Trong những năm gần đây , nhờ có chủ trương , đường lối , chính sách khuyến khích khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống của Đảng và nhà nước ta thì các làng nghề truyền thống đã có sự phát triển mạnh mẽ , số lượng các làng nghề tăng nhanh , nhiều nghề truyền thống có nguy cơ bị mai một , thất truyền nay được khôi phục và phát triển trở lại. Các làng nghề truyền thống phát triển đã tạo ra những chuyển biến mới trong đời sống xã hội ở nông thôn , thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá -hiện đại hoá nông thôn, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động , nâng cao đời sống dân cư trong vùng , hạn chế được việc dịch chuyển lao động không có việc làm từ nông thôn ra thành thị , tạo ra một khối lượng hàng hoá đa dạng và phong phú phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu , góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước và đồng thời góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc…Điều này thể hiện đường lối khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống của Đảng và nhà nước ta là một hướng đi đúng đắn góp phần cho sự nghiệp phát triển đất nước thời kì hiện nay . Tuy nhiên , song song với đó thì sự phát triển làng nghề truyền thống cũng đã phát sinh nhiều vấn đề bức xúc, ảnh hưởng trực tiếp đến chính các làng nghề , cũng như sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội của vùng nông thôn và của cả nước . Vấn đề quan trọng và nổi bật nhất chính là việc quản lý và sử dụng đất làng nghề truyền thống và tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng tại các làng nghề này .Bởi vấn đề này có sự tác động mạnh mẽ đến sự phát triển chung về các mặt khác của các làng nghề truyền thống . Hiện nay , do sự phát triển mạnh mẽ của các làng nghề , nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất tăng nhanh đòi hỏi cần có mặt bằng sản xuất lớn hơn. Trong khi quỹ đất lại rất hạn hẹp . Tình trạng sử dụng đất ở , đất khu dân cư làm cở sở sản xuất ở các làng nghề truyền thống là rất phổ biến .Phần lớn các làng nghề đều thiếu quy hoạch chi tiết hoặc đã có quy hoạch thì chất lượng quy hoạch sử dụng đất còn thấp , nhiều điểm chưa phù hợp với thực tiễn. Chính vì vậy mà tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng tại các làng nghề vẫn chưa được giải quyết , gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ dân cư tại đây cũng như các vùng lân cận. Một số làng nghề đã có quy hoạch sử dụng đất chi tiết , hướng hình thành các cụm công nghiệp làng nghề nhằm giải quyết vấn đề thiếu mặt bằng sản xuất và giảm thiểu ô nhiễm môi trường . Song trên thực tế vẫn còn gặp nhiều vướng mắc và bất cập trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch …Như vậy có thể nói việc quản lý và sử dụng hợp lý đất tại các làng nghề truyền thống là vấn đề có ý nghĩa quan trọng quyết định đến sự phát triển chung của các làng nghề , cũng như sự phát triển của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay. Trong thời gian thực tập , xét thấy tầm quan trọng của vấn đề trên , em đã quyết định chọn đó làm nội dung chuyên đề thực tập của mình. Và thông qua kết quả của quá trình đi thực tế tại các địa phương của bản thân, em đã chọn làng nghề truyền thống Bát Tràng thuộc địa phận xã Bát Tràng , huyện Gia Lâm , Hà Nội với nghề truyền thống là sản xuất đồ gốm sứ làm cơ sở thực tiễn điển hình cho việc đánh giá và đưa ra các giải pháp quản lý và sử dụng đất tại làng nghề truyền thống trong chuyên đề với tên đề tài : “Đánh giá thực trạng và đưa ra những giải pháp quản lý và sử dụng đất làng nghề truyền thống Bát Tràng.”
Trang 1chuyên đề tốt nghiệp
Đề tài:
đánh giá thực trạng và đa ra những giải pháp quản lý và
sử dụng đất làng nghề truyền thống bát tràng
Sinh viên thực hiện: nguyễn thị hồng phợngGiáo viên hớng dẫn: gs.tskh lê đình thắng
Hà Nội - 2008
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây , nhờ có chủ trương , đường lối , chính sáchkhuyến khích khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống của Đảng vànhà nước ta thì các làng nghề truyền thống đã có sự phát triển mạnh mẽ , sốlượng các làng nghề tăng nhanh , nhiều nghề truyền thống có nguy cơ bị maimột , thất truyền nay được khôi phục và phát triển trở lại Các làng nghềtruyền thống phát triển đã tạo ra những chuyển biến mới trong đời sống xã hội
ở nông thôn , thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá -hiện đại hoá nông thôn,góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động , nâng cao đờisống dân cư trong vùng , hạn chế được việc dịch chuyển lao động không cóviệc làm từ nông thôn ra thành thị , tạo ra một khối lượng hàng hoá đa dạng
và phong phú phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu , góp phần quan trọng vào sựphát triển kinh tế xã hội của cả nước và đồng thời góp phần gìn giữ bản sắcvăn hoá dân tộc…Điều này thể hiện đường lối khôi phục và phát triển làngnghề truyền thống của Đảng và nhà nước ta là một hướng đi đúng đắn gópphần cho sự nghiệp phát triển đất nước thời kì hiện nay Tuy nhiên , songsong với đó thì sự phát triển làng nghề truyền thống cũng đã phát sinh nhiềuvấn đề bức xúc, ảnh hưởng trực tiếp đến chính các làng nghề , cũng như sựphát triển bền vững kinh tế - xã hội của vùng nông thôn và của cả nước Vấn
đề quan trọng và nổi bật nhất chính là việc quản lý và sử dụng đất làng nghềtruyền thống và tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng tại các làng nghềnày Bởi vấn đề này có sự tác động mạnh mẽ đến sự phát triển chung về cácmặt khác của các làng nghề truyền thống Hiện nay , do sự phát triển mạnh
mẽ của các làng nghề , nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất tăng nhanh đòi hỏicần có mặt bằng sản xuất lớn hơn Trong khi quỹ đất lại rất hạn hẹp Tình
Trang 3trạng sử dụng đất ở , đất khu dân cư làm cở sở sản xuất ở các làng nghềtruyền thống là rất phổ biến Phần lớn các làng nghề đều thiếu quy hoạch chitiết hoặc đã có quy hoạch thì chất lượng quy hoạch sử dụng đất còn thấp ,nhiều điểm chưa phù hợp với thực tiễn Chính vì vậy mà tình trạng ô nhiễmmôi trường trầm trọng tại các làng nghề vẫn chưa được giải quyết , gây ảnhhưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ dân cư tại đây cũng như các vùng lân cận.Một số làng nghề đã có quy hoạch sử dụng đất chi tiết , hướng hình thành cáccụm công nghiệp làng nghề nhằm giải quyết vấn đề thiếu mặt bằng sản xuất
và giảm thiểu ô nhiễm môi trường Song trên thực tế vẫn còn gặp nhiềuvướng mắc và bất cập trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch …Nhưvậy có thể nói việc quản lý và sử dụng hợp lý đất tại các làng nghề truyềnthống là vấn đề có ý nghĩa quan trọng quyết định đến sự phát triển chung củacác làng nghề , cũng như sự phát triển của nền kinh tế đất nước trong giaiđoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay.Trong thời gian thực tập , xét thấy tầm quan trọng của vấn đề trên , em đãquyết định chọn đó làm nội dung chuyên đề thực tập của mình Và thông quakết quả của quá trình đi thực tế tại các địa phương của bản thân, em đã chọnlàng nghề truyền thống Bát Tràng thuộc địa phận xã Bát Tràng , huyện GiaLâm , Hà Nội với nghề truyền thống là sản xuất đồ gốm sứ làm cơ sở thựctiễn điển hình cho việc đánh giá và đưa ra các giải pháp quản lý và sử dụng
đất tại làng nghề truyền thống trong chuyên đề với tên đề tài : “Đánh giá
thực trạng và đưa ra những giải pháp quản lý và sử dụng đất làng nghề truyền thống Bát Tràng.”
2 Mục tiêu nghiên cứu chuyên đề
Việc thực hiện chuyên đề với mục tiêu thông qua những đánh giá về tìnhhình quản lý và sử dụng đất tại một làng nghề điển hình để có cái nhìn chungnhất về tình hình tại các làng nghề truyền thống khác và từ đó có những giải
Trang 4pháp cơ bản , thiết thực có thể áp dụng cho những vấn đề nổi cộm chung của
sự phát triển các làng nghề hiện nay ở nước ta
3 Nội dung cơ bản của chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận , chuyên đề gồm:
Chương 1: Tổng quan về làng nghề truyền thống và vấn đề quản lý , sử
dụng đất làng nghề truyền thống
Chương 2: Đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng đất làng nghề
truyền thống Bát Tràng , tù đó đưa ra những nguyên nhân , tồn tại vướng mắctrong việc quản lý , sử dụng đất làng nghề truyền thống Bát Tràng
Chương 3: Đề ra những giải pháp quản lý và sử dụng đất làng nghề
truyền thống Bát Tràng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Làng nghề truyền thống có nhiều vấn đề cần nghiên cứu , đánh giá nhưkinh tế, văn hóa truyền thống , xã hội , môi trường…Tuy nhiên trong phạm vichuyên đề này chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề quản lý , sử dụng đất đai làngnghề truyền thống và đề xuất những giải pháp quản lý và sử dụng hợp lý đấtlàng nghề truyền thống cho giai đoạn tiếp theo Trong đó cũng nghiên cứumột cách tổng quan về kinh tế , xã hội , môi trường nhằm phục vụ cho nghiêncứu vấn đề chính
Đất làng nghề truyền thống cũng chia thành 3 nhóm : Đất nông nghiệp ,Đất phi nông nghiệp , Đất chưa sử dụng Nhưng trong phạm vi của đề tài chỉtập trung nghiên cứu , đánh giá về quản lý và sử dụng một số loại đất như: đất
ở ; đất khu dân cư ; đất cơ sở sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp; đất giaothông và cơ sở hạ tầng kỹ thuật của xã Bát Tràng
5 Phương pháp nghiên cứu chuyên đề :
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết : sưu tầm , đọc và nghiên cứu các tàiliệu trong nước và nước ngoài có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Trang 5- Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra , phỏng vấn , thu thập thôngtin , số liệu từ phía chính quyền địa phương và người dân tại địa bàn điều tra
- Phương pháp thu thập , thống kê , tổng hợp, phân tích thông tin , sốliệu… từ đó đưa ra những đánh giá khách quan và thực tế nhất Thu thậpnhững ý kiến của những người nghiên cứu có kinh nghiệm kết hợp vói việcvận ding kế thừa và phát triển những nghiên cứu , những đề tài , dự án có liênquan
Trong quá trình hoàn thành chuyên đề thực tập , em đã nhận được nhiều
sự giúp đỡ nhiệt tình Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ thuộc phongKhoa học công nghệ thuộc viện nghiên cứu Địa chính và giáo viên hướngdẫn GS.TSKH Lê Đình Thắng đã hướng dẫn và giúp đỡ em , để em có thểhoàn thành tốt chuyên đề thực tập tốt nghiệp này Em cũng xin chân thànhcảm ơn chính quyền xã Bát Tràng và người dân tại đây đã tạo điều kiện giúp
em có thể tìm hiểu được nhưng thông tin cần thiết phục vụ cho chuyên đềthực tập , cũng như có được những kiến thức thực tế bổ ích
Trang 6
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG
1.1 Khái niệm và tiêu chí làng nghề truyền thống
a Một số khái niệm
Ở Nông thôn Việt Nam , Làng đã được hình thành và phát triển từ thời
xa xưa trong lịch sử đất nước Làng được dùng để chỉ tụ điểm dân cư truyền
thống của người nông dân Việt , có ranh giới riêng, có cơ cấu tổ riêng …nhưng lại rất chặt chẽ và hoàn chỉnh do có tính liên kết chặt chẽ bằng tìnhcảm ,họ tộc , phong tục tậpquán riêng Mỗi một làng đều có những néttruyền thống riêng biệt về phong tục , tập quán , lối sống Vì vậy đều có
những bản sắc văn hoá riêng của làng Làng Quan niệm về làng vẫn chưa có
sự thống nhất chung nhưng đều có những điểm chung và có thể hiểu như sau:
Làng là một thuật ngữ để nói về khối dân cư ở nông thôn gồm nhiều gia
đình sinh sống quần tụ và có sự liên kết nhất định hình thành một khối kháthống nhất
Từ trước đến nay , nông nghiệp luôn gắn với nông thôn Người nôngdân luôn coi sản xuất nông nghiệp là công việc chính của họ để tạo ra vật chấtphục vụ đời sống gia đình Sản xuất nông nghiệp với đặc trưng là theo mùa
vụ , có nghĩa là ngoài thời kỳ mùa vụ thì nông nhân có khoảng thời gian nôngnhàn Và ngành nghề ở nông thôn phát triển ra , tạo công ăn việc làm và thunhập cho người dân lúc nông nhàn đó Ngành nghề dần lan rộng ra và hìnhthành những làng nghề Cũng có rất nhiều quan niệm về làng nghề Tựuchung lại , ở đây có thể coi khái niệm làng nghề như sau:
Làng nghề : Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư thôn, ấp, bản,
làng, buôn, phun, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã , thị
Trang 7trấn , có các hoạt động ngành nghề nông thôn , sản xuất ra một hoặc nhiềuloại sản phẩm khác nhau
Làng nghề Việt Nam đã hình thành và phát triển rất phong phú và đadạng về lịch sử quá trình hình thành và phát triển , về quy mô và về ngànhnghề của làng Trong quá trình phát triển , làng nghề được lan rộng và theolịch sử hình thành và phát triển có làng nghề truyền thống và làng nghề mới
Nghề truyền thống là nghề đã đươc hình thành từ lâu đời , tạo ra những
sản phẩm độc đáo , có tính riêng biệt , được lưu truyền và phát triển đến ngàynay hoặc có nguy cơ bị mai một , thất truyền
Làng nghề truyền thống : là làng nghề có nghề truyền thống được hình
thành lâu đời , trải qua thử thách của thời gian , vẫn được duy trì , phát triển
và được lưu truyền từ đời này sang đời khác
Làng nghề truyền thống có lịch sử phát triển lâu đời với nghề truyềnthống Qua quá trình phát triển lâu dài , làng nghề truyền thống hình thànhlên những nét văn hoá đặc trưng của riêng làng và đó chính là nét văn hoátruyền thống Những ngày hội làng , ngày giỗ tổ nghề…luôn được coi trọng
và gìn giữ ở làng nghề truyền thống Ở đó , những nét văn hoá đặc trưng củanông thôn Việt Nam luôn tồn tại Là nơi hội tụ những thuần phong mỹ tục ,đoàn kết cộng đồng , tinh hoa nghề nghiệp , nếp sinh hoạt quần cư Nghềtruyềnthống cùng những nét văn hoá truyền thống được lưu truyền từ thế hệnày qua thế hệ khác
Trang 8mang tính bản sắc văn hoá dân tộc (3) Nghề gắn với tên của nghệ nhân hayđịa danh của làng nghề
Tiêu chí công nhận là làng nghề : làng nghề được công nhận phải đạt 3tiêu chí : (1) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt độngngành nghề nông thôn (2) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận.(3) Chấp hành tốt chính sách ,pháp luật của Nhà nước
Tiêu chí công nhận là làng nghề truyền thống : Phải đạt tiêu chí làngnghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo khái niệm nói trên Nếu chưađạt tiêu chuẩn số hộ tối thiểu như đã quy định tại tiêu chí công nhận làng nghềthì cũng phải có ít nhất một nghề thống được công nhận là làng nghề truyềnthống
Ngoài những tiêu chí chung đưa ra ở trên , mỗi địa phương sẽ quy định
cụ thể dựa trên thực tế địa phương Còn đưa ra các tiêu chí vê flao động , số
hộ , giá trị sản xuất và thu nhập từ nghề truyền thống
c Vai trò của sự khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta
Từ lâu đời nay ngành nghề truyền thống đã đóng một vai trò quan trọngtrong phát triển nông nghiệp nông thôn nói riêng và sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội của cả nước nói chung Thực tế trong những năm qua đã cho thấy
rõ vai trò của việc khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống trong sựnghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước đang diễn ra mạnh mẽ hiệnnay Theo thống kê thì hiện nay cả nước có khoảng 2000 làng nghề , trong đó
có khoảng 1/3 là làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển Trongnhững năm thực hiện đường lối mới của Đảng và nhà nươc ta , nhất là 10 nămtrở lại đây , kinh tế làng nghề đã có bước phát triển đáng kể , thu hút mộtlượng lớn lao động , góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế , thực hiện xoá đói ,
Trang 9giảm nghèo , cải thiện đời sống người dân ở nông thôn Sản phẩm làng nghềkhông chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn vươn tới nhiều thịtrường nước ngoài lớn… Sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã tạo
ra những chuyển biến to lớn trong đời sống xã hội nông thôn :
Một là , Tạo ra một khối lượng hàng hoá đa dạng , phong phú phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Các làng nghề truyền thống đang dần
được khôi phục và phát triển đã tạ ra khối lượng hàng hoá đa dạng và phongphú không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn vươn tới nhiềuthị trường nước ngoài Mỗi một làng nghề lại có một nghề đặc trưng , sảmphẩm mang tính riêng biệt , độc đáo và đậm tính văn hoá của mỗi vùng miền
ví dụ như : Gốm sứ Bát Tràng , Tranh Đông Hồ , may tre đan Dương Quang,Giấy Dương Ổ…Những sản phẩm làng nghề rất phong phú và đa dạng , xuấtkhẩu sản phẩm làng nghề trong những năm qua đóng vai trò quan trọng choviệc đóng góp giá trị gia tăng nền kinh tế mỗi địa phương nói riêng và cảnước nói chung Các sản phẩm làng nghề Việt nam đã có mặt ở nhiều nướctrên thế giới , trong đó có các thị trường lớn như Hoa Kỳ , EU, Nhật Bản …Năm 1991, xuất khẩu sản phẩm làng nghề cả nước đạt 6,8 triệu USD, năm
2000 là 30 triệu USD và năm 2005 đạt 70 triệu USD…
Hai là, Phát triển làng nghề truyền thống là biện pháp hữu hiệu để giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn Người lao động ở nông thôn
chủ yếu là làm nông nhiệp cho thu nhập thấp , tình trạng thiếu việc làm là phổbiến , nhất là những lúc nông nhàn Chính vì vậy có sự dịch chuyển lao động
ồ ạt từ nông thôn ra thành thị , gây sức ép quá tải cho các thành phố , nhất làđối với những thành phố lớn Trong những năm qua , các làng nghề được khôiphục và phát triển đã tạo việc làm cho hơn 60 vạn lao động thường xuyên ởnông thôn , khoảng 30 vạn lao động làm việc theo thời vụ chiếm 39,5% lựclượng lao động nông thôn Có những làng nghề phát triển , các hộ trong làng
Trang 10đã chuyển hết sang sản xuất kinh doanh nghề , không làm nông nghiệp nữa ví
dụ như : Bát Tràng ( Hà Nội) Cả nước có 1,4 triệu hộ tham gia sản xuất nghề
và có nguồn thu nhập chính từ nghề thủ công , đã phần nào giải quyết đượctình trạng thiếu việc làm ở nông thôn Nhiều làng nghề sau khi được khôiphục và phát triển đã tận dụng được nhiều lao động dư thừa trước đây Nhiềulàng nghề tạo việc làm cho cả người già và trẻ em Không những thế , cáclàng nghề còn thu hút lao động của vùng lân cận đến làm thuê tại làng ví dụ ởBát Tràng hàng ngày thu hút từ 4.000-5.000 lao động từ các xã khác xungquanh đến làm thuê
Ba là ,Góp phần thúc đẩy gia tăng thu nhập , cải thiện đời sống dân cư
ở nông thôn và tăng tích luỹ Thu nhập của người dân ở các làng nghề không
ngừng tăng lên Trước đây khi làng nghề chưa phát triển , sản xuất nghềtruyền thống mới chỉ được coi là nghề phụ gắn với sản xuất nông nghiệp đểgiải quyết việc làm lúc nông nhàn Hiện nay ở nhiều làng nghề phát triển ,thu nhập từ làm nghề truyền thống đã trở thành thu nhập chính của các hộ giađình Thu nhập bình quân đầu người của một lao động làm nghề đã cao gấp2-3 lần lao động thuần nông Nhiều làng nghề không còn hộ gia đình nào sảnxuất nông nghiệp thay vào đó là sản xuất , kinh doanh nghề truyền thống Thunhập của người dân tăng cao , họ có điều kiện để cải thiện đời sống gia đình Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được tăng lên Người dân cũng
có điều kiện tự cải tạo hệ thống cở hạ tầng kỹ thuật và xã hội của địa phươngphục vụ cho đời sống sinh hoạt và sản xuất
Bốn là, Phát triển làng nghề truyền thống làm chuyển dịch cơ cấu kinh
tế , đóng vai trò quan trọng cho sự nghiêp công nghiệp hoá , hiện đại hoá nông thôn Sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã có tác dụng tích
cực cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọngngành công nghiệp , tiểu thủ công nghiệp ,xây dựng , dịch vụ , giảm tỉ trong
Trang 11ngành nông nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội Những công trình cơ sở hạtầng nông thôn được xây dựng phục vụ sản xuất và sinh hoạt Đời sống dân
cư nông thôn được cải thiện theo gướng hiện đại hoá , dần rút ngắn khoảngcách chênh lệch giưã thành thị và nông thôn
Năm là, Góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc Nghề truyền thống
gắn liền với làng tạo nên nét đặc trưng của làng nghề truyền thống ở nôngthôn Việt Nam Khi nghề truyền thống được khôi phục và phát triển , songsong với lối sống hiện đại hoá do đời sống được cải thiện, những phong tụctruyền thống của làng cũng được khôi phục và gìn giữ như ngày hội làng ,ngày giỗ tổ của nghề…Văn hoá truyền thống cũng được thể hiện qua nhữngsản phẩm của làng nghề Nét văn hoá truyền thống cũng được gìn giữ và thểhiện qua những sản phẩm mang tính nghệ thuật như các sản phẩm gốm sứ ,trạm khảm …
1.2 Vị trí , vai trò của quản lý , sử dụng hợp lý đất làng nghề truyền thống cho sự phát triển bền vững của làng nghề
Thực tế những năm qua đã chỉ rõ vai trò quan trọng của sự phát triểnlàng nghề góp phần vào quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đang diễn ramạnh mẽ nói riêng và sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nóichung Điều đó thể hiện chủ trương khôi phục và phát triển làng nghề truyềnthống của Đảng và Nhà nước ta là một hương đi đúng đắn Tuy nhiên chính
sự phát triển của những làng nghề này cũng đã và đang phát sinh ra nhiều vấn
đề bức xúc ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của các làng nghề ,cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng nông thôn Một trong nhữngvấn đề quan trọng, không thể coi nhẹ đó là vấn đề quản lý và sử dụng đất tạicác làng nghề Chúng ta đều biết đất đai đóng một vai trò rất quan trọng , ảnhhưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tất cả các ngành , lĩnh vực …Và đối vớicác làng nghề truyền thống ở nông thôn thì đất đai càng có vai trò to lớn góp
Trang 12phần vào sự phát triển của các làng nghề này Có rất nhiều vấn đề bức xúcđang tồn tại ở các làng nghề , đặc biệt là những làng nghề đang phát triểnmạnh hiện nay Nhưng có thể nói vấn đề quản lý và sử dụng đất làng nghề cóảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các làng nghề bởi nó tác động trực tiếphoặc gián tiếp tới các vấn đề bức xúc khác đang tồn tại ở làng nghề truyềnthống Tình trạng chung ở các làng nghề truyền thống hiện nay :
Hầu hết các cơ sở sản xuất nghề truyền thống đều được hình thành ngaytrong khu dân cư , gắn liền với nơi sinh sống của các hộ sản xuất Vì muốntận dụng diện tích đất trong khuôn viên đất ở làm cơ sở sản xuất , kinh doanhnên các hộ gia đình đã kết hợp sử dụng mặt bằng đất ở vừa để ở , sinh hoạtvừa làm mặt bằng xây dựng xưởng sản xuất , làm kho để chứa nguyên vật liệu
, thành phẩm … Diện tích đất ở đã nhỏ hẹp, lại bị phân lô, chia nhỏ cho các
chức năng khác phục vụ cho sản xuất nghề truyền thống gây ảnh hưởng lớnđến đời sống , sức khoẻ của người dân Nhiều cơ sở sản xuất ở những làngnghề với nghề truyền thống sản xuất đồ cơ kim khí , đồ gỗ , đồ gốm sứ …không có mặt bằng sản xuất đã lấn chiếm đất công cộng , đất giao thông , ao
hồ , kênh mương …để tập kết vật tư , hàng hoá do đặc tính của những nghềtruyền thống này yêu cầu cần phải có mặt bằng rộng Môi trường sống ở cáclàng nghề đang bị huỷ hoại một cách nghiêm trọng do sự phát triển quá mức,
tự phát , bất hợp lý của các làng nghề trong khu dân cư và do hệ thống cơ sở
hạ tầng chưa được cải tạo , tu bổ cho phù hợp Sự phát triển của các làngnghề truyền thống diễn ra dưới sự tác động của quá trình công nghiệp hoá ,hiện đại hoá, quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay cho nênnhu cầu mở rộng quy mô sản xuất của các làng nghề là rất lớn có nghĩa là nhucầu về mặt bằng sản xuất cũng tăng lên nhiều Nghề truyền thống được khôiphục và phát triển, người dân có việc làm , tăng thu nhập từ nghề truyềnthống đã giúp họ có khả năng cải thiện cuộc sống từ đó đã thúc đẩy , kéo theo
Trang 13sự phát triển của các dịch vụ sinh hoạt và dịch vụ xã hội khác tại các làngnghề Đòi hỏi nhu cầu về đất đai để phân bổ cho các mục đích đó cũng tănglên Một số làng nghề đã thu hút được một lượng lớn lao động từ các vùnglân cận làm cho mật độ dân cư cư trú , mật độ sinh hoạt cũng tăng cao Những vấn đề bức xúc này đã và đang tạo ra những thách thức lớn cho sựphát triển bền vững của các làng nghề , nhất là khi mà nhu cầu mở rộng sảnxuất kinh doanh, nhu cầu phát triển trong tương lai ở các làng nghề là rất lớn Thực trạng này đòi hỏi cần có những giải pháp hữu hiệu trong việc quản lý vàkiểm soát của các địa phương
Công tác quy hoạch sử dụng đất tại các làng nghề hầu như chưa được coitrọng Trong khi cần phải có những tiêu chuẩn , những quy định riêng vềquản lý , sử dụng đất làng nghề cho hợp lý với tính chất của các làng nghề thìviệc quy hoạch sử dụng đất tại các làng nghề vẫn còn chung chung giống nhưcác địa phương khác , chưa cụ thể , chưa mang đặc tính riêng Quy hoạchkhông dự báo chính xác nhu cầu phát triển nên gây ra sự thiếu , thừa trong sựphân bổ cho các mục đích khác nhau Việc quản lý đất đai , xây dựng còn yếukém , không kiểm soát được sự hình thành các cơ sở sản xuất ngành nghềtruyền thống một cách tự phát , lẫn lộn , chen chúc trong khu dân cư gây ônhiễm môi trường nghiêm trọng và gây ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt củangười dân Việc quy hoạch , xây dựng những cụm công nghiệp làng nghề ởmột số làng nghề đã có nhiều điểm tích cực , nhất là trong việc giảm thiểu ônhiễm môi trường và tăng hiệu quả đầu tư phát triển nghề truyền thống Tuynhiên việc thực hiện xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề này còn chậmtiến độ do công tác đền bù giải phóng mặt bằng chậm, vẫn còn tồn tại nhiềuđiều bất cập trong việc giao đất , cho thuê đất trong cụm công nghiệp làngnghề , những quy định về nó chưa có tính thống nhất …
Trang 14Như vậy , việc quản lý và sử dụng đất hợp lý tại các làng nghề truyềnthống có vai trò rất quan trọng , ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bền vữngcủa chính các làng nghề này và sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cảnước Nhất là vào giai đoạn tới khi công cuộc công nhiệp hoá , hiện đại hoáđất nước là nhu cầu bức thiết , quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước.
1.3 Chủ chương, chính sách của nhà nước về vấn đề quản lý , sử dụng đất hợp lý phục vụ cho phát triển làng nghề truyền thống
1.3.1 Chủ trương , đường lối về sự phát triển các ngành nghề nông thôn, làng nghề truyền thống
Thời kỳ trước đổi mới , khi đất nước vừa bước vào thừo kỳ khôi phụckinh tế sau chiến tranh , Đảng và nhà nước ta đã thấy rõ được tầm quan trọngcủa ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn đối với sự nghiệp khôi phục
và phát triển kinh tế - xã hội đất nước Thời kỳ này Đảng và nhà nước ta đã cónhiều Nghị quyết , chỉ thị đề ra phương hướng, biện pháp khôi phục và pháttriển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp như : Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
Iv ( 1977) và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1981) tiếp chủ trương khôiphục và phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn ; đặc biệt làkhôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống
Bước vào thời kỳ đổi mới , Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (05/04/1988)
đã triển khai chủ trương , đường lối của Đảng tại Đại hội Đảng bộ toàn quốclần thứ VI về phát triển công nghiệp , tiểu thủ công nghiệp , vận tải dịch vụ ởnông thôn dưới nhiều hình thức , trong từng vùng và tiểu vùng Chú trọngđầu tư xây dựng những cơ sở sản xuất với quy mô vừa và nhỏ nhưng kỹ thuậthiện đại , công nghệ thích hợp để tạo nhiều mặt hàng tiêu dùng trong nước vàxuất khẩu có giá trị cao ra thị trường nước ngoài Thực tế kết quả của quátrình phát triển đã thể hiện chủ trương khôi phục và phát triển ngành nghềtruyền thống , làng nghề truyền thống của Đảng và nhà nước ta là một hướng
Trang 15đi đúng đắn Chủ trương này luôn được đề cập trong các văn kiện của các kỳĐại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX của Đảng với mục tiêu thúc đẩyquá trìn công nghiệp hoá , hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn theo đường lốiđổi mới của Đảng ; Tại Hội nghị lần thứ năm của Ban chấp hành Trung ươngĐảng khoá IX đã ra Nghị quyết về đẩy nhanh công nghiệp hoá , hiện đại hoánông nghiệp , nông thôn thời kỳ 2001-2010 , trong đó đã chỉ rõ việc phát triểnkết cấu hạ tầng và đô thị hoá nông thôn cũng như vạch ra giải pháp về quy
hoạch :’’ Quy hoạch phát triển nông nghiệp , nông thôn phải dặt trong tổng
thể chung của cả nước , trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế , sự phát triển mạnh mẽ của khoa học , công nghệ …Quản lý , cập nhật thông tin kịp thời điều chỉnh quy hoạch ; Quy hoạch xây dựng xây dựng cơ sở hạ tầng kinh
tế xã hội ; quy hoạch phát triển khu dân cư , xây dựng làng xã , thị trấn …giữ
gìn bản sắc văn hoá dân tộc” Năm 2006 , chính phủ ban hành Nghị định 66/
2006 /NĐ-CP (ngày 07/07/2006) về phát triển ngành nghề nông thôn , trong
đó nhấn mạnh chương trình bảo tồn , phát triển làng nghề bao gồm : bảo tồn ,phát triển làng nghề truyền thống , phát triển làng nghề gắn với du lịch , pháttriển làng nghề mới , phong tặng nghệ nhân ưu tú , nghệ nhân nhân dân ,thương hiệu làng nghề thủ công nởi tiếng cho những đơn vị , cá nhân có côngbảo tồn , phát triển ngành nghề thủ công truyền thống , ngành nghề mới ởnông thôn
1.3.2 Chính sách về quản lý , sử dụng đất đai nhằm duy trì và phát triển bền vững làng nghề truyền thống :
Trong những năm qua , thực hiện chủ trương khôi phục và phát triểnngành nghề , nhất ngành nghề truyền thống ở nông thôn Nhà nước đã đưa ranhững chính sách về các mặt khác nhau nhằm định hướng , khuyến khích , hỗtrợ cho các làng nghề truyền thống phát triển bền vững góp phần vào sựnghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Và những chính sách về quản
Trang 16lý , sử dụng đất đai làng nghề truyền thống cũng được thực hiện Nhà nước
đã ban hành nhiều văn bản pháp luật đất đai , trong đó có các quy định nhằmkhuyến khích và tạo điều kiện cho việc phát triển ngành nghề ở nông thôn :
- Quyết định 132/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng chính phủ vềmột số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn đã tạo điềukiện thuận lợi cho việc đầu tư phát triển mở rộng sản xuất trong các làng nghềtruyền thống Chính sách tạo điều kiện trong việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dung đất cho các cơ sở sản xuất ngành nghề , đối với những cơ sở sản xuất
có nhu cầu về mặt bằng để mở rộng sản xuất , di dời nơi sản xuất nhằm giảmthiểu ô nhiễm môi trường thì được ưu tiên cho thuê đất với mức giá thấp.Trên cơ sở quy hoạch , kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh , thành phố trực thuộctrung ương, phân bổ đất đai cho các mục đích khác nhau , trong đó cho phépchuyển một phần diện tích đất nông nghiệp , lâm nghiệp sang sử dụng vàomục đích công nghiệp , dịch vụ phục vụ cho phát triển ngành nghề truyềnthống , quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật , các khu , cụm tiểu thủcông nghiệp
- Luật đất đai 2003 và các văn bản dưới Luật được thực thi với nhiều đổimới trong chính sách quản lý , sử dụng đất đai Những quy định về các nộidung quản lý nhà nước về đất đai ; về quyền của người sử dụng đất đã tạođiều kiện cho người dân yên tâm đầu tư cho sản xuất
- Chỉ thị số 11/2006 /CT-TTg ngày 27/3/2006 , Thủ tướng Chính phủ đãchỉ thị các địa phương trực thuộc Trung ương khẩn trương tổ chức rà soát ,điều chỉnh quy hoạch các dự án sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với quyhoạch phát triển kinh té-xã hội của địa phương , của từng vùng và cả nước ,gắn quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp với phát triển các ngành nghề , đặcbiệt quan tâm đến việc khôi phục các ngành nghề truyền thống, tạo quỹ đất táiđịnh cư , quy hoạch đất dịch vụ và đất liền kề các khu công nghiệp
Trang 17Những chính sách xây dựng và phát triển các cụm công nghiệp làngnghề nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường và tăng hiệu quả đầu tư
ở các làng nghề cũng được đề ra và thực hiện
Trên cơ sở những chính sách về quản lý , sử dụng đất đai ở các làngnghề của Chính phủ , các địa phương có làng nghề đã áp dụng thực hiện vàđưa ra những chính sách cụ thể của địa phương mình sao cho phù hợp với tìnhhình tại đó
Thực tế phát triển trong những năm qua cho thấy những chính sách này
đã đạt được những hiệu quả nhất định trong việc tạo điều kiện thuận lợi hơn ,khuyến khích sự phát triển kinh tế - xã hội những làng nghề truyền thống ,thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá nông thôn góp phần pháttriển kinh tế đất nước Tuy nhiên những chính sách này vẫn chưa mang tínhđồng bộ với các chính sách về các mặt khác Trong đó nhiều chính sách vềđất đai làng nghề truyền thống mới chỉ được thể hiện thông qua nhiều chínhsách chung chung khác nhau mà chưa có sự thống nhất , đồng bộ dành riêngcho việc quản lý , sử dụng đất làng nghề truyền thống
1.4 Bài học kinh nghiệm về khôi phục , phát triển và quản lý , sử dụng đất làng nghề truyền thống ở một số nước khác
1.4.1 Kinh nghiệm một số nước
Hiện nay hầu hết các nước đang phát triển trên thế giới đều chú trọngphát triển ngành nghề truyền thống ở nông thôn và coi đây là một giải pháphữu hiệu để tạo công ăn việc làm , nâng cao thu nhập cho dân cư nông thôn ,tạo cở sở để nông thôn phát triển ổn định Ở tại một số nước Châu Á cónhững nét tương đồng với Việt Nam như Trung Quốc , Hàn Quốc , Nhật Bản ,Thái Lan …thì ngành nghề truyền thống cũng được khôi phục và phát triểntrong những năm gần đây Với nhiều chính sách cụ thể được đưa ra phù hợpvới đặc điểm và hoàn cảnh của từng nước nhằm thực hiện việc duy trì và phát
Trang 18triển ngành nghề truyền thống Việc học hỏi những kinh nghiệm của nhữngnước này về vấn đề này là rất cần thiết.
1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia có diện tích lãnh thổ lớn thứ 3 trên thế giới , códân số đông nhất thế giới , trong đó khu vực nông thôn chiếm khoảng 64% Trung Quốc có nhiều ngành nghề thủ công truyền thống phát triển , nổi tiếngvới các sản phẩm của nghề dệt , nghề gốm , nghề giấy , nghề đúc kim loại…Trong chiến dịch công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước , Trung Quốc đã rấtchú trọng đến việc phát triển các làng nghề , làng nghề truyền thống ở nôngthôn Với các chủ trương như : “ Ly nông bất ly hương, nhập xưởng bất nhậpthành ” tức là “ rời ruộng không rời làng , vào nhà máy không vào thành phố
” đã thu hút được hơn 100 triệu lao động nông nghiệp chuyển sang côngnghiệp , tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tại các làng nghề với nhiều hình thứckhác nhau như : cá thể , tư nhân , hợp tác xã Trong quá trình phát triển cáclàng nghề, làng nghề truyền thống ở Trung Quốc , chính phủ Trung Quốc coiviệc phát triển nghề thủ công ở nông thôn là một trong những nhiệm vụ quantrọng của công cuộc công nghiệp hoá nông thôn Vì vậy , Chính phủ đã banhành nhiều chính sách , giải pháp nhằm kích thích các xí nghiệp hương trấnphát triển như : chính sách thuế (áp dụng mức thuế khác nhau cho các vùng
và ngành nghề truyền thống khác nhau , đặc biệt ưu tiên các vùng khó khăn ,miễn tất cả các loại thuế trong vòng 3 năm đầu tiên đối với các xí nghiệp mớithành lập); chính sách cho vay vốn với lãi suất ưu đãi ; chính sách xuất khẩu ;chính sách bảo hộ hàng nội địa…đặc biệt Trung Quốc coi trọng việc pháttriển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá , hiện đại hoá bằng nhiều chínhsách mà hạt nhân là chính sách liên quan đến đất đai Tại Đại hội Đảng lầnthứ XVI của Đảng cộng sản Trung Quốc đã khẳng định “ cần hoạch địnhthống nhất sự phát triển kinh tế -xã hội thành thị và nông thôn , tăng nhanh
Trang 19thu nhập nông dân ” và “ tạo cho người dân quyền sử dụng lâu dài ” , tăngcường đầu tư cơ sở hạ tầng ở nông thôn, cho sắp xếp lại việc sử dụng đấtvùng nông thôn theo hướng công nghiệp hoá , hiện đại hoá Điều đó đã tạocho các làng nghề truyền thống có điều kiện được đầu tư và phát triển , hệthống giao thông và cơ sở hạ tầng phát triển nhanh chóng , các cơ sở sản xuấtđược khuyến khích mở rộng thêm mặt bằng sản xuất , vận dụng lợi thế về vịtrí địa điểm sản xuất và chi phí vận chuyển thấp nhằm tạo ra lợi thế trong tiêuthụ sản phẩm , hạn chế di chuyển lao động giữa các vùng , từ nông thôn rathành thị.
2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc là một nước có địa hình đồi núi hiểm trở , điều kiện tự nhiênlại không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp trong khi đó dân số nông thônchiếm tỷ lệ lớn Chính vì vậy trong quá trình phát triển , Hàn Quốc đã rất chútrọng đến công nghiệp hóa nông thôn, trong đó có ngành nghề thủ công vàlàng nghề truyền thống Các hộ gia đình sản xuất ngành nghề , đặc biệt làngành nghề truyền thống được chính phủ đứng ra hướng dẫn , tổ chức thànhđơn vị nhỏ , được vay vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi và được giúp đỡ trongvấn đề tiêu thụ sản phẩm Cùng với những chính sách đó , Chính phủ HànQuốc ngay từ đầu đã rất quan tâm đến công tác quy hoạch phát triển làngnghề truyền thống ở nông thôn Với chủ trương kết hợp nội lực của người dân
và sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở
hạ tầng nông thôn Từ đó người dân dần ý thức được trách nhiệm của mìnhtrong sự nghiệp phát triển ngành nghề Sau 30 năm thực hiện phong tràotrên , môi trường sống và cuộc sống vật chất của người dân nông thôn HànQuốc đựoc cải thiện đáng kể , sản xuất mang tính thương mại đã phát triển Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động , có khả năng tự tích luỹ , tựđầu tư và nhờ đó có khả năng tự phát triển
Trang 203 Kinh nghiệm ở Thái Lan
Thái Lan là một trong những nước ở khu vực Đông Nam Á có nguồn thunhập ngoại tệ lớn nhất từ việc xuất khẩu các sản phẩm thủ công truyền thống
Là nước có nhiều làng nghề và ngành nghề truyền thống như chế tác vàng ,bạc , đá quý , đồ trang sức …Với kỹ thuật chạm trổ tinh xảo , lao động có taynghề có , giá trị xuất khẩu các sản phẩm thủ công truyền thống của Thái Lanngày càng tăng lên nhanh chóng Kết quả đó một phần lớn là nhờ nhữngchính sách hiệu quả của Chính phủ Thái Lan đề ra nhằm khôi phục và pháttriển làng nghề truyền thống Trong đó phải kể đến chủ trương tập trung vàoviệc quy hoạch phát triển các làng nghề truyền thống theo hướng kết hợp vớiphát triển dịch vụ du lịch ( Chiềng Mai) Các làng nghề truyền thống đã đượcquy hoạch, bố trí sắp xếp lại dân cư , mở rộng và tu bổ các di tích lịch sử nhưđình , chùa… Chính Phủ Thái Lan đã rất quan tâm đến việc đầu tư cơ sở hạtầng nông thôn , phát triển nghề truyền thống , tận dụng tối đa những lao độngthiếu việc làm tại chỗ
1.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra
Qua nghiên cứu , tham khảo những kinh nghiêm thực tế về phát triểnngành nghề nông thôn , phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống của cácnươc trên thế giới Và xem xét , đặt trong điều kiện , hoàn cảnh của nước tagiai đoan này Có những bài học kinh nghiệm trong việc quản lý và sử dụngđất đai để duy trì , phát triển làng nghề truyền thống được rút ra như sau:
- Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống là hướng đi đúng đắn,phù hợp với xu thế chung của các nước trên thế giới
- Bên cạnh những chính sách ưu đãi về thuế ,vốn tín dụng , đầu tư…thìnhững chính sách về đất đai có vai trò rất quan trọng cho việc khôi phục vàphát triển bền vững làng nghề truyền thống Và cần có sự kết hợp đồng bộcác chính sách để đạt được hiệu quả cao nhất
Trang 21- Quy hoạch phát triển làng nghề cần được xây dựng và có tính đồng bộgiữa các quy hoạch Tại mỗi địa phưong , với mỗi ngành nghề truyền thống ,làng nghề truyền thống tuỳ theo tính chất đặc trưng khác nhau cần có quyhoạch xây dựng chi tiết để đảm bảo cho sự phát triển ổn định , lâu dài củalàng nghề truyền thống Đảm bảo cho sự phát triển bền vững , đạt hiệu quảkinh tế , xã hội và môi trường
- Phát triển cơ sở hạ tầng , đặc biệt là mạng lưới đường giao thông nôngthôn và hệ thống xử lý chất thải Trong đó nêu cao sự kết hợp giữa nhà nước
và nhân dân cùng phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đờisống dân cư nông thôn Phát huy tối đa nội lực của người dân và nâng caotinh thần tự giác , ý thức trách nhiệm của người dân trong sự phát triển ngànhnghề nông thôn , phát triển làng nghề truyền thống
- Khuyến khích phát triển làng nghề truyền thống hướng tới phục vụ pháttriển du lịch và cho xuất khẩu , thu hút lao động dư thừa ở nông thôn , tạoviệc làm , tăng thu nhập người dân., giảm sức ép di dân cơ học từ nông thôn
ra thành thị
Trang 22
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ , SỬ DỤNG ĐẤT LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG BÁT TRÀNG
2.1 Giới thiệu tổng quan về làng nghề truyền thống Bát Tràng
Xã Bát Tràng gồm hai thôn Bát Tràng và Giang Cao thuộc huyện GiaLâm , Hà Nội Cách Trung tâm thành phố Hà nội khoảng 10 km về phí ĐôngNam Phí Bắc giáp xã Đông Dư Phía Nam giáp sông Bắc Hưng Hải (xãXuân Quan thuộc tỉnh Hưng Yên) Phía Đông giáp xã Đa Tốn Phía Đônggiáp sông Hồng Là một làng nghề ven đô Vị trí này rất thuận lợi cho sự giaolưu kinh tế tạo thành một lợi thế quan trọng cho sự phát triển làng nghề Do
có sự thuận lợi về giao thông đường bộ, đường thuỷ giúp cho việc mở rộng ,giao lưu, thông thương hàng hoá ,tiêu thụ sản phẩm và thu hút khách tham
quan , du lịch Xã có diện tích đất tự nhiên là 164,03 ha
Xã có nghề truyền thống là gốm sứ và được công nhận là làng nghềtruyền thống Làng nghề truyền thống Bát Tràng có lịch sử phát triển từ hơn
500 năm Trải qua bao thử thách , thăng trầm của thời gian , làng nghề vẫntồn tại và phát triển đến ngày nay Với sản phẩm truyền thống là những đồgốm sứ phục vụ cho đời sống sinh hoạt như bát đĩa , ấm chén , lọ hoa…phục
vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài Nghề truyền thống từthôn Bát Tràng đã dần lan sang thôn Giang Cao và đến nay thì cả xã BátTràng phát triển nghề Trong vòng 10 năm qua tốc độ tăng trưởng của làng
nghề truyền thống Bát Tràng tăng khá mạnh Trung bình 8% /năm tính theo
giá trị đầu vào
Làng nghề Bát Tràng thuộc vùng đồng bằng sông Hồng , là vùng đất
chật người đông Tổng dân số toàn xã năm 2007 là 7.191 người Là địa
phương có điều kiện tự nhiên thuận lợi như về khí hậu , thuỷ văn Có nhiều
Trang 23lợi thế về kinh tế ,văn hoá, xã hội , an ninh , quốc phòng… Là một làng ven
đô ,nằm ngay sát sông Hồng , cách trung tâm thủ đô Hà nội không xa, có hệthống giao thông cả đường bộ , đường thuỷ đều rất thuận lợi Do vậy chịu tácđộng mạnh mẽ của quá trình đô thị hoá Dân số tăng nhanh , nguồn lao độngtrẻ , dồi dào phục vụ tốt cho phát triển làng nghề
Hiện nay làng nghề truyền thống Bát Tràng không còn hộ gia đình nàosản xuất nông nghiệp , các hộ gia đình đã chuyển sang sản xuất kinh doanhnghề chuyển thống Đời sống người dân được cải thiện đáng kể Cùng với đóquá trình đô thị hoá tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của một làng nghềven đô như Bát Tràng Nghề truyền thống được khôi phục và phát triển ,không chỉ tao việc làm cho lao đông của xã mà còn thu hút được một lượnglớn lao động từ các vùng lân cận Các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh
đa dạng như : các công ty trách nhiệm hữu hạn, các công ty cổ phần , cácdoanh nghiệp tư nhân và đa số là các cơ sở sản xuất của hộ gia đình …
Về quy mô lao động thì tỷ lệ lao động làm nghề truyền thống chiếm tỷ
lệ lớn , theo thống kê của xã tỷ lệ này là khoảng hơn 80% lao động trong xã.
Ngoài ra mỗi hộ sản xuất hàng ngày có khoảng 8-10 lao động làm thuê đến từ
các xã lân cận Cả xã mỗi ngày thu hút khoảng 6000-10000 lao động làm thuê Và thường xuyên có khoảng trên 1.000 lao động tạm trú tại làng Lao động thường làm việc với thời gian khoảng 9-10 giờ / ngày , vào lúc cao điểm thì làm việc khoảng 13-15giờ/ ngày Về chất lượng lao động , chủ yếu là lao
động thủ công , chưa qua đào tạo nên chất lượng lao động chưa cao Nghệnhân còn lại không nhiều Dạy nghề , truyền dạy và đào tạo nghề bằngphương pháp truyền thống , chủ yếu từ đời này qua đời khác Có nhiều hộ giađình ở Bát Tràng đã cho con họ đi học mỹ thuật để phục vụ cho phát triểnnghề
Trang 24Về thu nhập của người lao động làm nghề truyền thống : Bát Tràng có thu
nhập bình quân của một lao động làm nghề rất cao khoảng
1.200.000-1.400.000 đồng /tháng , cao gấp 3-4 lần lao động sản xuất nông nghiệp trước
đây Nhờ có thu nhập tăng cao , đời sống của người dân được cải thiện đáng
kể Nhờ đó người dân có thể đóng góp để xây dựng , cải thiện và tu bổ hệthống cơ sở hạ tầng như điện , đường , trường , trạm… Các khu vui chơi , giảitrí được xây dựng , các dịch vụ phục vụ đời sống cũng phát triển theo Ngườidân đã quan tâm nhiều đến đời sống tinh thần của mình hơn Các công trìnhtôn giáo, các nhà thờ họ , những ngôi nhà cổ được tu tạo và gìn giữ Các hoạtđộng văn hoá cũng dần được khôi phục lại như những ngày hội làng , ngàygiỗ tổ nghề …
Làng nghề Bát Tràng vẫn giữ được những nét văn hoá truyền thống củamột làng nghề truyền thống nông thôn Việt Nam Với những đình , đền chùanổi tiếng , có những ngôi nhà cổ , những lò nung cổ Nét đặc sắc văn hoátruyền thống , tính nghệ thuật cao được thể hiện trên những sản phẩm củalàng nghề và thể hiện ở cả những công đoạn làm gốm cổ truyền Chính vìnhững nét đắc sắc đó , làng nghề Bát Tràng đang là một trong những điểm dulịch nổi tiếng Một số năm gần đây, du lịch làng nghề Bát Tràng rất phát triển
Và phát triển du lịch làng nghề cũng đang được coi là điểm trọng tâm trongchiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Bát Tràng
2.2 Thực trạng quản lý , sử dụng đất tại Bát Tràng
2.2.1 Thực trạng quản lý , sử dụng đất khu dân cư và đất ở tại Bát Tràng
Làng nghề Bát Tràng có lịch sử phát triển lâu đời , khu dân cư đượchình thành mang đậm nét văn hoá làng , xóm ở nông thôn Việt Nam Nhữngnăm gần đây nghề truyền thống được khôi phục và được khuyến khích pháttriển đã tác động vào nhiều mặt của đời sống dân cư tại đây Người dân cóviệc làm, thu nhập tăng, đời sống được cải thiện cùng với đó là nhu câù mở
Trang 25rộng quy mô sản xuất tăng nhanh đòi hỏi tăng nhu cầu về mặt bằng sản xuất ,kinh doanh Diện tích đất có hạn , chính vì vậy các hộ gia đình , các chủ cơ
sở sản xuất đã phải tận dụng diện đất ở làm cơ sở sản xuất kinh doanh Sựbiến đổi không gian nơi ở và sinh hoạt dành cho các chức năng, mục đíchkhác đã làm ảnh hưởng rất lớn đến đất khu dân cư sinh sống tại đây
- Đất khu dân cư tại Bát Tràng được hình thành lâu đời theo kiểu kiếntrúc cổ , mang đậm nét nông thôn Việt Nam Khu dân cư được tập trungthành các cụm , xóm với kiểu kiến trúc có nhà , sân , vườn Diện tích đất khu
dân cư của Bát Tràng là 164,03 ha , chiếm 100% Diện tích tự nhiên Những
năm qua trong quá trình phát triển làng nghề ,cùng với xu hướng đô thị hoáđang diễn ra mạnh mẽ đã có tác động không nhỏ tới làng nghề truyền thốngven đô như Bát Tràng Dân số ngày càng tăng nhanh , nhu cầu về đất ở cũngnhư đất làm mặt bằng phục vụ sản xuất kinh doanh làm nghề truyền thốngtăng cao Diện tích đất ở của các hộ gia đình đã chật hẹp , nay lại bị phân lô,chia nhỏ ra nhằm tạo mặt bằng để xây dựng xưởng sản xuất , kinh doanh Vìvậy khu dân cư ngày càng trở nên chật hẹp , mật độ dân số trong khu dân cưtại Bát Tràng là rất cao Theo số liệu của xã thì mật độ dân số toàn xã là
4.384 người / km 2 , mật độ dân số khu vực dân cư và sản xuất là 14.628
người /km 2 .Bình quân đất khu dân cư trên đầu người rất thấp so với bình
quân chung của vùng , chỉ có 228,10 m 2 / người Mặc dù xã đã có những biện
pháp như không cho phép mở rộng hoặc mở mới mặt bằng sản xuất trong khudân cư , có quy hoạch khu dân cư mới để giãn dân nhưng vẫn không thể hạnchế được áp lực về đất khu dân cư
- Đất ở : Diện tích đất ở nông thôn tại Bát Tràng là 44,22 ha Mặc dù
hiện nay không còn quy định về hạn mức đất ở nhưng so với hạn mức đất ởnông thôn trước đây theo quy định của Luật đất đai 2003 thì bình quân diệntích đất ở của các hộ gia đình ở Bát Tràng là rất thấp Theo điều tra thì bình
Trang 26quân đất ở tại Bát Tràng là 267,19 m 2 / hộ gia đình Thực tế thì với mức diện
tích đất ở này, nếu các hộ chỉ dành để xây dựng nhà ở , xây các công trìnhphục vụ sinh hoạt thì vẫn có thể đáp ứng được Nhưng nếu còn dành cho cảmục đích xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh thì sẽ là quá chật hẹp Với đặcthù của nghề truyền thống gốm sứ , quá trình sản xuất gồm nhiều công đoạn
và thực hiện theo dây truyền Nhu cầu về mặt bằng chứa nguyên vật liệu ,chứa thành phẩm là rất lớn , việc sử dụng máy móc trong một số công đoạnthay thế cho các hình thức thủ công trước đây thì nhu cầu mặt bằng để đặtmáy móc ,thiết bị cũng tăng cao Nhất là hiện nay khi mà làng nghề đangtrong giai đoạn phát triển mạnh mẽ thì nhu cầu mở rộng quy mô sản xuấtngày càng tăng nhanh Chính vì vậy ,diện tích đất thổ cư , đất ở đang chịumột sức ép rất lớn Tỷ lệ các hộ làm nghề truyền thống sử dụng nơi ở của giađình làm cơ sở sản xuất , chứa nguyên vật liệu hoặc cửa hàng giới thiệu sản
phẩm rất cao (93%) Mặt khác , làng nghề Bát Tràng phát triển không những
tạo ra việc làm cho người dân tại địa phương mà còn thu hút một số lượng lớnlao động đến làm thuê từ vùng lân cận Theo điều tra thì có hàng ngày có
khoảng 6000-10000 lao động từ các nơi đến làm thuê tại Bát Tràng Do tính
chất công việc của nghề này mà vẫn có những người làm thuê ăn ở luôn tại
các cơ sở sản xuất Bình quân mỗi hộ sản xuất có khoảng 8-10 lao động làm
thuê ở lại ăn ở tại cơ sở sản xuất Chính vì vậy mà diện tích đất ở của các hộgia đình ở đây vốn đã chật hẹp nay lại càng chật hẹp , lộn xộn hơn , khôngđảm bảo thoáng khí , môi trường ở bị ô nhiễm nghiêm trọng Những phầndiện tích trước đây là sân , vườn nay được sử dụng làm mặt bằng phục vụ chosản xuất , kinh doanh Hiện nay, tại Bát Tràng diện tích đất vườn trồng câyxanh trong khuôn viên đất ở của các hộ gia đình hầu như là không còn Không khí trong khuôn viên đất ở vốn đã bị ô nhiễm do bụi và khí thải lạicàng ô nhiễm hơn
Trang 272.2.2 Thực trạng quản lý , sử dụng đất cơ sở sản xuất kinh doanh tại Bát Tràng.
Theo điều tra thì ở Bát Tràng tỷ lệ các hộ gia đình sử dụng một phần
diện tích đất ở để làm cơ sở sản xuất kinh doanh là khoảng 93% Tổng số cơ
sở sản xuất là 243 CSSX Trong đó có tới 226 CSSX được xây dựng trên đất
ở Số còn lại đã sử dụng đất thuộc cụm công nghiệp làng nghề để xây dựng cơ
sở sản xuất, kinh doanh Chính vì vậy việc xác định diện tích , quy mô đất sảnxuất kinh doanh là rất khó khăn do không thể phân định rõ được khu ở và khusản xuất kinh doanh Hiện tại vì nhu cầu mở rộng sản xuất , kinh doanh củacác cơ sở sản xuất kinh doanh là rất lớn Nhu cầu về đất cơ sở sản xuất kinhdoanh ngày càng tăng Hầu hết các hộ sản xuất được hỏi đều mong muốn cóthêm mặt bằng để mở rộng cơ sở sản xuất đáp ứng nhu cầu Mặt khác cũng
do nhu cầu mặt bằng sản xuất kinh doanh là rất lớn mà hầu như các hộ sảnxuất đều lấn chiếm thêm đất giao thông , đất công cộng …Các phế thải rắnnhư xỉ lò than, phế phẩm được các hộ sản xuất chất đống ở ngoài đường làmcho lòng đường đã hẹp nay lại còn chật chội hơn và còn gây ra ô nhiễm Cónhiều cơ sở do thiếu mặt bằng chứa nguyên vật liệu , thành phẩm …đã xâydựng trên nền nhà ở thêm 2-3 tầng nữa Tuy nhiên việc xây dựng này chỉmang tính tạm bợ , không đảm bảo về tiêu chuẩn xây dựng Một số hộ do có
đủ tiềm lực đã thuê đất ở cụm công nghiệp làng nghề để sản xuất , kinhdoanh Ở cụm công nghiệp do có sự đầu tư tương đối đồng bộ về cơ sở hạtầng nên đã giảm thiểu được ô nhiễm , tạo ra sự chuyên môn hoá cao trongsản xuất Tuy nhiên, theo quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề có diện tích
khoảng 16.9 ha so với nhu cầu về mặt bằng của các hộ sản xuất hiện tại và
cả tương lai là chưa đáp ứng hết được Nhiều cơ sở sản xuất rất muốn thuê đấttại cụm công nghiệp làng nghề nhưng do không đủ tiềm lực để thuê đất vì với
họ giá thuê đất vẫn rất cao Nhiều hộ mặc dù đã thuê đất tại cụm công nghiệp
Trang 28làng nghề nhưng vẫn tiếp sử dụng đất ở làm cơ sở sản xuất kinh doanh vìmuốn tận dụng đất ở không phải trả tiền thuê đất và muốn tận dụng cả laođộng trong gia đình do tính chất của nghề thì cả người già và trẻ em cũng cóviệc làm Về đất dùng để kinh doanh , giới thiệu sản phẩm làng nghề truyềnthống thì cũng đã được quy hoạch Chợ làng nghề được quy hoạch xây dựng
và đã được đưa vào sử dụng được 3 năm nay Với mục đích trưng bày giớithiệu sản phẩm và bán sản phẩm cho khách du lịch Hệ thống các cửa hànggiới thiệu sản phẩm và là nơi giao dịch các hợp đồng bán sản phẩm làng nghềđược quy hoạch trải đều, bám theo trục đường chính của xã , phục vụ tốt hơncho việc trưng bày , giới thiệu sản phẩm
2.2.3 Thực trạng quản lý , sử dụng đất giao thông và cơ sở hạ tầng ở Bát Tràng
Những năm qua , làng nghề truyền thống Bát Tràng phát triển mạnh, tạo
ra việc làm và làm cho thu nhập của người dân nơi đây tăng lên cao Nhờ đóngười dân có điều kiện cải thiện đời sống của gia đình Người dân đã tự lập,cùng nhau đóng góp để cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng để phục vụ cho sinhhoạt và sản xuất đặc biệt là sinh hoạt đời sống Hệ thống cơ sở hạ tầng xã hộiđược xây dựng nhằm phục vụ đời sống tạo cho người dân có thể an tâm , thưgiãn sau những giờ làm việc mệt nhọc Cùng với người dân , thành phố Hànội với chủ trương khôi phục và phát triển làng nghề đã đầu tư xây dựng , cảitạo và tu bổ hệ thống cơ sở hạ tầng cho Bát Tràng khá đồng bộ Hệ thốnggiao thông , điện , hệ thống chiếu sáng , bến cảng đón khách tham quan làngnghề truyền thống bằng đường sông , hệ thống cung cấp nước sạch và hệthống thoát nước thải …được xây dựng , tu bổ đã tạo ra sự đồng bộ và hoànchỉnh phục vụ tốt cho đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân Nên cóthể nói so với các làng nghề truyền thống phát triển khác thì Bát Tràng có hệthống cơ sở hạ tầng tương đối đồng bộ Tuy nhiên nếu xét về nhu cầu phát
Trang 29triển trong vài năm tới thì có thể thấy hệ thống cơ sở hạ tầng này sẽ khôngđáp ứng yêu cầu
- Về giao thông ở Bát Tràng : Diện tích đất giao thông là 28,71 ha.
Trong đó bao gồm hệ thống các trục đường chính , đường trong ngõ …Trụcđường chính dẫn vào làng đã được nhựa hoá với chiều rộng khoảng 10m Hệthống cống thoát nước trên trục đường chính đã được xây dựng khá hoànchỉnh Hệ thống đường trong ngõ đã được bê tông hoá Tuy nhiên chiều rộng
bề mặt đường rất hẹp do việc xây dựng các nhà cao tầng , xưởng sản xuấttrong khu dân cư lấn chiếm gây khó khăn cho việc vận chuyển nguyên vậtliệu, thành phẩm … Mặc dù đã có việc cấm việc sử dụng công nông vậnchuyển trong làng nhưng hàng ngày cường độ vận chuyển hàng hoá , nguyênvật liệu bằng các phương tiện khác vẫn rất nhiều chính vì vậy đã làm cho bềmặt đường bị xuống cấp nghiêm trọng , mặt đường xuất hiện nhiêu ổ gà , bụiđất rất nhiều gây ảnh hưởng đến môi trường sống Nhiều cơ sở sản xuất dothiếu mặt bằng sản xuất đã sử dụng diện tích mặt đường đã nhỏ hẹp để chứacác chất thải rắn như xỉ than , phế phẩm …làm cho nó càng nhỏ hẹp hơn vàgây ô nhiễm môi trường sống vì bụi đất Bề mặt đường nhỏ hẹp, không còndiện tích trồng cây xanh ven đường nên tình trạng ô nhiễm không khí ở đâycàng trở lên nghiêm trọng Các bến , bãi đỗ xe , tập kết nguyên vật liệu ,thành phẩm đã được quy hoạch tuy nhiên vẫn không đáp ứng được yêu cầu Hầu hết các cơ sở sản xuất đều nằm trong khu dân cư nên họ thường dùng lềđường làm bãi đỗ xe tạm nên nhiều khi vẫn gây ùn tắc nghiêm trọng Còn
hệ thống đường trong cụm công nghiệp làng nghề do được quy hoạch và đầu
tư xây dựng hoàn chỉnh ngay từ đầu nên vẫn đáp ứng nhu cầu
- Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật như hệ thống điện , hệ thống cấp,thoát nước , thông tin liên lạc … đã được thành phố Hà Nội cải tạo nâng cấp ,
tu bổ tương đối đồng bộ Tại cụm công nghiệp làng nghề thì hệ thống này