1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện chế độ bầu cử quốc hội của lào từ kinh nghiệm của việt nam

103 127 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 8,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, chế độ bầu cử là tổng thể các quy định của pháp luật của một nước bao gồm các nguyên tắc bầu cử, các qui định của pháp luật về quyền bầu cử, quyền ứng cử, vận động tranh cử, đơn

Trang 1

NOUKEO DYLAVONG

ĐỀ TÀI HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ BẦU CỬ QUỐC HỘI CỦA LÀO TỪ

KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM

LUAN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số : 60380102

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS THÁI VĨNH THẮNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NOUKEO DYLAVONG

Trang 3

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ BẦU CỬ QUỐC HỘI 7

1.1 Bầu cử và chế độ bầu cử 7

1.1.1 Khái niệm chế độ bầu cử 7

1.1.2 Các chế độ bầu cử 9

1.2 Bầu cử Quốc hội 12

1.2.1 Khái niệm bầu cử Quốc hội 12

1.2.2 Các nguyên tắc bầu cử 13

1.2.3 Quyền bầu cử, quyền ứng cử, hiệp thương giới thiệu người ứng cử, vận động bầu cử 17

1.2.4 Đơn bị bầu cử 23

1.2.5 Các tổ chức phụ trách bầu cử, phương pháp xác định kết quả bầu cử, bầu cử thêm, bầu cử lại, bầu cử bổ sung 24

1.3 Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới về bầu cử Quốc hội 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36

Chương 2 THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ BẦU CỬ QUỐC HỘI Ở NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO HIỆN NAY 37

2.1 Quá trình hình thành và hoàn thiện chế độ bầu cử Quốc hội ở Lào 37

2.2 Các nguyên tắc bầu cử Quốc hội ở Lào 40

2.2.1 Nguyên tắc bầu cử phổ thông 40

2.2.2 Nguyên tắc bầu cử bình đẳng 42

2.2.3 Nguyên tắc bầu cử trực tiếp 45

2.2.4 Nguyên tắc bỏ phiếu kín 47

2.3 Quyền bầu cử, quyền ứng cử, hiệp thương giới thiệu người ứng cử, vận động bầu cử Quốc hội 47

2.3.1 Quyền bầu cử đại biểu Quốc hội 47

2.3.2 Quyền ứng cử vào Quốc hội 49

2.3.3 Hiệp thương giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội 52

Trang 4

2.4.1 Đơn bị bầu cử Quốc hội đảm bảo tính đại diện 55

2.4.2 Đơn bị bầu cử Quốc hội đảm bảo nguyên tắc bình đẳng 58

2.5 Các tổ chức phụ trách bầu cử Quốc hội, phương pháp xác định kết quả bầu cử Quốc hội, bầu cử thêm, bầu cử lại, bầu cử bổ sung 60

2.5.1 Các tổ chức phụ trách bầu cử Quốc hội 60

2.5.2 Phương pháp xác định kết quả bầu cử Quốc hội 63

2.5.3 Bầu cử thêm, bầu cử lại, bầu cử bổ sung 65

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67

Chương 3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM VỀ CHẾ ĐỘ BẦU CỬ QUỐC HỘI VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ BẦU CỬ QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 68

3.1 Những bài học kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam về chế độ bầu cử Quốc hội 68

3.2 Nhu cầu, quan điểm và một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ bầu cử Quốc hội ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 75

3.2.1 Nhu cầu và quan điểm hoàn thiện chế độ bầu cử Quốc hội ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 75

3.2.2 Giải pháp hoàn thiện chế độ bầu cử Quốc hội ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 77

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 85

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh nước Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào đang ra sức thực hiện công cuộc đổi mới, hội nhập nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp của Lào để phù hợp các chính sách đổi mới của Đảng Nhân dân cách mạng Lào và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2030, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển vào năm 2020, Quốc hội Lào khoá VII, kỳ họp thứ 10 đã thông qua bản Hiến pháp mới của Lào (Hiến pháp năm 2015) Bản Hiến pháp này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 Đây là lần sửa đổi Hiến pháp thứ hai của Lào kể từ khi đạo luật gốc này được ban hành vào năm 1991 So với Hiến pháp năm 2003, Hiến pháp năm 2015 của Lào đã có những điểm sửa đổi, bổ sung quan trọng đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; phù hợp với chủ trương, định hướng xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế của Đảng nhân dân cách mạng Lào, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Lào hiện nay Sau khi Hiến pháp Lào năm 2015 được thông qua, Ngày 20/03/2016, nhân dân các dân tộc Lào

đã đi bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội Khóa VIII và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố Gần 4 triệu cử tri Lào đi bỏ phiếu bầu người đại diện cho mình tại

18 khu vực bỏ phiếu trên toàn lãnh thổ nước CHDCND Lào Một Quốc hội khóa mới được thành lập, đảm đương nhiệm vụ trong công cuộc đổi mới đất nước giai đoạn 2016-2021 Tuy nhiên, một thực tế là, lần bầu cử Quốc hội này vẫn được thực hiện trên cơ sở pháp lý là Luật bầu cử Quốc hội năm 1997 sửa đổi, bổ sung năm

2001 (sau đây gọi tắt là Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội Lào sửa đổi, bổ sung năm 2001) Luật này được ban hành trên cơ sở Hiến pháp năm 1991 hiện đã hết hiệu lực

và có nhiều điểm không còn phù hợp với Hiến pháp năm 2015 và thực tế tình hình chính trị - xã hội Lào hiện nay

Do đó, vấn đề đặt ra là phải có một khung pháp lý mới, phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2015 về chế độ bầu cử, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các đại biểu Quốc hội cũng như cuộc bầu cử Quốc hội trong những năm tới đây

Trang 6

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, là một lưu học sinh người Lào,

tôi đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện chế độ bầu cử Quốc hội của Lào từ kinh nghiệm của Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành luật hiến pháp

- hành chính

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vì bầu cử gắn liền với chế độ dân chủ đại diện, nên vai trò của nó được đề cao trong các nền dân chủ đương đại Các học giả tư sản nghiên cứu về bầu cử rất công phu và đa dạng Có khá nhiều các tác giả và các công trình đề cập về bầu cử, như: Giáo sư Guy S Goodwin-Gill với cuốn sách “Free and Fair Elections-New Expanded Edition” (2006), do Liên minh Nghị viện thế giới xuất bản, dưới sự tài trợ của International IDEA (International Institute for Democracy and Electoral Assistance); Các học giả Andrew Reynolds, Ben Reilly and Andrew Ellis With José Antonio Cheibub, Karen Cox, Dong Lisheng, Jørgen Elklit, Michael Gallagher, Allen Hicken, Carlos Huneeus, Eugene Huskey, Stina Larserud, Vijay Patidar, Nigel S Roberts, Richard Vengroff, Jeffrey A Weldon, là đồng tác giả của chuyên khảo “Electoral System Design: The New International IDEA Handbook”(2005; Các tác giả Judith Large, Timothy D Sisk với “Democracy, Conflict and Human Security: Pursuing Peace in the 21st Century”(2006); Huntington, Samuel P với công trình “The Third Wave: Democratization in the Late Twentieth Century”(1991); Ấn phẩm “Women and Elections: Guide to Promoting The Participation of Women in Elections”(2005) do Liên hợp quốc xuất bản; David Beetham với “Parliament and Democracy in The TwentyFirst Century a Guide to Good Practice”(2006)… Thành tựu của các công trình nghiên cứu nêu trên rất đáng trân trọng Nhìn chung, trong cơ chế chính trị cạnh tranh, vai trò của bầu cử được đề cao; thậm chí, nó được ví như “trái tim của dân chủ” Tuy nhiên, các học giả tư sản thường khẳng định rằng bầu cử dân chủ phải gắn với cơ chế chính trị đa đảng phái chính trị Trên thế giới hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào khẳng định dân chủ và các cuộc bầu cử dân chủ là “sở hữu” riêng của thể chế chính trị đa đảng phái chính trị Do vậy, cách nhìn nhận của các học giả tư sản về bầu cử còn mang tính phiến diện, chưa thấy tính đặc thù của bầu cử trong các nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

Trang 7

Ở Việt Nam, liên quan đến bầu cử và chế độ bầu cử, có những công trình nghiên cứu một cách phong phú và đa dạng như: TS Đặng Đình Tân (Chủ biên),

“Nhân dân giám sát các cơ quan dân cử ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội -2006); GS.TS Nguyễn Đăng Dung, “Sự hạn

chế quyền lực nhà nước” (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội - 2006);

GS.TSKH Đào Trí Úc (Chủ biên) “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ

nghĩa Việt Nam” (Sách chuyên khảo, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội -

2005); Văn phòng Quốc hội - Vụ Công tác đại biểu, với đề tài nghiên cứu “Đại biểu

Quốc hội và bầu cử đại biểu Quốc hội” (GS.TS Phan Trung Lý - Chủ nhiệm đề tài

- 2004); PGS.TS.Vũ Hồng Anh với chuyên khảo “Chế độ bầu cử của một số nước

trên thế giới” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 1997); Luận án Tiến sĩ

Luật học “Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật” (Hà Nội - 2007) của tác giả Đỗ Minh Khôi; Trần Diệu Hương, “Hoàn thiện pháp luật về bầu cử những vấn đề lý

luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại Học Quốc Gia Hà

Nội, 2013; Vũ Văn Nhiêm (2009), “Chế độ bầu cử ở nước ta những vấn đề lý luận

và thực tiễn”, Luận án tiến sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà

Nội; Vũ Thị Loan với Luận án Thạc sĩ “Hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội

nước ta hiện nay” (2003); GS.TS Thái Vĩnh Thắng, “Một số ý kiến về đổi mới tổ

chức và hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay” (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5 (157)/2001); Trên Tạp chí Nghiên cứu

lập pháp, số 6, tháng 7/2001 có bài viết của PGS.TS Bùi Xuân Đức “Pháp luật bầu

cử: một số vấn đề cần hoàn thiện”; Bài viết “Bầu cử và vấn đề dân chủ” (Tạp chí

Nghiên cứu lập pháp, số 5/2002) của đồng tác giả GS.TS Nguyễn Đăng Dung và

Chu Khắc Hoài Dương; PGS.TS Trương Đắc Linh với bài viết “Cuộc Tổng tuyển

cử đầu tiên năm 1946 - Một mốc son lịch sử của thể chế dân chủ Việt Nam” (Tạp

chí Khoa học pháp lý, số 1(32)/2006); TS Bùi Ngọc Thanh có bài viết “Cuộc bầu

cử đại biểu Quốc hội khóa XII- Những vấn đề từ thực tiễn” (Tạp chí Nghiên cứu lập

pháp, số 7(103), tháng 7/2007) Các tác giả thông qua các công trình, bài viết nói trên đã đề cập trực tiếp về chế độ bầu cử ở Việt Nam, trên cơ sở học tập kinh nghiệm các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào

Trang 8

nghiên cứu chuyên sâu về chế đô bầu cử của Lào và đưa ra giải pháp hoàn thiện trên cơ sở nghiên cứu pháp luật các nước trên thế giới, đặc biệt là Việt Nam

3 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tƣợng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế độ bầu cử

của Lào, so sánh với Việt Nam và một số nước khác trên thế giới

Về phạm vi nghiên cứu:

Đề tài có nội dung rộng và phức tạp Trong khuôn khổ một Luận văn chỉ tập trung phân tích những vấn đề lý luận cơ bản của chế độ bầu cử Quốc hội; thực trạng chế độ bầu cử Quốc hội Lào, Việt Nam trong những năm qua được đề cập một cách tổng hợp, khái quát, chủ yếu là rút ra những vấn đề còn tồn tại, bất cập để tìm ra nguyên nhân; trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và những giải pháp hoàn thiện chế độ bầu cử Quốc hội trong điều kiện ở Lào hiện nay

4 Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của chế độ bầu cử Quốc hội ở Lào, so sánh với Việt Nam, một số nước khác Trên cơ sở lý luận

và thực tiễn về bầu cử ở Lào và kinh nghiệm một số nước khác, đặc biệt là Việt Nam, luận văn đưa ra những kiến nghị nhằm đổi mới chế độ bầu cử Quốc hội ở Lào

để phát huy dân chủ, tăng cường vai trò của nhân dân trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

5 Các câu hỏi nghiên cứu

- Những nội dung cơ bản của chế độ bầu cử là gì?

- Sự phát triển của pháp luật về chế độ bầu cử ở nước CHDCND Lào sau năm 1975 đến nay?

- Thực trạng pháp luật về chế độ bầu cử, thực tiễn bầu cử ở nước CHDCND Lào trong thời gian qua?

- Những kinh nghiệm thực tiễn nào ở Việt Nam có thể áp dụng ở Lào?

- Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện chế độ bầu cử phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nước CHDCND Lào hiện nay là gì?

Trang 9

6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật nói chung,

nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa nói riêng, các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam cũng như Đảng Nhân Dân cách mạng Lào về Nhà nước, nhất là các quan điểm về đổi mới đất nước, về phát huy dân chủ, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Tư tưởng Hồ Chí Minh về giành và giữ chính quyền, về quyền lực nhân dân là cơ sở lý luận cho việc phân tích, đánh giá các vấn đề trong luận văn

Trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp hệ thống hóa, phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp lịch sử; phương pháp so sánh… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong luận văn

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn là chuyên khảo khoa học đầu tiên ở Việt Nam và Lào nghiên cứu

cơ bản, toàn diện và có hệ thống về chế độ bầu cử Quốc hội tại Lào dưới góc độ khoa học pháp lý Ý nghĩa khoa học của luận văn là việc tiếp cận chế độ bầu cử trên nền tảng dân chủ Dân chủ là sự thừa nhận vai trò của nhân dân trong việc thành lập

và chuyển giao chính quyền, trong việc thực thi quyền lực nhà nước Đổi mới chế

độ bầu cử theo những tiêu chí dân chủ, hiện đại của bầu cử tiến bộ, công bằng, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh Lào là góp phần thực hiện sứ mệnh đó Kết quả nghiên cứu của Luận văn là sự bổ sung quan trọng và đáng kể vào kiến thức lý luận

về chế độ bầu cử, về vai trò của chế độ bầu cử đối với việc thành lập, và chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhân dân - những vấn đề còn có những “khoảng trống” nhất định trong khoa học pháp lý ở Lào hiện nay Những kết luận trong luận văn là những vấn đề đáng được xem xét, cân nhắc trong việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung (hoặc xây dựng mới) các Luật bầu cử đại biểu Quốc hội ở Lào trong thời gian tới Do đó, luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích trong việc nghiên cứu và giảng dạy về pháp luật bầu cử, về dân chủ nói chung và dân chủ đại diện nói riêng, nhất là về cơ sở, nền tảng của quyền lực nhà nước, về nhà nước Lào pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

Trang 10

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về chế độ bầu cử Quốc hội

Chương 2: Thực trạng chế độ bầu cử Quốc hội nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào hiện nay

Chương 3: Bài học kinh nghiệm của Việt Nam và một số nước khác về chế

độ bầu cử Quốc hội và giải pháp hoàn thiện chế độ bầu cử Quốc hội nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ BẦU CỬ QUỐC HỘI 1.1 Bầu cử và chế độ bầu cử

1.1.1 Khái niệm chế độ bầu cử

Bầu cử là phương thức lựa chọn Tổng thống, Thị trưởng hoặc các đại biểu dân cử thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước ở trung ương hoặc địa phương Bầu cử phát triển cùng với quá trình phát triển tư tưởng dân chủ Trong xã hội hiện đại, đối với các quốc gia dân chủ, bầu cử là một hoạt động và là chế định không thể thiếu trong cơ chế thực hiện quyền lực nhân dân

Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, Montesquieu cho rằng trong bầu cử,

cử tri thay đổi vị trí từ người bị cai trị thành người cai trị, tức là thông qua hành vi bầu cử, người dân thực hiện chủ quyền của mình với tư cách là người chủ để lựa chọn ra chính quyền của mình Với ý nghĩa đó, chế độ bầu cử là một trong những thiết chế quan trọng hàng đầu đối với bất cứ nền dân chủ nào

Chế độ bầu cử là một khái niệm có nội dung phong phú Dưới góc độ pháp

lý, ở nước ngoài, thuật ngữ chế độ bầu cử (Electoral Systems) được nhiều học giả

diễn giải Ví dụ, trong sách chuyên khảo về chế độ bầu cử “Electoral System

Design: The New International Handbook” do IDEA (International Institute for

Democracy and Electoral Assistance) xuất bản năm 2005 diễn giải: Chế độ bầu cử được hiểu là việc chuyển hóa những lá phiếu của cử tri trong cuộc Tổng tuyển cử

thành các “ghế” (các ứng cử viên hoặc các đảng phái chính trị) mà chìa khóa là

công thức được sử dụng (đa số hay tỉ lệ…), cấu trúc của phiếu bầu (bầu cho đảng phái chính trị hay các ứng cử viên cụ thể…), cách phân vạch, ấn định số lượng đại biểu được bầu cho đơn vị bầu cử1

Còn ở Việt Nam, chế độ bầu cử được một số học giả trong nước xem xét theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, chế độ bầu cử là tổng thể các quan

hệ xã hội gắn với cuộc bầu cử hợp thành trình tự bầu cử và nhấn mạnh rằng, chế độ bầu cử là tổng thể các quan hệ pháp luật và những quan hệ xã hội khác được điều

Jørgen Elklit, Michael Gallagher, Allen Hicken, Carlos Huneeus, Eugene Huskey, Stina Larserud, Vijay

Patidar, Nigel S Roberts, Richard Vengroff, Jeffrey A Weldon (2005), Electoral System Design: The New

International IDEA Handbook, International Institute for Democracy and Electoral Assistance, tr.5

Trang 12

chỉnh bởi điều lệ, qui định của các đảng phái chính trị, hoặc phong tục, tập quán hay bởi qui phạm đạo đức, bởi lẽ, không phải tất cả những quan hệ của chế độ bầu cử đều được điều chỉnh bởi qui phạm pháp luật2 Theo nghĩa hẹp, chế độ bầu cử được hiểu là phương pháp phân ghế đại biểu giữa các ứng cử viên dựa trên kết quả biểu quyết của cử tri hay những cá nhân có thẩm quyền Chế độ bầu cử theo nghĩa hẹp nhìn chung rất đa dạng và phức tạp3 Như vậy, có thể thấy rằng các học giả trong nước xem xét chế độ bầu cử thường mô tả hình thức biểu hiện bên ngoài hơn là nhìn vào bản chất bên trong của chế độ bầu cử; trong khi đó các học giả nước ngoài thường nhấn mạnh cách thức “chuyển hóa” những lá phiếu, tức là họ tiếp cận theo bản chất bên trong hơn là theo hình thức bên ngoài của chế độ bầu cử

Với mỗi cách tiếp cận khác nhau, sự vật hoặc hiện tượng có thể được định nghĩa khác nhau Nếu chỉ căn cứ vào hình thức thể hiện thì không thấy rõ bản chất bên trong của chế độ bầu cử; ngược lại, hình thức thể hiện của chế độ bầu cử sẽ không được thể hiện rõ nếu chỉ chú ý đến bản chất của nó Do vậy, để xem xét chế

độ bầu cử một cách toàn diện, nên kết hợp hai cách tiếp cận nói trên Chế độ bầu cử

có hình thức thể hiện ra bên ngoài là tổng thể các qui định của pháp luật; nếu xét về

bản chất của sự vật, chế độ bầu cử là công cụ pháp lý để “chuyển tải” ý chí của cử

tri thành cơ quan đại diện Như vậy, chế độ bầu cử là tổng thể các quy định của pháp luật của một nước bao gồm các nguyên tắc bầu cử, các qui định của pháp luật

về quyền bầu cử, quyền ứng cử, vận động tranh cử, đơn vị bầu cử, các tổ chức phụ trách bầu cử, việc quản trị bầu cử, cách thức, trình tự tiến hành bầu cử, các biện pháp đảm bảo trật tự bầu cử, điều chỉnh các quan hệ xã hội trong quá trình bầu cử,

quy định trật tự bầu ra các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước, nhằm “chuyển

hóa” ý chí của nhân dân được thể hiện trong những phiếu bầu thành cơ quan đại

diện Chế độ bầu cử không những quyết định ứng cử viên, đảng phái chính trị, lực lượng xã hội nào được bầu chọn, mà nó còn quyết định cách thức chuyển hóa quyền lực từ nhân dân sang cho người đại diện4

học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.23

Trang 13

Từ đó có thể hiểu, chế độ bầu cử của nước CHDCND Lào là tổng thể các

qui định của pháp luật bầu cử Lào, bao gồm các nguyên tắc bầu cử, quyền bầu cử, ứng cử, hiệp thương để giới thiệu, tuyển chọn các ứng cử viên, vận động bầu cử, các tổ chức phụ trách bầu cử, trình tự, thủ tục trong quá trình bầu cử, bầu cử thêm, bầu cử lại, bầu cử bổ sung… điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình bầu cử, nhằm “chuyển hóa” ý chí của nhân dân thành Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp

Để làm sáng tỏ về chế độ bầu cử, cần tìm hiểu và làm rõ những vấn đề cơ bản sau đây: bản chất, vai trò của chế độ bầu cử; những nguyên tắc cơ bản của bầu cử; quyền bầu cử, quyền ứng cử, vận động bầu cử; đơn vị bầu cử, phương thức xác định kết quả bầu cử; vấn đề tổ chức bầu cử; cơ chế đảm bảo tính khách quan, trung thực của bầu cử; thể chế chính trị, truyền thống, phong tục, tập quán dân tộc trong quốc gia nơi chế độ bầu cử vận hành

1.1.2 Các chế độ bầu cử

Chế độ bầu cử được coi là một chế định pháp luật vô cùng quan trọng trong luật hiến pháp bởi lẽ nó tạo lập ra luật chơi trong các nền dân chủ Nhưng cũng chính vì vậy mà chế độ bầu cử lại là chế định dễ bị điều khiển và lợi dụng nhất Thông qua bầu cử, những lá phiếu của người dân được chuyển thành những ghế trong cơ quan quyền lực nhà nước, nên kiểm soát hệ thống bầu cử tức là hình thức trực tiếp kiểm soát quyền lực Ngày nay, để tránh sự lạm quyền và thao túng quyền lực, các chế độ bầu cử dân chủ hiện đại được thiết kế nhằm đạt hai giá trị cơ bản đồng thời là phổ quát của bầu cử trên thế giới là “tự do” và “công bằng”, đó cũng là những giá trị mơ ước của mỗi con người nói chung Trong sự phát triển của nhân loại, mục tiêu chiến lược của các cải cách hệ thống bầu cử trên thế giới phải để phát huy dân chủ ngày càng mạnh mẽ, tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện chủ quyền của mình hiệu quả hơn và hiệu lực hơn Và chỉ có thế mới đạt được hai giá trị cơ

bản là “tự do” và “công bằng”

Xét tổng quan trên thế giới, các chế độ bầu cử rất đa dạng và khác nhau tùy theo từng quốc gia Tuy nhiên, dù có sự đa dạng như vậy, nhưng về đại thể, các hệ thống bầu cử có thể được phân loại thành hai nhóm lớn là chế độ bầu cử theo quy

Trang 14

tắc tỷ lệ đại diện và hệ thống bầu cử theo quy tắc lấy đa số Lẽ dĩ nhiên trên thực tế,

có sự giao thoa lẫn nhau và tồn tại hệ thống hỗn hợp hai loại trên Cụ thể5

:

Thứ nhất, chế độ bầu cử theo quy tắc số nhiều/đa số Chế độ bầu cử theo quy

tắc số nhiều/đa số ngày nay được tồn tại dưới nhiều biến số khác nhau, trong đó phổ biến nhất vẫn là chế độ bầu cử theo quy tắc số nhiều/đa số thuần túy hay còn gọi là nguyên tắc “ai nhiều phiếu nhất thắng”, chủ yếu còn tồn tại ở Vương quốc Anh và các quốc gia vốn từng là thuộc địa của Anh như Canada, Ấn Độ và Hoa Kỳ

Đặc điểm nổi bật nhất để phân biệt chế độ bầu cử này là người chiến thắng là người giành nhiều phiếu nhất Ở những nước phân chia khu vực/đơn vị bầu cử với quy định mỗi khu vực/đơn vị bầu cử chỉ được bầu lấy một đại diện duy nhất thường

áp dụng phổ biến nhất là hệ thống bầu cử theo quy tắc ai nhiều phiếu nhất là thắng

(First Past- The Post - FPTP) Nguyên tắc “ai nhiều phiếu nhất là thắng” chỉ có thể

được áp dụng đối với đơn vị bầu cử chỉ bầu lấy một đại diện và người chiến thắng

là người nhận được nhiều phiếu bầu hợp lệ nhất, bất kể là có đạt đa số hay không

(trong khái niệm “đa số” phiếu, có “đa số tương đối” hay đa số giản đơn, “đa số

tuyệt đối” tức là lớn hơn 50%, và “đa số tăng cường” - lớn hơn 75%) Đây là

nguyên tắc đơn giản nhất và dễ dàng nhất để chọn được người đại diện bởi cách thức bỏ phiếu lấy người ứng cử viên làm trung tâm Mỗi cử tri được nhận một lá phiếu trên đó có ghi tên của tất cả các ứng cử viên và cử tri chỉ được chọn lấy một cái tên duy nhất trong đó Chế độ bầu cử này có những lợi thế là trong các nước theo chế độ đa đảng, chế độ này giúp tạo lập chính phủ một đảng cầm quyền ổn định trong suốt nhiệm kỳ mà không phải liên minh với các đảng nhỏ khác Tuy nhiên, chế độ bầu cử này cũng có nhiều khiếm khuyết, thường bị chỉ trích vì thiếu

http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/1010073/0/7183/So_sanh_mot_so_he_thong_bau_cu_tren_the_gioi

ngày truy cập 30/10/2014

Trang 15

Djibouti; hoặc bầu thứ tự thay thế (Alternative Vote) được áp dụng ở Australia, Phigi, Papua Niu Ghi-nê; và nguyên tắc bầu cử hai vòng (Two-round system)

Thứ hai, chế độ bầu cử theo tỷ lệ đại diện (Proportional Representation-PR)

Nguyên lý chung của chế độ bầu cử này là việc chuyển số phiếu mà một đảng chính trị nhận được trong bầu cử thành số ghế tương ứng trong cơ quan lập pháp cho đảng đó Có hai phương pháp bầu cử phổ biến theo tỷ lệ đại diện là phương pháp tỷ lệ đại diện theo danh sách (List PR) và phương pháp bầu cử lá phiếu duy nhất có thể chuyển nhượng (Single Transferable Vote -STV) Một nguyên tắc chung đối với hệ thống bầu cử theo tỷ lệ đại diện là mỗi khu vực bầu cử phải được bầu nhiều hơn một đại biểu Chế độ bầu cử theo tỷ lệ đại diện có ưu điểm là: Kết quả bầu cử sẽ cho phép có một cơ quan lập pháp có tính đại diện cao hơn hệ thống bầu cử theo quy tắc số nhiều hay đa số Lợi ích rõ ràng của nó là tại những nước vốn có sự chia rẽ xã hội sâu sắc, việc bao gồm các nhóm xã hội khác nhau, không loại trừ nhóm yếu thế trong cơ quan lập pháp là điều kiện cần thiết để đảm bảo hòa hợp dân tộc và ổn định Tuy nhiên, hệ thống bầu cử theo tỷ lệ đại diện cũng

có những điểm bất lợi đáng kể Hệ thống này có xu hướng dẫn đến các chính phủ liên hiệp và hệ thống đảng phái bị manh mún, bất ổn định Hệ thống này cũng tạo điều kiện cho các đảng cực hữu hoặc cực tả có đất sống Kết quả của hệ thống bầu

cử này thường là có một chính phủ liên hiệp nhưng lại thiếu cơ sở liên minh vững chắc là những điểm đồng thuận về chính sách, tư tưởng và cơ sở ủng hộ, nên hay mất ổn định và dễ đổ vỡ Thêm vào đó, hệ thống này cũng tạo ra nhiều quyền lực cho các đảng nhỏ trong cuộc mặc cả thành lập chính phủ liên hiệp với các đảng lớn, gây áp lực lớn đối với các đảng lớn và cử tri rất khó có thể loại bỏ hoàn toàn được đảng nào ra khỏi quyền lực nhà nước

Thứ ba, chế độ bầu cử hỗn hợp hoặc song song

Có thể thấy, hai chế độ bầu cử phổ biến trên thế giới đều có ưu điểm và khiếm khuyết nhất định Do đó, nhiều nước đã cố gắng thiết kế chế độ bầu cử của mình bằng cách khai thác tối đa những lợi thế của cả hai chế độ và giảm thiểu điểm khiếm khuyết của chúng Các chế độ bầu cử - nếu không nằm hoàn toàn vào một trong hai chế độ bầu cử đã đề cập - thì sẽ là loại hỗn hợp, phái sinh từ hai loại cơ bản trên Chế độ bầu cử song song cũng là một dạng chế độ bầu cử hỗn hợp, cử tri

Trang 16

lựa chọn bầu đại biểu của mình thông qua hai chế độ bầu cử tỷ lệ đại diện theo danh sách và chế độ bầu cử theo số nhiều/đa số

1.2 Bầu cử Quốc hội

1.2.1 Khái niệm bầu cử Quốc hội

Bầu cử đã xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử nhân loại Trong cuộc đấu tranh chống giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản đã sử dụng bầu cử như một vũ khí hữu hiệu để hạn chế quyền lực của giai cấp phong kiến Cách mạng dân chủ tư sản xác lập, chế độ dân chủ tư sản tuyên bố chủ quyền nhân dân, cũng đồng thời khẳng định bầu cử là phương thức căn bản để ủy quyền, qua đó thành lập ra các thiết chế đại diện Trong xã hội đương đại, bầu cử được áp dụng và sự tồn tại của nó được coi như một biểu hiện sinh động nhất của quyền làm chủ của nhân dân ở các nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân

Theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, bầu cử là nét đặc trưng cơ bản, chế độ nhà nước tư sản đã trở thành một hình thức dân chủ Bầu cử đó được áp dụng rộng rãi và phổ biến trong chế độ tư sản như là một phương pháp dân chủ trong việc hình thành hệ thống cơ quan đại diện Với tư cách

là một chế độ tiến bộ hơn, nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng sử dụng bầu cử là phương thức cơ bản để thành lập các cơ quan nhà nước của mình Trên cơ sở tiếp thu và pháp triển các phương pháp của chế độ tư bản, các cơ quan trong bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa đều trực tiếp hoặc gián tiếp do nhân dân bầu ra Hiến pháp năm 2015 của Lào đã khẳng định rằng: chỉ có cơ quan Nhà nước do nhân dân trực tiếp bầu mới được xác định là cơ quan quyền lực nhà nước

Về phương diện pháp lý, bầu cử là thủ tục thành lập cơ quan nhà nước hay thủ tục trao quyền lực cho một cơ quan chức năng được quy định bởi Hiến pháp và pháp luật của mỗi nước, thủ tục này được thực hiện bởi sự biểu quyết của những cá nhân có thẩm quyền với điều kiện mỗi chức danh được bầu phải có từ hai ứng cử viên trở lên.6

Từ đó có thể hiểu, bầu cử Quốc hội là thủ tục thành lập và trao quyền lực

cho Quốc hội trên cơ sở quy định của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử Quốc hội, thủ tục này được thực hiện bởi sự biểu quyết của những cá nhân có thẩm quyền

Trang 17

với điều kiện mỗi chức danh đại biểu Quốc hội được bầu phải có từ hai ứng cử viên trở lên

1.2.2 Các nguyên tắc bầu cử

Các nguyên tắc bầu cử là những tư tưởng chủ đạo, mang tính xuyên suốt cả hoạt động xây dựng pháp luật và hoạt động áp dụng pháp luật Việc tuân thủ các nguyên tắc bầu cử nhằm hướng đến bảo đảm ý chí của nhân dân trong bầu cử Những nguyên tắc bầu cử tiến bộ và phổ biến hiện nay được nhiều nước trên thế giới áp dụng là: nguyên tắc bầu cử phổ thông, nguyên tắc bầu cử bình đẳng, nguyên tắc bầu cử trực tiếp và nguyên tắc bỏ phiếu kín Điều này cũng được ghi nhận tại Điều 2- Nguyên tắc bầu cử Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội Lào năm 1997 sửa đổi,

bổ sung năm 2001 Mỗi nguyên tắc là những định hướng, có ý nghĩa khác nhau

trong việc đảm bảo chế độ bầu cử “đúng” là công cụ để chuyển hóa ý chí của nhân

dân thành đại biểu trong các cơ quan đại diện Trong đó:

Thứ nhất, Nguyên tắc bầu cử phổ thông Nội dung của nguyên tắc này trả lời

cho câu hỏi: Ai có quyền bầu cử? Đây là tiêu chuẩn đầu tiên để đánh giá chế độ bầu

cử có dân chủ hay không, bởi lẽ quyền bầu cử là một trong những quyền chính trị

cơ bản nhất của công dân; mặt khác, dân chủ có nghĩa phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho công dân tham gia vào công việc nhà nước, công việc xã hội Bầu cử phổ thông có nghĩa là bầu cử rộng rãi, mọi công dân đủ điều kiện do pháp luật qui định đều được đi bầu (quyền bầu cử chủ động) và có thể được bầu (quyền bầu cử bị động) Nguyên tắc bầu cử phổ thông trước hết phải đảm bảo bỏ phiếu phổ thông; tiếp theo, nguyên tắc này đòi hỏi pháp luật bầu cử phải tạo điều kiện rộng rãi cho công dân ứng cử, có thể được bầu vào cơ quan đại diện

Nguyên tắc bầu cử phổ thông được thể hiện: công dân đến tuổi trưởng thành không phân biệt về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh… đều có quyền bầu cử Nói chung, quyền bầu

cử càng được mở rộng cho nhiều người tham gia một cách hợp lý, càng thể hiện mức độ dân chủ của chế độ bầu cử Điều đó có nghĩa là, việc hạn chế quyền bầu cử của công dân phải đảm bảo tính hợp lý và có lý do chính đáng, như người chưa đến tuổi trưởng thành, người mắc các bệnh làm mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức…

Sự hạn chế đó cần qui định chặt chẽ, rõ ràng trong các văn bản pháp luật, tốt nhất là

Trang 18

qui định trong các đạo luật bầu cử Việc đảm bảo thực hiện quyền bầu cử của công dân (cả quyền bầu cử chủ động và quyền bầu cử bị động) được hầu hết các nước qui định bằng nhiều biện pháp chặt chẽ, kể cả sự can dự của tư pháp khi cần thiết

Mọi qui định của pháp luật hoặc các biện pháp tổ chức thực hiện hạn chế quyền bầu cử hoặc không đảm bảo thuận lợi cho công dân trong việc bỏ phiếu, trong việc trở thành ứng cử viên mà không vì mục đích chính đáng làm giảm tính dân chủ của chế độ bầu cử

Thực tiễn sinh động trên thế giới cho thấy quyền bầu cử và bầu cử phổ thông

là chặng đường đấu tranh lâu dài của nhân loại vì quyền con người và dân chủ7 Dân chủ phát triển càng cao, càng hoàn thiện, đòi hỏi sự tham gia của công dân vào

tổ chức, hoạt động của nhà nước, tham gia vào các vấn đề chính trị ngày càng nhiều Việc dỡ bỏ các điều kiện ngăn cản quyền bầu cử của công dân nói riêng cũng như thực hiện bầu cử tiến bộ, công bằng nói chung là xu thế tất yếu của lịch sử Bầu

cử phổ thông ngày càng trở nên thịnh hành hơn trong xu thế dân chủ hóa ở khắp nơi trên thế giới, nhất là trong thời gian gần đây

Thứ hai, nguyên tắc bầu cử bình đẳng Bình đẳng là nguyên tắc về giá trị, nó

phản ánh nội dung dân chủ của bầu cử, là nguyên tắc cơ bản trong các cuộc bầu cử tiến bộ và công bằng mà rất nhiều các văn kiện quốc tế đã qui định và nó được khẳng định ở hầu hết các quốc gia dân chủ như một chân lý không cần bàn cãi Trong bầu cử, nguyên tắc này thừa nhận giá trị như nhau của các công dân trong bầu cử mà không có sự phân biệt xã hội thành các đẳng cấp hay bậc thang giá trị Nói cách khác, dân chủ phải cho mọi người, chứ không phải là đặc quyền của một giai cấp, tầng lớp hoặc nhóm xã hội nhất định Đây là tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá mức độ dân chủ của chế độ bầu cử Nếu chế độ bầu cử không đảm bảo nguyên tắc này, khó có thể nói đó là chế độ bầu cử dân chủ

Nội dung cơ bản của nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử thể hiện các khía cạnh sau:

Một là, sự bình đẳng giữa các cử tri với nhau Điều này được thể hiện ở chỗ:

(i) Trong việc bỏ phiếu không có sự phân biệt nào, như chủng tộc, giới tính, ngôn

pháp lý, (2), tr.39

Trang 19

ngữ, tôn giáo, nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, chính kiến…; (ii) Trong một cuộc bầu cử, mỗi cử tri một phiếu bầu; (iii) Giá trị của mỗi lá phiếu trong hệ thống bầu

cử phải tương đương nhau

Hai là, sự bình đẳng giữa các ứng cử viên trong bầu cử Nội dung này có

tác động rất lớn, thậm chí quyết định ai được nhân dân lựa chọn và trao quyền lực Bình đẳng giữa các ứng cử viên được thể hiện: (i) Bình đẳng trong việc đề cử, ứng

cử Không ai có thể bị hạn chế quyền ứng cử, trừ những đối tượng do luật bầu cử qui định chặt chẽ, rõ ràng và phải đảm bảo sự hợp lý; (iii) Bình đẳng trong việc vận động tranh cử, không phụ thuộc vào việc họ xuất thân từ đâu, do lực lượng xã hội nào đề cử, hay họ tự ứng cử Các ứng cử viên được bình đẳng hội họp, lập hội, di

chuyển…để vận động bầu cử; các lực lượng xã hội “đứng đằng sau” các ứng cử

viên cũng bình đẳng trong việc vận động tranh cử; (iii) Các ứng cử viên phải bình đẳng trong việc sử dụng ngân quỹ trong vận động tranh cử, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, sử dụng các phương tiện truyền thông và đảm bảo trong việc kiến nghị, yêu cầu, khiếu nại, tố cáo về những vấn đề liên quan đến bầu cử, nhất là trong việc yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết các hành vi gian lận trong bầu cử

Ba là, bình đẳng giữa các lực lượng xã hội tham gia tranh cử Xu hướng

phát triển của bầu cử là nhân dân không chỉ lựa chọn, trao quyền cho các cá nhân

mà quan trọng hơn, họ có quyền lựa chọn một đường lối chính trị Chính vì thế, có những nước không bầu ứng cử viên độc lập, mà họ phải thuộc một đảng phái chính trị8, hoặc cử tri bầu cho các đảng phái chính trị Kết quả bầu cử chính là sự lựa chọn của nhân dân về vận mệnh của đất nước, của dân tộc Mặt khác, đối với bất cứ chế

độ bầu cử nào, mỗi ứng cử viên phải có một lực lượng xã hội nhất định ủng hộ và hậu thuẫn Do vậy, bình đẳng trong bầu cử không thể không nói tới sự bình đẳng giữa các lực lượng này Sự bình đẳng phải được pháp luật qui định và được đảm bảo thực hiện trong tất cả các công đoạn bầu cử, từ việc giới thiệu ứng cử viên, vận động bầu cử, cho đến việc chứng kiến kiểm phiếu, bình đẳng trong việc khiếu nại, khởi kiện, tố cáo về các hành vi gian lận trong bầu cử

Jørgen Elklit, Michael Gallagher, Allen Hicken, Carlos Huneeus, Eugene Huskey, Stina Larserud, Vijay

Patidar, Nigel S Roberts, Richard Vengroff, Jeffrey A Weldon (2005), Electoral System Design: The New

International IDEA Handbook, International Institute for Democracy and Electoral Assistance, tr.60

Trang 20

Thứ ba, nguyên tắc bầu cử trực tiếp Nguyên tắc này đề cập cách thức thể

hiện ý chí của nhân dân Bầu cử trực tiếp có nghĩa là cử tri trực tiếp bầu ra cơ quan đại diện mà không cần thông qua tầng, nấc trung gian nào Bầu cử trực tiếp là để phân biệt với bầu cử gián tiếp Nguyên tắc này hiện nay được thực hiện phổ biến trên thế giới Nguyên tắc này bảo đảm nhân dân trực tiếp lựa chọn người đại diện,

và người đại diện (trúng cử trong kỳ bầu cử) trực tiếp nhận quyền lực từ nhân dân

Một điểm cần lưu ý rằng, nguyên tắc bầu cử trực tiếp không loại trừ việc bầu

cử thông qua bưu điện, hay bằng internet Về bản chất, đó chỉ những phương tiện mang tính chất kỹ thuật giúp cử tri thuận lợi hơn trong việc bỏ phiếu Như thế, việc

bỏ phiếu thông qua các công cụ hỗ trợ nhưng vẫn đảm bảo nhân dân trực tiếp lựa chọn người mà mình tín nhiệm, thì dù qua các công cụ, phương tiện, miễn rằng nó phản ánh đúng ý chí của nhân dân thì vẫn là bầu cử trực tiếp Trong thời gian gần đây, quy trình bỏ phiếu ngày càng được quan tâm trên thế giới Nhiều quốc gia - cả giàu lẫn nghèo, phát triển và chưa phát triển, đang sử dụng những công nghệ mới để bầu chọn các nhà lãnh đạo của họ Cử tri ở Ấn Độ, một trong những quốc gia có số lượng cử tri lớn nhất thế giới đã sử dụng công nghệ nhấn nút điện tử để bỏ phiếu; cử tri ở Haiti, quốc gia nghèo nhất phía Tây Bán cầu, xuất trình chứng minh thư kèm theo ảnh và vân tay khi nhận phiếu bầu Hiện nay, cử tri Estonia có thể sử dụng thẻ thông minh để bỏ phiếu qua mạng Internet từ bất kỳ nơi nào trên thế giới Vì thế, đất nước này đã nổi tiếng với tên gọi E-Stonia (Stonia điện tử)9

Thứ tư, nguyên tắc bỏ phiếu kín Nguyên tắc này đề cập về cách thức bỏ

phiếu Bỏ phiếu kín là biện pháp nhằm đảm bảo cho cử tri được tự do thể hiện ý chí của mình khi lựa chọn người đại diện mà không bị ảnh hưởng của bất kỳ mọi sự tác động nào Việc bỏ phiếu kín đảm bảo rằng sự lựa chọn của một cá nhân về đảng phái hay ứng cử viên không là lý do để chống lại cá nhân đó10

Nếu không bảo đảm tự do trong việc lựa chọn, thì sẽ không đảm bảo sự thể hiện trung thực ý chí của cử tri khi thể hiện trên các phiếu bầu, tức là cuộc bầu cử sẽ không đảm bảo dân chủ Nguyên tắc bỏ phiếu kín thể hiện: Khu vực bỏ phiếu có

U.S Elections, tr.4

Democracy, U.S Elections, tr.15

Trang 21

phòng viết phiếu kín, bàn phiếu kín; không ai được đến xem lúc cử tri viết phiếu bầu; phiếu không có dấu hiệu đặc biệt, in sẵn tên để không phát hiện ra phiếu của người nào, cử tri phải trực tiếp viết phiếu và bỏ phiếu, nếu không biết viết (gạch tên) thì có thể nhờ người viết hộ nhưng phải tự mình bỏ vào hòm phiếu

Bầu cử là hoạt động có tính chất dân chủ Tất cả mọi công đoạn của bầu cử phải diễn ra công khai, nhưng bỏ phiếu phải diễn ra trong phòng kín, không có sự tham gia của bất cứ nhân vật nào, kể cả nhân viên phụ trách công việc bầu cử tại phòng bỏ phiếu Việc thực hiện nguyên tắc này nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa hành vi lựa chọn trong phiếu bầu và suy nghĩ, nhận thức của cử tri, tránh hiện tượng

“tín nhiệm người này, nhưng phải bầu người khác” Nói cách khác, nguyên tắc này

đảm bảo sự lựa chọn (đồng thời là trao quyền) đúng với ý chí của cử tri

1.2.3 Quyền bầu cử, quyền ứng cử, hiệp thương giới thiệu người ứng cử, vận động bầu cử

1.2.3.1 Quyền bầu cử

Bầu cử là một chế định trọng tâm của các chính phủ dân chủ kiểu đại diện

Vì trong một nền dân chủ, quyền lực của nhà nước chỉ được thực hiện khi có sự nhất trí của người dân Cơ chế căn bản để chuyển sự nhất trí đó thành quyền lực nhà nước là tổ chức bầu cử tự do và công bằng Jane Kirkpatrick, học giả là cựu Đại sứ

Hoa Kỳ tại Liên hợp quốc đã nhận định rằng: “Các cuộc bầu cử dân chủ không đơn

thuần là biểu tượng cho một thể chế, mà là các hoạt động mang tính cạnh tranh, định kỳ, đầy đủ và xác định, trong đó các nhân vật chủ chốt của Chính phủ được bầu lên do chính những công dân được hưởng quyền tự do phê phán, chỉ trích chính

“ý chí của nhân dân thông qua bầu cử định kỳ và chân thực là nền tảng cho thẩm

dân chủ kiểu đại diện, bầu cử là cách thức cơ bản nhất để thành lập các cơ quan trong

bộ máy nhà nước Bầu cử vì vậy trở thành một tiêu chí đánh giá chế độ xã hội, là một hình thức quan trọng trong việc thực thi quan điểm quyền lực thuộc về nhân dân

the CSCE Document of the Copenhagen meeting of the Conference on the human dimension of the CSCE,

Copenhagen, 5 June- 29 July

Trang 22

Khái niệm quyền bầu cử theo nghĩa rộng bao gồm hai quyền: quyền bầu cử

và quyền ứng cử Trong đó, quyền bầu cử được hiểu là khả năng của công dân được nhà nước đảm bảo tham gia vào bầu cử các cơ quan chính quyền nhà nước từ trung ương đến địa phương

Quyền bầu cử là quyền chính trị quan trọng nhất của công dân trong xã hội đương đại Đảm bảo quyền bầu cử của công dân là biểu hiện của nguyên tắc cơ bản: quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Điều này có nghĩa, công dân không phân biệt giai cấp, tầng lớp, địa vị xã hội, giới tính khi đến tuổi trưởng thành đều có quyền bầu cử Quyền này chỉ bị hạn chế khi nằm trong những trường hợp pháp luật quy định với những điều khoản chặt chẽ, rõ ràng và được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp hiệu quả, được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật về bầu cử

Việc thể chế hóa quyền bầu cử của công dân trong các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng của bất kỳ của một nhà nước nào cho thấy các quốc gia luôn xác định nhân dân chính là chủ thể cơ bản, quan trọng nhất của quyền lực, quyền lực phải luôn xuất phát từ nhân dân và được nhân dân chuyển giao hợp pháp thông qua hoạt động bầu cử

Việc quy định và đảm bảo quyền bầu cử trong luật pháp của các quốc gia thể hiện mức độ dân chủ của chế độ bầu cử Bởi vậy, dân chủ được thể hiện trước hết là

sự tham gia của công dân vào công việc của đất nước, tham gia vào việc lựa chọn người đại diện của mình trong bộ máy nhà nước qua các cuộc bầu cử Việc thể chế hoá quyền lực nhân dân trong đời sống chính trị là việc quy định hợp lý về quyền bầu cử để động viên sự tham gia đông đảo, chủ động, tích cực của mọi tầng lớp nhân dân vào hoạt động đời sống chính trị của nhà nước Vì vậy, có thể khẳng định quyền bầu cử chính là hoạt động trung tâm của bầu cử, là nhân tố quan trọng nhất bảo đảm cho một cuộc bầu cử thành công hay thất bại

Ngoài ra, khi công dân thực hiện quyền của mình tức là nhân dân đang thực hiện trách nhiệm chính trị đối với hệ thống chính trị Ý thức chính trị của công dân cao thể hiện sự đồng thuận của tầng lớp nhân dân đối với hệ thống chính trị và ngược lại Bởi vì, năng lực làm chủ của công dân chính là yếu tố quyết định chất lượng của nền dân chủ và Nhà nước, các thiết chế chính trị khác chỉ là chủ thể tổ

Trang 23

chức, hướng dẫn, quản lý, hướng dẫn người dân thực hiện quyền làm chủ Các thiết chế này lại do chính nhân dân xây dựng (một cách trực tiếp hay gián tiếp) thông qua quyền bầu cử của mình Hơn nữa, khi thực hiện quyền chính trị quan trọng hàng đầu của mình, nhân dân đã và đang thể hiện xu hướng chính trị, niềm tin với người đại diện của mình nói riêng và đối với bộ máy nhà nước nói chung

1.2.3.2 Quyền ứng cử, hiệp thương giới thiệu người ứng cử

* Quyền ứng cử và mối quan hệ với quyền bầu cử:

Quyền ứng cử là quyền có thể được bầu cử vào các cơ quan quyền lực ở trung ương hay địa phương, các chức danh nhà nước Quyền này được biểu hiện ở khả năng của công dân tự ra ứng cử hoặc đồng ý ra ứng cử (khi được các chủ thể khác giới thiệu)

Bầu cử trước hết là việc lựa chọn người đại diện của cử tri để uỷ thác quyền lực, để biến ý chí của nhân dân thành các chủ trương, chính sách của nhà nước Tuy nhiên, bầu cử không chỉ duy nhất là hoạt động lựa chọn người đại diện mà còn bao gồm cả quyền bình đẳng về cơ hội cho mọi công dân trở thành ứng cử viên Như vậy, quyền ứng cử của công dân là một nội dung quan trọng, là tiền đề cho việc tuyển chọn được người có năng lực có cơ hội tham gia điều hành việc nước

Tuy nhiên, để ứng cử công dân ngoài những tiêu chuẩn chung về quyền được bầu cử còn phải đảm bảo những tiêu chí nhất định theo quy định của pháp luật về

độ tuổi, thời gian cư trú… Đồng thời để trở thành ứng cử viên, bản thân mỗi cá nhân ra ứng cử phải có một đường lối chính trị, một kế hoạch hành động để thu hút

sự ủng hộ của các cử tri Nội dung của kế hoạch hành động của các ứng cử viên thường tập trung vào những vấn đề nổi cộm của xã hội như việc làm, chống tham nhũng, ô nhiễm môi trường… trong đó thể hiện được quan điểm chính kiến của cá nhân được cộng đồng xã hội chấp nhận và ủng hộ Mỗi quốc gia khác nhau có những quy định khác nhau về điều kiện của người tham gia ứng cử Có nước quy định các ứng cử viên không được tự đứng ra tranh cử mà phải thông qua các đảng phái chính trị Vì vậy, muốn trở thành một ứng cử viên, công dân trong trường hợp này phải là đảng viên của một đảng phái chính trị và việc lựa chọn, giới thiệu các ứng cử viên là công việc của các đảng phái chính trị

Trang 24

Mối quan hệ với quyền bầu cử:

Theo lý thuyết đại diện của Locke, Rousseau và Montesquieu, quyền lực về nguyên tắc thuộc về nhân dân nhưng nhân dân không thể tự mình thực thi hết quyền lực của mình nên phải uỷ thác cho những người đại diện để thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực của nhân dân Vì thế, quyền bầu cử và quyền ứng cử có một liên kết mật thiết với nhau, là hai mặt của một thể thống nhất để thực thi quyền làm chủ của công dân trong xã hội Bản chất của quyền bầu cử là phương thức lựa chọn người đại diện cho mình trong hệ thống cơ quan quyền lực Đối với những Nhà nước áp dụng học thuyết tam quyền phân lập trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, nhân dân sử dụng quyền này để bầu hệ thống cơ quan lập pháp và các chức danh khác trong bộ máy nhà nước như Tổng thống, Thị trưởng… Còn đối với các nhà nước Xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, Trung Quốc hay Lào quyền lực nhà nước là thống nhất thuộc về nhân dân nên công dân thực hiện quyền bầu cử, ứng cử để thành lập ra các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước gồm Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp và các chức danh cao nhất của bộ máy nhà nước ở trung ương Nói chung, theo hình thức dân chủ hiện đại, nhân dân thực hiện chủ quyền qua khâu trung gian là những đại diện được chọn bằng phương pháp bầu cử Nói cách khác, quyền bầu cử, ứng cử là cách thức chuyển hoá ý chí, chuyển giao quyền lực của nhân dân sang cho người đại diện thông qua những phiếu bầu Đây là cách thức cơ bản nhất để nhân dân tham gia vào việc thực hiện chính quyền, là cơ quan chuyển tải quyền lực hợp pháp của nhân dân cho hệ thống cơ quan đại diện theo quy định của pháp luật

* Về hiệp thương giới thiệu người ứng cử:

Bầu cử giống như một kỳ thi, trong đó cử tri là “Ban giám khảo” và các ứng

cử viên là thí sinh Bầu cử không thể chọn được người hiền tài, nếu không có những người tài đức trong số các ứng cử viên Nếu không mở rộng đối tượng dự thi, tạo mọi điều kiện cho mọi học sinh, nhất là các học sinh giỏi dự thi, cho dù kỳ thi được

tổ chức nghiêm ngặt, vẫn không thể tuyển chọn được học sinh giỏi, bởi vì bản thân

kỳ thi không tạo ra học sinh giỏi, mà nó chỉ tuyển chọn học sinh giỏi đã đăng ký trong kỳ thi13

học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.55

Trang 25

Để tuyển chọn được nhân tài, chế độ bầu cử phải tạo cơ chế khuyến khích người hiền tài ra ứng cử để gánh vác việc nước:

Thứ nhất, phải tạo điều kiện rộng rãi và động viên nhân dân tham gia ứng

cử Đối tượng tham gia càng nhiều, sự lựa chọn của nhân dân càng rộng rãi Tất

nhiên, cơ chế phải tạo điều kiện, khuyến khích sự tham gia tích cực từ phía công dân, các lực lượng xã hội, chứ không phải “mời” họ tham gia cho đủ “cơ cấu” Qui trình hiệp thương trong chế độ bầu cử ở Lào phải thực sự là bệ phóng cho các tổ chức, đoàn thể và mọi công dân tâm huyết với công việc chung14 Như thế, khả năng lựa chọn được người giỏi càng cao

Thứ hai, trong bầu cử, công dân không chỉ lựa chọn con người cụ thể mà quan trọng không kém là họ lựa chọn đường lối, chính sách Như vậy, việc tạo ra một

cơ chế hợp lý để các ứng cử viên không những là người có khả năng thu phục niềm tin của cử tri, mà họ cần được sự hậu thuẫn của một lực lượng xã hội nhất định

Thứ ba, dù dân chủ đến mấy cũng không thể để hàng ngàn, hàng vạn ứng cử viên trong danh sách ứng cử Do vậy, chế độ bầu cử nào cũng phải “sơ tuyển” trước

ngày bầu cử để cử tri lựa chọn Đây là giai đoạn rất quan trọng và rất phức tạp Mỗi chế độ bầu cử có thể áp dụng những phương thức khác nhau và rất khó để đưa ra một “khuôn mẫu” cứng nhắc cho việc “sơ tuyển” này, vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như đặc điểm của thể chế chính trị, tập quán, truyền thống…

Mặt khác, vấn đề này liên quan tới cơ chế cạnh tranh giữa các thực thể trong thể chế chính trị Đa số các quốc gia trên thế giới hiện nay, việc giới thiệu

ứng cử viên thường tham chiếu đến các đảng phái chính trị Tuy nhiên, đối với bất

cứ chế độ bầu cử nào, muốn tuyển chọn được những ứng cử viên, những lực lượng

xã hội xứng đáng nhất, cũng rất cần cơ chế dân chủ, thực sự phát huy vai trò của nhân dân trong việc tuyển chọn

1.2.3.3 Vận động bầu cử

Nói đến bầu cử không thể không nói tới vận động bầu cử, vì nó được coi là linh hồn của bầu cử tiến bộ và công bằng Trong cơ chế chính trị cạnh tranh, nó được gọi là vận động tranh cử (competitive elections)

chí Nghiên cứu lập pháp, (1)

Trang 26

Vận động tranh cử, hay còn gọi là vận động bầu cử là hoạt động của các tổ chức

và cá nhân thực hiện trong qúa trình chuẩn bị bầu cử Vận động bầu cử hoặc là do cơ quan chịu trách nhiệm tuyển cử tiến hành nhằm khuyến khích nhân dân tham gia bầu

cử Nghị viện, hoặc là vận động tranh cử do các ứng cử viên, những tổ chức hoặc cá nhân tài trợ cho các ứng cử viên đó, hoặc là các đảng phái chính trị tổ chức nhằm vận động cử tri bỏ phiếu cho ứng cử viên, hoặc cho đảng chính trị Vận động bầu cử là hoạt động vô cùng quan trọng trong các cuộc bầu cử, vì quá trình này thường đem lại những ảnh hưởng có tính chất quyết định đối với kết quả bầu cử Nghị viện

Vận động bầu cử là diễn đàn chính trị cơ bản, thể hiện quan điểm, cương lĩnh

và chương trình hành động của các đảng phái và các ứng cử viên Thông qua vận động tranh cử, các đảng phái chính trị đều đưa ra các chương trình mục tiêu cho việc phát triển quốc gia

Tuyên bố về tiêu chuẩn cho bầu cử tự do và công bằng (1994) do Hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới thông qua năm 1994 tại Paris là một văn kiện qui định tương đối cụ thể về bầu cử tự do, công bằng nói chung và vận động tranh cử nói riêng Tuyên bố nêu rõ: Mọi công dân đều có quyền bình đẳng về cơ hội để ứng cử trong các cuộc bầu cử, có quyền gia nhập, hoặc cùng với người khác thành lập đảng phái chính trị hoặc các tổ chức khác cho mục đích cạnh tranh trong bầu cử Mỗi cá nhân tự mình và cùng với nguời khác có quyền tự do di chuyển trong nước để vận động tranh cử Mọi cá nhân bình đẳng tranh cử với các đảng phái chính trị, kể cả đảng phái chính trị cầm quyền Các ứng cử viên và mọi đảng phái chính trị bình đẳng về việc sử dụng các phương tiện truyền thông, nhất là các phương tiện truyền thông đại chúng để đưa ra các quan điểm chính trị của mình Nếu quyền vận động tranh cử của cá nhân, hoặc đảng phái chính trị có ứng cử viên bị cấm hoặc bị hạn chế, họ có quyền yêu cầu cơ quan xét xử có thẩm quyền xem xét, ra quyết định kịp thời và có hiệu quả Các ứng cử viên, đảng phái chính trị phải chịu trách nhiệm trước xã hội về việc vận động tranh cử; Các biện pháp cạnh tranh trong bầu cử của mọi ứng cử viên và đảng phái chính trị phải tôn trọng các quyền và tự do của công dân và các chủ thể khác Mọi ứng cử viên, các đảng phái chính trị phải chấp nhận kết quả của cuộc bầu cử tự do và công bằng

Trang 27

Vai trò của vận động bầu cử được thể hiện ở các khía cạnh sau: (i) Vận động

bầu cử là “phiên” trình diễn, là “nơi” để các ứng cử viên “trình chiếu” năng lực

chính trị của họ, là nơi để các ứng cử viên, các lực lượng xã hội thuyết phục với rằng, họ là người xứng đáng để cử tri bầu họ Ai thu phục được niềm tin của cử tri, người đó sẽ có cơ hội trúng cử (ii) Trong bầu cử, muốn thu phục niềm tin của cử tri, ngoài việc chứng tỏ năng lực của mình, các ứng cử viên còn là người phản biện

để “đánh gục” các đối thủ của họ Điều này không những làm cho “cuộc thi” mang

tính cạnh tranh mà còn giúp cử tri có cách nhìn “sâu” hơn chính trị, bởi lẽ, đó thực sự

là những cuộc “sát hạch” lẫn nhau của các chính khách (iii) Vận động bầu cử là

“kênh” cung cấp thông tin quan trọng đối vối cử tri (iv) Vận động bầu cử là phương

thức hữu hiệu để các ứng cử viên, các đảng phái kiểm tra, giám sát lẫn nhau

1.2.4 Đơn bị bầu cử

Đơn vị bầu cử (electoral district) có thể tổ chức theo tiêu chí địa lý hoặc theo các đảng phái chính trị, có một số lượng cử tri nhất định, được bầu một số lượng đại biểu (hoặc theo tỉ lệ) nhất định Đại biểu được bầu hoặc được phân chia theo đơn vị bầu cử Cũng như chế độ bầu cử, đơn vị bầu cử rất phong phú và đa dạng Căn cứ vào số lượng đại biểu được bầu, đơn vị bầu cử được chia thành hai loại: đơn vị bầu

cử một đại diện (single – member district) và đơn vị bầu cử nhiều đại diện (multi – member district)

Việc thiết kế đơn vị bầu cử phụ thuộc vào thể chế chính trị, các đặc thù về văn hóa, xã hội, truyền thống và phụ thuộc vào mô thức, đặc điểm của chế độ bầu

cử của mỗi nước Chế độ bầu cử đại diện tỉ lệ đương nhiên áp dụng đơn vị bầu cử nhiều đại diện, bởi vì mỗi đơn vị bầu cử phải bầu ít nhất là hai đại biểu và nếu số lượng đại biểu được bầu càng nhiều thì tính cân đối - hợp lý càng cao Về lý thuyết, nếu cả quốc gia là một đơn vị bầu cử thì tính hợp lý về đại diện (về hình thức) được đảm bảo nhất Chế độ bầu cử hỗn hợp, thông thường là sự kết hợp giữa hệ thống đa

số với hệ thống đại diện tỉ lệ, nên có hai loại đơn vị bầu cử được thiết kế cùng được

áp dụng: một loại đơn vị bầu cử được thành lập theo hệ thống bầu cử tỉ lệ (thường

cả nước là một đơn vị bầu cử) và một loại đơn vị bầu cử được thiết kế theo phương pháp bầu cử đa số - cả nước được chia thành nhiều đơn vị bầu cử (có thể là đơn vị bầu cử nhiều đại diện hoặc một đại diện, tùy theo biến thể) Các nước theo chế độ

Trang 28

bầu cử tỉ lệ không áp dụng đơn vị bầu cử một đại diện Loại đơn vị bầu cử này chỉ

áp dụng đối với hệ thống bầu cử đa số hoặc có chăng, đối với với một số nước có chế độ bầu cử hỗn hợp (biến thể song song)

1.2.5 Các tổ chức phụ trách bầu cử, phương pháp xác định kết quả bầu

cử, bầu cử thêm, bầu cử lại, bầu cử bổ sung

1.2.5.1 Các tổ chức phụ trách bầu cử

Tổ chức, quản lý bầu cử là một vấn đề quan trọng của chế độ bầu cử Muốn chế độ bầu cử công bằng và trung thực, muốn đảm bảo đúng ý chí của nhân dân trong bầu cử, việc tổ chức bầu cử phải khách quan, trung lập, không thiên vị Tuy nhiên, không dễ dàng để thực hiện điều đó, do vậy, việc tổ chức và hướng dẫn bầu

cử là vấn đề rất quan trọng trong các cuộc bầu cử Nếu tổ chức và hướng dẫn bầu cử không đảm bảo tính chính xác, khách quan, tất cả các nguyên tắc bầu cử nếu không

bị vô hiệu hóa thì chí ít cũng bị giảm ý nghĩa

Trên thế giới hiện nay, mô hình các tổ chức quản lý, điều hành bầu cử khá đa dạng Có thể chia thành ba mô hình cơ bản: mô hình độc lập (Independent Model),

mô hình Chính phủ (Governmental Model) và mô hình hỗn hợp (Mixed Model)15 Dưới mô hình độc lập, cơ quan quản lý bầu cử (Electoral Management Body- EMB) không chịu trách nhiệm trước Chính phủ Nó có thể chịu trách nhiệm trước cơ quan lập pháp, tư pháp hoặc nhà nước Nó thường có ngân quỹ độc lập Những thành viên không phải là công chức của Chính phủ, thường là thành viên của các tổ chức dân sự Mô hình nhà nước là mô hình tổ chức và quản lý bầu cử thường do Chính phủ thực hiện, có thể thông qua một bộ, hoặc chính quyền địa phương Ngân quỹ do Nhà nước, hoặc chính quyền địa phương đài thọ Trong mô hình hỗn hợp, thông thường có hai hệ thống: một hệ thống có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và một hệ thống trực tiếp tổ chức thực hiện do Chính phủ hoặc chính quyền địa phương đảm trách

1.2.5.2 Phương pháp xác định kết quả bầu cử

Xác định kết quả bầu cử là khâu gần như cuối cùng của quá trình bầu cử Phương pháp xác định kết quả bầu cử có vai trò rất quan trọng trong việc chuyển hóa quyền lực nhân dân được thể hiện trong việc lựa chọn trên những lá phiếu cho

Management Design:The International IDEA Handbook, International Institute for Democracy and Electoral

Assistance (IDEA)

Trang 29

những người trúng cử Đây là vấn đề không những đòi hỏi kỹ thuật, phép tính con

số thuần túy mà cần có tư duy chính trị - pháp lý hợp lý Một phương pháp xác định kết quả bầu cử càng tiệm cận ý chí nhân dân, tính trung thực trong bầu cử càng cao:

“quyền lực cần trao đúng cho những người cần trao” Do đó, pháp luật bầu cử các

nước đều thường quy định chặt chẽ về vấn đề này

Phương pháp xác định kết quả bầu cử được xác lập ở từng nước, ngoài những nét riêng, đặc thù, cần đáp ứng những yêu cầu tối thiểu của dân chủ Một trong yêu cầu đó là, người trúng cử là người nhận được sự tín nhiệm của đa số hay đông đảo cử tri Ngoài ra, chế độ bầu cử nhiều nước còn có những quy định để đảm bảo cho bầu

cử phải có kết quả, tránh việc bầu cử nhiều lần Đáp ứng các yêu cầu đó, hiện nay trên thế giới thông thường áp dụng hai phương pháp xác định kết quả bầu cử là phương pháp đa số và phương pháp tỷ lệ Ở phương pháp đa số, ứng cử viên nào giành được

đa số tương đối hoặc đa số tuyệt đối là người thắng cử Có phân biệt các trường hợp

đa số tuyệt đối, đa số tương đối và đa số đặc biệt Ở phương pháp tỷ lệ - áp dụng cho bầu cử đa đảng - số ghế của mỗi đảng thu được tỷ lệ thuận với số phiếu ủng hộ Đảng nào giành được nhiều phiếu thì được nhiều ghế đại diện16

1.2.5.3 Bầu cử thêm, bầu cử lại, bầu cử bổ sung

* Bầu cử thêm:

Vì những lý do khác nhau, trong cuộc bầu cử đầu tiên, số lượng đại biểu được bầu không đủ so với số lượng đại biểu ấn định cho đơn vị bầu cử đó thì pháp luật bầu cử qui định có thể bầu cử thêm cho đơn vị bầu cử đó Việc qui định bầu cử thêm là nhằm các mục đích:

- Đảm bảo tính đại diện cho đơn vị bầu cử đó

- Bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử

- Đảm bảo tính cân đối - hợp lý cho cơ quan đại diện

Trang 30

bầu cử và số lượng cử tri đi bầu dưới “ngưỡng” nhất định Tùy thuộc vào từng nước

hoặc mỗi nước trong từng giai đoạn, ngưỡng đó có thể được qui định khác nhau

* Bầu cử bổ sung:

Trong nhiệm kỳ của cơ quan đại diện, nếu đơn vị bầu cử nào khuyết đại biểu (hoặc một đơn vị hành chính mới được sáp nhập, hoặc được chia thành nhiều đơn vị hành chính mới hoặc đơn vị hành chính được thay đổi cấp có số lượng đại biểu chưa đủ theo quy định của pháp luật, thì có thể tiến hành bầu cử bổ sung đại biểu cho đơn vị đó Bầu cử bổ sung không những đảm bảo tính đại diện cho các đơn vị bầu cử mà còn đảm bảo cho các cơ quan đại diện thực hiện đúng chức năng đại diện trong hoạt động

Tuy nhiên, vì bầu cử là loại hoạt động đòi hỏi công tác chuẩn bị công phu, sự

“vào cuộc” của nhiều ngành, nhiều cấp, tốn nhiều thời gian, công sức và tiền bạc

của các cơ quan, tổ chức trong cả hệ thống chính trị, thời gian và công sức của nhân dân, nên việc bầu cử thêm, bầu cử lại, bầu cử sổ sung thường được tiến hành trong trường hợp thật cần thiết Do vậy, pháp luật bầu cử thường qui định những điều kiện chặt chẽ khi qui định về bầu cử thêm, bầu cử lại, bầu cử bổ sung

1.3 Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới về bầu cử Quốc hội

Bầu cử là một hình thức dân chủ tiến bộ được sử dụng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, sự tồn tại của nó được xem như một minh chứng cho nền dân chủ của mỗi nước Chế độ bầu cử ở mỗi quốc gia có những nét riêng biệt, phù hợp với hoàn cảnh chính trị - kinh tế - xã hội của quốc gia đó Thông qua nghiên cứu, cũng như trên cơ sở tham khảo nghiên cứu của Ban Soạn thảo Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội

và Đại biểu hội đồng nhân dân Việt Nam năm 2014, có thể thấy pháp luật các quốc gia trên thế giới quy định một số vấn đề trọng tâm sau về bầu cử Quốc hội

Thứ nhất, về các nguyên tắc bầu cử Bầu cử Nghị viện của các nước trên thế

giới hầu hết đều dựa trên các nguyên tắc: phổ thông, bình đẳng, tự do (hoặc bắt buộc), trực tiếp (hoặc gián tiếp), và bỏ phiếu kín Luật bầu cử đại biểu Viện Đuma

quốc gia liên bang Nga quy định tại Điều 1: “Các Nghị sĩ do công dân bầu ra theo

nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín Việc tham gia bầu cử của công dân là tự do và tự nguyện” Điều 1 Luật bầu cử Cộng hoà Liên bang Đức

quy định: “Các đại biểu Quốc hội được bầu thông qua tổng tuyển cử theo các nguyên

Trang 31

tắc trực tiếp, tự do, bình đẳng và bỏ phiếu kín, do công dân Đức thực hiện” Các

nguyên tắc bầu cử cơ bản này được quy định cụ thể trong từng điều khoản của luật

Thứ hai, về quyền bầu cử, quyền ứng cử, hiệp thương giới thiệu người ứng

cử, vận động bầu cử

Một là, về quyền bầu cử: Đa số pháp luật bầu cử các nước quy định quyền

bầu cử chỉ dành cho công dân Điều 5 Luật về quy tắc bầu cử chung của Tây Ban

Nha năm 1985 quy định: “không ai có thể bị buộc hoặc bắt buộc thực hiện quyền

bầu cử của mình hoặc biểu hiện quyền tự quyết của mình” Một số nước khác lại

quy định bầu cử là nghĩa vụ như Hiến pháp 1947 của Italia Và kèm theo với quy định bỏ phiếu là nghĩa vụ, pháp luật của các nước này còn quy định, nếu không đi

bỏ phiếu mà không có lý do chính đáng sẽ bị phạt tiền như Hi Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ hoặc bị phạt tù như ở Argentina… Và về nguyên tắc, mỗi công dân có quyền có một lá phiếu và giá trị của các lá phiếu là như nhau không phân biệt địa vị xã hội, tài sản, giới tính, dân tộc, tôn giáo…

Tuy nhiên, trên thực tế để quyền này được thực hiện trên thực tế, pháp luật mỗi nước thường có những quy định cụ thể về những điều kiện đảm bảo

Các điều kiện chủ yếu mà các quốc gia trên thế giới thường sử dụng là: (i) Điều kiện về độ tuổi có quyền bầu cử: hầu hết các quốc gia đều quy định công dân

từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử Một số nước như Brazin, Cuba, Nicragoa quy định độ tuổi bầu cử là 16; Indonesia là 17 tuổi; Hàn Quốc là 19 tuổi; Malaysia, Cameroon, Giamaica; Cô-oét… là 21 tuổi; cá biệt như Nhật Bản, Thái Lan là 20 tuổi17

(ii) Điều kiện cư trú: Pháp luật của một số nước quy định, công dân phải cư trú tại một nơi trong một thời gian nhất định mới có quyền bầu cử Pháp luật bầu cử một số nước như Pháp, Cameroon, Mexico… quy định để tham gia bầu cử, công dân phải cư trú tại đơn vị bầu cử ít nhất 6 tháng mới có quyền bầu cử Có những nước pháp luật bầu cử còn quy định công dân phải thường trú tại đơn vị bầu cử trước ngày bầu cử một thời gian nhất định mới có quyền đi bầu cử như Mỹ 6 tháng, Canada 12 tháng Điều kiện về cư trú ở các nước khác nhau có ảnh hưởng đến quyền của công dân rất khác nhau: đối với các nước phát triển điều kiện cư trú

Hà Nội, tr.23

Trang 32

không ảnh hưởng nhiều đến kết quả bầu cử nhưng điều kiện này ảnh hưởng lớn đến kết quả bầu cử vì số lượng lớn công dân vốn là dân di cư mới nhập quốc tịch sẽ không có quyền bầu cử (iii) Điều kiện văn hoá: một số nước, trình độ nhận thức là một trong những tiêu chí để công dân có quyền được bỏ phiếu Tuy nhiên, khi trình

độ dân trí ngày càng phát triển, quy định này dần trở nên mất ý nghĩa Mặc dù vậy,

ở nhiều nước như Thái Lan, Cô -oét, Togo công dân mù chữ vẫn không có quyền bầu cử (iv) Điều kiện về tài sản: ở thời kỳ đầu của chế độ lập hiến, đa số pháp luật bầu cử thường quy định công dân phải có một khoản tiền nhất định mới được quyền bầu cử Khi xã hội càng phát triển, quy định này được bãi bỏ dần, hiện nay chỉ ở Liberia là còn quy định công dân phải đóng thuế nhà mới có quyền bầu cử (v) Điều kiện về đạo đức: cũng là một căn cứ để công dân ở một số nước được thực hiện quyền của cử tri Đa số các nước đều quy định: những người đang chấp hành hình phạt tù thì không có quyền bầu cử Hàn Quốc quy định những người Hàn Quốc đủ

19 tuổi không phạm tội đến mức bị tù giam thì có quyền bầu cử đại biểu quốc hội Hiến pháp một số nước lại quy định công dân có đạo đức tốt mới có quyền bầu cử như Hiến pháp Uruguay, Hiến pháp Ecuado… Hiến pháp Italia quy định tước quyền bầu cử của những người có hành vi không xứng đáng hay những công dân ở Hà Lan

bị tước quyền phụ huynh thì không có quyền bầu cử … Ngoài ra, pháp luật bầu cử ở hầu hết các nước còn quy định những người bị mất năng lực hành vi, bị thiểu năng trí tuệ không có quyền bầu cử; pháp luật bầu cử ở một số quốc gia còn có những quy định khác về điều kiện bầu cử của công dân

Hai là, về quyền ứng cử: Quyền bầu cử của công dân không chỉ bao gồm

quyền bỏ phiếu mà còn bao gồm việc công dân có cơ hội trở thành người đại diện cho chính mình và cộng đồng dân cư trong hệ thống cơ quan quyền lực Vì thế quyền ứng cử được xem là một nội dung quan trọng trong pháp luật bầu cử của các nước tư sản

Pháp luật các quốc gia trên thế giới quy định về điều kiện ứng cử của công dân, trong đó, các điều kiện chủ yếu là: (i) Về độ tuổi: đa số các nước trên thế giới khi quy định về độ tuổi ứng cử đều dựa trên cơ sở sự trưởng thành về tâm, sinh lý

và nhận thức về chính trị xã hội để đảm bảo công dân có thể nhận thức và giải quyết các vấn đề của cuộc sống Nói chung, các nước thường quy định độ tuổi tối thiểu

Trang 33

mà không quy định độ tuổi tối đa Đối với các nước có cơ chế một viện, thông thường pháp luật bầu cử đều quy định độ tuổi để được ứng cử của công dân phải cao hơn so với độ tuổi thực hiện quyền bầu cử; đối với các nước có cơ chế hai viện,

độ tuổi để ứng cử vào Hạ nghị viện thấp hơn độ tuổi để ứng cử vào Thượng nghị viện (ii) Về điều kiện cư trú: để trở thành ứng cử viên, đa số pháp luật bầu cử các nước đều quy định về điều kiện cư trú của công dân thường cao hơn quyền bầu cử thông thường Thời gian cư trú tại Mỹ đối với công dân ứng cử viên vào Thượng viện và Hạ viện Mỹ là 5 năm, vào chức vụ Tổng thống là 14 năm; còn ở Nga muốn ứng cử vào chức vụ Tổng thống Nga, công dân Nga phải có thời gian cư trú tại Nga

là 15 năm (iii) Điều kiện vật chất: Pháp luật bầu cử ở một số nước quy định, khi ra ứng cử công dân phải đóng một khoản tiền “đặt cọc” nhất định và khoản tiền này sẽ được hoàn lại nếu trong cuộc bầu cử đó ứng cử viên đó thu được một tỷ lệ phiếu bầu nhất định, còn nếu không sẽ được sung vào công quỹ Ví dụ như như ở Anh,

các ứng cử viên phải “đặt cọc” và phải đạt 5% số phiếu mới được nhận lại; ở

Canada ứng cử viên phải nộp 200 Đô la, đạt 15 % số phiếu bầu mới được nhận lại,

Ấn Độ: 500 Ringgit, cần đạt 1/6 số lượng phiếu, Malaysia, 5000 Ringgit, 12.5 % số phiếu bầu Quy định về đặt cọc nhằm hạn chế việc ứng cử tràn lan, không thực sự nghiêm túc với việc bầu cử nhưng một mặt nó cũng làm hạn chế cơ hội tham gia tranh cử đối với những người nghèo18

(iv) Điều kiện đạo đức: Muốn được ứng cử trước hết công dân đủ tiêu chuẩn bầu cử Một số nước như Hàn Quốc quy định những người không được tự ứng cử đại biểu Quốc hội bao gồm: người thiểu năng

về trí tuệ, người phạm tội bị Toà án phán quyết không được bầu cử, người bị phạt tù

mà thời hạn hết tù chưa quá 10 năm, người có hành vi tham nhũng hoặc bị phạt 1 triệu won do vi phạm pháp luật về bầu cử Và công dân Hàn Quốc chỉ được ứng cử khi có giấy chứng nhận đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự (trừ nữ giới)

Ba là, về hiệp thương giới thiệu người ứng cử: Việc giới thiệu ứng cử viên là

một công việc hết sức quan trọng trong mỗi cuộc bầu cử Mặc dù pháp luật của rất ít quốc gia quy định các đảng phái được đặc quyền giới thiệu ứng cử viên, nhưng trên thực tế, các đảng phái chính trị đóng vai trò rất lớn trong việc giới thiệu ứng cử viên Việc giới thiệu này đã trở thành một trong những chức năng chính trị lớn nhất của các

Trang 34

đảng phái chính trị Chính vì vậy, trong thế giới tư bản, bầu cử là cuộc đấu tranh hết sức gay gắt giữa các đảng phái Vấn đề đặt ra là đảng chính trị nào được giới thiệu ứng cử viên theo pháp luật quy định và phải được thực tế chấp nhận Các đảng phái chính trị tiến hành giới thiệu ứng cử viên vào Nghị viện theo các thể thức khác nhau, tuỳ theo quy định hoặc theo thông lệ của từng đảng phái và của từng nước Tất cả các ứng cử viên được các đảng phái giới thiệu muốn được vào danh sách chính thức để các cử tri bỏ phiếu thì phải được cơ quan phụ trách bầu cử lập danh sách ứng cử viên Các cơ quan phụ trách bầu cử không có quyền giới thiệu ứng cử viên vào nghị viện, nhưng có trách nhiệm kiểm tra việc tuân thủ các quy định của pháp luật, có trách nhiệm phải lập danh sách ứng cử viên cho những ứng cử viên được giới thiệu đúng luật Đồng thời, các cơ quan phụ trách bầu cử có quyền gạt tên những ứng cử viên được giới thiệu không theo quy định của pháp luật Hai công việc này thường được giao cho hai loại chủ thể khác nhau, nhằm kiểm tra, đối trọng lẫn nhau Quyền giới thiệu ứng cử viên thuộc về các đảng phái chính trị, còn quyền lập danh sách ứng cử viên lại thuộc về các cơ quan phụ trách bầu cử

Ngoài việc giới thiệu ứng cử viên do các đảng phái tiến hành, các ứng cử viên tự do cũng có quyền tự ứng cử Mặc dù đây là một quyền năng cơ bản của công dân, thực tế cho thấy khả năng thắng cử của các ứng cử viên tự do là không nhiều Chỉ có các nhân sĩ nổi tiếng mới hy vọng thắng cử Như trong phần điều kiện của ứng cử viên đã trình bày, các ứng cử viên tự do muốn được ghi tên vào danh sách ứng cử viên chính thức đòi hỏi phải được một số lượng cử tri nhất định ủng hộ

và đề cử, đồng thời phải nộp một khoản tiền bảo đảm Nếu ứng cử viên không đạt được một tỷ lệ phiếu bầu thích hợp thì khoản tiền này phải sung công quỹ Quy định này nhằm loại trừ việc ứng cử của những người mà cử tri không hề biết tới

Bốn là, về vận động bầu cử: Pháp luật về bầu cử của các nước quy định rất

chi tiết về quyền vận động bầu cử của các ứng cử viên Các ứng cử viên có quyền bình đẳng giữa các ứng cử viên về thời gian bắt đầu kết thúc cuộc vận động, thời gian được pháp biểu trên các phương tiện thông tin đại chúng, cách thức và địa điểm dán áp phích Đây là dịp để các đảng phái chính trị cạnh tranh nhau nhằm thu hút sự ủng hộ của cử tri nhưng đối với các ứng cử viên tự do, đây là một sự thử thách rất đáng sợ nếu không có tiềm lực về kinh tế…

Trang 35

Pháp luật hầu hết các nước đều quy định những vấn đề sau trong vận động bầu cử: (i) về hình thức vận động bầu cử: nằm trong các hình thức được pháp luật cho phép; (ii) giới hạn của vận động bâu cử: Theo luật bầu cử của Nhật bản, các hạn chế vận động bầu cử nhằm bảo đảm cho cuộc bầu cử được tiến hành công bằng và bình đẳng Đó là hạn chế về thời gian vận động bầu cử, hạn chế đối với công chức

có liên quan tới vận động tranh cử, hạn chế trong diễn thuyết tranh cử, trong các văn kiện tranh cử, hạn chế trong kinh phí tranh cử Ở Pháp, vận động bầu cử được tiến hành sớm nhất là 20 ngày trước ngày bầu cử Luật bầu cử của Pháp cấm sử dụng các quảng cáo thương mại vào mục đích vận động tranh cử trên báo chí và các phương tiện truyền thông (iii) Về kinh phí vận động tranh cử: pháp luật bầu cử của các nước này đều quy định giới hạn tối đa số tiền mà mỗi ứng cử viên được phép chi cho vận động tranh cử, như ở Ấn Độ, Nga, Pháp, Malaysia, hoặc số tiền mà mỗi đảng chính trị được phép chi cho vận động tranh cử, như ở Đức, Mỹ, Italia Ngoài

ra, pháp luật cũng có các quy định về nguồn kinh phí được phép trang trải cho vận động tranh cử, các phương thức sử dụng tài chính và số tiền tối đa được phép chi cho mỗi hoạt động tranh cử Về nguồn kinh phí của vận động tranh cử, pháp luật bầu cử của các nước quy định một phần chi phí cho vận động bầu cử do Nhà nước đài thọ, còn lại phần lớn chi phí do các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân quyên góp Đồng thời pháp luật bầu cử cũng hạn chế việc đóng góp cho ứng cử viên thông qua việc quy định mức độ quyên góp tối đa của các tổ chức và cá nhân cho ứng cử viên hay cho đảng chính trị

Thứ ba, về đơn vị bầu cử

Pháp luật các quốc gia đều có các quy định nhằm đảm bảo sự bình đẳng trong các cuộc bầu cử Sự bình đẳng trong các cuộc bầu cử trước hết được thể hiện trong công đoạn phân chia đơn vị bầu cử Để đảm bảo nguyên tắc bình đẳng này, một số nước không phân chia lãnh thổ ra thành các đơn vị bầu cử, mà cả nước chỉ

có một đơn vị bầu cử Cả nước cùng tiến hành bầu ra một danh sách các Nghị sĩ rất đông, bằng số lượng đại biểu cần thiết Ví dụ như 120 đại biểu Nghị viện Israel được nhân dân bầu trực tiếp tại một đơn vị bầu cử chung cho cả nước Việc tổ chức đơn vị bầu cử ở các quốc gia còn có thể chia theo số đại biểu được bầu: đơn vị bầu

cử bầu một đại biểu và đơn vị bầu cử bầu nhiều đại biểu Bầu cử Nghị viện ở Anh

Trang 36

chia toàn quốc thành 650 đơn vị bầu cử, mỗi đơn vị bầu một đại biểu Ở các nước khác, mỗi đơn vị bầu cử được bầu nhiều đại biểu, thì pháp luật ấn định một tỷ lệ cứ bao nhiêu ngàn dân thì được bầu một Nghị sĩ Trong bầu cử Nghị viện ở Phần Lan, mỗi đơn vị bầu cử được bầu trực tiếp từ 7 đến 30 đại biểu, tuỳ theo dân số từng khu vực Hoặc như ở Mỹ, lúc đầu Hiến pháp quy định tỷ lệ cụ thể cứ bao nhiêu ngàn dân được bầu một Nghị sĩ Sau đó, vì số dân ngày càng tăng, buộc Hiến pháp phải chỉnh lý, ấn định số lượng ghế của Hạ viện là 438 được chia đều cho các bang Việc phân chia đơn vị bầu cử có ý nghĩa chính trị quan trọng, bởi vì nó có thể tác động trực tiếp đến kết quả bầu cử Khi mỗi đơn vị bầu cử bầu ra nhiều đại biểu, những người ra ứng cử thường liên danh với nhau theo đảng phái chính trị Liên danh nào được nhiều phiếu thì liên danh đó chiếm được toàn bộ số ghế của đơn vị bầu cử Đây chính là loại hình đơn vị bầu cử liên danh19

Để bảo đảm chế độ bầu cử dân chủ, pháp luật ở hầu hết các quốc gia đều quy định số người ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó Đồng thời, mỗi đơn vị bầu cử được chia thành nhiều khu vực bỏ phiếu với một số lượng cử tri nhất định Việc chia khu vực bỏ phiếu mang ý nghĩa kỹ thuật thuần tuý, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cử tri thực hiện quyền bầu cử của mình Thông thường, các khu vực bỏ phiếu được thành lập theo các đơn vị hành chính cấp cơ sở như xã, phường hoặc nhỏ hơn như cấp thôn, khu phố

Thứ tư, về cơ quan phụ trách bầu cử

Để phụ trách mọi công việc có liên quan tới bầu cử, từ việc lập danh sách cử tri cho đến việc xác định kết quả bầu cử, các cơ quan phụ trách bầu cử được thành lập Do đó, pháp luật các nước cũng quy định khá chi tiết về vấn đề này Trước hết,

về hình thức thành lập cơ quan, có hai hình thức thành lập các cơ quan này: (i) Cơ quan bầu cử được thành lập thường xuyên cho các cuộc bầu cử, bởi vậy cơ quan này thường trực thuộc Bộ nội vụ (ii) Cơ quan bầu cử được thành lập theo các cuộc bầu cử, khi cuộc bầu cử kết thúc thì các cơ quan này hết nhiệm kỳ hoạt động Các

cơ quan phụ trách bầu cử có trách nhiệm kiểm tra việc tuân thủ các quy định của pháp luật, có trách nhiệm lập danh sách ứng cử viên cho các ứng cử viên được giới

về Luật bầu cử một số nước trên thế giới, Hà Nội, tr.14-16

Trang 37

thiệu đúng luật Đồng thời cơ quan này có quyền gạt tên những ứng cử viên được giới thiệu không theo quy định của pháp luật Thứ hai, các thành viên của tổ chức phụ trách bầu cử thường được thành lập bằng phương thức bổ nhiệm Pháp luật bầu

cử của Cộng hoà Áo quy định Uỷ ban bầu cử trung ương gồm 20 thành viên, đứng đầu là Bộ trưởng Bộ nội vụ, đồng thời có 5 thành viên là thẩm phán các toà án Cũng theo luật này, tỉnh trưởng của các tỉnh có quyền bổ nhiệm các thành viên của

cơ quan phụ trách bầu cử khu vực

Thứ năm, về Kiểm phiếu và niêm yết kết quả, công bố kết quả

Thông thường, việc kiểm phiếu được tiến hành công khai, do cơ quan chịu trách nhiệm tuyển cử thực hiện trong thời gian sớm nhất Pháp luật bầu cử của các quốc gia quy định thời gian tiến hành kiểm phiếu nhằm đảm bảo việc tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc và trình tự bầu cử Một số nước đòi hỏi sự tham gia của những người làm chứng trong quá trình bầu cử, nhất là trong giai đoạn kiểm phiếu Luật bầu cử Nhật Bản quy định kiểm phiếu phải được tiến hành với sự tham gia của những người chứng kiến bầu cử Một số nước có sự bất ổn về chính trị như Campuchia đòi hỏi phải có các quan sát viên quốc tế chứng kiến hoạt động bỏ phiếu

và kiểm phiếu

Sau khi kiểm phiếu, công đoạn tiếp theo là chính thức công bố kết quả bầu cử, hợp thức hoá từng người trúng cử và giải quyết các tranh chấp, khiếu nại có liên quan đến vấn đề áp dụng các quy định bầu cử hoặc tuyên bố những điều trái quy định trong quá trình tiến hành bầu cử Biên bản xác định kết quả bỏ phiếu do các cơ quan phụ trách bầu cử lập sẽ đánh dấu việc kết thúc của một quy trình bầu cử thông thường

Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia, khi nhận được đủ phiếu bầu và được xác nhận kết quả bầu cử, người trúng cử vẫn chưa được công nhận là nghị sĩ ứng cử viên được công nhận là nghị sĩ sau khi xác nhận kết quả bầu cử là hợp lệ và sau khi xác nhận tư cách đại biểu Thông thường, việc xác nhận tư cách đại biểu thuộc trách nhiệm của Nghị viện Ở một số nước như Romania, Hà Lan, Algeria, Nghị viện thành lập một uỷ ban để xác nhận tư cách đại biểu Ở các nước khác, cơ quan tư pháp có trách nhiệm này

Kết quả bầu cử Nghị viện thường được công bố trên tờ báo chính thức của quốc gia trong một thời hạn nhất định sau ngày bầu cử

Trang 38

Thứ sáu, về bầu cử lại, bầu bổ sung

Thông thường, bầu cử Nghị viện được coi là không có giá trị pháp lý nếu không được quá nửa tổng số cử tri trong khu vực tham gia bỏ phiếu Kết quả bầu cử được coi là không có giá trị pháp lý nếu trong quá trình bầu cử hoặc trong khi kiểm phiếu có dấu hiệu vi phạm các quy định của luật bầu cử Trong trường hợp đó, phải xác định rằng cuộc bầu cử là vô hiệu toàn bộ hay chỉ vô hiệu từng phần, và phải tiến hành bầu cử lại toàn bộ hoặc chỉ từng phần Thẩm quyền quyết định bầu cử lại thường do Uỷ ban phụ trách bầu cử quốc gia quyết định sau khi có phán quyết của Toà án Ở Cộng hoà liên bang Đức, bầu cử lại phải được tổ chức không muộn hơn

60 ngày sau khi quyết định về bầu cử vô hiệu có hiệu lực pháp lý Quy trình bầu cử lại thường theo đúng với các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cuộc bầu cử thông thường

Bầu bổ sung sẽ được thực hiện trong thời gian sớm nhất, nếu một ghế nghị sĩ còn trống Ví dụ như ở Mỹ, nếu một ghế trong Hạ viện còn trống giữa 2 cuộc bầu

cử thì sẽ tổ chức bầu bổ sung trong thời gian sớm nhất Nếu một ghế trong Thượng viện còn trống, thì một trong số 49 Thống đốc ở 50 bang có thể được bổ nhiệm tạm thời vào ghế trống đó trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ, hoặc cho đến khi tổ chức được cuộc bầu cử đặc biệt để bổ sung ghế trống theo yêu cầu của bang đó Bang Ariona đòi hỏi ghế trống trong Thượng nghị viện chỉ có thể được bổ sung thông qua bầu cử đặc biệt Bầu cử bổ sung được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc giống như đối với các cuộc tuyển cử chính thức So với bầu cử lại, bầu

bổ sung là thủ tục đơn giản hơn và do các Uỷ ban phụ trách bầu cử các cấp quyết định trên cơ sở tham khảo ý kiến của Uỷ ban bầu cử trung ương và tuân theo các nguyên tắc bầu cử của quốc gia

Nghiên cứu nội dung pháp luật về quyền bầu cử, ứng cử của một số nước trên thế giới, có thể thấy một số vấn đề sau:

Thứ nhất, các cuộc bầu cử được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của nền dân chủ và nhờ nó,

người dân có khả năng lựa chọn người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mình Ngoài ra, nguyên tắc bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín cũng được áp dụng để tạo điều kiện cho nhân dân thể hiện chính kiến của mình một cách tốt nhất Mặc dù còn nhiều

Trang 39

cản trở để công dân thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử một cách đầy đủ, nhưng về mặt quy định pháp luật, những quy định về quyền bầu cử, ứng cử của hầu hết các nước

đã thể hiện sự hoà nhập chung vào xu hướng tự do dân chủ trên thế giới

Thứ hai, trong những chừng mực nhất định, các quy định về quyền bầu cử, ứng cử của đa số các quốc gia có khác nhau nhưng tỷ lệ dân chúng tham gia vào các cuộc nói chung ngày càng đông đảo thể hiện sự quan tâm tích cực của người dân trên thế thế giới nói chung vào các sự kiện chính trị quan trọng này Những

người cầm quyền của các nước được bầu thông qua các cuộc bầu cử phổ thông đều giành được sự tín nhiệm đông đảo của cử tri Họ đóng vai trò là những người đại diện của cử tri Việc những người này được bầu có thực hiện tốt chức năng đại diện của mình hay không sẽ được trả lời bằng sự tín nhiệm hay bất tín nhiệm của cử tri thông qua lá phiếu của họ tại các cuộc bầu cử tiếp theo

Thứ ba, hình thức của các cuộc vận động tranh cử dưới hình thức tiếp xúc cử tri, trả lời phỏng vấn, tranh luận trên phương tiện thông tin đại chúng là những kênh thông tin cực kỳ quan trọng để người dân có thể hiểu và ủng hộ cho mỗi cử tri, mỗi đảng phái chính trị và đường lối lãnh đạo của họ Các cuộc tranh luận giữa các

ứng cử viên giữa các đảng phái là sự đấu tranh để giành quyền lãnh đạo giữa các đảng phái đối lập vì thông qua các cuộc tranh luận tay đôi, cử tri sẽ cân nhắc đến lựa chọn ứng viên nào là tốt nhất

Thứ tư, trên bình diện lý thuyết thì mọi người đều có thể tham gia ứng cử khi hội đủ những điều kiện do luật định, nhưng với hoạt động manh tính chuyên môn hoá cao độ của bộ máy nhà nước, cùng với mức độ thương mại hoá ngày càng cao của các chiến dịch vận động tranh cử thì những người bình thường khó có thể tham gia ứng cử và giành thắng lợi Những người có thể thực thi quyền ứng cử của mình

trên thực tế chỉ là những người lắm tiền và có những điều kiện tốt về địa vị xã hội, trình độ học vấn… Nhìn chung, xu hướng pháp luật của một số nước về quyền bầu

cử, ứng cử của công dân ngày càng phát triển theo hướng mở rộng dân chủ Với quy định rất cụ thể, chặt chẽ và có cơ chế hữu hiệu để thực hiện các quyền này trên thực

tế, pháp luật về quyền bầu cử, ứng cử của công dân ở các nước nói chung đã phần nào phản ánh được những quan tâm của người dân nói chung trước những vấn đề của bản thân họ, của đất nước và của thời cuộc Đặc biệt các quy định của pháp luật

Trang 40

đã tạo mối quan hệ hai chiều giữa người dân với các ứng cử viên, các đảng phái có

sự tương tác với nhau trong quá trình bầu cử nhằm giúp cho sự thấu hiểu và chia sẻ lẫn nhau giữa người được bầu và người đi bầu Điều này tạo ra cho hệ thống chính trị của các nước tư bản một sự phát triển năng động và hiệu quả, giúp cho các đảng phái chính trị luôn có sự điều chỉnh chính sách kịp thời nhằm đáp ứng những đòi hỏi của quần chúng Đồng thời những điều này cũng làm cho chính sách của các đảng không bị xơ cứng mà luôn có sự vận động một cách uyển chuyển, bám sát được các vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đang đặt ra

Bầu cử ở các nước tư bản đã trở thành một công nghệ chính trị thực sự Chính các quy định về quyền bầu cử, ứng cử và quá trình thực hiện quyền này trên thực tế ở các nước nói trên đã tạo ra các đông lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển công nghệ chính trị nói chung, công nghệ giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị nói riêng trong điều kiện dân chủ

Chế độ bầu cử Lào là tổng thể các qui định của pháp luật bầu cử Lào, bao gồm các nguyên tắc bầu cử, quyền bầu cử, ứng cử, hiệp thương để giới thiệu, tuyển chọn các ứng cử viên, vận động bầu cử, các tổ chức phụ trách bầu cử, trình tự, thủ tục trong quá trình bầu cử, bầu cử thêm, bầu cử lại, bầu cử bổ sung… điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình bầu cử, nhằm “chuyển hóa” ý chí của nhân dân trong việc thành lập Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp

Ngày đăng: 13/03/2019, 21:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w