1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Di sản thừa kế những vấn đề lý luận và thực tiễn

89 235 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 4,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, khái niệm di sản được định nghĩa theo ngữ nghĩa đầu tiên của từ “di sản” như sau: Di sản là "Tài sản tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, các t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

HẠP THỊ NHƯ NGUYỆT

DI SẢN THỪA KẾ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

HẠP THỊ NHƯ NGUYỆT

DI SẢN THỪA KẾ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số học viên: CH23UD056

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM VĂN TUYẾT

HÀ NỘI – NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả luận văn

Hạp Thị Nhƣ Nguyệt

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI SẢN THỪA KẾ 5

1.1 Khái niệm chung về di sản 5

1.2 Khái niệm về di sản thừa kế 8

1.3 Một số đặc trưng của di sản thừa kế: 18

CHƯƠNG 2: XÁC ĐỊNH DI SẢN THỪA KẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 23

2.1 Các dạng tài sản là di sản thừa kế: 23

2.1.1 Di sản là các tài sản tồn tại ở dạng vật 23

2.1.2 Di sản là các tài sản tồn tại ở dạng tiền 24

2.1.3 Di sản là các tài sản tồn tại ở dạng giấy tờ có giá 26

2.1.4 Di sản là các tài sản tồn tại ở dạng quyền tài sản 28

2.2 Thành phần của di sản 30

2.2.1 Tài sản riêng của người chết: 30

2.2.2 Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác 34

2.3 Xác định thừa kế trong một số trường hợp cụ thể 36

2.3.1 Xác định di sản thừa kế đối với trường hợp một người bị Tòa án tuyên bố là đã chết 36

2.3.2 Xác định di sản thừa kế của vợ, chồng đối với hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân 38

2.3.3 Xác định di sản thừa kế liên quan đến phần tài sản mà người chết đã tặng cho người khác khi còn sống 39

2.3.4 Xác định di sản thừa kế của một bên vợ, chồng chết trước trong thời gian bản án hoặc quyết định của Toà án cho ly hôn chưa có hiệu lực pháp luật 39

2.3.5 Xác định di sản thừa kế là quyền sử dụng đất 40

2.3.6 Xác định di sản thừa kế là nhà ở 43

Trang 6

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ DI SẢN

THỪA KẾ 47

3.1 Nguyên nhân của các tranh chấp về về di sản thừa kế 47

3.2 Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về di sản thừa kế 50

3.2.1 Tranh chấp liên quan đến việc xác định chủ sở hữu tài sản là đất đai: 50

3.2.2 Tranh chấp liên quan đến việc trích di sản cho người có công quản lý, tôn tạo di sản thừa kế: 53

3.2.3 Tranh chấp thừa kế liên quan đến di sản là đất công: 60

3.2.4 Tranh chấp liên quan đến di sản đã được cho trước thời điểm người để lại di sản chết: 63

3.2.5 Tranh chấp di sản thừa kế trong trường hợp nhà, đất thuộc di sản thừa kế bị giải tỏa, thu hồi 65

3.3 Kiến nghị hoàn thiện việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế: 68

3.3.1 Kiến nghị chung trong việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế: 68

3.3.2 Kiến nghị hoàn thiện các quy định về di sản thừa kế: 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận Pháp luật Việt Nam bảo vệ quyền thừa kế của con người xuất phát từ quan điểm coi gia đình là tế bào của xã hội, đảm bảo các nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc Chế định thừa kế là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam Đảm bảo quyền thừa kế là bảo vệ quyền hiến định của công dân

Thừa kế là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống, tài sản để lại được gọi là di sản Các chế định về vấn đề thừa kế do Pháp lệnh thừa

kế năm 1990, Bộ Luật dân sự năm 1995, Bộ Luật dân sự năm 2005 luôn là một trong những các vấn đề gây tranh cãi do xung đột quyền lợi giữa các bên tham gia quan hệ luôn là đề tài nóng của pháp luật khi xử lý, giải quyết các tranh chấp phát sinh của các bên tham gia tố tụng Sau thời gian góp ý, xây dựng luật, ngày 24 tháng 11 năm 2015 Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua Bộ luật dân sự năm 2015 để thay thế Bộ Luật dân sự năm 2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 Nhìn chung, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định tương đối cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ về chế định thừa kế và được thể hiện việc hoàn thiện các vấn

đề về : Thời điểm, địa điểm mở thừa kế, xác định người thừa kế, di sản thừa kế, thời hiệu thừa kế…

Trong những năm gần đây, tranh chấp về thừa kế luôn gia tăng và chiếm tỷ trọng lớn trong các tranh chấp dân sự, đặc biệt là các tranh chấp liên quan đến di sản thừa kế Bởi vậy, nghiên cứu về thừa kế và di sản thừa kế có ý nghĩa sâu sắc về

lý luận và đời sống thực tế Có thể nói, di sản thừa kế là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc làm phát sinh và thực hiện quan hệ dân sự về thừa kế Giải quyết các tranh chấp về di sản thừa kế trước hết phải xác định đúng khối tài sản chia thừa kế

và kết quả giải quyết tranh chấp sau cùng là phân chia di sản thừa kế theo đúng phần mà người thừa kế có quyền được hưởng

Trước thực tiễn đó đó, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Di sản thừa kế -

những vấn đề lý luận và thực tiễn”, qua đó, mong muốn có thể làm rõ cơ sở lý

luận và thực tiễn để có thể nhận diện, xác định chính xác di sản thừa kế, yếu tố quan trọng hàng đầu đối với việc giải quyết các án kiện về thừa kế

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về vấn đề thừa kế thu hút rất nhiều các học viên, nhà nghiên cứu

Di sản thừa kế cũng đã được đề cập trong một số đề tài nghiên cứu khoa học, đáng kể đến là các nghiên cứu của PGS.TS Trần Thị Huệ, PGS.TS Phạm Văn Tuyết đã làm rõ được khái niệm về di sản thừa kế, quan niệm về di sản thừa kế qua các thời kỳ, cung cấp những nghiên cứu có tính hệ thống về di sản thừa kế một cách chung nhất, khái quát nhất Trong các luận văn, khóa luận, vấn đề di sản thừa kế không phải là vấn đề mới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này như: Khóa luận tốt nghiệp năm

2011 của tác giả Nguyễn Thu Thủy, Đại học Luật Hà Nội: Di sản thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, Luận văn thạc sỹ năm 2010 của tác giả Lê Khắc Hanh, Đại học Luật Hà Nội về :Thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở từ thực tiễn ở TP Hải Phòng; Luận văn thạc sỹ năm 2015 của tác giả Phan Văn Nghĩa, Đại học Luật Hà Nội về xác định và phân chia di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện nay; Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Hương Giang, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội với đề tài: Thừa kế theo pháp luật – 1 số vấn đề lý luận và thực tiễn (2014) Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu đi vào nội dung về di chúc, hàng thừa

kế, phân chia di sản mà chưa phân tích rõ hơn về các dạng tài sản là di sản và gọi tên các loại di sản phổ biến, xác định chúng trong trường hợp cụ thể, các dạng di sản còn

bị xác định sai trong thực tế

3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định chung của pháp luật hiện hành về di sản thừa kế, xác định di sản thừa kế, tìm hiểu thực tiễn về áp dụng các quy định về di sản thừa kế trong giải quyết tranh chấp thừa kế

Xác định di sản thừa kế chính là vấn đề xác định tài sản, do đó, với mục tiêu

và nhiệm vụ chính đã nêu, trong điều kiện về thời gian nghiên cứu, tài liệu tham khảo, và trong khuôn khổ của một luận văn cao học, tác giả đã xác định phạm vi nghiên cứu phù hợp như sau: luận văn chỉ phân tích các dạng tài sản là vật, tiền, giấy

tờ có giá và nêu tên các quyền tài sản là di sản thừa kế mà không phân tích sâu về quyền tài sản như quyền sở hữu trí tuệ Luận văn cũng tập trung nghiên cứu thực tiễn việc xác định di sản thừa kế, các dạng tranh chấp về thừa kế phổ biến, làm rõ một số điểm còn có cách hiểu khác nhau về nhận diện các tài sản là di sản thừa kế trong quy định của Pháp luật

Trang 9

4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ các vấn đề lý luận, thực tiễn các quy định của pháp luật hiện hành về di sản thừa kế; những vướng mắc trong thực tế giải quyết tranh chấp về di sản thừa kế Luận văn còn đưa ra hướng hoàn thiện pháp luật cũng như mạnh dạn đề xuất một số giải pháp với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả khi áp dụng các quy định về xác định di sản thừa kế

Để đạt được những mục tiêu nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:

+ Đưa ra khái niệm và làm rõ một số vấn đề lý luận về di sản thừa kế,

+ Phân tích làm rõ quy định về di sản thừa kế trong BLDS 2015 hiện hành; + Nghiên cứu pháp luật liên quan như: Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật dân

sự năm 1995, Luật HN&GĐ 2014, Luật Đất đai 2013…

+ Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật, những hạn chế còn tồn tại, nguyên nhân của những hạn chế đó, hướng hoàn thiện công tác xét xử về di sản thừa kế, cùng pháp luật có liên quan tới đề tài đang nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá trình hội nhập

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp phân tích, phương pháp suy diễn logic, phương pháp diễn giải, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh… để làm sáng

tỏ vấn đề lý luận và thực tiễn về xác định di sản thừa kế

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, luận văn phân tích tổng hợp làm sáng

tỏ quy định của pháp luật hiện hành về di sản thừa kế, quan điểm về di sản thừa kế qua các thời kỳ Luận văn đã hệ thống quá một cách có chọn lọc một số vấn đề cơ bản trong xác định di sản thừa kế, góp phần bổ sung kết quả nghiên cứu mới so với các công trình nghiên cứu trước đây về xác định di sản thừa kế trên thực tế, cũng như chỉ ra một số hạn chế, nguyên nhân của những tranh chấp về di sản thừa kế và những kiến nghị nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về thừa kế trên thực tế

Trang 10

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

03 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về di sản thừa kế

Chương 2: Xác định di sản thừa kế theo quy định của pháp luật hiện hành Chương 3: Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về di sản thừa kế

Trang 11

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI SẢN THỪA KẾ 1.1 Khái niệm chung về di sản

Thế giới vật chất là thế giới biến đổi không ngừng, cái tồn tại sau là kết quả của sự biến đổi đã xảy ra của giai đoạn trước Con người cũng vậy, nhờ có lao động

mà con người biến đổi theo hướng phát triển nhanh chóng, tạo thành một xã hội loài người Các thế hệ đời sau được kế thừa những cái vật chất của đời trước để lại Ngoài kế thừa thế giới vật chất trong tự nhiên, con người còn kế thừa những thành quả, có thể là giá trị vật chất, cũng có thể là giá trị tinh thần của thời trước, của xã hội trước và của người đi trước do lao động, cải tạo và tích lũy đã tạo nên Để chỉ những gì mà thời trước hay đời trước để lại người ta hay dùng từ “di sản”

Thuật ngữ “di sản” là một từ ghép Hán Việt, gồm hai từ “di” và “sản” Trong đó, từ “di” mang nhiều nghĩa khác nhau khi đặt trong các ngữ cảnh cụ thể:

Với góc độ là sự dịch chuyển thực tế thì từ “di” biểu hiện sự chuyển động

ra khỏi vị trí nhất định thông qua sự tác động nào đó lên một vật để lại dấu vết nhất định “Di” còn được hiểu là dời đi nơi khác, dời đi chỗ khác, “thoát” khỏi vị trí ban đầu, biểu hiện của sự chuyển động từ nơi này đến nơi khác, từ điểm này đến điểm khác trong không gian và thời gian

Với góc độ khác, “di” được hiểu là là sự truyền lại, lưu lại, để lại cho đời sau, thế hệ sau, người đi sau Có thể hiểu là việc giữ gìn, giao lại giá trị tinh thần, vật chất nào đó cho thế hệ sau

Với các nghĩa trên đây, “di” có thể được hiểu một cách chung nhất là sự dich chuyển sự vật, hiện tượng làm thay đổi vị trí của chúng trong không gian và thời gian Sự thay đổi vị trí của chúng bao giờ cũng thể hiện yếu tố “trước” và

“sau” Nó có thể diễn ra trong một thời gian rất ngắn (như nét vẽ đầu tiên đến nét

vẽ tiếp theo trong một bức tranh) hoặc nó được diễn ra trong một thời gian dài (như

từ thời cổ đại sang thời trung đại)1

Từ “Sản” có thể được hiểu là quá trình tạo ra làm ra một kết quả nhất định

Có thể là hoạt động sinh sản tự nhiên tạo nên một con người, cũng có thể là quá trình sản xuất, lao động để tạo ra của cải vật chất Tuy nhiên, khi đứng với từ “Di”

1

Trần Thị Huệ (2007), Di sản thừa kế trong pháp Luật Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Đại học

Luật Hà Nội, tr10

Trang 12

thì từ “sản” sẽ được hiểu là tài sản, sản nghiệp thuộc sở hữu của cá nhân thông qua lao động tạo nên nhằm mang lại lợi ích cho con người

Trong từ điển tiếng Việt thì “di sản” được hiểu theo các nghĩa:

- Tài sản của người chết để lại

- Cái của thời trước để lại: Kế thừa di sản văn hoá, kinh tế; di sản pháp luật; di sản về nghiên cứu khoa học chẳng hạn như di tích lịch sử, di vật lịch sử,

di sản văn hóa, di sản thiên nhiên……

Trong Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, khái niệm di sản được định nghĩa theo ngữ nghĩa đầu tiên của từ “di sản” như sau:

Di sản là "Tài sản (tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, các thu nhập hợp pháp khác) của người chết để lại, gồm: những tài sản thuộc sở hữu của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác, quyền và nghĩa vụ tài sản

do người chết để lại

Trong lĩnh vực pháp lý, từ “di sản” cũng được được sử dụng theo nghĩa là

“Tài sản của người chết để lại” Từ điển Luật học định nghĩa: Di sản là tài sản mà người đã chết để lại, bao gồm:

+) Tài sản mà người đã chết chủ sở hữu, gồm có:

- Tài sản riêng như: tư liệu sinh hoạt (vd Quần áo, chăn màn, giường tủ, máy thu thanh, máy thu hình, vv.); tư liệu sản xuất, vốn sản xuất hoặc kinh doanh hợp pháp; nhà ở; tài sản được thừa kế, tặng cho; tiền mua trái phiếu; tiền tiết kiệm gửi ngân hàng hoặc quỹ tín dụng; các thu nhập khác (vd Tiền công lao động, tiền nhuận bút, tiền thưởng, tiền trúng xổ số, vv.)

- Phần tài sản của người đã chết trong khối tài sản chung với người khác (vd Sở hữu chung một ngôi nhà, một cơ sở sản xuất, kinh doanh, vv.)

- Những quyền về tài sản do người chết để lại (vd đòi nợ, đòi tài sản cho thuê hoặc cho mượn, chuộc lại tài sản đã cầm cố, đòi bồi thường thiệt hại trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng )

+) Quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật

Trong định nghĩa này, nội hàm của từ “di sản” được xác định đồng nhất với

“di sản thừa kế”, định nghĩa đã phân loại và liệt kê khá chi tiết các loại di sản thừa

Trang 13

kế, đây cũng là một định nghĩa chỉ ra hướng tiếp cận toàn diện và đi vào bản chất của di sản thừa kế

Đối với ngữ nghĩa thứ hai, có thể kể đến các định nghĩa như:

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa,

khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác

Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa

học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

Tất cả các định nghĩa này đều chứa nội hàm của từ di sản đó là: Các giá trị vật chất và tinh thần đang tồn tại, được thế hệ trước tạo dựng, bảo tồn, duy trì và để lại cho thế hệ sau

Tại sao không dùng từ tài sản để thay thế cho từ di sản?

Từ thời cổ xưa các đồ vật được xem là tài sản Nhưng thời đại càng phát triển thì càng xuất hiện nhiều dạng tài sản mới, tức là cấu trúc các dạng tài sản càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm

2015 thì: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất

động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.” Di sản là tài sản do người chết để lại, do đó từ tài sản

không hoàn toàn thay thế được di sản bởi vì không làm rõ đặc trưng của loại tài sản này đó là tài sản có sự dịch chuyển từ người chết sang cho những người còn sống

Từ tài sản không hoàn toàn thay thế được di sản bởi vì không làm rõ đặc trưng của loại tài sản này đó là tài sản có sự dịch chuyển từ người này sang người khác, thời này qua thời khác, và ý nghĩa để phân biệt nó là ngoài các quy định nhằm đảm bảo quyền sở hữu tài sản của cá nhân đối với tài sản hiện hữu của mình, thì việc phân biệt được tài sản nào là di sản sẽ dẫn đến câu chuyện giải quyết việc xác định người được sở hữu di sản, bảo quản di sản là tài sản nói chung và các di sản đặc biệt nói riêng như di sản văn hóa, di sản thiên nhiên…

Trang 14

Trong nội dung luận văn sẽ đi sâu vào nghiên cứu định nghĩa “di sản” theo nghĩa là tài sản và những giá trị tài sản của người chết để lại Nói đến tài sản thì phải làm rõ vấn đề về sở hữu tài sản Tất cả các hoạt động sản xuất lao động tạo ra của cải đều là những tiền đề của sở hữu tài sản Như vậy, sở hữu là một yếu tố khách quan, xuất hiện từ khi có xã hội loài người và cùng phát triển với sự phát triển của loài người Tài sản vật chất do con người làm ra do con người lao động để biến thành các dạng vật chất thuộc sở hữu của mình Đây là yếu tố sống còn để đảm bảo cho sinh tồn và sinh hoạt đời sống cho con người Quyền sở hữu trong trường hợp này được chuyển giao từ người chết sang cho người được hưởng di sản và được pháp luật công nhận Việc công nhận sự chuyển giao này là do pháp luật đã căn cứ trên yếu tố đạo đức, văn hóa và cả yếu tố kinh tế

Từ phân tích trên đây, có thể định nghĩa di sản từ góc độ pháp lý như sau:

Di sản là toàn bộ tài sản cùng các nghĩa vụ tài sản được truyền từ đời trước sang đời sau

1.2 Khái niệm về di sản thừa kế

Thừa kế là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống, tài sản để lại được gọi là di sản Khi xem xét về vấn đề thừa kế thì di sản thừa kế là một trong những vấn đề được quan tâm trước tiên Chỉ khi di sản còn tồn tại trên thực tế thì người để lại tài sản mới có “cái” để định đoạt

Di sản thừa kế là yếu tố vật chất của thừa kế, khoa học luật Dân sự thừa nhận

về mặt nội dung của thừa kế là quá trình dịch chuyển di sản thừa kế từ người chết sang cho những người còn sống Sự biểu hiện của nó là việc để lại và nhận di sản thừa kế mà đối tượng là tài sản thuộc quyền sở hữu của người đã chết Pháp luật dân

sự Việt Nam từ trước đến nay chưa có văn bản nào đưa ra khái niệm về di sản thừa kế

mà chỉ hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp quy định về thành phần của di sản thừa kế

Thực tế, quan niệm về di sản thừa kế trong các thời kỳ là có sự khác nhau,

do thay đổi về quan niệm về vấn đề tài sản, tư cách người thừa kế và việc hưởng di sản thừa kế

Ở Việt Nam luật dân sự đặt trong sự phát triển của kinh tế, xã hội và chịu

sự tác động của truyền thống đạo đức Vốn là một quốc gia chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo, con người Việt Nam vốn rất chăm chỉ, bao dung, nhường nhịn Các thành viên rất ý thức về việc lao động làm ra của cải cho gia đình, tiết

Trang 15

kiệm của cải để dành cho con cái, các thế hệ về sau, cho gia tộc, dòng họ Các thế

hệ nối tiếp nhau ra đời và của cải họ làm ra được truyền từ đời này sang đời khác được diễn ra như một quy luật khách quan, thậm chí chưa cần có quy phạm pháp luật điều chỉnh

Trong chế độ phong kiến, người nông dân là đa số trong xã hội, do sự bóc lột truyền kiếp của địa chủ mà đa số các gia đình người nông dân mắc nợ, sản xuất nông nghiệp của gia đình không đủ để nuôi sống các thành viên Nếu có tài sản thì

đa số là tầng lớp địa chủ, tài sản của họ là đất đai, vàng bạc, của cải cho con cháu tiếp tục chế độ cai trị của mình Đối với người nông dân, họ vừa không có tài sản để chia thừa kế mà thậm chí con cháu còn phải gánh tất cả các nghĩa vụ của ông cha để lại Điều này là để đảm bảo sự tồn tại của chế độ địa chủ điền trang

Đến thời kỳ pháp thuộc, vấn đề thừa kế vẫn được xác định là bao gồm cả thừa kế tài sản và thừa kế nghĩa vụ của người chết Nghĩa vụ tài sản mà người chết

để lại không chỉ giới hạn trong phạm vi tài sản mà các con được hưởng di sản của

cha mẹ thì phải liên đới trả cho hết các khoản nợ của cha mẹ “Người chánh thất,

quả phụ hoặc người đích tôn thừa tự cũng thế Những khoản nợ của người thứ nhất mệnh một để lại mà người ấy vì sự làm lợi ích cho gia đình hay buôn bán phải vay thời cả người chồng, vợ cũng phải trả như vậy Còn những người thừa kế khác thì chỉ phải trả các khoản nợ, gánh vác các trách nhiệm của người mệnh một ngang với phần di sản mà mình được hưởng là cùng, trừ khi nào từ chối di sản thì không phải gánh chịu”2 Thời kỳ này, các món nợ được coi là phương tiện đảm bảo cho gia đình sinh sống, đồng thời người thừa kế phải là thành viên với tư cách là con, cháu, vợ, chồng, hoặc cháu đích tôn trong gia đình liên quan đến việc sử dụng tài sản mới phải gánh chịu trách nhiệm vô hạn, còn những người không cùng sống trong một một gia đình nhưng với tư cách là người thừa kế chỉ chịu trách nhiệm của mình trong phạm vi tài sản được hưởng Thực tế cho thấy, việc thực hiện nghĩa vụ này cũng là do chế độ bóc lột của giai cấp địa chủ và sự bóc lột ấy nhằm mục đích duy trì và củng cố chế độ tư hữu

Như vậy, trước Cách mạng tháng Tám – 1945, giai đoạn này về vấn đề di sản thừa kế được xác định theo lệ “phụ trái tử hoàn” là một tục lệ cổ theo chuẩn mực của đạo đức phong kiến quy trách nhiệm cho các con phải trả toàn bộ các khoản nợ của người cha đối với người khác Đây là điều kiện kinh tế xã hội hình

2 Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật, 1944, Điều 379

Trang 16

thành nên quan điểm thứ nhất về di sản thừa kế, Đó là: Di sản thừa kế bao gồm tài

sản và các nghĩa vụ tài sản của người chết để lại Có nghĩa là các khoản tài sản của

người chết trở thành tài sản của người thừa kế, nợ của người chết cũng là nợ của người thừa kế bất kể tài sản của người chết có đủ để thanh toán hay không Có nghĩa là các khoản tài sản của người chết trở thành tài sản của người thừa kế, nợ của người chết cũng là nợ của người thừa kế bất kể tài sản của người chết có đủ để thanh toán hay không Như vậy sẽ thừa nhận: từ thời điểm mở thừa kế, hai người này là một đối với tư cách thanh toán nợ đối với chủ thể mang quyền và người thừa

kế có trách nhiệm trả nợ vô hạn Những người theo quan điểm này hiểu rằng khi còn sống, người để lại di sản thừa kế ngoài những tài sản thì họ còn có những nghĩa

vụ, khoản nợ Khi họ chết họ để lại các nghĩa vụ về tài sản, các nghĩa vụ này phải được dịch chuyển sang cho những người thừa kế thực hiện Có như vậy mới đảm bảo được quyền lợi cho người có quyền đối với các nghĩa vụ mà người chết phải thực hiện hết nếu còn sống

Quan điểm về trách nhiệm vô hạn của những người thừa kế đối với khoản

nợ của người thân trong gia đình có nguồn gốc từ những luật tục cũ Các luật tục này được coi là dựa trên đạo hiếu đối với bậc sinh thành, sự liên quan của các thành viên trong gia đình đối với việc lao động, buôn bán để duy trì cuộc sống gia đình Tuy nhiên có thể thấy, bản chất sâu xa của các luật tục này là nhằm duy trì chế độ bóc lột của bọn địa chủ cường hào đối với các khoản nợ truyền kiếp của người nông dân, khiến cho họ vĩnh viễn là những con nợ, làm thuê, bán sức lao động nhưng không nhận được thành quả xứng đáng mà không thể phản kháng

Sau cách mạng tháng 8-1945 do điều kiện lúc bấy giờ nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa chưa ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh về thừa kế nên về nguyên tắc vẫn áp dụng các văn bản pháp luật về thừa kế trước đó như Bộ dân luật Bắc

Kỳ (1931), Bộ dân luật Trung Kỳ (1936), Bộ dân luật giản yếu (1883) nhưng không được trái với chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa

Từ năm 1957 theo chỉ thị Số 72/TANDTC ngày 10/07/1957 của TAND tối cao thì Pháp luật của chế độ cũ không được làm cơ sở xét xử của các Tòa án nhân dân nữa nên việc giải quyết quan hệ thừa kế chủ yếu dựa vào các văn bản pháp luật như: Hiến pháp 1959, Sắc lệnh 97/SL ngày 22/05/1950 của chủ tịch Hồ Chí Minh, Luật Hôn nhân và gia đình 1959 Những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ thừa kế

bước đầu đã được quy định Trong sắc lệnh 97/SL ngày 22/05/1950 là : Quyền bình

đẳng của vợ và chồng trong gia đình, vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau;

Trang 17

con trai, con gái đều có quyền hưởng di sản thừa kế của bố, mẹ, người chồng góa hay vợ góa, các con đã thành niên có quyền chia tài sản của người đã chết sau khi thanh toán tài sản chung… Sắc lệnh 97/SL đã cụ thể hóa quyền bình đẳng của công

dân trong quan hệ tài sản, trong đó có vấn đề thừa kế, theo đó: “Con, cháu, vợ hay

chồng của người chết không bắt buộc phải nhận thừa kế của người đó Khi nhận thừa kế các chủ nợ của người chết cũng không có quyền đòi nợ quá số di sản để lại”, “Trong lúc sinh thời, người chồng góa hay vợ góa, các con đã thành niên có quyền đem chia phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết sau khi đã thanh toán tài sản chung.” Trong quy định của Sắc lệnh 97/SL mặc dù cũng chưa quy

định cụ thể về di sản thừa kế nhưng đã thể hiện sự tiến bộ vượt bậc khi xóa bỏ các quy định mang tính hủ tục, lỗi thời của chế độ trước theo tục “Phụ trái, tử hoàn”

Sắc lệnh đã xác định: Di sản thừa kế không bao gồm nghĩa vụ tài sản, việc thanh

toán nghĩa vụ tài sản chỉ nằm trong phạm vi di sản thừa kế để lại

Giai đoạn này, di sản thừa kế còn bao gồm cả đất đai, xuất phát từ đường lối chiến lược của Đảng ta, Đảng xác định vấn đề ruộng đất là một trong những vấn

đề có tính quyết định cao cho việc bảo toàn thành quả của cách mạng Do đó, Nhà nước đã ban hành Luật cải cách Ruộng đất 1953 trong đó xác lập quyền sở hữu đất đai của cá nhân Khi cá nhân đó chết, đất đai được coi là di sản thừa kế Đến khi các Hiến pháp 1959, 1980 ra đời, quan niệm về tài sản là đất đai đã có sự thay đổi Hiến

pháp 1959 quy định: “Nhà nước chiểu theo pháp luật bảo hộ quyền sử hữu ruộng

đất và các tư liệu sản xuất khác của người dân” Hiến Pháp 1980 xác định đất đai

thuộc sở hữu toàn dân, cá nhân không có quyền xác lập sở hữu đối với đất đai Vì thế, đất đai theo quy định của pháp luật không được xác định là di sản thừa kế Có

sự thay đổi trong xác định di sản thừa kế là đất đai do quan điểm về sở hữu đất đai qua các thời kỳ có nhiều thay đổi Trong giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám

1945 đến ngày 30/4/1975 thống nhất đất nước, Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 của nước ta quy định sở hữu đa cấp độ - trong đó có sở hữu công và tư nhân - về đất đai Năm 1960, miền Bắc thực hiện phong trào “hợp tác hóa” vận động nông dân đóng góp ruộng đất vào làm ăn tập thể, nhưng chế định sở hữu đất đai vẫn theo các quy định của Hiến pháp 1959 Đến năm 1987, Luật Đất đai ra đời, quy định “đất đai thuộc SHTD, do Nhà nước thống nhất quản lý” theo tinh thần Hiến pháp 1980

Để tòa án nhân dân các cấp giải quyết được tốt những tranh chấp về thừa kế

Trang 18

Thông tư số 594/NCPL ngày 27/08/1968 của TAND tối cao quy định: Các con của

người chết không phân biệt giới tính, trẻ, già, có năng lực hành vi hay không có năng lực hành vi dân sự đều được hưởng phần di sản ngang nhau; vợ hoặc chồng của người để lại di sản được thừa kế ở hàng thứ nhất cùng với các con của người đó

Tiếp đến, TAND tối cao đã ban hành Thông tư số 594/TT-TANDTC ngày 27/08/1973 hướng dẫn đường lối xét xử các tranh chấp về thừa kế; Thông tư 02/TATC ngày 28/08/1973 hướng dẫn giải quyết tranh chấp về di sản liệt sĩ; Và Thông tư số 81/TT-TANDTC của TAND tối cao ngày 24/07/1981 hướng dẫn xét

xử các tranh chấp về thừa kế

Theo các văn bản trên, di sản thừa kế không chỉ là tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân người đó để lại mà còn bao gồm cả quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại Tuy nhiên, phạm vi thực hiện nghĩa vụ chỉ là trong khối

tài sản mà người chết để lại: “Người thừa kế có quyền nhận hoặc không nhận thừa

kế Người nhận thừa kế được hưởng các tài sản và các quyên về tài sản của người chết để lại, đồng thời phải chịu trách nhiệm thi hành các nghĩa vụ về tài sản mà người chết để lại, trong phạm vi giá trị tài sản đã nhận được3” Đây là quan điểm

thứ hai về di sản thừa kế: Di sản thừa kế bao gồm tài sản và nghĩa vụ tài sản trong

phạm vi di sản của người chết để lại Khác với việc thực hiện nghĩa vụ tài sản vô

hạn ở quan điểm thứ nhất, ở đây, người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản được hưởng, họ không phải thực hiện nghĩa vụ của người chết để lại bằng tài sản riêng của mình Nhưng nội dung căn bản mà hai quan điểm này thống nhất là đều xác định nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại là di sản thừa kế

Ngày 30/8/1990, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh thừa kế PLTK được coi là một văn bản pháp luật đầy đủ và có hệ thống nhất về lĩnh vực thừa kế Pháp lệnh quy định về di sản tại Điều 4 như sau: Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác, quyền về tài sản do người chết để lại Tài sản gồm có tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, các thu nhập hợp pháp Như vậy, đáng lưu ý trong quy định này là các nhà làm luật đã không dự liệu “nghĩa vụ về tài sản" là di sản thừa kế nữa Nhưng do phạm

3

Nguyên tắc chung về xét xử các tranh chấp về thừa kế - Thông tư số TANDTC của TAND tối cao ngày 24/07/1981 hướng dẫn xét xử các tranh chấp về thừa kế

Trang 19

81/TT-vi tài sản của công dân được mở rộng hơn trước, nên di sản không chỉ là đồ dùng hàng ngày, các công cụ sản xuất mà còn bao gồm cả máy móc, nhà xưởng, vốn bằng, tiền, vàng, ngoại tệ, cổ phần, cổ phiếu, tín phiếu với số lượng không hạn chế Do đó, tất cả mọi tài sản thuộc quyền sở hữu của một người sẽ là di sản khi người đó chết

Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19 tháng 10 năm 1990 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thừa kế có lưu ý trong việc xác định di sản thừa kế như sau:

- Di sản không chỉ là những đồ dùng hàng ngày, nhà ở, tư liệu sinh hoạt khác; của cải để dành; những công cụ sản xuất dùng trong những trường hợp được phép lao động riêng lẻ như trước đây, mà còn bao gồm cả những máy móc, nhà xưởng, kho tàng, nguyên vật liệu ; vốn bằng tiền, vằng, ngoại tệ, với số lượng không hạn chế; cổ phiếu v.v Do đó, tất cả mọi tài sản thuộc quyền sở hữu của một người sẽ trở thành di sản khi người đó chết

- Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân, quyền sử dụng đất được giao không phải là quyền sở hữu về tài sản của công dân nên không thể trở thành di sản khi công dân chết Các tranh chấp về di sản có liên quan đến quyền sử dụng đất được giải quyết theo quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai

- Di sản còn là những quyền về tài sản phát sinh do quan hệ hợp đồng như quyền nhận tài sản mà người chết lúc còn sống đã cho vay, gửi giữ, gửi chữa, mua ; quyền nhận tiền công lao động, tiền nhuận bút, tiền bán hoặc cho sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, tiền gửi tiết kiệm ; quyền của người chết được bồi thường thiệt hại về tài sản (như tiền bồi thường tư trang, hành

lý của hành khách bị tai nạn giao thông; các khoản bồi thường khác của người chết khi còn sống )

- Những quyền về tài sản gắn liền với người chết như quyền được hưởng trợ cấp thương tật, tiền tuất, tiền cấp dưỡng thì không phải là di sản

BLDS năm 1995 ra đời về cơ bản đã kế thừa rất nhiều các quy định của Pháp lệnh thừa kế, bởi lẽ qua thời gian áp dụng, Pháp lệnh thừa kế vẫn phù hợp với thực trạng của quan hệ thừa kế Tại khoản 2 Điều 637 BLDS năm 1995 đã bổ sung

Trang 20

một nội dung mới có tính chất rất đặc biệt so với các văn bản qui định về di sản trước đây, đó là "quyền sử dụng đất cũng là di sản thừa kế”

Đối với vấn đề Di sản thừa kế thì Điều 634 BLDS năm 2005 qui định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác So với Điều 637 BLDS năm 1995, qui định này đã lược

bỏ phần “quyền sử dụng đất cũng là di sản thừa kế”, lược bỏ phần này là hợp lý, vì tại Điều 163 BLDS 1995 đã qui định tài sản bao gồm cả “quyền tài sản” mà quyền tài sản trong đó có quyền sử dụng đất Cả hai điều luật kể trên đều qui định nghĩa vụ

về tài sản không phải là di sản thừa kế

BLDS 1995 qui định người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ do người

chết để lại trong “phạm vi di sản” mà họ được hưởng BLDS 2005 đã bổ sung cụm

từ “trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Đây chỉ là sự thay đổi nhỏ, nhưng lại có ý

nghĩa rất lớn về pháp lý Về nguyên tắc, nghĩa vụ của người thừa kế đối với khoản

nợ do người chết để lại vẫn nằm trong giới hạn và theo tỷ lệ di sản mà họ nhận được từ người chết, nhưng phạm vi này có thể không tương ứng với tỷ lệ di sản, thậm chí có thể lớn hơn phần di sản mà người thừa kế thực tế được hưởng, nếu các bên có thỏa thuận khác Đây là một qui định mềm dẻo, vừa bảo vệ được quyền lợi chính đáng của những người thừa kế và quyền lợi chính đáng của chủ nợ, vừa đề cao nguyên tắc tự định đoạt trong quan hệ dân sự Quy định này thể hiện tư tưởng tiến bộ, phù hợp với xu thế chung của pháp luật dân sự trên thế giới, tôn trọng và

đề cao nguyên tắc tự do, tự nguyện trong các quan hệ dân sự

Tính từ khi Pháp lệnh thừa kế ra đời đến các BLDS sau này thì quan điểm

thứ ba về di sản thừa kế được giữ nguyên: Quan điểm thứ ba xác định di sản thừa

kế chỉ bao gồm các tài sản của người chết để lại mà không bao gồm các nghĩa vụ tài sản Quan điểm này không phủ nhận việc thực hiện tiếp các nghĩa vụ của người chết đối với các nghĩa vụ tài sản mà khi còn sống người chết chưa hoàn thành Tuy nhiên, quan điểm này cho rằng, việc thực hiện nghĩa vụ này phải tiến hành trước khi xác định di sản thừa kế Trong khối tài sản của người chết thì phần tài sản để thực hiện nghĩa vụ tài sản và phần tài sản được coi là di sản thừa kế là hai phần riêng biệt

Như vậy, trong quá trình lịch sử phát triển về pháp luật thừa kế, các quy định

Trang 21

về di sản thừa kế đã nhiều lần thay đổi4:

- Thứ nhất là giai đoạn phong kiến: Di sản thừa kế bao gồm tài sản và các nghĩa vụ tài sản của người chết để lại

- Giai đoạn 1950-1968: giai đoạn trước khi Thông thư 594 được ban hành, theo quy định tại sắc lệnh 97 thì di sản thừa kế chỉ bao gồm tài sản, quyền tài sản,

mà không bao gồm nghĩa vụ tài sản của người chết để lại

- Giai đoạn 1968-1990: trước khi Pháp lệnh thừa kế 1990 được ban hành thì trong các Thông tư số 594, thông tư 81 đều có hướng dẫn xác định di sản thừa kế bao gồm toàn bộ tài sản, quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản của người chết để lại

- Giai đoạn 1990-1995: Từ khi Pháp lệnh thừa kế được thi hành (10/09/1990) đến khi BLDS có hiệu lực pháp luật (1-7-1996), thì di sản thừa kế được quy định chỉ bao gồm: Tài sản, quyền tài sản của một người để lại mà không bao gồm các nghĩa vụ tài sản của người đó

- Giai đoạn Từ 1/07/1996 đến nay: Kể từ khi BLDS 1995 được ban hành và có hiệu lực pháp luật, có cách xác định di sản thừa kế tương tự Pháp lệnh thừa kế, các quy định về phần thứ tư BLDS 2005 về cơ bản vẫn giữ nguyên như trong quy định BLDS năm 1995 và có một số thay đổi nhỏ để khắc phục những vướng mặc trong quá trình giải quyết các tranh chấp thừa kế trong thời gian qua Bộ luật Dân sự 2015 về thừa kế tiếp tục hoàn thiện các quy định về thừa kế, quan điểm về di sản thừa kế tiếp tục quy định là tài sản của người chết mà không bao gồm nghĩa vụ tài sản Như vậy, kể từ Pháp lệnh thừa kế đến các Bộ luật dân sự thì di sản thừa kế đều được xác định là toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người chết mà không bao gồm các nghĩa vụ tài sản

Hiện nay, khoa học pháp lý thừa nhận quan điểm thứ ba rằng nghĩa vụ tài sản không được coi là di sản thừa kế bởi lẽ:

- Với ý nghĩa thừa kế là việc được hưởng tài sản do người chết để lại, thì không thể tư duy theo hướng người thừa kế, người hưởng di sản “được hưởng nghĩa vụ tài sản”

- Về phương diện pháp lý, nếu quan niệm di sản thừa kế mà người chết để lại không chỉ bao gồm tài sản, quyền tài sản mà còn bao gồm cả các nghĩa vụ tài sản của người đó để lại, thì vấn đề thanh toán và phân chia di sản thừa kế được hiểu như

4

Phùng Trung Tập, Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Luận án Tiến sỹ

2002

Trang 22

thế nào? Thực tế các điều luật5 cũng thể hiện rằng trước khi chia di sản, những người thừa kế phải thanh toán các nghĩa vụ của người chết Việc thực hiện nghĩa vụ không phải với tư cách là chủ thể của nghĩa vụ do họ xác lập mà là thực hiện các nghĩa vụ do người chết để lại bằng chính di sản của người chết

Theo qui định tại Điều 615 BLDS năm 2015, thì việc thực hiện nghĩa vụ tài

sản thuộc về những người hưởng di sản thừa kế: "Những người hưởng thừa kế có

trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại ”

Qui định này cần được hiểu là người hưởng thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại không phải với tư cách là chủ thể mới “bước vào quan hệ nghĩa vụ”, có nghĩa là họ không thay thế vị trí chủ thể Họ thực hiện nghĩa vụ tài sản bằng tài sản của người chết để lại, hay nói cách khác, họ phải trả nợ chỉ vì họ tiếp nhận tài sản có của người chết để lại (nợ của người chết không phải là nợ của người hưởng di sản) Sau khi thanh toán toàn bộ nghĩa vụ của người chết để lại và những chi phí liên quan đến di sản thừa kế, nếu tài sản không còn (nghĩa vụ tài sản và các chi phí khác bằng hoặc lớn hơn khối tài sản mà người chết để lại) thì khi đó không còn tài sản để chia thừa kế và như vậy thì không có quan hệ nhận di sản thừa kế

Theo qui định tại Điều 620 BLDS năm 2015 thì người thừa kế có quyền nhận hoặc từ chối tiếp nhận di sản Nếu nhận di sản thì phải thực hiện việc nợ thay cho người để lại di sản Nếu từ chối nhận di sản cũng có nghĩa từ chối nghĩa vụ tài sản của người chết, họ không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản người chết, vì không phải là món nợ của bản thân họ Điều này chứng tỏ rằng, người thừa kế không buộc phải nhận di sản để rồi phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết cho tài sản Nếu quan niệm nghĩa vụ tài sản là di sản thừa kế thì trong mọi trường hợp chủ nợ đều có quyền yêu cầu người thừa kế thực hiện việc trả nợ Ở đây phải coi nghĩa vụ

đó là của chính bản thân người chết, phải dùng di sản của người chết để thanh toán

Nghĩa vụ tài sản của người chết thực sự là món nợ của người đó lúc còn sống phát sinh từ những hành vi pháp lý của họ Vì thế, phải coi nghĩa vụ đó là của chính bản thân người chết và phải được thanh toán bằng tài sản của người chết, lúc này là di sản của họ để thanh toán Nếu sau khi đã thanh toán các khoản nghĩa vụ này và các chi phí khác liên quan mà vẫn còn di sản để chia thì phần di sản này mới được coi là di sản thừa kế Trong đó có thể có phần di sản dành cho người thừa kế

Trang 23

không phụ thuộc vào di chúc, di sản thờ cúng, di sản dành cho di tặng, phần di sản dành cho những người thừa kế

Như vậy, di sản thừa kế không bao gồm nghĩa vụ tài sản của người chết mà chỉ bao gồm tài sản, các quyền tài sản được xác lập dựa trên những căn cứ hợp pháp

mà người chết để lại cho những người hưởng thừa kế Hiểu một cách tổng quan nhất thì di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết để lại cho những người có quyền hưởng thừa kế mà không bao gồm nghĩa vụ tài sản của người đó

Chúng ta có thể nêu khái niệm di sản thừa kế như sau: Di sản thừa kế là

toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết để lại, là đối tượng dịch chuyển tài sản của người chết sang cho những người hưởng thừa kế, được nhà nước thừa nhận và đảm bảo thực hiện 6

Từ khái niệm di sản thừa kế trên đây chúng ta có thể làm rõ được các vấn

đề sau:

Thứ nhất, xác định di sản thừa kế chỉ đặt ra khi người để lại di sản chết Nói cách khác quan hệ thừa kế phát sinh bằng một sự kiện pháp lý là người để lại di sản chết Cái chết ở đây không chỉ là cái chết về mặt sinh học mà còn có thể là cái chết về mặt pháp lý được quy định theo pháp luật khi một người bị tuyên bố là đã chết Sau khi người để lại di sản chết thì việc làm đầu tiên là phải xác định được tài sản nào là di sản của người chết để lại Qua đó xác định được chính xác khối di sản

mà người chết để lại, đảm bảo đúng phần di sản mà người chết đã để lại hoặc đã định đoạt bằng di chúc cho từng người thừa kế Di sản phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế, nếu không thì sẽ coi như người chết không để lại di sản Có nhiều trường hợp người chết khi còn sống đã liệt kê và định đoạt nhiều loại tài sản thông qua di chúc cho từng người thừa kế, nhưng nếu tính đến thời điểm người đó chết, tài sản đó không còn thì coi như họ không để lại di sản thừa kế

Thứ hai, di sản thừa kế phải là tài sản thuộc sở hữu của người chết, do

người đó tích lũy và có được một cách hợp pháp Đặc trưng của di sản thừa kế là chịu

sự điều chỉnh của chế định thừa kế cũng như chế định về sở hữu, ngoài ra còn có các

6

Trần Thị Huệ (2007), Di sản thừa kế trong pháp Luật Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Đại học

Luật Hà Nội

Trang 24

chế định riêng đối với các loại tài sản đặc biệt như quyền sử dụng đất, quyền tài sản khác… Như đã phân tích, di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người chết để lại khi người đó chết Để xác định được đó là tài sản của người chết để lại cần làm rõ các căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản Khi có các căn cứ xác lập sở hữu thì một tài sản mới được pháp luật công nhận thuộc khối di sản mà người chết để lại Đây là điều kiện cần thiết để xác định được đúng khối lượng di sản bởi vì trên thực tế hiện nay, các dạng tài sản ngày càng đa dạng phong phú, không giải quyết được vấn

đề về xác định quyền sở hữu đối với tài sản sẽ dẫn đến xác định sai khối lượng di sản

Thứ ba, di sản thừa kế không bao gồm nghĩa vụ tài sản của người chết để lại mà chỉ bao gồm tài sản, các quyền tài sản được xác lập dựa trên căn cứ hợp pháp

mà người chết để lại cho những người hưởng thừa kế Nhưng nói vậy không có nghĩa người hưởng thừa kế không chịu trách nhiệm gì về nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại mà người hưởng thừa kế thực tế sẽ thực hiện nghĩa vụ tài sản đó chỉ trong phạm vi tài sản thừa kế người chết để lại mà thôi Những người hưởng thừa

kế có quyền nhận hoặc từ chối nhận di sản của người chết để lại, qua đó sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại, trừ trường hợp người nhận thừa kế tự nguyện

1.3 Một số đặc trƣng của di sản thừa kế:

Thứ nhất, di sản thừa kế là tài sản thuộc sở hữu của người chết: Di sản thừa

kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết để lại do đó, cần phải căn

cứ vào các quy định về quyền sở hữu tài sản của cá nhân do pháp luật ghi nhận Tùy từng chế độ chính trị khác nhau mà căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với tài sản của

cá nhân là khác nhau Nội dung các căn cứ đó có bao quát hay hạn hẹp, cụ thể hay khái lược đều được thể hiện quan điểm của giai cấp thống trị và phù hợp với thực tế

xã hội ở thời điểm nhất định Ví dụ, pháp luật hiện hành quy định tại Điều 170, BLDS 2015 - Quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong các trường hợp sau đây:

- Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp: Công dân bằng sức lao động của mình tạo ra các sản phẩm, các thành quả lao động thì họ hoàn toàn có quyền sở hữu đối với những tài sản được tạo ra bằng chính lao động của họ

Trang 25

- Được chuyển quyền sở hữu theo thoả thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Thỏa thuận là cơ sở của hợp đồng, việc thỏa thuận này của các bên với mục đích hợp pháp là chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác thông qua các hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay… Là cách thức thực hiện hành vi pháp lý phổ biến nhất làm phát sinh quyền

sở hữu của chủ thể Người được chuyển giao tài sản thông qua các hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay là cách thức thực hiện hành vi pháp lý phổ biến nhất làm phát sinh quyền sở hữu của chủ thể Người được chuyển giao tài sản thông qua các hợp đồng dân sự hợp pháp thì có quyền sở hữu tài sản đó kể từ thời điểm nhận tài sản nếu không có thỏa thuận hoặc pháp luật không có quy định khác

- Thu hoa lợi, lợi tức: Chủ sở hữu, người sử dụng tài sản có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản mà họ có quyền sở hữu Đó là nguồn tài sản liên quan đến vật ban đầu tạo ra hoa lợi, lợi tức đó

- Tạo thành vật mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến: Do có các sự kiện này

mà tài sản của nhiều chủ sở hữu tạo thành vật mới Vật mới có thể là chung hay riêng của sở hữu chủ

- Được thừa kế tài sản: Người được thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật là chủ sở hữu tài sản được thừa kế do người chết để lại

- Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với vật vô chủ, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên;

- Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai phù hợp với thời hiệu quy định

- Các trường hợp khác do pháp luật quy định

Như vậy theo quy định này thì những tài sản nào mà không được xác lập dựa trên các căn cứ trên đây thì quyền sở hữu của cá nhân sẽ không được pháp luật thừa nhận và đảm bảo với tư cách là chủ sở hữu

Thứ hai, yếu tố giá trị của di sản: Di sản thừa kế là các tài sản thuộc sở hữu

của người chết, nó có thể mang giá trị vật chất, cũng có thể là giá trị tinh thần đối với những người được hưởng thừa kế Xét trên phương diện đạo đức, xã hội: Di sản thừa kế là của cải, vật chất mang giá trị vật chất và tinh thần, là phương tiện để thực

Trang 26

hiện bổn phận tiếp theo của người chết đối với gia tộc, họ hàng, gia đình Về phương diện kinh tế đó là của cải vật chất để người sau sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và tiêu dùng

Thứ ba, yếu tố lưu truyền, dịch chuyển tài sản: Sự dịch chuyển tài sản từ cá

nhân này qua cá nhân khác trong phân chia di sản thừa kế dựa trên sự kiện pháp lý

là người có tài sản chết Sự chuyển dịch tài sản trên thực tế không diễn ra ngay tại thời điểm mở thừa kế khi mà người có tài sản chết, nhưng quyền người định đoạt tài sản của người chết cũng như quyền nhận di sản thừa kế thì đã được công nhận kể từ thời điểm mở thừa kế

Để xác định được sự dịch chuyển của di sản thừa kế chúng ta cần làm rõ thời điểm mở thừa kế: Thời điểm mở thừa kế là thời điểm phát sinh quan hệ thừa

kế Theo quy định của pháp luật tại khoản 1, Đ611 BLDS 2015 quy định: Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này

Việc xác định thời điểm mở thừa kế là rất quan trọng Kể từ thời điểm đó xác định được chính sác tài sản, quyền, nghĩa vụ về tài sản của người để lại thừa kế gồm những gì và đến khi chia di sản còn bao nhiêu Thời điểm mở thừa kế là căn cứ xác định những người thừa kế của người đã chết, vì người thừa kế phải là cá nhân còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điêm mở thừa

kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết

Trong trường hợp tòa án tuyên bố một người là đã chết thì tùy từng trường hợp tòa án xác định ngày chết của người đó, nếu không xác định được ngày chết thì ngày mà quyết định của tòa án tuyên bố người đó đã chết có hiệu lực pháp luật được coi là ngày người đó chết

Quyền hưởng di sản và thực hiện quyền hưởng di sản được diễn ra ở hai thời điểm khác nhau Nếu quyền hưởng di sản và thực hiện quyền hưởng di sản diễn

ra cùng một thời điểm (thời điểm mở thừa kế) chỉ đúng trong một phạm vi rất hẹp

Đó là, di sản đang nằm trong tay, đang nằm trong sự chiếm hữu một cách hợp pháp của người hưởng di sản (người có quyền hưởng thừa kế) và loại tài sản này không

bị phân chia và không phải đăng ký quyền sở hữu Chẳng hạn, người hưởng thừa kế đang giữ một khoản tiền, một số đồ trang sức hoặc một số đồ dùng khác mà các

Trang 27

tài sản này là phần mà chính họ được hưởng thừa kế Theo quy định tại Điều 614

Bộ luật dân sự thì kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại Mặc dù về nguyên tắc, người có quyền hưởng

di sản có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế bất cứ lúc nào, kể từ thời điểm mở thừa

kế, nhưng việc chia thừa kế không thể diễn ra ngay sau khi người có tài sản chết

Khi quan hệ pháp luật thừa kế phát sinh thì việc làm đầu tiên là xác định di sản của người đó để lại Tại thời điểm này phải xác định được tài sản nào được coi

là di sản của người chết để lại Việc xác định di sản thừa kế vào thời điểm mở thừa

kế ý nghĩa trong việc xác định chính xác khối di sản mà người chết để lại, đảm bảo đúng phần di sản mà từng người thừa kế được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật Đồng thời xác định được ai là người thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại nếu di sản gây thiệt hại Chẳng hạn như nhà bị đổ, cây bị gãy và nếu dùng tài sản

để bồi thường, thì lấy tài sản đó từ đâu? Từ một người thừa kế hay của tất cả những người thừa kế? Lấy từ khối di sản hay từ tài sản thuộc sở hữu riêng của người thừa

kế Cũng từ đó để xác định 2/3 của một suất thừa kế theo luật thì lấy tổng di sản từ thời điểm mở thừa kế trở về trước hay tính cả những tài sản phát sinh sau thời điểm

mở thừa kế để xác định Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến phần của từng người thừa kế, kể cả người được di tặng và cả những người được hưởng kỷ phần bắt buộc

Thứ tư, sự chuyển giao di sản thừa kế được pháp luật bảo hộ và công nhận:

Nghiên cứu cho thấy rằng từ thời sơ khai của xã hội loài người, quan hệ sở hữu và quan hệ thừa kế đã xuất hiện như một yếu tố khách quan, một đòi hỏi tất yếu của xã hội và có mối quan hệ ràng buộc, qua lại với nhau, bởi lẽ quan hệ thừa kế tài sản chỉ hình thành và phát triển trong xã hội có chế độ tư hữu về tài sản Khi chưa có nhà nước thì thừa kế được dịch chuyển theo phong tục, tập quán của các thị tộc, bộ lạc, khi nhà nước xuất hiện quá trình dịch chuyển này đã có sự tác động từ ý chí nhà nước Quyền thừa kế chỉ xuất hiện khi có sự xuất hiện của nhà nước và pháp luật Bằng việc ban hành các văn bản pháp luật, Nhà nước quy định quyền để lại thừa kế

và nhận thừa kế của các chủ thể, quy định trình tự và điều kiện dịch chuyển tài sản cũng như quy định các phương thức dịch chuyển tài sản từ người này sang người khác Quan hệ thừa kế không đơn thuần chỉ là một phạm trù kinh tế mà đã trở thành một phạm trù pháp luật

Thứ năm, di sản thừa kế bao gồm nhiều loại tài sản được hình thành từ nhiều thành phần: Di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng của người chết, tài sản

Trang 28

chung của người chết trong khối tài sản chung với người khác, quyền tài sản Từ các thành phần trên, hình thức của di sản cũng vô cùng đa dạng Pháp luật quy định tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Xã hội ngày càng phát triển thì hình thức của các loại tài sản cũng ngày càng gia tăng Cùng với các chủ trương của Nhà nước trong việc đổi mới về kinh tế, do đó, phạm vi những tài sản thuộc quyền

sở hữu của công dân đã được mở rộng hơn trước Vì vậy di sản không chỉ là những

đồ dùng hàng ngày, nhà ở, tư liệu sinh hoạt khác, của cải để dành; những công cụ sản xuất dùng trong những trường hợp được phép lao động riêng lẻ như trước đây, mà còn bao gồm cả những máy móc, nhà xưởng, kho tàng, nguyên vật liệu ; vốn bằng tiền, vằng, ngoại tệ, với số lượng không hạn chế; cổ phiếu, quyền tài sản

v v Do đó, tất cả mọi tài sản thuộc quyền sở hữu của một người sẽ trở thành di sản khi người đó chết Một số hình thức đặc biệt của di sản thừa kế như quyền sử dụng đất, quyền về tài sản phát sinh do quan hệ hợp đồng như quyền nhận tài sản

mà người chết lúc còn sống đã cho vay, gửi giữ, gửi chữa, mua ; quyền nhận tiền công lao động, tiền nhuận bút, tiền bán hoặc cho sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, tiền gửi tiết kiệm ; quyền của người chết được bồi thường thiệt hại về tài sản (như tiền bồi thường tư trang, hành lý của hành khách bị tai nạn giao thông; các khoản bồi thường khác của người chết khi còn sống )

Trang 29

CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH DI SẢN THỪA KẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA

PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 2.1 Các dạng tài sản là di sản thừa kế:

Di sản thừa kế là một vấn đề hết sức phức tạp, về vấn đề này có nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí ngay trong pháp luật qua mỗi thời kì cũng quy định khác nhau Cùng với sự phát triển của nền kinh tế- xã hội của nước ta sau hơn sáu mươi năm qua, với những chính sách phát triển, đổi mới đất nước, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần… đến nay thành phần, khối lượng, giá trị tài sản thuộc quyền sở hữu tư nhân- nguồn của di sản thừa kế cũng ngày một phong phú, nhiều hơn và lớn hơn

Ở Chương I, luận văn đã đưa ra được khái niệm của di sản thừa kế, theo đó di sản thừa kế là tài sản thuộc quyền sở hữu của người để lại di sản khi còn sống Theo

quy định tại Đ164 BLDS 2015: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền

tài sản” Như vậy, di sản thừa kế bao gồm rất nhiều các dạng tài sản, các loại tài sản

khác nhau và không bị hạn chế về số lượng, giá trị, có thể phân loại như sau:

2.1.1 Di sản là các tài sản tồn tại ở dạng vật

Vật là một bộ phận của thế giới vật chất đa dạng, trong sự so sánh với các thành phần khác thì con người có thể chiếm hữu vật và sử dụng nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của mình cả về vật chất lẫn tinh thần BLDS hiện nay đã có sự mở rộng phạm vi về vật từ “vật có thực” trong các bộ luật dân sự trước sang “vật” là tài sản Như vậy, vật có thể là vật hiện hữu cũng có thể là vật được hình thành trong tương lai Để được xác định là vật thì phải thỏa mãn những điều kiện sau:

- Vật đó phải tồn tại khách quan, có thể đang hiện hữu ở hiện tại hoặc được xác định chắc chắn sẽ hình thành;

- Con người phải chiếm hữu, kiểm soát được;

- Vật đó phải xác định được giá trị (trao đổi hoặc thanh toán), vật đó phải khai thác công dụng, đáp ứng được nhu cầu nhất định về vật chất và tinh thần của con người

- Vật đó được phép lưu thông dân sự, có thể trao đổi được cho nhau dưới dạng vật chất hay quy đổi được bằng tiền

Trang 30

Như vậy, có thể đưa ra một định nghĩa khái quát chung về vật trong quan hệ pháp luật dân sự như sau: Vật là một bộ phận của thế giới vật chất mà con người có thể chiếm hữu được, vật mang giá trị sử dụng, được con người sử dụng nhằm mục đích đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình

Công dân có quyền sở hữu nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, trong doanh nghiệp hoặc trong tổ chức kinh tế khác …ở dưới hình thức là vật Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu tài sản của công dân, khi người này chết, các tài sản là vật sẽ được xác định là di sản thừa kế Tài sản ở dạng vật tương đối phong phú như xe cộ, nhà cửa, tài sản gắn với nhà cửa, máy móc, nhà xưởng, tư liệu sản xuất, vàng, bạc, trang sức bằng vàng bạc, bạch kim và kim cương….Đối với các tài sản có hình thức

là vật, để chứng minh quyền sở hữu thì phụ thuộc vào từng đối tượng, có đối tượng như đồ dùng sinh hoạt, tài sản thông thường chỉ cần nằm trong sự chiếm hữu của người chết, cũng có những tài sản phải được đăng ký sở hữu trước cơ quan có thẩm quyền như xe máy, ô tô, nhà ở… Một số tài sản là vật đặc biệt như vàng, bạc, bạch kim, kim cương cũng được Nhà nước công nhận quyền sở hữu chính đáng theo các quy định chuyên ngành Ví dụ: Nhà nước quy định người có vàng bạc, bạch kim, kim cương phải kê khai để Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu (theo Quyết định

số 39-CP ngày 9-2-1979 của Hội đồng Chính phủ) Khi chủ sở hữu chủ chết, các tài sản trên được để làm di sản thừa kế như các tài sản hợp pháp khác Những thứ không được kê khai và không có giấy chứng nhận hợp lệ thì Tòa án cần trao đổi với Ngân hàng về chủ trương giải quyết Tuy nhiên, nếu số lượng ít (vàng từ 37,5 g, bạch kim 37,5 g, bạc 375 g, kim cương 0,600 g trở xuống) thì Tòa án cứ chia di sản thừa kế và báo cho người được nhận di sản thừa kế đến Ngân hàng kê khai

2.1.2 Di sản là các tài sản tồn tại ở dạng tiền

Theo quan niệm của Mác, tiền là tất cả những phương tiện có thể làm trung gian trao đổi được nhiều người thừa nhận Tiền là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong thanh toán để đối lấy hàng hoá, dịch vụ hoặc trả các khoản nợ Trong BLDS hiện hành không có những quy định để làm rõ bản chất của tiền, tuy nhiên,

thông qua các quan niệm thì có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất về tiền: Tiền

được sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác và nó phải có giá trị lưu hành trên thị trường Như vậy, chỉ có loại tiền đang được lưu hành tức là được

pháp luật thừa nhận mới được coi là một loại tài sản Trên thế giới hiện nay có rất

Trang 31

nhiều các loại tiền, đối với Việt Nam, ngoại hối được sử dụng trong một số trường hợp ở mức độ hạn chế hơn so với đồng tiền Việt Nam Điều 22 Pháp lệnh ngoại hối

2005 sửa đổi bổ sung 2013 đã quy định về hạn chế sử dụng ngoại hối, cụ thể: “Trên

lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người

cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”

Bản chất pháp lý: Tiền là một loại tài sản đặc biệt được dùng để xác định giá trị của các loại tài sản thông qua đó có thể biết được tài sản nào có giá trị hơn Như vậy, việc tất cả các tài sản đều có thể quy đổi ra tiền đã tạo nên tính đặc biệt của loại tài sản này Tiền có chức năng là công cụ thanh toán đa năng, công cụ tích lũy tài sản, thước đo giá trị

Theo quy định của BLDS 2015 thì tiền và vật cùng là tài sản, nhưng giữa chúng lại có một số điểm khác biệt về đặc điểm pháp lý như sau:

Thứ nhất, đối với vật thì chúng ta có thể khai thác công dụng hữu ích từ chính vật đó (dùng nhà để ở, dùng xe để đi…) Còn đối với tiền thì không thể khai thác công dụng hữu ích trực tiếp Tiền có ba chức năng chính là: công cụ thanh toán

đa năng, công cụ tích lũy tài sản và công cụ định giá các loại tài sản khác Khái niệm “quyền sử dụng” chỉ áp dụng được một cách trọn vẹn cho vật chứ không áp dụng được cho tiền

Thứ hai, các vật thông thường có thể do rất nhiều chủ thể khác nhau làm ra, còn tiền thì chỉ do nhà nước độc quyền phát hành

Thứ ba, vật được xác định số lượng bằng những đơn vị đo lường thông dụng như kilogram, mét, lít,… còn tiền lại được xác định số lượng thông qua mệnh giá

Thứ tư, chủ sở hữu vật được toàn quyền tiêu hủy vật thuộc sở hữu của mình, còn chủ sở hữu tiền lại không được pháp luật quy định quyền ấy, thậm chí có thể bị sử lý hình sự với việc tiêu hủy tiền, làm giả tiền, thay đổi hình dạng tiền7

7Khoản 1, Điều 143 BLHS 2005 Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án

Trang 32

Tiền là di sản thừa kế có thể là tiền do họ tích trữ tại nhà, tiền gửi tại các ngân hàng, tiền lãi do gửi ngân hàng…khi người để lại di sản chết thì toàn bộ tiền thuộc sở hữu của họ sẽ được coi là di sản thừa kế Đối với dạng tiền là tài sản được người chết tích lũy, có thể có những dạng tiền cổ, không còn được dùng để thanh toán, lưu thông trên thị trường thì các đối tượng này không được coi là di sản thừa

kế dưới dạng tiền vì như đã nói ở trên chỉ có loại tiền đang được lưu hành tức là được pháp luật thừa nhận tại thời điểm đó mới được coi là một loại tài sản Đối với những đối tượng này, trên thực tế có giá trị rất cao đối với những người sưu tập tiền

cổ, nhưng việc định giá là rất khó vì liên quan đến yếu tố sở thích, phong cách, không có giá trị ổn định như các dạng tài sản khác Theo quan điểm cá nhân tác giả, trong trường hợp đó, số tiền cổ sẽ được coi là di sản thừa kế ở dạng vật, nếu các bên không thỏa thuận được việc chia tài sản đó thì số tiền đó sẽ được chia như nguyên tắc chia tài sản là vật

2.1.3 Di sản là các tài sản tồn tại ở dạng giấy tờ có giá

Theo định rộng, giấy tờ có giá nói chung được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định xét trong mối quan hệ pháp lí với các chủ thể khác Với chức năng là một công cụ tín dụng thì giấy

tờ có giá gồm: hối phiếu nhận nợ, hối phiếu đòi nợ, séc… Với chức năng là phương tiện tín dụng là các loại hàng hóa được ghi giá trên thị trường tài chính, bao gồm các phương tiện ngắn hạn như các chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, kì phiếu và các phương tiện tín dụng dài hạn Với chức năng là công cụ tài chính, giấy tờ có giá gồm: cổ phiếu và trái phiếu

Theo nghĩa hẹp, tại khoản 1 Điều 4 Quyết định số 02/2005/QĐ– NHNN:

“Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong

đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua”

Khoản 8, Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010 đã định nghĩa:

“Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành

giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều

về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến

ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

Trang 33

kiện trả lãi và các điều kiện khác.” Dựa trên các quy định pháp luật hiện hành, thì

“giấy tờ có giá” bao gồm: hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc và các công cụ chuyển nhượng khác (Điều 1, luật Các công cụ chuyển nhượng 2005); trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu (điểm c, khoản 1, điều 4 Pháp lệnh ngoại hối 2005); tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và các công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ (khoản 16, điều 3 Luật Quản lý nợ công 2009); các loại chứng khoán (khoản 1, điều 6 Luật Chứng khoán); trái phiếu doanh nghiệp (điều

2 Nghị định số 52/2006/NĐ-CP của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp) Có thể thấy, xuất phát từ định nghĩa về “giấy tờ có giá” tại khoản 8, điều

6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010 cũng như từ thực tiễn đời sống pháp lý, thực chất, “giấy tờ có giá” luôn được tiếp cận dưới ý nghĩa là một “quyền tài sản”, giá trị tài sản không nằm trực tiếp trên các loại giấy tờ này, mà chúng chỉ đơn thuần

là những “bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ”, các chủ thể không thể khai thác trực tiếp công năng của các loại giấy tờ này mà thực tế họ chỉ khai thác quyền tài sản được ghi nhận trong các “giấy tờ có giá” đó

Tuy nhiên trong pháp luật dân sự không phải loại giấy tờ có giá nào cũng được coi là một loại tài sản trong giao lưu dân sự Cần lưu ý với các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy đăng ký ô tô, sổ tiết kiệm… không được coi là giấy tờ có giá Nếu cần phải xem xét thì đó chỉ đơn thuần được coi là một vật chứng quyền và thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó

Giấy tờ có giá có một số đặc điểm sau:

- Giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định;

- Nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tài sản, giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ;

- Giấy tờ có giá có tính thanh khoản và công cụ có thể chuyển nhượng toàn

bộ một lần, việc chuyển nhượng một phần giấy tờ có giá là vô hiệu

Khác với tiền chỉ do cơ quan duy nhất là Ngân hàng Nhà nước ban hành thì giấy tờ có giá có thể do rất nhiều cơ quan ban hành như Chính phủ, ngân hàng, kho bạc, các công ty cổ phần,…; nếu tiền luôn có mệnh giá nhất định thể hiện thước đo giá trị, không ghi danh thì giấy tờ có giá có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh

Trang 34

giá, có thể có thời hạn sử dụng, có thể ghi danh hoặc không ghi danh và việc thực hiện quyền định đoạt về số phận thực tế đối với giấy tờ có giá cũng không bị hạn chế như việc định đoạt tiền

Trong góc độ so sánh: Giấy tờ có giá và vật cùng là tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự nên chúng có điểm giống nhau đó là: đều là động sản trong cách phân loại thành bất động sản và động sản; đều là loại tài sản hữu hình Tuy nhiên, đối với vật có thể xác định số lượng, giá trị thông qua những đơn vị đo lường thông dụng (kg, ml…) Trong khi đó các loại giấy tờ có giá được xác định giá trị thông qua giá trị ghi trên loại giấy tờ có giá đó (séc…), nhưng có loại giá trị của nó có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị bề ngoài của nó (cổ phiếu…) Bên cạnh đó, chúng ta

có thể khai thác công dụng hữu ích trực tiếp từ chính vật đó, còn đối với giấy tờ có giá thì không thể có điều này… Ngoài ra, chủ sở hữu vật được toàn quyền đối với vật thuộc sở hữu của mình, còn chủ sở hữu giấy tờ có giá thì bị hạn chế quyền này Giấy tờ có giá cũng chỉ có thể do một số chủ thể có quyền nhất định phát hành theo pháp luật

Như vậy, cá nhân trên thực tế có thể sở hữu rất nhiều các loại giấy tờ có giá như họ mua trái phiếu Chính Phủ, tham gia cổ phiếu, kỳ phiếu của các công ty, mua các loại chứng khoán… Khi họ chết các dạng giấy tờ có giá trên đều được coi là di sản thừa kế Để nhận thừa kế các dạng tài sản là giấy tờ có giá thì tùy từng loại giấy

tờ sẽ có thủ tục riêng Ví dụ các loại trái phiếu không ghi tên thì người thừa kế có thể nhận thanh toán giá trị trực tiếp, có những giấy tờ phải đến các phòng giao dịch chứng khoán để được hướng dẫn thủ tục

2.1.4 Di sản là các tài sản tồn tại ở dạng quyền tài sản

Khái niệm quyền tài sản đã được đưa vào BLDS năm 1995, và đến BLDS

2005 thì quy định trong Điều 181: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và

có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ” Quyền tài

sản được quy định tại Điều 115 BLDS 2015 như sau: “Quyền tài sản là quyền trị

giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”

Quyền tài sản có đặc điểm pháp lý sau:

Trang 35

- Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền (quyền sở hữu trí tuệ, sử dụng đất…); có thể dùng là đối tượng trong giao lưu dân sự hoặc là quyền của chủ thể trong một số quan hệ dân sự tuyệt đối

- Khác với các loại tài sản khác, quyền tài sản là tài sản vô hình Nếu như giấy tờ có giá là một vật (tức là một tờ giấy được xác định giá trị) thì quyền tài sản hoàn toàn là một vật vô hình Đối với giấy tờ có giá có thể thực hiện quyền chiếm hữu và quyền định đoạt thì đối với quyền tài sản chúng ta không thực hiện được chức năng này Quyền tài sản chỉ mang lại lợi ích cho chủ thể khi chúng được chuyển giao cho một chủ thể khác qua việc mua bán quyền tài sản Giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản trong giao lưu dân sự chính là giấy tờ chính minh cho quyền tài sản

vô danh, giá trị của tờ giấy có giá trị bằng với giá trị của quyền tài sản đó

Hiện nay, pháp luật dân sự Việt Nam công nhận một số quyền tài sản là tài

sản như: quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên; quyền yêu cầu

bồi thường thiệt hạn đối với tài sản bị xâm phạm; quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với vật bảo đảm; quyền tài sản đối với phần góp vốn trong doanh nghiệp; quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng Những

quyền nói trên đều có thể trở thành di sản thừa kế

Trên đây, luận văn đã chỉ ra được các dạng tài sản là di sản thừa kế theo quy định của pháp luật hiện hành, khẳng định lại nhận định rằng, di sản thừa kế có nhiều dạng, nhiều thành phần và không bị hạn chế về số lượng Ngoài ra, một vấn

đề quan trọng có liên quan đến việc xác định di sản thừa kế là những tài sản phát sinh sau khi người có tài sản chết, có thuộc di sản thừa kế hay không? Về nguyên tắc, di sản thừa kế được xác định tại thời điểm mở thừa kế Vì theo nguyên lý chung, một người phải còn sống mới xác lập thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong các quan hệ pháp luật, trong đó có quan hệ pháp luật về sở hữu

Có quan điểm cho rằng, tất cả các tài sản, kể cả hoa lợi, lợi tức từ di sản mà phát sinh sau thời điểm mở thừa kế thuộc quyền sở hữu của người hưởng thừa kế

Cách hiểu này cũng có tính hợp lý của nó vì “di sản thừa kế là tài sản của người

chết để lại” di sản thừa kế phải là tài sản được xác lập quyền sở hữu cho người chết

trước khi mở thừa kế Khi người này chết thì chấm dứt mọi khả năng thực hiện quyền của họ

Tuy nhiên, vấn đề này cần được hiểu là, mặc dù những tài sản này phát sinh sau khi người có tài sản chết, nhưng tài sản này có được từ các quan hệ pháp luật mà

Trang 36

khi còn sống họ tham gia với tư cách là chủ thể mang quyền, hoặc là những tài sản này gắn liền, phát sinh từ những tài sản của người chết Khi người hưởng thừa kế đã nhận di sản và xác lập quyền sở hữu thì từ thời điểm đó, mọi sinh lợi từ di sản thừa kế mới thuộc quyền sở hữu của họ Vì thế không thể xác định đó là di sản mà người chết

để lại Lúc này các khoản lợi là hệ quả trực tiếp của quyền sở hữu chứ không phải là

hệ quả của quyền thừa kế

Trong thực tế, có khá nhiều trường hợp, di sản thừa kế được xác định sau khi người có tài sản chết:

- Tiền trúng sổ xố là thu nhập hợp pháp của người mua vé số Có thể người này mua vé số trước khi mở thưởng là 5 ngày nhưng lại chết trước khi mở thưởng 1 ngày Nếu trúng thưởng thì khoản tiền này là khoản thu nhập hợp pháp, nếu người

đã chết đã có vợ (chồng) thì một nửa thuộc quyền sở hữu của người còn sống, nửa kia là di sản thừa kế của người chết

- Các khoản tiền bảo hiểm tình mạng cho hành khách, người thừa kế của hành khách bị chết đó sẽ được hưởng khoản tiền mà cơ quan bảo hiêm phải chi trả Những tài sản phát sinh sau thời điểm mở thừa kế được xác định là di sản thừa kế có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định chính xác khối di sản mà người chết để lại, đảm bảo đúng phần di sản mà từng người thừa kế được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật, đồng thời xác định được ai là người thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại nếu di sản gây thiệt hại…

2.2 Thành phần của di sản

Về nguyên tắc chung, để xác định tài sản là di sản của người chết để lại thì những hiện vật, tiền, giấy tờ trị giá được thành tiền, quyền tài sản phải thuộc sở hữu của người để lại di sản, tức là phải có căn cứ vào giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền

sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp đối với khối tài sản đó Hiện nay cá nhân có các hình thức sau: Tài sản thuộc sở hữu riêng của cá nhân, tài sản của cá nhân trong khối tài sản chung với người khác Xác định di sản trong các trường hợp này như sau:

2.2.1 Tài sản riêng của người chết:

Tài sản riêng của người chết được hiểu là phần tài sản mà về phương diện pháp lý không bị chi phối hay phải chịu một ràng buộc nào với các chủ thể khác trong việc chiếm hữu, sử dụng và thực hiện quyền định đoạt

Trang 37

Tài sản riêng của người chết là tài sản do người đó tạo ra bằng thu nhập hợp pháp như tiền lương, tiền công lao động, tài sản được tặng cho, được thừa kế, tư liệu sinh hoạt, nhà ở các tư liệu sản xuất, vốn dùng để kinh doanh, tiền, vàng kim khí quý,

đá quý được dùng làm đồ trang sức hoặc của cải để dành, nhà ở, vốn, cổ phần, vật tư

tư liệu sản xuất của những người sản xuất cá thể hoặc của tư nhân được sản xuất kinh doanh hợp pháp Đây là phần tài sản mà thông thường thì cá nhân nào cũng có bởi nó gắn liền với các quyền và nghĩa vụ lao động của mỗi cá nhân trong xã hội, gắn liền với những nhu cầu tất yếu về vật chất cho cuộc sống của con người Tuy nhiên do các quy định về quyền sở hữu tài sản của công dân thay đổi qua từng thời kỳ, các giai đoạn phát triển kinh tế xã hội khác nhau nên di sản thừa kế cũng có sự thay đổi qua từng thời kỳ, bao gồm những thay đổi cả về phạm vi và thành phần

Khác với phạm vi hạn hẹp của khách thể của sở hữu tư nhân trước đây, đến nay, tài sản cá nhân được công nhận là sở hữu riêng ngày càng được mở rộng, nhiều loại tài sản mới như quyền sở hữu trí tuệ, quyền đối với tài sản hình thành trong tương lai v.v Do đó, di sản thừa kế theo đó cũng được mở rộng và tăng lên đáng kể

cả về phạm vi, thành phần, số lượng và giá trị của nó Tất cả các loại tài sản này khi xác định thuộc quyền sở hữu của một người sẽ thành di sản khi người đó chết

Việc xác định di sản của cá nhân còn liên quan mật thiết đến việc xác định tài sản riêng của vợ chồng Vì trong xã hội đa số sống theo mối quan hệ gia đình, vợ chồng, nhất là đến tuổi con người lao động thì cũng là tuổi kết hôn, độ tuổi hưởng đầy đủ các quyền năng của pháp luật quy định Do đó xác định tài sản riêng của vợ chồng là vấn đề khá quan trọng trong xác định di sản của cá nhân

Theo quy định trên thì tài sản riêng của vợ chồng có những nguồn hình thành như sau:

+) Tài sản riêng của vợ chồng có trước khi kết hôn:

Về nguyên tắc, tài sản được tạo lập trước khi kết hôn là tài sản riêng của mỗi bên vợ/ chồng, nên không cần phải lập văn bản thỏa thuận hoặc cam kết về tài sản riêng Trong trường hợp có tranh chấp thì người đứng tên tài sản có nghĩa vụ chứng minh là tài sản đó được tạo lập trước khi hai người đăng ký kết hôn Việc chứng minh tài sản riêng sẽ rất dễ dàng nếu như người có tài sản giữ nguyên tình trạng tài sản Trong thực tế thì ít khi tài sản được giữ nguyên lâu dài, nên khi có sự thay đổi về tình trạng tài sản, chẳng hạn như đối với các trường hợp bán nhà cũ mua

Trang 38

nhà mới hoặc xây dựng, sửa chữa lại nhà; rút tiền tiết kiệm ở ngân hàng rồi gửi thêm tiền trong thời kỳ hôn nhân , thì cần phải có văn bản thỏa thuận tài sản riêng hoặc cam kết tài sản riêng của vợ/chồng

+) Tài sản riêng của vợ chồng là tài sản đƣợc thừa kế riêng, đƣợc tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân

Tặng cho tài sản thông thường là dựa trên mối quan hệ thân thiết của những người trong gia đình, giữa những người có quen biết, hoặc trong những trường hợp đặc biệt như từ thiện v v, Đây là một giao dịch dân sự theo đó thành viên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho người được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn thành viên được tặng cho đồng ý nhận Việc tặng cho tài sản có thể được thiết lập thành hợp đồng, cũng có thể chỉ thông qua hành động Tặng cho tài sản có thể là tặng cho bất động sản, có thể tặng cho động sản Còn quan hệ được nhận thừa kế riêng cũng hình thành trên cơ sở chủ yếu là quyền thừa kế của các thành viên

gia đình dành cho nhau, xuất phát từ mối quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân

Xác định tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của vợ chồng là hợp lý, bởi lẽ, việc được hưởng, nhận tài sản được tặng cho tài sản, thừa kế tài sản chủ yếu là dựa trên các mối quan hệ cá nhân của vợ/chồng,

là một dạng giao dịch không có đền bù, do đó nó khác với các hoạt động lao động, kinh doanh Ở đây không xét đến yếu tố đóng góp công sức của vợ/chồng trong việc

cá nhân có được các tài sản thông qua việc được tặng cho riêng, thừa kế riêng

Quy định này trước hết tôn trọng ý chí định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo qui định của pháp luật, chủ sở hữu muốn chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho

riêng một chủ thể đã xác định Mong muốn và sự bày tỏ ý chí hợp pháp trong viêc

chuyển quyền sở hữu tài sản phải được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Thứ đến, pháp luật cũng tôn trọng và ghi nhận quyền sở hữu được xác lập của một cá nhân trong các giao dịch dân sự hợp pháp, số tài sản riêng này phải thuộc quyền sở hữu riêng của mỗi bên vợ hoặc chồng Tài sản riêng của vợ, chồng phải được xác lập theo căn cứ này trong thời kỳ hôn nhân thường là do ông bà, cha mẹ, bạn bè thân thuộc của vợ, chồng định đoạt thông qua hợp đồng tặng cho hoặc di chúc hợp pháp

+) Tài sản riêng của vợ, chồng có đƣợc khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Trang 39

Có thể hiểu chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là chuyển một phần hoặc toàn bộ các tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng thành các tài thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng, hay sở hữu chung theo phần của vợ chồng Theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành, trong trường hợp có

lý do chính đáng, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân có thể được thực hiện thông qua thỏa thuận bằng văn bản giữa vợ và chồng, hoặc bản án, quyết định của Tòa án Khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng không thay đổi

Pháp luật8

quy định:

1 Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết

2 Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật

3 Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này

Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là:

- Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định Việc phân chia tài sản này nó chỉ có giá trị đối với phần tài sản mà hai vợ chồng đã phân chia còn quan hệ hôn nhân của vợ chồng thì vẫn có giá trị pháp lý

- Từ thời điểm việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, nếu vợ chồng không có thỏa thuận khác thì phần tài sản được chia; hoa lợi, lợi tức phát sinh

từ tài sản đó; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng khác của vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng

- Trong trường hợp hai vợ chồng đã phân chia tài sản mà không có thỏa thuận về việc hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã chia thì hoa lợi, lợi tức đó sẽ là tài sản riêng của người vợ hoặc người chồng

8 Điều 38 Luật HN&GĐ 2014

Trang 40

- Từ thời điểm việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, nếu tài sản có được từ việc khai thác tài sản riêng của vợ, chồng mà không xác định được

đó là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của vợ, chồng hay là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đó thì thuộc sở hữu chung của vợ chồng

Những qui định của pháp luật về căn cứ xác lập tài sản riêng trên đây một mặt tôn trọng quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng, mặt khác tạo điều kiện cho mỗi bên được hoàn toàn chủ động, độc lập thực hiện các quyền mà pháp luật cho phép đối với chủ sở hữu Những tài sản của mỗi bên vợ, chồng có được dựa vào những căn cứ trên đây thuộc sở hữu riêng của họ Vì thế, mỗi bên vợ, chồng có toàn quyền định đoạt những tài sản thuộc sở hữu riêng của mình mà không phụ thuộc vào ý chí của mỗi bên vợ, chồng kia Các tài sản này sẽ là di sản thừa kế khi một bên vợ, chồng qua đời

2.2.2 Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác

Trong thực tế có những trường hợp một tài sản nhưng lại thuộc quyền sở hữu của hai hay nhiều người, nói cách khác đó là trường hợp hai hay nhiều người có chung một tài sản Pháp luật dân sự gọi đó là sở hữu chung Sở hữu chung là một hình thức sở hữu trong đó một tài sản có nhiều chủ sở hữu, mỗi chủ sở hữu sẽ có những quyền và nghĩa vụ riêng Đối với việc xác định tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác có thể xảy ra hai trường hợp: là phần tài sản của người chết nằm trong tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất hoặc nằm trong khối tài sản thuộc sở hữu chung theo phần với nhiều người khác

+) Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung theo phần

Sở hữu chung theo phần là một trong những loại sở hữu chung, có đặc điểm chung là phần quyền của chủ hữu khi chủ sở hữu chung định đoạt, chiếm hữu, sử dụng sẽ liên quan đến quyền lợi của tất cả các đồng chủ hữu còn lại

Điều 216, BLDS 2015 quy định Sở hữu chung theo phần là “sở hữu chung

mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung” Trong sở hữu chung theo phần, mỗi đồng sở hữu biết trước được tỉ lệ phần

quyền của mình đối với khối tài sản chung Phần quyền đó có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau Phần quyền được xác định này là đối với toàn bộ tài sản thuộc sở hữu chung của tất cả các đồng chủ sở hữu Do vậy, phần tài sản của các đồng sở hữu trong sở hữu chung theo phần bao giờ cũng phải được biểu hiện bằng những

Ngày đăng: 13/03/2019, 21:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w