1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và thực tiễn thi hành tại tỉnh yên bái

88 163 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 3,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để khắc phục những hạn chế này và đưa ra giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số cần thiết ph

Trang 1

-

NGÔ THỊ HỒNG HOA

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT ĐẤT Ở, ĐẤT SẢN XUẤT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ THỰC TIỄN

THI HÀNH TẠI TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

-

NGÔ THỊ HỒNG HOA

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT ĐẤT Ở, ĐẤT SẢN XUẤT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ THỰC TIỄN

THI HÀNH TẠI TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 60 38 01 07

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Ngô Thị Hồng Hoa

Trang 4

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT ĐẤT Ở, ĐẤT SẢN XUẤT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM 7

1.1 Lý luận về đồng bào dân tộc thiểu số 7 1.2 Lý luận về đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số và giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số 12 1.3 Lý luận pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu

số 20

Chương 2.THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT ĐẤT Ở, ĐẤT SẢN XUẤT CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH YÊN BÁI 29

2.1 Thực trạng sử dụng đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số 29 2.2 Thực trạng pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số 33 2.3 Thực tiễn thi hành pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Yên Bái 45

CHƯƠNG 3.GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT ĐẤT Ở, ĐẤT SẢN XUẤT CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN TẠI TỈNH YÊN BÁI 61

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số và nâng cao hiệu quả thực hiện tại tỉnh Yên Bái 61 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số và nâng cao hiệu quả thực hiện tại tỉnh Yên Bái 63 3.3 Kiến nghị 68

KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

1.1 Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, bao gồm 54 dân tộc anh em; trong đó, dân tộc Kinh chiếm đa số khoảng 80% dân số 53 dân tộc thiểu số còn lại có khoảng 12,8 triệu người sinh sống trải dài trên phạm vi 35% lãnh thổ Việt Nam cư trú ở những địa bàn có vị trí địa, chính trị đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, kinh tế và môi trường như vùng biên giới, hải đảo; vùng núi cao phía Bắc và Tây Nguyên v.v Đồng bào các dân tộc thiểu số đã có những đóng góp rất to lớn vào công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ quốc gia và xây dựng, kiến thiết đất nước Dẫu vậy về cơ bản, trình

độ phát triển của đồng bào dân tộc thiểu số so với người Kinh còn nhiều hạn chế, số

hộ nghèo đói trong cả nước là đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao Trong số hơn 1.000 huyện có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế -

xã hội đặc biệt khó khăn thì đại đa số là những huyện có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chương trình, chính sách, pháp luật về ưu tiên đầu tư phát triển về mọi mặt cho đồng bào dân tộc thiểu số như Chương trình 135, Chương trình 134 và Chương trình xóa đói, giảm nghèo bền vững giai đoạn 2015 - 2020 v.v ; trong đó có chính sách, pháp luật

về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Tây Nguyên và đồng bào dân tộc thiểu số khu vực miền Tây Nam Bộ Thực hiện các chế độ, chính sách này đã và đang giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số trong cả nước Theo Báo cáo tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 539/NQ-UBTVQH13 ngày 30/10/2012 về kết quả giám sát thực hiện chính sách, pháp luật về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số của Ủy ban Dân tộc, tính đến nay đã có 210.587/1.027.723 hộ đồng bào dân tộc thiểu số được thụ hưởng chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở Trong đó, 99.248 hộ được hỗ trợ đất ở, 111.339 hộ được hỗ trợ đất sản xuất; riêng giai đoạn 2012- 2014, thực hiện hỗ trợ đất ở cho 10.156 hộ gia đình, 19.449 hộ gia đình được

hỗ trợ về đất sản xuất Điều này giúp ổn định đời sống của đồng bào dân tộc thiểu

số, góp phần xóa đói, giảm nghèo và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc Tuy nhiên, thực tiễn thi hành chính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số còn bộc lộ một số tồn tại như thiếu quỹ đất để hỗ trợ đất

ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số; trong khi đó, các nông, lâm trường quốc doanh lại được giao diện tích đất quá lớn sử dụng kém hiệu quả, bỏ hoang hoặc

Trang 6

cho thuê đất không đúng mục đích v.v Tuy nhiên, pháp luật đất đai lại thiếu các quy định để giải quyết tình trạng trên Để khắc phục những hạn chế này và đưa ra giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về giải quyết đất

ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số cần thiết phải có sự nghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống, đầy đủ, toàn diện về lý luận và thực tiễn hệ thống chính sách, pháp luật này trên cơ sở tham chiếu nội dung các quy định sửa đổi, bổ sung về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số của Luật đất đai năm 2013

1.2 Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc Mặc dù vẫn còn là tỉnh nghèo song thời gian qua, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân tỉnh Yên Bái đã nỗ lực vượt khó trong phát triển kinh tế - xã hội trên nền tảng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đạt được những kết quả tích cực Tốc độ phát triển kinh tế năm sau cao hơn năm trước, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội được xây dựng đồng bộ góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo nói chung và tỷ lệ đói nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng Có được kết quả đáng tự hào này là nhờ tỉnh Yên Bái đã thực hiện đồng bộ các giải pháp; trong đó có giải pháp thực hiện quyết liệt chính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn thi hành chính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số còn bộc lộ một số tồn tại, yếu kém như sự phối hợp chưa chặt chẽ, đồng bộ giữa một số cơ quan, ban, ngành của tỉnh, huyện và xã; một số quy định về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nằm rải rác ở các văn bản pháp luật khác nhau do nhiều

cơ quan ban hành nên khó tránh khỏi sự thiếu thống nhất, đồng bộ; các quy định về vấn đề này chủ yếu được đề cập ở văn bản dưới luật nên hiệu lực pháp lý chưa cao v.v đã gây khó khăn cho việc triển khai thực hiện tại tỉnh Yên Bái Để đi tìm nguyên nhân và giải pháp khắc phục hạn chế, yếu kém trên thì không thể không có

sự nghiên cứu, đánh giá toàn diện, hệ thống, khách quan, khoa học về pháp luật giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số tham chiếu với thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái hiện nay

Với những lý do cơ bản trên, học viên lựa chọn đề tài "Pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái" làm luận văn thạc sĩ luật học

Trang 7

có nhiều công trình nghiên cứu liên quan về vấn đề này được công bố mà tiêu biểu phải kể đến một số công trình khoa học cụ thể sau đây: i)) Trần Ngọc Bình (2017),

Một số chính sách sắp xếp đổi mới công ty nông, lâm nghiệp ở nước ta hiện nay,

Bài viết Hội thảo: Quản lý đất đai có nguồn gốc từ công ty nông, lâm nghiệp sau sắp xếp đổi mới: chính sách và thực tiễn, do Viện Chiến lược, chính sách - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Chương trình Quản trị đất đai khu vực Mê kông

tổ chức ngày 27/02/2017 tại Hà Nội; ii) Nguyễn Vinh Quang, Lê Văn Lân, Lưu Đức Khải, Ngô Văn Hồng, Tạ Long, Nguyễn Hải Xuân (2015), Báo cáo nghiên cứu:

Hiện trạng giao đất lâm nghiệp từ các công ty lâm nghiệp cho người dân địa phương và các khuyến nghị chính sách, Chương trình Quản trị đất đai khu vực Mê

kông, Hà Nội, 12/2016; iii) Ngân hàng Thế giới (2012), Sửa đổi Luật đất đai để

thúc đẩy phát triển bền vững ở Việt Nam, Bản tóm tắt các khuyến nghị chính sách

ưu tiên rút ra từ các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, Hà Nội; iv) Tổ chức

Oxfam tại Việt Nam (2013), Báo cáo về tham vấn cộng đồng góp ý kiến Dự thảo

Luật đất đai năm 2003 sửa đổi, Hà Nội; v) Đặng Kim Sơn và cộng sự (2013), Báo

cáo nghiên cứu: Rà soát, phân tích các chính sách dân tộc thiểu số và hỗ trợ xây

dựng hệ thống chính sách cho Ủy ban Dân tộc đến 2020; vi) Cơ quan Thường trực

Khu vực đồng bằng sông Cửu Long (2006), 60 năm công tác dân tộc ở đồng bằng

sông Cửu Long - Thực tiễn và bài học, Kỷ yếu Khoa học: 60 năm công tác dân tộc - Thực tiễn và bài học kinh nghiệm, do Viện Dân tộc - Ủy ban Dân tộc tổ chức tháng

06/2006 tại Hà Nội; vii) Văn Kiện (2015), Truy trách nhiệm Bộ trưởng vụ xây biệt

phủ trong rừng cấm, Báo Tiền phong, thứ sáu ngày 28/08/2015, số 240; viii)

PGS.TS Khổng Diễn (Chủ nhiệm) (2006), Đề tài Cơ sở khoa học xây dựng chiến

lược phát triển các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đến năm 2020, Báo cáo tóm tắt; ix)

Ủy ban Dân tộc (2016), Kết quả rà soát chính sách dân tộc giai đoạn 2011-2015, và

đề xuất chính sách trung hạn giai đoạn 2016-2020; x) Vụ Pháp chế - Ủy ban Dân

tộc (2012), Một số văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực công tác dân tộc (2006 -

2012), Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội; xi) Ủy ban Dân tộc và Phái đoàn Liên minh

Châu Âu tại Việt Nam (2015), Hội thảo -Xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc

nhằm bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số: Chia sẻ kinh nghiệm giữa Châu Âu

và Việt Nam, Lào Cai, ngày 15/5/2015; xii) : Viện Dân tộc - Ủy ban Dân tộc (2006),

Kỷ yếu Hội thảo Khoa học: 60 năm công tác dân tộc - Thực tiễn và vài học kinh

nghiệm, Hà Nội - tháng 6 v.v

Các công trình nghiên cứu trên đây đã giải quyết được một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật liên quan đến giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng

Trang 8

bào dân tộc thiểu số như đánh giá thực trạng sử dụng đất của đồng bào dân tộc thiếu

số, chỉ ra nguyên nhân đồng bào dân tộc thiểu số không có đất hoặc thiếu đất ở, đất sản xuất; đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số; đưa ra một số khuyến nghị góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số

và nâng cao hiệu quả thực thi hệ thống chính sách, pháp luật này ở nước ta Tuy nhiên, xem xét dưới góc độ pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số một cách có hệ thống, đầy đủ, chuyên sâu và toàn diện trên phương diện lý luận, thực tiễn đặt trong mối quan hệ tham chiếu với Luật đất đai năm 2013, các đạo luật có liên quan và thực tiễn thi hành lĩnh vực pháp luật này trên địa bàn tỉnh Yên Bái nói riêng thì dường như vẫn còn thiếu một công trình như vậy Trên cơ

sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến

đề tài đã công bố, luận văn đi sâu tìm hiểu pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu tổng quát của luận văn là đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Yên Bái

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Tập hợp, phân tích, đánh giá hệ thống cơ sở lý luận pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam thông qua việc luận giải một số nội dung:

i) Phân tích, khái niệm và đặc điểm của đồng bào dân tộc thiểu số

ii) Tìm hiểu vị trí, vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số

iii) Phân tích thực trạng sử dụng đất của đồng bào dân tộc thiểu số

iv) Phân tích khái niệm và đặc điểm của pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số

v) Cơ sở ra đời pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số

vi) Các yếu tố đảm bảo thực hiện pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số v.v

Trang 9

- Đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái

- Đưa ra định hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Yên Bái

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:

- Các quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng, hoàn thiện pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay;

- Các quy định của Luật đất đai năm 2013, các đạo luật có liên quan và các văn bản hướng dẫn thi hành về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số;

- Hệ thống lý thuyết, trường phái học thuật về pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số;

- Thực tiễn thi hành pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Yên Bái…

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái là một đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng và liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau Tuy nhiên trong khuôn khổ của một bản luận văn thạc sĩ luật, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn ở những nội dung cụ thể sau:

- Giới hạn phạm vi nghiên cứu về nội dung Nghiên cứu, tìm hiểu các quy

định về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành;

- Giới hạn phạm vi nghiên cứu về không gian Đánh giá thực tiễn thi hành

các quy định về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Yên Bái

5 Phương pháp nghiên cứu

Khi thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin

Trang 10

- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: i) Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp đối chiếu… được sử dụng tại Chương 1 khi nghiên cứu lý luận pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam

ii) Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp được sử dụng tại Chương 2 khi nghiên cứu thực trạng pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái;

iii) Phương pháp bình luận, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn giải… được sử dụng tại Chương 3 khi nghiên cứu giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Yên Bái

6 Những kết quả nghiên cứu đạt được

Luận văn hoàn thành với những kết quả nghiên cứu chủ yếu như sau:

- Hệ thống hóa, bổ sung và phát triển cơ sở lý luận và thực tiễn về pháp luật

về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam;

- Đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và thực tiễn thi hành chế định pháp luật này tại tỉnh Yên Bái;

- Đưa ra các kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Yên Bái

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Lý luận pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào

dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng

bào dân tộc thiểu số và thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất

cho đồng bào dân tộc thiểu số và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Yên Bái

Trang 11

Chương 1

LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT ĐẤT Ở, ĐẤT SẢN XUẤT

CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM

1.1 Lý luận về đồng bào dân tộc thiểu số

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đồng bào dân tộc thiểu số

1.1.1.1 Khái niệm đồng bào dân tộc thiểu số

i) Khái niệm đồng bào, dân tộc

Để tìm hiểu khái niệm đồng bào dân tộc thiểu số thì trước tiên chung ta cần hiểu thế nào là đồng bào Cụm từ đồng bào có gốc từ hán việt được sử dụng với hàm ý, ý nghĩa cùng một cội nguồn (đồng bào có nghĩa là cùng (đồng) một bào thai) Cụm từ này được sử dụng với hàm ý bắt nguồn từ truyền thuyết "trăm trứng" trong lịch sử dân tộc có nghĩa là mọi người con đất Việt được Mẹ Âu Cơ sinh ra từ bọc trăm trứng/cùng một bào thai nên phải đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau Dưới góc độ học thuật, khái niệm đồng bào được giải mã như sau:

Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: "Dân tộc: Cộng đồng người được hình

Theo Từ điển Luật học do Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) biên soạn năm 2006: -Dân tộc: 1 Dân tộc (tộc người, ethnie) - hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi 03 đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử lịch sử; ví dụ: dân tộc (hay tộc người) Việt, dân tộc (hay tộc người) Tày, dân tộc (hay tộc người) Khơ Me …Hình thức và trình độ phát triển của tộc người phụ thuộc vào các thể chế xã hội ứng với các phương thức sản xuất

2 Dân tộc (nation) - hình thái phát triển cao nhất của tộc người, xuất hiện trong xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa (hình thái của tộc người trong xã hội nguyên thủy là bộ lạc, trong xã hội nô lệ và xã hội phong kiến là bộ tộc) Dân tộc đặc trưng bởi sự cộng đồng bền vững và chặt chẽ hơn về kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ, các đặc điểm về văn hóa và ý thức tự giác tộc người

So với bộ tộc thời phong kiến, dân tộc trong thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa có lãnh thổ ổn định, tình trạng cát cứ bị xóa bỏ, có nền kinh tế hàng hóa phát triển, thị trường quốc gia hình thành thống nhất, các âm ngữ,

1 Nguyễn Như Ý (chủ biên), Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001, tr 219

Trang 12

thổ ngữ bị xóa bỏ, tiếng thủ đô được coi là chuẩn và ngày càng lan rộng ảnh hưởng,

sự cách biệt về văn hóa giữa các vùng, miền và giữa các bộ phận của tộc người bị xóa bỏ phần lớn, ý thức về quốc gia được củng cố vững chắc

Cộng đồng dân tộc thường được hình thành hoặc từ một bộ tộc phát triển lên; hoặc là kết quả của sự thống nhất hai hay nhiều bộ tộc có những đặc điểm chung về lịch sử - văn hóa

Ngoài những nét giống nhau trên, giữa dân tộc tư bản chủ nghĩa và dân tộc

xã hội chủ nghĩa có những nét khác biệt nhau, do đặc điểm của phương thức sản xuất và thể chế xã hội Ở dân tộc tư bản chủ nghĩa, xã hội phân chia đối kháng giai cấp giữa tư sản và vô sản, Nhà nước là của giai cấp tư sản, bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản Còn ở dân tộc xã hội chủ nghĩa, xã hội không còn giai cấp đối kháng, quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động

3 Dân tộc (quốc gia dân tộc; ví dụ: dân tộc Việt Nam) là cộng đồng chính trị - xã hội, được hình thành do sự tập hợp của nhiều tộc người có trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau cùng chung sống trên một lãnh thổ nhất định và được quản

lý thống nhất bởi một nhà nước Kết cấu của cộng đồng quốc gia dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của từng nước Một quốc gia dân tộc có tộc người đa số và các tộc người thiểu số Có tộc người đã đạt đến trình độ dân tộc, song nhiều tộc người ở trình độ bộ tộc Với cơ cấu tộc người như vậy, quan hệ giữa các tộc người rất đa dạng và phức tạp Nhà nước phải ban hành chính sách dân tộc để duy trì sự ổn định và phát triển của các tộc người, sự ổn định và phát triển

Hiểu theo nghĩa rộng dân tộc là dân tộc quốc gia, là một cộng đồng chính trị -

xã hội, bao gồm tất cả các thành phần dân tộc đa số và thiểu số sinh sống trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia thống nhất

Hiểu theo nghĩa hẹp thì khái niệm dân tộc lại: Đồng nghĩa với cộng đồng tộc người, cộng đồng này có thể là bộ phận chủ yếu hay thiểu số của một dân tộc sinh sống trong cùng một lãnh thổ thống nhất hay ở nhiều quốc gia khác nhau nhưng được liên kết với nhau bằng nhiều ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người

ii) Khái niệm đồng bào dân tộc thiểu số

"Đồng bào dân tộc thiểu số" là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến không chỉ trong xã hội, trong sách, báo chuyên môn mà còn hiện diện trong các văn bản

2 Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa và Nxb Tư pháp, Hà Nội,

2006, tr 213-214

Trang 13

pháp luật ở nước ta Thuật ngữ này được sử dụng để chỉ các dân tộc có số lượng người ít hơn dân tộc Kinh (dân tộc Kinh chiếm 80% dân số) ở nước ta Khái niệm

"Đồng bào dân tộc thiểu số" được các nhà làm luật Việt Nam giải thích như sau:

"Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm

vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" và "Dân tộc đa số là dân tộc

Tuy nhiên, tổng hợp những thuộc tính được ghi nhận từ nội dung các văn bản pháp luật khác có liên quan đến dân tộc thiểu số, theo tác giả có thể hiểu khái niệm "đồng

bào dân tộc thiểu số" ở Việt Nam như sau: Đồng bào dân tộc thiểu số là đồng bào

thuộc dân tộc có số dân ít hơn với dân tộc đa số trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam,

có những đặc điểm riêng về chủng tộc, ngôn ngữ, phong tục, tập quán

1.1.1.2 Đặc điểm của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Ở nước ta đã có một số công trình chuyên khảo nghiên cứu về đồng bào dân tộc thiểu số dưới khía cạnh dân tộc học, xã hội học Tìm hiểu nội dung các công trình này, tác giả nhận thấy một số đặc điểm nổi bật của đồng bào dân tộc thiểu số; cụ thể:

Thứ nhất, các dân tộc có quy mô dân số khác nhau, sống xen kẽ nhau

Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số, 53 dân tộc thiểu số Dân số 53 dân tộc thiểu số là 10.527.455 người chiếm tỷ lệ 13,8% dân số

dân tộc với dân số trên một triệu người, như dân tộc: Tày, Thái, Mường, Khmer Nhưng lại có những dân tộc dân số rất ít, đặc biệt là 05 dân tộc có dân số dưới 1.000 người bao gồm: Sila (840) PuPéo (705), Rơ Măm (352), Brâu (313) và Ơ đu (301)

Khác với một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, các dân tộc ở nước ta cư trú xen kẽ nhau, không có dân tộc nào ở vùng lãnh thổ riêng Tính chất cư trú đó đã tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng cường hiểu biết lẫn nhau, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển

Thứ hai, các dân tộc ở nước ta có truyền thống đoàn kết gắn bó lâu đời

trong suốt chiều dài lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước, tạo nên một cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất

Các dân tộc sinh sống trên đất nước ta từ lâu đời, đã sớm có ý thức đoàn kết, gắn bó với nhau trong chinh phục thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm, xây dựng đất nước Sự đoàn kết giữa các cộng đồng dân tộc đã tạo lên một quốc gia dân tộc

3 Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc

4 Tổng cục Thống kê - Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Số liệu cuộc tổng điều tra dân số năm 1999

Trang 14

bền vững, thống nhất Dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống đoàn kết các dân tộc ngày càng được củng cố và phát triển Đoàn kết các dân tộc ở nước ta đã trở thành nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Thứ ba, hầu hết các dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn rộng lớn, có vị trí

chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng và môi trường sinh thái

Các dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở miền núi, với địa bàn rộng lớn chiếm 3/4 diện tích cả nước, bao gồm 19 tỉnh miền núi, vùng cao, 23 tỉnh có miền núi Đây là khu vực biên giới, cửa ngõ thông thương với các nước láng giềng, có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng của đất nước

Miền núi nước ta có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng phong phú, như: đất, rừng, khoáng sản… với tiềm năng to lớn phát triển kinh tế; là đầu nguồn các dòng sông lớn, giữ vai trò đặc biệt quan trọng về cân bằng sinh thái

Thứ tư, các dân tộc phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội

Do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất là những nguyên nhân lịch sử để lại và do điều kiện địa lý, tự nhiên khắc nghiệt ở địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc, nên trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc không đồng đều Một số dân tộc đã phát triển kinh tế - xã hội tương đối cao, nhưng còn nhiều dân tộc vẫn còn trong tình trạng lạc hậu, chậm phát triển Phần lớn các dân tộc thiểu số có mức sống thấp, tỷ lệ đói nghèo cao, chậm phát triển hơn so với dân tộc đa số; song cũng

có dân tộc thiểu số có mức sống cao hơn dân tộc Kinh, đó là dân tộc Hoa kiều (người Việt gốc Hoa)

Một số dân tộc vẫn còn trong tình trạng tự cung tự cấp, du canh du cư Đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển

Thứ năm, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên sự đa dạng, phong

phú của nền văn hóa Việt Nam

Mỗi dân tộc, mặc dù có sự khác nhau về quy mô dân số, về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, nhưng đều có văn hóa truyền thống riêng (ngôn ngữ, phong tục, tập quán, trang phục…), tạo nên bản sắc văn hóa của từng dân tộc, góp phần làm phong phú,

đa dạng nền văn hóa Việt Nam thống nhất Bản sắc văn hóa của các dân tộc đều được chú trọng bảo tồn và phát triển trong quá trình giao lưu, hội nhập chung của cả nước

1.1.2 Vị trí và vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số

Việt Nam là quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc anh em (53 dân tộc thiểu

số chiếm 14% dân số cả nước, cư trú chủ yếu ở miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng

Trang 15

biên giới trải dài trên phạm vi 35% lãnh thổ), cùng cư trú, tồn tại và phát triển trên lãnh thổ Việt Nam Cộng đồng các dân tộc Việt Nam chung sống đoàn kết, hòa hợp,

tương trợ và giúp đỡ nhau cùng phát triển Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc,

đồng bào dân tộc thiểu số đã có những đóng góp to lớn vào quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước Vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số được thể hiện trên các khía cạnh cơ bản sau đây:

Thứ nhất, đồng bào dân tộc thiểu số đã có những đóng góp to lớn trong

công cuộc chống ngoại xâm giành độc lập và bảo vệ đất nước

Lịch sử đã ghi nhận nhiều tấm gương anh dũng của các bậc tiền nhân là người dân tộc thiểu số đã tập hợp, lãnh đạo nhân dân (không phân biệt là người Kinh hay người Thượng) đứng lên đấu tranh chống ngoại xâm vì nền độc lập tự do của dân tộc Trong thời kỳ cận đại có các lạc hầu, lạc tướng người dân tộc thiểu số của nữ tướng Bà Trưng, Bà triệu; các tướng người dân tộc thiểu số Hà Đăng, Hà Nghiệp thời nhà Trần v.v Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ có những tấm gương anh hùng là người dân tộc thiểu số như Anh hùng Núp ở Tây Nguyên, Anh hùng Bế Văn Đàn, Anh hùng Cù Chính Lan, Anh hùng Can Lịch, Anh hùng Vai… là những điển hình tiêu biểu cho những đóng góp to lớn của đồng bào các dân tộc thiểu số vào sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm, giành

và giữ nền độc lập của đất nước

Thứ hai, đồng bào dân tộc thiểu số đã có những đóng góp to lớn vào công

cuộc tái thiết, xây dựng đất nước

Sau khi đất nước thống nhất (tháng 4/1975), đồng bào dân tộc thiểu số đã hăng hái thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân Ngay từ thủa khai sinh, các dân tộc đã gắn kết, chung sức, chung lòng chống chọi với thiên nhiên, bão lũ; tinh thần đoàn kết càng được phát huy hơn trong lịch

sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc Trong sự nghiệp cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, truyền thống đoàn kết, thống nhất dân tộc không ngừng được củng cố và phát triển, tạo nên sức mạnh vĩ đại để chiến thắng thiên tai, chiến thắng "thù trong, giặc ngoài" đem lại thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Trong những năm qua, kinh tế - văn hóa, xã hội của nước ta đã đạt nhiều kết quả tích cực; đồng thời trong sự nghiệp xây dựng, phát triển của đất nước, đồng bào các dân tộc thiểu số luôn đồng hành trên mọi lĩnh vực, đã có những đóng góp quan

Trang 16

trọng vào sự phát triển kinh tế đất nước nói chung Với nhận thức phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng bào dân tộc thiểu số luôn đồng hành cùng với đồng bào

cả nước tích cực lao động, sản xuất, tham gia thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế

- văn hóa, xã hội; chung tay góp sức xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển, tiến bộ - văn minh, để đưa đất nước ta đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại

1.2 Lý luận về đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số và giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.1 Khái niệm đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.1.1 Khái niệm đất ở của đồng bào dân tộc thiểu số

Để thực hiện quyền cơ bản này của công dân thì họ phải có quyền tiếp cận và khai thác đất ở Đồng bào dân tộc thiểu số là công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nên Nhà nước ta bảo hộ quyền có chỗ ở của họ Tuy nhiên, để có chỗ ở thì mọi người phải có nhà ở - là nơi cư trú lâu dài mà nhà ở lại được xây dựng trên đất Trên thực tế, đất được sử dụng để xây dựng nhà ở được người Việt quan niệm là đất ở Tìm hiểu nội dung Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, tác giả nhận thấy đất ở là một thành phần độc lập trong nhóm đất phi nông nghiệp được sử dụng để xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ nhu cầu sinh hoạt của con người như nhà bếp, tường rào, nhà vệ sinh, sân, vườn, giếng nước và chuồng nuôi gia súc, gia cầm… Luật đất đai năm 1993 quy định khá chi tiết về khái niệm đất ở của hộ gia đình, cá nhân Tuy nhiên, kể từ khi Luật đất đai năm 2003 và Luật đất đai năm 2013 ra đời, khái niệm đất ở không được đề cập trong các quy định về đất ở của hộ gia đình, cá nhân

Đất ở của đồng bào dân tộc thiểu số là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong các văn bản pháp luật song dường như chưa có văn bản pháp luật nào giải thích một cách chính thức về thuật ngữ này Dựa trên nội dung các quy định của pháp luật đất đai về đất ở và quan niệm thông thường của người Việt, tác giả cho rằng khái niệm đất ở của đồng bào dân tộc thiểu số như sau: Đất ở của đồng bào dân tộc thiểu số là một thành phần độc lập trong nhóm đất phi nông nghiệp được sử dụng vào mục đích chủ yếu để ở Diện tích đất này bao gồm đất để xây dựng nhà ở

và các công trình phục vụ đời sống, sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số như sân, nhà bếp, nhà vệ sinh, vườn và chuồng nuôi giá súc, gia cầm v.v

5 Khoản 1 Điều 22 Hiến pháp năm 2013

Trang 17

Bên cạnh các đặc điểm chung của đất ở, đất ở của đồng bào dân tộc thiểu số

còn có một số đặc điểm riêng cơ bản sau đây: một là, do đặc điểm cư trú, phân tán rải

rác trên một phạm vi rộng nên đất ở của đồng bào dân tộc thiểu số phân bố rải rác

và xen kẽ với các loại đất khác như đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất chuyên dùng khác Hơn nữa, loại đất này phân bố ở vùng có địa hình cao, điều kiện đi lại

khá khó khăn do đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu sinh sống ở vùng núi; hai là, đất ở

của đồng bào dân tộc thiểu số nằm xen kẽ với đồng bào dân tộc đa số (dân tộc Kinh) do

đặc điểm dân tộc thiểu số và dân tộc đa số sinh sống xen kẽ với nhau; ba là, đất ở

của đồng bào dân tộc thiểu số tọa lạc ở những vị trí mà hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ

thuật và hạ tầng xã hội nghèo nàn, thiếu đồng bộ, hiện đại; bốn là, đất ở của đồng

bào dân tộc thiểu số vừa có diện tích lớn vừa có diện tích nhỏ Điều này tùy thuộc vào mức độ, quy mô phân bố tập trung hay không tập trung của từng dân tộc thiểu số;

năm là, đất ở của đồng bào dân tộc thiểu số vừa cố định lâu dài vừa mang tính tạm

thời do một số dân tộc thiểu số còn duy trì phong tục, tập quán "du canh du cư"…

1.2.1.2 Khái niệm đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

Đất sản xuất nói chung và đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng là thuật ngữ được dùng để chỉ một loại đất độc lập trong quỹ đất của nước ta được sử dụng làm tư liệu sản xuất trong nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối (sau đây gọi chung là tư liệu sản xuất trong nông nghiệp) Đất sản xuất là một tên gọi khác của nhóm đất nông nghiệp Mặc dù được sử dụng khá phổ biến trong đời sống xã hội, trong các sách, báo chuyên môn và trong văn bản pháp luật song tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý; tác giả nhận thấy dường như thuật ngữ này chưa được pháp luật giải thích một cách chính thức Tuy nhiên, dựa trên quan niệm thông thường và nội dung các quy định của pháp luật về đất nông nghiệp, tác giả cho rằng khái niệm đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số được hiểu như sau: Đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số là một thành phần độc lập trong nhóm đất nông nghiệp Nó được đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng vào mục đích chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối

Bên cạnh những đặc điểm chung của nhóm đất nông nghiệp, đất sản xuất

của đồng bào dân tộc thiểu số còn cố một số đặc điểm riêng cơ bản sau: một là,

phần lớn đất sản xuất nông nghiệp trồng cây hàng năm của đồng bào dân tộc thiểu

số ở khu vực Tây Nguyên và miền núi phía Bắc có diện tích vừa và nhỏ; bởi lẽ, việc canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu ở khu vực miền núi Trong khi đó, đất trồng cây hàng năm của đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Nam Bộ lại có

Trang 18

diện tích lớn hơn; hai là, đất trồng cây lâu năm và đất lâm nghiệp của đồng bào dân

tộc thiểu số ở khu vực Tây Nguyên và miền núi phía Bắc có diện tích lớn hơn nhiều

so với loại đất này của đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Nam Bộ; do mật độ dân số ở khu vực Tây Nguyên và miền núi phía Bắc thấp hơn so với khu vực Tây

Nam Bộ; ba là, việc canh tác, sử dụng đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

gặp nhiều khó khăn do diện tích nhỏ, hẹp hoặc có vị trí độ dốc cao, khô hạn hoặc

đường sá đi lại khó khăn; bốn là, tương tự như đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân

tộc thiểu số vừa cố định lâu dài vừa mang tính tạm thời do một số dân tộc thiểu số

còn duy trì phong tục, tập quán "du canh du cư"; năm là, diện tích đất sản xuất của

đồng bào dân tộc thiểu số có xu hướng ngày càng bị thu hẹp do việc chuyển nhượng

Một là, đảm bảo đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số là một

biểu hiện sinh động về thực hiện quyền con người và quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 Bởi lẽ, xét về nguồn gốc, đất đai không

do bất cứ ai tạo ra mà do tự nhiên tạo ra và có trước con người Con người sinh ra phải dựa vào việc khai thác, sử dụng đất đai để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình Hay nói cách khác, con người khó có thể tồn tại nếu thiếu đất đai Do đó, đất đai được coi là "tặng vật" của thiên nhiên ban cho con người Mọi người sinh ra đều

có quyền bình đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng đất để duy trị sự tồn tại của mình

và phải có bổn phận bồi bổ, cải tạo làm cho đất tốt hơn lên để truyền lại cho các thế

hệ tương lai Do đó quyền có đất và quyền sử dụng đất không chỉ được coi là quyền

tự nhiên của mỗi con người mà còn là quyền cơ bản của công dân mà bất kỳ quốc gia nào cho dù được thiết lập dựa trên các hình thái kinh tế - xã hội, thể chế chính trị khác nhau, đều phải thực hiện và bảo đảm cho công dân của mình thực hiện các quyền này (không phân biệt công dân là người dân tộc đa số hay là người dân tộc thiểu số) Các quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp - đạo luật gốc - để bảo đảm trách nhiệm pháp lý của Nhà nước

Thứ hai, đảm bảo đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số thể hiện sự

quan tâm, cam kết của Nhà nước Việt Nam trong việc đảm bảo quyền bình đẳng trong

Trang 19

lĩnh vực đất đai đối với những dân tộc thiểu số ở vị trí yếu thế, dễ bị tổn thương hơn so với người Kinh chiếm đa số ở Việt Nam Hơn nữa, việc đảm bảo đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số còn mang ý nghĩa về nhân quyền (quyền con người) Bởi lẽ, con người sinh ra muốn tồn tại và phát triển phải có quyền tiếp cận, sử dụng đất đai Điều này được ghi nhận trong Tuyên bố đất đai của Liên hợp quốc Thực tế cho thấy một trong những nguyên nhân của đói nghèo của con người nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng là do không được tiếp cận, sử dụng đất đai

Thứ ba, đảm bảo đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số góp phần

củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống lại bất kỳ hành vi chia

rẽ, phân biệt, kỳ thị dân tộc

Như chúng ta đã biết, đất đai là vấn đề nhạy cảm và có ý nghĩa chính trị, kinh

tế, xã hội ở nước ta Sự bất bình đẳng và thiếu công bằng trong chiếm hữu, sử dụng đất

sẽ tiềm ẩn nguy cơ mâu thuẫn, xung đột xã hội giữa những người chiếm giữ diện tích lớn đất đai với người không có hoặc thiếu đất Hơn nữa, thực tiễn đã chứng minh việc không có hoặc thiếu đất ở, đất sản xuất là điều kiện để các thế lực phản động lôi kéo, xúi giục và kích động bạo loạn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số mà vụ việc bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên năm 2001 là một ví dụ điển hình Do đó, đảm bảo đất

ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số góp phần củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống lại bất kỳ hành vi chia rẽ, phân biệt, kỳ thị dân tộc

Thứ tư, đảm bảo đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số góp phần

bảo đảm sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở vùng sâu, vùng xa, vùng có địa chính trị đặc biệt quan trọng

Thứ năm, đảm bảo đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số góp

phần phát triển kinh tế, đảm bảo sự an sinh xã hội và phát triển bền vững vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống

1.2.3 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về giải quyết đất, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.3.1 Giai đoạn trước thời kỳ Đổi mới (trước năm 1986)

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, bao gồm 54 dân tộc anh em cùng sinh sống Trong lịch sử 4.000 năm, các dân tộc sinh sống trên dải đất hình chữ S đã đoàn kết, chung sức chung lòng đấu tranh chống ngoại xâm giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và

phát triển đất nước với truyền thống tương thân tương ái tốt đẹp "Bầu ơi thương lấy bí

cùng; tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn" Truyền thống đại đoàn kết dân tộc

được đúc kết từ các cuộc kháng chiến trường kỳ chống ngoại xâm là bài học vô cùng

Trang 20

quý giá mà các thế hệ tiền nhân truyền lại cho con cháu phải duy trì, củng cố và giữ gìn Nhận thức sâu sắc bài học đại đoàn kết dân tộc, Đảng và Nhà nước xác định vấn

đề dân tộc chiếm vị trí trọng yếu, cốt tử Các quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật về ưu tiên đầu tư, giúp đỡ đồng bào dân tộc thiểu số đã lần lượt được ban hành; trong đó, có chính sách về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu

số Chính sách đại đoàn kết dân tộc nói chung và chính sách giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng đã được thể hiện trong các Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 Tiếp đó, văn bản pháp luật đề cập tương đối toàn diện việc quản lý và sử dụng đất là Quyết định số 201/CP ngày 01/07/1980 của Chính phủ

về tăng cường công tác quản lý đất đai trong phạm vi cả nước Trong Quyết định này vấn đề giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số được thể hiện lồng ghép trong các quy định về quản lý và sử dụng đất đai Nghiên cứu pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số ở giai đoạn này, tác giả rút

ra một số nhận xét sau đây: một là, vấn đề giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng

bào dân tộc thiểu số chưa được đề cập một cách trực diện, cụ thể và đầy đủ trong một văn bản pháp luật Vấn đề này được lồng ghép trong nội dung các quy định về

quản lý, sử dụng đất và thể hiện còn khá mờ nhạt; hai là, vấn đề giải quyết đất ở,

đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số được quy định rải rác ở các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước khác nhau ban hành mà chưa có tình hệ thống Mặt khác, hiệu lực pháp lý của các quy định này chưa cao do còn thiếu một đạo luật đề cập cụ thể vấn đề giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.3.2 Giai đoạn sau Đổi mới (từ năm 1986 đến nay)

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đặt nền móng cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã khẳng định:

Thực hiện đúng chính sách giai cấp và chính sách dân tộc Trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở những nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số, cần thể hiện đầy đủ chính sách dân tộc, phát triển mối quan hệ gắn bó tốt đẹp giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng làm chủ tập thể; kết hợp phát triển kinh tế và phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất và chăm lo đời sống con người, kể cả những người từ nơi khác đến và dân tại chỗ Chống những thái độ và

Ngày 27/11/1989, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về một

số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi Thể chế hóa quan

6 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987

Trang 21

điểm của Đảng về chính sách dân tộc được ghi nhận trong các nghị quyết nêu trên, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã thể chế hóa bằng Quyết định số 72-HĐBT ngày 13/02/1990 về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi Đây là hai văn kiện quan trọng đánh dấu sự đổi mới hoạt động công tác

xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng

Tiếp đó, Hiến pháp năm 1992 ra đời đã quy định:

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời

Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua thay thế Hiến pháp năm 1992 nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và hội nhập quốc tế đã long trọng khẳng định:

1 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; 2 Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; 3 Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình; 4 Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều

Thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về ưu tiên phát triển đối với đồng bào dân tộc thiểu số, Luật đất đai năm 2013 quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số; theo đó:

"1 Có chính sách về đất ở, đất sinh hoạt cộng đồng cho đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa và điều kiện thực tế của từng vùng; 2 Có chính sách tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số trực tiếp sản

Luật này mới dừng lại ở quy định mang tính nguyên tắc về giải quyết đất ở, đất sản

7 Điều 5 Hiến pháp năm 1992

8 Điều 5 Hiến pháp năm 2013

9 Điều 27 Luật đất đai năm 2013

Trang 22

xuất của đồng bào dân tộc thiểu số Vấn đề này được quy định với những giải pháp

cụ thể tại Quyết định số 755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo

và hộ nghèo ở xã, thôn đặc biệt khó khăn; Quyết định số 29/2013/QĐ -TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn từ năm 2013 - năm 2015; Thông tư số 02/2013/TT-UBDT ngày 24/6/2013 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc hướng dẫn thực hiện một số điều của Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg ngày 04/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012 - 2015; Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn v.v Tìm hiểu chính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất đối với đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn này, tác giả rút ra một số nhận xét:

một là, hệ thống chính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất đối với đồng

bào dân tộc thiểu số được xây dựng và ban hành tương đối cụ thể, từng bước hoàn thiện đã tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết đất ở, đất sản xuất đối với đồng bào

dân tộc thiểu số trên thực tế; hai là, các quy định giải quyết đất ở, đất sản xuất đối

với đồng bào dân tộc thiểu số được đề cập trong các văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất như Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp 2013, Luật đất đai năm 2013 đã ràng buộc trách nhiệm pháp lý của các cơ quan nhà ước có thẩm quyền trong việc đảm

bảo đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số; ba là, pháp luật ở thời kỳ này

đã quy định khá cụ thể nguyên tắc, giải pháp và cơ chế tổ chức thực hiện việc giải quyết đất ở, đất sản xuất đối với đồng bào dân tộc thiểu số…

1.2.4 Nguyên tắc giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

Tại Điều 2 Quyết định số 755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu

số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn đưa ra nguyên tắc thực hiện giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số như sau:

Hỗ trợ trực tiếp đến hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; hộ nghèo ở các xã, thôn đặc biệt khó khăn; bảo đảm công khai minh bạch, đúng đối tượng

Các hộ được hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt phải sử dụng đúng mục đích để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống góp phần xóa đói, giảm nghèo;

Trang 23

không được chuyển nhượng, tặng, cho, cầm cố, cho thuê đất ở, đất sản xuất trong thời gian 10 năm, kể từ ngày được Nhà nước giao đất

Lao động được hỗ trợ một phần kinh phí để đào tạo, chuyển đổi nghề phải

sử dụng đúng mục đích thông qua các cơ sở đào tạo nghề tại địa phương hoặc kết hợp với chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm tại các doanh nghiệp

Mỗi hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, hộ nghèo ở các xã, thôn đặc biệt khó khăn chưa có hoặc chưa đủ đất sản xuất theo quy định chỉ được hỗ trợ một trong các hình thức sau:

Một là, hỗ trợ đất sản xuất

- Định mức đất sản xuất cho mỗi hộ: Căn cứ theo mức bình quân chung của từng địa phương

- Những nơi còn quỹ đất thì được hỗ trợ trực tiếp bằng tiền và được vay vốn

từ Ngân hàng Chính sách xã hội để tạo quỹ đất Mức hỗ trợ từ ngân sách Trung ương

và vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội cho mỗi hộ để tạo quỹ đất sản xuất bình quân 30 triệu đồng/hộ Trong đó, ngân sách Trung ương hỗ trợ 15 triệu đồng/hộ và được vay tín dụng tối đa không quá 15 triệu đồng/hộ, thời gian vay 5 năm với mức lãi suất bằng 0,1%/tháng tương đương với 1,2%/năm

- Quỹ đất sản xuất để giao cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo bao gồm: Đất Nhà nước quy hoạch để hỗ trợ cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo

và hộ nghèo theo quy định tại Quyết định này; đất thu hồi từ các nông, lâm trường và các doanh nghiệp, tổ chức sau khi sắp xếp lại theo Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 16/06/2003 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh; đất khai hoang phục hóa, đất được hiến, mua, chuyển nhượng tự nguyện; đất thu hồi từ các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai và các nguồn khác

Hai là, hỗ trợ chuyển đổi nghề Đối với những hộ có lao động học nghề để

chuyển đổi nghề thì được ngân sách Trung ương hỗ trợ tối đa 04 triệu đồng/lao động; mức hỗ trợ cho từng lao động cụ thể căn cứ vào học phí, ngành nghề và thời gian học thực tế của lao động do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định

Những hộ có lao động, có nhu cầu vốn để mua sắm nông cụ, máy móc làm dịch vụ sản xuất nông nghiệp hoặc cần vốn để làm các nghề khác, tăng thu nhập, thì được ngân sách Trung ương hỗ trợ 05 triệu đồng/hộ và được vay vốn tín dụng tối đa không quá 15 triệu đồng/hộ, thời gian vay 05 năm với mức lãi suất bằng 0,1%/tháng tương đương 1,2%/năm

Trang 24

Những hộ, lao động chuyển đổi nghề, ngoài việc được hưởng các chính sách nêu trên, còn được hưởng các chính sách ưu đãi liên quan về dạy nghề theo quy định hiện hành Ngoài mức hỗ trợ này, từng địa phương tùy theo khả năng nguồn ngân sách mà quyết định mức hỗ trợ thêm

Ba là, hỗ trợ xuất khẩu lao động Đối tượng đi xuất khẩu lao động quy định

tại Quyết định này được thực hiện như cơ chế, chính sách quy định tại Quyết định

số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án

hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn từ năm 2009 - năm 2020

Bốn là, giao khoán bảo vệ rừng và trồng rừng Hộ gia đình thực hiện giao

khoán bảo vệ rừng và trồng rừng thuộc đối tượng quy định tại Quyết định này được thực hiện như cơ chế, chính sách quy định tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo và Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn từ năm 2011 - năm 2020

1.3 Lý luận pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

1.3.1 Khái niệm pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

Pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số là một chế định cơ bản của pháp luật đất đai nhằm thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng

và chính sách dân tộc của Nhà nước trong lĩnh vực đất đai Lĩnh vực pháp luật này bao gồm các quy định về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số Mặc dù khái niệm pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số được

sử dụng khá phổ biến trong các văn bản pháp luật song tại Điều 3 Luật đất đai năm

2013 về giải thích từ ngữ lại không giải thích cụ thể về khái niệm này Nghiên cứu nội dung các quy định hiện hành về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu

số, theo tác giả, khái niệm chế định pháp luật này có thể được hiểu như sau: Pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số là một chế định cơ bản của pháp luật đất đai gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước nhằm điều chỉnh mối quan hệ

xã hội phát sinh trong việc giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

Bên cạnh các đặc điểm chung của pháp luật đất đai, lĩnh vực pháp luật này còn mang một số đặc điểm cơ bản sau đây:

Trang 25

Một là, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc

thiểu số chủ yếu bao gồm các quy phạm pháp luật được ban hành ở các văn bản dưới luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành và các địa phương ban hành dưới hình thức quyết định, chỉ thị, thông tư… Luật đất đai năm 2103 có một điều quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo giải quyết đất ở, đất

nguyên tắc tạo cơ sở pháp lý cơ bản để Chính phủ cụ thể hóa ở các văn bản hướng dẫn thi hành được ban hành dưới hình thức nghị quyết, quyết định…

Hai là, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc

thiểu số điều chỉnh mối quan hệ xã hội phát sinh giữa các cơ quan nhà nước và giữa các cơ quan nhà nước với đồng bào dân tộc thiểu số trong việc giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số Như vậy, phạm vi áp dụng của lĩnh vực pháp luật này tương đối hẹp và cụ thể Đối tượng áp dụng của pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số bao gồm: Các cơ quan nhà nước với nhau và các cơ quan nhà nước với đồng bào dân tộc thiểu số trong việc giải quyết đất ở, đất sản xuất

Ba là, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu

số mang tính chất liên ngành luật Nó bao gồm các quy phạm pháp luật đất đai, quy phạm pháp luật hiến pháp và quy phạm pháp luật của một số đạo luật có liên quan

Bốn là, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu

số là lĩnh vực pháp luật công Nó điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội mà một bên chủ thể là các cơ quan nhà nước (đại diện cho Nhà nước) - với tư cách chủ sở hữu đại diện về đất đai - trong việc giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu

số Đây chính là một phương thức cụ thể để Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai được quy định tại Điều 13 Luật đất đai năm 2013

Năm là, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu

số thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về dân tộc

Nó không chỉ có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc mà còn mang tính an sinh xã hội trong việc ghi nhận và bảo hộ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

1.3.2 Cơ sở của việc xây dựng pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

1.3.2.1 Những thay đổi chính về chính sách giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số đòi hỏi pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất

10 Điều 27 Luật đất đai năm 2013

Trang 26

cho đồng bào dân tộc thiểu số phải thay đổi góp phần thực hiện mục tiêu, giải pháp phù hợp với sự thay đổi đó

- Việc ban hành Luật hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi tạo

cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất để xây dựng nguồn lực cho cho việc phát triển của vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong tình hình mới

- Thực tiễn thực hiện công tác dân tộc, chính sách giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay cho thấy: vùng dân tộc thiểu số và miền núi có điều kiện tự nhiên khó khăn, hiểm trở, thường xuyên chịu ảnh hưởng và tác động lớn của thiên tai, lũ lụt; kết cấu hạ tầng (điện - đường - trường - trạm, dịch vụ) ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng vẫn còn khó khăn, nhiều nơi môi trường sinh thái tiếp tục bị suy thoái; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn cao so mới mức bình quân chung của cả nước, khoảng cách chênh lệch về mức sống, về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc, giữa các vùng ngày càng tăng; chất lượng, hiệu quả về giáo dục và đào tạo còn thấp, công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn; tình trạng di

cư tự do vẫn còn diễn biến phức tạp; bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu

số đang bị mai một Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên; trong đó, nguyên nhân chủ yếu là hệ thống chính sách, pháp luật giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số hiện hành còn thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất, chưa hoàn thiện; thiếu một cơ chế pháp lý thống nhất để các cơ quan nhà nước phối hợp trong quản lý, hoạch định, xây dựng, thực hiện và theo dõi, đánh giá các chính sách đối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi, người dân tộc thiểu số, cụ thể:

Một là, văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực dân tộc, chính sách giải

quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số có tính ổn định không cao, chủ yếu là các văn bản dưới luật quy định cụ thể chế độ, chính sách áp dụng đối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi Chính sách chưa phù hợp với đặc thù vùng dân tộc và miền núi; chính sách ban hành trước và sau thiếu sự kết lối về nội dung; chính sách thường có mục tiêu lớn, thời gian thực hiện ngắn, gắn với nhiệm kỳ nên hiệu quả chưa cao

Hai là, các chính sách giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc

thiểu số do nhiều chủ thể ban hành nhưng thiếu cơ chế phối hợp thống nhất giữa các

Bộ, ngành, địa phương trong hoạch định, thực hiện và theo dõi, đánh giá nên có sự chồng chéo về nội dung, đối tượng thụ hưởng và thời gian thực hiện, khó lồng ghép Một số văn bản quản lý, hướng dẫn thực hiện chính sách chưa kịp thời hoặc chậm

Trang 27

được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế, chưa phát huy được nội lực của người dân, chưa đảm bảo tăng cường sự quản lý nhà nước một cách thống nhất

Ba là, thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu theo từng dân tộc, hệ thống chỉ tiêu

thống kê quốc gia về dân tộc phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước làm cơ sở cho việc đánh giá, dự báo, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Bốn là, thiếu cơ chế phân bổ ngân sách ổn định dành cho vùng dân tộc thiểu

số theo tỷ lệ% tính trên tổng chi ngân sách nhà nước Nguồn lực tài chính phân bổ dàn trải, thiếu tập trung, việc bố trí vốn cho các chính sách chưa thể hiện rõ tính ưu tiên, thiếu chủ động về kinh phí, chưa đảm bảo mục tiêu và kế hoạch đã được phê duyệt Việc huy động nguồn lực từ ngân sách địa phương, từ cộng đồng còn ít

Do đó, việc xây dựng pháp luật giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số dân tộc thiểu số nhằm bổ sung, hoàn thiện các quy định của các luật chuyên ngành có liên quan đến lĩnh vực dân tộc, công tác dân tộc; xây dựng các cơ chế cụ thể nhằm đảm bảo thực hiện các chính sách này đối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi được quy định trong các luật chuyên ngành, phù hợp với những đặc thù về văn hóa và đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số; khắc phục những chồng chéo, dàn trải của chính sách, pháp luật chuyên ngành liên quan đến công tác dân tộc; tạo khung pháp lý thống nhất đảm bảo thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ đối với đồng bào dân tộc thiểu số gắn với mục tiêu phát triển bền vững

1.3.2.2 Những thay đổi về kinh tế - xã hội tác động mạnh đến việc tổ chức thực hiện chính sách đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số

Sau 30 năm đổi mới, nhất là từ khi có Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 (khóa IX), tình hình miền núi và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số có bước chuyển biến quan trọng Nền kinh tế thị trường nhiều thành phần ở miền núi

và các vùng dân tộc từng bước hình thành và phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa Việc triển khai thực hiện nhiều chính sách, chương trình, dự án đầu tư đã làm cho kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân

ở nhiều vùng đồng bào dân tộc được cải thiện rõ rệt Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt được những kết quả to lớn Giáo dục phát triển, mặt bằng dân trí được nâng lên Văn hóa truyền thống của các dân tộc được tôn trọng, giữ gìn và phát huy

Trang 28

Nền kinh tế nước ta vượt qua ngưỡng nước nghèo vào năm 2008 khi tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người đạt 1.152 USD/người và nền kinh tế nói chung, công tác dân số nói riêng không còn cơ hội nhận được các nguồn vốn viện trợ, vốn vay ưu đãi của các tổ chức quốc tế và các quốc gia trong những năm sau đó Khi vượt qua ngưỡng của nước nghèo thì nhiều chính sách phát triển kinh tế và quản lý kinh tế thay đổi hướng tới mục tiêu chất lượng và tạo cơ hội bình đẳng trong phát triển Những ảnh hưởng của chính sách phát triển và sự phát triển có thể không đồng bộ, kinh

tế ở miền núi và các vùng dân tộc còn chậm phát triển Kết cấu hạ tầng ở một số vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn thấp kém Môi trường sinh thái tiếp tục bị suy thoái Tỷ lệ đói nghèo hiện còn cao so với bình quân chung của cả nước; khoảng cách chênh lệch

về mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc ngày càng tăng; chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp; công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào ở vùng sâu, vùng

xa còn nhiều khó khăn Một số bản sắc tốt đẹp trong văn hóa của các dân tộc thiểu số đang bị mai một Một số nơi đồng bào bị các thế lực thù địch và kẻ xấu lợi dụng, kích động, lôi kéo vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Tình hình này có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ phía các chính sách đề ra Thực tế cho thấy, một số chính sách mới chỉ dừng lại ở những quy định mang tính khuyến khích chung nên kết quả hỗ trợ còn hạn chế Một số chính sách lại chưa sát thực tế, hình thức thực hiện chưa phù hợp với đối tượng là người dân tộc thiểu số Tiến bộ thực hiện các chính sách, chương trình hỗ trợ còn chậm, rời rạc, dàn trải, chưa đáp ứng yêu cầu Mặt khác, một số chính sách hỗ trợ tuy đã được quy định trong các các văn bản dưới luật như nghị định, quyết định, thông tư nhưng để thực hiện được phải áp dụng nhiều quy định của Luật chuyên ngành và chịu sự điều chỉnh của các luật đó, như Luật ngân sách nhà nước, Luật đất đai, Luật đầu tư và hàng trăm văn bản hướng dẫn thi hành Vì vậy, việc thực hiện các chính sách nói trên trong thực tiễn bị chia cắt, thực hiện một cách rời rạc, manh mún và dàn trải Đó là một thách thức rất lớn khi thực hiện trong thực tiễn các chính sách đất ở, đất sản xuất đối với vùng dân tộc thiểu số

và miền núi Vì vậy, nếu không có một luật ở mức độ pháp điển hóa cao quy định

về những chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số mang tính khả thi thì đồng bào dân tộc vẫn tiếp tục gặp khó khăn trong quá trình phát triển

Qua kết quả điều tra kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2015, thấy rằng nhiều vấn đề nổi lên đáng lo ngại như: tỷ lệ nghèo dân tộc thiểu số 23,1%, cận nghèo 13,6%, cao gấp 04 lần so với mức bình quân chung của cả nước; tỷ lệ tảo hôn dân tộc thiểu số: 26,6%, có 19 dân tộc trên 40%, cao nhất 73%; tỷ lệ người dân tộc

Trang 29

thiểu số từ 15 tuổi trở lên không biết đọc, không biết viết chữ phổ thông là 20,8%,

có 06 dân tộc trên 50%, cao nhất là 65,6%; còn có 80.096 hộ thiếu đất ở, chiếm 2,74% tổng số hộ dân tộc thiểu số; 221.754 hộ thiếu đất sản xuất, chiếm 7,49% hộ dân tộc thiểu số cả nước

Những hạn chế nêu trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là thiếu văn bản quy phạm pháp luật ngang tầm với nhiệm vụ làm công cụ pháp lý để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc và thực hiện chính sách giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số

1.3.2.3 Những thay đổi khác biệt của quá trình hoàn thiện nhà nước pháp quyền có tác động mạnh đến việc xây dựng nội dung cụ thể, chi tiết của pháp luật giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số

Việc xây dựng và ban hành Luật hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi nhằm hoàn thiện nhà nước pháp quyền:

- Thể chế hóa đầy đủ và đúng đắn chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân tộc thời kỳ đổi mới, nhằm phát triển toàn diện đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nêu tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 07, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác dân tộc và các văn kiện khác của Đảng Đồng thời thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 26/05/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và các văn kiện khác của Đảng Trong đó xác định nhiệm vụ thể chế hoá toàn diện chính sách "bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển", giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc

- Việc xây dựng Luật còn nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013: "Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước" (Khoản 4, Điều 5) Khắc phục những bất cập về chính sách, pháp luật trong lĩnh vực dân tộc và miền núi: Trong nhiều năm qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách về công tác dân tộc Tuy nhiên, những chính sách này chưa thể hiện rõ tính chiến lược, chưa đồng bộ, thiếu cụ thể, thường áp dụng một mô hình cho nhiều vùng, nhiều dân tộc

và chủ yếu mới đáp ứng những yêu cầu cấp bách, trước mắt Một số chủ trương, chính sách được xây dựng còn thiên về cách tiếp cận từ trên xuống, mang tính áp đặt, vẫn bị ảnh hưởng của mô hình phát triển của dân tộc Kinh nên không phù hợp Nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật thể chế hóa chủ trương, đường lối của

Trang 30

Đảng về công tác dân tộc đã phát huy tác dụng nhất định trong việc phát triển kinh

tế, xã hội, văn hóa và đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi Nhưng các quy định này chủ yếu lại nằm rải rác, tản mạn ở rất nhiều văn bản luật chuyên ngành, thường mang tính quy định chung về những ưu tiên, ưu đãi dành cho đồng bào dân tộc thiểu số trong lĩnh vực kinh tế - xã hội Trong số các văn bản quy phạm pháp luật chuyên về công tác dân tộc chỉ có một nghị định duy nhất (Nghị định số 05/2011/NĐ-Cp ngày 14/01/2011 về công tác dân tộc) Các văn bản còn lại chủ yếu dưới dạng thông tư hoặc quyết định phê duyệt các chương trình, kế hoạch

hỗ trợ phát triển, chủ yếu mang tính chất quản lý, điều hành việc thực hiện, triển khai các dự án, chương trình đầu tư, hỗ trợ cụ thể Hơn nữa, do là văn bản dưới luật nên tính ổn định không cao, lại được nhiều chủ thể ban hành nên có sự chồng chéo, trong khi đó cơ chế phối hợp thực hiện chưa rõ nên việc triển khai chính sách hỗ trợ vùng dân tộc thiểu số và miền núi còn nhiều khó khăn, vướng mắc

1.3.3 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

Thứ nhất, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách về dân tộc nói chung

và chính sách đất đai nói riêng của Nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta

Như chúng ta đã biết do thể chế chính trị của nước ta là thể chế Đảng Cộng sản lãnh đạo duy nhất và toàn diện về mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội thông qua việc ban hành quan điểm, đường lối Dựa trên quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước xây dựng chính sách và pháp luật là sự thể chế hóa quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thành các quy phạm cụ thể mang tính cưỡng chế thực hiện Do vậy, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách về dân tộc nói chung và chính sách đất đai nói riêng của Nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta

Thứ hai, chế độ sở hữu đất đai ảnh hưởng đến pháp luật về giải quyết đất ở,

đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta

Do tính chất đặc thù của chế độ sở hữu đất đai: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Pháp luật đất đai quy định quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước trong việc phân phối đất đai cho các nhu cầu của xã hội; quy định mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất và hạn mức sử dụng đất v.v Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà

Trang 31

nước đại diện đã để lại dấu ấn đậm nét trong nội dung các quy định của pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta với biểu hiện:

Một là, Nhà nước với vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và

thống nhất quản lý đất đai có quyền giao đất, cho thuê đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số; có quyền quy định thời hạn sử dụng đất, hạn mức sử dụng đất

ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số; quy định quyền và nghĩa vụ của đồng bào dân tộc thiểu số trong sử dụng đất ở, đất sản xuất; đồng thời, Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số…

Hai là, Nhà nước có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất ở, đất

sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số; thanh tra, kiểm tra việc quản lý và sử dụng đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số; giải quyết tranh chấp về đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số v.v

Thứ ba, trình độ phát triển và trình độ dân trí ảnh hưởng đến pháp luật về

giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số Yếu tố này thể hiện đậm nét ở khía cạnh thực thi pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số Do sự phát triển không đồng đều giữa các dân tộc và sự tiếp cận, hiểu biết pháp luật khác nhau giữa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước cấp cơ sở; đồng bào dân tộc nên việc tự giác tuân thủ pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số có sự khác nhau Ở những vùng có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và trình độ dân trí của đồng bào dân tộc cao hơn thì sự hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số cao hơn những khu vực có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu vực có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội khó khăn

Thứ tư, phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào

dân tộc thiểu số ảnh hưởng đến pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số Điều này thể hiện khi áp dụng các quy định về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số, chúng ta không chỉ dựa trên quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; áp dụng dập khuôn máy móc hoặc áp đặt nhận thức, suy nghĩ của người Kinh mà phải tính đến các yếu tố phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số Mỗi một dân tộc có phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa truyền thống riêng Hơn nữa, mỗi khu vực đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống lại có điều kiện hoàn cảnh, lịch sử riêng Vì vậy, việc xây dựng và thực thi pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số bên cạnh việc tuân thủ những nguyên tắc chung còn phải tính tới các yếu tố đặc thù của đồng bào dân tộc thiểu số Có như vậy thì pháp luật về giải quyết đất ở,

Trang 32

đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số mới đi vào cuộc sống và phát huy vai trò tích cực trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta

Kết luận Chương 1

1 Nước ta là quốc gia có 54 dân tộc anh em cùng nhau sinh sống, đoàn kết, tương trợ, hợp tác, bình đẳng, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển Đây là truyền thống vô cùng quý báu đã giúp dân tộc Việt Nam đương đầu và vượt qua mọi khó khăn, thách thức trong công cuộc dựng nước và giữ nước Do sự phát triển không đồng đều giữa các dân tộc Về cơ bản 53 dân tộc thiểu số có mức phát triển chưa tương thích với dân tộc đa số là dân tộc Kinh

Tuy chiếm số lượng thiểu số nhưng 53 dân tộc cư trú, phân bố trên phạm vi 35% lãnh thổ, ở những vùng có vị trí địa chính trị, an ninh, quốc phòng và môi trường sinh thái rất quan trọng Việc đảm bảo ổn định đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới, lãnh thổ quốc gia

2 Hiện nay, đồng bào dân tộc thiểu số đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hoặc không có đất ở, đất sản xuất Điều này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau và không loại trừ một số nguyên nhân mang tính lịch sử Nếu không giải quyết vấn đề đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số sẽ tiềm ẩn nguy cơ xung đột xã hội và bị các thế lực phản động lôi kéo, xúi giục, kích động gây mất ổn định chính trị Mặt khác, giải quyết vấn đề đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số còn nhằm thực hiện quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân thể hiện sự bình đẳng, tính nhân văn và an sinh xã hội trong quan điể, đường lối, chinh sách của Đảng và Nhà nước

3 Pháp luật về giải quyết vấn đề đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số được xây dựng và ban hành nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo giải quyết vấn đề đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta Nội dung các quy định về vấn đề này chủ yếu nằm ở các văn bản dưới luật do Chính phủ, các bộ, ngành và các địa phương ban hành nên tính pháp lý chưa cao

Mặt khác, lĩnh vực pháp luật này chịu ảnh hưởng của một số yếu tố cơ bản bao gồm quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách về dân tộc nói chung và chính sách đất đai nói riêng của Nhà nước; chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; trình độ phát triển và trình độ dân trí; phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số v.v

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT ĐẤT Ở, ĐẤT SẢN XUẤT CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

TẠI TỈNH YÊN BÁI

2.1.1 Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất do Ủy ban Dân tộc quản lý về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 539/NQ-UBTVQH13 ngày 30/10/2012 về kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về đất

ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số

Sau 10 năm thực hiện các chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất đã có 210.587/1.027.723 hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo được thụ hưởng chính sách

hỗ trợ đất sản xuất, đất ở (trong đó có 99.248 hộ được hỗ trợ đất ở, 111.339 hộ được

hỗ trợ đất sản xuất) Riêng giai đoạn từ năm 2012 - năm 2014, thực hiện hỗ trợ được 10.156 hộ về đất ở và 19.449 hộ về đất sản xuất Để tiếp tục phát huy hiệu quả đạt được từ các năm trước, Chính phủ ban hành các chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số đến năm 2015 nhằm ổn định cuộc sống, phát triển sản xuất góp phần giảm nghèo bền vững vùng dân tộc và miền núi Tuy vậy, giai đoạn từ năm 2012 - năm 2014 kết quả đạt được của các chính sách còn thấp do nguồn lực không đủ Tổng ngân sách Trung ương hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho hộ dân tộc thiểu

số từ năm 2012 - năm 2015 là: 2.777.15 tỷ đồng Tính từ năm 2002 đến nay đã cấp khoảng 6.047,780 tỷ đồng/tổng nhu cầu khoảng 30.000,0 tỷ đồng (tổng hợp các Quyết định 134/2004/QĐ-TTg, Quyết định 1592/QĐ-TTg, Quyết định số 33/QĐ-TTg, Quyết định số 755/QĐ-TTg, Quyết định số 29/QĐ-TTg) Kết quả cụ thể như sau:

Thứ nhất, thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt

cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 755/QĐ-TTg

Theo số liệu tổng hợp Đề án số 755 đã phê duyệt của các tỉnh, tổng số hộ dân tộc thiểu số còn thiếu đất sản xuất là 114.322 hộ, tổng số hộ muốn chuyển đổi nghề do thiếu đất sản xuất là 195.060 hộ (trong đó có 122.327 hộ cần chuyển đổi nghề, mua sắm công cụ sản xuất và 72.733 hộ có nhu cầu giao khoán bảo vệ và trồng rừng); 8.461 lao động có nhu cầu đi xuất khẩu lao động và 61.154 lao động muốn học nghề;

11 Các số liệu được tham khảo từ báo cáo kết quả thực hiện chính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất đối với đồng bào dân tộc thiểu số của Ủy ban Dân tộc

Trang 34

588.360 hộ có nhu cầu được hỗ trợ nước sinh hoạt Qua 02 năm thực hiện, ngân sách Trung ương đã cấp 952,6 tỷ đồng/tổng nhu cầu 11.754,98 tỷ đồng (đạt 8,1%) Đến hết năm 2014, các tỉnh chỉ mới thực hiện hỗ trợ 2.099 hộ với 4.193 ha đất sản xuất (đạt 1.8%), chuyển đổi ngành nghề cho 868 hộ (đạt 0,7%), nước sinh hoạt cho 16.820 hộ và hoàn thành 177 công trình nước sinh hoạt tập trung (đạt 03%) Do gặp nhiều khó khăn nên kết quả thực hiện Quyết định số 755/TTg còn thấp Một số địa phương chưa tích cực triển khai thực hiện chính sách (không bố trí vốn đối ứng thực hiện chính sách, xây dựng đề án chậm…) Dự kiến đến hết năm 2015, kết quả thực hiện chính sách không đạt mục tiêu, yêu cầu theo Quyết định số 755/TTg đã duyệt

Thứ hai, thực hiện chính sách hỗ trợ định canh, định cư cho đồng bào dân

tộc thiểu số theo Quyết định số 33/2013/QĐ-TTg và Quyết định số 1342/QĐ-TTg

Tính đến hết năm 2014, Trung ương đã cấp cho 35 tỉnh là 1.945 tỷ đồng, đạt 71% tổng số vốn đã được duyệt tại Quyết định số 1342/QĐ-TTg (trong đó: vốn đầu tư phát triển 1.223 triệu đồng, đạt 67%; vốn sự nghiệp 722 triệu đồng, đạt 82%) Sau 07 năm thực hiện, các tỉnh đã hoàn thành 43/44 điểm dự án định canh, định cư xen ghép và 119/252 dự án định canh, định cư tập trung, thực hiện dở dang

0 điểm xen ghép và 90 dự án tập trung, 32 dự án chưa được bố trí vốn thực hiện, 11 dự

án đề nghị không triển khai do không bố trí được mặt bằng, không có quỹ đất Đến nay các tỉnh đã hoàn thành định canh, định cư cho 19.908 hộ với 89.143 khẩu, đạt 67% kế hoạch được phê duyệt Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số đã góp phần tăng cường đầu tư cơ

sở hạ tầng thiết yếu gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới, hỗ trợ sản xuất, tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội, môi trường và bảo

vệ an ninh, quốc phòng vùng dân tộc và miền núi; qua đó ổn định đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, hạn chế tình trạng di cư tự do

Tuy nhiên, hiện còn khoảng 3.248 hộ thụ hưởng chính sách thuộc 61 dự án định canh, định cư tập trung nhưng chưa nhận được vốn hỗ trợ và còn khoảng 20.837 hộ thuộc các tỉnh Tây Nguyên chưa được bố trí, sắp xếp ổn định, còn ở rải rác, phân tán nên đời sống không ổn định, chưa có nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nảy sinh tâm lý bất an, rất cần sự hỗ trợ để ổn định và thoát nghèo

Thứ ba, thực hiện chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở và giải quyết việc làm

cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng song Cửu Long giai đoạn từ năm 2013 - năm 2015

Trang 35

Theo báo cáo của các địa phương, vùng đồng bằng sông Cửu Long còn 7.394 hộ dân tộc thiểu số thiếu đất ở, 4.335 hộ có nhu cầu chuộc lại đất sản xuất và 26.124 hộ có nhu cầu chuyển đổi nghề tạo việc làm Do điều kiện ngân sách khó khăn đến nay, Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg chưa được cấp vốn Thủ tướng Chính phủ cho phép điều chuyển nguồn vốn còn dư từ Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg sang thực hiện Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg là 352,55 tỷ đồng/tổng nhu cầu vốn

là 578,227 tỷ đồng Hiện nay, một số tỉnh không có kinh phí điều chuyển và một số tỉnh thiếu kinh phí, khó khăn trong triển khai thực hiện chính sách Đến hết năm

2014, trong toàn khu vực đồng bằng sông Cửu Long mới có tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng và Bạc Liêu thực hiện Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg, đã hỗ trợ được 2.043

hộ có đất ở (đạt 27,63%), 237 hộ được chuộc đất sản xuất (đạt 5,5%), 307 hộ được tạo việc làm và phát triển sản xuất, 849 lao động được đào tạo nghề (đạt 1,2%) Kinh phí giải ngân được 81,77 tỷ đồng Phần lớn các tỉnh còn lại tập trung vào công tác rà soát các đối tượng được thụ hưởng chính sách và xây dựng kế hoạch trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt

2.1.2 Thực trạng về thiếu đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu

số và miền núi trong những năm qua

i) Chính sách về hỗ trợ đất ở, đất sản xuất được thực hiện từ năm 2002, đến giai đoạn từ năm 2009 - năm 2011

Có khoảng 347.457 hộ thiếu đất sản xuất và đất ở Trong đó, số hộ thiếu đất sản xuất là 142.444 hộ, thiếu đất ở là 39.533 hộ, số lao động có nhu cầu nhận khoán khoanh nuôi bảo vệ và trồng rừng là 15.533 hộ, số lao động có nhu cầu được đào tạo nghề để chuyển đổi ngành nghề là 13.153 lao động/13.153 hộ

ii) Chính sách về hỗ trợ đất ở, đất sản xuất được thực hiện giai đoạn từ năm 2012 - năm 2015

Sau nhiều năm thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất trên địa bàn

các tỉnh thực hiện theo các Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg về một số chính sách

hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn; Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu

số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn từ năm

2008 - năm 2010; Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn từ năm 2013 -năm 2015;

Trang 36

Quyết định số 1592/QĐ-TTg về tiếp tục thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt đến năm 2010 cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn; Quyết định số 755/QĐ-TTg về việc phê duyệt một số chính sách sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn Đến nay vẫn còn khoảng 360.167 hộ thiếu đất sản xuất và đất ở; trong đó, có 37.199 hộ thiếu đất ở; 355.943 hộ thiếu đất sản xuất; 238.975 hộ có nhu cầu chuyển đổi nghề; 72.733 hộ có nhu cầu giao khoán bảo vệ và trồng rừng với 258.461 lao động đi xuất khẩu lao động; nhu cầu tổ chức định canh định cư cho khoảng 29.000 hộ đồng bào dân tộc thiểu số

iii) Nguyên nhân thiếu đất ở, đất sản xuất trong vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Một là, đa số đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở khu vực miền núi và cao

nguyên, mặc dù vùng đất này có diện tích lớn, nhưng diện tích canh tác đất nông nghiệp ít chủ yếu đất có độ dốc lớn, nhiều núi đá, địa hình phức tạp, thường bị thiên tai, lũ ống, lũ quét, lở đất, khí hậu khắc nghiệt, đất ngày càng nghèo kiệt bạc mầu, đất không có nguồn nước… Một bộ phận người dân còn tập quán du canh, du cư phát nương làm rẫy, ít hoặc chưa quan tâm đến thâm canh, bảo vệ đất để canh tác

ổn định lâu dài và chưa quan tâm đến việc xác định chủ quyền sử dụng đất

Hai là, dân số ở vùng dân tộc và miền núi tăng nhanh cả về mặt tự nhiên và

cơ học Chỉ tính riêng khu vực Tây Nguyên, sự có mặt đồng bào Kinh từ đồng bằng lên và các dân tộc thiểu số khu vực phía Bắc vào (chủ yếu là các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mông, Mường…) đã làm cho số lượng dân tộc ở các tỉnh Tây Nguyên tăng từ

15 dân tộc năm 1976 lên 43 dân tộc vào năm 2005, đến nay đã gần đủ 54 dân tộc

Ba là, tình trạng mua bán, chuyển nhượng đất đai ở nhiều nơi mà người mua

thường là dân cư mới đến, bên bán thường là người dân tộc thiểu số tại chỗ Vì vậy, làm phát sinh tình trạng một bộ phận dân tộc tại chỗ lâm vào cảnh thiếu đất sản xuất hoặc trở thành người làm thuê cho các dân tộc mới đến hoặc phải phá rừng làm rẫy

Loại đất được mua bán chủ yếu là đất sản xuất Đối tượng được chuyển nhượng thường là dân tộc mới đến, bao gồm dân di cư tự do, dân kinh tế mới, cán

bộ nhà nước và người có tiền ở các tỉnh, thành phố từ đồng bằng lên

Bốn là, phát triển nông, lâm trường Triển khai chủ trương của Nhà nước về

phát huy thế mạnh nông, lâm trường, sau năm 1975 đến những năm đầu thập niên

1980 hàng loạt các nông, lâm trường quốc doanh nhanh chóng được thành lập, bao gồm các nông trường cà phê, cao su, chè, dâu tằm, chăn nuôi, các liên hiệp xí

Trang 37

nghiệp nông, lâm trường khác nhau do Trung ương, các tỉnh và các đơn vị quân đội đóng trên địa bàn quản lý

Toàn bộ đất sản xuất được đưa vào nông, lâm trường quốc doanh, do trình

độ của lao động dân tộc thiểu số còn hạn chế không đáp ứng được nên đã ra khỏi nông, lâm trường nhưng không được trả lại đất, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu đất sản xuất và phân hóa đất đai

Năm là, quá trình quy hoạch phát triển đô thị, xây dựng các dự án hạ tầng,

đường giao thông, thủy lợi, thủy điện, xây dựng khu công nghiệp, khai thác khoáng sản, xây dựng các công trình an ninh, quốc phòng… cũng gây ảnh hưởng, xáo trộn lớn về đất ở, giảm nhiều diện tích đất sản xuất nông nghiệp Các giải pháp tạo quỹ đất từ việc thu hồi đất của các dự án, doanh nghiệp, nông, lâm trường kém hiệu quả, sử dụng chưa đúng mục đích để cấp cho các hộ nghèo thiếu đất đạt kết quả thấp

2.2 Thực trạng pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

2.2.1 Nội dung quy định về nguyên tắc chung giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

Một là, Nhà nước với tư cách là chủ thể nghĩa vụ, chịu trách nhiệm bảo đảm

thực thi pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất đối với đồng bào dân tộc thiểu số thông qua các cơ quan nhà nước, các công chức, viên chức nhà nước triển khai, tổ chức thực hiện để đưa chính sách pháp luật và pháp luật vào đời sống của bà con dân tộc thiểu số

Hai là, nâng cao nhận thức pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho

các chủ thể quyền, trong trường hợp này chủ thể quyền chính là bản thân đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện các quyền năng của mình về đất ở và đất sản xuất

Ba là, các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước hay những người có thẩm

quyền tổ chức thực hiện các hoạt động áp dụng pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số cần phải thiết lập những nguyên tắc cơ bản của quá trình thực hiện

2.2.2 Nội dung quy định về nguyên tắc cụ thể giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

Nguyên tắc giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số được quy định cụ thể tại Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 20/05/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh

Trang 38

hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; theo đó:

Thứ nhất, hỗ trợ trực tiếp đất sản xuất

- Định mức đất sản xuất cho mỗi hộ: Căn cứ theo mức bình quân chung của từng địa phương

- Những nơi còn quỹ đất thì được hỗ trợ trực tiếp bằng tiền và được vay vốn

từ Ngân hàng Chính sách xã hội để tạo quỹ đất Mức hỗ trợ từ ngân sách Trung ương và vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội cho mỗi hộ để tạo quỹ đất sản xuất bình quân 30 triệu đồng/hộ Trong đó, ngân sách Trung ương hỗ trợ 15 triệu đồng/hộ và được vay tín dụng tối đa không quá 15 triệu đồng/hộ, thời gian vay 05 năm với mức lãi suất bằng 0,1%/tháng tương đương với 1,2%/năm

- Quỹ đất sản xuất để giao cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo bao gồm: Đất Nhà nước quy hoạch để hỗ trợ cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo

và hộ nghèo theo quy định tại Quyết định này; đất thu hồi từ các nông, lâm trường và các doanh nghiệp, tổ chức sau khi sắp xếp lại theo Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 16/06/2003 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh; đất khai hoang phục hóa, đất được hiến, mua, chuyển nhượng tự nguyện; đất thu hồi từ các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai và các nguồn khác

Những nơi không còn quỹ đất để giao đất sản xuất cho các hộ thì được hỗ trợ để chuyển đổi sang một trong các hình thức sau:

Một là, hỗ trợ chuyển đổi nghề

i) Đối với những hộ có lao động học nghề để chuyển đổi nghề thì được ngân sách Trung ương hỗ trợ tối đa 04 triệu đồng/lao động; mức hỗ trợ cho từng lao động cụ thể căn cứ vào học phí, ngành nghề và thời gian học thực tế của lao động

do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định

ii) Những hộ có lao động, có nhu cầu vốn để mua sắm nông cụ, máy móc làm dịch vụ sản xuất nông nghiệp hoặc cần vốn để làm các nghề khác, tăng thu nhập, thì được ngân sách Trung ương hỗ trợ 05 triệu đồng/hộ và được vay vốn tín dụng tối đa không quá 15 triệu đồng/hộ, thời gian vay 05 năm với mức lãi suất bằng 0,1%/tháng tương đương 1,2%/năm

Những hộ, lao động chuyển đổi nghề, ngoài việc được hưởng các chính sách nêu trên, còn được hưởng các chính sách ưu đãi liên quan về dạy nghề theo quy định hiện hành Ngoài mức hỗ trợ này, từng địa phương tùy theo khả năng nguồn ngân sách mà quyết định mức hỗ trợ thêm

Trang 39

Hai là, hỗ trợ xuất khẩu lao động Đối tượng đi xuất khẩu lao động quy

định tại Quyết định này được thực hiện như cơ chế, chính sách quy định tại Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt

đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn từ năm 2009 - năm 2020

Ba là, giao khoán bảo vệ rừng và trồng rừng: Hộ gia đình thực hiện giao khoán

bảo vệ rừng và trồng rừng thuộc đối tượng quy định tại Quyết định này được thực hiện như cơ chế, chính sách quy định tại Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo và Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn từ năm 2011 - năm 2020

Thứ hai, hỗ trợ đất ở của đồng bào dân tộc thiểu số

thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tự cân đối quỹ đất và ngân sách để giao đất cho các hộ làm nhà ở

2.2.3 Nội dung quy định về trình tự, thủ tục giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

Căn cứ Điều 7 Thông tư liên tịch số 04/2013/TTLT-UBDT-BTC-BTNMT ngày 18/11/2013 về hướng dẫn thực hiện một số điều của Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 20/05/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chính sách hỗ trợ đất đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở

xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, quy định về trình tự, và thủ tục, hồ sơ xác định đối tượng thụ hưởng chính sách như sau:

Thứ nhất, trưởng thôn tổ chức họp mời đại diện tất cả các hộ thuộc đối

tượng thụ hưởng chính sách của thôn có trong danh sách hộ nghèo của xã, thông báo về nội dung chính sách và chỉ đạo của xã trong thời gian 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận chỉ đạo của xã

Các hộ đăng ký với trưởng thôn nhu cầu hưởng chính sách hỗ trợ; trưởng thôn lập danh sách các hộ đăng ký Thời gian hoàn thành trong 03 ngày làm việc kể

từ ngày thôn tổ chức họp thông báo về nội dung chính sách và chỉ đạo của xã

Thứ hai, trưởng thôn tổ chức họp thôn bình xét công khai có đại diện của các

tổ chức chính trị - xã hội tại thôn, đại diện một số hộ gia đình có trong danh sách; trưởng thôn lập hồ sơ (gồm biên bản họp bình xét và danh sách theo thứ tự ưu tiên

Trang 40

những hộ thuộc diện gia đình chính sách, hộ khó khăn hơn) gửi Ủy ban nhân dân cấp

xã Thời gian hoàn thành trong 02 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn đăng ký

Thứ ba, Ủy ban nhân dân cấp xã rà soát, tổng hợp hồ sơ của các thôn, tổ

chức kiểm tra quy trình bình xét ở thôn; lập danh sách thứ tự ưu tiên tại xã có xác nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; lập 02 bộ hồ sơ (gồm văn bản đề nghị kèm theo danh sách) gửi 01 bộ cho cơ quan công tác dân tộc cấp huyện và 01 bộ niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã Thời gian hoàn thành trong

10 làm việc ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ của các thôn

Thứ ba, cơ quan công tác dân tộc cấp huyện rà soát, tham mưu cho Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp huyện tổng hợp nhu cầu của các xã, lập hồ sơ (gồm văn bản

đề nghị kèm theo danh sách của từng xã chi tiết đến từng hộ, từng thôn) gửi cơ quan công tác dân tộc cấp tỉnh Thời gian hoàn thành trong 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ của các xã

Thứ tư, cơ quan công tác dân tộc cấp tỉnh tổng hợp, tham mưu cho Ủy ban

nhân dân cấp tỉnh lập Đề án gửi Ủy ban Dân tộc thẩm tra trước khi phê duyệt Thời gian hoàn thành trong 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ của cấp huyện

Hồ sơ hợp lệ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được lập thành 05 bộ gồm: Đề án

do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng (thuyết minh nội dung, các phụ lục kèm theo và văn bản đề nghị cho ý kiến), gửi Ủy ban Dân tộc, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường và lưu tại cơ quan công tác dân tộc cấp tỉnh 01 bộ

Thứ năm, Ủy ban Dân tộc xem xét Đề án của các địa phương và có ý kiến

bằng văn bản Thời gian hoàn thành trong 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được

Đề án hợp lệ của địa phương

Thứ sáu, căn cứ ý kiến thẩm tra của Ủy ban Dân tộc, Ủy ban nhân dân cấp

tỉnh hoàn thành, phê duyệt và giao cho các cơ quan có liên quan tổ chức thực hiện

2.2.4 Nội dung quy định về căn cứ và thẩm quyền giao đất, cho thuê đất đối với đồng bào dân tộc thiểu số

2.2.4.1 Căn cứ giao đất, cho thuê đất đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Việc giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số dựa trên quy định của pháp luật đất đai Căn cứ để giao đất, cho thuê đất đối với đồng bào dân tộc thiểu số gồm: i) Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; ii) Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự

án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất

2.2.4.2 Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Ngày đăng: 12/03/2019, 21:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm