BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI --- TRỊNH HUỲNH QUÂN TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI VỢ CHỒNG LY HÔN TỪ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI TÒA ÁN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI -
TRỊNH HUỲNH QUÂN
TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI VỢ CHỒNG LY HÔN TỪ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI -
TRỊNH HUỲNH QUÂN
TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI VỢ CHỒNG LY HÔN TỪ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hữu Nghị
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình nào Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả Luận văn
Trịnh Huỳnh Quân
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
1 BLDS: Bộ luật dân sự
2 GCN QSDĐ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
3 HN&GĐ: Hôn nhân và gia đình
4 QSDĐ: Quyền sử dụng đất
5 TAND: Toà án nhân dân
6 UBND: Uỷ ban nhân dân
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHIA TÀI SẢN LÀ QUYỂN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 6
1.1 Những vấn đề lý luận chung về tranh chấp chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn 6 1.1.1 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng trong hôn nhân 6 1.1.2 Khái niệm tài sản chung là quyền sử dụng đất của vợ chồng trong hôn nhân 9 1.1.3 h i niệm tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng
ly hôn 11 1.1.4 Phân loại tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn 13 1.1.5 Nguyên nhân và hậu quả của tranh chấp về quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn 15 1.2 Những vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý về giải quyết tranh chấp chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn tại Tòa án 16 1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất của
vợ chồng khi ly hôn thông qua hoạt động xét xử của Tòa án 16 1.2.2 C c nguyên t c giải quyết tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn 17 1.2.3 Cơ sở pháp lý của giải quyết tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn tại Tòa án 23 1.3 C c điều kiện và yếu tố đảm bảo hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án 27 1.3.1 Sự thỏa thuận của c c đương sự trong quá trình giải quyết vụ án 27 1.3.2 Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp hoặc do Tòa án thu thập 28 1.3.3 Hiệu quả của việc áp dụng c c quy định pháp luật vào giải quyết tranh chấp 29 Tiểu kết chương 1: 30
Trang 6Chương 2.THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHIA TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI VỢ CHỒNG LY HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN
DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 31
2.1 Tổng quan tình hình giải quyết tranh chấp chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn – thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Đông Anh , thành phố Hà Nội giai đoạn 2013 – 2016 31
2.2 Thực tiễn giải tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Đông Anh 33
2.2.1 Thực tiễn giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất tạo lập trước thời kỳ hôn nhân nhưng là tài sản chung của vợ chồng 33
2.2.2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất tạo lập trong thời kỳ hôn nhân nhưng chỉ đứng tên một người hoặc vợ hoặc chồng 38
2.2.3 Thực tiễn giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất là tài sản cùng tạo lập chung với cha mẹ, anh em con cái hoặc vợ, hoặc chồng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp mang tên hộ gia đình 44
2.2.4 Thực tiễn giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản trên đất không cùng chủ sở hữu và sử dụng hợp pháp của vợ chồng trong hôn nhân 47
2.2.5 Thực tiễn giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất mà trước thời kỳ hôn nhân đã là tài sản riêng của người chồng, hoặc của bố mẹ chồng, sau khi kết hôn, quyền sử dụng đất đó được mở rộng diện tích do vợ chồng khai hoang, khẩn hóa hoặc lấn chiếm nhưng không thuộc diện bị Nhà nước thu hồi 48
2.2.6 Thực tiễn giải quyết tranh chấp tài sản vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp người chồng có quan hệ cùng một lúc với hai người phụ nữ, trong đó, người phụ nữ có đăng ký kết hôn, một người không có đăng ký kết hôn song người chồng chủ yếu ở với người không có đăng ký kết hôn, tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở cũng được tạo lập với người phụ nữ không có đăng ký 51
2.2.7 Thực tiễn phân chia tài sản là quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn 52
2.3 Một số hạn chế, vướng m c phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn và nguyên nhân 54
2.3.1 Một số hạn chế, vướng m c 56
2.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế, vướng m c 58
Tiểu kết chương 2: 61
Trang 7Chương 3 CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI VỢ CHỒNG LY HÔN 62
3.1 Các yêu cầu đặt ra cần phải hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất
khi vợ chồng ly hôn 62
3.2 Hoàn thiện c c quy định của pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn trên
địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 65
3.2.1 Hoàn thiện c c quy định của ph p luật bao gồm Luật đất đai, Luật Hôn nhân
và Gia đình, c c luật kh c có liên quan 65
3.2.2 Nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly
hôn trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 71 Tiểu kết chương 3: 73
KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển, nhận thức của con người càng được nâng cao, song không vì thế mà giữa người với người có sự sẻ chia, giúp đỡ nhau nhiều hơn, ngược lại cái tôi cá nhân của mỗi người ngày càng lớn, sự quan tâm, giúp đỡ nhau ngày càng giảm, dẫn đến tình cảm đời sống gia đình mờ nhạt, thậm chí có những mâu thuẫn không thể giải quyết được, là nguyên dân dẫn đến cuộc sống hôn nhân tan vỡ
Có thể nói, trong xã hội hiện đại, ly hôn không còn là hiện tượng hiếm gặp
mà diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là đối với các cặp vợ chồng trẻ Khi cuộc sống gia đình mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm thì ly hôn được xem là sự lựa chọn tốt nhất để giải thoát cho cả hai Tuy nhiên, ở một khía cạnh nào đó, ly hôn vẫn có những măt tr i đó là sự ảnh hưởng đến tâm lý con cái của chính các cặp vợ chồng khi ly hôn Do vậy, ly hôn không chỉ là vấn đề riêng của mỗi gia đình mà là vấn đề cần quan tâm của cả xã hội
Dưới góc độ pháp lý, ly hôn là một chế định được ghi nhận trong Luật HN&GĐ, là cơ sở ph p lý cho Toà n và c c đương sự áp dụng để giải quyết vấn đề
ly hôn một cách thấu tình đạt lý, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của cả vợ
và chồng khi ly hôn Ly hôn không đơn thuần là chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa
vợ và chồng mà kéo theo đó, Toà n phải xem xét, giải quyết các vấn đề về con cái, chia tài sản, các khoản nợ với bên thứ ba của vợ chồng Đặc biệt là đối với vấn đề chia tài sản của vợ chồng trong đó có vấn đề chia tài sản là QSDĐ của vợ chồng khi
ly hôn Đây là một vấn đề khá phức tạp, đòi hỏi Toà án phải bằng mọi biện pháp tố tụng, xác minh, làm rõ nguồn gốc QSDĐ để có căn cứ chia tài sản cho vợ chồng
QSDĐ với tư c ch là quyền tài sản, được phép tham gia giao dịch dân sự, từ
đó làm ph t sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan Các chế định liên quan đến QSDĐ không chỉ được quy định tại Luật đất đai năm 2013, Bộ luật dân sự năm 2015 mà còn được quy định khá chi tiết và cụ thể trong Luật HN&GĐ năm
2014 Do QSDĐ là một loại tài sản có giá trị lớn và thường là tài sản có ý nghĩa nhất trong khối tài sản chung của vợ chồng nên việc tranh chấp về tài sản là QSDĐ khi ly hôn của vợ chồng là một vấn đề khó tránh khỏi Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào về giải quyết tranh chấp về QSDĐ của vợ chồng khi ly hôn? Quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ khi vợ
Trang 9chồng ly hôn tại Tòa n đã và đang gặp những khó khăn và trở ngại gì? Hệ quả của việc giải quyết không triệt để, chưa thấu tình đạt lý những án ly hôn có tranh chấp tài sản chung của vợ chồng là QSDĐ nguyên nhân do đâu? Cần phải có giải pháp hữu hiệu gì để giải quyết vấn đề này trong thời gian tới? là những vấn đề cần phải được đặt ra nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan
hệ, lợi ích chung của cộng đồng và đảm bảo trật tự an toàn xã hội
Để giải quyết những vấn đề trên, tôi đã lựa chọn chủ đề: „Tranh chấp về chia
tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn từ thực tiễn giải quyết tại Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ luật học của
mình
2 Tình hình nghiên cứu
Chủ đề „Tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly
hôn” đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu (bao gồm: Luận án
tiến sỹ, Luận văn thạc sỹ, sách, báo về vấn đề ly hôn) như: Nguyễn Văn Cừ “Chế
độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ Việt Nam” - Luận án Tiến sỹ luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2005; Bài viết“Chia tài sản chung của vợ chồng
khi hôn nhân đang tồn tại” của tác giả Nguyễn Văn Cừ, Tạp chí TAND xuất bản năm
2000; Bài viết “Quyền sở hữu của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 2000” của tác giả Nguyễn Văn Cừ, Tạp chí Luật học xuất bản năm 2002; Bài viết “Trách nhiệm liên
đới của vợ chồng đối với giao dịch dân sự”, tác giả Bùi Thuỷ Nguyên - Tạp chí
TAND xuất bản năm 2000; Bài viết: “Bảo đảm quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất
đai trong các Luật đất đai Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Nga - Hội thảo
nghiên cứu khoa học cấp Trường: “Bảo đảm quyền và thúc đẩy sự tham gia của phụ
nữ trong xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật” , Trường Đại học Luật Hà Nội,
10/2016 Bài viết: "Quyền của phụ nữ theo pháp luật đất đai hiện hành" của tác giả
Nguyễn Thị Nga và Lê Thị Ngọc Mai, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 4/2017; Nguyễn Thị Vĩnh - Luận văn thạc sỹ, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2007
– “Giải quyết tranh chấp về QSDĐ của vợ chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ
năm 2000”; Lê Thị Tuyết Chinh - Luận văn thạc sỹ, Khoa luật Đại học Quốc gia
Hà Nội năm 2014 – „Pháp luật về giải quyết tranh chấp QSDĐ khi vợ chồng ly hôn
ở Việt Nam”
Những công trình trên tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau về quyền tài sản nói chung và QSDĐ của vợ và chồng, quyền của người phụ nữ trong lĩnh vực đất
Trang 10đai, cũng như giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất của vợ và chồng Các công trình, bài viết nêu trên mang ý nghĩa sâu s c và có tính kế thừa cao cho những công trình nghiên cứu về sau Kế thừa và phát huy những quan điểm pháp lý trong
các công trình nghiên cứu nêu trên, Luận văn “Tranh chấp về chia tài sản là quyền
sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn từ thực tiễn giải quyết tại Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội” mang lại cái nhìn chi tiết hơn, sâu s c hơn từ thực
tiễn giải quyết tranh chấp QSDĐ khi ly hôn tại một Toà án cụ thể
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm s ng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tranh chấp chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn tại Toà án
Trên cơ sở phân tích c c quy định của Luật đất đai năm 2013, Luật HN&GĐ năm 2014, Bộ luật dân sự năm 2015 cùng c c văn bản pháp luật có liên quan để tìm hiểu những quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp QSDĐ khi ly hôn của
vợ chồng Đồng thời, từ thực tiễn giải quyết tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ khi
vợ chồng ly hôn tại TAND huyện Đông Anh để đưa ra những vướng m c, bất cập của các quy định pháp luật trong quá trình áp dụng giải quyết tranh chấp, từ đó kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện c c quy định của pháp luật về vấn đề này
- Nhiêm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, nghiên cứu và chỉ ra những vấn đề lý luận về tranh chấp và giải
quyết tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ của vợ chồng khi ly hôn;
Thứ hai, phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp chia tài sản là QSDĐ khi
vợ chồng ly hôn tại Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội;
Thứ ba, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp
về chia tài sản là QSDĐ khi vợ chồng ly hôn
4 Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
Thứ nhất, đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài “Tranh chấp về chia tài sản là quyền sử
dụng đất khi vợ chồng ly hôn từ thực tiễn giải quyết tại Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội” là:
- Những quy định của pháp luật về tài sản chung của vợ chồng;
- Vấn đề tài sản là QSDĐ của vợ chồng;
- Vấn đề giải quyết tranh chấp về QSDĐ của vợ chồng khi ly hôn
Trang 11Tìm hiểu nguyên nhân của những tranh chấp về QSDĐ của vợ chồng khi ly hôn thông qua thực tiễn xét xử tại Toà án nhân dân huyện Đông Anh, từ đó đưa ra một số giải pháp kh c phục cũng như phương hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề này ở nước ta hiện nay
Thứ hai, phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu xoay quanh c c quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề tranh chấp về QSDĐ của vợ chồng khi ly hôn, bao gồm: các chế định về tài sản chung hợp nhất, tài sản theo phần, tài sản có thể phân chia, tài sản không thể phân chia quy định trong Bộ luật Dân sự; c c quy định về quyền
sử dụng đất của vợ chồng quy định trong Luật Đất đai, Luật Hôn nhân và Gia đình
và c c quy định tố tụng có liên quan đến giải quyết tranh chấp tại Tòa án Thông qua thực tiễn xét xử tại Toà án nhân dân huyện Đông Anh để đưa ra những nhận xét, đ nh gi về thực tiễn áp dụng c c quy định pháp luật vào giải quyết tranh chấp, đồng thời kiến nghị hoàn thiện c c quy định của pháp luật
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài chủ yếu sử dụng phương ph p nghiên cứu sau:
- Phương ph p luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa M c - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam Theo đó, t c giả đặt các vấn đề tranh chấp quyền sử dụng đất khi ly hôn của vợ chồng trong mối liên hệ tương quan với nhau, không nghiên cứu một cách riêng lẻ đồng thời có sự so sánh với c c quy định đã hết hiệu lực cũng như s p được áp dụng
- Phương ph p phân tích, phương ph p diễn giải: Những phương pháp này
được sử dụng phổ biến trong việc làm rõ c c quy định của pháp luật về ly hôn và tranh chấp quyền sử dụng đất khi ly hôn của vợ chồng
- Phương ph p đ nh gi , phương ph p so s nh: Những phương ph p này được tác giả vận dụng để đưa ra ý kiến nhận xét quy định của pháp luật hiện hành
có hợp lý hay không, đồng thời nhìn nhận trong mối tương quan so với quy định liên quan hoặc pháp luật của c c nước kh c…
- Phương ph p mô tả: Được sử dụng chủ yếu nhằm mô tả c c quy định của pháp luật và các vụ việc liên quan Qua đó, luận văn tạo ra bức tranh chân thực của
hiện tại Phương ph p mô tả theo hai hướng sao lại và phản ánh
Trang 12- Phương ph p quy nạp, phương ph p diễn dịch: Được vận dụng để triển khai
có hiệu quả các vấn đề liên quan đến nội dung tranh chấp quyền sử dụng đất khi ly hôn của vợ chồng, đặc biệt là các kiến nghị hoàn thiện Cụ thể như trên cở sở đưa ra những kiến nghị mang tính khái quát, súc tích tác giả dùng phương ph p diễn dịch
để làm rõ nội dung của kiến nghị đó…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận:
Luận văn đi vào phân tích, làm s ng tỏ c c căn cứ ph p lý liên quan đến việc giải quyết tranh chấp QSDĐ khi vợ chồng ly hôn tại Việt Nam Qua đó, thấy được những nguyên nhân khách quan, chủ quan dẫn đến tranh chấp, từ đó đưa ra những biện ph p ngăn chặn và phương ph p giải quyết khi tranh chấp xảy ra Luận văn cũng tập trung làm rõ những rào cản, những khó khăn vướng m c của c c quy định pháp luật liên quan đến vấn đề tranh chấp và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật, đ p ứng yêu cầu của công cuộc cải c ch tư ph p cũng như đ p ứng nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại
- Ý nghĩa thực tiễn:
Thông qua việc giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất khi vợ chồng
ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, luận văn đem đến cho người đọc cái nhìn thực tiễn về quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp trong từng vụ án cụ thể Đồng thời, Luận văn cũng đưa ra những đ nh gi , nhận xét về thực tiễn áp dụng c c quy định của pháp luật vào quá trình giải quyết tranh chấp, từ đó ph t hiện những khó khăn, vướng m c, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện c c quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai khi vợ chồng ly hôn
7 Cơ cấu luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý về tranh chấp và giải quyết tranh chấp chia tài sản là quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn;
Chương 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn tại Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội;
Chương 3: C c yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TRANH CHẤP
VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHIA TÀI SẢN LÀ QUYỂN SỬ
DỤNG ĐẤT CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 1.1 Những vấn đề lý luận chung về tranh chấp chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn
Để nghiên cứu vấn đề tranh chấp chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn tác giả dựa trên cơ sở nghiên cứu c c căn cứ xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp của vợ và chồng; tương tự, nghiên cứu cơ sở, căn cứ để x c định tài sản trên đất là nhà ở, vật kiến trúc và tài sản g n liền với đất là tài sản chung của vợ
và chồng theo quy định của Luật Đất đai Những sự kiện kết hôn, ly hôn được quy định trong Luật HN&GĐ là sự kiện ph p lý để x c định thời điểm phát sinh hay chấm dứt quyền tài sản chung của vợ chồng đối với QSDĐ C c quy định về sở hữu chung hợp nhất, sở hữu theo phần, tài sản có thể phân chia, tài sản không thể phân chia quy định trong Bộ luật Dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc xử lý tài sản khi chia cho vợ và chồng khi ly hôn
1.1.1 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng trong hôn nhân
Để gia đình có thể tồn tại và phát triển, cần phải có c c điều kiện vật chất thiết yếu – cơ sở kinh tế nuôi sống gia đình Ph p luật Việt Nam nói chung, pháp luật HN&GĐ nói riêng qua c c thời kỳ luôn chú trọng đến việc xây dựng chế độ tài sản của vợ chồng như một chế định cơ bản, quan trọng nhất của hệ thống pháp luật
về HN&GĐ ể từ khi nam, nữ kết hôn trở thành vợ chồng họ cùng nhau chung sống, cùng nhau gánh vác công việc gia đình, cùng nhau tạo dựng tài sản chung, cuộc sống của vợ chồng hòa nhập làm một, hầu như không có sự phân biệt tài sản nào là của vợ, tài sản nào là của chồng Để thỏa mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần của đời sống gia đình, vợ chồng cùng nhau thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, phát triển sự nghiệp, gây dựng nền tảng kinh tế phục vụ đời sống chung
Kế thừa và phát triển quy định của Luật HN&GĐ năm 1986 về tài sản chung và quyền của vợ chồng đối với tài sản chung (Điều 14, 15); Luật HN&GĐ năm 2000 về tài sản chung của vợ chồng (Điều 27); Luật HN&GĐ năm 2014 đã dự liệu về căn cứ, nguồn gốc và thành phần các loại tài sản trong khối tài sản chung của vợ chồng, cụ thể Điều 33:
Trang 14“1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập
do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
QSDĐ mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng
2 Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng
3 Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”
Từ quy định này có thể thấy, ngoài việc dự liệu căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, tại khoản 3, Điều 33 Nhà làm luật còn đưa ra nguyên t c suy đo n để x c định đối với những tài sản mà vợ chồng có tranh chấp nhưng c c bên không đưa ra được căn cứ chứng minh cho việc tài sản tranh chấp là tài sản thuộc sở hữu riêng của mình thì được coi là khối tài sản chung của vợ chồng Xuất phát từ nguyên nhân cuộc sống hôn nhân của vợ chồng không phải ngày một ngày hai mà kéo dài qua nhiều năm th ng, c c loại tài sản hầu như sẽ được sử dụng để đảm bảo cho đời sống gia đình mà không có sự phân biệt
tài sản chung, tài sản riêng “của anh - của tôi” Do đó, khi ph t sinh tranh chấp rất
khó để có thể x c định đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng Vì vậy, nguyên t c suy đo n đảm bảo được sự công bằng trên cơ sở lợi ích chung của gia đình và vợ chồng Để đảm bảo cho nguyên t c suy đo n được áp dụng một cách chính xác,
khách quan, các nhà làm luật đã dựa vào “thời kỳ hôn nhân” và nguồn gốc của các
loại tài sản Vậy thời kỳ hôn nhân là gì?
Thời kỳ hôn nhân theo quy định tại khoản 13, Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình
năm 2014 được x c định như sau: “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại
quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân”
Như vậy, “thời kỳ hôn nhân” được tính từ khi hai bên nam, nữ kết hôn (thời
điểm phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật); việc kết hôn đó được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận theo đúng thủ tục và c c điều kiện luật định
Trang 15Những tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân (trừ tài sản riêng của vợ chồng) đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng Ví dụ: tiền lương của mỗi bên trước khi kết hôn sẽ là tài sản riêng của người đó, nhưng sau khi kết hôn, tiền lương của mỗi bên vợ chồng đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng Việc x c định
“thời kỳ hôn nhân” có ý nghĩa vô cùng quan trọng để x c định đâu là tài sản chung
của vợ chồng Như vậy, căn cứ vào quy định này, khi x c định một tài sản có phải
là tài sản chung của vợ chồng hay không cần dựa trên các nguyên t c:
Thứ nhất, tài sản chung của vợ chồng có thể do cả hai vợ chồng cùng tạo lập,
nhưng cũng có thể do hoặc vợ, hoặc chồng tạo lập Ví dụ, sau khi kết hôn hai vợ chồng cùng mở một cửa hàng tạp hoá thì thu nhập từ cửa hàng này là do hai vợ chồng cùng tạo lập; hoặc sau khi kết hôn, người chồng đứng ra thành lập một công
ty riêng, mặc dù thu nhập từ công ty này đều do người chồng tạo ra song vẫn được
x c định là tài sản chung của vợ chồng
Thứ hai, tài sản chung của vợ chồng được tạo dựng không phụ thuộc vào
điều kiện vợ chồng ở chung hay ở riêng Việc ở chung hay ở riêng được hiểu là trong thời kỳ hôn nhân, có thể vì lý do công việc, gia đình mà vợ chồng không cùng sinh sống tại một địa điểm Chẳng hạn, người vợ ở quê (tỉnh Vĩnh Phúc) làm gi o viên còn người chồng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan thì số tiền lương của người vợ ở quê cũng như số tiền thu nhập của người chồng tại Đài Loan đều được xem là tài sản chung của vợ chồng Việc x c định một tài sản là tài sản chung của
vợ chồng hay không phải dựa trên nguyên t c này bởi theo quy định của Luật
HN&GĐ thì tài sản mà “vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân” là tài sản chung
của vợ chồng;
Thứ ba, vợ chồng có quyền bình đẳng đối với tài sản chung khi thực hiện
quyền sở hữu bao gồm: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt mà không bị phụ thuộc bởi công sức đóng góp của vợ chồng trong quá trình tạo lập khối tài sản chung Trên thực tế đời sống vợ chồng, kể từ khi kết hôn và trong suốt thời kỳ hôn nhân, do điều kiện về sức khỏe, nghề nghiệp chuyên môn, hoàn cảnh gia đình của mỗi bên vợ, chồng đã dẫn tới thu nhập thực tế của mỗi bên vợ, chồng, nhiều, ít, cao, thấp kh c nhau, và như vậy xét về công sức đóng góp nhằm tạo ra tài sản chung của vợ chồng cũng có sự chênh lệch giữa vợ chồng khi thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản chung Vì vậy, đối với tài sản chung của vợ chồng, vợ chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt ngang nhau
Trang 16Thứ tư, sở hữu chung của vợ chồng về tài sản là sở hữu chung hợp nhất được
quy định tại Điều 213 Bộ luật dân sự năm 2015
Như vậy, khi quan hệ hôn nhân chấm dứt hoặc khi có yêu cầu, vợ chồng có thể phân chia khối tài sản chung Trước khi kết hôn, tài sản của vợ, chồng là tài sản riêng của từng cá nhân Kể từ khi xác lập quan hệ hôn nhân vấn đề tài sản giữa vợ chồng mới bị ràng buộc: X c định tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng; quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt khối tài sản chung này
Từ những phân tích trên có thể khái quát: Tài sản chung của vợ chồng là vật,
tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản chung của vợ chồng có thể bao gồm bất động sản và động sản Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung đó
1.1.2 Khái niệm tài sản chung là quyền sử dụng đất của vợ chồng trong hôn nhân
QSDĐ là tài sản đặc biệt và có giá trị lớn Giáo trình Luật Đất đai, Trường Đại học Luật Hà Nội phân tích QSDĐ với tư c ch là một trong ba quyền năng của quyền sở hữu1 Theo đó, “QSDĐ” được hiểu là “quyền khai thác các thuộc tính có
ích của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” Giữa QSDĐ của Nhà nước và của người sử dụng đất về mặt lý luận, biểu
hiện trên những khía cạnh cơ bản sau: QSDĐ của Nhà nước phát sinh dựa trên cơ
sở Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai, nên QSDĐ này là vĩnh viễn, trọn vẹn và không bị ai hạn chế Còn QSDĐ của người sử dụng xuất hiện khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyển QSDĐ hoặc công nhận QSDĐ… và phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước Vì vậy, QSDĐ của họ bị hạn chế bởi diện tích, thời hạn và mục đích sử dụng ; nếu như QSDĐ của Nhà nước mang tính gián tiếp
và trừu tượng thì ngược lại, QSDĐ của người sử dụng đất lại mang tính trực tiếp và
1 Trần Quang Huy (chủ biên) (2013), Giáo trình Luật Đất đai, Trường Đại học Luật Hà
Nội, Nxb Công an nhân dân, tr 95, 96
Trang 17đất đai, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản một cách hợp pháp phục vụ cho mục đích của mình và quyền chuyển QSDĐ theo quy định của pháp luật” 2
Trong luận n “Pháp luật về chuyển nhượng QSDĐ trong kinh doanh bất
động sản ở Việt Nam”, TS Nguyễn Thị Hồng Nhung có trích dẫn một số quan điểm
liên quan đến kh i niệm về QSDĐ: “QSDĐ là bộ phận cấu thành của quyền sở hữu
đất Thông qua việc được độc quyền giao đất, cho thuê đất, Nhà nước trao cho người sử dụng đất thực hiện trong thời hạn thuê đất, nhận giao đất những quyền và nghĩa vụ nhất định, trong đó có sự phân biệt theo loại đất, theo đối tượng (người)
sử dụng đất, theo hình thức thuê hoặc giao đất” 3
C c quan điểm trên nhìn chung xem xét nội dung QSDĐ dưới hai góc độ: inh tế và ph p lý Dưới góc độ kinh tế thì QSDĐ là quyền khai th c c c lợi ích từ đất của c c tổ chức, hộ gia đình, c nhân sử dụng đất Dưới góc độ ph p lý thì QSDĐ là những quyền năng mà Nhà nước thông qua công cụ ph p lý để quy định, thừa nhận cho tổ chức, hộ gia đình, c nhân (người sử dụng đất) được hưởng, được làm trong qu trình sử dụng đất4
Xuất phát từ vị trí, vai trò của QSDĐ đối với đời sống xã hội, đặc biệt là đời sống hôn nhân, pháp luật đất đai hiện hành mặc dù không có quy định trực tiếp thế nào là tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất song bằng c c quy định gián tiếp thông qua quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng thừa nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng và được pháp luật bảo vệ Theo
đó, quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng thì trên giấy chứng nhận phải ghi đầy đủ họ tên của cả vợ và chồng.5
Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 cũng quy định:
“QSDĐ mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”
2 Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Minh Hằng (2011) , Giao dịch về QSDĐ vô hiệu - Pháp
luật dân sự và thực tiễn xét xử, Nxb Thông tin và Truyền thông, tr.19, 20.
3
Nguyễn Thị Hồng Nhung (2012), Pháp luật về chuyển nhượng QSDĐ trong kinh doanh
bất động sản ở Việt Nam, Luận n Tiến sỹ luật học , Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 16
4Nguyễn Thị Hồng Nhung (2012), Pháp luật về chuyển nhượng QSDĐ trong kinh doanh
bất động sản ở Việt Nam, Luận n Tiến sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội tr 16
5
hoản 4 Điều 98 Luật Đất đai 2013
Trang 18Căn cứ theo quy định của Luật đất đai và Luật HN&GĐ thì QSDĐ mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt mà không phụ thuộc vào khả năng trực tiếp tạo ra tài sản hay công sức đóng góp của mỗi bên
Trong thực tế đời sống xã hội Việt Nam từ trước cho đến nay, người chồng thường n m giữ toàn bộ tài sản trong gia đình và thường đứng tên trong giấy chứng nhận QSDĐ Vì vậy, việc quy định QSDĐ có được sau khi kết hôn cũng là tài sản chung của vợ chồng có ý nghĩa đảm bảo sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan
hệ tài sản Vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hoặc sau khi ly hôn là nhà ở, QSDĐ rất phức tạp do các giấy tờ ph p lý liên quan đến QSDĐ thường chỉ đứng tên một người và việc x c định QSDĐ là tài sản chung hay riêng
để đảm bảo lợi ích chính đáng của mỗi người là rất khó khăn Luật HN&GĐ năm
2014 đã kế thừa quy định từ Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định một cách rõ ràng QSDĐ mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung hoặc có được trước khi kết hôn mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung là tài sản chung Quy định này tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp về QSDĐ khi chia tài sản chung của vợ chồng được nhanh chóng, thuận lợi hơn
Từ những phân tích về QSDĐ trong đó có QSDĐ là tài sản chung của vợ
chồng, có thể đưa ra kh i niệm: Tài sản chung là QSDĐ của vợ chồng trong hôn
nhân là tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản do vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
i niệm tr n ấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất khi
vợ chồng ly hôn
hi đã thiết lập mối quan hệ vợ chồng, cùng chung sống với nhau xây dựng gia đình, chăm sóc con c i, điều các cặp vợ chồng luôn mong muốn nhất đó là gia đình tồn tại bền vững, hạnh phúc Tuy nhiên, trong cuộc sống vợ chồng, khó tránh khỏi những mâu thuẫn mà nếu vợ chồng không cùng giải quyết thì sẽ dẫn đến những dạn nứt, đỗ vỡ có thể dẫn đến ly hôn Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng
đó lại là mặt không thể thiếu khi hôn nhân tan vỡ hi đời sống vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng thì ly hôn là sự cần thiết cho cả hai, vì nó giải phóng cho hai vợ chồng,
c c con cũng như thành viên kh c trong gia đình tho t khỏi mâu thuẫn, xung đột, bế
t c trong cuộc sống
Trang 19Theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 thì “Ly hôn là
việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án” Hay nói cách khác ly hôn là sự chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp
luật Khi vợ chồng ly hôn, các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng phát sinh
và g n liền tương ứng trong quan hệ vợ chồng từ khi kết hôn cũng hoàn toàn chấm dứt Tài sản chung của vợ chồng trong đó có QSDĐ sẽ được chia theo yêu cầu của
vợ chồng Ở nước ta nhiều năm qua, do nhiều nguyên nhân, yếu tố t c động dẫn đến các vụ n ly hôn ngày càng gia tăng Việc giải quyết tranh chấp về tài sản đặc biệt là tranh chấp QSDĐ giữa vợ chồng là loại việc khó khăn, phức tạp, có nhiều vướng
m c
Vậy tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ khi vợ chồng ly hôn là gì? Muốn hiểu được khái niệm này, trước tiên phải hiểu thế nào là tranh chấp đất đai?
Luật Đất đai năm 2003 lần đầu tiên ghi nhận tại khoản 26 Điều 4 và tiếp tục
được quy định tại khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Tranh chấp
đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”
Tranh chấp đất đai là một hiện tượng xã hội xảy ra trong bất kỳ hình thái kinh tế - xã hội nào Tranh chấp đất đai, hiểu theo nghĩa rộng là biểu hiện sự mâu thuẫn, bất đồng trong việc x c định quyền quản lý, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đối với đất đai, phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai Theo nghĩa hẹp, tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai Trong thực tế, tranh chấp đất đai được hiểu là sự tranh chấp về quyền quản lý, quyền sử dụng xung quanh một khu đất cụ thể mà mỗi bên đều cho rằng mình phải được quyền đó do ph p luật quy định và bảo hộ Vì vậy, họ không thể cùng nhau tự giải quyết các tranh chấp đó mà phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phân xử (giải quyết).6
Thông qua những phân tích về khái niệm “Tranh chấp đất đai” nêu trên,
chúng ta có thể đưa ra kh i niệm về tranh chấp QSDĐ khi vợ chồng ly hôn như sau:
“Tranh chấp QSDĐ khi vợ chồng ly hôn là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa
vợ, chồng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về đất đai khi quan hệ
6
http://www.dhluathn.com/2015/01/nhung-ly-luan-tong-quan-ve-tranh-chap.html
Trang 20hôn nhân của họ chấm dứt và tranh chấp về QSDĐ đó được Tòa án thụ lý và giải quyết”.
1.1.4 Phân loại tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất khi
vợ chồng ly hôn
Vấn đề tranh chấp tài sản giữa vợ chồng, đặc biệt là tranh chấp về QSDĐ là vấn đề rất phức tạp, khó khăn trong qu trình giải quyết Tài sản là QSDĐ của vợ chồng được hình thành qua nhiều giai đoạn, có thể là trước hoặc sau hôn nhân, được tạo lập bằng nhiều cách thức khác nhau Chính vì vậy, việc phân loại tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp x c định nguồn gốc, cách thức hình thành tài sản là QSDĐ, từ đó có c i nhìn đúng đ n về bản chất của vụ tranh chấp Tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ có thể chia thành các loại sau đây:
Thứ nhất, QSDĐ tạo lập trước thời kỳ hôn nhân nhưng là tài sản chung của
vợ chồng
Trước khi kết hôn, vợ chồng có thể đã tạo lập được cho mình khối tài sản riêng là QSDĐ Tuy nhiên, sau khi kết hôn, để cùng góp sức xây dựng gia đình, vợ chồng thường đưa phần tài sản riêng đó vào sử dụng chung Có trường hợp, vợ chồng thỏa thuận và lập thành văn bản với nội dung vợ hoặc chồng sẽ nhập phần tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng hoặc vợ chồng mặc nhiên
sử dụng và coi phần tài sản riêng của vợ chồng trước khi kết hôn là tài sản chung Chỉ đến khi ly hôn, vấn đề tranh chấp tài sản này mới đặt ra
Thứ hai, QSDĐ tạo lập trong thời kỳ hôn nhân nhưng Giấy chứng nhận
QSDĐ chỉ đứng tên một người hoặc vợ hoặc chồng
Trong xã hội hiện đại, hôn nhân thường xuất phát từ tình yêu, do vậy, khi về sống chung dưới một mái nhà các cặp vợ chồng đều cùng nhau vun vén, xây dựng gia đình, cùng nhau tạo lập khối tài sản chung Do sự tin tưởng tuyệt đối vào người
vợ hoặc người chồng nên khi thực hiện các giao dịch, đặc biệt là các giao dịch liên quan đến nhận chuyển nhượng nhà đất, thường chỉ có một người đứng tên trong GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở Vợ và chồng thỏa thuận đứng tên một người hoặc vợ, hoặc chồng trên GCN QSDĐ song khi tranh chấp xảy ra hoặc vợ hoặc chồng lại cho rằng: Thỏa thuận đứng tên một người trên giấy chứng nhận chỉ với ý nghĩa là thay mặt đứng tên, còn QSDĐ vẫn là tài sản chung của hai vợ chồng; ngược lại, hoặc vợ hoặc chồng lại cho rằng, thỏa thuận đứng tên một người trên giấy chứng nhận thực chất là thỏa thuận tài sản là QSDĐ đó là riêng có (tài sản
Trang 21riêng) của người đứng tên trên giấy chứng nhận, người không đứng tên không có quyền đối với QSDĐ đó dẫn đến tranh chấp Pháp luật đã lường trước được vấn đề này nên đã cho phép sử dụng phương ph p suy đo n để x c định QSDĐ là tài sản chung hay tài sản riêng Khoản 3, Điều 33, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định như
sau: “Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang
có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”
Thứ ba, QSDĐ là tài sản cùng tạo lập chung với cha mẹ, anh em con cái
hoặc vợ, hoặc chồng và GCN QSDĐ cấp mang tên hộ gia đình
Cuộc sống gia đình truyền thống ở Việt Nam, c c thành viên trong gia đình thường có mối liên hệ g n bó với nhau Vì vậy, việc vợ chồng cùng góp tiền với cha
mẹ chồng (cha mẹ vợ) hoặc anh, chị, em chồng (anh, chị, em vợ) để mua bán nhà đất là điều thường xảy ra Tuy nhiên, việc góp tiền hoặc tài sản của vợ chồng không phải lúc nào cùng được thể hiện bằng văn bản hoặc giấy tờ chứng minh số tiền góp hay tài sản góp cụ thể là bao nhiêu Vợ, chồng cùng c c thành viên trong gia đình
có công sức tôn tạo, xây dựng các công trình trên đất và khi kê khai cấp GCN QSDĐ, Nhà nước công nhận QSDĐ bằng hình thức cấp GCN QSDĐ cho hộ gia đình hi vợ chồng ly hôn dẫn đến tranh chấp, vấn đề cần quan tâm ở đây là x c định được giá trị phần tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung được tạo lập cùng cha mẹ, anh em
Thứ tư, QSDĐ và tài sản trên đất không cùng chủ sở hữu và sử dụng hợp
pháp của vợ chồng trong hôn nhân
Trường hợp vợ chồng được bố mẹ cho QSDĐ, tài sản trên đất (như nhà ở)
để sinh sống hoặc sử dụng vào mục đích kinh doanh Tuy nhiên, việc cho tặng này lại chỉ được thực hiện bằng lời nói mà không thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào được pháp luật công nhận Mặc dù tài sản đã được tặng cho con cái song về mặt pháp lý, bố mẹ vẫn là người đứng tên trên các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản là QSDĐ và tài sản trên đất Hoặc có trường hợp, QSDĐ và tài sản g n liền với đất thuộc quyền sử hữu, sử dụng hợp pháp của bố mẹ song trong quá trình sử dụng, người con tự đứng ra kê khai để được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ và quyền sở hữu nhà ở
Thứ năm, trường hợp tranh chấp về QSDĐ mà trước thời kỳ hôn nhân đã là
tài sản riêng của người chồng, hoặc của bố mẹ chồng, sau khi kết hôn, quyền sử dụng đất đó được mở rộng diện tích do vợ chồng khai hoang, khẩn hóa hoặc lấn chiếm nhưng không thuộc diện bị Nhà nước thu hồi Nay ly hôn, người vợ cho rằng,
Trang 22phần đất do mở rộng thêm diện tích là công sức của vợ chồng, đó phải là tài sản của
vợ chồng hoặc tài sản chung của hộ gia đình (được tách khỏi phạm vi, ranh giới đất của bố mẹ chồng hoặc của chồng) và khi ly hôn được chia đôi hoặc được trích một phần diện tích đất cơi nới thêm đó Trong khi đó, chồng và bố mẹ chồng cho rằng, đất đó có nguồn gốc là của bố mẹ, phần diện tích dôi dư, mở rộng thêm là do tất cả các thành viên trong gia đình thực hiện mà có Do vậy, chúng là tài sản chung của
bố mẹ (vì mảnh đất liền thửa), mà không tách ra thành tài sản riêng; người vợ khi ly hôn chỉ được tính toán công sức đóng góp, bỏ ra để tu tạo, khai thác, sử dụng đất
mà không được phân chia QSDĐ
Thứ sáu, tranh chấp QSDĐ khi vợ chồng ly hôn trong trường hợp người
chồng có quan hệ cùng một lúc với hai người phụ nữ, trong đó, người phụ nữ có đăng ký kết hôn, một người không có đăng ký kết hôn song người chồng chủ yếu ở với người không có đăng ký kết hôn, tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở cũng được tạo lập với người phụ nữ không có đăng ký Nay tranh chấp giữa người vợ chính thức với người chồng về khối tài sản đã tạo lập cùng người phụ nữ không chính thức
Đây là những trường hợp điển hình, xảy ra rất phổ biến trong đời sống và trên thực tế rất khó khăn trong qu trình giải quyết bởi: Khi xảy ra tranh chấp, khó
có thể x c định tài sản đã được tặng cho con c i hay chưa (do không có bất kỳ văn bản, giấy tờ nào thể hiện việc tặng cho trên thực tế); khó có thể x c định tài sản đã được cấp giấy chứng nhận cho người con có thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của bố mẹ hay không? hoặc khó có thể x c định tài sản đang tranh chấp là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng?
1.1.5 Nguyên nhân và hậu quả củ tr n ấp về quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn
Có rất nhiều yếu tố có thể dẫn đến sự tranh chấp về tài sản là QSDĐ giữa vợ chồng, đặc biệt là khi vợ chồng đã nảy sinh những mâu thuẫn dẫn đến tình trạng ly hôn Có thể kể đến một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến tranh chấp về QSDĐ khi vợ chồng ly hôn như sau:
Thứ nhất, QSDĐ là tài sản có giá trị lớn trong gia đình, khi tình cảm không
còn tồn tại do sự kiện ly hôn, mỗi người hoặc vợ, hoặc chồng đều muốn chiếm hữu tài sản có giá trị ấy cho mình, cho những người thân của mình Mặt kh c, QSDĐ là loại tài sản có giá trị sử dụng và giá trị thực tế, có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tạo
Trang 23lập, ổn định cuộc sống sau ly hôn của vợ, chồng, cũng như c c thành viên kh c trong gia đình nên việc tranh chấp QSDĐ khi vợ chồng ly hôn là điều khó tránh khỏi
Thứ hai, tài sản là QSDĐ trong thời kỳ hôn nhân có thể được sử dụng cho
một quan hệ dân sự, kinh tế khác mà không chỉ đơn thuần là sử dụng cho mục đích chung của gia đình, vợ chồng Khi ly hôn, sự kiện chia tài sản có thể t c động trực tiếp đến các giao dịch thương mại, dân sự đó nên đòi hỏi phải được phân định rạch ròi để x c định trách nhiệm tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ, của chồng đối với chủ thể thứ ba
Thứ ba, đất đai, tài sản trên đất có nguồn gốc phát sinh, xác lập phức tạp qua
quá trình chung sống mà bản thân cả hai vợ chồng đều không có ý thức về sự cần thiết phải phân định rạch ròi đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân Vì vậy, khi ly hôn, hai người không đạt được sự đồng thuận thì tranh chấp về tài sản là QSDĐ xảy ra là tất yếu
Ly hôn là chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật Do đó, mọi quyền và nghĩa vụ của vợ chồng về tài sản phải được giải quyết kịp thời, đầy đủ và chính xác
vì nó không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của vợ chồng mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của người thứ ba Ngoài ra, việc giải quyết tranh chấp QSDĐ nếu không thỏa
đ ng có thể dẫn đến hậu quả làm cho mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng căng thẳng, những xung đột mới có thể ph t sinh, nguy cơ tranh chấp dân sự có thể trở thành tội phạm
1.2 Những vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý về giải quyết tranh chấp chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn tại Tòa án
1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn thông qua hoạt động xét xử của Tòa án
Nhu cầu ly hôn và chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn đặc biệt là tài sản QSDĐ đang ngày càng gia tăng Vai trò của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp này không ngừng được nâng cao Để giải quyết một vụ tranh chấp, Tòa
án sẽ tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhằm xác minh, thu thập chứng cứ làm căn cứ cho quá trình giải quyết vụ n Đặc biệt, đối với các tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ khi vợ chồng ly hôn, quá trình xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án còn gặp phải nhiều khó khăn bởi thông thường những tài sản là QSDĐ khi xảy ra tranh chấp thường là những tài sản chưa được xác
Trang 24định được là tài sản chung hay tài sản riêng Hoặc trong trường hợp là tài sản chung của hộ gia đình thì rất khó x c định phần giá trị tài sản thuộc về vợ chồng Do đó, đòi hỏi trong hoạt động xét xử, Tòa án cần tiến hành mọi biện ph p để có thể thu thập đầy đủ nhất các chứng cứ phục vụ cho quá trình giải quyết
Giải quyết tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ của vợ chồng khi ly hôn thông qua hoạt động xét xử của Tòa án chính là việc Tòa n thông qua c c quy định của pháp luật để x c định QSDĐ đang tranh chấp là tài sản chung hay tài sản riêng của
vợ chồng, có thuộc khối tài sản của hộ gia đình không? Có liên quan tới bên thứ ba không? Từ đó làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án một c ch kh ch quan, đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp ph p cho c c đương sự
1.2 C ngu n t giải quyết tranh chấp về chia tài sản là quyền
sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn
Nguyên t c chung khi giải quyết tranh chấp về QSDĐ khi vợ chồng ly hôn là những tư tưởng xuyên suốt, mang tính chỉ đạo trong quá giải quyết tranh chấp về QSDĐ khi vợ chồng ly hôn
Xuất phát từ những quy định của Luật HN&GĐ 2014 có thể rút ra một nguyên t c chung nhất khi chia tài sản của vợ chồng, đó là: Việc chia tài sản của vợ chồng chỉ đặt ra đối với những tài sản nào là tài sản chung, nếu không phải là tài sản chung thì không chia Mặc dù, Luật HN&GĐ năm 2014 không quy định nguyên t c này, nhưng phải khẳng định rằng, đây là nguyên t c xuất phát từ nội dung của Luật
và là nguyên t c đầu tiên khi chia tài sản chung của vợ chồng Bên cạnh đó, Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014 và Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/1/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật HN&GĐ cũng đưa ra c c nguyên t c chung về đường lối giải quyết các tranh chấp
về tài sản của vợ chồng khi ly hôn Đây cũng chính là những nguyên t c được áp dụng khi giải quyết tranh chấp QSDĐ của vợ chồng khi ly hôn
Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm quyền tự định đoạt tài sản của vợ chồng
Được quy định cụ thể tại khoản 1, Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014
Nguyên t c này cũng được biểu hiện trong nội dung của pháp luật đất đai ( hoản 4, Điều 98 Luật đất đai 2013) Theo đó, về nguyên t c, tài sản chung của vợ và chồng thì cả hai phải đều được đứng tên trên giấy chứng nhận Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho một trong hai bên do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, cũng là tôn trọng quyền định đoạt tài sản và quyền sở hữu tư, Luật Đất đai cũng cho
Trang 25phép vợ và chồng có thể thỏa thuận tách tài sản chung thành tài sản độc lập của riêng vợ chồng Theo đó, khi giải quyết tranh chấp về QSDĐ, Tòa n cũng tôn trọng tối đa sự tự do ý chí và thỏa thuận của vợ chồng về việc chia tài sản nói chung và tài sản là QSDĐ nói riêng
Như vậy, khi ly hôn, tài sản của vợ chồng được chia như thế nào trước hết
phụ thuộc vào chính ý chí của họ Pháp luật rất coi trọng và khuyến khích sự thỏa thuận của vợ chồng về việc chia tài sản khi ly hôn Song sự thỏa thuận này trên nền tảng c c quy định của pháp luật, phù hợp với các nguyên t c của Luật HN&GĐ năm 2014, bảo đảm tính tự nguyện, không có sự cưỡng bức, lừa dối
Nếu trong quá trình ly hôn, vợ chồng không thỏa thuận được vấn đề tài sản thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết Trong quá trình tòa án giải quyết yêu cầu về
ly hôn, giải quyết tranh chấp về tài sản trong đó có tranh chấp là QSDĐ thì thủ tục
b t buộc mà Tòa án phải tiến hành trước tiên đó là hòa giải Việc hòa giải tại Tòa án nhằm mục đích để hai bên vợ chồng ngồi lại trao đổi với nhau những vấn đề còn vướng m c, mâu thuẫn cả về mặt tình cảm và tài sản Trong quá trình hòa giải, Tòa
án sẽ hướng dẫn, giải thích, giúp đỡ để c c đương sự tự giàn xếp, thỏa thuận dưới
sự giám sát và công nhận của Tòa án Nếu tòa án tiến hành hòa giải thành thì việc giải quyết tranh chấp sẽ có nhiều thuận lợi, vừa đảm bảo đúng ph p luật, đoàn kết trong quần chúng, tr nh được những mâu thuẫn, bất đồng khi ly hôn, vừa giúp cho đương sự tiết kiệm thời gian, chi phí và công sức, bởi sự thỏa thuận là kết quả của
sự phù hợp ý chí, nguyện vọng của c c bên đương sự Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được với nhau, thì Tòa án sẽ tiến hành phân chia tài sản theo quy định pháp luật
Khi vợ chồng ly hôn, tài sản riêng của bên nào vẫn thuộc quyền sở hữu của bên đó Nếu có tranh chấp thì người có tài sản riêng phải chứng minh đó là tài sản riêng của mình Việc chứng minh có thể bằng sự công nhận của bên kia hoặc bằng các giấy tờ xác nhận quyền sở hữu riêng của mình (di chúc, hợp đồng tặng cho…) Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung (theo khoản 3, Điều 33 Luật HN&GĐ 2014)
Thứ hai, tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi
Trong trường hợp c c đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản chung khi ly hôn và yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án tiến hành phân chia tài sản theo các nguyên t c tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính
Trang 26đến các yếu tố quy định tại khoản 2, Điều 59 Luật HN&GĐ 2014 để x c định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia, cụ thể:
- Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng
Về nguyên t c, phần của vợ, chồng trong khối tài sản chung của vợ chồng là
bằng nhau Tuy vậy, trong mỗi trường hợp cụ thể, để bảo đảm quyền lợi chính đ ng của mỗi bên Tòa án có thể quyết định khác với nguyên t c chung đó, chia theo công sức đóng góp, hoàn cảnh cụ thể của mỗi bên cho công bằng và hợp lý
Khi phân chia tài sản chung của vợ chồng, Tòa án không thể máy móc áp
dụng nguyên t c “chia đôi tài sản” mà phải xem xét hoàn cảnh cụ thể của mỗi bên
(vợ chồng có năng lực pháp luật, năng lực hành vi không? Sức khỏe của vợ, chồng thế nào? Tình trạng tài sản (tài sản chung bao gồm tài sản nào, giá trị, nguồn gốc phát sinh tài sản, tài sản còn hay không còn, tài sản nào có thể phân chia bằng hiện vật, tài sản nào chia theo giá trị…) Từ việc căn cứ vào hoàn cảnh của gia đình, vợ, chồng mà Tòa án có thể định lượng phân chia tài sản theo hướng: Bên nào gặp nhiều khó khăn hơn sau khi ly hôn sẽ được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để đảm bảo duy trì ổn định cuộc sống
- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung
Sự đóng góp của vợ chồng có thể trực tiếp bằng sức lao động hoặc tài sản mà người đó bỏ ra để tạo nên tài sản chung của vợ chồng như dùng tài sản riêng để sửa chữa, cải tạo, tu bổ làm tăng gi trị của tài sản chung, tài sản riêng của mỗi bên đem nhập vào tài sản chung của vợ chồng… Trường hợp mặc dù không có sự đóng góp một cách trực tiếp bằng sức lao động hay tài sản cụ thể nhưng có ý thức trong việc giữ gìn, bảo quản và phát triển khối tài sản chung của vợ chồng thì cũng được coi là
có công sức đóng góp Sau khi xem xét, nếu công sức đóng góp vào khối tài sản của
vợ, chồng là như nhau thì phải chia tài sản bằng nhau Ngược lại, đối với người lười lao động lại ít đóng góp, có hành vi ph t n tài sản thì sẽ được chia phần tài sản ít hơn bên kia
- Bảo vệ lợi ích chính đ ng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để c c bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập
hi ly hôn, để đảm bảo tính liên tục trong nghề nghiệp của người lao động, đảm bảo được đời sống, thu nhập cho họ và tránh tình trạng sau khi ly hôn, vợ chồng không có tư liệu để sản xuất, thực hiện hoạt động nghề nghiệp của mình thì cần phải cho vợ chồng được hưởng những tài sản liên quan đến hoạt động nghề
Trang 27nghiệp của họ Vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục sử dụng tài sản để sản xuất, kinh doanh, tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch Việc bảo vệ lợi ích chính đ ng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự
- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng
Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn
Thứ ba, nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch
Có hai phương thức chia tài sản chung của vợ chồng: chia bằng hiện vật và chia theo giá trị Khi xét xử, Tòa án phải căn cứ vào tình trạng tài sản và ý chí của mỗi bên để có cách phân chia phù hợp Trước tiên, Tòa án phải xem xét có thể chia tài sản bằng hiện vật được không? Chỉ khi nào không thể chia tài sản bằng hiện vật hoặc không thể chia đều hiện vật thì Tòa án quyết định chia cho một bên được nhận toàn bộ hiện vật hay bên nhận hiện vật có giá trị lớn hơn phần giá trị mà họ được hưởng phải thanh toán giá trị chênh lệch cho bên kia
Trên thực tế, không phải tài sản nào cũng có thể chia, chia ra được các phần đồng đều mà giá trị sử dụng vẫn được bảo đảm Điều này dẫn đến, có trường hợp không chia được tài sản bằng hiện vật hoặc chia tài sản thành các phần nhưng gi trị của mỗi phần không bằng nhau Vì vậy, pháp luật quy định bên nhận tài sản có giá trị lớn hơn phải có nghĩa vụ thanh toán phần chênh lệch của tài sản đó cho bên còn lại góp phần bảo đảm công bằng cho các bên Tuy nhiên, trên thực tế việc x c định chính xác giá trị của một tài sản không phải đơn giản Vì vậy, khó tránh khỏi tranh chấp giữa các bên khi cho rằng việc định giá giá trị của tài sản là không thỏa đ ng
Để giảm bớt tranh chấp giữa các bên khi phân chia tài sản chung của vợ chồng, Tòa
án nhân dân tối cao đã hướng dẫn tại Mục 12 Nghị quyết số 02/20000/NQ-HĐTP
“việc xác định giá trị khối tài sản chung của vợ chồng hoặc phần giá trị mà họ phải
thanh toán, họ được hưởng là căn cứ vào giá giao dịch thực tế tại địa phương vào thời điểm xét xử” Việc quy định này tạo điều kiện cho đường lối xét xử của các Tòa
Trang 28n được thống nhất, qua đó bảo vệ quyền, lợi ích của các bên một cách công bằng nhất có thể
Thứ tư, nguyên tắc tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó
Khi quyền sử dụng đất được vợ, chồng thỏa thuận đứng tên riêng trên giấy chứng nhận, là tài sản riêng theo khoản 4 Điều 98 Luật đất đai 2013 thì người đứng tên QSDĐ đó được toàn quyền khai thác, sử dụng và định đoạt QSDĐ Vợ hoặc chồng có QSDĐ riêng đó có quyền khai thác, sử dụng để hưởng lợi theo mục đích
sử dụng đã được x c định; họ có quyền đứng tên một mình và tự quyết định QSDĐ
đó trong c c giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất như: chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, góp vốn, tặng cho mà không cần thiết phải có sự đồng ý của người còn lại Họ có quyền đứng tên một mình trong các hợp đồng chuyển QSDĐ
Luật HN&GĐ 2014 cũng quy định nếu có tranh chấp thì người có tài sản riêng phải chứng minh đó là tài sản riêng của mình Việc chứng minh có thể bằng
sự công nhận của bên kia hoặc bằng các giấy tờ xác nhận quyền sở hữu riêng của mình (di chúc, hợp đồng tặng cho…) Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung Trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác
Thứ năm, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con
đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
Vai trò của phụ nữ, vấn đề nữ giới trong việc quyết định các chính sách về đất đai là một yếu tố đảm bảo thành công việc hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai, xây dựng xã hội dân sự Nhìn vào c c quy định hiện hành, Nhà nước ta không
có sự phân biệt về chính sách theo giới, nam/nữ bình đẳng trước pháp luật về đất đai Điều 166, 167, 168 Luật đất đai 2013 quy định gia đình, c nhân, tổ chức sử dụng đất có các quyền chung của người sử dụng đất, không phân biệt giới tính Đặc biệt, tại khoản 4 Điều 98 Luật đất đai quy định khi đăng ký QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác g n liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác g n liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ tên vợ và họ tên
Trang 29chồng vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà… Quy định này của Luật đất đai là yếu tố tiến bộ, là minh chứng cho sự bình đẳng giới giữa vợ và chồng Người phụ nữ được quyền đồng sở hữu tài sản, quyền sinh sống và hưởng hạnh phúc trong chính ngôi nhà mà họ đã tạo lập, họ sẽ ổn định về mặt vật chất, tâm
lý Đây chính là ý nghĩa to lớn về mặt pháp lý mà Luật đất đai đã tạo ra cho người phụ nữ
Việc phân chia tài sản khi ly hôn, về nguyên t c, tài sản chung được chia đôi
có xem xét hợp lý đến tình trạng cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi
bên nhưng phải đảm bảo “Khi chia tài sản phải bảo vệ quyền lợi của người vợ và
con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” Quy định này xuất phát từ
một thực tế là phần lớn phụ nữ Việt Nam sau khi lấy chồng đều về ở nhà chồng, suốt thời gian chung sống làm ăn tần tảo, đóng góp công sức vào việc gây dựng và phát triển khối tài sản chung của gia đình nhà chồng nên khi ly hôn, người vợ cần được bảo đảm để tạo lập chỗ ở mới, nhất là khi họ còn phải nuôi con chưa thành niên Họ cần được pháp luật, xã hội bảo vệ và quan tâm Do đó, cần phải tạo điều kiện cho họ ổn định cuộc sống, yên tâm công t c, lao động,… hạn chế thấp nhất những khó khăn họ phải chịu Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người vợ là cần thiết nhưng chỉ có ý nghĩa khi đó là quyền, lợi ích hợp ph p, chính đ ng chứ không
phải mọi đòi hỏi của người vợ khi ly hôn đều phải được đ p ứng
Trên thực tế trong một số trường hợp vì hoàn cảnh đặc biệt của vợ chồng mà việc x c định và phân chia tài sản chung cần phải có hướng dẫn cụ thể Đối với tài sản là bất động sản (nhà ở, QSDĐ) thường gặp nhiều khó khăn, vướng m c, cho nên Luật HN&GĐ 2014 đã quy định về c c trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng là nhà ở, QSDĐ; c c trường hợp mà vợ chồng còn sống với gia đình bên cha
mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng tại Điều 61, Điều 62, cụ thể:
Trường hợp 1, nếu phần tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của
gia đình không x c định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình
Trường hợp thứ 2, nếu phần tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung
của gia đình có thể x c định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó và chia theo nguyên t c phân chia tài
sản chung của vợ chồng tại Điều 59 Luật HN&GĐ
Trang 30Ngoài ra, xuất phát từ tính chất và tầm quan trọng đặc biệt của QSDĐ Luật HN&GĐ năm 2014 đã dành riêng Điều 62 để điều chỉnh vấn đề chia QSDĐ là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Theo quy định này, luật HN&GĐ năm 2014 có
sự phân biệt đối với một số loại đất kh c nhau và trong c c trường hợp khác nhau, nếu ly hôn, vợ, chồng đang sống chung hoặc sống chung với gia đình của một bên
vợ hoặc chồng: QSDĐ riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó
Có thể nói, pháp luật hiện hành đã cụ thể hóa, luật hóa các nguyên t c chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Những nguyên t c này dựa trên sự kế thừa, luật hóa và phát triển quy định của Luật HN&GĐ năm 2000, tạo cơ sở ph p lý để các bên phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Trong giai đoạn hiện nay, tình trạng ly hôn ngày càng có xu hướng tăng cao và c c tranh chấp chủ yếu khi ly hôn là phân chia tài sản chung của vợ chồng Với quy định này, Luật HN&GĐ năm
2014 đã tạo cơ sở ph p lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, đồng thời cũng bảo vệ quyền lợi chính đ ng cho c c bên vợ, chồng, người thứ ba
Cơ sở pháp lý của giải quyết tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn tại Tòa án
1.2.3.1 Pháp luật về tố tụng
Để giải quyết theo đúng trình tự thủ tục luật định đối với các vụ án tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại nói chung trong đó có tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ khi vợ chồng ly hôn, Tòa án phải áp dụng triệt để c c quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Theo đó, Bộ luật tố tụng dân sự sẽ quy định những nguyên
t c cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, HN&GĐ; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, của c c nhân, cơ quan, nhà nước và các tổ chức kinh tế, xã hội… có liên quan nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc tranh chấp được chính xác, nhanh chóng, công minh, đúng ph p luật
Liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ khi vợ chồng ly hôn cần chú ý đến các vấn đề tố tụng sau đây:
Thứ nhất, về thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Theo quy định tại Điều 28, 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì những tranh chấp, yêu cầu về HN&GĐ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn;
Trang 31Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật; Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, HN&GĐ theo quy định tại Điều 26, Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7, Điều 26 Luật này; Giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những yêu cầu về HN&GĐ quy định tại khoản 1, 2,
3, 4, 5, 6, 7, 8, 10, 11 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ án tranh chấp về dân
sự, HN&GĐ quy định tại c c Điều 26, 28, 30, 32 Bộ luật tố tụng dân sự, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 35 Bộ luật này; Yêu cầu về dân sự, HN&GĐ quy định tại c c điều 27,
29, 31, 33 Bộ luật tố tụng dân sự, trừ những yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định ại khoản 2, khoản 4 Điều 35 Bộ luật này
Tòa n nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là c nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, HN&GĐ theo quy định tại c c Điều 26, 28, 30, 32 Bộ luật tố tụng dân sự C c đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa n nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là c nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn nếu ngyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, HN&GĐ quy định tại c c điều 26, 28, 30, 32 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Thứ hai, về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ khi vợ chồng ly hôn
Một vụ án tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ khi vợ chồng ly hôn theo quy định của pháp luật tố tụng thường bao gồm c c bước sau:
- Bước 1: Nộp hồ sơ khởi kiện yêu cầu ly hôn tại Tòa án có thẩm quyền;
- Bước 2: Sau khi Tòa án nhận được đơn khởi kiện cùng toàn bộ hồ sơ hợp
lệ, trong thời hạn 05 ngày làm việc Tòa án sẽ tiến hành kiểm tra đơn và ra thông b o nộp tiền tạm ứng n phí cho người khởi kiện;
- Bước 3: Nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;
- Bước 4: Trong thời hạn 15 ngày làm việc, Tòa án tiến hành mở phiên hòa giải
Trang 32Trong quá trình tổ chức hòa giải, nếu c c đương sự có thể thỏa thuận được với nhau về việc ly hôn, chia tài sản chung thì Tòa án sẽ tiến hành lập biên bản hòa giải thành và ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn Trường hợp các bên không thể hòa giải, thỏa thuận được với nhau thì Tòa án lập biên bản hòa giải không thành
- Bước 5: Sau khi tiến hành hòa giải như đã nêu tại bước 4 mà các bên không thể hòa giải được, Tòa án tiến hành lập biên bản hòa giải không thành và đưa vụ án
ra xét để giải quyết tranh chấp giữa các bên
Thứ ba, về quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng
Trong một vụ án tranh chấp về ly hôn, người tham gia tố tụng thường bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan; Cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng bao gồm: Tòa án, Viện kiểm sát, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa n, iểm s t viên Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng sẽ phải thực hiện các quyền
và nghĩa vụ quy định tại Chương IV và Chương VI Bộ luật tố tụng dân sự 2015
1.2.3.2 Pháp luật về nội dung
Liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ của vợ chồng khi ly hôn, quá trình giải quyết tranh chấp, Tòa án cần áp dụng c c quy định của Luật đất đai, Luật HN&GĐ để làm căn cứ giải quyết vụ án bao gồm:
- X c định căn cứ ly hôn
Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định c c căn cứ để Tòa
án thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn bao gồm hai căn cứ tại Điều 55 và Điều 56
+ Căn cứ ly hôn khi thuận tình ly hôn: Thuận tình ly hôn là trường hợp cả vợ hoặc chồng cùng yêu cầu chấm dứt hôn nhân được thể hiện bằng đơn thuận tình ly hôn của vợ chồng Điều 55 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định trong trường hợp hai
vợ chồng có yêu cầu thuận tình ly hôn, sự tự nguyện của hai vợ chồng khi yêu cầu chấm dứt hôn nhân là một căn cứ quyết định việc chấm dứt hôn nhân Bảo
đảm“thật sự tự nguyện ly hôn” là cả hai vợ chồng đều được tự do bày tỏ ý chí của
mình, không bị cưỡng ép, không bị lừa dối trong việc thuận tình ly hôn
+ Căn cứ ly hôn theo yêu cầu của một bên
Trang 33Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên, theo đó, khi ly hôn theo yêu cầu của một bên thì Tòa án cần dựa vào một trong
ba căn cứ sau đây:
Thứ nhất, đối với trường hợp khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải
tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của
vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được
Thứ hai, đối với trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất
tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn
Thứ ba, đối với trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều
51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia
- X c định tài sản là quyền sử dụng đất nếu có tranh chấp xảy ra
Trong một vụ án ly hôn, khi xảy ra tranh chấp về QSDĐ thì sau khi x c định hai vợ chồng đã đủ căn cứ ly hôn theo quy định của Luật HN&GĐ thì Toà n cần phải đặc biệt áp dụng c c quy định của Luật đất đai làm căn cứ giải quyết tranh chấp Theo đó, để có thể x c định tài sản là QSDĐ đang tranh chấp là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng hay tài sản chung của vợ chồng trong khối tài sản chung của hộ gia đình… cần phải căn cứ vào c c quy định tại c c Điều 98, 99, 100,
101, 102, 103, 104… Luật đất đai 2013 để x c định nguồn gốc QSDĐ, thời điểm
x c, căn cứ xác lập QSDĐ từ đó làm cơ sở để x c định nguồn gốc của tài sản đang tranh chấp làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án Với tư c ch là luật nội dung, Luật đất đai chỉ ra c c căn cứ để x c định nguồn gốc quyền sử dụng đất qua các thời kỳ thông qua việc sử dụng bản đồ địa chính (khoản 4, Điều 3, Điều 31 Luật đất đai 2014); Bản đồ hành chính (Điều 30 Luật đất đai)… đồng thời, việc áp dụng Luật đất đai cũng là cơ sở để Thẩm phán trong quá trình xét xử, thông qua nguồn gốc quá trình sử dụng đất mà có sự cân nh c, định lượng việc chia tài sản chung của vợ chồng để phù hợp nhất với công sức đóng góp, nhu cầu sử dụng của một người
Bên cạnh đó, trong qu trình giải quyết Tòa n cũng cần phải dựa vào quy định của pháp luật đất đai trong trường hợp đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua Điều 54, Điều 55, Điều 56 Luật đất đai năm 2013 hi giải quyết, Tòa n căn cứ vào thời điểm Nhà nước giao đất, cho thuê đất đối với vợ chồng
Trang 34thông qua Quyết định giao đất hoặc GCN QSDĐ để có thể x c định QSDĐ là tài sản chung hay riêng…
1.3 Các điều kiện và yếu tố đảm bảo hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án
1.3.1 Sự thỏa thuận củ đương sự trong quá trình giải quyết vụ
án
Trong quá trình giải quyết các vụ án tranh chấp nói chung và tranh chấp về QSDĐ khi vợ chồng ly hôn nói riêng, Tòa n luôn đặt mục tiêu thỏa thuận thành giữa c c đương sự lên hàng đầu Bởi vậy, tại các phiên hòa giải tranh chấp, thẩm
ph n thường rất trú trọng đến việc n m b t tâm lý đương sự để phân tích, giải thích sao cho thấu tình đạt lý để c c đương sự hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình, những lợi ích khi hai bên đạt được sự thỏa thuận, từ đó khuyến khích c c đương sự cùng nhau bàn bạc đi tới hòa giải thành Việc c c đương sự có thể thỏa thuận được với nhau không chỉ đảm bảo quyền lợi của c c đương sự, tránh những mâu thuẫn bất đồng có thể xảy ra mà còn góp phần giảm thiểu gánh nặng cho Tòa án bởi trên thực tế hiện nay, nhiều Tòa n đang qu tải trong việc xét xử Chính vì vậy, sự thỏa thuận của c c đương sự là một yếu tố quan trọng, không thể thiếu, đảm bảo hiệu quả trong quá trình giải quyết tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ khi ly hôn của các đương sự
Trong quá trình Toà án tiến hành hoà giải, nếu c c đương sự có thể thoả thuận được với nhau đi tới hoà giải thành thì Toà án sẽ tiến hành lập biên bản hoà giải thành và ra quyết định công nhận sự thoả thuận của c c bên hi đương sự đã thoả thuận được với nhau về tài sản trong quá trình giải quyết ly hôn, Toà án sẽ không phải áp dụng những quy định cứng của pháp luật để phân chia Dưới khía cạnh kinh tế, việc tự thoả thuận sẽ giúp cho đương sự không phải chịu thêm phần án phí, chi phí định giá, thẩm định… khi phân chia tài sản; Dưới khía cạnh xã hội việc
c c đương sự có thể ngồi lại thoả thuận với nhau sẽ tránh những mâu thuẫn không
đ ng có có thể xảy ra giữa c c đương sự khi Toà án thực hiện việc phân chia
Mặc dù tôn trọng sự thỏa thuận của c c đương sự, song vai trò của Thẩm phán trong hòa giải nói riêng và trong suốt quá trình giải quyết ly hôn là nhằm đảm bảo cho c c bên đương sự nhận thức được rõ c c t c động và ảnh hưởng ở khía cạnh tích cực của sự đồng thuận trong phân chia tài sản nói chung và quyền sử dụng
Trang 35đất nói riêng; đồng thời cũng chú trọng tới mặt tr i khi đương sự không tìm được tiếng nói chung, Tòa áp dụng c c quy định khuôn mẫu của việc phân chia tài sản theo quy định của pháp luật để giải quyết tranh chấp Do đó, để đảm bảo việc giải quyết tranh chấp một c ch kh ch quan, đúng ph p luật đòi hỏi Thẩm phán không chỉ là người có trình độ chuyên môn sâu, kỹ năng nghề nghiệp và tác phong chuyên nghiệp mà còn phải có th i độ tận tâm và trách nhiệm để đương sự có niềm tin vào công lý Có như vậy, sự định hướng của Thẩm phán mới có hiệu quả
1.3.2 Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp hoặc do Tòa án thu thập
Giao nộp tài liệu, chứng cứ là quyền và nghĩa vụ của đương sự, việc giao nộp tài liệu, chứng cứ là một trong những nội dung quan trọng của tranh tụng cho nên đương sự phải giao nộp đầy đủ và công khai các tài liệu, chứng cứ, trừ trường hợp quy định được giữ bí mật Xuất phát từ quan điểm đó, Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015 đã quy định rất cụ thể về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án; Thủ tục giao nộp tài liệu, chứng cứ; Về trường hợp đương sự giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp; Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ
Trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được tài liệu, chứng cứ thì
có quyền yêu cầu Tòa án thu thập Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện ph p sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ: Lời khai của đương sự, người làm chứng; Đối chất giữa c c đương
sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng; Trưng cầu gi m định; Định giá tài sản; Xem xét, thẩm định tại chỗ… Khi tiến hành các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ, Tòa án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án Trường hợp lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; đối chất giữa c c đương
sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng thì không phải ra quyết định
Việc quy định như trên nhằm thể hiện vai trò, trách nhiệm của Tòa án trong xác minh thu thập chứng cứ trong trường hợp rất cần thiết cho việc giải quyết vụ án, đồng thời cũng khẳng định rõ không phải mọi thu thập chứng cứ đều do Tòa án chủ
động thực hiện, như: “Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi
đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng” Những
tài liệu, chứng cứ mà đương sự cung cấp hoặc Tòa án thu thập được có ý nghĩa đặc
Trang 36biệt quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp dân sự Đây là những căn cứ làm sáng tỏ nội dung tranh chấp, là điều kiện để Tòa án xem xét, giải quyết vụ việc một c ch kh ch quan, đúng ph p luật
Cũng theo quy định của Luật đất đai 2013, c c tài liệu, chứng cứ liên quan đến quyền sử dụng đất bao gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản g n liền với đất, các giấy tờ minh chứng cho quá trình tạo lập tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất; trong trường hợp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng và quyền sở hữu thì sự cần thiết phải minh chứng bằng các loại giấy tờ hợp lệ kh c (Điều 100 Luật Đất đai năm 2013); hoặc các minh chứng về hiện trạng sử dụng đất trong trường hợp đất của vợ chồng không có bất kỳ giấy tờ gì Trong trường hợp này, vai trò của chính quyền
xã, phường, thị trấn nơi có đất xác nhận nguồn gốc và hiện trạng sử dụng đất, các thông tin và hồ sơ lưu giữ tại chính quyền địa phương có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp Tòa n có cơ sở để x c định quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng, ngoài vợ chồng thì tài sản đó có thuộc sở hữu của ai khác ?
Cùng với đó, để đảm bảo tính khách quan, trung thực và công bằng trong phân chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn, năng lực, trình độ và đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán và các cán bộ Tòa án là rất quan trọng Theo
đó, hồ sơ, tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp phải được cán bộ Tòa án kiểm chứng bằng nghiệp vụ chuyên môn một cách kỹ càng và khoa hoc, với sự hỗ trợ và phối kết hợp của c c cơ quan chức năng để đảm bảo tìm ra được căn cứ chính xác nhất phục vụ cho quá trình giải quyết vụ án
1.3.3 Hiệu quả của việc áp dụng qu định pháp luật vào giải quyết tranh chấp
Hoạt động xét xử của Toà án nhân dân nói chung và hoạt động giải quyết
các tranh chấp về dân sự trong đó có tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ khi vợ chồng ly hôn tại Toà án nhân dân nói riêng là hoạt động áp dụng pháp luật Toà án nhân dân, cụ thể là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Hội đồng xét xử là chủ thể có quyền áp dụng pháp luật Bản án và quyết định của Toà án là kết quả của quá trình
áp dụng pháp luật
Khi giải quyết các vụ án tranh chấp về QSDĐ khi vợ chồng ly hôn, Tòa án phải áp dụng triệt để c c quy định của pháp luật bao gồm cả pháp luật về nội dung
Trang 37và pháp luật về hình thức Việc tuân thủ nghiêm ngặt c c quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án góp phần đảm bảo tính khách quan, minh bạch, đảm bảo tính thượng tôn của pháp luật, giúp cho việc giải quyết vụ n được đúng hướng, nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả, tránh những sai lầm, thiếu sót có thể xảy ra dẫn đến khiếu kiện kéo dài, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của c c đương sự cũng như ảnh hưởng đến hoạt động xét xử của Tòa án
Các án lệ cũng không phải là ngoại lệ để các cán bộ Tòa án quan tâm trong việc xét xử, bởi một bản án công tâm, thấu tình đạt lý trước đó, được c c đương sự tâm phục khẩu phục, tự giác thực thi có ý nghĩa quan trọng trong việc đúc rút kinh nghiệm, có định hướng đúng đ n trong việc đưa ra ph n quyết đối với vụ việc mình thụ lý, giải quyết
hệ pháp luật Bên cạnh những quy định của pháp luật, Thẩm phán nói riêng và những người tiến hành tố tụng nói chung cũng phải đặc biệt quan tâm tới việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức đề nghiệp của mình để giải quyết những tranh chấp có tình, có lý, tạo được niềm tin trong quần chúng nhân dân về tính nghiêm minh của hệ thống pháp luật nước nhà
Trang 38Chương 2 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHIA TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI VỢ CHỒNG LY HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Tổng quan tình hình giải quyết tranh chấp chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn – thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Đông Anh , thành phố Hà Nội giai đoạn 2013 – 2016
Trong những năm vừa qua, các tranh chấp dân sự đặc biệt là các tranh chấp
về QSDĐ khi vợ chồng ly hôn không ngừng gia tăng trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung và trên địa bàn huyện Đông Anh nói riêng
Theo báo cáo số 1592/BC – TA ban hành ngày 12/11/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thì số lượng vụ n HN&GĐ đã thụ lý năm 2015 là 12.093 vụ, tăng 462 vụ = 4% so với năm 2014; đã giải quyết 11.876 vụ, tăng 431 vụ = 3,8%, đạt tỷ lệ 98,2 % 7
Tổng kết kết quả công t c 6 th ng đầu năm và nhiệm vụ 6 tháng cuối năm
2016 của hai cấp TAND thành phố Hà Nội tại kỳ họp thứ II Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội khóa XV, tổng số vụ án thụ lý năm 2016 là 6.769 vụ (tăng 550 vụ
= 8.8 % so với năm 2015); đã giải quyết được 5.621 vụ (tăng 386 vụ = 7.3%), đạt tỷ
lệ 83% Đặc thù của quá trình giải quyết n HN&GĐ là Thẩm phán phải luôn kiên trì hòa giải, tạo điều kiện về thời gian để c c đương sự suy nghĩ, cân nh c về yêu cầu ly hôn, có thể thoả thuận hoà giải hoặc đoàn tụ với nhau không Do thực hiện tốt công tác hòa giải nên nhiều vụ n đương sự đã tự nguyện rút đơn hoặc tự thoả thuận, thống nhất với nhau về việc chia tài sản cũng như vấn đề con chung nên Toà án không phải mở phiên toà xét xử mà tiến hành ra Quyết định công nhận sự thoả thuận của c c đương sự TAND thành phố Hà Nội đã ra Quyết định công nhận
sự thoả thuận của c c đương sự đối với 3.791 vụ = 67,4% Thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 6.687 vụ ; đã giải quyết, xét xử 5.555 vụ Thụ lý theo thủ tục phúc thẩm 82 vụ;
đã giải quyết 66 vụ Số vụ án, quyết định bị hủy 7 vụ (giảm 2 vụ); sửa án 22 vụ (giảm 1 vụ), quá hạn 5 vụ (giảm 4 vụ) Tạm đình chỉ 50 vụ (tăng 15 vụ).8
Có thể thấy, hiện nay, số lượng các vụ án tranh chấp về QSDĐ khi ly hôn của vợ chồng tại các Toà án trên địa bàn thành phố Hà Nội trong đó có Toà án nhân
Trang 39dân huyện Đông Anh ngày càng gia tăng cả về số lượng và tính chất phức tạp của mỗi vụ án
Lý giải cho nguyên nhân dẫn đến tranh chấp về QSDĐ khi vợ chồng ly hôn ngày càng gia tăng tại địa bàn huyện Đông Anh không thể không kể đến nguyên nhân điều kiện kinh tế, xã hội tại địa bàn này Đông Anh là một huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội đang trong qu trình đô thị hóa mạnh mẽ, nằm ở vị trí cửa ngõ phía B c của Thủ đô Hà Nội với diện tích tự nhiên 18,561 ha Với diện tích tự nhiên khá rộng, lại nằm hoàn toàn ở khu vực phía B c sông Hồng và tiếp giáp với nội thành nên Đông Anh có vị trí và vai trò chiến lược trong định hướng phát triển
đô thị của Thủ đô Hà Nội những năm tới Nhiều dự án lớn về hệ thống cơ sở hạ tầng
kỹ thuật được thực hiện mà tiêu biểu là cầu Nhật Tân, đại lộ Võ Nguyên Giáp, cầu Đông Trù, đã thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế xã hội nơi đây Đông Anh cũng
là địa bàn trọng điểm trong thu hút đầu tư ph t triển kinh tế với các khu công nghiệp, c c trung tâm tài chính, thương mại, du lịch, thể thao lớn của Thủ đô Hà Nội Tất cả những điều kiện trên là tiền đề thúc đẩy khiến cho gi đất tại địa bàn gia tăng nhanh chóng Đất đai trở thành tài sản có giá trị lớn nhất trong khối tài sản chung của vợ chồng Do đó, khi ly hôn, vấn đề tranh chấp QSDĐ luôn là vấn đề được đặt ra hàng đầu của các cặp vợ chồng
Năm 2013, TAND huyện Đông Anh đã thụ lý 363 vụ n ly hôn trong đó có
317 vụ án Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự (315 vụ các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết phần tài sản, chỉ có 02 vụ c c đương sự
tự thỏa thuận về vấn đề phân chia tài sản) TAND huyện Đông Anh đã đưa ra xét xử
46 vụ n, trong đó có 38 vụ n c c đương sự không yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp tài sản; 02 vụ không tranh chấp về vấn đề tài sản, chỉ tranh chấp về vấn đề con cái và có 06 vụ tranh chấp liên quan đến QSDĐ của vợ chồng khi ly hôn
Năm 2014, TAND huyện Đông Anh thụ lý 401 vụ n ly hôn Trong đó, có
358 vụ án Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của c c đương sự (có 04 vụ
c c đương sự tự thỏa thuận được vấn đề phân định tài sản và 354 vụ c c đương sự không yêu cầu tòa án giải quyết vấn đề tài sản) TAND huyện Đông Anh đã đưa ra xét xử 43 vụ n trong đó: Có 34 vụ án tranh chấp về vấn đề con cái, không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề tài sản; 05 vụ n đương sự không có tranh chấp về vấn đề tài sản, tự thỏa thuận được, chỉ tranh chấp về vấn đề con cái; 04 vụ án tranh chấp liên quan tới QSDĐ của vợ chồng khi ly hôn
Trang 40Năm 2015, TAND huyện Đông Anh thụ lý 441 vụ n HN&GĐ Trong đó có
393 vụ n c c đương sự không đưa vấn đề tài sản vào giải quyết, TAND ra quyết định công nhận thỏa thuận của đương sự Có 45 vụ n đưa ra xét xử, trong đó có 6
vụ án có tranh chấp liên quan đến tài sản là QSDĐ Về đất nông nghiệp, tất cả các bản n c c đương sự đều tự thỏa thuận hoặc không đề nghị Toà án giải quyết
Năm 2016, TAND huyện Đông Anh thụ lý 461 vụ n HN&GĐ Trong đó có
423 vụ n c c đương sự tự thỏa thuận được và Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của c c đương sự Có 38 vụ n TAND đưa vụ án ra xét xử, trong đó có 5
vụ liên quan đến tranh chấp QSDĐ Về đất nông nghiệp, tất cả các bản án các đương sự đều tự thỏa thuận hoặc không đề nghị Toà án giải quyết 9
Từ những số liệu trên có thể thấy, các vụ án ly hôn tại TAND huyện Đông Anh ngày càng gia tăng qua c c năm Đa phần các vụ án ly hôn có tranh chấp về chia tài sản, tuy nhiên, do số lượng thẩm phán còn hạn chế, một thẩm ph n được phân công giải quyết quá nhiều vụ án nên hiện nay, các vụ án tranh chấp về ly hôn thường không được giải quyết đúng hạn theo quy định của BLTTDS Bên cạnh đó, các tranh chấp liên quan đến QSDĐ thường có nguồn gốc không rõ ràng, phức tạp Đặc biệt, sự phối hợp giữa Tòa n và c c cơ quan có thẩm quyền còn chưa linh hoạt, dẫn đến chậm trễ trong quá trình thu thập chứng cứ Thời gian trả lời văn bản của c c cơ quan này thường kéo dài cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng TAND huyện Đông Anh giải quyết vụ n không đúng thời hạn, dẫn đến tình trạng có nhiều đơn thư của đương sự thúc đ p việc giải quyết Một số vụ án,
c c đương sự không đồng tình với phán quyết về vấn đề phân chia tài sản là quyền
sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn tại TAND huyện Đông Anh nên đã tiếp tục kháng cáo
2.2 Thực tiễn giải tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Đông Anh
2.2.1 Thực tiễn giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất tạo lập trước thời kỳ ôn n ân n ưng là tài sản chung của vợ chồng
Quan hệ pháp luật điều chỉnh về vấn đề tài sản chung ở nước ta qua các thời
kỳ có những sự khác biệt rõ ràng Quan hệ pháp luật được xác lập tại thời điểm nào thì khi giải quyết Tòa án có thẩm quyền phải căn cứ vào thời điểm xác lập quan hệ