1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Địa vị pháp lý của công đoàn cơ sở và thực tiễn thực hiện trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh yên bái

86 187 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên địa bàn tỉnh Yên Bái các cấp Công đoàn đã chủ động hướng dẫn, giúp đỡ Công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, ký kết thỏa ước lao động tập thể theo

Trang 1

TRƯƠNG THANH TÙNG

địa vị pháp lý của công đoàn cơ sở và thực tiễn

thực hiện trong các doanh nghiệp trên

địa bàn tỉnh yên bái

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

*******************

TRƯƠNG THANH TÙNG

địa vị pháp lý của công đoàn cơ sở và thực tiễn thực hiện trong các doanh nghiệp trên

địa bàn tỉnh yên bái

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyờn ngành : Luật kinh tế

Mó số : 60 38 01 07

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Huy Ban

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trương Thanh Tùng

Trang 4

Trang

1.1 Một số vấn đề lý luận về Công đoàn Việt Nam 6

PHÁP LÝ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH YÊN BÁI

LUẬT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH YÊN BÁI

52

3.1 Sự cần thiết hoàn thiện quy định pháp luật về địa vị pháp lý Công

đoàn cơ sở và yêu cầu của việc hoàn thiện

52

3.2 Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về địa vị pháp lý

Công đoàn cơ sở

58

3.3 Kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động của Công đoàn cơ sở trong

các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái

64

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

BLLĐ : Bộ luật lao động

CNVCLĐ : Công nhân viên chức lao động

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân, của người lao động Công đoàn có vai trò quan trọng trong việc tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng giai cấp công nhân Vai trò này của Công đoàn Việt Nam đã được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Luật công đoàn khẳng định

Từ khi ra đời, qua các chặng đường lịch sử của đất nước, Công đoàn Việt Nam đã trưởng thành nhanh chóng, thể hiện rõ địa vị, vai trò của mình và góp phần không nhỏ vào thắng lợi của cách mạng nước ta, xứng đáng với niềm tin của Đảng,

là chỗ dựa vững chắc của Nhà nước

Ngày nay, thế giới đang có những biến đổi lớn lao và phức tạp Cách mạng khoa học công nghệ có những bước nhảy vọt thúc đẩy mọi mặt của đời sống xã hội, kinh tế tri thức có vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, yếu tố con người được đẩy lên cao hơn bao giờ hết Và do vậy Công đoàn ngày càng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân có liên quan tới: việc làm, tiền lương, thời gian lao động, bảo hiểm xã hội, giải quyết tranh chấp lao động

Trên địa bàn tỉnh Yên Bái các cấp Công đoàn đã chủ động hướng dẫn, giúp

đỡ Công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, ký kết thỏa ước lao động tập thể theo quy định của pháp luật và theo hướng dẫn của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam nhằm bảo đảm các quyền lợi cơ bản của người lao động, tham gia giải quyết nhiều vụ tranh chấp lao động góp phần bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của của người lao động và xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên, hoạt động của Công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệp ở tỉnh Yên Bái thực tiễn vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế như

Trang 7

việc tham gia quản lý, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người lao động đạt hiệu quả chưa cao, còn mang tính hình thức Một bộ phận không nhỏ cán

bộ công đoàn cũng như đoàn viên chưa hiểu được địa vị pháp lý, vai trò và quyền hạn của tổ chức Công đoàn Do đó việc nghiên cứu về địa vị pháp lý của công đoàn

cơ sở để từ đó tìm ra những giải pháp nâng cao hơn nữa vai trò của công đoàn cơ sở trong việc bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái là vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn

Từ những phân tích ở trên, đặc biệt là từ thực tế tại các doanh nghiệp ở tỉnh

Yên Bái nên tác giả chọn đề tài "Địa vị pháp lý của công đoàn cơ sở và thực tiễn

thực hiện trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái" làm đề tài luận văn

thạc sĩ, với mong muốn tìm hiểu về địa vị pháp lý và vai trò của Công đoàn cơ sở, đánh giá thực trạng qua đó tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Công đoàn cơ sở trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động nói chung

và người lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái nói riêng

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu, sách, bài viết đăng trên các tạp chí nghiên cứu về vai trò, chức năng, hoạt động của tổ chức đại diện lao

động Trong đó, tiêu biểu có thể kể đến là cuốn sách "Đại diện lao động và pháp

luật về đại diện lao động - Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam" của tác

giả Đào Mộng Điệp (2015); "Pháp luật về đại diện lao động ở Việt Nam" - luận văn

thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Thị Tú (2015) Một số bài đăng trên tạp chí về vai trò của tổ chức đại diện lao động trên một số lĩnh vực như "Vai trò của tổ chức đại diện người lao động trong lĩnh vực tiền lương" (2013); "Vai trò của tổ chức đại diện lao động trong đối thoại xã hội, thương lượng tập thể và thỏa ước lao động tập thể" (2014) của tác giả Đào Mộng Điệp Nhiều bài viết cũng được đăng trên www.congdoanvietnam.org.vn như: "Nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp khu vực kinh tế ngoài Nhà nước" của tác giả Đặng Ngọc Tùng; "Công đoàn với việc xây dựng tổ tự quản trong công nhân"; "Đẩy

Trang 8

mạnh hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong doanh nghiệp" của Công đoàn tỉnh Bình Định… Những công trình nói trên chỉ nghiên cứu về đại diện lao động và ở mức độ rất khái quát mà không tập trung vào vấn đề địa vị pháp lý của tổ chức công đoàn

Bên cạnh đó, cũng có một số công trình tập trung nghiên cứu về vai trò của công đoàn cơ sở nhưng cũng chỉ ở chức năng quan trọng nhất là đại diện và bảo vệ

quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ trong lĩnh vực cụ thể như "Vai trò của công đoàn

cơ sở trong đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị

Hằng (2016); "Pháp luật về công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp của NLĐ tại doanh nghiệp" của tác giả Nguyễn Thị Ngân (2014)

Qua quá trình tìm hiểu, tác giả nhận thấy, các công trình nói trên hoặc nghiên cứu ở mức độ rất khái quát, hoặc chỉ tập trung vào vai trò của công đoàn ở một số lĩnh vực tiêu biểu như tiền lương, đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể, TƯLĐTT, đình công mà hiện chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu

về các quyền và nghĩa vụ của Công đoàn cơ sở, đặc biệt là hoạt động của Công đoàn cơ sở tại một địa phương cụ thể trên cả nước Thiết nghĩ, cần có một công trình nghiên cứu về vấn đề trên, kế thừa một cách có chọn lọc các kết quả của những công trình có trước, tiếp tục bổ sung và hoàn thiện hơn nữa, góp phần làm sáng tỏ vấn đề Đây cũng chính là lí do để tác giả tìm hiểu và nghiên cứu về đề tài này Tác giả cũng hy vọng rằng có thể vận dụng được những kết quả nghiên cứu vào hoạt động thực tiễn để Công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, nâng cao nhận thức cho người lao động, người sử dụng lao động về địa vị pháp lý và vai trò, tầm quan trọng của Công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệp, đặc biệt là trên địa bàn tỉnh Yên Bái

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý, quyền hạn của Công đoàn cơ sở, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn

Trang 9

thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của Công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của Công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý, vai trò, quyền hạn của Công đoàn cơ sở

- Nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Công đoàn

cơ sở

- Nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của Công đoàn

cơ sở trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái

- Đề xuất giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của Công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề chung về Công đoàn và Công đoàn cơ

sở, tập trung chủ yếu vào các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về địa vị pháp

lý của Công đoàn cơ sở và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Yên Bái Trong giới hạn nhất định, luận văn có tiếp cận tới các quan điểm, nội dung quy định của pháp luật quốc tế về địa vị pháp lý của Công đoàn làm cơ sở cho những luận giải và bình luận

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước

ta trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với đặc trưng cơ bản của quan hệ lao động và thị trường lao động tại Việt Nam

Đề tài vận dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp so sánh, tổng hợp, quy nạp, phân tích, nghiên cứu tài liệu, tập hợp, tham khảo và sử dụng các công trình nghiên cứu, các báo cáo, số liệu, kết quả điều tra, khảo sát của các cơ quan nghiên cứu về công đoàn

Trang 10

6 Những đóng góp của đề tài

- Làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Công đoàn cơ sở

- Đánh giá khách quan, trung thực các quy định của pháp luật hiện hành với những ưu nhược điểm

- Phân tích thực trạng hoạt động của CĐCS trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái, từ đó chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân

- Đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của CĐCS trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái, có giá trị ứng dụng cao trên thực tiễn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 chương, có tiểu kết cho từng chương, cụ thể:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Công đoàn và địa vị pháp lý của Công

đoàn cơ sở

Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý Công đoàn

cơ sở và thực tiễn thực hiện trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái

Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về địa vị pháp lý

Công đoàn cơ sở và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn cơ

sở trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái

Trang 11

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM

1.1 Một số vấn đề lý luận về Công đoàn Việt Nam

1.1.1 Định nghĩa Công đoàn

Từ thế kỷ XVIII, ở hầu hết các nước phương Tây diễn ra sự chuyển đổi của nền kinh tế từ trồng trọt với nền tảng sản xuất thủ công sang cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất Chính sự chuyển đổi này đã khiến cho các mâu thuẫn về kinh

tế - xã hội nảy sinh, trong đó có quan hệ lao động Người lao động (NLĐ) với tư cách cá nhân thường bị bất lợi trong mối quan hệ kinh tế với người sử dụng lao động (NSDLĐ), vì vậy, một cách tự nhiên NLĐ liên kết lại với nhau để tạo nên sức mạnh của số đông trong việc bảo vệ quyền lợi của mình và từ đó công đoàn đã bắt đầu manh nha hình thành

Đến năm 1984, tại cuốn Lịch sử Chủ nghĩa Công đoàn (History of Trade Unionism) của Sidney và Beatrice Webb, công đoàn được hiểu là "một hiệp hội của những người làm công ăn lương có mục đích duy trì hay cải thiện các điều kiện thuê mướn họ" Cũng có một định nghĩa hiện đại khác của Cục Thống kê Úc rằng công đoàn là " một tổ chức hợp thành chủ yếu bởi những người làm thuê, hoạt động cơ bản là thương lượng về lương bổng và điều kiện thuê mướn cho các thành viên của nó"

Thực tế lịch sử cho thấy các công đoàn đều là tồn tại bất hợp pháp trong nhiều năm ở hầu hết các nước Đã có những hình phạt khắt khe đối với những hoạt động của tổ chức công đoàn, mặc dù thế, các công đoàn vẫn được thành lập và dần dần có được sức mạnh chính trị Kết quả cuối cùng là một bộ luật lao động không chỉ hợp pháp hóa những nỗ lực của tổ chức công đoàn mà còn luật hóa mối quan hệ giữa giới chủ với những người làm thuê được tổ chức thành những công đoàn Ở nhiều quốc gia, công đoàn có thể có vị thế như một pháp nhân được ủy quyền thương lượng với giới chủ thay cho các công nhân mà công đoàn đại diện Công đoàn có quyền quan trọng nhất là quyền thương lượng tập thể với người thuê mướn lao động về lương, giờ làm cũng như các điều kiện thuê lao động khác

Trang 12

Ngày nay, vấn đề về công đoàn cũng đã được Tổ chức lao động quốc tế ILO quy định trực tiếp hoặc gián tiếp trong các công ước như: Công ước số 87 về quyền tự do liên kết và bảo vệ quyền được tổ chức; Công ước số 98 về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể và Công ước số 135

về những đại diện NLĐ trong doanh nghiệp và những thuận lợi dành cho họ Từ đây, các quốc gia cũng đều xây dựng định nghĩa công đoàn trong pháp luật công đoàn hoặc pháp luật lao động của mình Điển hình như:

Tại Điều 2 Luật công đoàn của Liên bang Nga quy định: "Công đoàn là một thực thể tự nguyện của mọi công dân liên kết lại với nhau vì lợi ích ngành nghề chung phù hợp với tôn chỉ hoạt động của họ và lập ra để đại diện và bảo vệ quyền lao động và xã hội cũng như lợi ích của người lao động"

Hay tại Điều 2 Luật công đoàn của CHDCND Trung Hoa quy định: "Công đoàn là một tổ chức tập thể của tầng lớp NLĐ được hình thành nên từ những người lao động và cán bộ công nhân viên Tổng liên đoàn lao động Trung Quốc và tất cả các tổ chức công đoàn cấp dưới hoạt động vì lợi ích của người lao động và các

thành viên, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ theo quy định của pháp luật"

Điều 1 Luật Công đoàn Việt Nam năm 2012 cũng khẳng định: "Công đoàn

là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung

là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành

pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa"

Trang 13

1.1.2 Vai trò của Công đoàn

Lênin từng nói "Công đoàn có vai trò là trường học quản lý, trường học kinh tế, trường học chủ nghĩa Cộng sản" Công đoàn giúp cho người công nhân, viên chức, NLĐ tham gia quản lý sản xuất, quản lý doanh nghiệp, quản lý các công việc xã hội Công đoàn vận động công nhân, viên chức và NLĐ tham gia vào việc đổi mới cơ chế quản lý, hoàn thiện các chính sách nhằm nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh - sản xuất Đồng thời Công đoàn cũng tiến hành giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục pháp luật, giáo dục văn hóa, giáo dục lối sống, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho công nhân, viên chức và NLĐ

Điều 10 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận "Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của NLĐ được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho NLĐ, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp

về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của NLĐ; tuyên truyền, vận động NLĐ học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" Như vậy, Công đoàn không chỉ đại diện, bảo vệ lợi ích của NLĐ, mà còn tham gia quản lý kinh tế xã hội, quản lý nhà nước Ngày nay khi đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vai trò của Công đoàn còn được thể hiện trên nhiều lĩnh vực:

Trong lĩnh vực chính trị: Công đoàn có vai trò to lớn trong việc góp phần

xây dựng và nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với quần chúng nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động theo hệ thống dân chủ tập trung, từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, góp phần đảm bảo việc thực thi pháp luật

và để đảm bảo Nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân Đảm bảo sự ổn định

về chính trị, đấu tranh chống lại mọi âm mưu của kẻ thù nhằm chống phá cách mạng Việt Nam

Trang 14

Trong lĩnh vực kinh tế: Hiện nay nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta

đặt ra cho Công đoàn hàng loạt những vấn đề phức tạp Công đoàn cần tham gia xây dựng và hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xóa bỏ chế độ quan liêu, bao cấp, củng cố nguyên tắc tập trung dân chủ trên cơ sở mở rộng dân chủ Góp phần củng cố những thành tựu kinh tế và khoa học kỹ thuật đã đạt được trong những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Tiếp tục đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động của các thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển có lợi cho quốc kế dân sinh Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từng bước đưa nền kinh tế của Việt Nam nhanh chóng hội nhập với nền kinh tế của các nước trong khu vực và thế giới

Trong lĩnh vực văn hóa - tư tưởng: Công đoàn phát huy vai trò của mình

trong việc giáo dục công nhân, viên chức, lao động nâng cao lập trường giai cấp, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động, phát huy những giá trị truyền thống, văn hóa, đạo đức, lối sống cao đẹp của dân tộc và tiếp thu những thành tựu tiên tiến của văn minh nhân loại, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Trong lĩnh vực xã hội: Công đoàn tham gia xây dựng giai cấp công nhân

vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, tính tổ chức kỷ luật, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, thực sự là nòng cốt của khối liên minh công - nông - trí thức, là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân, là cơ sở xã hội vững chắc để đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng và tăng cường sức mạnh của Nhà nước

Bộ luật Lao động Việt Nam năm 2012 còn quy định một cách chi tiết, cụ thể vai trò của công đoàn cơ sở trong quan hệ lao động tại khoản 1 Điều 188 Theo

đó, công đoàn cơ sở thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn, NLĐ; tham gia, thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện TƯLĐTT, thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, quy chế dân chủ ở doanh nghiệp, cơ

Trang 15

quan, tổ chức; tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động; đối thoại, hợp tác với NSDLĐ xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức

Đây là cơ sở pháp lý để công đoàn cơ sở thực hiện các quyền hạn, trách nhiệm của mình đối với NLĐ cũng như phối hợp chặt chẽ với đơn vị sử dụng lao động và cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các vấn đề của quan hệ lao động Công đoàn cơ sở là tổ chức cơ sở của công đoàn, tập hợp đoàn viên công đoàn trong một hoặc một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, được công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở công nhận theo quy định của pháp luật và Điều lệ công đoàn Đây là cấp công đoàn gắn bó trực tiếp với NLĐ, có vai trò rất quan trọng trong quan

hệ lao động Công đoàn cơ sở không chỉ đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các đoàn viên công đoàn mà còn đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích cho cả những NLĐ không phải là đoàn viên công đoàn

1.1.3 Chức năng của công đoàn

Chức năng của công đoàn được hiểu là những phương diện hoạt động chủ yếu của công đoàn Với vị trí, vai trò của công đoàn, có thể xác định chức năng của công đoàn bao gồm:

Chức năng đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ Đây là

chức năng cơ bản, quan trọng hàng đầu của tổ chức công đoàn bởi đây là tổ chức của NLĐ, NLĐ gia nhập công đoàn trước hết là để được chăm lo về đời sống, để được bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình, sau mới đến các vấn đề khác Hơn nữa, Nhà nước ta đang thực hiện chính sách hội nhập kinh tế, khuyến khích các thành phần kinh tế tự do kinh doanh, mở rộng hình thức đầu tư nhằm phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho nhân dân Điều này tất yếu dẫn đến sự ra đời của nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau và do vậy, nguy cơ NLĐ bị bóc lột, lạm dụng sức lao động ngày càng cao Do đó, sự tham gia của tổ chức công đoàn nhằm tạo ra tương quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ là hết sức cần thiết Tuy nhiên, không vì thế mà công đoàn khi thực hiện chức năng của mình lại đối lập với NSDLĐ Bởi vì xét cho cùng thì quyền lợi của NLĐ chỉ đạt được một cách ổn định,

Trang 16

bền vững khi quan hệ lao động diễn ra hài hòa, trên cơ sở tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau tức là quyền lợi của NSDLĐ cũng phải được đảm bảo Nói cách khác, chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ của công đoàn cần phải được đặt trong mối quan hệ hợp tác và tôn trọng với NSDLĐ và tổ chức đại diện của NSDLĐ

Chức năng tham gia quản lí nhà nước, quản lí kinh tế - xã hội Việc công

đoàn tham gia quản lí nhà nước là một tất yếu bởi lẽ công đoàn là đại diện cho giai cấp công nhân, khi giai cấp công nhân giành chính quyền, NLĐ trở thành người chủ, họ có quyền và trách nhiệm tham gia quản lí kinh tế, xã hội và quyền, trách nhiệm này được thực hiện thông qua đại diện của họ là tổ chức công đoàn Tuy nhiên, việc công đoàn tham gia quản lí không có nghĩa là công đoàn làm thay, can thiệp vào công việc của Nhà nước Công đoàn tham gia quản lí thực chất là để cùng với Nhà nước xây dựng và thực hiện chương trình phát triển kinh tế - xã hội, cơ chế quản lí, chủ trương, chính sách liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của NLĐ Công đoàn làm tốt chức năng tham gia quản lí sẽ có tác dụng to lớn là bảo vệ NLĐ

từ bước hoạch định chính sách, chế độ đối với NLĐ Do vậy, xét theo mục đích hoạt động công đoàn thì việc tham gia quản lí là điều kiện và phương tiện quan trọng để công đoàn thực hiện chức năng bảo vệ

Chức năng giáo dục Giáo dục của công đoàn là làm cho NLĐ nhận thức

được đầy đủ trách nhiệm công dân, nâng cao ý thức phấn đấu, bồi dưỡng kiến thức, năng lực nghề nghiệp, kiến thức pháp luật để từ đó củng cố kỉ luật lao động, xây dựng ý thức tự nguyện, tự giác trong lao động Bảo đảm cho NLĐ vừa hoàn thành tốt công việc, vừa bảo vệ được mình trong môi trường đầy biến động và cạnh tranh của cơ chế thị trường Đồng thời, công đoàn giáo dục NLĐ vững tin vào con đường

đi lên chủ nghĩa xã hội đã lựa chọn, luôn tỉnh táo cảnh giác, đấu tranh với những khuynh hướng sai lầm, cơ hội

Chức năng của công đoàn là một chỉnh thể, hệ thống đồng bộ và trên thực

tế hoạt động, các chức năng đan xen nhau cho dù mức độ, vai trò của từng chức năng, ở từng hoàn cảnh khác nhau là không giống nhau Trong cơ chế thị trường như hiện nay với sự hoạt động mạnh mẽ của thị trường lao động, chức năng bảo vệ

Trang 17

quyền, lợi ích của NLĐ được xem là chức năng hàng đầu, cơ bản, mang ý nghĩa trọng tâm, là mục tiêu hoạt động của công đoàn Chức năng tham gia quản lí là điều kiện, phương tiện đạt mục tiêu của công đoàn, còn chức năng giáo dục mang ý nghĩa tạo động lực tinh thần là điều kiện xã hội để công đoàn hoàn thành nhiệm vụ

1.1.4 Cơ cấu tổ chức của công đoàn Việt Nam

Cũng giống như các tổ chức chính trị khác, tổ chức công đoàn Việt Nam cũng có hệ thống cơ cấu tổ chức riêng, có tôn chỉ, mục đích, điều lệ hoạt động riêng Điều 7 Luật Công đoàn 2012 quy định hệ thống tổ chức công đoàn gồm có Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và công đoàn các cấp theo quy định của Điều

lệ Công đoàn Việt Nam Còn tại Điều 9 Điều lệ công đoàn Việt Nam được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Công đoàn Việt Nam thông qua ngày 30/7/2013 thì tổ chức công đoàn Việt Nam gồm 4 cấp cơ bản sau:

1 Cấp Trung ương: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

2 Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, công đoàn ngành trung ương và tương đương (sau đây gọi chung là Liên đoàn Lao động cấp tỉnh, thành phố và tương đương)

3 Liên đoàn Lao động huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; công đoàn ngành địa phương; công đoàn các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao; công đoàn tổng công ty và một số công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở đặc thù khác (sau đây gọi chung là công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở)

4 Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn (sau đây gọi chung là công đoàn cơ sở) Như vậy, có thể thấy rằng Công đoàn Việt Nam hiện nay được tổ chức theo

04 cấp và được phân chia theo địa giới hành chính Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam cũng thừa nhận có sự tồn tại của Công đoàn các ngành nghề ở trung ương và địa phương Và trên thực tế ở Việt Nam, Công đoàn các ngành nghề hoạt động hiệu quả hơn so với Công đoàn các cấp chia theo địa giới hành chính Chính vì vậy, địa

vị pháp lý của Công đoàn các ngành nghề ngày càng được chú trọng, một trong những biểu hiện đó là pháp luật đã quy định thẩm quyền của Công đoàn ngành trong việc đại diện tập thể lao động thương lượng và ký kết TƯLĐTT ngành

Trang 18

Công đoàn các cấp có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau Mỗi cấp công đoàn đều có quyền hạn riêng, rõ ràng Công đoàn cấp trên trực tiếp lãnh đạo công đoàn cấp dưới, ban hành các chính sách, quyết định nhằm điều chỉnh hoạt động của các tổ chức công đoàn bộ phận tùy thuộc vào tình hình thực tiễn cụ thể Sự chỉ đạo của công đoàn cấp trên sẽ tạo cơ sở cho công đoàn cấp dưới hoạt động có hiệu quả hơn, đồng bộ hơn trên phạm vi rộng Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng hoạt động của công đoàn cấp dưới có hiệu quả thì công đoàn cấp trên mới có sức mạnh, trong đó hoạt động của công đoàn cơ sở là yếu tố quyết định Theo khoản 2 Điều 4 Luật Công đoàn 2012 thì Công đoàn cơ sở là tổ chức cơ sở của Công đoàn, tập hợp đoàn viên công đoàn trong một hoặc một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp được công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở công nhận theo quy định của pháp luật và Điều lệ Công đoàn Việt Nam Công đoàn cơ sở là địa bàn hoạt động chủ yếu của đoàn viên, nơi trực tiếp liên hệ với NLĐ và đặc biệt là cùng hợp tác với NSDLĐ, chăm lo lợi ích, đời sống của NLĐ

1.2 Địa vị pháp lý của Công đoàn cơ sở

Theo Từ điển Luật học, địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định pháp luật, thông qua địa vị pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật

Như vậy, có thể hiểu địa vị pháp lý của CĐCS chính là vị trí mà pháp luật quy định cho CĐCS trong mối quan hệ với các chủ thể khác như NLĐ, NSDLĐ Và địa vị pháp lý của CĐCS được thể hiện thông qua các quyền, trách nhiệm nhất định được pháp luật thừa nhận và bảo đảm thực hiện

Trong các quốc gia khác nhau thì địa vị pháp lý của tổ chức đại diện lao động nói chung, của công đoàn nói riêng là khác nhau Sự khác nhau này phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, chế độ chính trị cũng như hệ thống pháp luật của các quốc gia đó Ngoài ra, sự khác nhau này còn phụ thuộc vào từng giai đoạn, thời kỳ lịch sử Và chính giữa các cấp công đoàn của một quốc gia cũng có sự khác nhau về

Trang 19

địa vị pháp lý Tuy nhiên, dù thiết kế theo mô hình đa công đoàn, công đoàn đơn nhất hay tồn tại nhiều hình thức đại diện lao động, địa vị pháp lý của các công đoàn đều có các đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, pháp luật quy định quyền của công đoàn trong bảo vệ quyền lợi của NLĐ tập trung vào ba nhóm quyền cơ bản: quyền tổ chức, quyền thương lượng tập thể, quyền hành động tập thể

Đây là nhóm quyền cơ bản nhất, quan trọng nhất của công đoàn trong quan

hệ lao động được pháp luật nhiều nước (Latvia, Nga, Trung Quốc, Philipin, Thái Lan…) quy định Theo đó, quyền tổ chức được hiểu là loại quyền người lao động tự nguyện tham gia thành lập công đoàn hoặc từ bỏ việc gia nhập; quyền thương lượng tập thể là loại quyền đại diện lao động ký kết thỏa ước nhằm xác lập những điều kiện lao động, đảm bảo cam kết thực hành lao động công bằng và đưa ra những thỏa thuận có lợi hơn cho NLĐ; quyền hành động tập thể được hiểu là quyền được hưởng sự bảo vệ về mặt pháp lý các hành động tranh luận và hành động đình công cũng như những cơ chế bảo vệ NLĐ khi tham gia đình công

Pháp luật một số nước có thể quy định quyền, trách nhiệm trong nhiều lĩnh vực liên quan đến quan hệ lao động, nhưng cũng có thể quy định trên bình diện chung và hạn chế một số quyền nhất định Luật Công đoàn của Nga đã cụ thể hóa quyền, trách nhiệm của đại diện lao động trong các phạm vi như: i) Quyền đại diện

và bảo vệ các quyền lao động và xã hội cũng như lợi ích của NLĐ; ii) Quyền trong thúc đẩy công ăn việc làm; iii) Quyền trong thương lượng tập thể; iv) Quyền trong giải quyết tranh chấp lao động tập thể; v) Quyền tiếp cận thông tin; vi) Quyền tham gia vào đào tạo; vii) Quyền giám sát việc thực hiện pháp luật lao động; viii) Quyền trong bảo vệ lao động và môi trường tự nhiên

Trong các loại quyền đó, pháp luật của Nga chỉ thừa nhận việc ký kết thỏa ước hay đình công là quyền duy nhất thuộc về tổ chức công đoàn và công đoàn ngành Các cuộc đình công không do công đoàn tổ chức được xem là đình công trái pháp luật

Pháp luật Singapore cũng quy định đặc quyền của tổ chức đại diện lao động đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền Theo đó, Điều 19 Luật Công đoàn Singapore

Trang 20

quy định: "Nếu bất cứ công đoàn nào không nộp đơn đăng ký theo thời hạn hoặc bị

từ chối đăng ký… thì công đoàn hay cán bộ đoàn viên hoặc đại diện công đoàn không được phép tham gia vào tranh chấp, kêu gọi, tổ chức hay cấp tiền cho hoạt động đình công hay bế xưởng hoặc hỗ trợ tài chính hay những lợi ích khác cho đoàn viên trong quá trình tiến hành đình công hay bế xưởng"

Trong khi đó, luật pháp Trung Quốc không quy định về quyền đình công của NLĐ Mặc dù trong Hiến pháp năm 1975 và năm 1978 thừa nhận quyền đình công nhưng quyền này lại không được ghi nhận ở Hiến pháp năm 1982 Luật Công đoàn Trung Quốc năm 2001 đã khẳng định thêm về loại quyền này, theo đó cũng không quy định về quyền đình công của NLĐ

Đối với các lĩnh vực khác, công đoàn có các quyền cơ bản sau: i) Ký kết TƯLĐTT; ii) Bảo vệ sức khỏe cho NLĐ; iii) Tham gia giám sát việc giải quyết các tai nạn lao động; v) Tham gia góp ý dự thảo thảo hoặc sửa đổi luật điều lệ hay các quy định khác liên quan tới lợi ích của NLĐ; vi) Tham gia xây dựng các chính sách liên quan đến việc làm, tiền lương và các nội dung khác liên quan đến NLĐ; vii) Quyền đảm bảo cho NLĐ tham gia quản lý dân chủ… Các quyền này của Luật Công đoàn Trung Quốc là những tiền đề pháp lý để các quyền công đoàn được thực thi dưới góc độ pháp luật bảo vệ

Khác với Luật Công đoàn Trung Quốc, pháp luật của Đức thừa nhận công đoàn là hình thức quan trọng nhất để đại diện quyền lợi chung cho tập thể lao động

và là tổ chức duy nhất có quyền lãnh đạo đình công Ngoài ra, pháp luật của Đức cũng thừa nhận, công đoàn đại diện cho NLĐ chủ yếu thông qua việc ký kết TƯLĐTT Theo mục 2 tiểu mục 3 Luật Hiến pháp của Đức quy định nhiệm vụ đặc biệt của tổ chức công đoàn là bảo vệ lợi ích của tất cả công đoàn viên không bị ảnh hưởng bởi Luật Hiến pháp NLĐ được thực thi nghĩa vụ của mình mà không bị hạn chế đối với hoạt động công đoàn của họ trong cơ sở Pháp luật của Đức quy định, công đoàn là chủ thể duy nhất có quyền ký kết TƯLĐTT1

1 Đào Mộng Điệp (2015), Đại diện lao động và pháp luật về đại diện lao động - Những vấn đề lý luận và

thực tiễn ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Tr 96 -97

Trang 21

Hiện nay, ở Đức có các công đoàn lớn đã tham gia ký kết TƯLĐTT như Liên hiệp Công đoàn Đức; Công đoàn kim khí; Công đoàn dịch vụ hợp nhất; Công đoàn mỏ hóa chất năng lượng… Khi ký kết thỏa ước, công đoàn xác định cụ thể nội dung, việc ký kết và chấm dứt quan hệ lao động cũng như các vấn đề liên quan đến quy chế xí nghiệp Nội dung công đoàn đàm phán chủ yếu các vấn đề về tiền lương, ngạch bậc, thời gian làm việc, chế độ nghỉ phép, thời gian làm thêm, điều kiện lao động… Ngoài ra, luật pháp cũng quy định, công đoàn có quyền, trách nhiệm hỗ trợ đối với hình thức đại diện lao động khác như Hội đồng xí nghiệp Trong mối quan

hệ đó, công đoàn có một số quyền như: i) Cử đại diện Hội nghị xí nghiệp; ii) Thực

dự thảo, nghị định, sắc luật, sửa đổi luật, điều lệ, các chính sách liên quan đến lĩnh vực xã hội và lao động, Nhà nước phải xem xét thông qua trên cơ sở các ý kiến của

tổ chức đại diện lao động (Điều 11, Điều 15 Luật Công đoàn Nga; Phần 6 Luật Công đoàn Latvia; Điều 33 Luật Công đoàn Trung Quốc) Trong mối quan hệ với NSDLĐ, các vấn đề về lao động, kinh tế, xã hội và những nội dung liên quan đến quyền lợi của NLĐ, NSDLĐ phải trao đổi với tổ chức đại diện lao động

Việt Nam quy định một số quyền và trách nhiệm của công đoàn liên quan đến tất cả các lĩnh vực của quan hệ lao động như việc làm, tiền lương, xử lý kỉ luật lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động… Tương tự pháp luật của một số nước, Việt Nam dành quyền thương lượng, ký kết thỏa ước và lãnh đạo đình công thuộc

Trang 22

về công đoàn Ngoài ra, pháp luật Việt Nam cũng quy định thẩm quyền của công đoàn trong mối quan hệ với NSDLĐ cũng như trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan,

tổ chức, doanh nghiệp đối với công đoàn

Từ việc nghiên cứu pháp luật của một số nước, có thể thấy việc quy định tất

cả các loại quyền đơn lẻ của công đoàn trong quan hệ lao động hay quy định ba nhóm quyền cơ bản (quyền tổ chức, quyền thương lượng, quyền hành động tập thể) phụ thuộc vào điều kiện kinh tế chính trị cũng như hệ thống pháp luật của các nước

đó Pháp luật của một số nước tập trung chủ yếu vào loại quyền thương lượng tập thể và cho các chủ thể linh hoạt thỏa thuận, chủ động đối với loại quyền này Nhà nước tôn trọng quyền tự do thỏa thuận thông qua thương lượng tập thể nhưng vẫn quản lý trên phương diện vĩ mô Vấn đề đặt ra là Nhà nước cần tạo một cơ chế đảm bảo thực thi các loại quyền cơ bản của công đoàn trên thực tế Đây cũng chính là những gợi mở cho việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức công đoàn ở Việt Nam Việc pháp luật quy định cụ thể các quyền đơn lẻ hay nhóm quyền cơ bản không có nghĩa

là chức năng đại diện lao động đã phát huy hiệu quả trong thực tế Vì xét cho cùng, pháp luật chỉ tạo ra hành lang pháp lý cho các chủ thể, còn mức độ thực thi và hiệu quả của nó còn chịu ảnh hưởng bởi thái độ, ý thức của chủ thể, mối tương quan về địa vị pháp lý của các bên trong quan hệ lao động, mức độ can thiệp của Nhà nước tới góc độ quyền hay các chế tài áp dụng cho các chủ thể tham gia quan hệ 2

Kể từ khi ra đời vào ngày 28/7/1929, Công đoàn Việt Nam đã giữ một vị trí quan trọng trong phong trào đấu tranh bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân và thực sự là một tổ chức quần chúng rộng lớn của giai cấp công nhân, nằm trong mặt trận dân tộc thống nhất được Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, cùng các tổ chức chính trị - xã hội khác thực hiện đường lối chiến lược, sách lược của Đảng cộng sản Việt Nam, quyết tâm giành độc lập, tự do cho dân tộc, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cũng như sau

2 Đào Mộng Điệp (2015), Đại diện lao động và pháp luật về đại diện lao động - Những vấn đề lý luận và

thực tiễn ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Tr 100

Trang 23

khi Tổ quốc được thống nhất, Đảng ta xác định rõ hơn địa vị pháp lý của Công đoàn trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Cùng với sự phát triển của xã hội, Công đoàn Việt Nam nói chung và công đoàn cơ sở nói riêng dần chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống các tổ chức xã hội và đời sống của NLĐ

Địa vị pháp lý của CĐCS được thể hiện trên nhiều khía cạnh, trong mối quan hệ với những chủ thể khác nhau thì địa vị pháp lý của CĐCS cũng khác nhau Tuy nhiên, một cách bao quát nhất, địa vị pháp lý của CĐCS có thể được phân chia thành các nhóm sau đây:

 Địa vị pháp lý của Công đoàn cơ sở trong việc đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ Trong lĩnh vực này, địa vị pháp lý của CĐCS được thể hiện thông qua những quyền, trách nhiệm sau: Hướng dẫn, tư vấn cho NLĐ về quyền, nghĩa vụ của NLĐ khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với đơn vị sử dụng lao động; Đại diện cho tập thể người lao động thương lượng

và ký kết TƯLĐTT doanh nghiệp; Tham gia với đơn vị sử dụng lao động xây dựng

và giám sát việc thực hiện thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, an toàn lao động và vệ sinh lao động; Tham gia xây dựng nội quy lao động, xử lí kỉ luật lao động, tạm đình chỉ công việc, cho thôi việc đối với NLĐ; Đối thoại với đơn vị sử dụng lao động để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của NLĐ, bảo đảm việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; Đại diện cho tập thể lao động hoặc NLĐ khởi kiện tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể lao động hoặc NLĐ bị xâm phạm, đại diện cho tập thể lao động tham gia tố tụng trong vụ án lao động, hành chính, phá sản doanh nghiệp; Tổ chức, lãnh đạo đình công

 Địa vị pháp lý của công đoàn cơ sở trong việc tham gia quản lí cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị và tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp

 Địa vị pháp lý của công đoàn cơ sở trong việc tuyên truyền, giáo dục,

vận động NLĐ và phát triển đoàn viên công đoàn

Trang 24

Trong hệ thống cơ cấu tổ chức của công đoàn thì Công đoàn cơ sở là tổ chức đóng vai trò quan trọng, gần gũi và thấu hiểu nhất tâm tư, nguyện vọng của NLĐ Pháp luật các quốc gia trên thế giới nói chung, pháp luật Việt Nam nói riêng đều thừa nhận địa vị pháp lý của Công đoàn cơ sở gồm: Đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ; tham gia quản lí cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị và tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; tuyên truyền, giáo dục, vận động NLĐ và phát triển đoàn viên công đoàn

Trang 25

Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH YÊN BÁI

2.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý công đoàn cơ sở

2.1.1 Địa vị pháp lý công đoàn cơ sở trong việc đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ

Theo quy định tại Điều 10 Luật công đoàn 2012 và Nghị định số 43/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Điều 10 của Luật công đoàn thì trong vấn

đề đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ, CĐCS có các quyền, trách nhiệm sau:

Quyền, trách nhiệm của công đoàn cơ sở trong việc hướng dẫn, tư vấn cho NLĐ về quyền, nghĩa vụ của NLĐ khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với đơn vị sử dụng lao động

HĐLĐ luôn là vấn đề trung tâm trong các quy định của BLLĐ nước ta từ trước đến nay, bởi nó hội tụ đầy đủ các quy định về những vấn đề thuộc mối quan

hệ lao động giữa NSDLĐ với NLĐ Đặc biệt, HĐLĐ có liên quan mật thiết đến bản thân NLĐ, có tác động rất lớn đến quá trình thực hiện và duy trì quan hệ lao động Hơn nữa, trong quan hệ này, NLĐ luôn ở vị trí yếu thế hơn so với NSDLĐ, do vậy, nguy cơ NLĐ bị lạm dụng, bóc lột sức lao động là rất lớn Bên cạnh đó, trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, lực lượng lao động chủ yếu là lao động có trình độ thấp, chưa có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng cũng như các quyền, nghĩa vụ của mình khi giao kết hợp đồng với NSDLĐ Do vậy, pháp luật quy định quyền, trách

nhiệm của CĐCS trong việc hướng dẫn, tư vấn cho NLĐ về hình thức, nguyên tắc,

loại hợp đồng, nội dung hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên về cung cấp thông tin, thời gian thử việc, thời gian tập sự và những vấn đề liên quan khi giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc; nghĩa vụ thực hiện công việc theo hợp

Trang 26

đồng, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các bên trong trường hợp chuyển NLĐ làm công việc khác, các trường hợp tạm hoãn, nhận lại NLĐ hết thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc; trình tự, thủ tục và các chế

độ, chính sách đối với NLĐ khi phát sinh sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc Đây là việc làm cần thiết, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích

hợp pháp của NLĐ ngay từ khâu xác lập cho đến khi chấm dứt quan hệ lao động

Mặc dù pháp luật Việt Nam đã quy định tương đối đầy đủ về hình thức, nội dung, quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc giao kết, thực hiện và chấm dứt HĐLĐ cũng như trách nhiệm của công đoàn cơ sở, tuy nhiên, trên thực tế thì những

vi phạm pháp luật trong việc thực hiện các quy định về HĐLĐ vẫn còn xảy ra phổ biến, cụ thể như các bên không ký đúng hình thức, loại hợp đồng, sai về chủ thể, nội dung vi phạm pháp luật… làm ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ Qua thực tiễn này, có thể thấy vai trò của CĐCS trong thiết lập quan hệ lao động cá nhân, giao kết HĐLĐ còn mờ nhạt, chưa chủ động thực hiện các quyền, trách nhiệm của mình, thường thì CĐCS chỉ can thiệp khi có yêu cầu của NLĐ Trong quá trình thực hiện, thay đổi, chấm dứt HĐLĐ, vai trò của CĐCS được quy định rõ ràng hơn với những quyền hạn, trách nhiệm cụ thể, do vậy, việc thực hiện trách nhiệm của CĐCS trong những giai đoạn này đạt hiệu quả cao hơn

Quyền, trách nhiệm của công đoàn cơ sở trong việc đại diện cho tập thể người lao động thương lượng và ký kết TƯLĐTT doanh nghiệp

Thương lượng tập thể có vai trò quan trọng trong điều tiết quan hệ lao động

mà TƯLĐTT chính là kết quả của quá trình này TƯLĐTT là thỏa ước giữa tập thể lao động mà đại diện là tổ chức công đoàn với NSDLĐ, là văn bản pháp lý được hình thành với trình tự, thủ tục khá chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi của NLĐ, trong

đó, vai trò của tổ chức công đoàn sẽ quyết định hiệu quả chất lượng của thỏa ước Pháp luật Việt Nam hiện hành đã sửa đổi, bổ sung và ban hành mới một số nội dung

để tạo hành lang pháp lý cho các chủ thể trong quá trình thương lượng, ký kết và thực hiện thỏa ước như: bổ sung thẩm quyền đại diện thương lượng tập thể, ký kết

Trang 27

TƯLĐTT; quy trình thương lượng tập thể; thực hiện TƯLĐTT; TƯLĐTT ngành,… Nhà nước bằng công cụ pháp luật quy định cho CĐCS quyền, trách nhiệm đại diện cho tập thể lao động thương lượng tập thể phạm vi doanh nghiệp và ký kết TƯLĐTT doanh nghiệp Theo quy định của BLLĐ 2012, Luật công đoàn 2012 và Nghị định 43/2013/NĐ-CP thì CĐCS trước khi tiến hành phối hợp với chủ sử dụng lao động xây dựng TƯLĐTT cần phải thu thập thông tin, tập hợp kiến nghị, đề xuất nội dung liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ và yêu cầu NSDLĐ thương lượng tập thể trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức Sau đó, CĐCS

có trách nhiệm đại diện tập thể lao động thương lượng và ký kết TƯLĐTT Nội dung thỏa ước gồm có: tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp và nâng lương; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, giờ làm thêm, nghỉ giữa ca; bảo đảm việc làm, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động… Sau khi TƯLĐTT được thông qua, CĐCS có trách nhiệm phổ biến đến toàn thể NLĐ để NLĐ được biết và thực hiện thỏa ước một cách nghiêm túc

Tuy nhiên trên thực tế, theo thống kê của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, hiện mới có khoảng 60% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ký kết TƯLĐTT Nhiều doanh nghiệp chỉ tập trung vào mục đích lợi nhuận mà xem nhẹ, thậm chí là

vi phạm quyền lợi của NLĐ Doanh nghiệp né tránh thương lượng tập thể, né tránh công khai những thông tin sản xuất, kinh doanh, tài chính; trong quá trình thương lượng tập thể doanh nghiệp viện dẫn các lý do khó khăn, thiếu lãi để không phải cải thiện điều kiện lao động Trong khi đó, một số doanh nghiệp chấp nhận thương lượng nhưng lại cố tính kéo dài thời gian dẫn đến không ký được TƯLĐTT

Về chất lượng của thỏa ước, hiện nay, theo thống kê của công đoàn ngành công thương, trong số các TƯLĐTT được ký kết, khoảng 60% các thỏa ước có những khoản thỏa thuận có lợi cho NLĐ so với quy định của pháp luật lao động; khoảng 30% các bản thỏa ước gồm ít khoản có lợi cho NLĐ; còn lại 10% bản TƯLĐTT sao chép luật Có nhiều trường hợp, nội dung thỏa ước đã không còn phù hợp nhưng không sửa đổi, bổ sung kịp thời, trừ trường hợp NSDLĐ thấy cần phải

Trang 28

sửa đổi, bổ sung vì lợi ích của họ hoặc vì lợi ích của cả hai bên Thậm chí doanh nghiệp còn xây dựng thỏa ước trái với quy định của BLLĐ như: lao động nữ khi được tuyển dụng vào làm việc tại công ty phải cam kết sau hai năm mới được sinh con kể từ ngày ký kết HĐLĐ, thời gian sinh con thứ nhất cách con thứ hai là hai năm hay cam kết không được lấy chồng hoặc không được sinh con trong thời hạn từ

3 đến 5 năm… Bên cạnh đó, việc tổ chức, thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện những quy định của TƯLĐTT cũng chưa được quan tâm đúng mức Trong thực tế còn không ít các doanh nghiệp mặc dù đã ký TƯLĐTT nhưng chủ doanh nghiệp vẫn không tuân thủ theo thỏa ước đã ký, thực hiện điều hành doanh nghiệp theo cách của mình, vi phạm những nội dung đã thỏa thuận Ở nhiều doanh nghiệp

có tình trạng NLĐ bị khấu trừ lương một cách tùy tiện bằng cách hạ giá thành sản phẩm, hoặc bằng những hình phạt vô lý Có những trường hợp mặc dù công ty đã xây dựng quy chế trả lương, thưởng, quy chế về chính sách lao động song hiện tượng cắt xén lương của công nhân vẫn xảy ra3

Tham gia với đơn vị sử dụng lao động xây dựng và giám sát việc thực hiện thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng,

an toàn lao động và vệ sinh lao động

Cũng như pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới, pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể mức lương NSDLĐ phải trả cho NLĐ mà chỉ quy định mức lương tối thiểu và cho phép các chủ thể tự do thỏa thuận căn cứ vào tình hình sản xuất, kinh doanh của đơn vị, cung cầu lao động cũng như sự linh hoạt của thị trường lao động Và để đảm bảo việc trả lương đó phù hợp với quy định về mức lương tối thiểu, tránh tình trạng bóc lột sức lao động thì pháp luật cho phép sự tham gia của CĐCS trong lĩnh vực tiền lương

Khi xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động NSDLĐ phải tham khảo ý kiến Ban chấp hành CĐCS (khoản 2 Điều 93 BLLĐ 2012) Quy chế

3 Nguyễn Thị Ngân (2014), Pháp luật về công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

của NLĐ tại doanh nghiệp, Hà Nội, tr 21-22

Trang 29

thưởng do NSDLĐ quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của Ban chấp hành CĐCS (khoản 2 Điều 103 BLLĐ 2012) Theo quy định tại Điều 5 Nghị định 43/2013/NĐ-CP thì CĐCS tại đơn vị sử dụng lao động

có quyền, trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến, tổng hợp ý kiến của NLĐ, tham gia bằng văn bản với NSDLĐ trong việc xây dựng, ban hành, sửa đổi, bổ sung thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng theo quy định của pháp luật về lao động, đồng thời có trách nhiệm tổ chức giám sát việc thực hiện các quy chế đó

Thực tế cho thấy tổ chức đại diện tập thể lao động đã có nhiều nỗ lực trong việc phối hợp với NSDLĐ để xây dựng hệ thống thang lương, bảng lương, quy chế thưởng,… Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn cho CĐCS trong việc thực hiện quyền, trách nhiệm này Pháp luật mới chỉ quy định NSDLĐ phải tham khảo ý kiến của CĐCS mà chưa quy định giá trị của những ý kiến tham khảo đó cũng như

cơ chế để CĐCS thực hiện quyền dẫn đến việc tham khảo còn mang tính hình thức Bên cạnh đó, pháp luật mới chỉ quy định chế tài đối với các hành vi không xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế thưởng mà chưa có chế tài nào xử phạt đối với hành vi NSDLĐ không tham khảo ý kiến công đoàn Ngoài lí

do từ quy định của pháp luật, những hạn chế trong việc thực hiện quyền, trách nhiệm của CĐCS còn xuất phát từ những lí do sau:

Về phía NSDLĐ: nhiều doanh nghiệp cho rằng việc xây dựng thang lương, bảng lương là công việc nội bộ, thuộc quyền quản lý của NSDLĐ nên không cần có

sự can thiệp của tổ chức công đoàn Nhiều doanh nghiệp chưa xem CĐCS là đối tác ngang tầm, chưa bình đẳng về vị trí khi tham gia quan hệ, do đó một số doanh nghiệp bỏ qua thủ tục lấy ý kiến công đoàn

Về phía công đoàn, cán bộ CĐCS: khi thực hiện quyền, trách nhiệm còn chưa chủ động, sáng tạo, nắm bắt tình hình kinh tế - xã hội, kinh nghiệm thực tiễn còn yếu nên chưa có những đề xuất mang tính đột phá, chưa phản ánh được tiếng nói của tập thể lao động mà mình đại diện

Trang 30

Trong công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động, CĐCS có quyền đưa ra

ý kiến đề xuất khi NSDLĐ xây dựng kế hoạch và thực hiện các hoạt động bảo đảm

an toàn lao động, vệ sinh lao động (khoản 1 Điều 138 BLLĐ 2012) Trong những năm qua, nhận thức được tầm quan trọng của công tác an toàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ và thực hiện mục tiêu không tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tại nơi làm việc, tổ chức công đoàn đã có nhiều hoạt động phong phú, đa dạng, thiết thực nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của NSDLĐ, NLĐ về công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước trong công tác chỉ đạo, hướng dẫn và thanh tra, kiểm tra công tác an toàn, vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ

Quyền, trách nhiệm tham gia trong lĩnh vực xây dựng nội quy lao động, xử

lí kỉ luật lao động, tạm đình chỉ công việc, cho thôi việc đối với NLĐ

Khác với tất cả các quan hệ hợp đồng khác, trong quan hệ lao động, NSDLĐ là người có quyền tổ chức, quản lí, điều hành lao động Quyền quản lí của NSDLĐ được thể hiện thông qua việc họ có quyền tuyển chọn, sắp xếp, bố trí, điều chuyển lao động theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh, có quyền khen thưởng, kỉ luật lao động Và cơ sở chủ yếu để NSDLĐ thực hiện quyền của mình chính là nội quy lao động Đây cũng là cơ sở để NLĐ xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của mình thông qua đó lựa chọn các hành vi xử sự cho phù hợp Ban hành nội quy lao động là quyền của NSDLĐ, thể hiện ý chí đơn phương của NSDLĐ, cho nên NSDLĐ thường có xu hướng lạm quyền, do đó pháp luật lao động quy định trước khi ban hành nội quy lao động, NSDLĐ phải tham khảo ý kiến của Ban chấp hành CĐCS (khoản 3 Điều 119 BLLĐ 2012) Việc tham gia của CĐCS vào quá trình xây dựng nội quy lao động một mặt tránh sự lạm quyền của NSDLĐ, đảm bảo cho tính hợp lí

và đúng đắn của các quy định nội bộ trong doanh nghiệp, góp phần bảo vệ quyền lợi của NLĐ, mặt khác đảm bảo tính nghiêm minh của nội quy, tính khả thi cũng như hiệu quả của quá trình quản lí lao động4

4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật lao động Việt Nam, Nxb CAND, Hà Nội, tr 176

Trang 31

Pháp luật lao động cũng quy định trong hồ sơ đăng ký nội quy lao động phải có biên bản góp ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở (Điều

121 BLLĐ 2012) Như vậy, việc CĐCS có biên bản góp ý kiến sẽ có tác dụng trong việc hoàn thiện về mặt hồ sơ hay là một trong những căn cứ để cơ quan có thẩm quyền xem xét, kết luận về tính có hiệu lực, có giá trị bắt buộc của nội quy? Bên cạnh đó, pháp luật quy định CĐCS có quyền giám sát việc thực hiện nội quy lao động nhưng cách thức giám sát, cơ chế giám sát cũng chưa được quy định cụ thể Pháp luật quy định cho tổ chức công đoàn quyền năng pháp lí nhưng lại thiếu cơ chế hoặc chưa quy định rõ để quy định đó được thực thi có hiệu quả

Về vấn đề xử lí kỉ luật lao động: Khi vi phạm các quy định trong nội quy lao động, tùy theo mức độ NLĐ có thể phải chịu một hình thức kỉ luật tương ứng, nếu gây thiệt hại về tài sản còn có thể phải bồi thường trách nhiệm vật chất Việc áp dụng hình thức kỉ luật lao động, trách nhiệm vật chất một mặt là quyền của NSDLĐ với tư cách là chủ thể quản lí, mặt khác với NLĐ nó là hậu quả bất lợi không chỉ về việc làm, thu nhập mà còn là danh dự, nhân phẩm, uy tín của NLĐ Vì vậy, pháp luật quy định khi xem xét xử lí kỉ luật lao động, trách nhiệm vật chất phải có sự tham gia của Ban chấp hành CĐCS (Điều 123, 131 BLLĐ 2012) Với sự tham gia của chủ thể này, phiên họp xử lí kỉ luật lao động, trách nhiệm vật chất sẽ diễn ra khách quan hơn, xem xét một cách toàn diện hành vi vi phạm, đưa ra hình thức xử lí kỉ luật hay mức bồi thường phù hợp với hoàn cảnh thực tế của NLĐ, qua đó vừa nâng cao hiệu quả giáo dục, răn đe nhưng vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ

Việc tạm đình chỉ công việc của NLĐ chỉ được thực hiện sau khi tham khảo

ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở (Điều 129 BLLĐ 2012) Trường hợp NSDLĐ thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế mà phải cho thôi việc đối với nhiều NLĐ thì phải trao đổi với tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở (khoản 3 Điều 44 BLLĐ 2012) Khi xây dựng phương án sử dụng lao động phải có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở (khoản 2 Điều 46 BLLĐ 2012) Như vậy, có thể thấy mức độ tham gia của CĐCS trong những trường

Trang 32

hợp này là khác nhau (đưa ra ý kiến tham vấn hay trao đổi, thỏa thuận) Pháp luật quy định như vậy vì mỗi trường hợp này có ảnh hưởng tới một hay nhiều NLĐ và mức độ ảnh hưởng là khác nhau

Trong trường hợp NSDLĐ ra quyết định đơn phương chấm dứt HĐLĐ, hợp đồng làm việc, sa thải, buộc thôi việc hoặc thuyên chuyển công tác đối với cán bộ công đoàn không chuyên trách thì phải có ý kiến thỏa thuận bằng văn bản của Ban chấp hành CĐCS Trường hợp không thỏa thuận được, hai bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Sau 30 ngày, kể từ ngày báo cáo cho cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền, đơn vị sử dụng lao động có quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình Trường hợp không nhất trí với quyết định của NSDLĐ, Ban chấp hành CĐCS và NLĐ có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo thủ tục, trình tự do pháp luật quy định (Điều 192 BLLĐ 2012, Điều 25 Luật công đoàn 2012) Trường hợp NLĐ là cán bộ công đoàn không chuyên trách

bị cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chấm dứt HĐLĐ, hợp đồng làm việc, buộc thôi việc hoặc sa thải trái pháp luật thì Công đoàn có trách nhiệm yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp; nếu được ủy quyền thì Công đoàn đại diện khởi kiện tại Toà án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho cán bộ công đoàn; đồng thời hỗ trợ tìm việc làm mới và trợ cấp trong thời gian gián đoạn việc làm theo quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

Tuy nhiên, trên thực tế cán bộ công đoàn thực hiện chức năng đại diện chủ yếu là người làm công tác kiêm nhiệm, chưa được đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ một cách bài bản Cho nên, để phản ánh được ý chí trong quá trình xây dựng và ban hành nội quy là việc làm không hề đơn giản Về vấn đề tham khảo ý kiến công đoàn cơ sở khi sa thải, cho thôi việc đối với NLĐ, thời gian qua cho thấy, cán bộ CĐCS đã tham gia các phiên họp xử lí kỉ luật lao động, cho thôi việc do NSDLĐ tổ chức Tuy nhiên, công đoàn cơ sở vẫn chưa thực sự phát huy được vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ tại doanh nghiệp, do năng lực cán bộ công đoàn còn hạn chế, không nắm được tình hình của NLĐ tại doanh

Trang 33

nghiệp, vì vậy có khi phiên họp xử lí kỉ luật diễn ra trái luật do không có sự tham gia của Ban chấp hành CĐCS nhưng cán bộ công đoàn vẫn không hề hay biết cho đến khi NLĐ khởi kiện tại Tòa án5

sẻ thông tin, tăng cường sự hiểu biết giữa NSDLĐ và NLĐ để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ Quá trình này đòi hỏi sự năng động của các bên nhằm giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh hàng ngày trong quan hệ lao động Những vấn đề đó có thể là thắc mắc, kiến nghị của NLĐ về mức lương, cách ứng

xử, điều kiện, môi trường làm việc, thời gian làm thêm giờ, tiền ăn ca, các khoản phụ cấp,… cần được NSDLĐ giải đáp, hướng dẫn thực hiện, xem xét các kiến nghị

để điều chỉnh cho phù hợp Nếu không có đối thoại, hai bên sẽ không thể trao đổi và hiểu nhau từ đó khiến cho mâu thuẫn, xung đột nảy sinh dẫn đến tranh chấp lao động, thậm chí là đình công, không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của NSDLĐ mà còn ảnh hưởng đến đời sống, lợi ích, thu nhập, quan hệ công tác của chính NLĐ Do đó, đối thoại tại nơi làm việc sẽ giúp lãnh đạo doanh nghiệp hiểu những quan điểm, tâm tư, nguyện vọng của NLĐ, từ đó xây dựng, điều chỉnh chính sách phù hợp hơn Đây chính là giải pháp tốt nhất nhằm tháo gỡ vướng mắc, ngăn ngừa những xung đột trong quan hệ lao động ngay từ khi chúng mới phát sinh, tạo môi trường lao động hài hòa, ổn định, tin tưởng lẫn nhau, NLĐ yên tâm làm việc đảm bảo thu nhập và đời sống

Trong việc đối thoại với đơn vị sử dụng lao động, CĐCS có quyền, trách nhiệm sau: Thu thập thông tin, tập hợp kiến nghị, đề xuất nội dung có liên quan đến

5 Nguyễn Thị Tú (2015), Pháp luật về đại diện lao động ở Việt Nam, Hà Nội, Tr 39

Trang 34

lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ; yêu cầu NSDLĐ tổ chức đối thoại tại nơi làm việc theo quy định của pháp luật về lao động; tiến hành đối thoại định kỳ hoặc đột xuất với NSDLĐ; phối hợp cùng NSDLĐ tổ chức Hội nghị NLĐ, Hội nghị cán

bộ công chức theo quy định của pháp luật; giám sát việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị NLĐ, Nghị quyết Hội nghị cán bộ công chức, các thỏa thuận đạt được qua đối thoại tại nơi làm việc và quy chế dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật (Điều

6 Nghị định 43/2013/NĐ-CP)

Đại diện cho tập thể lao động hoặc NLĐ khởi kiện tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể lao động hoặc NLĐ bị xâm phạm, đại diện cho tập thể lao động tham gia tố tụng trong vụ án lao động, hành chính, phá sản doanh nghiệp

Khi tranh chấp lao động phát sinh, CĐCS có quyền, trách nhiệm tham gia với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động Theo quy định tại khoản 5 Điều 194 BLLĐ 2012 thì thương lượng là nguyên tắc và cũng

là một phương thức giải quyết tranh chấp lao động Điều 9 Nghị định

43/2013/NĐ-CP cũng quy định CĐCS tiến hành thương lượng với NSDLĐ khi quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể lao động bị xâm phạm Trong quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ, một trong những nguyên tắc cơ bản để giải quyết các vấn đề nảy sinh giữa họ là nguyên tắc tự định đoạt Khi mới phát sinh tranh chấp, các bên thường chưa tìm đến người thứ ba hoặc cơ quan tài phán mà thường tìm cách tự giải quyết, theo đó, CĐCS sẽ gặp gỡ NLĐ và NSDLĐ để tìm hiểu vụ việc, tư vấn, giải thích để hai bên thương lượng và CĐCS sẽ đóng vai trò đại diện cho tập thể lao động hay NLĐ để thương lượng với bên NSDLĐ Việc tự dàn xếp, thương lượng giữa các bên là cách thức đơn giản nhất để thu hẹp khoảng cách giữa các bên, họ có cơ hội trao đổi, hiểu nhau hơn qua đó sẽ giúp giải quyết tranh chấp một cách hài hòa, tạo ra khả năng duy trì quan hệ lao động sau tranh chấp Hơn nữa, biện pháp này còn giúp các bên tranh chấp tiết kiệm được chi phí, thời gian, tránh nguy cơ bị tổn hại về danh dự, uy tín và bảo toàn được bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ Chính vì vậy việc trực

Trang 35

tiếp thương lượng là bước đầu tiên và được các bên ưu tiên sử dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp

Kiến nghị với tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể lao động hoặc của NLĐ bị xâm phạm (Điều 8, 9 Nghị định 43/2013/NĐ-CP) Khi quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ bị xâm phạm và được NLĐ ủy quyền, CĐCS sẽ đại diện cho NLĐ để kiến nghị, yêu cầu Hòa giải viên lao động hòa giải tranh chấp lao động cá nhân CĐCS cũng có quyền, trách nhiệm trong việc yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền; yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích; kiến nghị Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, nơi đơn vị sử dụng lao động đóng trụ sở chính (ở những đơn vị không được đình công) khi quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể lao động bị xâm phạm

Đặc biệt, theo quy định tại khoản 8 Điều 10 Luật công đoàn 2012 và Điều

10 Nghị định 43/2013/NĐ-CP thì CĐCS có quyền, trách nhiệm đại diện cho tập thể lao động khởi kiện tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể lao động bị xâm phạm; đại diện cho NLĐ khởi kiện ra Tòa án nếu được NLĐ ủy quyền để giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo quy định của pháp luật Trong những trường hợp này, tập thể lao động (hay NLĐ) tham gia tố tụng với tư cách nguyên đơn, Ban chấp hành CĐCS là người đại diện của nguyên đơn (khoản 2 Điều

68 BLTTDS 2015)

Không chỉ dừng lại ở việc khởi kiện, CĐCS còn đại diện cho tập thể lao động hay NLĐ (khi được NLĐ ủy quyền) để tham gia tố tụng trong vụ án lao động, hành chính, phá sản doanh nghiệp Khoản 2 Điều 5 Luật phá sản 2014 quy định CĐCS có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với NLĐ mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán

Ban chấp hành CĐCS còn thực hiện hoặc giúp NLĐ thực hiện quyền kháng cáo (hoặc rút đơn kháng cáo) đối với bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án của

Trang 36

Tòa án cấp sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm; Giám sát việc bảo đảm thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mỗi bên theo quyết định hoặc bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án

Trong quá trình tham gia giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, Ban chấp hành CĐCS cần duy trì mối quan hệ với Công đoàn cấp trên cơ sở để được chỉ đạo, giúp đỡ và cung cấp cho đại diện công đoàn là thành viên Hội đồng trọng tài lao động những tư liệu, chứng cứ cần thiết giúp việc giải quyết tranh chấp lao động được nhanh chóng, đúng pháp luật Sau mỗi vụ việc, Ban chấp hành CĐCS cần tổ chức các hình thức trao đổi thông tin, rút kinh nghiệm, đánh giá kết quả đạt được để tìm ra những biện pháp phòng ngừa tranh chấp6

Quyền, trách nhiệm của công đoàn trong tổ chức, lãnh đạo đình công

Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động

Điều 210 BLLĐ 2012 quy định về tổ chức và lãnh đạo đình công theo đó pháp luật chỉ trao thẩm quyền tổ chức và lãnh đạo đình công duy nhất thuộc về tổ chức công đoàn Đối với nơi có CĐCS thì đình công do Ban chấp hành CĐCS tổ chức và lãnh đạo Ở nơi chưa có CĐCS thì đình công do tổ chức công đoàn cấp trên

tổ chức và lãnh đạo theo đề nghị của NLĐ Việc pháp luật chỉ trao cho công đoàn được quyền tổ chức và lãnh đạo đình công nhằm tạo ra tính thống nhất giữa các quy định trong BLLĐ với Luật công đoàn Công đoàn là tổ chức duy nhất được thực hiện chức năng đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ xuyên suốt các chế định của luật lao động Tuy nhiên, quy định này cũng chưa thực sự rõ ràng và thống nhất khi quy định tại nơi chưa có CĐCS thì việc đình công sẽ do tổ chức công đoàn cấp trên lãnh đạo Tổ chức công đoàn cấp trên ở đây được hiểu là tổ chức công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở hay Liên đoàn lao động cấp tỉnh hay cả hai chủ thể này Trong khi đó, tại khoản 4 Điều 3 BLLĐ 2012 quy định tổ chức đại diện tập thể lao động

6 Văn bản số 1861/HD-TLĐ ngày 09/12/2013 của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam hướng dẫn thực hiện quyền, trách nhiệm của Công đoàn trong tham gia giải quyết tranh chấp lao động, đình công

Trang 37

tại cơ sở ở nơi chưa thành lập CĐCS là Ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp

cơ sở

Trong việc chuẩn bị đình công, CĐCS có quyền, trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến tập thể lao động bằng phiếu hoặc bằng chữ kí Khi có trên 50% số người được lấy ý kiến đồng ý với phương án của Ban chấp hành công đoàn đưa ra thì Ban chấp hành công đoàn ra quyết định đình công bằng văn bản và gửi quyết định đó cho NSDLĐ, cơ quan quản lí nhà nước về lao động cấp tỉnh, công đoàn cấp tỉnh Đến thời điểm bắt đầu đình công, nếu NSDLĐ không chấp nhận giải quyết yêu cầu của tập thể lao động thì Ban chấp hành công đoàn tổ chức và lãnh đạo đình công (Điều

212, 213 BLLĐ 2012)

Có thể thấy rằng thủ tục chuẩn bị đình công được pháp luật quy định một cách cụ thể, rõ ràng, không chỉ có ý nghĩa định hướng hành vi của NLĐ khi sử dụng quyền đình công, mà còn góp phần hạn chế tình trạng đình công tràn lan, vô tổ chức, gây ra những hậu quả tiêu cực cho sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội Điều này cũng chứng tỏ rằng đình công được Nhà nước ta xem xét là biện phạm cuối cùng của tập thể lao động khi việc giải quyết tranh chấp lao động bằng phương thức hòa giải và trọng tài bất thành Tuy nhiên, trái ngược với mục tiêu đặt ra, thực tế cho thấy không những không hạn chế được các cuộc đình công xảy ra, mà còn khiến cho 100% các cuộc đình công đều trở thành bất hợp pháp do NLĐ, tập thể lao động tiến hành đình công một cách tự phát, không tuân theo các thủ tục, điều kiện

mà pháp luật quy định

Trước và trong quá trình đình công, tổ chức công đoàn có quyền và trách nhiệm tham gia thương lượng để giải quyết nội dung tranh chấp lao động tập thể hoặc cùng đề nghị cơ quan quản lý nhà nước về lao động, tổ chức công đoàn và tổ chức đại diện NSDLĐ ở cấp tỉnh tiến hành hoà giải Tổ chức lấy ý kiến của tập thể lao động về phương án mới giải quyết tranh chấp lao động do NSDLĐ đưa ra Thực hiện quyết định hoãn hoặc ngừng đình công do Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành trong trường hợp xét thấy cuộc đình công có nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng cho

Trang 38

nền kinh tế quốc dân, lợi ích công cộng, đồng thời thực hiện quyền khiếu nại đối với quyết định ấy Có quyền quyết định đình công trong cả doanh nghiệp hay bộ phận doanh nghiệp; thay đổi quyết định đình công, hoặc rút quyết định đình công nếu chưa đình công7

Trong quá trình đình công hoặc trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt đình công, Ban chấp hành CĐCS còn có quyền yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công Việc quy định công đoàn tham gia vào việc giải quyết đình công tại Tòa án nhân dân là rất cần thiết, tạo điều kiện, cơ chế thuận lợi cho việc giải quyết vụ việc được khách quan, chính xác và đảm bảo một cách hợp lí quyền lợi của NLĐ cũng như thực hiện chức năng trung tâm của công đoàn Tuy nhiên, thực tế cho thấy mặc dù cho đến thời điểm hiện tại đã có hàng ngàn vụ đình công nhưng không có cuộc đình công nào mà Ban chấp hành CĐCS nộp đơn yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của cuộc đình công Chủ yếu đình công được giải quyết thông qua các phương thức thương lượng, hòa giải cùng với sự can thiệp của

cơ quan chức năng, do đó, vai trò của CĐCS trong việc tham gia tố tụng tại Tòa án còn mờ nhạt, chưa thực hiện tốt chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ

Lý giải vấn đề này, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nguyên nhân chủ yếu do thủ tục giải quyết đình công tại Tòa án quá phức tạp, kéo dài, dễ gây tâm lý e ngại cho các chủ thể có quyền yêu cầu giải quyết đình công, kể cả NSDLĐ Bên cạnh đó là do sự yếu kém trong tổ chức, hoạt động của công đoàn Cán bộ công đoàn hầu hết là không chuyên trách, đều là những người làm công hưởng lương của NSDLĐ, chịu

sự phụ thuộc nên không dám thẳng thắn trao đổi với NSDLĐ Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc NLĐ chưa thực sự đặt hết niềm tin vào tổ chức công đoàn để nhờ họ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi tranh chấp phải ra Tòa án giải quyết

Bên cạnh đó, CĐCS còn có quyền, trách nhiệm trong việc bồi thường cho NSDLĐ trong trường hợp cuộc đình công là bất hợp pháp gây thiệt hại; kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ của NSDLĐ theo quyết định của cơ quan hữu quan

7 Nguyễn Thị Hằng (2016), Vai trò của công đoàn cơ sở trong đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam,

Hà Nội, Tr.38

Trang 39

để đảm bảo quyền lợi của tập thể lao động; phòng ngừa những hành vi trù dập của NSDLĐ đối với cán bộ công đoàn tổ chức, lãnh đạo đình công và những NLĐ tham gia đình công

2.1.2 Địa vị pháp lý công đoàn cơ sở trong việc tham gia quản lí cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị và tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp

Quyền tham gia quản lí cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp là một loại quyền đóng vai trò quan trọng của CĐCS

Đối với quyền tham gia quản lí cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị, pháp luật quy định CĐCS có quyền tham gia với NSDLĐ trong việc xây dựng chính sách pháp luật, tuyên truyền, vận động, giáo dục NLĐ thực hiện chính sách pháp luật, thực hiện TƯLĐTT; tham gia thực hiện ứng dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật bảo hộ lao động; tham gia xây dựng các tiêu chuẩn, quy phạm an toàn, vệ sinh lao động, phòng ngừa bệnh nghề nghiệp, vệ sinh công nghiệp, bảo vệ môi trường tại nơi làm việc; tham gia giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo của NLĐ; tham gia cải thiện điều kiện làm việc; xây dựng quan hệ lao động hài hòa trong doanh nghiệp; tham gia các hội đồng xét và giải quyết các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ; phối hợp tổ chức các phong trào thi đua và thực hiện quy chế dân chủ trong doanh nghiệp (Điều 9, Điều 10 Nghị định 200/2013/NĐ-CP quy định chi tiết Điều 11 Luật công đoàn về quyền, trách nhiệm của công đoàn trong việc tham gia quản lí nhà nước, quản lí kinh tế - xã hội) Tuy nhiên, thực tế chưa hình thành được cơ chế phối hợp hiệu quả giữa CĐCS với doanh nghiệp trong hoạt động quản

lí Pháp luật cũng chưa quy định cụ thể chế tài đảm bảo thực thi trong lĩnh vực này Chính vì vậy, thực tế đã chứng minh loại quyền này còn mang tính hình thức, có tính chất là loại "quyền chính trị" hơn là loại "quyền pháp lí"

Về quyền của CĐCS tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của

cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Đây là một trong những quyền thể hiện chức năng

Trang 40

tham gia vào hoạt động quản lí nhà nước của CĐCS CĐCS tham gia, phối hợp với các chủ thể có thẩm quyền như: cơ quan quản lí nhà nước về lao động, bảo hiểm xã hội,… tiến hành thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách, pháp luật về lao động, công đoàn, cán bộ, công chức, viên chức, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và chế độ, chính sách, pháp luật khác có liên quan đến quyền, nghĩa

vụ của NLĐ; điều tra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Ví dụ như sau khi đại diện cho tập thể lao động thương lượng và kí kết TƯLĐTT doanh nghiệp, CĐCS còn tiến hành giám sát việc thực hiện thỏa ước đó, yêu cầu NSDLĐ thực hiện đúng thỏa ước Trong trường hợp NSDLĐ thực hiện không đầy đủ hoặc vi phạm thỏa ước, CĐCS có quyền, trách nhiệm yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, CĐCS không chỉ tham gia vào giai đoạn thương lượng, ký kết TƯLĐTT mà còn thực hiện việc giám sát thỏa ước sau khi thỏa ước đã phát sinh hiệu lực, tạo điều kiện để CĐCS thực hiện chức năng cơ bản nhất là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ

Khi tham gia, phối hợp thanh tra, kiểm tra, giám sát, Công đoàn có quyền: yêu cầu cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp thông tin, tài liệu và giải trình những vấn đề có liên quan; kiến nghị biện pháp sửa chữa thiếu sót, ngăn ngừa vi phạm, khắc phục hậu quả và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; trường hợp phát hiện nơi làm việc có yếu tố ảnh hưởng hoặc nguy hiểm đến sức khoẻ, tính mạng NLĐ, CĐCS có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có trách nhiệm thực hiện ngay biện pháp khắc phục, bảo đảm an toàn lao động, kể cả trường hợp phải tạm ngừng hoạt động (Điều 14 Luật công đoàn 2012)

Các CĐCS đã có nhiều nỗ lực trong kiểm tra việc chấp hành các quy định liên quan đến hợp đồng lao động, TƯLĐTT, nội quy lao động, tiền lương, tiền thưởng, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,… phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật, đề xuất các biện pháp xử lí kịp thời Tuy nhiên, trên thực tế có thể thấy điều kiện lao động của NLĐ ở nhiều nơi vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, tình trạng công nghệ, thiết bị lạc hậu, lao động nặng nhọc, độc hại vẫn chiếm tỉ lệ cao, NLĐ

Ngày đăng: 12/03/2019, 22:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w