí công đoàn
+ Tranh chấp về an toàn lao động, vệ sinh lao động
Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do đình công bất hợp pháp
- Thêm điều khoản loại trừ đối với “các tranh chấp khác về lao động”: Các tranh chấp khác về lao động, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định pháp luật
1.3 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Khi tranh chấp phát sinh, các bên tự thương lượng hoặc thương lượng với sự hỗ trợ của bên thứ ba Mặc dù đây không phải là một thủ tục bắt buộc song thương lượng được coi là nguyên tắc chung xuyên suốt quá trình giải quyết tranh chấp lao động Các bên luôn có quyền thương lượng, thỏa thuận
để giải quyết tranh chấp lao động của mình Nếu thương lượng thành, các bên phải tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện kết quả thương lượng Trong trường hợp các bên không tiến hành thương lượng hoặc tiến hành thương lượng nhưng không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện nghiêm chỉnh kết quả thương lượng thành thì bước tiếp theo chia làm 2 trường hợp:
- Trường hợp 1: Thuộc các vụ việc không bắt buộc phải thông qua thủ
tục hòa giải của Hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết
Trang 19(Điều 32 BLTTDS năm 2015) Trường hợp này, không cần phải qua thủ tục hòa giải thông qua Hòa giải viên lao động mà chuyển sang yêu cầu Tòa án giải quyết
- Trường hợp 2: Các trường hợp còn lại (bắt buộc phải thông qua thủ
tục hòa giải của Hòa giải viên lao động) thì Hòa giải viên lao động tiến hành hòa giải trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết
Theo đó trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân được thực hiện:
* Bước 1:
- Thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải (Điều 32 BLTTDS năm 2015)
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải
- Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải
- Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành
- Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành
- Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành
Trang 20- Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động
- Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản
Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết
Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án được thực hiện theo trình tự, thủ tục chung được quy định trong BLTTDS năm
2015 Theo đó, vụ án lao động được giải quyết theo hai cấp xét xử tại Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm
1.3.1 Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo thủ tục sơ thẩm
Trong giai đoạn sơ thẩm, các hoạt động tố tụng tại Tòa án bao gồm:
- Khởi kiện, thụ lý vụ án lao động: các chủ thể tham gia mối quan hệ
pháp luật lao động về mặt pháp lý là hoàn toàn bình đẳng với nhau trong mối quan hệ Khi quyền lợi của họ bị xâm phạm họ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, tức là khởi kiện vụ án lao động Khởi kiện vụ án tranh chấp lao động là
cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ tố tụng lao động tại Tòa án
Chủ thể có quyền khởi kiện vụ án dân sự nói chung được quy định tại Điều 187 BLTTDS năm 2015 Đơn khởi kiện phải được làm bằng văn bản và đầy đủ nội dung được quy định tại BLTTDS năm 2015 Để xác định vụ tranh chấp lao động cá nhân có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay không, Tòa án phải thực hiện các công việc cụ thể sau: kiểm tra quyền khởi kiện, xem xét về thời hiệu, xem xét về thẩm quyền, xem xét vụ án tranh chấp có
Trang 21thuộc trường hợp phải trả lại đơn khởi kiện hay không, xem xét về án phí Sau khi người khởi kiện nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí (nếu có) thì Tòa án ra quyết định thụ lý vụ án và tiến hành vào sổ thụ lý Kể từ đó, Tòa án chính thức có thẩm quyền và trách nhiệm trong việc giải quyết vụ án lao động
Hiện nay, một số quy định về thủ tục khởi kiện còn khá rườm rà, phức tạp Đối với NLĐ thì thủ tục khởi kiện cần phải linh hoạt, đơn giản, dễ thực hiện vì họ được coi là những người yếu thế hơn so với NSDLĐ, cũng như trình độ hiểu biết còn hạn chế Ví dụ: quy định đơn khởi kiện yêu cầu phải bằng văn bản, có đầy đủ nội dung pháp luật quy định… Có thể quy định linh hoạt hơn trong việc quy định hình thức của đơn khởi kiện, không bắt buộc phải bằng văn bản, người khởi kiện có thể kể lại nội dung tranh chấp để phía Tòa án ghi lại thành biên bản và yêu cầu ký xác nhận của người khởi kiện Giai đoạn xem xét đơn khởi kiện và thụ lý vụ án là khâu rất quan trọng trong cả quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án Đây là giai đoạn đầu tiên của việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án, do đó việc xác định đúng quan hệ tranh chấp ngay từ giai đoạn xử lý đơn và thụ lý vụ án có ý nghĩa quyết định Bởi lẽ chỉ có xác định đúng quan hệ tranh chấp thì Thẩm phán mới có căn cứ
để yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ (Điều 91, 92 BLTTDS năm 2015) cũng như đánh giá đúng các chứng cứ, tình tiết trong vụ án để chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của đương sự BLTTDS năm 2015 cũng đã quy định rõ về nghĩa vụ chứng minh đối với các đương sự là một trong những nội dung quan trọng làm cơ sở cho các đương sự xác định những nghĩa vụ của mình khi đưa ra yêu cầu, thực hiện tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, nhất là đối với vụ việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân thì, BLTTDS năm 2015 đã quy định: Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ
Trang 22các trường hợp sau đây thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người bị yêu cầu:
- Đương sự là NLĐ trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do NSDLĐ quản lý, lưu giữ thì NSDLĐ có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án
- NLĐ khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp NSDLĐ không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với NLĐ theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc
về NSDLĐ;
- Thời hiệu khởi kiện: nhằm tránh một chế định do 2 bộ luật cùng quy định, về thời hiệu khởi kiện đã được quy định trong BLDS 2015 cho nên BLTTDS năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết
vụ việc dân sự được thực hiện theo quy định của BLDS Để bảo đảm quy định
về thời hiệu trong BLDS phù hợp với bản chất của thời hiệu trong quan hệ dân sự, bên cạnh kế thừa 04 loại thời hiệu được quy định trong BLDS 2005 (thời hiệu hưởng quyền dân sự, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự, thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự), Bộ luật quy định Tòa án không được tự mình áp dụng thời hiệu nếu không có yêu cầu của một bên hoặc các bên trong quan hệ dân sự; trường hợp một và các bên trong quan hệ dân sự có yêu cầu về việc áp dụng thời hiệu thì yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc; người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ
Do đó, Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo khi có yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa
ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc
Trang 23Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ
- Trả đơn khởi kiện: BLTTDS năm 2015 đã quy định rõ một số trường hợp trả đơn khởi kiện như sau: Người khởi kiện không có quyền khởi kiện là trường hợp người khởi kiện (người ký tên vào đơn khởi kiện) không nhằm
“để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” và trong tranh chấp lao động thì không phải là NLĐ hoặc NSDLĐ; Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó; Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán là trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán Đặc biệt để khắc phục những vướng mắc trong thực tế hiện nay
về địa chỉ nơi cư trú của đương sự, BLTTDS năm 2015 quy định “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi
cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của tại Điều 23 Luật cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung”
- Chuẩn bị xét xử và hòa giải: sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành
chuẩn bị xét xử và hòa giải đối với các bên Chuẩn bị xét xử là những hoạt
Trang 24động được thực hiện nhằm phục vụ cho việc xét xử vụ án Thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tranh chấp lao động cá nhân là 2 tháng kể từ ngày thụ lý, đối với những vụ án phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án nhân dân có quyền gia hạn thêm thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá
01 tháng (Điều 203 BLTTDS năm 2015) Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án thực hiện những công việc sau: thông báo về việc thụ lý vụ án và những yêu cầu đối với đương sự; Thẩm phán tiến hành xác minh, thu thập hồ
sơ vụ án; tiến hành hòa giải Hòa giải là một bước rất quan trọng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Hòa giải trước khi mở phiên tòa một mặt đảm bảo cho các bên thực hiện được quyền tự do định đoạt của họ, mặt khác có thể chấm dứt quá trình tố tụng ngay sau khi tiến hành hòa giải Điều đó vừa giảm bớt gánh nặng cho tòa, vừa có thể tạo ra hòa khí để các bên tiếp tục hợp tác với nhau, vừa có thể giảm bớt những chi phí về thời gian và tiền bạc cho quá trình
tố tụng và cho chính các bên tranh chấp
Sự khác biệt của hòa giải tại Tòa án so với hòa giải thông qua Hòa giải viên lao động là ở địa vị pháp lý của chủ thể tiến hành hòa giải và hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành Để giúp các bên thương lượng được với nhau, Hòa giải viên lao động có thể làm tất cả những việc cần thiết như hướng dẫn cho các bên xem xét, đánh giá các tình tiết, các chứng cứ, các căn
cứ pháp luật để họ nhận thức được đầy đủ về việc tranh chấp, giúp các bên cân nhắc bằng những đánh giá khác nhau, toàn diện các vấn đề, giúp các bên lựa chọn giải pháp chấm dứt tranh chấp lao động bằng việc đưa ra phương án giải quyết Tại Tòa án, người tiến hành hòa giải là Thẩm phán, đồng thời là người sẽ tiến hành xét xử và ra quyết định về vụ tranh chấp Vấn đề đặt ra là trong thủ tục hòa giải tại Tòa án, Thẩm phán có thể làm hoặc được phép làm
gì và phải làm như thế nào để đạt mục đích hòa giải Bởi lẽ theo nguyên tắc pháp chế thì cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được phép thực hiện các hoạt
Trang 25động tố tụng mà pháp luật cho phép BLTTDS năm 2015 đã quy định rõ: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc: Tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thoả thuận không phù hợp với ý chí của mình; Nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội (Điều 205 BLTTDS 2015)
Hòa giải là thủ tục tố tụng bắt buộc trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm Nếu hòa giải thành, việc giải quyết vụ án sẽ chấm dứt, Tòa án tiến hành lập biên bản công nhận sự hòa giải của các bên và các bên có nghĩa vụ thi hành các thỏa thuận đã đạt được trong biên bản hòa giải đó Như vậy, nếu hòa giải thành công sẽ góp phần tiết kiệm thời gian, tiền bạc cho các bên tranh chấp, dung hòa lợi ích giữa các bên tranh chấp, tránh được sự căng thẳng khi các bên trở lại hợp tác với nhau để duy trì quan hệ lao động Trong trường hợp hòa giải không thành Tòa án cũng có điều kiện tìm hiểu rõ thêm
về các tình tiết, nội dung của vụ án qua đó xác định được hướng giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Tố tụng tại phiên Tòa sơ thẩm: trường hợp hòa giải không thành, Tòa
án sẽ mở phiên tòa sơ thẩm để xét xử giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Phiên tòa lao động sơ thẩm là giai đoạn độc lập trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và là trọng tâm của thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án Hoạt động tố tụng tại phiên tòa có ý nghĩa quyết định đối với các phán quyết của Tòa án Trình tự tiến hành phiên tòa sơ thẩm gồm 3 bước: thủ tục bắt đầu phiên tòa; tranh tụng tại phiên tòa; nghị án và tuyên án (Điều 222 - 269 BLTTDS năm 2015):
- Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm: là thủ tục quan trọng, là hoạt động
Trang 26trung tâm của phiên tòa, bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án Chất lượng xét xử của Tòa án phụ thuộc một phần vào chất lượng tranh luận tại phiên tòa, bởi việc tranh luận dân chủ
và công khai tại phiên tòa góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án, giúp Tòa án ra các phán quyết chính xác và đúng luật Điều này thể hiện vai trò quan trọng của hoạt động tranh luận và xu hướng đổi mới hoạt động tư pháp ở nước ta Đồng thời cũng phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp là "Muốn nâng cao chất lượng xét xử thì phải nâng cao chất lượng tranh tụng dân chủ tại phiên tòa" [12] BLTTDS quy định về hoạt động tranh luận tại phiên tòa từ Điều 247 đến Điều 263 BLTTDS năm 2015
- Trên cơ sở của việc hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành nghị án và tuyên án (Điều 264-269 BLTTDS năm 2015) Nghị án
và tuyên án là bước cuối cùng của phiên tòa sơ thẩm Bản án sơ thẩm là kết quả của quá trình xét xử sơ thẩm vụ án lao động, nhưng nó chưa có hiệu lực ngay mà có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
1.3.2 Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại tòa án cấp phúc thẩm
Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị Phúc thẩm các bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về vụ tranh chấp lao động là một hoạt động rất quan trọng, là hoạt động xem xét lại tính đúng đắn của các bản án, các quyết định đã tuyên theo yêu cầu của các đương sự, đại diện của họ hoặc của Viện kiểm sát nhằm đảm bảo quyền lợi của đương sự và đảm bảo tính đúng đắn, công bằng của việc thực thi pháp chế Cơ sở của việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa
án cấp phúc thẩm: các bản án hoặc quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải
Trang 27quyết vụ án của cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo trình tự pháp luật
Xét xử phúc thẩm vụ án dân sự nói chung và lao động nói riêng có những đặc điểm sau:
- Tòa án cấp phúc thẩm không chỉ kiểm tra việc tuân theo pháp luật trong khi xét xử của Tòa án cấp dưới mà còn kiểm tra tính đúng đắn, tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
- Tòa án cấp phúc thẩm không bị ràng buộc, hạn chế bởi những nội dung kháng cáo hoặc kháng nghị mà có thể kiểm tra những vấn đề khác có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị đối với tất cả các đương sự, kể cả những người không kháng cáo và không bị kháng nghị
- Những người tham gia tố tụng có quyền, nghĩa vụ tương tự như ở Tòa án cấp sơ thẩm
Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án lao động là 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án Hòa giải không được đặt ra đối với phiên tòa phúc thẩm
Việc thu thập chứng cứ tại cấp phúc thẩm đã được BLTTDS năm 2015 xác định việc thu thập, cung cấp chứng cứ chủ yếu là trong giai đoạn sơ thẩm Tuy nhiên, ở giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm đương sự được quyền bổ sung tài liệu, chứng cứ trong những trường hợp sau đây:
- Tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không cung cấp, giao nộp được vì có lý do chính đáng;
- Tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm
Với quy định mới này thì, việc xác minh, thu thập chứng cứ nên tiến hành trước khi mở phiên tòa là phù hợp và có hiệu quả hơn vì sau khi có kết quả xác minh, thu thập chứng cứ, thì có thêm cơ sở giải quyết vụ án, Thẩm
Trang 28phán có thêm cơ sở trong việc thẩm vấn, điều khiển phiên tòa được hiệu quả, tránh tình trạng hoãn phiên tòa nhiều lần Phiên tòa phúc thẩm được tiến hành theo các thủ tục như phiên tòa sơ thẩm
Trong quá trình giải quyết vụ án lao động, tùy từng trường hợp cụ thể
mà Tòa án có thể ra những quyết định sau:
- Giữ nguyên bản án sơ thẩm;
- Sửa bản án sơ thẩm;
- Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ
vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ
- Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án
- Bản án phúc thẩm có giá trị thi hành ngay sau khi tuyên án
BLTTDS năm 2015 quy định cho Tòa án có thể ra quyết định hủy một phần bản án sơ thẩm đã giải quyết được vướng mắc trước đây trong trường hợp bản án sơ thẩm không sai toàn bộ mà chỉ sai sót một phần Như vậy, phần bản án, quyết định không bị hủy sẽ có hiệu lực pháp luật và được thi hành Nếu như hủy hết cả bản án để xét xử lại thì phần bản án, quyết định đúng cũng chưa được thi hành trong khi đó yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân phải nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả
1.3.3 Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Các bản án, quyết định của Tòa án sau khi có hiệu lực pháp luật, thông thường sẽ được thi hành Nhưng vì nhiều nguyên nhân mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật những vẫn có sai sót về thủ tục hoặc nội dung Để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên, bảo đảm việc xét xử của Tòa
án là đúng pháp luật thì bản án, quyết định của Tòa án dù đã có hiệu lực pháp luật vẫn có thể xem xét lại theo thủ tục tố tụng đặc biệt là thủ tục tái thẩm và giám đốc thẩm nếu có kháng nghị của người có thẩm quyền
BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung thủ tục giám đốc thẩm với
Trang 29một số nội dung mới chủ yếu như sau:
Sửa đổi bổ sung làm rõ căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, theo đó, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây: Nội dung kết luận trong bản án, quyết định đã có hiệu lực không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án đã gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ hoặc NSDLĐ; Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và việc vi phạm đó làm cho NLĐ hoặc NSDLĐ không thực hiện được quyền, nghĩa vụ
tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật; Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ hoặc NSDLĐ, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba
Đổi mới quy trình, thủ tục nhận đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm theo hướng công khai, minh bạch hoạt động nhận và thụ lý đơn đề nghị giám đốc thẩm Tòa án, Viện kiểm sát nhận đơn đề nghị giám đốc thẩm phải ghi vào
sổ nhận đơn, cấp giấy xác nhận đã nhận đơn cho NLĐ hoặc NSDLĐ Trường hợp đơn đề nghị không có đủ điều kiện thì Tòa án, Viện kiểm sát yêu cầu người gửi đơn sửa đổi, bổ sung; hết thời hạn này mà người gửi đơn không sửa đổi, bổ sung thì Tòa án, Viện kiểm sát trả lại đơn đề nghị, nêu rõ lý do cho NLĐ hoặc NSDLĐ và ghi chú vào sổ nhận đơn Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải phân công Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải phân công Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu đơn, thông báo, kiến nghị, hồ sơ vụ án Trường hợp không kháng nghị thì báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do
Trang 30cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có văn bản thông báo, kiến nghị
Trong thủ tục giám đốc thẩm, đương sự có quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ cho người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu tài liệu, chứng cứ đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết trong quá trình giải quyết vụ án Trong quá trình giải quyết đơn đề nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có quyền yêu cầu người có đơn bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc tự mình kiểm tra, xác minh tài liệu, chứng cứ cần thiết
Nhằm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng được thực hiện trong suốt quá trình tố tụng thì việc đương sự và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa giám đốc thẩm để trình bày ý kiến nói chung là rất cần thiết Tuy nhiên, đối với những vụ án trong giai đoạn giải quyết tại cấp sơ thẩm, phúc thẩm đã thực hiện việc tranh tụng đầy đủ, tài liệu chứng cứ đã rõ, đủ cơ
sở để phán quyết như do nhận định đánh giá sai hoặc áp dụng pháp luật sai nên bị kháng nghị để xét xử theo trình tự giám đốc thẩm; hoặc những bản án, quyết định có sai lầm nghiêm trọng cần hủy để giải quyết lại từ sơ thẩm, phúc thẩm, căn cứ kháng nghị đã rõ thì không cần thiết phải triệu tập đương
sự và những người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa giám đốc thẩm Vì
vậy BLTTDS năm 2015 quy định “Trường hợp xét thấy cần thiết”, Tòa án sẽ
triệu tập đương sự hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác có liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm; nếu họ vắng mặt tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm vẫn tiến hành phiên tòa
Trong quá trình giải quyết vụ án lao động, tùy từng trường hợp cụ thể
Trang 31mà Hội đồng giám đốc thẩm có quyền sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới Tuy nhiên để việc sửa bản án, quyết định của cấp giám đốc thẩm có đầy căn cứ và không làm ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của người khác (không phải là đương sự của vụ án), BLTTDS quy định Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có đủ các điều kiện như:
- Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, rõ ràng; có đủ căn cứ
Việc sửa đổi thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực của BLTTDS năm 2015 đã khắc phục được những tồn tại hạn chế trong quá trình thực hiện trước đấy, tránh được những sai lầm khi đánh giá về các tình tiết,
sự kiện của vụ việc dân sự hoặc trong việc vận dụng pháp luật về từng loại tranh chấp lao động cụ thể và tố tụng giải quyết vụ án
BLTTDS năm 2015 quy định về thời gian không tính vào thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm do có những trở ngại khách quan mà người có thẩm quyền kháng nghị không thể tiến hành kháng nghị hoặc trường hợp có căn cứ rõ ràng để kháng nghị tái thẩm mà những người có thẩm quyền vẫn không kháng nghị mặc dù biết rõ các căn cứ này Nhìn chung, những thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án cũng
đã đáp ứng được yêu cầu khách quan, công bằng, chính xác của việc xác định tranh chấp, góp phần tạo thuận lợi cho việc khởi kiện của NLĐ và NSDLĐ khi có tranh chấp lao động xảy ra Tuy nhiên, việc áp dụng thủ tục
Trang 32tố tụng dân sự để giải quyết tranh chấp lao động cá nhân gặp khó khăn do thủ tục khá nhiều, thời gian giải quyết lâu và nếu phải trải qua nhiều cấp xét
xử sẽ làm cho mối quan hệ lao động của các bên tranh chấp bị ảnh hưởng và
có quyền khi có căn cứ theo quy định của BLLĐ
Theo đó đã quy định thủ tục xem xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu: Sau khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, Tòa án có trách nhiệm gửi thông báo thụ lý cho người có đơn yêu cầu, NSDLĐ, tổ chức đại diện tập thể lao động và Viện kiểm sát cùng cấp
Thời hạn chuẩn bị xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu là
10 ngày, kể từ ngày Tòa án thụ lý Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn hoặc văn bản yêu cầu, nếu người yêu cầu rút yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn, văn bản yêu cầu
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp, Tòa án phải mở phiên họp để xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu Khi xét đơn yêu cầu, Thẩm phán có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
Trường hợp chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán ra quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu Trong quyết định này, Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
Trang 331.4 Mối quan hệ giữa BLDS với BLLĐ trong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Trong BLDS hiện hành có nhiều điều luật quy định tương đối chi tiết
về một số lĩnh vực cụ thể nhiều lĩnh vực tranh chấp dân sự, quyền dân sự, lao động, hợp đồng… Vì vậy, trên thực tế đang tồn tại sự trùng lặp, chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn giữa các quy định của BLDS với các quy định của BLLĐ, như: Quy định về thời hiện giải quyết tranh chấp lao động cá nhân còn
có sự mẫu thuẫn giữa BLDS năm 2015 và BLLD năm 2012:
BLDS năm 2015 quy định về thời hiệu trong BLDS phù hợp với bản chất của thời hiệu trong quan hệ dân sự, Bộ luật quy định Tòa án không được
tự mình áp dụng thời hiệu nếu không có yêu cầu của một bên hoặc các bên trong quan hệ dân sự; trường hợp một và các bên trong quan hệ dân sự có yêu cầu về việc áp dụng thời hiệu thì yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa
án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc; người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ
Theo quy định tại Điều 202 BLLĐ năm 2012 như sau:
- Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh
chấp lao động cá nhân là 06 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích họp pháp của mình bị vi phạm
- Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là
01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm
Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động được hiểu là khoảng thời gian hiệu lực do pháp luật quy định mà trong khoảng thời gian đó các bên tranh chấp được quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động Ngoài thời gian hiệu lực đó, các bên
Trang 34không được quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp Cũng theo tinh thần đó, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp được quyền từ chối, không thụ lý giải quyết tranh chấp lao động đã hết thời hiệu yêu cầu giải quyết, nếu thụ lý giải quyết thì coi như vi phạm pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động; các kết quả giải quyết tranh chấp lao động không có giá trị pháp lý thi hành Tuy nhiên, pháp luật không cản trở việc các bên giải quyết tranh chấp lao động bằng các phương thức khác mặc dù đã hết thời hiệu yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật
Do đó, nếu cùng về một vấn đề mà có sự quy định khác nhau giữa BLDS và BLLĐ thì, việc tập trung các quy định dân sự cụ thể vào BLLĐ sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc sửa đổi, bổ sung các văn bản này thay
vì phải đồng thời sửa đổi, bổ sung cả BLDS và BLLĐ
Trang 35Chương 2 NỘI DUNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA
BỘ LUẬT DÂN SỰ TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN
2.1 Các quyền nhân thân của NLĐ được pháp luật bảo vệ
2.1.1 Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể
Đây là quyền đã được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam và được cụ thể hóa trong nhiều văn bản luật, đặc biệt là các Bộ luật Hình sự và Tố tụng Hình sự; BLDS năm 2015 (Điều 33) Hiến pháp Việt Nam quy định mọi người dân đều có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ
về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam cũng được Nhà nước Việt Nam bảo hộ các quyền
* Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng: BLDS 2015 quy định quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng thừa nhận nó là một quyền nhân thân và quy định trách nhiệm dân sự đối với người thực hiện hành vi xâm phạm đến tính mạng của người khác, đó là việc bồi thường thiệt hại BLDS
2015 lấy yếu tố chi phí là căn để xác định thiệt hại Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (Điều 591 BLDS năm 2015)
* Quyền được bảo đảm an toàn về sức khỏe của cá nhân là quyền của
cá nhân được chăm sóc sức khỏe thường xuyên và quyền được khám, chữa bệnh khi đã mắc bệnh BLDS 2015 quy định trách nhiệm dân sự đối với người thực hiện hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác, đó là việc bồi thường thiệt hại Pháp luật lấy yếu tố chi phí làm căn cứ để xác định thiệt hại Chi phí đó bao gồm chi phí cho việc chữa bệnh, bồi dưỡng, phục hồi sức
Trang 36khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại, thu nhập thực tế
bị giảm sút của người bị thiệt hại … Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ
sở do Nhà nước quy định (Điều 590 BLDS năm 2015)
* Quyền được bảo đảm an toàn về thân thể là quyền của cá nhân được
tự do thân thể và được bảo đảm sự toàn vẹn của thân thể BLDS 2015 thừa nhận quyền được bảo đảm an toàn về thân thể của cá nhân tại Điều 33
2.1.2 Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
Điều 34 BLDS năm 2015 quy định“Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá
nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ”
Danh dự của cá nhân thể hiện sự coi trọng của dư luận xã hội đối với cá nhân đó, dựa trên những giá trị tinh thần đạo đức tốt đẹp Nhân phẩm của con người là những phẩm chất và giá trị con người của cá nhân đó Uy tín cá nhân thể hiện sự tín nhiệm và mến phục của cộng đồng hoặc một bộ phận dân sự đối với cá nhân Cả 3 yếu tố trên tuy có tính độc lập tương đối nhưng lại đều hướng tới sự thể hiện giá trị tinh thần của cá nhân
Theo Điều 34 BLDS năm 2015, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín là một quyền nhân thân Mỗi cá nhân đều có quyền đối với danh
dự, nhân phẩm, uy tín của mình và đồng thời cũng có nghĩa vụ phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác Điểm đặc biệt của quyền nhân thân về danh dự, nhân phẩm, uy tín so với các quyền nhân thân khác là ở chỗ quyền này được tôn trọng và bảo vệ tuyệt đối Dù trong bất kỳ trường hợp nào pháp luật cũng không cho phép đụng chạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân Vì vậy, không ai có thể viện bất kỳ lý do nào để bào chữa cho hành vi xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác, kể cả việc làm nhục kẻ phạm tội
Trang 37BLDS 2015 còn quy định trách nhiệm dân sự đối với người thực hiện hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, đó là việc bồi thường thiệt hại Pháp luật lấy yếu tố chi phí làm căn cứ để xác định thiệt hại Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (Điều
592 BLDS năm 2015)
2.1.3 Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
Quyền bí mật đời tư là một trong những quyền nhân thân cơ bản của con người Nó được ghi nhận trong các văn bản pháp lý có hiệu lực cao như: Hiến pháp, cụ thể hóa tại Điều 38 BLDS 2015 và nhiều văn bản khác liên quan Tuy nhiên các văn bản này cũng như BLDS đều không định nghĩa như
thế nào là “đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” “Quyền bí mật
đời tư” là quyền nhân thân bất khả xâm phạm của cá nhân Về cơ bản có thể
hiểu rằng quyền bí mật đời tư của cá nhân là quyền được bảo vệ về bí mật đời
tư, nói cách khác không ai được quyền xâm phạm đến bí mật đời tư của cá
nhân khi chưa được phép Như vậy, có thể thấy rằng “quyền bí mật đời tư” được xây dựng trên khái niệm “bí mật đời tư” Muốn xác định được phạm vi của “quyền bí mật đời tư” đòi hỏi chúng ta phải xác định khái niệm về “bí mật
đã quan tâm và bảo vệ cho quyền riêng tư của công dân Trải qua các thời kỳ phát triển khác nhau, các bản Hiến pháp của nước ta vẫn giữ quy định về việc
Trang 38bảo đảm quyền riêng tư của cá nhân với phạm vi bảo vệ ngày càng mở rộng hơn Tuy nhiên, có thể thấy rằng các bản Hiến pháp này chỉ quy định việc bảo
vệ bí mật đời tư của công dân đối với thư tín, điện thoại, điện tín mà thôi, tức
là phạm vi quyền bí mật đời tư còn tương đối hẹp Đến Hiến pháp năm 2013, quyền bí mật đời tư của cá nhân đã được tiếp cận theo cách khác, mà theo đó, như Điều 21 Hiến pháp năm 2013 mà tác giả đã trích dẫn ở phần trên Hiến pháp 2013 đã mở rộng hơn rất nhiều đối với quyền bí mật đời tư, theo đó không chỉ bao gồm thư tín, điện thoại, điện tín mà tất cả các vấn đề về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình đều được pháp luật bảo vệ
Tiếp thu quan điểm tiến bộ này, BLDS năm 2015, mà theo đó, Điều 38
có quy định về quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, như sau:
“ 1 Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ
2 Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, c ng khai th ng tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, c ng khai th ng tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác
3 Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi th ng tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật
Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi th ng tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định
4 Các bên trong hợp đồng kh ng được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Trang 39Về nguyên tắc luật, “Quyền bí mật đời tư” là không đồng nhất với khái niệm “Quyền riêng tư” Quyền riêng tư cũng liên quan đến cá nhân, tuy nhiên
những vấn đề thuộc về riêng tư xét ở khía cạnh nào đó lại không được coi là
bí mật, mặc dù pháp luật vẫn bảo hộ những quyền này Bất cứ cá nhân nào cũng có sự tự do trong suy nghĩ, hành động - đây là sự “riêng tư” của chính
họ Lẽ dĩ nhiên, nếu là sự tự do trong suy nghĩ thì vấn đề không có gì phức tạp, bởi không ai có thể bắt người khác phải suy nghĩ theo ý muốn của mình Ngược lại, nếu là sự tự do trong hành động thì điều đó còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như luật pháp, quan hệ với những người xung quanh, sự tác động của phong tục tập quán, thói quen…
Có thể thấy, pháp luật nói chung, pháp luật Việt Nam nói riêng luôn tôn trọng sự riêng tư của cá nhân (quyền bất khả xâm phạm chỗ ở, quyền lựa chọn công việc cho phù hợp với khả năng và điều kiện của bản thân, quyền tự
do ngôn luận, tự do tín ngưỡng…)
2.2 Quy định bảo vệ quyền của người lao động và người sử dụng lao động trong tranh chấp lao động cá nhân
2.2.1 Nội dung bảo vệ người lao động và người sử dụng lao động
* Bảo vệ người lao động
- Đảm bảo quyền tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, không bị phân
biệt đối xử của NLĐ: Hiến pháp nước ta quy định lao động là quyền và nghĩa
vụ của c ng dân Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho NLĐ BLLĐ cũng quy định: “Mọi người đều có quyền làm việc, tự
do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo” Nội dung của các quy định này là sự đảm bảo về mặt pháp lý cho NLĐ trong phạm vi khả năng, nguyện vọng của mình có được cơ hội tìm kiếm việc làm và có quyền làm việc
Trang 40Để NLĐ được hưởng và thực hiện được các quyền nói trên của mình, pháp luật lao động ghi nhận quyền có việc làm và tự do lựa chọn nơi làm việc của NLĐ; đồng thời cũng quy định trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội trong việc tạo điều kiện để NLĐ có việc làm và được làm việc
- Trả lương (tiền công) theo thỏa thuận: Xuất phát từ quan điểm cho rằng sức lao động là hàng hóa, tiền lương là giá cả sức lao động, quy định về tiền lương do Nhà nước ban hành phải phản ánh đúng giá trị sức lao động
BLLĐ quy định tiền lương của NLĐ do hai bên thỏa thuận, nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định Đồng thời
để đảm bảo quyền lợi của NLĐ trong việc được trả lương và hưởng lương trên cơ sở thỏa thuận, pháp luật lao động cũng quy định những biện pháp bảo
vệ NLĐ và bảo hộ tiền lương của NLĐ
- Thực hiện bảo hộ lao động đối với NLĐ: Hiến pháp nước ta quy định:
“Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động”; đồng thời pháp luật lao động cũng quy định: “Chính phủ lập chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế,
xã hội và ngân sách của Nhà nước; đầu tư nghiên cứu khoa học, hỗ trợ phát triển các cơ sở sản xuất dụng cụ, thiết bị an toàn lao động, vệ sinh lao động, phương tiện bảo vệ cá nhân; ban hành hệ thống tiêu biểu, quy trình, quy phạm
về an toàn lao động, vệ sinh lao động” Các quy định này xuất phát từ quan điểm và nhận thức: con người là vốn quý, là lực lượng lao động chủ yếu của
xã hội Do vậy, việc bảo vệ sức khỏe chung và bảo vệ an toàn, vệ sinh lao động cho NLĐ nói riêng là nhiệm vụ và trách nhiệm không thể thiếu được của Nhà nước và các doanh nghiệp