Có thể nói thư viện điện tử là một hệ thống thông tin tự động hóa mà ở đó người ta có thể thu thập, xử lý, lưu trữ, tìm kiếm và phổ biến cáctài liệu dưới dạng số hóa thông qua các phương
Trang 1BÁO CÁO SINH HOẠT CHUYÊN ĐỀ
THƯ VIỆN
CHUYÊN ĐỀ
NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI TRONG TỔ CHỨC
HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
********
BÁO CÁO SINH HOẠT CHUYÊN ĐỀ
THƯ VIỆN
CHUYÊN ĐỀ NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI TRONG TỔ CHỨC
HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – Tháng 12/2018
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trường Ðại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh có quátrình hình thành và phát triển lâu dài, trong 57 năm qua (05/10/1962 -05/10/2018) Trường Ðại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
là cơ sở đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy nghề, giáo viên dạy
kỹ thuật; Trường còn là nơi đào tạo kỹ sư công nghệ cung cấp nguồnnhân lực trực tiếp cho khu vực phía Nam
Nhu cầu về số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghềđang là một nhu cầu hết sức bức thiết Cùng với những cải cách trongcông tác quản lý nhà nước về dạy nghề, việc củng cố các trường đào tạogiáo viên kỹ thuật và dạy nghề đang là mối quan tâm lớn của Ðảng vàNhà nước hiện nay
Ðể làm tốt những chức năng nhiệm vụ được giao; cán bộ, viênchức và sinh viên của Trường Ðại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ ChíMinh đang đem hết khả năng và nhiệt tình của mình để giữ vững vị tríđầu ngành trong hệ thống sư phạm kỹ thuật và phấn đấu trở thành trườngđại học trọng điểm trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, ngang tầmvới các trường đại học uy tín trong khu vực Đông Nam Á
Thực hiện mục tiêu chất lượng và kế hoạch thực hiện mục tiêu chất
lượng năm học 2018 - 2019 cùng với chủ đề năm học: “Sáng tạo thông
qua học theo dự án - Innovation through Project – Based Learning”
Nhằm nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ thư viện bằngviệc triển khai tổ chức sinh chuyên đề trở thành hoạt động thường xuyênnhằm chia sẻ, học tập, giúp đỡ nhau giữa cán bộ thư viện để phát huy khảnăng sáng tạo, đóng góp sáng kiến kinh nghiệm nâng cao chất lượngphục vụ, đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục đại học của nhàtrường
Thư viện ĐH SPKT TP.HCM
028.38969920
thuv i e nspkt@h c mu t e e d u vn
thuvien.hcmute.edu.vnfacebook.com/hcmute.lib
Trang 44 4
.
Trang 5MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
Phần I: NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN 5
1 Xây dựng và phát triển thư viện điện tử/thư viện số 5
1.1 Khái niệm về thư viện điện tử/ thư viện số 5
1.2 Các thành phần cơ bản của thư viện điện tử 6
2 Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động thư viện 8
2.1 Ứng dụng phần mềm quan trị cơ sở dữ liệu tư liệu (xây dựng bộ máy tra cứu trên máy tính ở chế độ clone) 9
2.2 Ứng dụng phần mềm quản trị bộ sưu tập số (phần mềm thư viện số) 9
2.3 Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện điện tử tích hợp (ILS = Intedrated Library System)
9 3 Xây dựng nguồn lực thông tin mở 12
4 Tăng cường tổ chức mượn liên thư viện 14
5 Chuẩn hóa hoạt động thư viện 19
Phần II: GIỚI THIỆU CÁC DỊCH VỤ THƯ VIỆN HCMUTE 22
Phần III: XÂY DỰNG THƯ VIỆN SÁCH ĐIỆN TỬ LIÊN KẾT PHÁT HÀNH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 25
Phần IV: SỬ DỤNG VÀ KHAI THÁC HIỆU QUẢ CÁC CƠ SỞ DỮ LIỆU TRỰC TUYẾN TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 4.0 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 66 6
Phần I
NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN
1 Xây dựng và phát triển thư viện điện tử/thư viện số
1.1 Khái niệm về thư viện điện tử/ thư viện số
Các thư viện truyền thống từ lâu đã là một phần của xã hội, nómang thông tin và tri thức đến mội người Tuy nhiên ngày nay khi cácmáy tính cá nhân và mạng Internet đã đã làm thay đổi cách thức giao lưucủa con người, khi mà từ máy tính cá nhân người ta có thể với tới cácthông tin lưu trữ ở khắp nơi trên thế giới, thì người ta thấy rằng có thểxây dựng những thư viện có khả năng cung cấp thông tin tốt hơn so vớicác thư viện truyền thống Đó là lý do cơ bản của sự ra đời một loại hìnhthư viện mới: thư viện điện tử (Electronic Library), còn gọi là thư viện số(Digital Library)
Vậy thư viện điện tử là gì?
Thư viện điện tử có thể coi là một kho thông tin số hóa, được cấutrúc sao cho dễ dàng truy cập thông qua các mạng máy tính hay các mạngviễn thông quốc tế
Có thể nói thư viện điện tử là một hệ thống thông tin tự động hóa
mà ở đó người ta có thể thu thập, xử lý, lưu trữ, tìm kiếm và phổ biến cáctài liệu dưới dạng số hóa thông qua các phương tiện của công nghệ thôngtin và truyềnthông
Lợi ích của thư viện điện tử là:
- Với một máy tính cá nhân kết nối mạng, người sử dụng có thểtruy cập thông tin từ xa Người sử dụng không cần đến thư viện vẫn tìm
Trang 7được thông tin Người ta nói: “Thư viện điện tử mang thông tin đến đến
tận bàn làm việc của bạn”.
- Với thư viện điện tử, sức mạnh của máy tính được dùng để tìmkiếm thông tin Trong hầu hết các trường hợp, tìm tin bằng máy tính baogiờ cũng nhanh hơn, tiện lợi hơn phương pháp thủ công, và đặc biệt cóthể chuyển dễ dàng từ nguồn thông tin này sang nguồn thông tin khác
- Với thư viện điện tử, thông tin luôn sẵn sàng, bởi vì cửa thư việnđiện từ không bao giờ đóng
- Với thư viện điện tử các nguồn thông tin có thể chia sẻ, người sửdụng không chỉ truy cập, sao chép các nguồn thông tin nội tại của thưviện mà có thể với tới nhiều nguồn thông tin từ bên ngoài nhờ các dịch
vụ thông tin liên kết
- Thông tin trong thư viện điện tử dễ bổ sung, cập nhật nên thưviện điện tử luôn bảo đảm có những thông tin mới nhất
- Với thư viện điện tử, các dạng thông tin mới như thông tin điện
tử, thông tin đa phương tiện trở thành hữu dụng, vì thư viện điện tử cókhả năng tích hợp thông tin số hóa
1.2 Các thành phần cơ bản của thư viện điện tử
Thư viện điện tử được xây dựng trên nền tảng của một thư việntruyền thống nên nó phải tuân thủ những tiêu chuẩn nghiệp vụ căn bảncủa thư viện, tuy nhiên có sự điều chỉnh một số giá trị cũ sao cho phùhợp việc ứng dụng công nghệ mới
Hạt nhân của thư viện điện tử là nguồn tài liệu số hóa Trong đó cómột bộ phận là tài liệu hiện hữu của thư viện được số hóa (có chọn lọc),nhưng chủ yếu là các bộ sưu tập tài liệu số mới được xây dựng hoặc sưutầm
Trang 88 8
Thư viện điện tử hoạt động trên nền giao diện Web của môi trườngmạng Internet, nên nguồn tài liệu của thư viện điện tử thường được trình
Trang 9bày định dạng bằng ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản HTML Ở đó các tàiliệu được thiết kế đặc biệt để có thể kết nối với các tập tin khác thông quacác điểm kết nối siêu văn bản (hypertext Iink points) Nền tảng côngnghệ của thư viện điện tử chính là Internet và World Wide Web.
Thư viện điện tử được quản lý bởi một phần mềm tích hợp quản trịthư viện Phần mềm này bao gồm nhiều phân hệ chức năng và tuân thủcác chuẩn quốc tế về nghiệp vụ thư viện cũng như các chuẩn về côngnghệ thông tin và truyền thông, hiện đại, như: khổ mẫu biên mục đọcmáy MARC, khổ mẫu trao đổi dữ liệu thư mục ISO.2709, giao thức tìmkiếm liên thư viện Z.39.50, giao thức truyền thông Internet TCP/IP, làmviệc trên môi trường Web và hỗ trợ chuẩn định dạng HTML, XML.Nhìn chung, từ khi xuất hiện hình thức dịch vụ thông tin - thư viện
áp dụng thành tựu của công nghệ thông tin và truyền thông, đã xuất hiệnnhiều khái niệm với nội hàm khác nhau, chủ yếu là về qui mô áp dụng vềcác thuật ngữ để chỉ về các loại hình thư viện hiện đại Tuy nhiên, theophương diện tổng quát nhất, chúng ta dễ nhận thấy có các mức độ ứngdụng công nghệ thông tin và truyền thông khác nhau, mà cụ thể có 2 mức
hệ quản trị thư viện tích hợp (ILS=Integrated Libraiy System), thôngthường được thiết kế theo kiến trúc modules, mỗi module thực hiện mộtchức năng sau đó tổng hợp lại thành hệ thống
Trang 10Tại Việt Nam, các hình thức dịch vụ thư viện hiện đại cũng đãđược quan tâm đặc biệt và có những biện pháp để thúc đẩy phát triển -đặc biệt, khu vực các trung tâm thông tin - thư viện thuộc trường Đạihọc, Cao đẳng, Viện nghiên cứu Việc phát triển ứng dụng công nghệthông tin và truyền thông đem lại nhiều giá trị hữu ích cho cộng đồng,tuy nhiên, cũng gặp không ít những khó khăn nhất định, đặc biệt là giaiđoạn đầu khi mọi vấn đề còn nhiều bỡ ngỡ như: yêu cầu về công nghệ,yêu cầu về kỹ thuật, cán bộ người sử dụng, thói quen sử dụng, kinh phícho việc hiện đại hóa hoạt động thư viện, Quá trình hiện đại hóa thưviện - ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào hoạt độngthông tin - thư viện cũng được thực hiện ở từng mức độ khác nhau phụthuộcvào nhiều yếu tố, trong đó chúng ta có thể tổng hợp thành, 3 mức
độ chủ yếu như sau:
Trang 112.1 Ứng dụng phần mềm quản trị cơ sở dữ liệu tư liệu (xây đựng bộ máy tra cứu trên máy tính ở chế độ clone)
Đây là mức độ ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động xâydựng bộ máy tra cứu trong thư viện, chế độ làm việc trực tiếp trên máylưu trữ cơ sở dữ liệu mà không hoạt động theo phương thức mạng Điểnhình như phần mềm CĐS/ISIS của UNESCO Đối với việc ứng dụng ởmức độ này chỉ cung cấp cho các thư viện quản trị cơ sở dữ liệu thư mục(thông tin bậc 2) và cung cấp các phương thức tìm kiếm thông tin và kếtxuất thông tin linh hoạt theo yêu cầu của viên chức thư viện và ngườidùng tin (in phiếu thư mục, in mục lục, tìm kiếm theo toán tử, theo biêuthức tìm, )
2.2 Ứng dụng phần mềm quản trị bộ sưu tập số (phần mềm thư viện số)
Là một trong những ứng dựng công nghệ thông tin và truyền thôngđem lại giá trị và thuận tiện cho người dùng tin nhiều nhất Đối với dịch
vụ của thư viện số (thực chất là quản trị các cơ sở dữ liệu toàn văn fulltext database) sẽ cung cấp cho người dùng tin tra cứu và sử dụng cáctài liệu của các trung tâm thông tin - thư viện ở bất kỳ nơi nào, bất kỳthời điểm nào thông qua máy tính có kết nối Internet
2.3 Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện điện tử tích hợp (ILS Integrated Library System)
-Là một hệ thống phần mềm tích hợp với nhiều modules mà mỗimodule có thể coi là một “phần mềm” nằm trong hệ thống phần mềm ILSnhằm thực hiện trọn vẹn một qui trình nào đó trong chu trình thông tin -thư viện, ví dụ: qui trình bổ sung, qui trình biên mục, qui trình ấn phẩmđịnh kỳ, Hiện nay, thế giới còn xuất hiện một xu hướng mới có tên viếttắt tiếng Anh là TLS (Total Libraiy Solution)
Trang 12Thời gian qua, các trung tâm thông tin - thư viện trong cả nước đãtrải nghiệm hơn 10 năm tìm hiểu mô hình áp dụng và triển khai; các hộinghề nghiệp, liên chi hội cũng đã hình thành và hoạt động tích cực vớivai trò là cầu nối để tìm đến tiếng nói chung, mọi sự thống nhất trong quátrình tìm ra giải pháp tiêu biểu, hiệu quả Đến nay, một số lượng khôngnhỏ các thư viện và trung tâm thông tin đã đi theo hướng phát triển cácdịch vụ thư viện hiện đại trên nền tảng mã nguồn mở miễn phí Với giảipháp này, khắc phục được vấn đề kinh phí cho hiện đại hóa, tuy nhiênđòi hỏi một đội ngũ cán bộ ngoài việc nắm chắc qui trình, nghiệp vụchuyên môn còn cần phải có kỹ năng nhất định về công nghệ thông tin,đặc biệt công nghệ web Mặc dù vậy, song với thời gian qua đã thấy rằngcon đường lựa chọn mã nguồn mở để phát triển đối với các thư viện mànguồn kinh phí còn hạn hẹp là đường đi ngắn nhất và cũng là con đườngduy nhất có thể thực hiện được mục tiêu phát triển các dịch vụ thư việnhiện đại thành công Trong quá trình phát triển phần mềm mã nguồn mởcũng đã dần hình thành nhiều tên tuổi khác nhau cùng thực hiện chứcnăng của thư viện hiện đại Vì vậy, để lựa chọn phần mềm nào cho phùhợp, chúng ta cần thực nghiệm trước khi đưa vào sử dụng chính thức.Mặc dù vậy, ban đầu cũng cần đưa ra một số các tiêu chí để tiến hànhthực nghiệm như: Phần mềm phải đảm bảo các tiêu chuẩn về công nghệ,phải đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn của quốc gia và quốc tế về chuyênngành,…
Trang 13Một trong số những dịch vụ được người dùng ở mọi lĩnh vực, mọitrình độ đều quan tâm và có xu hướng sử dụng ngày càng nhiều, đó làdịch vụ của thư viện số (digital library) - thực chất đó là dịch vụ sử dụngcác tài nguyên thông tin điện tử (tài liệu điện tử) qua mạng Internet Đây
là dịch vụ hỗ trợ bạn đọc sử dụng được nguồn lực thông tin - thư viện ởmọi lúc, mọi nơi Trong thực tiễn hoạt động thông tin - thư viện, có 2dịch vụ thư viện hiện đại rõ nét nhất đối với bạn đọc, đó là dịch vụ tracứu OPAC và dịch vụ tra cứu toàn văn (thư viện số) Trong đó, quản trịtài liệu số (tài liệu điện tử) về qui trình cũng tương tự như quản trị tài liệutruyền thống, tuy nhiên, đòi hỏi quá trình quản trị phức tạp hơn về yêucầu kỹ thuật, cụ thể: quản trị đồng thời song hành 3 thành phần chủ yếu:
1 Quản trị siêu dữ liệu (thông tin bậc 2): Các thông tin bậc 2 đượclưu trữ trên hệ thống nhằm thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau, quản lý
“hành chính”, “kỹ thuật”, về đối tượng số và đặc biệt thực hiện chứcnăng định vị và tìm kỉếm đối tượng số Hầu hết siêu dữ liệu được quản trịthông qua một hệ quản trị cơ sở dữ liệu nhất định (như MySQL,Postgresql, Oracle, )
2 Quản trị đối tượng số: Các siẽu dữ liệu có nhiệm vụ trỏ đến cácđối tượng số (bản thân tài liệu số), các tài liệu số được lưu trữ trong mộtkhu vực độc lập tương đối với siêu dữ liệu
3 Quản trị đối tượng người dùng (bạn đọc trong môi trưòng thưviện số): Việc quản trị đối tượng bạn đọc trong thư viện số tương đốikhác biệt với quản trị trong thư viện truyền thống Vì vậy, cấu trúc phânquyền và quản trị đối tượng bạn đọc là một trong những tiêu chí quantrọng để đánh giá một phần mềm thư viện số Những yêu cầu đặt ra như:phân quyền như thế nào, mức độ phân quyền ra sao (từng tài khoản,nhóm, phân quyền đối với từng biểu ghi tài liệu số, phân quyền đến từngtập tin (đối tượng số), )
Trang 1412 1
3 Xây dựng nguồn lực thông tin mở
“Hiện đại hóa”, “tự động hóa” là các thuật ngữ mà người ta haynhắc tới khi nói đến các cơ quan thông tin - thư viện trong một xã hộithông tin Một cơ quan thông tin - thư viện được xem là hiện đại nhấtthiết phải được tổ chức theo kiểu “mở” Hệ thống mở là hệ thống chophép người dùng tin sử dụng các tài nguyên trong cơ quan thông tin - thưviện một cách chủ động, rộng rãi thông qua các hình thức phục vụ phongphú Nói cách khác, đó là hệ thống hướng ngoại, lấy hiệu quả phục vụlàm thước đo cho các hoạt động của mình Tham gia hệ thống các cơquan thông tin - thư viện quốc gia nói chung là một trong những tiêu chí
để đánh giá tính “mở’ (hay mức độ hiện đại hóa) của một cơ quan thôngtin - thư viện Rõ ràng trong điều kiện hiện nay, các cơ quan thông tin -thư viện không thể không tính đến điều này
Xây dựng thư viện điện tử/thư viện số là một quá trình hiện đại hóathư viện bao gồm nhiều công đoạn có mối liên quan tới nhau, trong đósau khi cài đặt và vận hành hệ thống thư viện điện tử/thư viện số là quátrình thu thập, biên tập, xử lý và cập nhật thường xuyên dữ liệu điện tử(nguồn lực thông tin) Trong quá trình xây dựng nguồn lực thông tin củathư viện điện tử/ thư viện số có nhiều phương pháp để thực hiện, tuynhiên có thể tổng hợp lại gồm 4 phương pháp chủ yếu sau:
- Thu thập từ nguồn ngoài (out sourcing)
- Liên kết đến nguồn ngoài (link)
- Nắm bẳt nguồn tin (discoveiy)
- Số hóa tài liệu (digitalization)
Thực tiễn có rất nhiều yếu tố chi phối đến quá trình xây dựngnguồn lực thông tin điện tử, trong đó, vấn đề bản quyền là một trongnhững nội dung cần đặc biệt chú ý Đối với các quốc gia đang phát triểnnhư Việt Nam và thậm chí một số quốc gia phát triền khác trên thế giới,
Trang 15nguồn lực thông tin mở (open resources) đang được quan tâm Việc xâydựng nguồn lực thông tin mở là một giải pháp tối ưu trong giai đoạn hiệnnay đối với quá trình xây dựng và phát triển các dịch vụ thư viện điện tử/thư viện số Quá trình xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin mởđảm bảo tính pháp lý về quyền bản quyền cũng được cung cấp bởi cáccông cụ đăng ký và kiểm soát về quyền bản quyền trên nền tảng của côngnghệ thông tin và truyền thông (trang https://creativecommons.orgi.Nguồn lực thông tin mở đã mở ra một “thế giới phẳng” cho hoạt độngthông tin - tư liệu nói chung và thông tin - thư viện nói riêng trong việc
kế thừa các kết quả khoa học và sáng tạo, tác phẩm, trên toàn thế giới.Đối với các cơ quan thông tin - thư viện có nhiệm vụ mới đó là khi xâydựng thư viện điện tử/thư viện số, cần tính đến việc hòa nhập vào nguồnlực thông tin chung (không chỉ phạm vi quốc gia mà còn phạm vi quốctế), đảm bảo tính liên kết chia sẻ trong nguồn lực thông tin toàn cầu Đểđảm bảo được yêu cầu đó, cần tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩnnghiệp vụ quốc gia và quốc tế và tuân thủ các tiêu chuẩn công nghệ.Trong quá trình phát triển một số tổ chức đã tổ họp xây dựng và
https://voer.edu.vn,
Đối với trung tâm thông tin - thư viện từng đơn vị, cơ quan tổ chứctại Việt Nam trong giai đoạn vừa qua đã tiến hành xây dựng nguồn lựcthông tin điện tử phục vụ người dùng tin của mình cũng đã dựa trên nềntảng nguồn lực thông tin mở tương đối phổ biến, hoặc thông qua phươngthức tương tác qua một đơn vị trung gian như : tailieu.vn Ngoài ra, một
số trung tâm thông tin - thư viện còn triển khai xây dựng dựa trên nguồntài liệu nội sinh của cơ quan, đơn vị mình (khóa luận tốt nghiệp, đề tài,luận văn, luận án,…) Việc sử dụng nguồn lực thông tin nội sinh này theo
Trang 1614 14
phương thức mở hay theo phương thức khác cần chú trọng đến cơ chếcủa từng cơ quan đơn vị để đảm bảo phù hợp về quyền tác giả
4 Tăng cường tổ chức mượn liên thư viện
Mượn liên thư viện (MLTV) là một dịch vụ cho mượn sách, tài liệugiữa các thư viện nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu tài liệu của độc giả.Nhu cầu, chia sẻ nguồn lực đã được các cơ quan thông tin thư việnđặt ra từ khá lâu Tuy nhiên mức độ triển khai lại liên quan đến đặc thùđiều kiện ở mỗi nước Bên cạnh việc tham gia vào hệ thống cho mượnliên thư viện (inter-libraiy loan), các cơ quan thông tin - thư viện cũngcần suy nghĩ một cách nghiêm túc về việc chia sẻ nguồn lực trong nhiềulĩnh vực khác như: hợp tác bổ sung, hợp tác biên mục, hợp tác phânloạỉ…
Hình thức chia sẻ phổ biến nhất (và cũng có từ sớm nhất) là việcphối hợp nguồn dữ liệu thư mục giữa các cơ quan thông tin - thư viện.Mỗi cơ quan thông tin - thư viện đều có một số lượng biểu ghi nhất định
về một lĩnh vực nàọ đổ, sự hợp nhất giữa chúng sẽ tạo nên một ngânhàng dữ liệu cực kỳ phong phú và đa dạng Người dừng tin sẽ có nhiều
cạ hội hơn trong việc lựa chọn tài liệu Công nghệ thông tin ngày nayhoàn toàn có khả năng tạo ra được mối trao đổi thường xuyên giữa các cơquan thông tin - thư viện
Bên cạnh việc chia sẻ nguồn dữ liệu thư mục, các cơ quan thông tin
- thư viện đại học cũng cần tính đến việc chia sẻ các nguồn tài nguyênvật lý như: kho sách, các cơ sở dữ liệu toàn văn trên CD- ROM, cácphương tiện phục vụ phồ biến thông tin (phòng đọc, hệ thông tracứa ) , cũng có nghĩa là các nguồn tài liệu quý được sử dụng một cáchtối đa và phát huy hết được hiệu quả
Có thể hiện nay, trong điều kiện Việt Nam, hình thức này chưađược các cơ quạn thông; tin - thư viện đưa vào thực thi ở diện rộng Tuy
Trang 17nhiên đó lại là vấn đề không còn mới trong hệ thống thông tin - thư viện
ở một số nước phát triển Đây là điêu mà chúng ta cần nghiên cứu mộtcách nghiêm túc, bởi lẽ chúng ta có nhiều điều kiện thuận lợi để thựchiện điều này
Tất nhiên, để đạt được đỉều này, các cơ quan thông tin - thư việncần có sự phối kết hợp hết sức chặt chẽ, cũng như cần có những cam kếtmang tính pháp lý cao
Mặt trong những hình thức kết hợp không thể thiếu được khi thamgia xây dụng hệ thống liên thư viện là việc xây dựng một Website chungcho toàn hệ thống Có thể xem đây như một cổng (gateway) trao đồithông tin giữa hệ thống các cơ quan thông tin - thư viện với các đối tác(người dùng tin, nhà cung cấp thông tin, các hệ thống cơ quan thông tin -thư viện khác, các viện nghiên cứu khoa học, các tổ chức có mối quan hệthường xuyên…) Website này cần đảm bảo các hoạt động sau:
- Trở thành điểm truy cập thông tin khoa học có uy tín và chấtlượng
- Trở thanh cổng giao tiếp vói các hệ thống khác (OPAC, OCLC…
- Diễn đàn ừao đổi chuyên môn, nghiệp vụ thông tin - thư viện giữacác cơ quan thông tin - thư viện;
- Diễn đần trao đổi chuyên môn của người dùng tin (các cuộc hộithảo từ xa, thư điện tứ )
- Dịch vụ tư vấn người đùng tin
- Các dịch vụ phồ biến tin khác
* Quy mô liên kết
Đây là vấn đề cần được tính toán kỹ lưỡng, nhất là phải gắn chặtvới điều kiện Việt Nam Có 4 mô hình cơ bản như sau:
- Liên kết theo khu vực địa lý
- Liên kết theo từng nhóm trường theo chuyên môn
Trang 1816 16
- Liên kết theo cấp độ tổ chức (cấp quốc gia, cấp cơ sở )
- Liên kết theo chủ đề các nguồn tin
Mỗi hình thức liên kết trên đều có những mặt tích cực và hạn chếnhất định Tuy nhiên chúng ta có thể vận dụng mỗi hình thức này ở mỗigiai đoạn nhất định, nham từng bước xây dựng một hệ thống thống nhấtcác cơ quan thông tin - thư viện
* Các yếu tố đảm bảo việc chia sẻ nguồn lực thông tin
Trước hết, để đảm bảo việc chia sẻ, các cơ quan thông tin - thư việncần phải đảm bảo thống nhất về mặt chuyên môn, nghiệp vụ Đây là cơ
sở có tính chất nền tảng Dù cơ sở vật chất được trang bị đầy đủ nhưngkhông có tiếng nói chung về mặt chuyên môn (như: quy trình bổ sung,biên mục, các chuẩn kỹ thuật, chuẩn cấu trúc dữ liệu ) thì các cơ quanthông tin - thư viện khó mà cùng nhau thiết lập một hệ thống thống nhất.Đây cũng chính là vấn đề khá phức tạp hiện nay và là trở lực đáng kểtrong tiến trình kết hợp các cơ quan thông tin - thư viện Bởi lẽ từ lâuchúng ta đã không có một sự chỉ đạo tập trung và thống nhất về mặtchuyên môn Thực tế cho thấy, hầu hết các Gơ quan thông tin - thư việnđều tự đặt ra một chuẩn riêng trong các công đoạn nghiệp vụ cho đơn vịmình (không thống nhất về cấu trúc cơ sở dữ liệu, về hệ thống phân loại,
mô tả ) Quá trình thống nhất các chuẩn này chắc chắn sẽ chiếm mộtlượng thời gian đáng kể Tuy nhiên, đây lại là công việc hết sức quantrọng và cần thiết (không chỉ đối với sự liên kết trong nước và còn phảitính đến cả việc đối ngoại)
Vấn đề thứ hai là vấn đề cơ sở vật chất Cơ sở vật chất ở đây chínhlà: thiết bị, kho tầng, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, không gian phụcvụ
Bên cạnh đó, để đảm bảo hệ thống vận hành được một cách hiệuquả thì vấn đề đào tạo nguồn nhân lực tham gia vào hệ thống cũng cần
Trang 19được quan tâm một cách đúng mức Cán bộ thông tin - thư viện phải lànhững chuyên gia trong lĩnh vực quản lý thông tin - tư liệu, quản lý trithức với các kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng và trình độ tinhọc, ngoại ngữ đủ để đảm đương công việc, cần phải khẳng định mộtđiều: tính hiệu quả của hệ thống phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ cán bộtham gia vận hành nó.
Hơn thế nữa, việc giao kết về vấn đề chia sẻ nguồn lực giữa cácthành viên tham gia cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng
hệ thống liên thư viện Cần phải có những văn bản (trên cơ sở nhất trígiữa các đơn vị) quy định rõ ràng về trách nhiệm, về khả năng và mức độtham gia hợp tác giữa các thành viên, về việc sử dụng chuyên gia, nguồnlực và thời gian…
Tiếp theo là vấn đề hỗ trợ bên trong mỗi cơ quan thông tin - thưviện hoặc mỗi nhóm liên kết Nói cách khác, đây là vấn đề bảo trì hệthống Các cơ quan thông tin - thư viện cần phải thành lập một banchuyên môn với trách nhiệm hỗ trợ về mặt chuyên môn, nghiệp vụ chocác thành viên (cũng là để đảm bảo tính thống nhất về chuyên mônnghiệp vụ cho toàn bộ hệ thống) Ban chuyên môn này cũng có tráchnhiệm xây dựng và phát triển các dịch vụ nhằm khai thác hiệu quả cácnguồn lực của hệ thống
Cuối cùng, không thể không tính đến sự cam kết từ phía các cơquan chủ quản của mỗi đơn vị Sự thống nhất giữa các cơ quan chủ quản
sẽ tạo ra một hành lang pháp lý cũng như chuyên môn vững chắc để các
cơ quan thông tin - thư viện có thể phát huy được hết tiềm lực của mình.Những vấn đề trên là những yếu tố cơ bản đảm bảo cho việc thiếtlập cũng như vận hành của một liên kết các cơ quan thông tin - thư viện,vừa có thể xem như một thực trạng đáng để những người lắm công tácthông tin - thư viện nghiên cứu và tìm ra phương án giải quyết
Trang 2018 18
Ví dụ: Mượn liên thư viện tại Thư viện Trung tâm ĐHQG-HCM
DỊCH VỤ MƯỢN LIÊN THƯ VIỆN
Độc giả là cán bộ, giảng viên, sinh viên của ĐHQG-HCM có thểđặt mượn tài liệu của bất kỳ thư viện nào trong Hệ thống Thư việnĐHQG-HCM
Cách sử dụng dịch vụ
• Tra cứu tài liệu trên “Mục lục hệ thống thư viện” hoặc các mụclục của các thư viện thuộc ĐHQG-HCM
• Đến thư viện, nơi bạn được cấp thẻ để đặt mượn tài liệu: Điền vào
“Phiếu mượn tài liệu liên thư viện”
• Nhận và trả tài liệu mượn tại nơi đặt mượn
lầ Số ng
1
• Cách gia hạn tài liệu qua email hoặc trực tiếp qua điện thoại
• Thời gian chậm nhất đáp ứng yêu cầu mượn: 3 ngày kể từ ngàyđặt mượn
Mức phí
• Phí dịch vụ: Miễn phí cho các đối tượng thuộc ĐHQG-HCM
• Trong trường hợp người mượn trả sách trễ hạn, làm mất hoặc gây
hư hỏng tài liệu, mức phí bồi thường được quỹ định như sau:
o Quá hạn: 2.000đ/cuốn/ngày
o Mất tài liệu: bồi thường theo giá bìa của sách cộng tiền xử lý kỹthuật 100.000đ/cuốn
Trang 21o Tài liệu bị hư hỏng: người mượn phải đền bù tùy theo mức độ hưhỏng của tài liệu.
• Khi cần giải đáp hoặc hỗ trợ, bạn đọc liên hệ theo địa chỉ sau:
75 2.7 15
@ v n
t e d
@
h
c m
u v n
m i
u e
e d
u v n
@
y a
h o
5 Chuẩn hóa hoạt động thư viện
Chuẩn hóa trong lĩnh vực thư viện thông tin là việc xác lập và ápdụng chuẩn mực nhằm kiểm soát, đánh giá các hoạt động thư viện thôngtin, đảm bảo cho hoạt động thư viện thông tin có thể tiến hành đạt chấtlượng, hiệu quả, thực hiện và duy trì các mục tiêu đã đặt ra
Trang 2220 20
Tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật, quy phạm thực hành và văn bảnpháp quy là các công cụ đảm bảo cho sự chuẩn hóa trong lĩnh vực thưviện thông tin được thực hiện Phổ biến, triển khai áp dụng và có kiểmtra, đánh giá là những biện pháp thực hiện chuẩn hóa
Chuẩn hóa đã và đang trở thành một yêu cầu khách quan của bất cứngành nghề và hoạt động nào trong xã hội Thư viện là một thiết chế vănhóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triểnnền kinh tế tri thức, góp phần đặc biệt trong việc nâng cao dân trí, giúpcho mỗi cá nhân có thể không ngừng mở mang hiểu biết và thực hiệnviệc học suốt đời Để hướng tới việc hội nhập với quốc tế và khu vựccũng như phục vụ và cung cấp cho người đọc, người dùng tin một cách
có hiệu quả và chất lượng, các thư viện không thể không quan tâm đếnviệc chuẩn hóa Vai trò của việc chuẩn hóa trong hoạt động thư viện thểhiện trên những bình diện khác nhau:
- Nâng cao hiệu quả hoạt động thư viện, đảm bảo mối liên hệ giữahoạt động này với các nhiệm vụ nâng cao dân trí, đẩy mạnh sự phát triểnkhoa học và công nghệ, phục vụ đắc lực cho công cuộc công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước;
- Hoàn thiện việc tổ chức quản lý hoạt động thư viện ở Việt Nam;
- Góp phần đảm bảo chất lượng và nâng cao năng suất lao độngcủa cán bộ thư viện;
- Đảm bảo mối quan hệ tương tác giữa các thư viện ở Việt Nam vớikhu vực và quốc tế
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nhiều tiêu chuẩn và quy chuẩntrong hoạt động thông tin - thư viện đã được xây dựng và phát triển baoquát loại hình sau:
Trang 23-Tiêu chuẩn về xử lý tài liệu: AACR, ISBD, RDA (mô tả tài liệu);UDC, DDC, LCC (phân loại tài liệu); Từ điển từ chuẩn của UNESCO,LCSH, Danh mục đề mục chủ đề Sears, MeSH (định chỉ mục);
- Tiêu chuẩn về hạ tầng thông tin và kết nối hệ thống: Z39.50,OAI-PMH,
- Tiêu chuẩn về quản lý thư viện: ISO 11620:2008, ISO 15511,
- Tiêu chuẩn về đào tạo người dùng tin
- Tiêu chuẩn về cơ sở vật chất
- Tiêu chuẩn về một số loại hình thư viện