1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống các loại lan hài mạng đỏ tía (paphiopedilum micranthum), bầu rượu (calanthe rubens), hoàng thảo thái bình (dendrobium pulchellum), tại vườn lan hồ núi cốc

70 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại các loài lan rừng: Hài Mạng đỏ tía Paphiopedilum micrant

Trang 1

ĐẠ HỌC THÁ NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-HOÀNG VĂN HIẾU

NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÁC LOÀI LAN RỪNG:

HÀI MẠNG ĐỎ TÍA (PAPHIOPEDILUM MICRANTHUM), BẦU RƯỢU (CALANTHE RUBENS), HOÀNG THẢO THÁI BÌNH (DENDROBIUM

PULCHELLUM) TẠI VƯỜN LAN HỒ NÚI CỐC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Lâm nghiệp

Khoa : Lâm nghiệp

Khóa học : 2014 - 2018

Thái Nguyên, năm 2018

I I

Trang 2

ĐẠ HỌC THÁ NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-HOÀNG VĂN HIẾU

NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÁC LOÀI LAN RỪNG:

HÀI MẠNG ĐỎ TÍA (PAPHIOPEDILUM MICRANTHUM), BẦU RƯỢU (CALANTHE RUBENS), HOÀNG THẢO THÁI BÌNH (DENDROBIUM

PULCHELLUM) TẠI VƯỜN LAN HỒ NÚI CỐC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Lâm nghiệp

Lớp : K46-LN

Khoa : Lâm nghiệp

Khóa học : 2014 – 2018

Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Văn Mạn

Thái Nguyên, năm 2018

I I

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Nghiên cứu kỹ

thuật gây trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại các loài lan rừng: Hài

Mạng đỏ tía (Paphiopedilum micranthum), Bầu rượu (Calanthe rubens), Hoàng thảo thái bình (Dendrobium Pulchellum) tại vườn lan hồ Núi Cốc”

là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nêu trongkhóa luận là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đềtài của mình

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018

Trang 5

XÁC NHẬN CỦA GVHD

Đồng ý cho bảo vệ kết quả

trước hội đồng khoa học

(Ký, họ và tên)

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Thực tập nghề nghiệp là nội dung rất quan trọng đốii với mỗi sinh viêntrước lúc ra trường Giai đoạn này vừa giúp sinh viên kiểm tra, hệ thống lạinhững kiến thức lý thuyết và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học,cũng như vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn sản xuất

Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa LâmNghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái nguyên tôi tiến hành thực tập tốt

nghiệp với đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống các loại lan Hài Mạng

đỏ tía (Paphiopedilum micranthum), Bầu rượu (Calanthe rubens), Hoàng thảo thái bình (Dendrobium Pulchellum), tại vườn lan Hồ Núi Cốc”

Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình củacác thầy cô giáo trong và ngoài khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là sự hướng dẫnchỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn Ths Nguyễn Văn Mạn đã giúp đỡtôi trong suốt quá trình làm đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trong khoa LâmNghiệp, gia đình, bạn bè đặc biệt là thầy giáo Ths Nguyễn Văn Mạn đã giúp

đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Trong suốt quá trình thực tập, mặc dù đã rất cố gắng để hoàn thành tốtbản khóa luận, nhưng do thời gian và kiến thức bản thân còn hạn chế Vì vậybản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Vậy tôi rất mong được

sự giúp đỡ, góp ý chân thành của các thầy cô và toàn thể các bạn để khóa luậntốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018

Trang 7

4

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài .1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2Ý nghĩa trong thực tiễn .2

Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4

2.3 Tình hình nghiên cứu thực vật trên thế giới .6

2.4 Tình hình nghiên cứu thực vật ở Việt Nam .8

2.5 Tổng quan về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu .21

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23

3.2 Nội dung nghiên cứu .23

3.3 Phương pháp nghiên cứu .23

Trang 9

3.3.1 Kỹ thuật trồng 233.3.2 Theo dõi sinh trưởng

25

Trang 10

3.3.3 Kỹ thuật chăm sóc

26

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 314.1 Kĩ thuật trồng 3 loài lan Hài mạng đỏ tía, Bầu rượu, Hoàng thảothái bình 314.1.1 Kĩ thuật trồng lan Hài mạng đỏ

Trang 12

DANH MỤC BẢNG

Trang Bảng 4.1 Kết quả tính toán khả năng sinh trưởng của thân ba loài lan Hài

mạng đỏ tía, bầu rượu, hoàng thảo thái bình 33

Bảng 4.2: Tổng hợp sinh trưởng lá của ba loài lan Hài mạng đỏ tía, bầu rượu, hoàng thảo thái bình qua các lần đo lần đo 37

Bảng 4.3: Tổng hợp diễn biến quá trình ra hoa loài lan 39

Bảng 4.4: Tổng hợp tình trạng sâu, bệnh hại lan Bầu rượu 40

Bảng 4.5: Tổng hợp tình trạng sâu, bệnh hại lan Bầu rượu 40

Bảng 4.6: Tổng hợp tình trạng sâu, bệnh hại lan Hoàng thảo thái bình 40

Trang 13

vii

Trang 14

DANH MỤC HÌNH

Trang Hình 4.1: Diễn biến lượng sinh trưởng thân lan Hài mạng đỏ tía qua các

lần đo 34

Hình 4.2: Diễn biến lượng sinh trưởng thân lan Bầu rượu qua các lần đo

35 Hình 4.3: Diễn biến lượng sinh trưởng thân lan Hoàng thảo thái bình qua các lần đo 36

Hình 4.4.Biểu đồ sinh trưởng lá của lan Hài mạng đỏ tía 37

Hình 4.5.Biểu đồ sinh trưởng lá của lan Bầu rượu 38

Hình 4.6.Biểu đồ sinh trưởng lá của lan Hoàng thảo thái bình 38

Trang 15

1

Trang 16

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

và bảo vệ cho các loài sinh vật

Cũng giống như một số quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam ho a p h on g

l an có sự đa dạng về hình dáng, màu sắc cũng như chủng loại Các nhà khoahọc dựa trên đặc điểm của các loài lan mà phân chia chúng thành hai nhómlớn là phong lan và địa lan Phong lan là loài hoa sống được nhờ vào các thâncây ẩm ướt ở trên núi cao hoặc trong rừng, còn địa lan là loài hoa sống nhờđất ẩm ướt ở bờ suối, sườn núi, dưới mặt đất hay ở tán rừng Để tìm hiểu một

số loài thực vật đó tôi tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp nghiệp “Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại các loại lan:

Hài Mạng đỏ tía (Paphiopedilum micranthum), Bầu rượu (Calanthe rubens), Hoàng thảo thái bình (Dendrobium Pulchellum) làm cơ sở cho

việc bảo tồn loài thực vật quý hiếm tại vườn lan Hồ Núi Cốc” Kết quả

nghiên cứu đề tài sẽ góp phần cung cấp thông tin cơ bản về đặc điểm phân bố,

Trang 17

sinh thái, sinh học của một số loài làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triểnnguồn gen thực vật quý hiếm ở nước ta.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được kĩ thuật gây trồng các loài lan:

Hài Mạng đỏ tía (Paphiopedilum micranthum), Bầu rượu ( Calanthe rubens), Hoàng thảo thái bình (Dendrobium Pulchellum)

Xác định được khả năng sinh trưởng của các cây:

Hài Mạng đỏ tía (Paphiopedilum micranthum), Bầu rượu ( Calanthe rubens), Hoàng thảo thái bình (Dendrobium Pulchellum)

Đề xuất các biện pháp phòng trừ sâu hại cho 3 loài lan nghiên cứu

1.3 Ý nghĩa đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Qua việc nghiên cứu và thực hiện đề tài này sẽ giúp tôi làm quen đượcvới công việc nghiên cứu khoa học, bên cạnh đó còn củng cố được lượng kiếnthức chuyên môn đã học, có thêm cơ hội kiểm chứng những lý thuyết đã họctrong nhà trường đúng theo phương châm học đi đôi với hành Nắm được cácphương pháp nghiên cứu, bước đầu tiếp cận và áp dụng kiến thức đã đượchọc trong trường vào công tác nghiên cứu khoa học

Qua quá trình học tập nghiên cứu đề tài làm cho sinh viên tích lũythêm được nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế trong việc gieo ươm câygiống Đây sẽ là những kiến thức rất cần thiết cho quá trình nghiên cứu, họctập và làm việc sau này

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở cho việc xây dựng các biệnpháp bảo tồn và phát triển các loài lan trong khu bảo tồn một cáchhợp lý

Trang 18

Giúp cho nhân dân và cán bộ Kiểm lâm nhận thức được tầm quantrọng của việc bảo tồn và những vai trò mà loài cây lan mang lạicho cuộc sống

Việc nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học loài cây lan tại khu vực nghiên cứu

sẽ tạo tiền đề cho việc gây trồng tại khu vực

Thông qua kết quả nghiên cứu thấy được sự đa dạng của các loài và

sự suy giảm của các loài thực vật trong những năm qua, từ đó đánh giáđược tác động của con người đến tài nguyên rừng

Thành công của đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giữ gìn,bảo tồn và phát triển loài lan quý này góp phần vào phát triểnnền kinh tế - xã hội của huyện, của tỉnh cũng như toàn bộ khu vực miềnnúi phía bắc

Trang 19

Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

 Cơ sở sinh học:

Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cầnphải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài.Việc hiểu rõ về đặc tính sinh họccủa loài giúp chúng ta có nhưng biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồntài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động vật quý hiếm, từ đógiúp chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật

 Cơ sở trồng, chăm sóc, bảo vệ lan rừng chăm sóc lan rừng:

Một trong những đặc điểm sinh học đặc trưng của lan là có khả năngchống chịu cao, ưa ẩm và bóng râm, nhưng nếu thiếu ánh sáng cũng giảmnăng xuất và phẩm chất Đối với phong lan: Không để cho nắng trời trực tiếpchiếu vào, đặc biệt "kỵ" với nắng quái chiều và gió tây (gió Lào) Chú ý phuntưới (tốt nhất là phun sương mù nhân tạo) cho toàn bộ cây và giá thể theo kinhnghiệm "2 ướt - 1 khô" trong ngày, đó là vào các thời điểm trước bình minh

và sau hoàng hôn Lượng nước vừa đủ để làm mát cây, ướt rễ và dự trữ

Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủViệt Nam cũng công bố trong Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy côngtác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên Đây cũng là tài liệu khoa học được

sử dụng vào việc soạn thảo và ban hành các qui định, luật pháp của Nhà nước

về bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, tính đa dạng sinh học và môi trườngsinh thái Các loài được xếp vào 9 bậc theo các tiêu chí về mức độ đe dọatuyệt chủng như tốc độ suy thoái (rate of decline), kích thước quần thể(population size), phạm vi phân bố (area of geographic distribution), và mức

Trang 20

độ phân tích quần thể và khu phân bố (degree of population and distributionfragmentation).

Hài mạng đỏ tía đã liệt kê vào Phụ lục 1 của công ước CITES và Danhmục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm IA) của Nghịđịnh số 32/2006/NĐ – CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để nghiêm cấm khaithác, sử dụng vì mục đích thương mại Bảo vệ chung trong các Khu bảo tồnthiên nhiên Bát Đại Sơn, Phong Quang và Na Hang Đồng thời nhân rộngviệc gieo ươm để vừa tạo nguồn cây làm cảnh đồng thời bảo vệ nguồn gen.Tài liệu dẫn: “Sách đỏ Việt Nam năm 2007 – phần thực vật – trang 466”.[4]

Đối với bất kỳ công tác bảo tồn một loài thực vật nào đó thì việc đi tìmhiểu kỹ tình hình phân bố, hiện trạng nơi phân bố là điều cấp thiết nhất Ở tạivườn lan Hồ Núi Cốc tôi đi tìm hiểu tình hình phân bố một số loài lan, thống

kê số lượng, tình hình sinh trưởng và đặc điểm sinh thái học của chúng tại địabàn nghiên cứu Đây là cơ sở thứ hai để tôi thực hiện nghiên cứu của mình.Nhưng do giới hạn của đề tài và năng lực của bản thân còn hạn chế nên tôichưa thể phân tích đánh giá một cách cụ thể mà chỉ tiến hành “tìm hiểu” vàđánh giá khái quát để đưa ra những biện pháp bảo tồn và phát triển loài

2.2 Tổng quan về các loàn lan

Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi về các yếu tố địa lý, khí hậu cũngnhư nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng, rất thích hợp với việc trồng phong lan Tạinhững cánh rừng Việt Nam cũng tập trung rất nhiều loài phong lan quí hiếm

Việt nam là quê hương của khoảng 91 chi, 463 loài lan và khoảng 1000giống nguyên thủy Những cây lan này phân bố tại vùng rừng, núi các tỉnhThái Nguyên, Cao bằng, Lào Cai, Huế, Hải Vân, Quy nhơn, Kontum, Pleiku,Đắc Lắc, Đà lạt, Nam Cát Tiên (Nguyễn Thị Yến, 2015) [6]

Tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1983 - 1984 bắt đầu có các cơ quanđóng tại thành phố tổ chức thử nghiệm nuôi trồng trên quy mô lớn để xuất

Trang 21

khẩu Các vườn lan đáng kể là vườn lan của T78, vườn lan của Cục Quản lưgiáo dục Bộ tham mưu, vườn lan của ngành hàng không dân dụng Về langiống từ năm 1976, Trung tâm Sinh học thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chứcnuôi cấy mô phong lan và tạo ra hàng loạt cây con phong lan bằng phươngpháp cấy mô Năm 1987, Ủy ban khoa học thành phố Hồ Chí Minh tổ chứcnghiên cứu đề tài và kinh tế kỹ thuật khoa học lan xuất khẩuvà thành phốcũng đã quyết định thành lập Công ty phong lan xuất khẩu trực thuộc Sở Lâmnghiệp Từ năm 1987 - 1988, Hội khoa học Lâm nghiệp và trường Đại họcTổng hợp lần lượt mở lớp nuôi trồng hoa lan xuất khẩu, phong trào nuôi cấylan Sau đó hội hoa lan, cây cảnh thành phố ra đời, thường xuyên mở nhữngbuổi hội thảo về hoa lan, về cây cảnh.

Năm 1991, Phân viện Sinh học Đà Lạt tổ chức thu thập các loại lanrừng của Lâm Đồng bao gồm Hoàng Thảo (Dendrobium), Cattleya, Địa lan(Cymbidium) Các loài này đã được đưa về trồng để theo dõi các đặc tính sinhhọc (thời vụ ra hoa, hình thái, màu sắc và hương thơm) và xây dựng bộ sưutập lan nhằm bảo tồn nguồn gen, làm nguồn vật liệu cho công tác tuyển chọn,lai tạo những giống lan quý phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu

Năm 2002, Trần Tuấn Anh, 1 người chơi hoa có tiếng ở đất hà Thành,không chỉ sở hữu vườn lan với hơn 300 loài, anh còn tìm được 1 loài lan mới

lạ tại miền núi Tây Bắc - Việt Nam, có tên khoa học là Dendrobium tuananhiiđược thế giới công nhận và tên anh đã được đặt cho loài hoa quí hiếm này.Phan Thục Huân (2005) [10]

2.3 Tình hình nghiên cứu thực vật trên thế giới

Hoa lan (Orchidaceae) là một trong đỉnh cao của sự tiến hóa của cácloài cây có hoa Hoa lan được con người biết đến rất sớm Ở châu Á, danh từlan là tên có từ xa xưa trong Tứ thư, ngũ kinh và cả trong Kinh dịch của BáchGia Chư Tử (Trung Quốc 551 - 479 trước công nguyên) Hoa lan được tượng

Trang 22

trưng cho người quân tử Khổng Tử đã hết lời ca ngợi hoa lan và có lẽ làngười đầu tiên coi hoa lan là vua của các loài hoa.[15]

Theo Bretchneider: từ đời vua Thần Nông - Trung Quốc (2800 trước Côngnguyên) trong một tài liệu về cây thuốc, còn ghi lại hai loài lan được dùnglàm thuốc trị bệnh

Đến đời nhà Tống - Trung Quốc (960 - 1279) có một học giả là MaoSiang có viết một cuốn sách về dược thảo và phương pháp dưỡng sinh Trongcuốn sách này có trình bày về công cụ dược học của nhiều hoa lan như:Dendrobium nobile và Dendrobium crumenatum [15]

Từ đời nhà Minh (1278 - 1368) trở đi, hoa Lan được họa thành tranh,

và tranh hoa lan là loại tranh nghệ thuật quý để trang trí nội thất thời bấy giờ.Năm 1728 Matsuka (Nhật Bản) đã viết một quyển sách chỉ dẫn kỹ thuật trồnghoa lan và bón phân, tưới nước cho cây lan

Nói chung các nước ở châu Á, hoa lan được biết đến và đưa vào nuôitrồng rất sớm Đến thế kỷ 20, người Anh mới đến Singapore mở đầu cho mộtgiai đoạn mới là lập trại nuôi trồng hoa lan và kỹ nghệ nuôi trồng lan Cácgiống lan được nuôi trồng ở đây là: Arachnis, Vanda, Oncidium đồng thờilai tạo các loài lan mới Từ năm 1957, Thái Lan, Indonexia bắt đầu phát triểnnuôi trồng lan quy mô ngày càng lớn phục vụ cho xuất khẩu Các loài lanrừng, lan lai, lan cắt cành của Thái Lan được xuất khẩu qua nhiều nước trênthế giới [15]

Sau những thành công của Thái Lan, nhiều người từ các nước Ấn Độ,Sri Lanka, Philippin đã lần lượt đến Thái Lan học hỏi kinh nghiệm sản xuất

và kinh doanh lan Hiện nay hàng tháng công ty hoa lan của Thái Lan đã gửihàng trăm chuyến hoa lan xuất khẩu sang các nước châu Âu, sang Hoa Kỳ vàsang Nam Mỹ Các vườn hoa lan của Thái Lan thường có ít nhất là 10.000

Trang 23

cây trở lên Đặc biệt Thái Lan đã lai tạo thành công nhiều loài hoa lan lai mới

có hoa với nhiều màu sắc đẹp hấp dẫn người thưởng thức

Ở châu Âu cũng như châu Á, người châu Âu đã biết đến hoa lan rấtsớm, các tập di cảo dược tính, thảo mộc trong đó có nói đến cây lan đã có từtrước Công nguyên [15]

2.4 Tình hình nghiên cứu thực vật ở Việt Nam

Tại Việt Nam, lan Hài thường phân bố ở các vùng có lượng mưa lớn

và độ ẩm cao Tuy nhiên, do đặc trưng là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nênchúng thường phải trải qua một giai đoạn khô hạn Sự xuất hiện lá dày, dai vàmọng nước là hướng thích nghi tốt để cây có thể sống sót qua đợt khô hạnđịnh kì và chúng sẽ phục hồi nhanh chóng khi mùa mưa trở lại Độ ẩm xungquanh rễ, kiểu đất và độ pH, sự có mặt của các nấm rễ, tác nhân thụ phấn vàcường độ ánh sáng là các nhân tố quan trọng trong sự hình thành và phát triểncủa quần thể lan Hài Trong rừng nguyên sinh, lan hài phân bố không đềunhau trên các hướng sườn núi Nhưng trong các rừng bị xuống cấp, chúng cókhuynh hướng phát triển ở các sườn Bắc, đông bắc và tây bắc của núi Tuynhiên, lan Hài thường có điều kiện tốt nhất và hoa nở tốt hơn ở sườn nam ấm

và nhiều ánh sáng hơn Ngày nay thường chỉ thấy lan Hài mọc thành nhữngđám nhỏ Các nơi sống tự nhiên bị phá hủy bởi con người, sự thay đổi cácđiều kiện môi trường và việc thu hái lan để bán đang là nguyên nhân chínhgây ra sự tuyệt chủng nhanh chóng của các loài lan Hài ở khắp các vùng củaViệt Nam (Averyanov và cs, 2008)[1]

Nhà nghiên cứu Bùi Xuân Đáng trong "Calanthe R Brown 1821" đãghi lại về lan bầu rượu như sau :" Củ lan Calanthe cao khoảng 5-10 cm, đáyhơi phình ra, đầu thu nhỏ lại và chỉ sống được trên một năm Trên đầu củmang từ 1 đến 4 chiếc lá to bản, dài chừng 30-50 cm, rộng 10-15 cm màuxanh nõn chuối Lá lan thường vàng úa và rụng vào cuối mùa mưa hay vào

Trang 24

thu khi trời bắt đầu lạnh Sau một thời gian nghỉ ngơi, chồi hoa mọc ra từ đáy

củ, cao từ 20 cm đến 1 m, có từ vài hoa đến 20 chiếc Hoa thường có màutrắng, vàng đỏ hay hồng tùy theo giống, hoa đẹp nhưng không thơm thường

nở vào mùa Xuân, nhưng cũng có khi vào mùa Đông Khi hoa tàn, mầm nonmới, có khi là một hay hai mọc ra, nhưng cũng có khi mọc ra cùng một lúcvới chồi hoa "

Hoàng thảo thái bình là cây ưa sáng, có thể trồng trong điều kiện ánhsáng trực tiếp hay khuếch tán Ánh sáng hữu hiệu cho cây thuộc chiDendrobium là 70%, vì thế giàn che với độ che sáng 30% dưới đất và 40% ởtrên cao với cường độ ánh sáng từ 15.000-30.000 lux rất thích hợp cho sựphát triển của lan Hoàng thảo để sinh trưởng và phát triển Tuy không đòi hỏi

số lượng lớn nhưng phải đầy đủ các thành phần dinh dưỡng N, P, K và cácnguyên tố trung, vi lượng Tùy từng giai đoạn sinh trưởng mà nhu cầu đối vớicác thành phần dinh dưỡng có khác nhau (Đào Thanh Vân và Đặng Thị TốNga, 2008)[3]

2.4.1 Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái

Lan rừng Việt Nam – Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học đã được rất nhiềutác gia để cập đến Có thể tóm tắt đặc điểm thực vật học của lan rừng ViệtNam theo tiêu chí chính sau :

Trang 25

Rễ chia ra làm 5 phần: lõi rễ, thân rễ, vỏ rễ, lông rễ và đầu rễ

Đầu rễ có nhiệm vụ hút nước và chất bổ dưỡng để nuôi cây Nếu vật liệu nuôi trồng khô ráo, rễ sẽ mọc dài ra để tìm nước Trái lại lúc nào cũng cósẵn nước ở bên, rễ sẽ không mọc thêm ra Ngay cả nhưng giống lan cần tưới nhiều như Vanda, Renanthera chẳng hạn, cũng nên đợi một vài giờ sau cho khô rễ rồi mới tưới

Nếu tình trạng sũng nước kéo dài ngày này qua ngày khác, rễ sẽ bị thối

Rễ bị thối không có gì để hút nước, lá cũng có thể thấm nước nhưng không đủ

để nuôi cây cho nên lá bị nhăn nheo, thân, bẹ cây bị tóp lại Chúng ta cũngđừng nhầm lẫn giữa thối rễ và tưới không đủ nước Nếu tưới không đủ, cây sẽ

bị cằn cỗi và không tăng trưởng đúng mức Những loại lan có lá dài và mềmnhư Oncidium, Brassia hay Odontoglossum… khi thiếu nước lá sẽ có triệuchứng chun xếp lại [17]

Rễ lan cần ẩm chứ không ướt và có không khí chuyển động quanh rễ.Nhìn vào rễ có thể biết ngay việc tưới nước và bón phân ra sao Nếu rễ cómàu trắng, cứng và đầu rễ có màu xanh là tốt, còn nếu tưới quá nhiều chỉ cómột vài rễ tốt, số còn lại mềm nhũn và có màu nâu

Bón phân quá mạnh hoặc quá nhiều sẽ làm cho rễ cháy xám lại Vì vậynên bón phân rất loãng và thưa không nên bón bằng phân viên, phân hột vìchúng ta không thể kiểm soát được liều lượng

Muốn quan sát tình trạng của rễ ra sao, nhiều người dùng loại chậunhựa trong suốt để dễ dàng quan sát

Đầu rễ của lan rất dễ bị tổn thương và rất dễ gãy khi chúng ở ngoàichậu Hầu hết rễ lan thường phải nằm yên trong chậu, nhưng theo bản năngchúng thường hướng về phía có không khí và nước nên thường mọc tràn ramiệng chậu và tiếp tục phát triển thì có thể lơ lửng hay bám vào bất kỳ bề mặtnào mà chúng chạm tới [17]

Trang 26

Rễ không được kết cấu thường xuyên mà theo từng năm, nhú ra từ gốcmột khoảng thời gian sau khi mọc chồi mới Tương tự như thế, lá rụng sau 1hay vài năm, do đó rễ chết tự nhiên và được thay thế bằng rễ từ chồi mới.

 Thân

Lan có 2 loại thân là đa thân và đơn thân Ở các loài lan sống phụ cónhiều đoạn phình lớn thành củ giả (giả hành) đó là bộ phận dự trữ nước và cácchất dinh dưỡng để nuôi cây khi điều kiện gặp khô hạn khi sống bám trên cao

Củ giả hành đa dạng, hình cầu hay thuôn dài xếp sát nhau hay rải rác đều đặnhoặc hình trụ xếp chồng chất thành một thân giả, cấu tạo củ giả, gồm nhiều

mô mềm chứa đầy dịch nhầy phía ngoài là lớp biểu bì, với vách tế bào dày,nhẵn bóng bảo vệ để trách sự mất nước do mặt trời hun nóng Đa số củ giảđều xanh bóng để làm nhiệm vụ quang hợp cùng với lá [17]

 Lá

Hầu hết các loài phong lan là cây tự dưỡng, nó phát trển đầy đủ hệthống lá, hình dạng của lá thay đổi rất nhiều, từ loại lá mọng nước đến loại láphiến mỏng phiến lá trải rộng hay gấp lại theo các gân vòng cung, hay chỉ gấplại theo hình chữ v Màu sắc lá thường xanh bóng, nhưng có trường hợp haimặt lá khác nhau

Trang 27

giống, lá đài lý trở nên to lớn và lòe loẹt, 2 lá đài cạnh thấp ở hai bên đôi khihợp nhất lại thành ra một, và trong những giống khác tất cả 3 lá đài hợp nhấtthành kết cấu hình chuông chung quanh hoa Trong một vài giống, các lá đàihoàn toàn lấn áp hoa thật [17]

Nằm kề bên trong và xen kẽ với 3 cánh đài là 3 cánh hoa Cánh hoa bảo

vệ bao bọc nụ hoa So với 2 cánh hoa hai bên sườn, cánh hoa phía dưới cònlại gọi là cánh môi Cánh môi đôi khi đặc biệt to lớn khác hẳn với 2 cánh kia.Cánh môi thường sặc sỡ, viền cánh hoa dợn sóng hoặc dưới dạng một cái túi,trang hoàng với những cái mũ mào (như mào gà), những cái đuôi, cái sừng,những nốt màu, những cái lông,… Cánh môi quyết định giá trị thẩm mỹ củahoa lan Trong một số trường hợp, cánh môi còn là một cái bẫy dụ dỗ các côntrùng giúp thụ phấn [17]

Cơ quan sinh sản của hoa lan kết hợp thành một trụ đơn không giốnghình dạng tiểu nhị đực/túi phấn và nhuỵ cái/nướm như các loại hoa khác Đây

là đặc điểm để nhận dạng đầu tiên của hoa lan Ở trên đầu của trụ hoa là baophấn bao gồm nhiều hạt phấn gọi là túi phấn Phía dưới túi phấn là nhuỵ cái ,một shallow, vách thường ẩm ướt nơi mà hạt phấn rơi vào thụ tinh Có một bộphận nhỏ đó là vòi nhuỵ có tác động rào cản bảo vệ ngăn chận tự thụ phấn củachính hoa này Để ngăn chận việc tự thụ phấn, một số loài chúng có hoa đực

và hoa cái riêng rẽ

 Cấu tạo hoa lan

Trang 28

Cánh môi hay Cánh dưới

Cánh hoa thấp phía dưới của hoa Lan Hoa dùng cánh này để cung cấp một

“bãi đáp” dành cho những côn trùng thụ phấn

Trụ nhụy

Một cấu trúc giống ngón tay, đó là bộ phận sinh dục của hoa Đầu nhụy (nhụycái) và phấn hoa (nhị đực) ở dưới đầu nắp bao phấn (nắp)

 Quả lan

Sự tạo quả của hoa lan trong tự nhiên rất khó do cấu tạo đặc biệt của hoa

và thường phải nhờ côn trùng Quả lan thuộc loại quả nang, thời gian tạo quảđến khi quả chín kéo dài Đối với Cattleya phải từ 12 đến 14 tháng, Vanda 18tháng hoặc hơn, Cypripedium 1 năm, Dendrobium từ 9 tới 15 tháng Khi chínquả nở ra theo 3 đến 6 đường nứt dọc mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phíađỉnh và phía gốc [17]

 Hạt lan

Hạt lan rất nhiều, nhỏ li ty Hạt cấu tạo bởi một khối chưa phân hóa, trênmột mạng lưới nhỏ xốp chứa đầy không khí Phải trải qua 2 – 18 tháng hạtmới chín Hạt muốn nảy mầm trong tự nhiên phải có sự cộng sinh của nấmPhizotonia nuôi dưỡng [17]

2.4.2 Nghiên cứu về gây trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại cho lan

 Các nghiên cứu gây

Trang 29

Nhược điểm: Số lượng phân bón sử dụng trong mỗi lần tưới rất tốn kém, điềukiện trồng phải luôn luôn có độ ẩm cao và tương đối ổn định nếu không cây

sẽ bị chuồn lá, chỉ áp dụng cho các loại lan độc trụ cụ thể như Vanda,Ascocentrum, Ascocenda Cách trồng treo chỉ áp dụng ở những nơi có độthông gió kém và độ ẩm cao[18]

Trồng trên thân cây:

Trồng trên thân cây sống chỉ áp dụng những nơi công cộng hơn là giađình, có tính cách sưu tập hơn là thẩm mỹ, ví dụ như vườn bách thảo, cácvườn hoa Mục đích của cách trồng này nhằm dựng lại một khung cảnh thiênnhiên thu hẹp, vì thế số lượng giống phải nhiều và rất khó làm nổi bật vẻ đẹpcủa lan

Trồng trên thân cây chết là cách trồng nên khuyến khích vì mật độtrồng cao, cây phát triển nhanh, ít bị bệnh Vú sữa là loại cây được ưa chuộngnhất để thực hiện cách trồng này Kết quả theo dõi trong 4 năm cho thấy, tỷ lệphát triển giữa cách trồng trên thân cây gấp 1,5 lần cách trồng trong chậu Vúsữa được cưa thành từng khúc l,5 m, có thể để cả nhánh được dựng đứng vàotrong một cái chậu, giữ vững bằng lớp gạch vụn hoặc xi măng đổ vào tronggốc Cách này giống như cách trồng lan trên cây sống, nhưng nhờ cây thấpnên có thể điều khiển độ che sáng thích hợp Lan được buộc chặt vào thân vúsữa Mỗi gốc vú sữa có thể trồng 20 - 30 cây lan Khoảng 2 tuần đến 1 tháng

rễ non sẽ bám chặt vào thân cây Cách này có ưu điểm là cây phát triểnnhanh, ít bị mầm bệnh làm thối rễ, mật độ trồng cao Khuyết diểm duy nhất làkhó bán, khó trưng bày vì khách hàng rất ngại ngùng mua một cây lan trổ hoa

bị đứt rễ do nhổ ra khỏi thân cây Phương pháp này được áp dụng cho nơi nàochưa có ý định trồng lan để kinh doanh ngay Hiệu quả của phương pháp làtạo một số lượng giống lan nhanh nhất trong thời gian ngắn Nếu phươngpháp cấy mô hoa lan chưa là mục tiêu được sản xuất đại trà tại thành phố, thìphương pháp này giúp các nhà vườn tự tin cho sự phát triển vườn lan của

Trang 30

mình Phương pháp này áp dụng tốt nhất cho Dendrobium, Cattleya,Ascocenda [18]

Trồng trong chậu : Đây là cách trồng phổ biến trong thành phố vì cây lan

có hoa có thể dễ dàng đem trưng bày trong phòng khách, đem bán, đem biếu

mà không bị ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của nó Các loại phù hợp trồngtrong chậu như bầu rượu, hoài mạng đỏ tía [18]

 Các loại giá thể trồng lan thông dụng ở Việt Nam

Than củi: Được dùng khá phổ biến, là một chất trồng tốt vì không bị mục,sạch bệnh, tạo thông thoáng cho hệ rễ lan phát triển Than sẽ hấp thụ dinhdưỡng qua quá trình bón phân và cung cấp dưỡng chất qua sức hút rất mạnhcủa rễ lan Than được dùng ở đây là loại than gỗ rừng, được nung (hun) thậtchín Tránh tuyệt đối dùng các loại than gỗ rừng sác (như than đước) vì hàmlượng NaCl trong than cao, dễ làm chết lan Than được chặt nhỏ vừa (kíchthước 1 x 3 x 2 cm), không nên chặt quá nhỏ sẽ làm cản trở hô hấp của rễ.Nhược điểm là giữ ẩm kém, giá thành khá cao.[19]

Gỗ vú sữa, gỗ cây me: Là chất trồng thông dụng cho các loại lan rừng

có rễ to và thích thoáng khí như ngọc điểm, sóc, hoàng thảo các loại Vì bảnthân lan rừng khi ở trong rừng bám vào các loại cây để sống

Vỏ dừa chặt khúc: Có khả năng giữ ẩm tốt và chất dinh dưỡng được cungcấp từ p h ân b ó n g iúp cho rễ phát triển tốt Vỏ dừa chặt khúc nhỏ (1 x 3 x 2cm) xử lý bằng nước vôi 5% hoặc NaOH 2% Nhược điểm là không bền, dễ

bị rong rêu phát triển trên bề mặt [19]

Vỏ dừa miếng: Đây là chất trồng lan chủ yếu của người Thái, dễ côngnghiệp hóa nếu sản xuất lan đại trà trên quy mô lớn Nhưng do số lượng nhiều

và rất rẻ nên vỏ dừa miếng được trồng thành băng trên hệ thống giàn Nếudùng vỏ dừa miếng trồng chậu phải hạn chế tưới nước Tốt nhất là tạo điềukiện đảm bảo ẩm độ bên ngoài hơn là trong chậu Vỏ dừa miếng lại là môi

Trang 31

trường rất tốt cho đa số các loài lan thuộc giống Dendrobium Khuyết điểm là

dễ mọc rêu, không thoáng, dễ mục Đối với chất trồng này phải phun thuốcngừa sâu bệnh thường xuyên [19]

Dớn cọng: Đây là dạng sợi của thân và rễ cây dương xỉ (Cybotiumbaronletz) là một loại cây mọc nhiều ở các vùng thung lũng đồi núi Đà Lạt

Sở dĩ d ớn c ọng được chọn vì không bao giờ đóng rêu, rất lâu mục, ít bị nhiễm

vi sinh vật gây bệnh, tạo thông thoáng cho hệ rễ Nhược điểm là hút ẩm vàhấp thu phân bón kém

Dớn mền: Xuất thân từ rêu biển, được nhập khẩu từ nước ngoài và đangđược sử dụng khá phổ biến ở Việt Nam Dớn mềm có ưu điểm giữ ẩm rất tốt

và rất thích hợp cho hệ rễ lan phát triển Giá cao, dễ bị rong rêu, úng nướctrong mùa mưa [19]

Đất sét nung: Đây là loại giá thể nhân tạo được làm từ đất sét dạng viênlục giác hoặc viên đùn thỏi phù hợp theo kích thước của giá thể than củi hoặcdừa miếng Đất sét nung khá phù hợp cho nhiều loại lan

Vỏ cây thông: Có xuất xứ từ Đà lạt hoặc nhập ngoại Giữ nước và độ ẩm,khá thích hợp cho nhiều thứ lan cho nên nhiều người dùng Điều bất tiện làthứ này giữ chất muối có sẵn trong nước và trong phân bón, chỉ giữ đượcchừng 2/3 số Nitrogene trong phân bón và thông thường sẽ bị mục nát trongkhoảng 2-3 năm

Đá bọt: Đây là loại đá bọt bazan, cung cấp thêm các nguyên tố dinh dưỡngkhoáng cho lan [19]

Giá thể 3 loài lan nghiên cứu

- Hài mạng đỏ tía: Giá thể là hỗn hợp xơ dừa vụn, đất mùn, hay than gỗ vụn

- Bầu rượu: Giá thể là đất mùn, xơ dừa, than vụn hay vỏ thông

- Hoàng thảo thái bình: Giá thể như dớn, xơ dừa, than củi, hoặc cột vào câythân sống

Trang 32

 Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại cho các loài lan

- Trồng cần phải kiểm tra kỹ lưỡng nếu cây khoẻ mạnh không bị sâu bệnh thìmới tiến hành trồng chung với những cây khác

- Dọn vệ sinh vườn lan sạch sẽ, thông thoáng Trong giàn lan không nên đểnhững cây lạ, to lớn trong vườn lan vì dễ bị lây bệnh

- Không nên trồng nhiều tầng (Ví dụ: trên treo, dưới luống) vì nguồn bệnh câytrên (nếu có) sẽ lây xuống cây dưới thông qua việc tưới nước hay mưa

- Khi giá thể trồng đã hư mục thì tiến hành thay kịp thời, tránh động nước, ẩmthấp Thường xuyên sang chậu, kết hợp tách chiết lan

- Quan sát vườn lan thường xuyên để phát hiện những cây bị sâu bệnh kịpthời cách ly, xử lý

- Phun thuốc phòng trừ sâu bệnh định kỳ cho lan

 Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại cho các loài lan

 Chăm sóc lan

Lan là cây trồng dễ chăm sóc nếu chúng ta đảm bảo được các điều kiệnthuận lợi cho lan phát triển Các yếu tố quan trọng nhất đối với lan là ánhsáng, nước tưới, độ ẩm, chậu hay giá thể và dinh dưỡng

Chiếu sáng: Mật độ chiếu sáng ảnh hưởng rất lớn tới quá trình sinh

trưởng, phát triển và ra hoa của lan Thiếu nắng cây lan vươn cao nhưng nhỏ

và ốm yếu, lá màu xanh tối, dễ bị sâu bệnh tấn công, cây ít nảy chồi, khó rahoa, hoa nhỏ và ngắn màu sắc không tươi, hoa nhanh tàn Thừa nắng lan thấpcây, lá vàng có vết nhăn và khô, mép lá có xu hướng cụp vào, dễ ra hoa sớmkhi cây còn nhỏ nên hoa ngắn, nhỏ, cây kém phát triển Nếu nắng gắt quá lá

sẽ bị cháy, khô dần rồi chết

Lan có yêu cầu khác nhau về mức độ chiếu sáng tùy theo loài lan và tuổicây Lan Hồ điệp (Phalaenopsis) ít chịu nắng nhất, có thể chịu được 30%nắng, lan Cattleya chịu được 50% nắng, lan Dendrobium hay Vanda lá hẹp

Trang 33

chịu được 70% nắng, trong khi lan Vanda lá dài và Bò cạp chịu được tới100% nắng Lan con từ 0-12 tháng đang trong giai đoạn tăng trưởng thân láchỉ cần chiếu sáng 50%, lan nhỡ từ 12-18 tháng cần chiếu sáng tới 70% vàthời điểm kích thích ra hoa có thể cho chiếu sáng nhiều hơn, thậm chí bỏ dànche để chiếu sáng tự nhiên Hướng chiếu sáng cũng rất quan trọng đối với lan.Lan đặt ở hướng Đông nhận ánh nắng buổi sáng sẽ tốt hơn nhiều so với lanđặt ở hướng Tây nhận ánh nắng buổi chiều Chính vì vậy nếu trồng lan trênsân thượng hay ban công ở phía Tây lan kém phát triển và ít hoa Khi trồnglan cần bố trí hàng theo hướng Bắc – Nam để cây nhận được ánh sáng phân

bố đầy đủ nhất

Phân bón: Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng đối với lan Khi lan

đầy đủ dinh dưỡng cây tươi tốt, ra nhiều hoa, hoa to đẹp, bền trong khi thiếudinh dưỡng lan còi cọc, kém phát triển, không hoặc ít có hoa Lan cần 13 chấtdinh dưỡng khoáng, thuộc các nhóm đa, trung và vi lượng: Dinh dưỡng đalượng gồm Đạm (N), Lân (P) và Kali (K) Dinh dưỡng trung lượng gồm Lưuhuỳnh (S), Magiê (Mg) và Canxi (Ca) Dinh dưỡng vi lượng gồm Sắt (Fe),Kẽm (Zn), Đồng (Cu), Mangan (Mn), Bo (B), Molypđen (Mo) và Clo (Cl) Lan rất cần phân bón nhưng không chịu được nồng độ dinh dưỡng cao,

vì vậy bón phân cho lan phải thực hiện thường xuyên và tốt nhất là bằng cáchphun qua lá Phân bón cho lan phải chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa, trung

và vi lượng với thành phần và tỷ lệ phù hợp với từng thời kỳ sinh trưởng vàphát triển của cây Nguyên tắc chung là lan trong thời kỳ sinh trưởng thân lámạnh cần đạm cao, lân và kali thấp, trước khi ra hoa cần lân và kali cao, đạmthấp trong khi lan nở hoa cần kali cao, lân và đạm thấp hơn

Tưới nước: Lan rất cần nước cho quá trình sinh trưởng phát triển Nếu

thiếu nước cây sẽ khô héo, giả hành teo lại, lá rụng nhưng không chết, nụ cóthể trước khi nở hoa Thừa nước, cây dễ bị thối đọt nhất là với các giống lan

Trang 34

có lá đứng mọc sít nhau Quá nhiều nước rễ có rong rêu và nấm bệnh pháttriển mạnh Nước tưới cho lan không quá mặn, phèn và clor dưới ngưỡng chophép, pH 5,6 Chỉ tưới nước đủ ẩm, nên tưới vào sáng sớm hay chiều mát,tránh tưới buổi trưa khi trời đang nắng nóng Sau những trận mưa bất thường,nhất là mưa đầu mùa cần tưới lại ngay để rửa bớt các chất cặn đọng lại trênthân lá.

 Phòng trừ sâu bệnh hại cho các loài lan

Phòng ngừa

Khi mua lan về trồng cần phải kiểm tra kỹ lưỡng nếu cây khoẻ mạnhkhông bị sâu bệnh thì mới tiến hành trồng chung với những cây khác

Dọn vệ sinh vườn lan sạch sẽ, thông thoáng Trong giàn lan không nên

để những cây lạ, to lớn (Ví dụ: xoài, chôm chôm…) trong vườn lan vì dễ bịlây bệnh

Không nên trồng nhiều tầng (Ví dụ: trên treo, dưới luống) vì nguồn bệnhcây trên (nếu có) sẽ lây xuống cây dưới thông qua việc tưới nước hay mưa.Khi giá thể trồng đã hư mục thì tiến hành thay kịp thời, tránh đọng nước,

ẩm thấp Thường xuyên sang chậu, kết hợp tách chiết lan

Quan sát vườn lan thường xuyên để phát hiện những cây bị sâu bệnh kịpthời cách ly, xử lý

Phun thuốc phòng trừ sâu bệnh định kỳ cho lan

Bệnh hại trên lan

Bệnh đốm lá: Do nấm Cercospora sp gây nên Bệnh thường phát sinh

mạnh trên cây lan Dendrobium sp, gây hại trong mùa mưa ở những vườn lan

có độ ẩm cao Phun thuốc trừ nấm Carbenzim + Dipamate: hỗn hợp thuốchiệu quả cao hay Cadilac.[20]

Trang 35

Bệnh thán thư: Do nấm Colletotricum sp gây ra Bệnh phát triển mạnh

vào mùa mưa nên phải phòng trừ trước Thường cắt bỏ lá vàng rồi phun thuốcdiệt nấm 5 - 7 ngày/phun 1 lần: Thio-M, Cabenzim, Bendazol

Bệnh thối mềm vi khuẩn: Do vi khuẩn Pseudomonas gladioli gây ra Vếtbệnh có hình dạng bất định, úng nước, màu trắng đục, thường lan rộng theochiều rộng của lá Gặp thời tiết ẩm ướt mô bệnh bị thối úng, thời tiết khô hanh

mô bệnh khô tóp có màu trắng xám [20]

Bệnh đốm vòng: Do nấm Alternaria rasae gây ra.

Triệu chứng: Vết bệnh hình tròn hoặc hình bầu dục, trên vết bệnh có cácvòng đồng tâm khá rõ Khi gặp thời tiết ẩm ướt, ấm áp, trên vết bệnh thườnghình thành một lớp nấm mốc màu đen gồm cành và bào tử phân sinh của nấmgây bệnh Bệnh thường gây hại trên các lá già, lá bánh tẻ làm lá vàng dễ khôrụng

Phòng trừ: Sử dụng Daconil 500 SC, Carbenzim + Dipomate, Cadilac

Sâu hại lan

Rệp vảy: Rệp thường bám trên các thân giả hành còn non Phòng trịbằng cách: Dùng bàn chải chà xát rồi nhúng cây lan vào dung dịch thuốcMalathion 50 pha loãng, Sagosuper 20EC [20]

Bọ trĩ: Gây hại chủ yếu trong mùa nắng Dùng Malathion 5 mg/bình 4 lítnước, phun 1 tuần/lần, phun liên tiếp liên tục trong 3 tuần, Dragon (5cc) +SK99 (20cc)/bình 8 lít [20]

Một số sâu bệnh xuất hiện của 3 loài lan :

* Hài mạng đỏ tía:

Lan hài hay gặp một số bệnh như nhện đỏ và rệp bột, khi lan hài bịnhiễm 1 trong số các bệnh này thì dùng thuốc chống côn trùng loạiDimethoate để xử lý mỗi tháng 1-2 lần

Phòng ngừa việc thối gốc, thối rễ bằng thuốc trừ nấm như Orthocide,Benomyl tháng/lần

Ngày đăng: 13/03/2019, 10:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bùi Xuân Đáng trong "Calanthe R. Brown 1821” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Calanthe R. Brown 1821
5. Nguyễn Văn Chương (1991), “Cỏ biếc”, nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cỏ biếc”
Tác giả: Nguyễn Văn Chương
Nhà XB: nxb Hội Nhà văn
Năm: 1991
7. Nguyễn Tiến Bân (1997), “Cẩm nang tra cứu và nhạn biet các họ thực vạt hạt kín (magnoliophyta, angiospermae) ở Viẹt Nam”, nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cẩm nang tra cứu và nhạn biet các họ thực vạt hạt kín (magnoliophyta, angiospermae) ở Viẹt Nam”
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
8. Phạm Hoàng Hộ (1992), “Cây cỏ Việt Nam tập 1 quyển 2”, nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cây cỏ Việt Nam tập 1 quyển 2”
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Nhà XB: nxb Trẻ
Năm: 1992
9. Phạm Hoàng Hộ (1993), “Cây cỏ Việt Nam tập 1 quyển 3”, nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cây cỏ Việt Nam tập 1 quyển 3”
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Nhà XB: nxb Trẻ
Năm: 1993
10. Phan Thục Huân (2005),“Hoa lan nuôi trồng kinh doanh”, nxb Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoa lan nuôi trồng kinh doanh”
Tác giả: Phan Thục Huân
Nhà XB: nxbPhương Đông
Năm: 2005
11. Trần Hợp (1998), “Phong lan Việt nam 3”, nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phong lan Việt nam 3”
Tác giả: Trần Hợp
Nhà XB: nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
12. Thái Văn Trừng (1978), “Thảm thực vật rừng Việt Nam”, nxb Khoa học và kỹ thuật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thảm thực vật rừng Việt Nam”
Tác giả: Thái Văn Trừng
Nhà XB: nxb Khoa họcvà kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1978
1. Averyanov và cs, 2008 - Học viên Nông Nghiệp Việt Nam- Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp trang 11 Khác
3. Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2008 - Học viên Nông Nghiệp Việt Nam- Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp trang 6 Khác
4. Sách đỏ Việt Nam (thực vật phần II) (2007), NXB Khoa học tự nhiên trang 466 Khác
6. Nguyễn Thị Yến (2015). Nghiên cứu tính đa dạng thực vật trong các hệ sinh thái rừng ở vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w