được áp dụng và đã thu được những kết quả, có thể đưa vào sản xuất đại trà cho một số đối tượng cây trồng chính phục vụ cho nhân giống.Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của việc giâm
Trang 1CHU NGỌC HIỆP
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG NAA ĐẾN KHẢ NĂNG HÌNH THÀNH CÂY HOM NGŨ
GIA BÌ (SCHEFFLERA OCTOPHYLLA (LOUR.) HARMS)
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI
NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp Khoa : Lâm nghiệp Khoá học : 2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2CHU NGỌC HIỆP
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG NAA ĐẾN KHẢ NĂNG HÌNH THÀNH CÂY HOM NGŨ
GIA BÌ (SCHEFFLERA OCTOPHYLLA (LOUR.) HARMS)
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI
NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp Khoa : Lâm nghiệp Khoá học : 2014 - 2018 Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Lê Sỹ Trung
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thântôi Các số liệu là kết quả nghiên cứu hoàn toàn trung thực, chưa công bố trêncác tài liệu khác, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 5 năm 2018
XÁC NHẬN CỦA GVHD Người viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước hội đồng khoa học
PGS.TS Lê Sỹ Trung Chu Ngọc Hiệp
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu
(Ký, họ và tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực hiện khóa luận tốt nghiệp là khâu vô cùng quan trọng đối với mỗisinh viên trước khi ra trường Đây là giai đoạn quan trọng đánh dấu sự chuyểnđổi từ sinh viên thành một kỹ sư Lâm nghiệp
Để hoàn thành được khóa luận, trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn Bangiám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Lâm nghiệp, cảm ơn các Thầy côgiáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình họctập và rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Đặc biệt xintrân trọng cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, sự quan tâm của thầy giáo PGS.TS
Lê Sỹ Trung đã giúp đỡ và hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gianthực tập để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Cuối cùng tôi xin chân thành bày tỏ sự biết ơn tới gia đình , bạn bè vàngười thân đã quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực tập
Trong quá trình nghiên cứu do có những lý do chủ quan và khách quannên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tôi rất mongnhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên đểgiúp tôi hoàn thành khóa luận được tốt hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực tập
Chu Ngọc Hiệp
Trang 5của hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm 36
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm cho các công thức giâm hom 22
Hình 3.2: Chăm sóc thí nghiệm 24
Hình 3.3: Thu thập số liệu 26
Hình 4.1: Tỷ lệ sống của hom cây Ngũ gia bì ở các định kỳ theo dõi 29
Hình 4.2a: Ảnh ra rễ của hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm 31
Hình 4.2b: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ ra rễ của hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm 32
Hình 4.2c: Biểu đồ thể hiện số rễ của hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN 33
Hình 4.2d: Biểu đồ thể hiện chiều dài rễ của hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN 34
Hình 4.2e: Biểu đồ thể hiện chỉ số rễ của hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN 35
Hình 4.3a: Ảnh ra chồi của hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN 37
Hình 4.3b: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ ra chồi của hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm 38
Hình 4.3c: Biểu đồ thể hiện số chồi của hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN 40
Hình 4.3d: Biểu đồ thể hiện chiều dài chồi của hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN 41
Hình 4.3e: Biểu đồ thể hiện chỉ số ra chồi của hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN 42
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTTN : Công thức thí nghiệm
CT : Công thức
TB : Trung bình
IAA : Axit Indol-axitic
IBA : Axit Indol-butilic
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4
2.1.1 Cơ sở tế bào học 5
2.1.2 Cơ sở di truyền học 6
2.1.3 Cơ sở phát sinh phát triển cá thể 6
2.1.4 Sự hình thành rễ ở hom giâm 7
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom 8
2.1.6 Những yêu cầu kỹ thuật cơ bản khi giâm hom 14
2.2 Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 15
2.2.1 Trên thế giới 15
2.2.2 Ở Việt Nam 17
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 19
2.3.1 Vị trí địa lý địa hình 19
Trang 92.3.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết 19
2.4 Đặc điểm cây Ngũ gia bì 19
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
3.3 Nội dung nghiên cứu 21
3.4 Phương pháp nghiên cứu 21
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 22
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 22
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 26
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Kết quả về ảnh hưởng của nồng độ thuốc NAA đến tỷ lệ sống của hom cây Ngũ gia bì 28
4.2 Kết quả về ảnh hưởng của nồng độ thuốc NAA đến khả năng ra rễ của hom cây Ngũ gia bì 30
4.2.1 Tỷ lệ ra rễ của hom cây Ngũ gia bì dưới ảnh hưởng của nồng độ thuốc NAA 32
4.2.2 Kết quả về ảnh hưởng của nồng độ thuốc NAA đến số rễ của hom cây Ngũ gia bì 33
4.2.3 Kết quả về ảnh hưởng của nồng độ thuốc NAA đến chiều dài rễ của hom cây Ngũ gia bì 34
4.2.4 Kết quả về ảnh hưởng của nồng độ thuốc NAA đến chỉ số rễ của hom cây Ngũ gia bì 35
4.3 Kết quả về ảnh hưởng của nồng độ thuốc NAA đến khả năng ra chồi của hom cây Ngũ gia bì 36
4.3.1 Tỷ lệ ra chồi của hom cây Ngũ gia bì dưới ảnh hưởng của nồng độ thuốc NAA 38
Trang 104.3.2 Kết quả về ảnh hưởng của nồng độ thuốc NAA đến số chồi của hom
cây Ngũ gia bì 39
4.3.3 Kết quả về ảnh hưởng của nồng độ thuốc NAA đến chiều dài chồi của hom cây Ngũ gia bì 40
4.3.4 Kết quả về ảnh hưởng của nồng độ thuốc NAA đến chỉ số chồi của hom cây Ngũ gia bì 41
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Tồn tại 44
5.3 Kiến nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC
Trang 11Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây ngũ gia bì có những tên gọi khác sâm non, cây chân chim có tên
khoa học là Scheffera octophylla Cây ngũ gia bì có lá kép hình chân vịt, mọc
so le, có 6 đến 8 lá chét hình trứng Lá cây ngũ gia bì xanh có màu xanh đậm.Nếu nhìn kĩ chúng ta sẽ thấy nó giống như chân chim Lá nếu vò ra thì có mùithơm rất nhẹ, tạo cảm giác rất dễ chịu
Ở nhiều gia đình ở vùng quê, hoặc có diện tích rộng thường trồng cây
ngũ gia bì xung quanh tường nhà, hàng rào vừa làm cây cảnh, vừa để xua đuổi
muỗi không vào nhà
Cây ng ũ g i a b ì c òn có khả năng hút bụi, các vi khuẩn, chất gây ô nhiễm
ở trong nhà, cơ quan Cây ngũ gia bì thích hợp với khí hậu nóng ẩm, chịuđược hạn và có khả năng thích ứng với môi trường sống cao
Cây ngũ gia bì thích hợp làm cây xanh văn phòng, gia đình, tạo khônggian cảnh quan thoải mái, dễ chịu, minh mẫn cho mọi người xung quanh.Ngoài ra rễ cây có còn tác dụng chữa bệnh, lá làm nguyên liệu cắm hoa
Cây ngũ gia bì là một trong những cây phong thủy vừa có tác dụng làmcảnh vừa có tác dụng làm thuốc nên được rất nhiều người chọn để trang trí nhàcửa, cảnh quan
Để phục vụ cho trồng cây, có thể tạo cây con bằng hạt hoặc giâm hom.Nhân giống bằng hom là phương thức nhân giống được dùng rộng rãi cho một
số loài cây như cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả Là phương pháp có hệ sốnhân giống cao, phù hợp với quy mô lớn và sản phẩm cuối cùng cho một sốlượng cây giống đồng đều về mặt chất lượng di truyền Giâm hom là côngviệc
Trang 12được áp dụng và đã thu được những kết quả, có thể đưa vào sản xuất đại trà cho một số đối tượng cây trồng chính phục vụ cho nhân giống.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của việc giâm hom, nhưng phụthuộc bởi ba yếu tố chính là: khả năng ra rễ của hom giâm (cá thể, giai đoạn và
vị trí của hom), môi trường giâm hom và các chất kích thích ra rễ Nhưng việc
sử dụng loại thuốc nào, nồng độ bao nhiêu thích hợp với khả năng ra rễ củacây Ngũ gia bì là một vấn đề cần được nghiên cứu Xuất phát từ thực tế trên,
tôi thực hiện đề tài : “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh
trưởng NAA đến khả năng hình thành cây hom Ngũ gia bì (Schefflera Octophylla (Lour.) Harms) tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được nồng độ chất kích thích NAA phù hợp cho nhân giốngcây Ngũ gia bì bằng phương pháp giâm hom
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Kết quả nghiên cứu đề tài là tài liệu trong học tập Giúp cho sinh viêncủng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, áp dụng vào thựctiễn, tạo điều kiện cho sinh viên nâng cao được kỹ năng nghề nghiệp
Giúp cho sinh viên biết cách triển khai một đề tài nghiên cứu khoa học,phương pháp đo đếm, thu thập, xử lý số liêu, viết và trình bày một báo cáo khoa học
Thông qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên có điều kiện học hỏinhững kiến thức thực tiễn nâng cao kiến thức và kỹ năng cho bản thân để thựchiện tốt công tác sau này
Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trongcác lĩnh vực có liên quan
Trang 131.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Có được kỹ năng nhân giống cây bằng phương pháp giâm hom
Áp dụng kết quả nghiên cứu trong nhân giống cây Ngũ gia bì bằngphương pháp giâm hom
Trang 14Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Nhân giống là bước cuối cùng của một chương trình cải thiện giống đểcung cấp hạt hoặc hom cành cho trồng rừng trên quy mô lớn và cho các bướccải thiện giống theo các phương thức sinh sản thích hợp
Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom là phương pháp nhângiống đem lại hiệu quả cao và đã được áp dụng phổ biến cả trong và ngoàinước trong suốt thời gian qua Phương thức này dựa trên cơ sở phân bàonguyên nhiễm không có sự kết hợp vật chất di truyền giao hợp giữa giao tử cái
và giao tử đực nên cây mới tạo ra mang đầy đủ vật chất di truyền của cây mẹ.Nhân giống bằng hom là phương pháp sử dụng đoạn thân, cành, lá để tạo ra 1cây mới mang đặc tính di truyền của cây mẹ Đây là phương pháp tương đối
dễ thực hiện, hệ số nhân giống cao nên được áp dụng phổ biến trong công tácnhân giống cây trồng
Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom đã và đang đưa vào sửdụng ngày một nhiều và đóng một vai trò không thể thiếu được trong công tácchọn giống, bảo tồn tài nguyên di truyền ở trên thế giới nói chung và nước tanói riêng Chính vì thế việc nghiên cứu nhân giống bằng hom là việc làm thiếtthực nhằm góp phần đẩy nhanh sản xuất cây con bằng hom phục vụ cho việctrồng rừng
Bảo tồn nguồn gen cây rừng là bảo tồn các đa dạng đi truyền cần thiếtcho các loài cây rừng nhằm phục vụ công tác cải thiện, duy trì giống trước mắthoặc lâu dài, tại chỗ hoặc nơi khác và nhân giống cây rừng nhanh với số lượnglớn phục vụ công tác trồng rừng Một trong nhiều phương pháp đang được sửdụng nhiều hiện nay là phương pháp giâm hom
Trang 15Thực vật có hai hình thức sinh sản chủ yếu là sinh sản vô tính và sinhsản hữu tính Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản trong đó có sự kết hợpgiao tử đực và giao tử cái để tạo thành hợp tử lưỡng bội Hợp tử phát triểnthành cá thể mới Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản không qua thụ tinh,
nó bao gồm sự kết hợp của vô tính và các dạng sinh sản dinh dưỡng
Theo nghĩa rộng thì nhân giống sinh dưỡng bao gồm nhân giống bằnghom, chiết cành, ghép cây, nuôi cấy mô phân sinh Nhân giống bằng hom làphương pháp có hệ số nhân giống lơn tương đối rẻ tiền nên dược dùng phổbiến trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả
Thực vật có hai hình thức sinh sản chủ yếu là sinh sản vô tính và sinhsản hữu hình Sinh sản hữu hình là hình thức sin hsản mà trong đó có sự kếthợp giữa hai giao tử đực và cái đơn bội để trở thành hợp tử lưỡng bội Hợp tửphát triển hành cá thể mới Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản không quathụ tinh, nó bao gồm sự kết hợp vô tính và các dạng khác của sinh sản sinhdưỡng
Nhân giống dinh dưỡng là hình thức nhân giống dựa trên cơ sở hìnhthành của sinh sản sinh dưỡng Cây phân sinh được tạo ra từ một bộ phận cây
mẹ bằng hàng loạt quá trình nguyên nhiễm nên có khả năng phát triển thànhcây mới có đặc điểm di truyền giống cây mẹ
Nhân giống băng hom là phương pháp dùng một phần lá, một đoạnthân, một đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo ra cây mới gọi là cây hom, cây hom
có đặc tính di truyền như của cây mẹ Vấn đề quyết định trong giâm hom làlàm cho hom ra rễ, trong công thức thí nghiệm hom ra rễ càng nhiều thínghiệm càng thành công
2.1.1 Cơ sở tế bào học
Dựa vào đơn vị cấu trúc cơ bản của cây rừng, trong đó tế bào là cơ sởquan trọng mang đầy đủ thông tin di truyền cho các quá trình phát triển củathực vật
Trang 16Khả năng hình thành rễ và thân phụ thuộc vào đặc điểm di truyền củaloài cây, bộ phận của cây lấy làm giống cũng như loài tế bào đã phân hóa củacây.
2.1.2 Cơ sở di truyền học
Dựa vào các đặc tính di truyền của cây mẹ truyền cho đời con nhờ quátrình nguyên nhiễm hay nguyên phân, mà ta tiến hành dùng các cành, thân đểgiâm hom
Kết quả nghiên cứu của một số tác giả đều đi đến một kết luận chungnhất là: các loài cây khác nhau thì đặc điểm ra rễ khác nhau Các tác giả này
đã dựa vào khả năng ra rễ để chia làm 3 nhóm
Nhóm ra rễ trung bình:
Bao gồm các loài chỉ sử dụng chất kích thích với nồng độ thấp cũng cóthể ra rễ với nồng độ cao, nhóm này gồm 65 loài, trong đó có các chiEucaluptus sp, Taus sp, Quercus sp … Tuy vậy, sự phân chia này chỉ có ýnghĩa tương đối, vì thế theo khả năng giâm hom có thể chia thực vật thành 2nhóm chính là:
Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hom, cành:
Gồm nhiều loại cây thuộc họ Dâu tằm, một số thuộc họ Liễu, với nhữngloài cây này, khi giâm hom không cần xử lý thuốc hom vẫn ra rễ bình thường
Trang 17Quá trình sinh trưởng và phát triển của cá thể đều do bộ gen và môitrường xung quanh quết định, môi trường ở đây là môi trường bên ngoài vàmôi trường bên trong ảnh hưởng đến tế bào chất.
Quá trình phát triển của cá thể được thể hiện qua các giai đoạn: Nontrẻ, chuyển tiếp, thành thục, khả năng ra chồi rễ của các bộ phận là rất khácnhau
Trong sinh sản sinh dưỡng (giâm hom) cũng hay gặp hiện tượngTopophysis (hiện tượng bảo lưu cục bộ) đó là hiện tượng bảo lưu duy trì sựphát triển hình thái và đặc điểm sinh học của bộ phận được lấy làm vật liệugiống trong nhân giống sinh dưỡng, những cây con được tạo ra từ chồi ngọn
sẽ mọc thẳng (hiện tượng này thường gặp ở chi Bách Tán)
2.1.4 Sự hình thành rễ ở hom giâm
Rễ bất định là rễ sinh ra ở bất kì bộ phận nào của cây ngoài hệ rễ của
nó, rễ bất định có thể sinh ra tự nhiên (Ví dụ: Đa, Si khi ra rễ là mọc từ cành
và đâm dài xuống đất, còn cây Cau, Dừa thì rễ lại mọc ra từ giữa các thân)
Có 2 loại rễ bất định là: Rễ tiền ẩn và rễ mới sinh, rể tiềm ẩn là rễ cónguồn gốc tự nhiên trong thân, cành cây nhưng chỉ phát triển khi đoạn thânhoặc cành đó tách rời khỏi cây, còn rễ mới sinh được hình thành khi cắt hom
và hậu quả là phản ứng với vết cắt, khi hom bị cắt các tế bào sống ở vết cắt bịtổn thương và các tế bào truyền dẫn của mô gỗ được hở ra và gián đoạn, sau
đó quá trình tái sinh sảy ra theo 3 bước: các tế bào bị thương ở mặt ngoài chết
và hình thành một lớp tế bào bị thối trên bề mặt, vết thương bị bọc một lớpbần, mạch gỗ được đậy lại bằng keo, lớp bảo vệ này giúp cho mặt cắt khỏithoát
nước
Các tế bào sống ở ngay dưới lớp bảo vệ đó sẽ bắt đầu phân chia ngaysau khi bị cắt vài ngày và có thể hình thành một lớp mô mềm Các tế bào ởvùng lân cận của thượng tầng mạch li be bắt đầu hình thành rễ bất định
Trang 18Cây gỗ có một hoặc nhiều lớp mô gỗ thứ cấp và li be thì rễ bất địnhthường phát sinh ở tế bào nhu mô còn sống của hom bắt nguồn từ li be thứ cấpcòn non Tuy nhiên, đôi khi rễ bất định cũng phát sinh từ mạch ray, thượngtầng, li be, bì khổng và tủy.
Nói chung các rễ bất định thường được hình thành bên cạnh và sátngoài lỗi trung tâm của mô mạch và ăn sâu trong thân (cành) tới gần ốngmạch sát bên ngoài thượng tầng
Như vậy việc giâm hom để hình thành bộ rễ mới là quan trọng nhất, sau
đó là số lượng rễ trên hom và chiều dài của rễ
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom
Thời vụ giâm hom
Thời vụ giâm hom là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnhhưởng đến sự ra rễ của hom giâm Tỷ lệ ra rễ của hom giâm phụ thuộc vàothời vụ lấy cành và thời vụ giâm hom, một số loài cây có thể giâm hom quanhnăm, nhưng một số loài cây thì cần có thời vụ nhất định, mùa mưa là mùa giâmhom có tỉ lệ ra rễ cao nhất của nhiều loài cây, trong khi một số loài cây kháclại ra rễ cao nhất vào mùa xuân Hom lấy trong thời kỳ cây mẹ có hoạt độngsinh trưởng mạnh thường có tỉ lệ ra rễ cao hơn so với các thời kì khác (Lê ĐìnhKhả, Đoàn Thị Bích, 1999)
[4]
Thay đổi tỉ lệ ra rễ của hom giâm theo thời vụ được cho là do tình trạngdinh dưỡng của hom hoặc do thay đổi là quan hệ các nhân tố nội sinh kíchthích và kìm hảm ra rễ gắn liền với sự thay đổi trạng thái, hình thái – sinh lýcủa cành làm thay đổi đến hoạt động của thượng tầng, nơi xuất phát của rễ bấtđịnh xuất hiện trong quá trình giâm hom
Thời vụ giâm hom đạt kết quả tốt hay xấu thường gắn liền với các yếu
tố cơ bản là diễn biến khí hậu, thời tiết quanh năm, mùa sinh trưởng của cây
và trạng thái sinh lý của cảnh, hầu hết các loài cây đều sinh trưởng mạnhtrong
Trang 19mùa hè (mùa mưa) và sinh trưởng chậm vào thời kì cuối thu và mùa đông(mùa khô) Vì thế, thời kỳ giâm hom tốt nhất có tỉ lệ ra rễ cao nhất cho nhiềuloài cây là các tháng xuân hè và đầu thu (tức là giữa mùa mưa và mùa nóngẩm) Đến nay nhiều tác giả cho rằng cách xác định lịch nhân giống bằng hom
là không nên, bởi vì bắt đầu thời kì sinh dưỡng nhịp độ sinh trưởng và pháttriển chồi ở các loài rất khác nhau trong từng năm
Với cây vùng ôn đới thì thời kì giâm hom tốt nhất là thời kì hoa nở rộ,còn với cây á nhiệt đới ẩm thì thời kì giâm hom của nhiều loài không trùngvới lúc ra hoa từ những kết quả đã nghiên cứu, có thể đi đến những kết luậnsau: Một số loài có thể giâm hom trong thời kì sinh trưởng mạnh của cành,một số khác trong thời kì sinh trưởng giảm dần và một số loài sau khi kếtthúc sinh trưởng cành, thời kì tốt nhất để giâm hom cho mỗi loài ở từng vùngchỉ có thể xác định bằng thực nghiệm Tuy nhiên, ở các nước nhiệt đới nóng
ẩm, thời kì giâm hom còn phụ thuộc vào thời tiết trong năm
Ở nước ta, những tháng mùa hè nhiệt độ không khí ngoài trời 35-36 độ
C, trong lúc đó độ ẩm không khí còn quá thấp, không thuận lợi cho sự ra rễcủa hom Nhìn chung, trong điều kiện khí hậu Việt Nam, thời kì giâm homthích họp nhất là vào các tháng mùa xuân, mùa hè và mùa thu
Ánh sáng
Ánh sáng đóng vai trò sống còn trong qua trình ra rễ của hom giâm,không có ánh sáng và không có lá thì hom không có hoạt động quang hợp, quátrình trao đổi chất khó xảy ra, do đó không có các hoạt động ra rễ, hầu hết cácloài cây không ra rễ trong điều kiện che tối hoàn toàn, bất kể đó là nhóm cây
ưa sáng hay chịu bóng Trong điều kiện nhiệt đới, ánh sáng tự nhiên mạnhthường kèm theo nhiệt độ cao nên giảm đáng kể tỉ lệ ra rễ, chất lượng ánh sángcũng ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của hom giâm, ánh sáng tự nhiên cần thiết cho
sự ra rễ, còn ánh sáng đỏ và ánh sáng xanh làm giảm tỉ lệ ra rễ của hom giâm ởmột số loài cây ưa sáng
Trang 20Thời gian chiếu sáng cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm Ánhsáng tán xạ cần thiết cho hom và độ sang thích hợp khoảng 40-50% ánh sangtoàn phần, ánh sáng đầy đủ thời gian ra rễ ngắn hơn và tỉ lệ ra rễ cũng caohơn.
Tuy nhiên, các loài cây yêu cầu ánh sáng này cũng rất khác nhau: cây
ưa sáng yêu cầu ánh sáng cao hơn cây chịu bóng, trong tối hom của các loàicây ưa sáng hoàn toàn không ra rễ Yêu cầu ánh sáng còn phụ thuộc vào mức
độ hóa gỗ và chất dự trữ trong hom Hom hóa gỗ yếu, chất dự trữ ít cần cường
độ ánh sáng tán xạ cao hơn so với hom hóa gỗ hoàn toàn
Ánh sáng là yếu tố cần thiết cho hom ra rễ, điều đó giải thích tại sao cácnhà kính được sử dụng để giâm hom hoặc nhà giâm hom tạm thời thườngđược lợp bằng các màng Polyetylen trắng trong suốt mà không dùng các vậtliệu khác Trong thực tế, ảnh hưởng của ánh sáng đến quá trình ra rễ của homgiâm thường mang tính tổng hợp theo kiểu phức hệ ánh sáng - nhiệt - ẩm màkhông phải nhân tố riêng lẻ Vì thế khi giâm hom phải chú ý đến đầy đủ đếncác yếu tố này
Mặt khác, ánh sáng chỉ tác động đến ra rễ của hom với sự có mặt của lácây, hom không có lá thì không có hoạt động ra rễ Hoạt động ra rễ của nhữnghom không có lá cũng chỉ xảy ra sau khi hom đã mọc chồi và ra lá mới (PhạmVăn Tuấn, 1996) [10]
Nhiệt độ không khí và nhiệt độ giá thể
Cùng với ánh sáng nhiệt độ là một trong những nhân tố quyết định tốc
độ ra rễ của hom giâm, ở nhiệt độ quá thấp, hom nằm trong trạng thái tiềm ẩn
và không ra rễ, còn ở nhiệt độ quá cao lại tăng cường hô hấp và bị nóng, từ đócùng làm giảm tỉ lệ ra rễ của hom
Các loài cây nhiệt đới cần nhiệt độ không khí trong nhà giâm hom thíchhợp cho ra rễ là 28-33oC và nhiệt độ giá thể thích hợp là 25-30 oC Trong lúccác loài cây vùng lạnh cần nhiệt độ không khí trong nhà giâm hom thích hợp
Trang 2123-27 oC, nhiệt độ giá thể thích hợp là 22-24 oC Nói chung nhiệt độ khôngkhí trong nhà giâm hom nên cao hơn nhiệt độ giá thể 2-3 oC TheoD.A.Komixarov thì nhu cầu về nhiệt cho ra rễ của hom các loài thực vật biếnđộng trong phạm vi rộng phụ thuộc vào đặc điểm sinh thái của chúng.
Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể
Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể là nhân tố hết sức quan trọng trongquá trình giâm hom: Các hoạt động quang hợp, hô hấp, phân chia tế bào vàchuyển hóa vật chất trong cây đều cần nước, thiếu nước thì hom sẽ bị héo,nhiều nước quá thì hoạt động của men tích lũy giải tăng lên, quá trình quanghợp bị ngừng trệ, khi giâm hom mỗi loài cây cần một độ ẩm thích hợp, lầmmật độ ẩm của hom từ 15-20% thì hom mất hoàn toàn khả năng ra rễ
Đối với nhiều loại cây, độ ẩm thích hợp cho cá thể cắm hom là 50-70.Yêu cầu độ ẩm không những thay đổi theo loài cây mà còn thay đổi theo mức
độ hóa gỗ của hom giâm Nhiều loại cây hom hóa gỗ yếu nên yêu cầu độ ẩmgiá thể thấp và độ ẩm không khí cao, trong khi hom nửa hóa gỗ lại yêu cầu độ
ẩm giá thể cao
hơn
Mặt khác, cây lá kim không nên có độ ẩm giá thể quá lớn, trong khi cây
lá rộng cẩn độ ẩm lớn hơn Trong thực tế, phun sương mù để duy trì độ ẩmcần thiết cho hom, yêu cầu về độ ẩm không khí và giá thể cho từng loại cây,từng giai đoạn không giống nhau, tùy thời tiết mà ta điều chỉnh số lần phunsương để đảm bảo độ ẩm nhất định cho hom, cho nên phun sương là yêu cầubắt buộc khi giâm hom, phun sương vừa làm tăng độ ẩm vừa làm giảm nhiệt
độ không khí, làm giảm sự bốc hơi nước của lá
Độ ẩm không khí và giá thể là một yếu tố quan trọng không thể thiếuđược cho hom ra rễ trong quá trình giâm hom, độ ẩm giữ cho hom không bịkhô héo và giúp cho hom quang hợp, tốt nhất để duy trì độ ẩm không khí làtạo một lớp mù trong nhà giâm hom, độ ẩm giá thể quá thấp làm cho hom khô,héo
Trang 22lá trước lúc ra rễ Song độ ẩm giá thể cao làm cho phần hom cắm trong giá thể
bị thối rữa, nhất là đối với những hom còn non Vì vậy, để duy trì độ ẩm thíchhợp cho hom ra rễ cần chọn vật liệu phù hợp với từng loài cây
Giá thể cắm hom
Giá thể cắm hom là nơi cắm hom sau khi đã sử lý chất kích thích ra rễ.Giá thể được dùng làm thí nghiệm này là đất vàng trong vườn ươm Một giáthể cắm hom tốt là có độ thoát khí tốt và duy trì được độ ẩm tỏng thời gian dài
mà không ứ nước, tạo điều kiện cho rễ phát triển tốt, đồng thời làm sạchkhông bị nhiễm nấm, không có nguồn sâu bệnh, độ pH khoảng 6.0-7.0
Hom được cắm trực tiếp trên giá thể là đất vườn ươm, đảm vảo độ thoátnước trung bình, không tạo cho giá thể quá khô hoặc quá ướt (Lê Đình Khả,Đoàn Thị Bích, Trần Cự, 1997) [5] Để chống sâu bệnh, giá thể hom đều đãđược sử lý qua thuốc diệt nấm: KMnO4 trong vòng 24 giờ trước khi cắm hom
Sử dụng chất điều hòa sinh trưởng
Trong các chất điều hòa sinh trưởng thì auxin được coi là những chấtquan trọng nhất trong quá trình ra rễ của cây hom Song nhiều chất khác tácđộng cùng auxin và thay đổi hoạt tính của auxin cùng tồn tại một cách tựnhiên trong các mô của hom giâm và tác động đến quá trình ra rễ của chúng.Những chất quan trọng nhất là Rhirocalin, đồng nhân tố ra rễ và các chất kíchthích và kìm hãm ra
rễ
Rhirocalin: được coi là cần thiết cho hình thành rễ của nhiều loại cây.Builena,1965 cho rằng: Rhirocalin là một phức chất của 3 nhân tố Nhân tốđặc thù co khả năng chuyển dịch, có nhóm diphenol được sản xuất từ lá dướiánh sáng Nhân tố không đặc thù và linh hoạt (auxin) tồn tại ở các nồng độtheo giới hạn sinh lý Các enzyme đặc thù có thể ở dạng Phenol-Oxylaza nằm
ở trụ bì, Phloem và tượng tầng Phức hợp hai chất đầu cùng chất thứ batạo thành Rhirocalin phát động ra rễ ở hom giâm
Trang 23Chất điều hòa sinh trưởng đóng vai trò đặc biệt trong quá trình hìnhthành bộ rễ của hom giâm Để cho hom ra rễ thì mỗi loài cây sử dụng một loạithuốc với nồng độ và thời gian thích hợp.
Auxin tự nhiên: NAA (axit Napthalen-axetic), trong từng trường hợp cụthể thì auxin lại có hiệu quả ra rễ khác nhau đối với từng loại cây khác nhau
và các loại thuốc khác nhau Thí nghiệm giâm hom cho các loài cây Bạch đàntrắng, Mỡ, Sở tại trung tâm nghiên cứu giống cây rừng cho thấy rằng: IBA làchất có hiệu quả ra rễ cao nhất đối với Bạch đàn trắng: 93%; IAA và 2,4D làchất có hiệu quả ra rễ cao nhất đối với cây Mỡ: 85%; đối với cây Sở chất cóhiệu quả ra rễ cao nhất là NNA: 75%
Xử lý bằng thuốc nước
Khi xử lý hom bằng thuốc nước thì nồng độ và thời gian xử lý ảnhhưởng rất lớn đến tỉ lệ ra rễ của hom giâm Nồng độ xử lý quá thấp, không cótác dụng phân hóa tế bào thành để hình thành rễ, nồng độ quá cao hom thốirữa trước lúc rễ hình thành, nồng độ thấp phải xử lý thời gian dài, còn nồng độquá cao phải xử lý trong thời gian ngắn Thí nghiệm nghiên cứu 4 nồngđộ: 300ppm,
450ppm, 600ppm, 750ppm Ví dụ: hom Thông đuôi ngựa 2 tuổi được xử lýbằng thuốc nước IBA nồng độ 75ppm, 100ppm, 150ppm, trong 8h có tỉ lệ ra
rễ tương ứng là 6%, 80%, 87% (Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích, 1994) [3]
Khi lựa chọn nồng độ chất kích thích ra rễ cần chú ý đến nhiệt độ khôngkhí và mức độ hóa gỗ của hom trong quá trình giâm hom khi nhiệt độ cao cầnphải xử lý với nồng độ thấp hơn và ngược lại Hom quá non (chưa hóa gỗ)phải xử lý với nồng độ thấp, ngược lại hom hơi già (gần hóa gỗ hoàn toàn)phải xử lý với nồng độ cao hơn
Thời gian xử lý thuốc
Cùng một loại thuốc, cùng một nồng độ, nhưng thời gian xử lý khác nhau
cũng cho kết quả khác nhau Cần chú ý là giữa thời gian xử lý, nồng độ vànhiệt
Trang 24độ không khí có mối quan hệ nhất định nên cần phải điều chỉnh sao cho thíchhợp thì kết quả ra rễ của hom mới được cải thiện, nếu nồng độ chất kích thíchcao, cần xử lý với thời gian ngắn và ngược lại Nếu nhiệt độ không khí caocần xử lý với nồng độ thấp và thời gian ngắn hơn.
Phương pháp xử lý hom
Thông thường hom được xử lý bằng cách ngâm hom trong dung dịchchất kích thích ra rễ Chất kích thích ra rễ là hỗn hợp chất tan thì phần gốc củahom được nhúng vào nước và chấm vào thuốc, sao cho thuốc dính vào phầngốc hom Chất kích thích là dung dịch có nồng độ thấp 20-200ppm phần gốchom được nhúng vào dung dịch 24 giờ, chất kích thích ra rễ ở nồng độ 500-1000ppm phần gốc của homv được nhúng nhanh trong dung dịch 4-5 giây.Hom Sao đen với 4 nồng độ được nhúng trong dung dịch 10-15 phút
Tóm lại, xử lý hom bằng dung dịch có ưu điểm là tăng tỷ lệ ra rễ củahom, nhưng không thích hợp cho sản xuất dạng lớn Dạng dung dịch thườngđược dùng trong nghiên cứu hoặc các thì nghiệm có lượng hom ít hay loài câyrất khó ra rễ
Nhận xét chung
Như vậy, để hình thành một bộ rễ mới phải trải qua quá trình rất phứctạp, tổng hợp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nội sinh, ngoại sinh, sử dụng cácchất điều hòa sinh trưởng (Auxin) … Quá trình hình thành rễ phải trải qua rấtnhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn cần phức hệ nhất định các điều kiệnhoàn cảnh, có thể nói chọn đúng thời gian giâm hom, cây tuổi mẹ lấy hom(ngọn), chọn đúng thuốc xử lý và nồng độ thích hợp, kết hợp với các yếu tố
kỹ thuật chăm sóc tốt… thì hom sẽ có tỷ lệ ra rễ cao nhất, chất lượng bộ rễ tốtnhất Chính vì vậy, nắm chắc cơ sở khoa học của việc nhân giống bằng homthì hom giâm sẽ đạt tỷ lệ ra rễ cao nhất
2.1.6 Những yêu cầu kỹ thuật cơ bản khi giâm hom
Trang 25Vật liệu giâm hom rất nhạy cảm với sự mát nước và dễ bị nấm bệnh.Hom phải ở độ hóa gỗ thích hợp cho từng loại cây và phải được bảo quản tốt.Khi giâm hom yêu cầu: không cắt hom quá già hoặc quá non, hom đã cắtkhông được để trực tiếp dưới ánh sáng mặt trời Vật liệu giâm hom không nên
để quá xa nơi giâm hom và không nên cất trữ úa một ngày, khi vận chuyển
phải cất trữ hom trong bình lạnh, và phải giữ đủ ấm (Phạm Văn Tuấn, 1992)
để giữ ẩm và giữ nhiệt Trên lều có mái che để tránh ánh sáng trực xạ và giảmbớt cường độ ánh sáng Giá thể giâm hom phải được thoát nước tốt và không
bị nhiễm nấm bệnh Phải thường xuyên phun tưới sương để giữ ẩm và giữ độ
ẩm không khí cho hom giâm (Trung tâm Giống cây rừng, 1998) [8]
2.2 Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Trên thế giới
Trong Lâm Nghiệp, nhân giống sinh trương cho cây rừng đã được sửdụng trên 100 năm nay Ngay từ năm 1940, Marrier de Boisdyver (ngườipháp) đã ghép 10000 cây Thông đen Năm 1883, Velinski A.H công bố côngtrình nhân giống của một số loài cây lá kim và cây lá rộng thường xanh bằnghom Ở Pháp năm 1969, Trung tâm Lâm nghiệp nhiệt đới bắt đầu chươngtrình nhân giống cho các loại bạch đàn, năm 1973 mới có 1ha rừng trồng bằngcây hom thì đến năm 1986 đã có khoảng 24000 ha rừng trồng bằng hom, cácrừng này đạt tăng trưởng bình quân 35m3/ha/ năm (Phạm Văn Tuấn, 1997)[11]
Trang 26Theo tài liệu của Trung tâm giống cây rừng Asean- Canada (gọi tắt làACFTSC), những năm gần đây, nghiên cứu và sản xuất cây hom được tiếnhành ở các nước Đông nam Á (Phạm Văn Tuấn, 1998) [13].
Ở Malaysia, nhân giống sinh dưỡng các loại cây họ sao dầu bắt đầu từnhững năm 1970, hầu hết các nghiên cứu được tiến hành ở viện nghiên cứuLâm nghiệp Malaysia, ở trường Đại học Tổng hợp Pertanian,Trung tâmnghiên cứu Lâm nghiệp Sepilok, cũng đã báo cáo các công trình có giá trị vềcông trình nhân giống sinh dưỡng cây họ dầu Tuy nhiên cho đến nay, tỷ lệ ra
rễ của các cây họ dầu còn quá thấp, sau khi thay đổi các phương tiện nhângiống như: các phương pháp vệ sinh tôt hơn, che bóng hiệu qua hơn, phunsương mù, kỹ thuật trẻ hóa cây mẹ,… thì tỷ lệ ra rễ được cải thiện (ví dụ:Hopea odorata có tỷ lệ ra rễ 86%, Shorea Leprosula 71%, Shoera Parvifolia70%,…
Ở Malaysia, việc giâm hom cho sao đẹn được Alias tiến hành từ năm
1984, song không đem lại kết quả như mong muốn, từ năm 1991 đến năm1994
Aminah tiếp tục nghiên cứu xử lý hom sao đen bằng thuốc bột Seradix (IBA0,8%) và thấy rằng tỷ lệ ra rễ cao nhất cho hom từ cây 6-12 tháng tuổi là 75%,cây 18-20 tháng tuổi là 50%, đến năm 1996 tác giả này đã đạt được tỷ lệ ra rễcho sao đen cao hơn Nhân giống sinh dưỡng cho các loai cây họ Dầu như loàiShorea Macrophylla đã được các nhà Lâm nghiệp đặt loài cây họ dầu đượcchú ý trong chương trình thuần hóa các loài cây nhiệt đới Hai phương phápnhân giống được áp dụng là nhân giống trong buồng dưới hệ thống phun mù
tự động và nhân trên các luống nhân hom, phương pháp thứ nhất thu đượckhoảng 90% đến 100% số hom ra rễ và được áp dụng để sản xuất cây giốngphục vụ trồng rừng, phương pháp thứ 2 thu được 60%- 80% số hom ra rễ vàđược áp dụng rộng rãi ở nhiều địa phương
Ở Brunei, nhân giống dinh dưỡng họ dầu bắt đầu từ năm 1987, có sựhợp tác quốc tế với Nhật Bản ở Trung tâm Lâm nghiệp Brunei tại SungaiLiang đã
Trang 27nghiên cứu giâm hom trồi của cây Shorea assmica ra rễ thành công sau 3tháng ở môi trường tro núi lửa, nước không khí, cát khô, được sử dụng nhưmôi trường giom hom trong hệ thống phun sưong bao kín.
Ở Philippines, trong khi tỷ lệ ra rễ khi chiết chỉ đạt 10% đối với loàiD.Grandifolius đến 25% đối với loài Anisoptera Thurifera, thì kết quả giâmhom đã đạt được với các loài sau 3 tháng như: Shorea almon tỷ lệ ra rễ 56%,Shorea Quamata 44% và D.Grandifolius không ra rễ
Ở Indonesia, các nghiên cứu nhân hom cây họ Dầu được tiến hành tạichạm nghiên cứu cây họ Dầu Wanariset đã áp dụng phương pháp nhân giốngmới “Tắm bong bóng” (Phạm Văn Tuấn, 1997) [12], sử dụng phương phápnày thu được tỷ lệ ra rễ 90%-100% với các loài Shorea Leprosula, Shorerablanco…
2.2.2 Ở Việt Nam
Từ lâu trong sản xuất Nông-Lâm nghiệp, người dân Việt Nam đã biết
sử dụng các phương pháp nhân giống sinh dưỡng như chiết, ghép các loại cây
ăn quả, cây cảnh Người nông dân đã biết trồng bằng hom cho các loài Tre,Trúc, Sắn, Mía … song với những loài cây rừng nhân giống bằng hom mớiđược chú ý từ những năm 1979 trở lại đây
Lần đầu tiên vào năm 1976, những thực nghiệm về nhân giống hom vớimột số loài Thông và Bạch đàn được tiến hành tại trung tâm nghiên cứu cây
có sợi Phù Ninh - Phú Thọ Đây là nghiên cứu rất sơ khai, song đã mở đầu chocác nghiên cứu thực nghiệm tiếp sau này ở Việt Nam
Những năm 1983 - 1984 các thực nghiệm về nhân giống bằng homđược tiến hành tại viện Lâm Nghiệp (nay là Viện Khoa Học Lâm Nghiệp ViệtNam), đối tượng nghiện cứu là các loài Mỡ, Lát hoa, Bạch đàn (Nguyễn NgọcTân,1983; Phạm Văn Tuấn, 1984), nội dung nghiên cứu tập trung vào cácđiểm cấu tạo giải phẩu của hom, ảnh hưởng nhiệt độ, độ ẩm môi trường và xử
lý các chất kích thích ra rễ đến tỷ lệ sốngvà ra rễ của hom giâm
Trang 28Trong những năm 1990 trở lại đây, Lê Đình Khả và cộng sự đã nghiêncứu giâm hom cho Keo lá tràm, Keo tai tượng, … đã đạt kết quả, các thínghiệm về loại nhà giâm hom, môi trường cắm hom, thời vụ và phương pháp
xử lý chồi cũng được thực hiện Từ kết quả nghiên cứu này đã xây dựng đượccác hướng dẫn kỹ thuật nhân giống bằng hom, phục vụ cho các chương trìnhtrồng rừng Ngoài ra, một số loài cây quý hiếm như Thông đỏ, Bách xanhcũng được nghiên cứu và đạt kết quả Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng(Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam) sau một thời gian nghiên cứu thựcnghiệm đã thành công trong việc sản xuất hom cây Bạch đàn trắng và Keo laitheo kế hoạch được bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thông phê duyệttrong 3 năm 1996-1998, để phục vụ chương trình trồng thí điểm Keo lai ởvùng sinh thái chính trong cả nước Tính đến cuối năm 1997, Trung tâm đãsản xuất khoảng 120 ngàn cây hom cho 60 ha rừng trồng
Theo nghiên cứu: Nguyễn Huy Sơn, Nghiên cứu chọn và nhân giốngquế có năng xuất tinh dầu cao, Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản, ViệnKhoa học Lâm nghiệp Việt Nam Từ kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi câylấy hom càng trẻ thì tỷ lệ ra rễ càng cao, hom lấy từ cây quế 1 năm tuổi thì
tỉ lệ ra rễ đến 98,6%, nhưng hom lấy từ cây 13 năm tuổi thí nghiệm trongcông thức thuốc và thời vụ tốt nhất cũng chỉ có tỉ lệ ra rễ được 15,5%, homcủa cây 15 tuổi chỉ ra rễ được 4,3%[18]
Trang 292.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.4.1 Vị trí địa lý địa hình
Địa điểm nghiên cứu: đề tài tại vườn ươm trong mô hình khoa LâmNghiệp, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Vị trí địa lý: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp thuộc trường Đại học Nông
lâm Thái Nguyên Nằm cách thành phố Thái Nguyên khoảng 3 km về phíaTây Căn cứ vào bản đồ Thành phố Thái Nguyên thì xác định được vị trí nhưsau:
Phía Bắc giáp với phường Quan Triều
Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán
Phía Tây giáp xã Phúc Hà
Phía Đông giáp khu dân cư và khu kí túc xá thuộc trường Đại học Nônglâm Thái Nguyên
2.3.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trong khu vực thành phốThái Nguyên nên mang đầy đủ đặc điểm thời tiết, khí hậu của thành phố TháiNguyên Khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt mùa nóng ẩm và mùakhô lạnh
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22- 250C, chênh lệch giữa ngày và đêmkhoảng 2 - 50C, nhiệt độ cao tuyệt đối là 390C, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 30C
Lượng mưa trung bình từ 1500-2000mm, độ ẩm không khí trung bình82%, mùa mưa khoảng 86%, mùa khô khoảng 70%
2.4 Đặc điểm cây Ngũ gia bì
Cây Ngũ gia bì, cây Đáng, chân chim (Schefflera Octophylla (Lour.)
Harms), thuộc họ Ngũ Gia Bì (Araliaceae), Bộ Hoa Tán (Apiales)
Cây nhỡ cao 5-10m hay cây to cao đến 15m, có ruột xốp Vỏ cây màuxám, cành nhỏ có lỗ bì Lá mọc so le, có cuống dài, kép chân vịt, thường có 8
lá chét mép nguyên, hình bầu dục nhọn hai đầu, hơi thon hẹp hoặc tròn ở gốc,
Trang 30dài 7-17cm, rộng 3-6cm Hoa nhỏ, màu trắng, tụ họp thành chuỳ hoặc chùmtán ở đầu cành; trên cuống phụ của cụm hoa, đôi khi có những bông hoa đứngriêng lẻ Quả mọng, hình cầu, đường kính 3-4mm, khi chín màu tím đen, chứa6-8 hạt Toàn cây có mùi thơm đặc biệt.
Hoa tháng 2-3, quả tháng 4-5
Phân bố Loài này phân bố rộng rãi ở Việt Nam, miền nam Trung Quốc
(P
h ú c K i ế n , Qu ả n g Đ ô n g , Q u ả n g T â y , Qu ý C h â u , H ồ N a m , G i a n g T â y , T â y T
ạ ng , V â n N a m , C hi ết G i a n g ), Đài Loan, và Hồng Kông, T h ái L an Ấ n Đ
ộ , l a y siMa a , Nh ật B ản ( k y us h u , q u ầ n đảo R y uk y u ) Chúng phân bố ở độ cao
Dùng trong dược liệu
Loài này có tác dụng kháng virus, chữa cảm lạnh thông thườngđau lưng,nhức xương, tê bại tay chân, phù thũng Bộ phận dùng là vỏ thân, lá Ngàydùng
10-20g, dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu [19]
Trang 31Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hom cây Ngũ gia bì ở trạng thái nửa hóa gỗ
Đề tài tiến hành nghiên cứu giâm hom loài cây Ngũ gia bì với loại thuốcNAA nồng độ (100ppm; 300ppm; 500ppm; 700ppm; 900ppm)
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu:
Thí nghiệm được tiến hành tại vườn ươm mô hình khoa Lâm Nghiệptrường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thời gian: Thí nghiệm tiến hành từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 4 năm 2018
3.3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc NAA đến tỷ lệ sống của homcây Ngũ gia bì
Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc NAA đến khả năng ra rễ củahom cây Ngũ gia bì
Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc NAA đến ra chồi của homcây Ngũ gia bì
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu kế thừa có chọn lọc các kết quảnghiên cứu có liên quan đến đề tài:
Những tài liệu có sẵn về địa điểm nghiên cứu (điều kiện tự nhiên, đấtđai, khí hậu…), một số đặc điểm về đối tượng nghiên cứu (đặc điểm sinh vậthọc, sinh thái học…)
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, kiểm tra kết quảbằng phân tích phương sai một nhân tố
Trang 32Công thức 6: Không xử lý thuốc (Đối chứng)
Thí nghiệm được thực hiện đồng nhất về các điều kiện thí nghiệm, khácnhau về nồng độ thuốc kích thích và bố trí như sơ đồ dưới đây:
Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm cho các công thức giâm hom
Các chỉ tiêu theo dõi: Số hom sống ở các định kỳ theo dõi (30, 60, 90ngày thí nghiệm)
Số hom ra rễ, số rễ/hom, chiều dài rễ; số hom ra chồi, số chồi/hom, chiều dài chồi (thu thập số liệu vào cuối đợt thí nghiệm)
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
3.4.2.1 Vật liệu dùng cho nghiên cứu
Vật tư dùng cho thí nghiệm gồm: kéo cắt cành, dao cắt cành, hom, chậunhựa, thuốc chống nấm, thuốc kích thích, bình phun sương
Thuốc tím (KMnO4) dùng để xử lý giá thể với nồng độ 0,3%, phun trựctiếp vào giá thể cấy hom
Trang 33Viben C50 nồng độ 0,3% (3g/1 lít nước) để xử lý hom giâm ngay khicắt hom xong và chống thoát hơi nước bằng cách ngâm vào chậu dung dịch.
Xử lý giá thể bằng cách dùng thuốc tím nồng độ 0,3% (3g/lít nước),tưới cho thấm đều trên toàn bộ bề mặt và sâu 15-20cm Xử lý giá thể trước khicắm hom 12 giờ
Chuẩn bị thuốc kích thích ra rễ
Chất kích thích ra rễ NAA ở các nồng độ: 100ppm, 300ppm, 500ppm,700ppm, 900ppm
Pha theo nguyên tắc loãng dần bằng cách pha dung dịch mẹ trước rồi từdung dịch mẹ lấy ra một lượng cần thiết cho mỗi nồng độ khác nhau và lên thểtích cho đủ
Chuẩn bị hom giâm
Cành hom được cắt vào buổi sáng sớm và được ngâm ngay vào nướcsạch đề bảo quản tránh mất nước Cành hom cắt về tiến hành giâm cắt hom rồigiâm ngay
Kích thước hom dài từ 8 - 10cm Hom giâm ở thời kỳ bánh tẻ, khôngquá non không quá già
Trang 34Gốc hom được cắt vát 45° bằng dao thật sắc để tạo bề mặt tiếp xúc lớnvới thuốc khi ta chấm thuốc kích thích, ngoài ra còn tạo mô sẹo lớn để có số rễtối đa.
Hom cắt được ngâm trong dung dịch thuốc tím nồng độ 0,3% để chốngnấm với thời gian là 30phút Sau đó vớt ra để ráo nước, chấm gốc vào thuốckích thích ở các nồng độ thuốc khác nhau (100ppm, 300ppm, 500ppm,700ppm,
900ppm) rồi cắm ngay vào nền giá thể đã được chuẩn bị sẵn, độ sâu cắm hom
là 1,5 - 2cm
3.4.2.3 Chăm sóc thí nghiệm
Chăm sóc hom: duy trì được độ ẩm thích hợp cho luống giâm hom vàtoàn bộ hom giâm Không được khô, cũng không được ướt, giúp cho homgiâm có được độ ẩm cần thiết cho việc hình thành mô sẹo
Để đảm bảo độ ẩm cho hom sau khi cắm hom xong tiến hành tưới nướcsạch ngay cho hom giâm dưới dạng phun sương mù, tưới xong phủ kín vòmche bằng nilon màu trắng để đảm bảo ẩm độ chống sự thoát hơi nước chohom
Hình 3.2: Chăm sóc thí nghiệm
Trên vòm giâm hom che lưới che mầu đen, đảm bảo ánh sáng còn lại50% ánh sáng toàn phần
Trang 35Tiến hành phun nước cho hom với khoảng thời gian phụ thuộc vào điềukiện khí hậu thời tiết Thời tiết nắng, nóng tăng thêm lượng nước phun và sốlần phun nhưng phải tránh phun vào thời điểm nắng nóng trong ngày như thờigian vào giữa trưa hay đầu giờ chiều Thời tiết mát khoảng cách phun đượcgiãn cách dài hơn.
Hom giâm được chăm sóc và thường xuyên phun sương hằng ngày
Số lần phun, khoảng cách giữa hai lần phun sương phụ thuộc vào thờitiết hằng ngày và giai đoạn giâm hom Nếu thời tiết nắng nóng, nhiệt độ khôngkhí cao, cường độ ánh sáng lớn và hom mới giâm thì hom giâm yêu cầu độ ẩmcao hơn
Vì vậy sau khi tiến hành giâm hom nên phun nhiều lần hơn so với lúchom đã xuất hiện rễ, tránh hiện tượng mất cân bằng giữa cung cấp nước vàthoát nước của hom Tiến hành phun sương 1 lần/giờ trong một ngày, tưới liêntục như vậy trong 4 tuần đầu Những ngày tiếp theo có thể tưới giảm xuống 6lần/ngày (sáng và chiều)
Trang 36Hình 3.3: Thu thập số liệu
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
Quá trình xử lí số liệu được thực hiện trên phần mềm Excel cài đặt sẵntrên máy tính Tiến hành:
Bước 1 Nhập số liệu vào máy vi tính
Bước 2 Phân tính và xử lý số liệu:
- Các chỉ tiêu được theo dõi là: