Để đạt được mục tiêu trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm KhoaLâm nghiệp-Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tôi đã tiến hành đợt thực tập tốt nghiệp với nội dung: “Nghiên cứu ảnh hưởn
Trang 1ĐỖ THỊ THANH HUYỀN
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH RA RỄINDOLEBUTYRIC ACID ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH CÂY HOM
NGŨ GIA BÌ (Schefflera octophylla (Lour.) Harms)
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI
NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm Nghiệp Khoa : Lâm Nghiệp Khoá học : 2014-2018
THÁI NGUYÊN, 2018
Trang 2ĐỖ THỊ THANH HUYỀN
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH RA RỄINDOLEBUTYRIC ACID ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH CÂY HOM
NGŨ GIA BÌ (Schefflera octophylla (Lour.) Harms)
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI
NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm Nghiệp Khoa : Lâm Nghiệp Khoá học : 2014-2018 Giảng viên hướng dẫn: TS Lê Sỹ Hồng Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
THÁI NGUYÊN, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài tốt nghiệp “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA (Indol butyric acid) đến sự hình thành cây hom Ngũ gia bì (Schefflera octophylla (Lour.) Harms), tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” là
công trình nghiên cứu của bản thân tôi, đề tài đã sử dụng thông tin từ nhiềunguồn khác nhau, các thông tin có sẵn đã được trích rõ nguồn gốc
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã đưa trongđề tàinày là trung thực và chưa được sử dụng trong bất cứ một công trình nghiêncứu khoa học nào khác
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 5 năm 2018
XÁC NHẬN CỦA GVHD Người viết cam đoan
TS.Lê Sỹ Hồng Đỗ Thị Thanh Huyền
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là một khoảng thời có ý nghĩa rất quan trọng trongquá trình học tập của mỗi sinh viên
Mục tiêu của đợt thực tập này nhằm tạo điều kiện cho sinh viên có cơhội cọ sát với thực tế, gắn kết những lý thuyết đã học trên ghế giảng đườngvới môi trường thực tiễn bên ngoài, đồng thời giúp sinh viên hệ thống hóa vàcủng cố những kiến thức đã học
Để đạt được mục tiêu trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm KhoaLâm nghiệp-Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tôi đã tiến hành đợt
thực tập tốt nghiệp với nội dung: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA (Indole butyric acid) đến sự hình thành cây hom Ngũ gia
bì (Schefflera octophylla (Lour.) Harms), tại trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên”.
Trong suốt quá trình thực tập, bằng niềm say mê, nhiệt tình cố gắng củabản thân, cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa lâm nghiệp đặcbiệt là Thầy giáo TS.Lê Sỹ Hồng, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên,
đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập để hoàn thiện bản khóa luận này
Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ long biết ơn chân thành và sâu sắc tớitất cả sự giúp đỡ quý báu đó
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian và trình độ chuyênmôn có hạn nên chắc chắn bản khóa luận không tránh khỏi những thiếu sótnhất định Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn để đề tàicủa tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên,30 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Đỗ Thị Thanh Huyền
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp chỉ tiêu nhiệt độ, độ của không khí trong thời
gian thực hiện thí nghiệm tại thành phố Thái Nguyên 22Bảng 3.1: Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA 29Bảng 4.1: Tỷ lệ sống của hom cây Ngũ gia bì của các công thức thí
nghiệm ở các định kì theo dõi 31Bảng 4.2 Kết quả ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích IBA đến
khả năng ra rễ hom Ngũ gia bì ở cuối đợt thí nghiệm 33Bảng 4.3 Kết quả ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích IBA đến
khả năng ra chồi của cây hom Ngũ gia bì ở cuối đợt thí
nghiệm 39
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm giâm hom ảnh hưởng của nồng độ thuốc
24
Hình 3.2 Giâm hom 27
Hình 3.2: Thu thấp số liệu 28
Hình 4.1: Tỷ lệ (%) sống của hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN 32
Hình 4.2a: Ảnh ra rễ của hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN 34
Hình 4.2b: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ (%) ra rễ của hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN 35
Hình 4.2c: Biểu đồ biểu diễn số rễ trên hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN 36
Hình 4.2d: Biểu đồ biểu diễn chiều dài rễ trung bình trên hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN 37
Hình 4.2e: Biểu đồ biểu diễn chỉ số rễ của hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN 38
Hình 4.3a: Ảnh ra chồi của cây hom Ngũ gia bì ở các CTTN 40
Hình 4.3b: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ (%) ra chồi của hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN 41
Hình 4.3c: Biểu đồ biểu diễn số chồi trên hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN .42
Hình 4.3d: Biểu đồ biểu diễn chiều dài chồi trung bình trên hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN 43
Hình 4.3e: Biểu đồ biểu diễn chỉ số chồi của cây hom Ngũ gia bì ở CTTN .44
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTTN: Công thức thí nghiệmCT: Côngthức
Tb: Trung bình
Cd: Chiều dài
IBA: Indole burytic acid
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4
2.1.1 Cơ sở tế bào học 4
2.1.2 Cơ sở di truyền học 5
2.1.3 Sự hình thành rễ bất định 6
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom 8
2.2 Những nghiên cứu trên Thế giới 15
2.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam 16
2.4 Đặc điểm chung của Ngũ gia bì 17
2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu 21
2.5.1 Đặc điểm - vị trí địa hình, đất đai khu vực nghiên cứu 21
2.5.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết 22
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.2 Địa điểm vài thời gian nghiên cứu 23
3.3 Nội dung nghiên cứu 23
Trang 93.4 Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 24
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 25
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 28
PHẦN 4 KẾT QỦA VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 31
4.1 Kết quả ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích IBA đến tỷ lệ sống của hom cây Ngũ gia bì 31
4.2 Kết quả ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích IBA đến khả năng ra rễ của hom Ngũ gia bì 33
4.2.1 Tỷ lệ ra rễ của hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm 35
4.2.2 Số rễ trung bình trên hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm 35 4.2.3 Chiều dài rễ trung bình trên hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm 36
4.2.4 Chỉ số ra rễ của hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm 37
4.3 Kết quả ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích IBA đến khả năng ra chồi của hom Ngũ gia bì 39
4.3.1 Tỷ lệ ra chồi của hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm 41 4.3.2 Số chồi trung bình trên hom Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm 41
4.3.3 Chiều dài chồi trung bình trên hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm 42
4.3.4 Chỉ số ra chồi của hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm 43
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
5.1 Kết luận 45
5.2 Tồn tại 45
5.3 Kiến nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 10Cây Ngũ gia bì/cây Đáng (Schefflera Octophylla (Lour.) Harms), thuộc
họ Ngũ Gia Bì (Araliaceae), Bộ Hoa Tán (Apiales) Loài đặc hữu của ĐôngDương, mọc hoang, thường mọc ở ven rừng, chân núi, sườn đồi, đất hoang từ100-1500m, vùng núi từ Lạng Sơn đến Lâm Đồng (Đà Lạt)
Ngũ gia bì là loài cây có những tác dụng chữa bệnh ít người biết Thuhái vỏ thân, vỏ rễ và rễ nhỏ vào mùa xuân, mùa thu, cạo sạch lớp vỏ bẩn bênngoài, đồ qua, thái miếng, ủ cho thơm rồi phơi trong râm tới khô Lá thu háiquanh năm, rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô làm thuốc Ngũ gia bì có vị đắng,chát, hơi thơm, tính mát, có tác dụng giải nhiệt, làm ra mồ hôi, kháng viêm,tiêu sưng và làm tan máu ứ Dịch chiết vỏ cây có tác dụng tăng lực, kích thíchthần kinh rõ rệt, chống lạnh, hạ đường huyết Người ta xem Chân chim như vịthuốc có tác dụng kích thích tiêu hoá, ăn ngon cơm, ngủ ngon, làm thuốc bổ.Ngoài ra cây còn được trồng làm cây cảnh, cây trồng trong nhà đuổi muỗi,
Xuất phát từ giá trị của cây Ngũ gia bì nên được nhiều người dân trồng,
để đáp ứng được nguồn giống, có rất nhiều cách tạo giống bằng nhiều phươngpháp khác nhau như nuôi cấy mô tế bào trong môi trường nhân tạo, nhângiống sinh dưỡng… Trong đó nhân giống bằng hom là một trong những công
cụ hiệu quả nhất
Trang 11Phương pháp giâm hom (cutting propagation): Là phương pháp dùng
một phần lá, một đoạn thân, đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo nên cây mới gọi làcây hom, cây hom có đặc tính di truyền được giữ nguyên từ cây mẹ Nhângiống bằng hom là phương pháp nhân giống nhanh và có hệ số nhân giốngcao nên được dùng phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ănquả
Nhân giống bằng phương pháp giâm hom phụ thuộc nhiều yếu tố như:các yếu nội tại( xuất xứ, tuổi cây mẹ lấy cành, vị trí lấy cành, tuổi cành, độ dàihom), các yếu tố ngoại cảnh (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, chất kích thích rarễ….), trong đó các chất kích thích ra rễ cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng
ra rễ của hom
Xuất phát từ vấn đề trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA (Indole butyric acid ) đến sự
hình thành cây hom Ngũ gia bì (Schefflera octophylla (Lour.) Harms), tại
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài góp phần tạo giống cây con của cây Ngũ gia bì cung cấp chotrồng rừng, cho nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sống
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được nồng độ chất kích thích ra rễ IBA phù hợp cho khả năng
ra rễ, ra chồi của cây Ngũ gia bì.
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Là tài liệu trong học tập, cho những nghiên cứu tiếp theo và là cơ sởtrong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan
- Giúp cho sinh viên kiểm chứng lại những kiến thức lý thuyết đã họcbiết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, và có thể tích lũy được nhữngkiến thức thực tiễn quý giá phục vụ cho quá trình công tác trong tương lai
Trang 12- Qua quá trình nghiên cứu sẽ giúp sinh viên nắm vững những kiếnthức kinh nghiệm trong chọn hom giâm, xử lý hom… đồng thời biết được quátrình sinh trưởng của cây hom từ lúc cắm hom cho đến lúc cây hom ra rễ.Trong quá trình nghiên cứu còn được bổ xung thêm kiến thức qua một số tàiliệu, sách báo thông tin trên mạng Từ đó áp dụng khoa học kỹ thuật vào thực
tế sản xuất, và tạo cho sinh viên tác phong làm việc sau khi ra trường
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Sự thành công của đề tài này có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn sản xuất
vì tìm ra được nồng độ thuốc và loại thuốc phù hợp trong phương pháp nhângiống bằng hom với loài cây Ngũ gia bì Đồng thời xây dựng được quy trìnhtạm thời giâm hom cây Ngũ gia bì Từ đó có thể phổ biến kỹ thuật này ápdụng tạo ra lượng lớn cây con với chất lượng tốt nhất
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Sinh sản bằng hạt tạo được cây khỏe mạnh nhưng lâu có quả và khó giữđược đặc tính di truyền tốt của cây mẹ Giâm hom là phương pháp nhân giốngcây trồng bằng cơ quan sinh dưỡng Cơ sở khoa học của phương pháp là saukhi tiến hành giâm hom, dưới ảnh hưởng của các chất nội sinh trong tế bàonhư auxin, cytokinin khi gặp những điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp thì rễđược hình thành và chọc thủng biểu bì đâm ra ngoài
Thực vật có hai hình thức sinh sản chủ yếu là sinh sản hữu tính (bằnghạt) và sinh sản sinh dưỡng (bằng giâm hom, chiết ghép, nuôi cấy mô…)
Để duy trì được đặc tính tốt của cây giống người ta thường dùng cácphương thức nhân giống sinh dưỡng nhân giống sinh dưỡng là phương phápdựa trên cơ sở phân bào nguyên nhiễm Đây là phương thức phân bào về cơbản không có sự tái tổ hợp của chất liệu di truyền cho nên các cây mới dượctạo ra (thực chất là một phần cây mẹ) vẫn giữ được đặc tính vốn có của cây
mẹ lấy vật liệu giống
Nhân giống bằng hom (cutting propagation): Là phương pháp dung một
phần lá, một đoạn thân, đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo nên cây mới gọi là câyhom, cây hom có đặc tính di truyền như của cây mẹ Nhân giống bằng hom làphương pháp có hệ số nhân giống cao nên được dùng phổ biến trong nhângiống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả
Trang 14thể thực vật, nước và các chất khoáng hoà tan được vận chuyển từ rễ lên látheo mạch gỗ, còn các sản phẩm hữu cơ sản xuất ở lá được chuyển xuống gốc(rễ, củ,
…) theo mạch rây Khi ta cắt đứt con đường vận chuyển theo mạch rây, cácsản phẩm hữu cơ sẽ tập trung ở các tế bào vỏ của phần bị cắt Các chất hữu cơnày cùng với chất điều hoà sinh trưởng Auxin nội sinh (được tổng hợp ở ngọncây chuyển xuống) sẽ kích thích sự hoạt động của tượng tầng và hình thành
mô sẹo, rồi sau đó hình thành rễ từ mô sẹo ở chỗ bị cắt, khi gặp điều kiệnthuận lợi Quá trình hình thành rễ bất định này có thể chia làm ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Tái phân chia tượng tầng
- Giai đoạn 2: Xuất hiện mầm rễ
- Giai đoạn 3: Sinh trưởng và kéo dài của rễ, rễ đâm qua vỏ ra ngoàiNăm 1902 Nhà sinh lý thực vật người đức Haberladt, đã tiến hành nuôicấy mô tế bào thực vật dể chứng minh tế bào là toàn năng Tế bào có tính toànnăng thể hiện như sau: Bất cứ tế bào nào hoặc mô tế bào nào thuộc cơ quannhư rễ, thân, lá đều chứa hệ gen giống như tất cả các tế bào sinh dưỡng kháctrong cơ thể, đều có khả năng sinh sản vô tính để tạo thành cây hoàn chỉnh
mà kết quả từ một tế bào ban đầu cho ra hai tế bào con có số lượng NST cũngnhư cấu trúc và thành phần hóa học của nó giống như tế bào ban đầu Nhờ cóquá trình nguyên phân mà các NST được phân phối đồng đều, chính xác chocác tế bào con
Trang 15Ở kỳ đầu của quá trình nguyên phân, NST tự tái bản trước tiên theochiều dọc rồi tách theo chiều ngang, sau đó qua các kỳ tiếp theo NST phânchia về các tế bào con đảm bảo cho các tế bào con đều có bộ NST như nhau
và giống tế bào ban đầu
Nhờ có quá trình nguyên phân mà khối lượng cơ thể tăng lên, sau đónhờ có quá trình phân hóa các cơ quan trong quá trình phát triển cá thể mà tạothành một cây con hoàn chỉnh Đây là một quá trình đảm bảo cho cây con duytrì tính trạng của cây mẹ
Hom của các loài cây thân gỗ đều được lấy từ thân cây non hoặc cànhnon của cây (bao gồm cả chồi vượt) Các loại cành giâm thường gặp là cànhnon, cành hóa gỗ chủ yếu, cành nửa hóa gỗ và cành hóa gỗ Tùy thuộc vàocác yếu tố như đặc tính loài cây, điều kiện thời tiết lúc giâm hom… mà chọncành có khả năng ra rễ cao nhất
2.1.3 Sự hình thành rễ bất định
Nhân giống bằng hom dựa trên khả năng tái sinh hình thành rễ bất địnhcủa một đoạn thân hoặc cành trong điều kiện thích hợp để tạo thành cơ thểmới
Rễ bất định là những rễ được hình thành về sau này của các cơ quansinh dưỡng như cành, thân lá Rễ bất định có thể được hình thành ngay trêncây nguyên vẹn (cây đa, cây si ), nhưng khi cắt cành khỏi cơ thể mẹ là điềukiện kích thích sự hình thành rễ và người ta vận dụng để nhân bản vô tính
Rễ bất định của hầu hết thực vật được hình thành sau khi cắt cành khỏicây mẹ, nhưng cũng có một số loài rễ bất định được hình thành từ trước dướidạng các mầm rễ ở trong phần vỏ và chúng nằm yên đến khi cắt cành thì ngaylập tức đâm ra khỏi vỏ Với các đối tượng như vậy thì cành giâm, cành chiết ra
rễ một cách dễ dàng Nhưng đa số trường hợp rễ bất định được hình thànhtrong quá trình con người có tác động đến nó nhằm mục đích nhân giống
Có hai loại rễ bất định gồm: rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh
Trang 16- Rễ tiềm ẩn: Là loại rễ có nguồn gốc từ trong thân cây, cành cây nhưngchỉ phát triển khi bộ phận của thân được tách ra khỏi cây mẹ.
- Rễ mới sinh: Là rễ được hình thành sau khi cắt hom và giâm hom.Khi đó các tế bào chỗ bị cắt, bị phá hủy, bị tổn thương và các tế bào dẫnchuyền đã chết của mô gỗ được mở ra, dẫn đến dòng nhựa được dẫn từ phần
lá xuống đây bị dồn lại khiến cho các tế bào phân chia hình thành nên mô sẹo,đây là cơ sở hình thành rễ bất định
Sự hình thành rễ bất định có thể được phân chia làm ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Các tế bào bị thương ở các vết cắt chết đi và hình thành
lên một lớp tế bào bị thối trên bề mặt
- Giai đoạn 2: Các tế bào sống ngay dưới lớp bảo vệ bắt đầu phân chia
và hình thành lớp mô mềm gọi là mô sẹo
- Giai đoạn 3: Các tế bào vùng tượng tầng hoặc lân cận và libe bắt đầu
hình thành rễ
Mô sẹo là khối tế bào nhu mô có mức độ ligin hóa khác nhau Thôngthường trước khi xuất hiện rễ thấy xuất hiện một lớp mô sẹo nên thường tinrằng sự xuất hiện của mô sẹo là sự xuất hiện của rễ hom Nhưng ở nhiều loàicây, sự xuất hiện của mô sẹo là một dự báo tốt về khả năng ra rễ Mức độ hóa
gỗ cũng ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom Hom hóa gỗ nhiều, hay phần gỗchiếm nhiều thì khả năng ra rễ kém Hiện tượng cực tính là hiện tượng phổbiến trong giâm hom, do vậy khi giâm hom phải đặt cho cho đúng chiều [11]
Rễ bất định thường được hình thành bên cạnh và sát sát vào lõi trongtâm của mô mạch, ăn sâu vào trong thân cành tới gần ống mạch, sát bênngoài Thời gian hình thành rễ của các loại hom giâm ở các loài cây khácnhau biến động rất lớn từ vài ngày với các loài dễ hình thành tới vài tháng đốivới các loài khó ra rễ
Trang 172.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom
Kết quả của hom giâm được xác định bởi thời gian ngắn và tỷ lệ ra rễcao Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của việc giâm hom, nhưng phụthuộc bởi ba yếu tố chính là: Khả năng ra rễ của hom giâm (cá thể, giai đoạn
và vị trí của hom), môi trường giâm hom và các chất kích thích ra rễ Cơ bảnthuộc 2 nhóm nhân tố gồm nhóm nhân tố ngoại sinh và nhóm nhân tố nội sinh
- Nhóm nhân tố nội sinh: gồm đặc điểm của di truyền của từng xuất xứ,từng cá thể cây, tuổi cành, pha phát triển của cành và các chất điều hòa sinhtrưởng
- Nhóm nhân tố ngoại sinh: các loại hóa chất kích thích ra rễ và cácnhân tố ngoại cảnh (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,…)
* Nhóm nhân tố nội sinh
- Đặc điểm di truyền của loài: Các nghiên cứu cho thấy không phải tất
cả các loài đều có khả năng ra rễ như nhau Nanda (1970) đã dựa theo khảnăng ra rễ để chia các loài cây thành 3 nhóm chính:
+ Nhóm dễ ra rễ gồm 29 loài Các loài này không cần sử lý bằng chất
kích thích ra rễ mà vẫn ra rễ với tỉ lệ rất cao, gồm các loài thuộc các chi Ficus sp.
+ Nhóm khó ra rễ gồm 26 loài Loại này hầu như không ra rễ hoặc làphải sử dụng chất kích thích ra rễ nhưng tỉ lệ ra rễ rất thấp thuộc các chi
Manlus sp,Prunus sp,… thuộc họ Rosaceae và một số chi khác.
+ Nhóm có khả năng ra rễ trung bình gồm 65 loài Tuy vậy sự phânchia này chỉ có ý nghĩa tương đối
Vì thế theo khả năng giâm hom thì chia thành 2 nhóm:
+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hom cành là nhiều loài cây thuộc họDâu tằm (Moraceae): dâu tằm, đa, sung Một số loài thuộc họ Liễu, một sốloài nông nghiệp như sắn, mía, khoai lang…Đối với loài cây này thì khi giâmhom không cần xử lý bằng thuốc chúng vẫn ra rễ bình thường
Trang 18+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hạt thì khả năng ra rễ của hom bị hạnchế bởi các mức độ khác nhau: Tuổi cây mẹ, chất kích thích, yếu tố ngoạicảnh…
- Đặc điểm di truyền và xuất xứ, từng cá thể
Do đặc điểm biến dị mà các xuất xứ và cá thể khác nhau cũng có khảnăng ra rễ khác nhau Ngay cả những loài cây có cùng xuất xứ, cùng dòng,nhưng các cá thể khác nhau cũng cho tỉ lệ ra rễ khác nhau
Tuổi cành cũng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ ra rễ Thông thường thì cànhnửa hóa gỗ có tỷ lệ ra rễ lớn nhất, cành hóa gỗ thường cho tỷ lệ kém hơn
Như vậy cành non và cành nửa hóa gỗ cho tỷ lệ ra rễ cao nhất
- Tuổi cây mẹ lấy cành hom và thời gian lấy hom
Khả năng ra rễ do tính di truyền quy định mà còn phụ thuộc vào tuổicây mẹ lấy cành Hom lấy từ cây chưa sinh sản bằng hạt dễ nhân giống bằnghom hơn cây đã sinh sản bằng hạt Hom lấy từ cây tuổi còn non dễ ra rễ hơncây tuổi già Cây còn non không những ra rễ tốt hơn mà còn ra rễ nhanh hơn
- Sự tồn tại của lá trên hom: Lá là cơ quan hấp thụ ánh sáng trong quang
phổ tạo ra chất cần thiết cho cây Vì thế khi chuẩn bị hom giâm phải có 1 - 2 lá
và phải cắt bớt một phần phiến lá chỉ để lại 1/3 - 1/2 diện tích lá là tốt nhất
- Kích thước hom
Đường kính và chiều dài hom ảnh hưởng tới tỷ lệ ra rễ của hom giâm.Tùy từng loài cây kích thước hom có thể khác nhau
Trang 19* Nhóm nhân tố ngoại sinh: Các nhân tố ngoại sinh ảnh hưởng đến ra
rễ của hom giâm: Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành, nhân tố ảnhhưởng đến quá trình giâm hom: Mùa vụ, điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm,giá thể giâm hom
Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành: Điều kiện sinh sống của cây
mẹ lấy cành có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm, đặc biệt là của câynon
Điều kiện ánh sáng cho cây mẹ lấy cành ảnh hưởng đến khả năng ra rễcủa hom giâm
- Thời vụ giâm hom
Thời vụ giâm hom là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnhhưởng tới sự ra rễ của hom giâm Tỷ lệ ra rễ của hom giâm phụ thuộc vào thời
vụ lấy cành và thời vụ giâm hom Một số loài có thể giâm hom quanh nămsong cũng có những cây có mùa vụ rõ rệt Theo Frison (1967) và Nesterow(1967) thì mùa mưa là mùa giâm hom có tỷ lệ ra rễ nhiều nhất ở nhiều loài cây,trong khi đó có một số loài khác thì lại có tỷ lệ ra rễ cao hơn ở mùa xuân
Thời vụ giâm hom đạt kết quả cao hay thấp thường gắn với điều kiệnthời tiết, khí hậu trong năm, thường sinh trưởng mạnh vào mùa xuân - hè,sinh trưởng chậm vào thời kỳ cuối thu và mùa đông Vì vậy thời gian giâmhom tốt nhất vào mùa xuân, hè và đầu thu Thời vụ giâm hom có ý nghĩaquyết định đến sự thành công hay thất bại của nhân giống bằng hom cành
Đối với loài cây nghiên cứu là cây gỗ cứng và rụng lá thì nên lấy cànhlúc cây bắt đầu vào thời ngủ nghỉ, còn đối với loài cây gỗ mềm nửa cứngkhông rụng lá thì nên lấy hom vào mùa sinh trưởng để có kết quả giâm homtốt nhất và cho hiệu quả cao nhất
- Ánh sáng
Ánh sáng đóng vai trò quan trọng trong quá trình sống của cây vì đó lànhân tố cần thiết cho quá trình quang hợp và trong quá trình ra rễ của hom
Trang 20giâm và nhất là ánh sáng tán xạ Ánh sáng có ảnh hưởng đến quá trình quanghợp tạo nên các chất đồng hóa tham gia vào vận chuyển trong mạch libe vàánh sáng có tác dụng kích thích dòng vận chuyển các chất hữu cơ ra khỏi
lá, ở ngoài sáng tốc độ vận chuyển các chất đồng hóa trong libe nhanh hơntrong tối Nhưng trong hom giâm không có lá thì quá trình quang hợp khôngdiễn ra do đó không thể có hoạt động ra rễ, trừ một số loại cây đặc biệt có thể
ra rễ trong bóng tối Hầu hết các loài cây không thể ra rễ trong điều kiện tốihoàn toàn Trong điều kiện nhiệt đới, ánh sáng tự nhiên mạnh và nhiệt độ caolàm cho quá trình ra rễ giảm Vì vậy trong quá trình giâm hom phải che bóngthích hợp cho từng loài cây khác nhau với độ tàn che khác nhau.Trên thực tếảnh hưởng của ánh sáng đến sự ra rễ của hom giâm thường mang tính chấttổng hợp: Ánh sáng
- nhiệt - ẩm mà không phải là từng nhân tố riêng
Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình quang hợp: Nhiệt độ tối thấp từ 5 7°C cây bắt đầu quang hợp, nhiệt độ tối ưu mà cây đạt hiệu quả quang hợp tốtnhất là 25 - 30°C và nếu duy trì nhiệt độ tối cao lâu thì cây sẽ bị chết
Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình hô hấp: Nhiệt độ tối thấp từ 10 0°Ccây bắt đầu hô hấp, nhiệt độ tối ưu là 35 - 40°C và nhiệt độ tối cao 45 - 55°Ccây sẽ bị phá hủy
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, vận chuyển các chấttrong cây: Nhiệt độ thấp làm tăng độ nhớt của các sợi protein, cản trở tốc độ
Trang 21dòng vận chuyển chất và làm giảm hô hấp của mô libe đặc biệt của tế bàokèm làm thiếu năng lượng cung cấp cho sự vận chuyển; nhiệt độ quá cao làmcho quá trình thoát hơi nước ở lá diễn ra mạnh đẫn đến mất nước gây ra héo;nhiệt độ tối ưu 25 - 30°C.
Vì vậy nhiệt độ là nhân tố quyết định tốc độ ra rễ của hom giâm Ở nhiệt
độ quá thấp hom nằm ở trạng thái tiềm ẩn và không ra rễ, ở nhiệt độ quá caotăng cường hô hấp và hom bị hỏng từ đó làm giảm tỷ lệ ra rễ của hom giâm.Nhiệt độ không khí trong nhà giâm hom thích hợp cho ra rễ là từ 28 - 33°C vànhiệt độ giá thể thích hợp là 25 - 30°C Nhiệt độ trên 35°C làm tăng tỷ lệ héocủa cành giâm hom Nhiệt độ không khí trong nhà trong nhà giâm hom nên caohơn nhiệt độ giá thể là 2 - 3°C
Cũng như nhân tố ánh sáng, để có khả năng ra rễ cao cần có đầy đủ cácđiều kiện thích hợp như sau:
độ ẩm cao hơn cây lá kim, hom có diện tích lá lớn thì yêu cầu độ ẩm cũng caohơn Khi làm mất độ ẩm của hom 15% thì hom không có khả năng ra rễ
Yêu cầu độ ẩm của hom giâm thay đổi theo loài, theo mức độ hóa gỗcủa hom Phun sương là yêu cầu bắt buộc khi tiến hành giâm hom, giúp làmtăng độ ẩm, giảm nhiệt độ không khí và giảm sự thoát hơi nước ở lá Vàotừng thời điểm mà mức độ phun khác nhau: Trong mùa nóng thời gian phunsương và thời gian ngắt quãng có thể ngắn hơn trong mùa lạnh
Trang 22Để duy trì độ ẩm của giá thể thích hợp cho hom ra rễ cần lựa chon vậtliệu làm giá thể có khả năng thông thoáng tốt, thoát nước song phải giữ được
độ ẩm thích hợp
- Giá thể và môi trường giâm hom
Giá thể cũng góp phần quan trọng vào thành công của giâm hom, giáthể không phải là nơi cung cấp chất dinh dưỡng mà phần dinh dưỡng đó từngay trong chính bản thân cành được giâm hom vì thế nó chỉ cần đáp ứng yêucầu về nhiệt đô, độ ẩm, ánh sáng thích hợp rất nhiều giá thể được sử dụngtrong giâm hom hiện nay tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, điều kiện, thời
vụ, khí hậu và loài cây mà thành phần giá thể có thể là khác nhau Các giá thểthường được dùng hiện nay là cát tinh, mùn cưa, xơ dừa, bầu đất hay đất vườn.Khi giâm hom chỉ tạo ra rễ sau đó mới cho cây vào bầu thì giá thể thường làmùn cưa để mục, cát tinh, xơ dừa băm nhỏ hoặc đất vườn ươm trộn lẫn vớinhau
Một giá thể giâm hom tốt là một giá thể có độ thoáng khí tốt và duy trì
độ ẩm trong một thời gian dài mà không ứ nước, không bị nhiễm nấm bệnh
Giá thể cắm hom là nơi cắm hom sau khi đã xử lí chất kích thích rarễ.Giá thể được dùng làm thí nghiệm này là đất trong vườn ươm Một giá thểcắm hom tốt là thoát khí tốt và duy trì được độ ẩm trong thời gian dài màkhông ứ nước, tạo điều kiện cho rễ phát triển tốt, đồng thời làm sạch không bịnhiễm nấm, không có nguồn sâu bệnh, độ Ph thích hợp
- Các chất điều hòa sinh trưởng
Các chất điều hòa sinh trưởng chia theo hoạt tính sinh lý gồm hai nhómtác dụng là nhóm kích thích sinh trưởng và nhóm kìm hãm sinh trưởng Một
số chất kích thích sinh trưởng như Auxin, Giberellin và Xytokinin Trong cácchất điều hòa sinh trưởng thì Auxin được coi là chất quan trọng nhất trongquá trình ra rễ của cây hom
Trang 23Rhizocalin bản chất là axit được coi là chất đặc biệt cần thiết trong quátrình hình thành rễ nhiều loài cây.
Một số nhóm chất điều hòa sinh trưởng: Nhóm Auxin gồm NAA (a Naphthalene acetic acid), IAA (Indol-3acetic acid), IBA (Indol butyric acid),
IPA (Indol-3yl-Acetonitrile) và một số chất khác; nhóm Cytokinin gồm Zeatin,
Kinetin; nhóm Giberellin gồm: GA3 (Giberellic acid), GA8 (Giberellin - Lije Substances) và nhiều chất giống Giberellin khác; nhóm chất có khả năng kìm hãm sinh trưởng hoặc thúc đẩy quá trình già hóa như ABA (Abscisic scid), Ethophone (2-chloroethyl), Phosphonic acid, các phenol, retedant…
- Loại thuốc: Các chất kích thích điều hòa sinh trưởng có vai trò đặc
biệt quan trọng trong quá trình hình thành rễ của hom giâm Một số loại chấtkích thích sinh trưởng như: Auxin, Giberellin, Cytokinin…
Auxin: Có hai loại Auxin là Auxin tự nhiên và Auxin tổng hợp Auxin
tự nhiên là IAA (acid ß - indol axetic) và Auxin tổng hợp là các chất có bản chất hóa học khác nhau nhưng có hoạt tính sinh lý tương tự như IAA (acid ß - indol axetic) Các Auxin tổng hợp như: a-NAA (acid a - Naphtylaxetic),
- Nồng độ: Cùng một loại thuốc nhưng nồng độ khác nhau có ảnh hưởng
khác nhau đến khả năng ra rễ của hom giâm Tùy từng loài cây mà hom củachúng thích ứng với một loại chất cũng như nồng độ thích hợp nhất định Nếunồng độ chất kích thích thấp sẽ không có tác dụng phân hóa tế bào để hìnhthành rễ, nếu nồng độ quá cao sẽ ức chế quá trình hình thành rễ làm cho homthối không ra nữa Khi lựa chọn nồng độ chất kích thích ra rễ cần chú ý đếnnhiệt độ không khí và mức độ hóa gỗ của hom Trong quá trình giâm hom khiđiều kiện
Trang 24nhiệt độ quá cao cần phải xử lý với nồng độ thấp hơn và ngược lại khi nhiệt độmôi trường thấp thì cần xử lý lâu hơn Nếu hom quá non (chưa hóa gỗ) phải
xử lý với nồng độ thấp và hom hơi già (hom gần hóa gỗ hoàn toàn) phải xử lývới nồng độ cao hơn
- Thời gian xử lý thuốc: cùng một loại thuốc, cùng một nồng độ nhưng
thời gian xử lý khác nhau sẽ cho kết quả khác nhau Khi thực hiện thí nghiệmcần chú ý là giữa thời gian xử lý, nồng độ, nhiệt độ không khí có mối liên quannhất định Với thuốc kích thích sử dụng với nồng độ cao thì thời gian xử lýngắn và thuốc kích thích sử dụng với nồng độ thấp thì thời gian xử lý dài hơn
Vì vậy để giâm hom thành công thì cần phải thực hiện đầy đủ và đồng
bộ các biện pháp kỹ thuật cần thiết từ chăm sóc cây mẹ đến cấy hom giâm,tạo điều kiện thích hợp nhất cho hom giâm
- Phương pháp xử lý hom: thông thường hom được xử lý bằng cách
ngâm hom trong dung dịch chất kích thích ra rễ Chất kích thích ra rễ là hỗnhợp chất tan thì phần gốc của hom được nhúng vào nước và chấm vào thuốc,sao cho thuốc bấm vào gốc hom
Vì vậy để giâm hom thành công thì cần phải thực hiện đầy đủ và đồng
bộ các biện pháp kỹ thuật cần thiết từ chăm sóc cây mẹ đến cấy hom giâm,tạo điều kiện thích hợp nhất cho hom giâm
2.2 Những nghiên cứu trên Thế giới
Trong lâm nghiệp, nhân giống sinh dưỡng cho cây rừng đã được sửdụng trên 100 năm nay Từ những năm 1840, Marrier de Boisdyver (ngườiPháp) đã ghép 10.000 cây Thông Đen Năm 1883, Velinski A.H công bốcông trình ghiên cứu nhân giống một số loài cây lá kim và lá rộng thườngxanh bằng hom Ở Pháp năm 1969, Trung tâm lâm nghiệp nhiệt đới bắt đầuchương trình nhân giống Bạch đàn Năm 1973 mới có 1ha rừng trồng bằngcây hom đến năm 1986 có khoảng 24.000 ha rừng trồng bằng hom, cácrừng này đạt tăng trưởng bình quân 35 m3/ha/năm [15]
Trang 25Hiện nay ở một số nước, do kết hợp được công tác chọn giống, kĩ thuậttạo cây con bằng mô - hom và kĩ thuật thâm canh trong trồng rừng đầu dòng
vô tính mà đã đưa được năng suất từ 5 m3/ha/năm lên 15 m3/ha/năm trên đấtxấu Năng suất trồng rừng bạch đàn 30 m3/ha/năm ở Zimbabuê, 30 m3/ha/năm
ở Công gô, ở Brazin 50 m3/ha/năm đặc biệt có nơi năng suất đạt từ 75 – 100
m3/năm/ha [7]
Theo tài liệu của Trung tâm Giống cây rừng Asean – Canada ( gọi tắt làACFTSC), trong những năm gần đây, nghiên cứu và sản xuất hom được tiếnhành ở các nước Đông Nam á
Ở Thái Lan, Trung tâm Giống cây rừng Asean – Canada[14] đã cónhững nghiên cứu nhân giống bằng hom từ năm 1988, nhân giống với hệthống phun sương mù tự động không liên tục được xây dựng tại các chinhánh vườn ươm trung tâm, đã thu được nhiều kết quả đối với các lại cây
họ dầu, với 1ha vườn giống cây Sao đen 5 tuổi có thế sản xuất được200.000 cây hom, đủ trồng cho 455 đến 500 ha rừng
Ở Malaysia, nhân giống sinh dưỡng các loại cây họ Sao dầu bắt đầu
từ những năm 1970, hầu hết các nghiên cứu được tiến hành ở Viện nghiêncứu Lâm nghiệp Malaysia, ở trường đại học Tổng hợp Pertanian, trung tâmnghiên cứu lâm nghiệp ở Sepilok, cũng đã có những báo cáo các công trình
có giá trị về nhân giống sinh dưỡng cây họ Dầu Tuy nhiên tỉ lệ ra rễ củacây họ dầu còn chưa cao, sau khi thay đổi phương tiện nhân giống như: cácbiện pháp vệ sinh tốt, che bóng hiệu quả hơn, phun sương mù, kĩ thuật trẻhóa cây mẹ… thì tỉ rễ được cải thiện( vd: Hopea odorta có tỉ lệ ra rễ là86%, Shorea Leprosula 71% )[13]
2.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom đã và đang được đưavào sử dụng ngày một nhiều và đóng vai trò không thể thiếu được trong công
Trang 26tác chọn giống, bảo tồn tài nguyên di truyền ở trên thế giới nói chung và ởnước ta nói riêng.
Lần đầu tiên vào năm 1976, những thực nghiệm về nhân giống hom vớimột số loài Thông và Bạch đàn được tiến hành tại trung tâm nghiên cứu cây
có sợi tại Phù Ninh – Phú Thọ Đây là những nghiên cứu rất sơ khai, song đã
mở đầu cho các nghiên cứu thực nghiệm sau này ở Việt Nam
Những năm 1983-1984, các thực nghiệm về nhân giống bằng homđược tiến hành tại Viện Lâm Nghiệp (nay là Viện Khoa Học Lâm NghiệpViệt Nam), đối tượng nghiên cứu ở đây là các cây lâm nghiệp như Mỡ, Láthoa, Bạch đàn (Nguyễn Ngọc Tân, 1983; Phạm Văn Tuấn, 1984), nội dungnghiên cứu tập trung vào đặc điểm cấu tạo giải phẫu của hom, ảnh hưởngnhiệt độ, độ ẩm môi trường và xử lí các chất kích thích ra rễ đến tỉ lệ sống và
ra rễ của hom giâm[15]
Trong những năm 1990 trở lại đây,công nghệ sản xuất cây giống bằng
mô hom phục vụ trồng rừng được Nhà nước quan tâm đầu tư mạnh mẽ Từnhững kết quả ban đầu của những khu rừng trồng bạch đàn, keo lai bằng môhom cho thấy chất lượng rừng trồng đã được cải thiện, năng suất rừng tănglên đáng kể, từ đó cây trồng rừng bằng mô hom đã dần dần thay thế cây trồngrừng bằng hạt ở nhiều nơi trong cả nước
Chính vì thế việc nghiên cứu nhân giống bằng hom là một việc thiếtthực nhằm góp phần đẩy nhanh sản xuất cây con bằng hom phục vụ cho côngtác trồng rừng
2.4 Đặc điểm chung của Ngũ gia bì
Cây Ngũ gia bì/cây Đáng (Schefflera o
ctophylla (Lour.) Harms), thuộc họ Ngũ Gia Bì (Araliaceae), Bộ Hoa
Tán (Apiales)
Trang 27Mô tả: Cây nhỡ cao 5-10m hay cây to cao đến 15m, có ruột xốp Vỏ
cây màu xám, cành nhỏ có lỗ bì Lá mọc so le, có cuống dài, kép chân vịt,thường có 8 lá chét mép nguyên, hình bầu dục nhọn hai đầu, hơi thon hẹphoặc tròn ở gốc, dài 7-17cm, rộng 3-6cm Hoa nhỏ, màu trắng, tụ họp thànhchuỳ hoặc chùm tán ở đầu cành; trên cuống phụ của cụm hoa, đôi khi cónhững bông hoa đứng riêng lẻ Quả mọng, hình cầu, đường kính 3-4mm, khichín màu tím đen, chứa 6-8 hạt Toàn cây có mùi thơm đặc biệt
Hoa tháng 2-3, quả tháng 4-5
Cây ngũ gia bì hay cây Chân Chim loại Schefflera Octophylla
Trang 28Hoa và Lá ngũ gia bì hay cây Chân Chim loại Schefflera Octophylla
Qủa và Thân ngũ gia bì hay cây Chân Chim loại Schefflera Octophylla
Bộ phận dùng: Vỏ thân, vỏ rễ, rễ và lá Cortex, Cortex Radicis, Radix
et Folium Schefflerae Octophyllae
Nơi sống và thu hái: Loài đặc hữu của Đông Dương, mọc hoang,
thường mọc ở ven rừng, chân núi, sườn đồi, đất hoang từ 100-1500m, vùngnúi từ Lạng Sơn đến Lâm Đồng (Đà Lạt) Thu hái vỏ thân, vỏ rễ và rễ nhỏvào mùa xuân, mùa thu, cạo sạch lớp vỏ bẩn bên ngoài, đồ qua, thái miếng, ủcho thơm rồi phơi trong râm tới khô Lá thu hái quanh năm, rửa sạch, tháinhỏ, phơi khô
Trang 29Thành phần hoá học: Vỏ thân chứa 0,9-1% tinh dầu; vỏ cành và vỏ rễ
chứa saponin triterpen khi thuỷ phân cho acid oleanic
Tính vị, tác dụng: Chân chim có vị đắng, chát, hơi thơm, tính mát, có
tác dụng giải nhiệt, làm ra mồ hôi, kháng viêm, tiêu sưng và làm tan máu ứ.Dịch chiết vỏ cây có tác dụng tăng lực, kích thích thần kinh rõ rệt, chốnglạnh, hạ đường huyết Người ta xem Chân chim như vị thuốc có tác dụng kíchthích tiêu hoá, ăn ngon cơm, ngủ ngon, làm thuốc bổ
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Lá thái nhỏ thành sợi, phơi khô để
nấu canh cá, canh tôm Khi nấu cá tôm chín, nêm mắm muối rồi, người tanhắc nồi xoong xuống mới cho rau lằng vào, vì nếu nấu không thì canh rấtđắng, khó ăn
5 Giải độc lá ngón hay say sắn
Rễ dùng làm thuốc bổ, thuốc mát, thông tiểu tiện, thường gọi là Sâmnam hay Nam sâm
Lá dùng ngoài trị viêm da dị ứng, eezema, bỏng
Cách dùng: Dùng vỏ thân 10-20g, vỏ rễ 6-12g dạng thuốc sắc Rễ
dùng pha hoặc sắc lấy nước uống, có thể phối hợp với các vị thuốc khác Láđun sôi lấy nước rửa, tắm Người ta dùng vỏ chế dạng rượu ngọt 1ml chứa0,2g bột dược liệu khô với tên Langtonic (chai 500ml ngày uống hai lần, mỗilần 15-30ml) và dạng elixia (1ml chứa 2g bột dược liệu khô) với tên Langosin(lọ 150ml, ngày uống 5ml) Phụ nữ có thai không dùng được
Trang 303 Giải độc lá ngón, say sắn: Vỏ Chân chim giã nát, sắc nước uống.
4 Bệnh cước khí, chân sưng đau: Chân chim, Lõi thông, Hạt cau,Hương phụ, Tử tô, Chỉ xác, Ké đầu ngựa, mỗi vị 8-16g sắc uống (Nam dượcthần hiệu) [20]
2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu đề tài tại vườn ươm
2.5.1 Đặc điểm - vị trí địa hình, đất đai khu vực nghiên cứu
Vị trí địa lý: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp thuộc trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên Nằm cách thành phố Thái Nguyên khoảng 3 km về phíaTây Căn cứ vào bản đồ Thành phố Thái Nguyên thì xác định được vị trí nhưsau:
Phía Bắc giáp với phường Quan Triều
Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán
Phía Tây giáp xã Phúc Hà
Phía Đông giáp khu dân cư và khu kí túc xá thuộc trường Đại học NôngLâm Thái Nguyên
Đặc điểm địa hình: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp trường Đại học
Nông
Lâm Thái Nguyên nằm dưới chân đồi nhưng nhìn chung tương đối bằng phẳng
Đặc điểm đất đai: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên nằm dưới chân đồi, đất không màu mỡ, ít dinh dưỡng Đặcđiểm của đất là đất Feralit phát triển trên đá Sa Thạch
Trang 31h 15 19 21 18
Đ
ộ 70 78 79 76
2.5.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Do vườn ươm khoa Lâm nghiệp Trường Đại học Nông Lâm TháiNguyên nằm trong khu vực thành phố Thái Nguyên nên mang đầy đủ đặcđiểm thời tiết, khí hậu của thành phố Thái Nguyên Khí hậu nhiệt đới giómùa, có hai mùa rõ rệt mùa nóng ẩm và mùa khô lạnh
Lượng mưa trung bình năm: 1500 - 2000mm
Nhiệt độ trung bình năm: 24 - 25°C
Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất: 29°C
Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất: 16°C
Độ ẩm trung bình: 80 - 85%
Bảng 2.1: Tổng hợp chỉ tiêu nhiệt độ, độ của không khí trong thời gian
thực hiện thí nghiệm tại thành phố Thái Nguyên