Đó là đề tài cấp Nhà nước KH-06-07 thực hiện năm 2000, “Nghiên cứu xây dựng giải pháp quản lý tổng hợpvùng bờ biển Việt Nam, bảo đảm an toàn sinh thái và phát triển bền vững” lưu trữ tại
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
SAISAVANH PHENGVANHDEE
PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TẠI
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VŨ THỊ DUYÊN THUỶ
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng say mê học hỏi và yêu mến đất nước, con người Việt Nam, tác giả luận văn
đã rất vinh hạnh được học tập tại Trường Đại học Luật Hà Nội Tác giả luận văn xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến tập thể cán bộ, giảng viên Khoa Luật kinh tế và Khoa Sau đại học Trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là PGS.TS Vũ Thị Duyên Thuỷ đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
SAISAVANH PHENGVANHDEE
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
T i xin cam đoan, đây là c ng trình nghiên c u c a t i, c s h trợ c a giáo viên hướng dẫn khoa học và các đ ng nghiệp ác số liệu nêu trong luận văn là trung th c
Nh ng kết luận khoa học c a luận văn chưa được ai c ng bố trong bất k c ng trình nào
XÁC NHẬN CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
PGS.TS VŨ THỊ DUYÊN THUỶ
TÁC GIẢ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
SAISAVANH PHENGVANHDEE
Trang 5MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM
MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI
TRƯỜNG BIỂN
5
1.1 Những vấn đề chung về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển 5
1.1.1 Khái niệm môi trường biển, ô nhiễm môi trường biển 5
1.1.2 Khái niệm kiểm soát ô nhiễm môi trường biển 10
1.2 Những vấn đề chung về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển 11
1.2.1 Khái niệm pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển 11
1.2.2 Vai trò và nội dung của pháp luật trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm
1.3 Sơ lược sự hình thành pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở
1.4 Kinh nghiệm xây dựng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN Ở VIỆT NAM
32
Trang 62.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển 32
2.1.1 Nguồn luật điều chỉnh về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt
2.1.2 Nguyên tắc điều chỉnh kiểm soát ô nhiễm môi trường biển của Việt
2.1.3 Về những quy định chủ thể (cá nhân, tổ chức), quyền và nghĩa vụ của
chủ thể tham gia vào hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường biển 39
2.1.4 Những quy định kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong các văn bản
2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt
2.2.1 Những kết quả đạt được trong việc thực hiện pháp luật kiểm soát ô
2.2.2 Những hạn chế trong việc thực hiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi
2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện pháp luật
kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam hiện nay 62
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN Ở VIỆT NAM
65
3.1 Phương hướng đối với việc hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm
3.2 Những giải pháp nh m hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi 73
Trang 7trường biển ở Việt Nam hiện nay
3.2.1 Nhóm giải pháp chung nh m hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm
3.2.2 Nhóm giải pháp cụ thể nh m hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
2 BTNMT : Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam
3 MPEL : Luật Bảo vệ môi trường biển Trung Quốc
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Việt Nam là một trong những quốc gia có đường bờ biển dài nhất trên thế giới, mở ra
3 hướng Đông, Nam và Tây; có vùng biển và thềm lục địa rộng lớn, diện tích vượt quá một triệu km2, lớn gấp 3 lần diện tích đất liền; có hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ, gần bờ và xa bờ, chạy suốt từ vịnh Bắc Bộ tới vịnh Thái Lan Những vị thế, địa lý tự nhiên và tiềm năng kinh
tế của vùng biển, đảo nước ta có tầm quan trọng trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Khai thác tài nguyên biển đã và đang trở thành chiến lược trong sự nghiệp phát triển của đất nước ta Biển nước ta rất giàu tiềm năng tài nguyên Đây là một vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với công cuộc phát triển đất nước, trong đó nổi bật là dầu khí (với trữ lượng khoảng 3-4 tỷ tấn dầu quy đổi), ngoài ra còn nhiều loại khoáng sản phổ biến khác như: than, sắt, ti tan, cát thuỷ tinh , hải sản có tổng trữ lượng khoảng 3-4 triệu tấn và cả những tài nguyên có giá trị năng lượng cao mà khoa học hiện đại mới phát hiện Đặc biệt đáng chú ý là vùng biển và ven biển Việt Nam n m án ngữ án ngữ trên các tuyến hàng hải
và hàng không huyết mạch giữa ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Châu Á, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực Là một quốc gia có biển, với các đặc điểm về tự nhiên, vị trí địa lý, Việt nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước
Tuy nhiên hàng năm biển Việt Nam cũng phải đối diện với tình trạng ô nhiễm nước biển trầm trọng do hoạt động xả thải từ công nghiệp, sinh hoạt của con người, sự cố tràn dầu, … các nguồn tài nguyên biển đang bị giảm sút Mặc dù có nhiều giải pháp nhưng hiệu quả thực sự không cao Vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường biển chưa được quan tâm một cách đúng mức Hệ thống pháp lý cho vấn đề này còn rất thiếu và yếu Các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành chồng chéo, trùng lặp, không có sự gắn kết với nhau Hệ thống các cơ quan quản lí nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam nói chung còn nhiều bất cập Bên cạnh đó, nhiều điều ước quốc tế về vấn đề này được ký kết
mà Việt Nam là một quốc gia thành viên càng đòi hỏi Việt Nam phải có một hệ thống pháp luật đủ mạnh, một hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước đủ tầm để giải quyết được các vấn đề thực tế đặt ra
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu các vấn đề thực trạng hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, tìm ra những bất cập, hạn chế để từ đó tìm ra các giải pháp
Trang 10nh m hoàn thiện hệ thống pháp luật về vấn đề này là một đòi hỏi bức thiết cả về lý luận và
thực tiễn Do vậy tác giả đã lựa chọn đề tài “Pháp luật kiểm soát nhiễm m i trường biển
tại Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp Chương trình đào tạo Thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển là một vấn đề rộng và luôn là vấn đề mang tính thời sự Vấn đề tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu khoa học:
Trên thế giới, các đề tài nghiên cứu về bảo vệ môi trường biển nói chung và có liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ các hoạt động hàng hải nói riêng được thực hiện trong nhiều năm qua Các công trình tiêu biểu là “Bảo vệ môi trường biển ASEAN khỏi ô nhiễm dầu và những đóng góp của Nhật đối với khu vực” của tác giả Chia Lin Sien, Viện Kinh tế phát triển Singapore năm 1994 (Chia Lin Sien:Protecting the Marine Environmentof ASEAN from Sip-generated Oil Pollution andJapan’s Contribution to the Region, Institute of Developing Economies, Singapore,1994); cuốn
“Dầu khí trong bảo vệ môi trường biển” của Hoa Kì năm 1975 (National Academy of Sciencies: Petroleum in the Marine Environment, Washington, DC, 1975); cuốn“Sổ tay về
ô nhiễm biển” do GARD xuất bản năm 1985 (Gold E.: Handbookmarine pollution, GARD, 1985);“Triển vọng của gas và dầu từ biển”xuất bản tại New York/London,1983); hay cuốn “Luật ô nhiễm biển của khu vực Australasian” (WhiteM.: Marine Pollution Laws of the Australasian Region, The Federation Press, 1994) Các công trình nêu trên chủ yếu tập trung vàomột số nội dung tiêu biểu là: (i)bảo bệ môi trường biển nói chung trước các tác động tiêu cực kể cả do con người cũng như do thiên nhiên; (ii) đánh giá những hậu quả xảy ra từ những tác động tiêu cực đó,(iii) chỉ ra đặc thù về mặt sinh học, hóa học của từng vùng biển, (iv) nêu ra ưu thế của các loại hình dịch vụ vận tải biển Những công trình này đều đã đóng góp một phần vào việc bảo vệ môi trường biển, tạo ưu thế cho hoạt động hàng hải phát triển Tuy nhiên, do giới hạn của từng công trình, chúng đã không đề cập tới việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải cũng như phân tích hoạt động này dưới góc độ luật học
Ở Việt Nam, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển nói chung ít được đề cập một cách trực tiếp Tuy nhiên, tài nguyên biển thì lại được nghiên cứu khá cụ thể Có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ hoặc các đề tài nghiên cứu như là nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan chuyên môn về vấn đề này được thực hiện khá công phu
Trang 11Đó là đề tài cấp Nhà nước KH-06-07 thực hiện năm 2000, “Nghiên cứu xây dựng giải pháp quản lý tổng hợpvùng bờ biển Việt Nam, bảo đảm an toàn sinh thái và phát triển bền vững” (lưu trữ tại Bộ KH&CN) Hà Nội; Đề tài KC.CB.01.10.TS “Nghiên cứu thiết kế loại tầu cá cỡ nhỏ có khả năng hoạt động an toàn trên vùng biển xa bờ (khu vực Trường Sa- DK1)” doTổng Công ty Hải sản Biển Đông thực hiện năm 2003; Đề tài KC.CB.01.16 TS“Nghiên cứu công nghệ xử lý nước thải trong các vùng nuôi tôm tập trung” do Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản 2 chủ trì thực hiện đề tài năm 2004;
Đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự suy thoái môi trường và đề xuất các giải pháp sử dụng đất và nước ở các vùng nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh đang giảm năng suất” doViện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản 3 chủ trì thực hiện đề tài năm 2006, Đề tài nghiêncứu khoa học cấp Nhà nước “Cơ sở khoa học về vấn đề khai thác chung trong các vùngbiển theo Luật Biển quốc tế và thực tiễn của ViệtNam” do Trung tâm Luật Biển và Hàng hải quốc tế thuộc Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà nội thực hiện năm 2008… Ngoài ra, với chủ đề Chúng ta muốn biển và đại dương sống hay chết nhân Ngày Môi trường thế giới 5/6 của Việt Nam năm 2004, Báo cáo Môi trường Quốc gia năm 2004 cũng đã được hoàn thành với chủ đề Ô nhiễm biển từ đất liền Việt Nam
Nghiên cứu ở cấp độ Thạc sĩ Luật học, tác giả Đặng Hoàng Sơn đã hoàn thành Luận văn với đề tài “Pháp luật về ô nhiễm môi trường trong hoạt động dầu khí ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”,Hà Nội 2004 Nghiên cứu ở cấp độ Tiến sĩ Luật học, có công trình của Lưu Ngọc Tố Tâm với đề tài: “Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam”, trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2012
Có thể thấy, mặc dù đã có nhiều đề tài khoa học, sách, sách chuyên khảo, các bài viết, công trình nghiên cứu, luận văn, luận án nhưng những công trình này nghiên cứu ở phạm vi hẹp hoặc đi sâu dưới góc độ quản lý tài nguyên biển, hoặc dưới góc độ các yếu tố
kĩ thuật, nghiên cứu Tuy nhiên, các công trình nêu trên là nguồn tài liệu tham khảo quý báu cho tác giả trong việc xây dựng các nội dung của luận văn
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, các quy định của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam, thực tiễn thi hành các quy định này của pháp luật Việt Nam hiện hành
Trang 124 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Khi nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, diễn giải, chứng minh, đối chiếu,
so sánh pháp luật, quy nạp, hệ thống hóa
5 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
- Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là đưa ra phương hướng và những giải pháp cụ thể nh m hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam
- Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài là: a) Nghiên cứu những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển; b)Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển; c) Đưa ra những nguyên tắc, phương hướng và giải pháp cụ thể nh m hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
ở Việt Nam
6 Những đóng góp mới của Luận văn
- Luận văn đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật kiểm soát
ô nhiễm môi trường biển nói chung;
- Luận văn đã nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển;
- Luận văn đã trình bày được những nguyên tắc, phương hướng và các giải pháp cụ thể, thiết thực, có tính khả thi nh m hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm ba chương là :
Chương 1 Những vấn đề chung về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và pháp luật
về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
Chương 2 Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam
Chương 3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM
MÔI TRƯỜNG BIỂN
1.1 Những vấn đề chung về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
1.1.1 Khái niệm môi trường biển, ô nhiễm môi trường biển
1.1.1.1 Khái niệm m i trường biển
Môi trường biển là một khái niệm còn nhiều tranh cãi Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau:
Khoản 4, Điều 1, Công ước Luật Biển UNCLOS 1982 - bản công ước được cộng đồng quốc tế coi là Tuyên ngôn về Biển đã đưa ra định nghĩa “môi trường biển”: môi trường biển “bao gồm “các cửa sông”, “hệ động vật biển và hệ thực vật biển”, “chất lượng nước biển” và “giá trị mĩ cảm của biển”
Chương trình hành động 21 (Agenda 21)1 đã đưa ra khái niệm về môi trường biển tại Chương 17 của Agenda 21 “Môi trường biển là vùng bao gồm các đại dương và các biển và các vùng ven biển tạo thành một tổng thể, một thành phần cơ bản của hệ thống duy trì cuộc sống toàn cầu và là tài sản hữu ích tạo cơ hội cho sự phát triển bền vững” Viện Nghiên cứu Quản lý biển và hải đảo Việt Nam đưa ra định nghĩa: Môi trường biển bao gồm tất cả mọi thứ mà có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự trao đổi chất hay các hành vi của con người và các sinh vật sống trong biển, bao gồm ánh sáng, không khí trên biển, nước biển, đất tại đáy biển (trầm tích biển) và các cơ thể sống trong biển
Luật Bảo vê môi trường Việt Nam năm 2014 đưa ra định nghĩa: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” (khoản 1, Điều 3 Luật BVMT Việt Nam năm 2014), Các yếu tố vật chất tạo thành môi trường theo quy định tại khoản 2, Điều 3 Luật BVMT Việt Nam năm
2014 là đất, nước, không khí âm thanh, ánh sáng, sinh vật hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác Như vậy, Luật BVMT Việt Nam năm 2014 mới chỉ quy định môi trường nói chung Do đó, môi trường biển được xem xét trong một tổng thế môi trường chung
Khoản 2, Điều 3, Nghị định số: 25/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 03 năm 2009 về quản
lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo định nghĩa: “M i trường biển là
1 Đây là một văn kiện được đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh trái đất về bảo vệ môi trường họp tại Rio De Janeiro năm
1992, là chương trình hành động vì sự phát triển bền vững
Trang 14các yếu tố vật lý, h a học và sinh học đặc trưng cho nước biển, đất ven biển, trầm tích dưới biển, kh ng khí trên mặt biển và các hệ sinh thái biển t n tại một cách khách quan, ảnh hưởng đến con người và sinh vật” Đây được coi là khái niệm về môi trường biển duy nhất
được định nghĩa trong pháp luật Việt Nam hiện nay Tuy vậy, khái niệm này vẫn còn hạn chế bởi khái niệm được đưa ra theo hướng liệt kê mới chỉ đề cập đến hệ sinh thái biển, trong khi môi trường biến không chỉ bao gồm các vùng biển với các đặc trưng lý hóa của chúng mà còn bao gồm cả các nguồn tài nguyên sinh vật, tài nguyên không sinh vật của vùng cửa sông, các vùng ngập mặn bao gồm cả trầm tích, các vùng thủy triều lên xuống, các vùng đầm lầy và bầu khí quyển phía trên mặt biến
Như vậy, nhìn chung các khái niệm trên đều nhấn mạnh mối liên kết giữa môi trường
và con người đối với sự phát triển, nghĩa là môi trường tự nhiên của biển cả chịu sự tác động của các hoạt động của con người trong quá trình phát triển Tuy nhiên, các khái niệm này chỉ mới đưa ra định nghĩa dưới dạng liệt kê một số yếu tố tự nhiên của môi trường biển
mà chưa xây dựng được một khái niệm hoàn chỉnh do đó không mang tính khái quát về môi trường biển Trong luận án tiến sĩ, tác giả Lưu Ngọc Tố Tâm đã đưa ra một định nghĩa về
môi trường biển: “là một thể thống nhất, bao g m các biển, đại dương, các vùng ven biển,
cửa s ng, được giới hạn bởi toàn bộ vùng nước biển c a trái đất với tất cả nh ng gì ch a trong đ như các loại tài nguyên sinh vật biển và tài nguyên phi sinh vật biển, được tạo nên bởi các thành phần m i trường và s tương tác gi a chúng, c giá trị về kinh tế, về khoa học và về m i sinh” Định nghĩa này đã khắc phục được các vấn đề hạn chế trong các khái
niệm nêu trên tuy nhiên khi đưa ra các thành phần trong môi trường biển, tác giả lại đi theo hướng liệt kê: bao gồm các biển, đại dương, các vùng ven biển, cửa sông, các loại tài nguyên sinh vật biển và tài nguyên phi sinh vật biển… Do đó, nó vẫn chưa mang tính tiên liệu và khái quát, bởi với giới hạn hiện nay của khoa học, còn nhiều điều, nhiều nơi về biển
cả mà chúng ta chưa tiếp cận được thí dụ như: môi trường biển ngoài các thành phần nêu trên còn bao gồm cả bầu khí quyển trên mặt biển Định nghĩa của tác giả có phần nêu
“…được tạo nên bởi các thành phần môi trường” như vậy, có nghĩa “tất cả những gì chứa trong đó như các loại tài nguyên sinh vật biển và tài nguyên phi sinh vật biển” đã được giới hạn ở phía dưới mặt nước biển
Tổng hợp các quan điểm nêu trên, theo quan điểm của tác giả, định nghĩa về môi trường phải bao gồm các nội dung chính sau:
Trang 15Thứ nhất, xem xét phương diện phạm vi địa lý môi trường biển được giới hạn bởi cả chiều ngang và chiều sâu Định nghĩa về môi trường biển tại Chương 17 Agenda 21 mới chỉ
ra được giới hạn theo chiều ngang của môi trường biển, bao gồm các đại dương, các biển và các vùng ven biển Nghĩa là khái niệm mới chỉ xét đơn thuần về phương diện địa lí Xem xét dưới góc độ khoa học, môi trường biển bao gồm cả một vùng nước mặn rộng lớn, n m ở
độ sâu trung bình khoảng 4000 mét tính từ mặt biển trở xuống Do đó, môi trường biển còn được giới hạn bởi chiều sâu của nó, bao gồm cả vùng đất dưới đáy biển
Thứ hai, môi trường biển được tạo nên bởi các thành phần môi trường Môi trường biển được hợp thành bởi nhiều yếu tố khác nhau như lòng đất dưới đáy biển, nước biển, không khí, hệ động vật biển, hệ thực vật biển, tạo nên các đại dương, các biển… Đây là các thành phần môi trường Biển là thành phần chính của môi trường biển, đồng thời cũng là một trong các thành phần của môi trường nói chung Biển, đại dương và các thành phần khác của môi trường biển không nên được xem là những thực thể độc lập mà cần phải đặt chúng trong mối quan hệ với nhau và quan hệ với những thành phần môi trường khác, như chúng tương tác với bầu khí quyển phía trên mặt nước, dưới đáy biển và với lục địa , mà những thành phần môi trường đó lại chính là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường biển nghiêm trọng Tương tự, biển, đại dương và các thành phần khác của môi trường biển cũng có mối tương tác quan trọng đối với các hoạt động của con người, đặc biệt
là các hoạt động của con người trên biển Những phân tích này cho thấy môi trường biển được tạo thành bởi các thành phần môi trường và có mối liên hệ mật thiết qua lại lẫn nhau
mà không thể tách rời chúng
Thứ ba, môi trường biển có chứa nhiều loại tài nguyên Tài nguyên thuộc môi trường biển được gọi là tài nguyên biển, được hình thành và phân bố trong khối nước biển và đại dương, trên bề mặt đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển Tài nguyên biển bao gồm tài nguyên sinh vật biển, gồm các dạng sống của thế giới hữu sinh như tôm cá , và tài nguyên phi sinh vật biển, gồm các dạng vật chất của thế giới vô sinh như quặng kim loại, đất đá Tài nguyên biển cũng có thể được chia ra thành tài nguyên biển có thể tái tạo và tài nguyên biển không thể tái tạo, trong đó tài nguyên biển có thể tái tạo là loại tài nguyên có thể được phục hồi sau một khoảng thời gian trong điều kiện phù hợp, còn tài nguyên biển không thể tái tạo là các dạng tài nguyên vô sinh, không thể phục hồi thành phần và khối lượng ban đầu sau khi bị khai thác
Trang 16Thứ tư, môi trường biển có nhiều giá trị kinh tế, khoa học và môi sinh Môi trường biển được các nhà khoa học đánh giá là cội nguồn của sự sống trên trái đất Điều này được thể hiện qua sự đa dạng của sinh học, với 18 vạn loài động vật và 2 vạn loài thực vật đã được phát hiện, trong đó có 400 loài cá và hơn 100 loài hải sản có giá trị kinh tế cao2 Môi trường biển mang lại sự sống cho toàn bộ hệ sinh thái dưới nước, cho tài nguyên sinh vật biển Trên thế giới, con người đã khai thác tổng giá trị kinh tế từ các nguồn tài nguyên biển ước tính khoảng 7000 tỷ USD mỗi năm3 Các nhà khoa học dự đoán r ng vào các thế kỉ tới, biển và đại dương sẽ là nơi dự trữ cuối cùng của loài người về thực phẩm, năng lượng và nhiên liệu Đồng thời, biển cũng là nơi diễn ra các hoạt động thương mại du lịch, giao thông vận tải thuỷ, nơi có thể khai thác giá trị kinh tế to lớn Khoảng 60% dân số thế giới hiện đang sống tại các vùng ven biển, và tỉ lệ này có thể tăng lên khoảng 75% vào năm 20204
Thứ năm, môi trường biển là một loại môi trường
Môi trường nói chung bao gồm: môi trường không khí, môi trường đất, môi trường nước Trong đó môi trường nước bao gồm môi trường nước trong đất liền và môi trường nước ở biển (gọi chung là môi trường biển) Do đó, cần nhìn nhận môi trường biển là một loại môi trường để điều chỉnh ứng xử của con người cho phù hợp với từng loại môi trường trong công cuộc bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay
Từ những phân tích trên, theo quan điểm của tác giả, môi trường biển nên được định nghĩa “là một loại môi trường trong đó bao gồm nhưng không giới hạn các biển, đại dương, các vùng ven biển, cửa sông, được giới hạn bởi toàn bộ vùng nước biển của trái đất với tất
cả những gì chứa trong đó như các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học đặc trưng cho nước biển, đất ven biển, trầm tích dưới biển, không khí trên mặt biển và các loại tài nguyên sinh vật biển và tài nguyên phi sinh vật biển, được tạo nên bởi các thành phần môi trường và sự tương tác giữa chúng, có giá trị về kinh tế, về khoa học và về môi sinh”
1.1.1.2 Khái niệm nhiễm m i trường biển
Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014 đã đưa ra khái niệm: “Ô nhiễm m i
trường là s biến đổi c a các thành phần m i trường kh ng phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật
m i trường và tiêu chuẩn m i trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.”
2 TS Nguyễn Hồng Thao (2003), Ô nhiễm m i trường biển Việt Nam - Luật pháp và th c tiễn, Nhà xuất bản Thống Kê,
Hà Nội, tr.14
3
TS Nguyễn Hồng Thao (2006), “Toà án quốc tế về Luật Biển”, NXB Tư pháp, Hà nội, tr.09
4 Report of the United Nations Confernce on Environment and development (Rio de Janeiro, 3-4 June 1992), Chapter
17, A/CONF.151/26 (Vol II), 13 August 1992, 17.3
Trang 17(khoản 8, Điều 3 Luật BVMT Việt Nam năm 2014) Theo đó, sự biến đổi các thành phần môi trường có thể do các hoạt động của con người và thiên nhiên mà chủ yếu là do các hoạt động có ý thức và vô ý thức của con người gây hại cho môi trường Cụ thế hơn đó là việc làm thay đổi một cách trực tiếp hoặc gián tiếp các tính chất vật lý (bao gồm cơ, nhiệt, âm quang, điện tử, phóng xạ ) hóa học, sinh học của bất kỳ thành phần nào của môi trường dẫn đến sự nguy hại hoặc có khả năng nguy hại đến sức khỏe, đến sự an toàn hoặc sự phát triển của bất kỳ giống loài sinh vật nào, trong đó quan trọng nhất là con người
Từ đó, căn cứ vào định nghĩa ô nhiễm môi trường của Luật BVMT Việt Nam năm
2014 thì, ô nhiễm môi trường biển có thể được hiểu là sự biến đổi trạng thái lý- hóa- sinh học của môi trường biển khi thải vào môi trường biển những chất độc hại, vi phạm tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu tới con người và sinh vât Định nghĩa trên không chỉ
ra được các tác nhân cũng như thành phần tài nguyên và môi trường bị tổn hại, không thể hiện hết được tính đặc thù của môi trường biến Bởi sự tác động của các tác nhân gây ô nhiễm môi trường đối với môi trường: nước biển, không khí hay đất liền là khác nhau; mức
độ gây suy thoái đến môi trường cùng khác nhau
Trong các văn bản chuyên ngành như Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, Luật Thủy sản Việt Nam năm 2003, Luật Dầu khí Việt Nam năm 2013… cũng không đưa ra định nghĩa cụ thể về ô nhiễm môi trường biển Rõ ràng Việt Nam đang rất cần có một nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này, cần có một định nghĩa cụ thể và thống nhất về vấn đề
ô nhiễm môi trường biển
Công ước Luật biển 1982 đã đưa ra một khái niêm khá toàn diện về ô nhiễm môi trường biển Theo đó, “ô nhiễm môi trường biển” là:
“Việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông, khi việc đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương tiện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biên (Khoản 36, Điều 1 Uncloss 1982),
Tuy nhiên, theo quy định này của Công ước Luật biển 1982, hành vi gây ô nhiễm môi trường biển là những hoạt động của con người gây hậu quả xấu cho môi trường Định nghĩa này không đề cập đến các sự cố tai biến thiên nhiên, sự ô nhiễm tự sinh, mà chỉ đề cập đến các sự cố môi trường do con người gây ra Do đó, cần bổ sung nguyên nhân gây ô
Trang 18nhiễm môi trường biển từ tự nhiên để có một khái niệm hoàn chỉnh về ô nhiễm môi trường biển dưới góc độ khoa học và luật học Theo tác giả, nên định nghĩa: ô nhiễm môi trường biển như sau: “ô nhiễm môi trường biển là sự nhiễm bẩn môi trường biển do các thành phần
có nguyên nhân từ những biển đối bất thường của tự nhiên hoặc được phát sinh trong các hoạt động kinh tế- xã hội của con người, bao gồm các hoạt động sản xuất và hoạt động sống
và duy trì sự tồn tại của cộng đồng gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như suy giảm chức năng và tỉnh hữu ích của mới trường biển, gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến
hệ động vật và hệ thực vật biển, gây nguy hiếm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biến, kế cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biến một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mĩ cảm của biển”
1.1.2 Khái niệm kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
Từ điển tiếng Việt định nghĩa kiểm soát là xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định5 Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển là tổng hợp các hoạt động, hành động, biện pháp và công cụ nh m phòng ngừa, khống chế không cho sự ô nhiễm xảy ra, hoặc khi xảy ra ô nhiễm thì có thể chủ động xử lý, làm giảm thiểu hay loại trừ được nó Kiểm soát ô nhiễm bao gồm việc ngăn ngừa ô nhiễm, làm giảm một phần hoặc loại bỏ chất thải từ nguồn, làm sạch môi trường, thu gom, sử dụng lại, xử lý chất thải, phục hồi chất lượng môi trường do ô nhiễm gây ra Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển có thể chia làm hai phần: ngăn ngừa ô nhiễm hay còn gọi là kiểm soát ô nhiễm đầu vào và làm sạch ô nhiễm hay còn gọi là kiểm soát ô nhiễm đầu ra
Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển là việc hạn chế, loại bỏ các nguồn, “giảm thiểu các khả năng, các tác động có khả năng gây ô nhiễm môi trường hoặc ngăn chặn sự lan truyền tổn hại môi trường từ vùng này sang vùng khác, chuyển từ trạng thái tổn hại này sang trạng thái tổn hại môi trường khác”6 qua đó kiểm soát, chế ngự và hạn chế đến mức thấp nhất khả năng biển bị ô nhiễm Trong các hoạt động Bảo vệ môi trường thì nguyên tắc phòng ngừa là quan trọng nhất theo chủ trương “phòng hơn chống” do đó ngăn ngừa ô nhiễm được đặt lên hàng đầu so với khắc phục, xử lý ô nhiễm
5 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà nẵng, tr.523
6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật quốc tế, Nxb ng an nhân dân, Hà Nội, tr.434
Trang 191.2 Những vấn đề chung về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
1.2.1 Khái niệm pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển là một bộ phận của pháp luật về môi trường Đối tượng điều chỉnh của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển là các quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình kiểm soát ô nhiễm môi trường trên biển bao gồm các quan hệ phát sinh trong quá trình ngăn ngừa ô nhiễm, làm giảm một phần hoặc loại bỏ chất thải từ nguồn, làm sạch môi trường, thu gom, sử dụng lại, xử lý chất thải, phục hồi chất lượng môi trường do ô nhiễm gây ra ô nhiễm môi trường biển, bồi thường thiệt hại do chất thải gây ô nhiễm môi trường biển gây ra
Mục đích của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển là bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng, thông qua vấn đề đặt ra các khung pháp luật quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước về môi trường; quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường biển Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
đã phân định rõ quyền hạn cho các cơ quan quản lý nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển đạt được hiệu quả cao hơn; định hướng xử
sự và hành vi của các chủ thể liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường biển nh m mục đích ngăn ngừa, hạn chế số lượng nguồn gây ô nhiễm môi trường biển phát sinh vào môi trường biển và giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi của nó đối với môi trường biển và sức khỏe con người
Từ các đặc điểm trên ta có thể hiểu: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
là một bộ phận của pháp luật môi trường, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý chất gây ô nhiễm trên biển như: thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu giữ, xử lý và tiêu hủy chất gây ô nhiễm trên biển nh m hạn chế đến mức thấp nhất những tác hại xảy ra cho môi trường biển, khắc phục và xử lý hậu quả nh m đảm bảo phát triển bền vững, góp phần duy trì và phát triển kinh tế biển Việt Nam
1.2.2 Vai trò và nội dung của pháp luật trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
Với tầm quan trọng của môi trường biển và những tác động tiêu cực từ ô nhiễm môi trường biển, việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển đặt ra như là một nhu cầu cấp thiết trước tiên bởi các quốc gia có biển, trong đó có Việt Nam Để bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững, các quốc gia đều phải tiến hành bảo vệ môi trường biển b ng
Trang 20nhiều công cụ khác nhau như chính sách, pháp luật, kinh tế , trong đó Đảng và Nhà nước Việt Nam đã coi hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường là một trong những công cụ trọng tâm được định hướng và xây dựng hoàn thiện nh m đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, thực hiện tốt các cam kết quốc tế của Việt Nam về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi xử sự của con người sẽ có tác dụng rất lớn trong việc định hướng các tổ chức cá nhân có xử sự đúng đắn trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường biển thông qua các chế tài hình sự, kinh tế, hành chính để buộc các cá nhân, tổ chức phải thực hiện đầy đủ các biện pháp nh m ngăn ngừa ô nhiễm biển Pháp luật cũng góp phần nâng cao trách nhiệm của quốc gia, của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển
Biện pháp pháp luật là một trong những biện pháp thực hiện có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Biện pháp pháp luật xác định một hành lang pháp lí và tạo ra các bảo đảm nh m hỗ trợ cho tất cả các biện pháp khác đạt hiệu quả nh m kiểm soát ô nhiễm môi trường biển B ng những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ đối với các chủ thể, pháp luật đã tác động trực tiếp đến các tổ chức và cá nhân, buộc các chủ thể này khi tiến hành các hoạt động trên biển cần hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại xảy ra cho môi trường biển
Với sự phát triển của luật biển quốc tế và xu hướng tiến ra biển của các nước nên ngày càng có nhiều đường biên giới xuất hiện trên biển Tình hình đó không ngăn cản được một nhận thức chung đang hình thành: biển cả là môi trường đồng nhất, là tài sản chung của nhân loại, đòi hỏi phải có một sự hợp tác cao giữa các quốc gia nh m giữ gìn biển trong lành Trong một thế giới ngày càng phức tạp hơn, có nhiều mối quan hệ vượt ra khỏi phạm
vi quốc gia, luật pháp cũng ngày càng được sử dụng nhiều như một công cụ hợp tác để thực hiện các mục tiêu chung Hợp tác quốc tế không chỉ đơn thuần là một sự lựa chọn, nó là một sự cần thiết
Với tất cả những ý nghĩa đó, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển có những vai trò và nội dung cụ thể sau đây:
Thứ nhất, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển góp phần thực thi nguyên tắc của pháp luật môi trường Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển là một bộ phận của pháp luật môi trường Vì vậy, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển tuân thủ theo các nguyên tắc của pháp luật môi trường (sẽ được phân tích ở chương 2) - là những nguyên tắc chi phối một cách toàn diện việc điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ làm
Trang 21phát sinh từ hoạt động bảo vệ môi trường Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển được xây dựng cũng góp phần thực thi các nguyên tắc nêu trên của hệ thống pháp luật môi trường, đồng thời góp phần thực hiện nguyên tắc về bảo vệ môi trường biển
Thứ hai, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam là công cụ để phòng ngừa ô nhiễm biển, góp phần hạn chế và khắc phục ô nhiễm môi trường nói chung và
ô nhiễm biển nói riêng B ng các qui phạm pháp luật qui định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển có vai trò rất lớn trong việc phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển, suy thoái tài nguyên sinh vật biển Với mục tiêu phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển bao gồm các qui định pháp luật về qui chuẩn kĩ thuật môi trường như qui chuẩn kĩ thuật quốc gia về chất lượng nước biển, chất lượng nước biển ven bờ, qui chuẩn kĩ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh Theo đó, các chủ thể khi tiến hành hoạt động trên biển cần kiểm soát hoạt động của mình trong phạm vi mà pháp luật cho phép, không vượt quá ngưỡng mà các qui chuẩn kĩ thuật về môi trường đã đề ra Hơn nữa, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển còn qui định về trách nhiệm của các chủ thể trong kiểm soát ô nhiễm trong mọi hoạt động Không chỉ có vai trò trong việc phòng ngừa
ô nhiễm, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển còn nh m phục hồi môi trường khi có sự cố và khắc phục những hậu quả xảy ra Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển còn quy định trách nhiệm của các chủ thể khi có sự cố xảy ra
Thứ ba, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế biển Việt Nam, mang lại giá trị kinh tế cho đất nước Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển được ban hành để qui định trách nhiệm của các chủ thể
có liên quan nh m tạo sự an toàn về môi trường và con người, làm cho các hoạt động kinh
tế biển phát huy lợi ích và hiệu quả Khi hoạt động kinh tế biển diễn ra an toàn, đảm bảo an ninh môi trường, các chủ thể tiến hành hoạt động sẽ không tốn thời gian, công sức và tài chính để khắc phục hậu quả, phục hồi môi trường, thúc đẩy sự phát triển ngành kinh tế biển ViệtNam
Thứ tư, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển giúp nâng cao ý thức, góp phần làm thay đổi nhận thức về bảo vệ môi trường biển của người dân Pháp luật được qui định và thực hiện có hiệu quả bởi hai đặc tính, tính bắt buộc thực hiện và tính cưỡng chế Các loại trách nhiệm pháp lí có tác dụng ngay lập tức, buộc các chủ thể phải tuân thủ các quy định pháp luật mà nhà nước đặt ra Vì vậy, pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên
Trang 22biển sẽ góp phần tích cực vào quá trình thay đổi nhận thức và tư duy của người dân, góp phần tăng cường ý thức của họ trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
Thứ năm, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam nh m thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam, từ đó xem xét gia nhập các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường nói chung, kiểm soát ô nhiễm biển nói riêng Khi tham gia vào các điều ước quốc tế hoặc phê chuẩn nội dung nào trong các điều ước quốc tế này, Việt Nam đã chấp nhận việc phải thực hiện các nghĩa vụ như một quốc gia thành viên Để có thể thực hiện các nghĩa vụ mà nội dung của công ước đặt ra, Việt Nam phải chuyển hóa các nội dung của điều ước quốc tế đó vào hệ thống pháp luật Việt Nam để áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn lãnh thổ Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển sẽ góp phần thực hiện nội dung của các công ước kể trên nh m hạn chế ô nhiễm môi trường biển, hạn chế đến mức thấp nhất việc xả các loại chất thải ra biển, tuân thủ các nghĩa vụ chung của quốc gia thành viên cúa các Công ước này
1.3 Sơ lược sự hình thành pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam
Ở Việt Nam, pháp luật môi trường nói chung phát triển chậm Cho đến thời điểm hiện tại, pháp luật môi trường phát triển chậm hơn bất kì ngành luật nào khác7 Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển là một bộ phận của pháp luật môi trường nên nó cũng hình thành và phát triển muộn Nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển Việt Nam, ta có thể chia thành hai giai đoạn chính như sau:
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1986 trở về trước
Với một quốc gia có biển như Việt Nam, môi trường biển được quan tâm từ rất sớm, ngay khi đường biển có giá trị giao thông vận tải, thương mại, an ninh quốc phòng Chiến lược tiến ra biển được thể hiện qua các thời kì phát triển, trong dựng xây và giữ nước của Việt Nam Tuy nhiên, trước những năm 1986, pháp luật về biển và môi trường biển Việt Nam chưa thực sự hình thành và phát triển Vì vậy, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải là một lĩnh vực mà gần như còn bỏ trắng Pháp luật môi trường và pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển đều chưa hình thành, các văn bản pháp luật quan trọng như Luật Bảo vệ môi trường, Bộ luật Hàng hải chưa được ban hành Tuy nhiên, do tính tồn tại tất yếu của nó, giai đoạn này, thậm chí từ trước năm 1945, cũng
7 Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật M i trường, Nhà xuất bản ng an nhân dân, Hà nội, tr.45
Trang 23đã có một số văn bản pháp luật có liên quan đến môi trường biển và hoạt động hàng hải được ban hành như: Nghị định ngày 22/9/1936 của Bộ trưởng thuộc địa qui định về chiều rộng lãnh hải cho hoạt động đánh cá; Nghị định 104/1306 ngày 14/3/1948 qui định vùng tiếp giáp lãnh hải; Tuyên bố 1965 về các biện pháp bảo vệ lãnh hải trong chiều rộng 03 (ba) hải lí; ở Miền Nam có các văn bản pháp luật: Tuyên bố của Tổng thống Sài gòn ngày 7/9/1967 về quyền kiểm soát trực tiếp trên phần thềm lục địa tiếp giáp lãnh hải; Luật Dầu lửa 1970 của chính quyền Sài Gòn… Ở Miền Bắc, do phải tập trung tất cả sức mạnh của nền kinh tế cho việc chiến thắng đế quốc Mỹ, giành độc lập dân tộc Tiếp đó sau khi giải phóng miền Nam, sau nhiều năm chiến tranh kéo dài, đất nước bị tàn phá nặng nề Việt Nam đã phải đối phó với vô vàn khó khăn Những hậu quả và tệ nạn xã hội do chiến tranh
để lại, dòng người tị nạn, chiến tranh ở biên giới Tây Nam, chiến tranh ở biên giới phía Bắc, bao vây, cấm vận của Mỹ và các nước phương Tây, thêm vào đó thiên tai liên tiếp xảy ra…
đã đặt Việt Nam trước những thử thách khắc nghiệt Hơn nữa, những khó khăn càng trầm trọng do xuất phát từ các nguyên nhân chủ quan, nóng vội và duy ý chí muốn xây dựng lại đất nước nhanh chóng mà không tính đến những điều kiện cụ thể Điều này đã dẫn đến đầu những năm 80, Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng và bị
cô lập về ngoại giao Nhân tình hình đó, các thế lực chống đối đã lợi dụng những khó khăn của Việt Nam để câu kết với nhau, chống phá cách mạng Một số nước trước đây ủng hộ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ đã xa lánh Việt Nam Quan hệ giữa Việt Nam với các nước ASEAN và các nước lớn (trừ Liên Xô và Ấn Độ) gặp nhiều vướng mắc và không giải tỏa được khiến cho nền an ninh nước ta bấp bênh khi phải đối phó với sự căng thẳng ở
cả hai đầu biên giới Trong lúc đó, những khó khăn về kinh tế lại càng chồng chất vì phải chi tiêu rất lớn cho quân sự, quốc phòng
Trước bối cảnh xã hội như vậy đã không cho phép Việt Nam chú ý nhiều đến vấn
đề môi trường vì mối quan tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam bấy giờ là hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế và thoát ra khỏi sự khủng hoảng kinh tế xã hội đang hoành hành từ thời gian sau chiến tranh đến năm 1986, khi chính sách đổi mới được khởi xướng
Tuy vậy, trong giai đoạn này, vấn đề bảo vệ môi trường đã lần đầu tiên được quy định tại Điều 36 Hiến pháp Việt Nam năm 1980: “Các cơ quan nhà nước, xí nghiệp, hợp tác
xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ cải tạo môi trường sống” Ngoài ra
Trang 24pháp luật về môi trường ở Việt Nam mới chỉ quan tâm đến việc kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng được quy định trong sắc lệnh số 142/SL do chủ tịch
Hồ Chí Minh ký ngày 21/12/1949; Nghị quyết 36/CP ngày 11/03/1961 của Hội đồng Chính phủ về việc quản lý, bảo vệ tài nguyên dưới lòng đất; Chỉ thị số 07/TTg ngày 16/01/1964 về thu tiền bán khoán lâm sản và thu tiền nuôi rừng; Nghị quyết số 183/CP ngày 25/09/1966 về công tác trồng cây gây rừng; Chỉ thị số 127/CP ngày 24/05/1971 của Hội đồng Chính phủ
về công tác điều tra cơ bản tài nguyên và điều kiện thiên nhiên; Pháp lệnh về bảo vệ rừng ban hành ngày 11/09/1972
Ta có thể dễ dàng nhận thấy một số đặc điểm như sau của pháp luật Việt Nam về bảo
vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển nói riêng trong giai đoạn này:
+ Các văn bản trong thời kỳ này chủ yếu được ban hành dưới dạng văn bản dưới luật;
+ Các quy định pháp luật chỉ liên quan đến một số khía cạnh của bảo vệ môi trường xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước, nh m đảm bảo sự kiểm soát chặt chẽ các quan hệ xã hội của Nhà nước chứ chưa trực tiếp nhắm vào mục tiêu bảo vệ các thành tố của môi trường, chưa có quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển hay nói cách khác, khía cạnh môi trường chỉ mang tính chất phái sinh xuất phát từ các quan hệ xã hội được điều chỉnh Từ đó, cách tiếp cận mang tính môi trường; phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển như các quan điểm phổ biến trên bình diện quốc tế chưa được thể hiện;
+ Nội dung các quy định nói chung còn lạc hậu, không những chưa phản ánh và đáp ứng được các đòi hỏi khách quan về hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển nói riêng mà còn chưa tiệm cận với các quan điểm hiện đại được thể hiện trong các công ước quốc tế
+ Những văn bản pháp luật nêu trên tuy có những văn bản không phải là nguồn của pháp luật hiện đại nhưng nó cũng được xem như những viên gạch đặt nền móng cho hệ thống pháp luật về biển, môi trường biển và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong pháp luật Việt Nam ở những giai đoạn tiếp theo
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1986 đến nay
Sau năm 1986, khi đất nước có nhiều đổi thay mạnh mẽ về các điều kiện kinh tế -
xã hội, hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển đã dần hình thành và ngày càng phát triển
Trang 25Giai đoạn này, Việt Nam bước vào thời kì đổi mới, chuyển sang cơ chế thị trường, được đánh dấu b ng sự thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 Sau khi hoàn thành hai (02) cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc, Việt Nam bắt tay vào dựng xây đất nước và phát triển kinh tế Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI được xem như một cột mốc đánh dấu sự phát triển kinh tế xã hội Bên cạnh đó, việc bình thường hóa quan hệ với Hoa kì và chủ trương hội nhập kinh tế cũng là những tác động tích cực trong giai đoạn này Với chủ trương đổi mới đất nước, với sự chuyển mình của dân tộc, cùng với quá trình gia nhập nhanh, mạnh, tích cực vào cộng đồng quốc tế, sự đòi hỏi hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia được đặt ra như một đòi hỏi tất yếu của quá trình toàn cầu hóa Có thể nói chưa bao giờ pháp luật Việt Nam lại có bước tiến vượt bậc về việc xây dựng và hoàn thiện như giai đoạn sau năm 1986 Hệ thống pháp luật môi trường và pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển cũng được hình thành và phát triển trong bối cảnh chung đó
Tuy vậy, Pháp luật môi trường Việt Nam thực sự hình thành và phát triển đánh dấu bởi sự kiện sau khi Việt Nam chính thức tham gia Hội nghị Thượng đỉnh trái đất về bảo vệ môi trường tại Rio De Janeiro năm 1992 và sự ban hành của Hiến pháp Việt Nam năm
1992 Tiếp đó, Luật Bảo vệ môi trường 1993 được ban hành và sau đó là Luật Bảo vệ môi trường 2005 cùng hàng loạt văn bản pháp luật: Bộ Luật hàng hải Việt Nam ngày 14 tháng 6 năm 2005, Nghị định 71/2006/NĐ-CP ngày 25/7/2006 về quản lý cảng biển và luồng hàng hải, Nghị định 115/2007/NĐ-CP ngày 5/7/2007 về điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải biển và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan, Nghị định số 62/2006/ND-CP ngày 21/6/2006 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực hàng hải, Nghị định số 39/CP ngày 10/6/1998 về xử lý tài sản chìm đắm ở biển, Thông tư 2592/Mtg ngày 12/11/1996 của
Bộ khoa học, công nghệ và môi trường về kiểm soát ô nhiễm biển do tàu thuyền và phương tiện vận chuyển đường sông, Luật dầu khí ngày 06 tháng 7 năm 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí ngày 09/6/2000 và Nghị định 48 /2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 Quy định chi tiết thi hành Luật Dầu khí và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan Việc xử lý theo quy định về quản lý chất thải nguy hại phải được thực hiện theo Quy chế quản lý chất thải nguy hại ban hành kèm theo Quyết định 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/7/1999 và Thông tư 12/2006/TT-BTNMTngày 26/12/2006 Hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại.…với nhiều chế định cơ bản của pháp luật môi trường đã được hình thành và ngày càng hoàn thiện như pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường, pháp luật về bảo tồn đa dạng
Trang 26sinh học, pháp luật về bảo vệ các nguồn tài nguyên, pháp luật kiểm soát ô nhiễm các thành phần môi trường, pháp luật về việc giải quyết các tranh chấp môi trường Những chế định này đặt nền móng cho hoạt động bảo vệ môi trường nói chung, trong đó có bảo vệ và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
Trước nhu cầu phát triển của nền kinh tế - xã hội Việt Nam, xu hướng hội nhập toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng, sự ấm lên toàn cầu do biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường biển ngày càng trở lên báo động, những quy định về bảo vệ môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng trong các văn bản pháp luật nêu trên trở lên lạc hậu, đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển kinh tế xã hội biển và bảo vệ môi trường biển và các thách thức trên, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã đưa ra Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã nêu rõ “phải phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường; có chính sách hấp dẫn nh m thu hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế biển; xây dựng các trung tâm kinh tế lớn vùng duyên hải gắn với các hoạt động kinh tế biển làm động lực quan trọng đối với sự phát triển của cả nước Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển đóng góp khoảng 53 – 55% GDP, 55 – 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển” Trên tinh thần của Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và nh m khắc phục những nhược điểm hạn chế trong Luật BVMT Việt Nam năm 2014, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014 Trước đó là Luật Dầu khí 2013, tiếp đến Bộ Luật Hàng hải Việt Nam năm 2015; Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo Việt Nam năm 2015 cùng với các văn bản dưới luật như thông tư, nghị định hướng dẫn tương ứng Các văn bản pháp luật này được sửa đổi và bổ sung theo hướng kế thừa các quy định về bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển nói riêng ở các văn bản pháp luật trước, quy định rõ hơn về chính sách kết hợp bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ chủ quyền quốc gia hướng tới phát triển bền vững, được xây dựng từ cấp trung ương tới địa phương và định hướng chiến lược lâu dài; có những quy định cơ bản quan trọng về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và bảo vệ môi trường biển
Trang 27tạo ra một khung pháp lý toàn diện về bảo vệ môi trường biển Thí dụ như: Luật BVMT Việt Nam năm 2005 quy định cấm nhận chìm chất thải ở biển thì Luật BVMT Việt Nam năm 2014 quy định cho phép nhận, chìm chất thải nhưng phải dựa vào đặc điểm tính chất của chất thải và phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Điều 50, Luật BVMT Việt Nam năm 2014)
Như vậy, Pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển Việt Nam giai đoạn từ năm 1986 đến nay đã có sự phát triển vượt bậc cả về
số lượng lẫn chất lượng Trong quá trình thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm
2020 được đề ra từ Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) ngày 09/02/2007, chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng Trong thời gian qua đã hình thành được hệ thống tổ chức bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển nói riêng cùng lúc với hành lang pháp lý khá đồng bộ Đây là những thành công to lớn,
có ý nghĩa quyết định và là tiền đề cho các giai đoạn tiếp theo Cụ thể:
- Các quy định pháp luật về môi trường đã có nội dung cụ thể và trực tiếp hơn về các vấn đề bảo vệ môi trường Nhiều quy định pháp luật, kể cả các quy định của Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã xác định cụ thể và chi tiết quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong việc bảo vệ môi trường Các chính sách phát triển kinh tế xã hội đề ra được gắn kết với các vấn đề bảo vệ môi trường, phát triển bền vững Nhà nước ta đã đề ra các đạo luật riêng điều chỉnh các quan hệ xã hội gắn liền với kiểm soát ô nhiễm môi trường biển: Luật BVMT Việt Nam năm 2014, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo Việt Nam năm 2015…
- Nội dung pháp luật về môi trường giai đoạn từ năm 1986 đến nay đã mang tính toàn diện và hệ thống hơn Các quy định pháp luật về môi trường đã đề cập đến hầu hết các yếu tố và các vấn đề của môi trường và bảo vệ môi trường từ chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống cơ quan quản lí nhà nước về môi trường đến quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong khai thác, sử dụng và bảo vệ các yếu tố khác nhau của môi trường Hệ thống tiêu chuẩn môi trường quốc gia cũng đã được ban hành để làm cơ sở pháp lí cho việc xác định trách nhiệm nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển nói riêng
- Các quy định pháp luật về môi trường đã chú trọng tới khía cạnh toàn cầu của vấn
đề môi trường Tính tương đồng giữa các quy định pháp luật môi trường Việt Nam với các quy định trong công ước quốc tế về môi trường được nâng cao Hệ thống pháp luật môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển Việt Nam nói riêng đã khẳng định
Trang 28tính ưu tiên của các quy định trong công ước quốc tế mà chính phu Việt Nam đã ký trong việc giải quyết các vấn đề cụ thể
- Hiệu lực của các quy định của pháp luật môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển nói riêng được nâng cao do việc Nhà nước sử dụng nhiều văn bản luật điều chỉnh Đây là những điều kiện tiền đề rất thuận lợi cho việc điều chỉnh các quan hệ
xã hội phát sinh từ lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm môi trường biển Chính vì lí do này nên các quy định của pháp luật môi trường đã phát huy được tác dụng của chúng trong thực tế
Cho đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn đang tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, xây dựng, hoàn thiện các văn bản pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế
1.4 Kinh nghiệm xây dựng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển của một số quốc gia trên thế giới
* Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc có vị trí địa lý, điều kiện chính trị và là quốc gia có đường bờ biển tương đối dài giống với Việt Nam Do đó, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước Trung Quốc cũng rất quan tâm đến việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển Nh m kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, Trung Quốc đã ban hành Luật Bảo vệ Môi trường 2014 tại cuộc họp lần thứ 8 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Hội nghị Nhân dân Quốc gia lần thứ
12 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào ngày 24 tháng 4 năm 2014 có hiệu lực vào ngày
1 tháng 1 năm 2015 trên cơ sở kế thừa Luật Bảo vệ môi trường năm 1989 Những nội dung được sửa đổi và bổ sung cho thấy sự thay đổi nhận thức về môi trường của Trung Quốc khi
hy sinh chất lượng môi trường để đổi lấy sự phát triển kinh tế trong 28 năm qua, chính phủ Trung Quốc đã tuyên bố r ng các cân nhắc về bảo vệ môi trường phải được kết hợp với các
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và nhận thức về môi trường và phát triển kinh tế xã hội8
Luật Dân sự Trung Quốc năm 1986 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/1987, có nguyên tắc chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, theo nguyên tắc này, bất
cứ ai gây ô nhiễm môi trường và gây thiệt hại cho người khác, vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường và phòng ngừa ô nhiễm phải chịu trách nhiệm dân sự theo
8
Robert L Falk và Jasmine Wee (2014), “Luật Bảo vệ môi trường mới của Trung Quốc – Những gợi ý cho các nhà đầu
tư ở nước ngoài, các liên doanh và đối tác thương mại”, tại địa chỉ: http :// ww w mon daq Com /chin a/x /34 59 32/ E nvironmental%2BLaw/Chinas%2BNew%2BEnvironmental%2BProtection%2BLaw&prev=search , ngày truy cập 28 tháng 07 năm 2017
Trang 29luật pháp9 Các quy định này cũng phù hợp với nguyên tắc: Người gây ra thiệt hại phải Bồi thường, nguyên tắc này được ban hành bởi Ủy ban Môi trường của Tổ chức Hợp tác Kinh tế Phát triển (OECD) và trở thành thông lệ quốc tế Nguyên tắc này đã được cụ thể hoá và trở thành nguyên tắc chung trong kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung: Luật Bảo vệ môi trường Trung Quốc năm 2014 và ô nhiễm môi trường biển nói riêng: Luật Bảo vệ môi trường biển Trung Quốc năm 1999, Bộ Luật Hàng hải Trung Quốc năm 1993 ở Trung Quốc
Luật Bảo vệ môi trường (2014) của Trung Quốc khá ngắn, chỉ có 70 điều được chia thành 7 chương bao gồm: 1) Quy định chung; 2) Giám sát và quản lý môi trường; 3) Bảo vệ
và nâng cao chất lượng môi trường; 4) Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường và các chất nguy hại; 5) Trách nhiệm công bố thông tin và sự tham gia của công chúng trong bảo
vệ môi trường; 6) Trách nhiệm pháp lý; 7) Điều khoản thực thi10
Chương giám sát và quản lý môi trường đưa ra một số công cụ BVMT gồm tiêu chuẩn môi trường (cả môi trường xung quanh và tiêu chuẩn chất thải), quan trắc môi trường, điều tra đánh giá hiện trạng môi trường, đánh giá tác động môi trường và thanh tra môi trường Như vậy, kết cấu Luật Bảo vệ môi trường khung của Trung Quốc được phân chia theo ba nhóm hoạt động là: giám sát, quản lý; bảo vệ, nâng cao chất lượng; và ngăn ngừa, kiểm soát ô nhiễm
Luật Bảo vệ môi trường biển Trung Quốc (MPEL) năm (1999) bao gồm 10 chương
và 98 Điều, điều chỉnh nội dung cơ bản của các quyền và nghĩa vụ của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển, về bảo tồn mảng xanh ở biển,
ô nhiễm biển do hoạt động từ đất liền, từ dự án xây dựng ven biển, dự án xây dựng trên biển, việc xả thải ra biển, ô nhiễm tàu chở dầu Trong đó có thể ví dụ về kiểm soát ô nhiễm môi trường do ô nhiễm từ tàu chở dầu đáng chú ý có các quy định: Điều 62 của MPEL quy định: “Tàu không được thải chất ô nhiễm, nước d n tàu, rác thải và các chất độc hại khác vào môi trường biển, chủ tàu phải trang bị các thiết bị xử lý rác thải và chất thải từ tàu thuyền” Điều 66 MPEL quy định thành lập quỹ bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu mỏ:
“Nhà nước thành lập quỹ đền bù thiệt hại về môi trường biển do ô nhiễm dầu mỏ, với nguyên tắc chung chịu trách nhiệm giữa chủ tàu và chủ hàng để bồi thường thiệt hại”
Trang 30https://www.chinadialogue.net/Environmental-Khoản 1, Điều 90 của MEPL quy định r ng: “Người dân làm ô nhiễm môi trường sẽ chịu trách nhiệm về những thiệt hại đó và chịu trách nhiệm bồi thường” Quy định này cũng đúng với nguyên tắc bồi thường thiệt hại bên ngoài hợp đồng Để đảm bảo sự công b ng cho nạn nhân chịu thiệt hại do sự cố huỷ hoại môi trường, khoản 2 Điều 90 MEPL quy định: “Nếu có thiệt hại nghiêm trọng cho môi trường, hủy hoại môi trường, nhà nước sẽ đưa
ra mức bồi thường thiệt hại cho nạn nhân”
Nh m hướng dẫn chi tiết cho Luật Bảo vệ môi trường biển năm 1999 Một nghị định
về ngăn ngừa ô nhiễm biển từ các tàu được ban hành năm 1983 để chỉ đạo việc thực hiện MPEL Vào năm 1982 Năm 2010, nghị định đã được sửa đổi và có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 3 năm 2010 Mục đích của Nghị định này là nh m thiết lập các quy tắc toàn diện để ngăn ngừa, đáp ứng và khắc phục khi ô nhiễm dầu xảy ra trên lãnh thổ Của Trung Quốc11
Nghị định có các quy định nghiêm ngặt đối với quá trình tiếp nhận, thải các tàu chở dầu và các kế hoạch phản ứng với sự cố tràn dầu đã xảy ra Nghị định này cũng quy định việc thành lập một quỹ quốc gia để Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra Chúng ta có thể nói, đây là một hành động mà Trung Quốc muốn chuyển giao các quy định của luật pháp quốc tế vào luật quốc gia Với báo cáo khi ô nhiễm xảy ra: Khi ô nhiễm xảy ra ở lãnh hải của Trung Quốc, Chủ tàu phải báo cáo ngay cho Cục Quản lý An toàn Hàng hải Trung Quốc với thông tin Về tai nạn Báo cáo tai nạn phải có các thông tin sau: 1) Tên tàu, quốc tịch của con tàu, số tàu 2) Tên, địa chỉ của chủ sở hữu, người điều hành hoặc người quản lý tàu 3) Thời gian, địa điểm, và thời tiết nơi tai nạn xảy ra 4) Xác định nguyên nhân sơ bộ của tai nạn 5) Loại, số lượng chất gây ô nhiễm của tàu 6) Mức độ ô nhiễm 7) Đề xuất các biện pháp kiểm soát ô nhiễm và yêu cầu cứu hộ 8) Bất kỳ thông tin khác theo yêu cầu
Trung Quốc cũng cho xây dựng Bộ Luật Hàng hải năm 1993 có một chương quy định về "giới hạn trách nhiệm pháp lý đối với các yêu sách hàng hải" (Chương XI), trong chương này quy định về giới hạn trách nhiệm dân sự đối với các yêu sách hàng hải (Điều
204 đến Điều 215) Chương XI về giới hạn trách nhiệm pháp lý và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu mỏ có thể áp dụng Điều 204 Hoặc điều 207 cụ thể: Trong Điều 204 quy định: chủ tàu (bao gồm cả người thuê tàu và thuyền trưởng) và người giúp việc trên tàu có thể hạn chế trách nhiệm dân sự đối với các khiếu nại hàng hải theo quy định tại Điều 207 của luật
11 Wang Hui (2011), Trách nhiệm dân s đối với thiệt hại do nhiễm dầu biển - so sánh gi a Hoa K và Trung Quốc,
luận án Tiến sỹ , Đại học Erasmus Rotterdam
Trang 31này12 Các giới hạn trách nhiệm pháp lý được quy định cụ thể trong Điều 210 Bộ luật Hàng hải Trung Quốc như sau: Chủ tàu sẽ có quyền hạn chế trách nhiệm của mình đối với bất kỳ một sự cố nào với tổng số tiền được tính như sau: A) 333.000 đơn vị tính cho tàu có trọng tải từ 300 đến 500 chiếc B) Tàu có trọng tải trên 500 thì mỗi đơn vị trọng tải bổ sung được thêm như sau: i) 500 đơn vị tài khoản cho một con tàu với 500 đến 3.000 đơn vị trọng tải; ii) 333 đơn vị tài khoản cho một con tàu với 3,001 đến 30.000 đơn vị trọng tải; iii) 250 đơn
vị tài khoản cho một con tàu với 30,001 đến 70,000 đơn vị trọng tải; iv) 167 đơn vị tính cho tàu có trọng tải trên 70.000 Tuy nhiên, theo quy định của Công ước CLC13, chủ tàu biển có quyền hạn chế trách nhiệm của mình theo điều này của Công ước đối với bất kỳ sự cố nào với tổng số tiền được tính như sau: 5 A) Tàu thuỷ không vượt quá 5.000 đơn vị là 4.510.000 đơn vị tài khoản B) Với một con tàu có trọng tải trên 5.000 đơn vị trọng tải, mỗi đơn vị trọng tải bổ sung, 631 Đơn vị tài khoản bổ sung cho số tiền nêu tại điểm a) Tuy nhiên, tổng
số tiền này sẽ không vượt quá 89.770.000 đơn vị tài khoản Như vậy, giới hạn trách nhiệm pháp lý của Hàng hải Trung Quốc thấp hơn giới hạn trách nhiệm pháp lý theo quy định của CLC 1992
Năm 1984, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc đã quyết định thành lập Tòa án Hàng hải ở Các thành phố cảng chính của Trung Quốc Cho đến nay đã có 9 Tòa án Hàng hải ở Trung Quốc, bao gồm: Thiên Tân, Đại Liên, Thanh Đảo, Thượng Hải, Quảng Châu,
Vũ Hán, Ninh Ba, Hạ Môn và Hải Khẩu14 Tòa án Hàng hải có thẩm quyền về các trường hợp liên quan đến bồi thường thiệt hại gây ra bởi ô nhiễm biển, và tranh chấp phát sinh trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá b ng đường biển và các tranh chấp khác liên quan đến hoạt động hàng hải Vào ngày 25 tháng 12 năm 1999, Ủy ban của Quốc hội ban hành các quy định về thủ tục hàng hải và các quy tắc bắt đầu có hiệu lực vào tháng 7 năm 2000
Như vậy, Luật Bảo vệ môi trường Trung Quốc được coi là “luật khung” khi chỉ quy định những vấn đề chung, cơ bản, khái quát Trong khi đó, những vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường biển và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển sẽ được điều chỉnh bởi các đạo luật chuyên ngành: Luật Bảo vệ môi trường biển năm 1999, Bộ Luật Hàng Hải năm
1993 Trong kết cấu hệ thống pháp luật của Trung Quốc, các biện pháp chế tài hành chính,
12 Xem Bộ luật Hàng hải Trung Quốc tại: http://www.china.org.cn/english/environment/34152.htm&prev=search
13 Công ước quốc tế giới hạn trách nhiệm dân sự về thiệt hại do ô nhiễm dầu, 1969 (CLC) và Nghị định thư 1992 sửa đổi Công ước quốc tế về giới hạn trách nhiệm dân sự đối với các thiệt hại do ô nhiễm dầu 1969 (CLC 92)
14 Phạm Văn Tân (2016), “Luật bảo vệ môi trường biển của Trung Quốc do Ô nhiễm dầu tàu - Bài học cho Việt Nam”, Tạp chí Luật, Chính sách và Toàn cầu hoá Www.iiste.org ISSN 2224-3240 (Paper) ISSN 2224-3259 (Trực tuyến) Vol.48, tr.56, http://www.iiste.org/Journals/index.php/JLPG/article/download/30146/30959&prev=search
Trang 32hình sự và kỷ luật luôn được thể hiện trong cùng văn bản với các quy định về quyền và nghĩa vụ Cụ thể: Luật BVMT và các đạo luật khác đã nêu trên luôn có một chương quy định về các hành vi vi phạm và chế tài cụ thể Phương pháp thể hiện này đảm bảo sự thống nhất trong hệ thống và cũng tiện cho việc tra cứu pháp luật Đặc biệt, phương pháp này cũng làm tăng khả năng áp dụng trực tiếp văn bản luật mà không phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành
* Kinh nghiệm của Mỹ
Mỹ luôn nhận ra tầm quan trọng đặc biệt của thế giới đại dương cho nhân loại như một nguồn thực phẩm khổng lồ, nhiên liệu và khoáng chất và phục vụ cho nghiên cứu khoa học Mỹ đã đưa ra nhiều chính sách quốc gia để bảo vệ tự do hàng hải và truyền thông, thúc đẩy quyền khai thác và phát triển tài nguyên và các nghĩa vụ trước bảo vệ và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
Bảo vệ môi trường biển nói chung và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Mĩ được thực hiện bởi nhiều cơ quan khác nhau với các chức năng khác nhau như Bộ Năng lượng Hoa Kì; Tổng cục biển và Khí quyển quốc gia (NOAA); Ủy ban chính sách biển quốc gia; Hội đồng Tư vấn của Tổng thống về chính sách biển (gồm đại diện các bang, các vùng lãnh thổ, bộ tộc, các cấp chính quyền địa phương, đại diện lợi ích các nhà nghiên cứu và cộng đồng, các tổ chức tư nhân…) Ngoài ra, Hoa kì còn có một hệ thống các cơ quan hỗ trợ cho việc giám sát thực hiện pháp luật như Cơ quan quản lí khẩn cấp liên bang (FEMA); Quân đoàn Công binh Lục quân Hoa Kì (USACE) Còn giám sát việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển thì có Hệ thống giám sát biển tổng hợp quốc gia (IOOS), nh m nâng cao ý thức bảo vệ môi trường biển thì có Văn phòng giáo dục biển quốc gia (Ocean ED)15…
Dưới góc độ pháp luật, ngoài Luật biển, Hoa Kì đang sử dụng nhiều đạo luật
cấp liên bang có liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường biển như: Luật về quản lí vùng ven biển; Luật nước sạch (đưa ra các hình phạt về tài chính) và các luật liên bang; Luật quản lí và bảo tồn nghề cá; Luật về các loài sinh vật biển nguy cấp; Luật quản lí và bảo vệ rạn san hô; Luật hợp tác về hải dương học quốc gia…16 Tuy nhiên, với lý do bảo vệ
tự do hàng hải, thúc đẩy quyền khai thác đáy biển sâu, Mỹ vẫn chưa phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (Uncloss 1982) mặc dù là một trong những quốc gia chính
15
Lưu Ngọc Tố Tâm (2012), Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải, Luận án tiến sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr.69
16 UNESCO/IOC/Luật Biển, Chính sách biển quốc gia Australia, Brazil, Canada, Trung Quốc, Colombia, Nhật Bản, Na
Uy, Bồ Đào Nha, Liên bang Nga, Hoa Kì, UNDP, Hà nội; tr.266
Trang 33tham gia vào quá trình soạn thảo Quan điểm của chính quyền Mỹ: đối với kiểm soát ô nhiễm môi trường biển thì Công ước 1982 này là không cần thiết trái ngược lại với các quan
điểm của các học giả Mỹ Họ cho r ng “hiện tại, các c ng ước quốc tế đã cung cấp các tiêu
chuẩn đầy đ hạn chế việc thải các chất độc và quy định thiết kế, xây d ng, quản lý và trang thiết bị c a tàu Mỹ c thể áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như một điều kiện tiên quyết khi tiến vào lãnh hải c a Mỹ, một quyền được c ng nhận bởi luật pháp quốc tế Hiện tại, Luật pháp cũng cho phép một quốc gia ven biển khẳng định quyền tài phán để ngăn ngừa hoặc giảm nhẹ mối đe dọa gây ra thiệt hại nhiễm do tai nạn thảm khốc Vì thế, Luật pháp quốc tế hiện c c thể bảo vệ lợi ích c a Mỹ trong việc kiểm soát nhiễm biển Các nhà phê bình chính sách c a chính quyền cho rằng ở bên ngoài Uncloss chỉ làm giảm ảnh hưởng và s c mạnh c a Mỹ trong đàm phán toàn cầu” 17
Trên cơ sở xuyên suốt, Mỹ đã thống nhất quan điểm các luật liên quan đến bảo vệ môi trường biển và tài nguyên biển nói chung và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, đó là các văn bản luật về việc sử dụng nguồn tài nguyên biển phải rõ ràng, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chính quyền và dễ tiếp cận đối với cư dân cả nước để tạo điều kiền thuận lợi cho sự tuân thủ pháp luật
Các nội dung triển khai chính sách biển và các “ẩn ý” bên trong đó cũng phải rõ ràng
và sẵn sàng cho tất cả các bên có lợi ích liên quan18
* Kinh nghiệm của Canada
Việt Nam cần tham khảo hệ thống pháp luật của Canada bởi hai lý do: một là, đường
bờ biển của Canada dài nhất thế giới với 202.080 km19; hai là, Canada được bao bọc bởi ba đại dương lớn là Đại Tây Dương, Thái Bình Dương và Bắc Băng Dương, gần giống với vị trí địa lí của Việt Nam là có toàn bộ phần Đông Bắc, Đông, Nam và Đông Nam giáp biển20
Vì vậy, về quản lí biển, Canada là một trong những nước đi đầu trong việc phát triển một
17 James L Malone (1983), “The United States and the Law of the Sea After UNCLOS III”, tại địa chỉ:
https://scholarship.law.duke.edu/cgi/viewcontent.cgi%3Farticle%3D3700%26context%3Dlcp&prev=search , ngày truy cập 28 tháng 07 năm 2017
Trang 34chính sách biển tổng thể ở tầm quốc gia, áp dụng cách thức quản lí tổng hợp, một cách thức quản lí hiện đại và thích hợp với môi trường biển
Xét dưới góc độ ban hành pháp luật, Canada bắt đầu xây dựng Luật Biển khi
mà Canada đang phải đối đầu với nhiều khó khăn, thử thách trong quản lí biển và các hoạt động trên biển Trước tiên Canada đã ban hành Luật Biển vào ngày 18/12/1996 Với việc ban hành đạo luật này, “Canada đã trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới có hệ thống pháp luật toàn diện về quản lí biển” theo đánh giá của Bộ trưởng Bộ Thủy sản và đại dương Canada21 Về cơ bản, luật Biển Canada là một đạo luật toàn diện, qui định một khung pháp
lí tương đối hoàn chỉnh cho việc xây dựng và quản lí biển hiện đại, bao gồm: Thứ nhất, xác định một cách cơ bản các vùng biển của Canada theo nguyên tác cơ bản của UNCLOS
1982, làm cơ sở pháp lí cho việc quản lí biển và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải; Thứ hai, hình thành nên một cơ chế quản lí biển tổng hợp dựa trên sự hợp tác của các ngành, các chủ thể liên quan kể cả cộng đồng người dân ven biển và người bản địa, với một cơ quan đầu mối là Bộ Thủy sản và Đại dương Thứ ba, đưa ra cơ sở pháp
lí mới để định hướng cho việc xây dựng chiến lược biển quốc gia
Năm 1999, Canada đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường (CEPA) Tiếp đó, Chiến lược Biển Quốc gia Canada đã được ban hành vào năm 2002 Chiến lược này đã đưa ra mục tiêu hỗ trợ các chương trình và chính sách có liên quan nh m nghiên cứu và bảo vệ môi trường biển, hỗ trợ các cơ hội phát triển kinh tế biển bền vững và tham gia vào các hoạt động biển quốc tế Đồng thời, Canada cũng ban hành nhiều văn bản có liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải là: Các qui tắc và Luật Chống ô nhiễm nguồn nước; Luật Hàng hải Canada 2001; Luật trách nhiệm hàng hải 2001 và các qui tắc hay Luật vận tải Canada 2001 Trong những văn bản pháp luật này, các vấn đề có liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải được giải quyết như vấn đề kiểm soát việc nhận chìm ở biển, danh sách các chất an toàn được phép nhận chìm (theo Luật Bảo vệ môi trường 1999)
Các vấn đề liến quan đến an toàn hàng hải; giải quyết các sự cố, tai nạn hàng hải và các thiệt hại; việc ngăn chặn sự ô nhiễm và nghĩa vụ của Bộ Thủy sản và đại dương… được qui định trong Luật Vận tải 2001 Ở Canada, tất cả các vấn đề liên quan đến ô nhiễm dầu do tàu thuyền và đền bù thiệt hại do tràn dầu lại được giải quyết trong Luật về Trách nhiệm Hàng hải 2001
21 Sđd, tr.178
Trang 35Như vậy, về pháp luật, Canada ban hành hai văn bản pháp luật quan trọng là Luật Bảo vệ Môi trường 1999 và Luật Biển 1996, đồng thời có nhiều các văn bản pháp luật khác
hỗ trợ cho việc kiếm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải
Đặc biệt, Canada rất thành công trong việc ban hành pháp luật về việc quản lí tổng hợp nh m kiểm soát ô nhiễm môi trường biển bao gồm quản lí bên ngoài, bên trong, chiều ngang, chiều dọc, cơ chế khuyến khích, cơ chế bảo vệ, quản lí tổng hợp ven bờ, giám sát và thi hành, và hợp tác quốc tế22
* Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan là quốc gia cùng n m trong khối Asean với Việt Nam, có cùng điều kiện phát triển kinh tế, có đường bờ biển dài 7.066 km23 Do đó, những kinh nghiệm trong việc xây dựng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển sẽ là những bài học quý báu cho Việt Nam
Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường ở Thái Lan được quy định tập trung và khá cụ thể, chi tiết trong một đạo luật đó là Luật Tăng cường và Bảo vệ Chất lượng môi trường Quốc gia năm 1992
Với 7 chương, 115 điều, Luật này điều chỉnh hầu hết mọi vấn đề liên quan đến bảo
vệ môi trường Phần các quy định chung quy định các quyền và nghĩa vụ của người dân trong việc BVMT và khuyến khích việc tham gia của người dân vào công tác BVMT một cách trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức phi chính phủ Các nội dung tiếp theo quy định các công cụ bảo vệ môi trường; việc tổ chức thực hiện và nguồn tài chính cho hoạt động này qua việc thành lập Ban Môi trường Quốc gia và Quỹ Môi trường Quốc gia
Quy định về công cụ BVMT trong Luật Tăng cường và Bảo vệ Chất lượng môi trường Quốc gia (1992) bao gồm tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường và đánh giá tác động môi trường Các quy định này khá chi tiết, không chỉ liệt kê các công cụ BVMT và các vấn đề môi trường mà còn xác định thẩm quyền, điều kiện, trình tự thủ tục để áp dụng các công cụ
đó Các tiêu chuẩn môi trường được ban hành bởi Ban Môi trường quốc gia Trên cơ sở đó,
Bộ Khoa học, Công nghệ và Năng lượng (KH,CN&NL) ban hành Kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nh m quản lý việc tuân thủ các tiêu chuẩn trên Ban Môi trường quốc gia
22 Sđd, tr.204
23 Viện tài nguyên Thế giới, số liệu thống kê đường bờ biển Thái Lan, tại địa chỉ: https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_c%C3%A1c_qu%E1%BB%91c_gia_theo_chi%E1%BB%81u_d%C 3%A0i_%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng_b%E1%BB%9D_bi%E1%BB%83n, ngày truy cập 28 tháng 07 năm
2017
Trang 36có quyền ban hành các tiêu chuẩn môi trường cao hơn đối với các khu vực cần được bảo vệ đặc biệt hoặc các khu vực đã bị ô nhiễm nghiêm trọng Tiêu chuẩn môi trường của địa phương phải được Ban Môi trường quốc gia phê duyệt
Quy định về đánh giá tác động môi trường (ĐTM) cũng được quy định chi tiết trong Luật này Theo đó, Bộ KH,CN&NL có quyền ban hành danh mục các dự án phải lập báo cáo ĐTM Báo cáo này phải được thẩm định và phê duyệt bởi chính quyền địa phương hoặc bởi Chính phủ trước khi dự án bắt đầu Chính quyền địa phương có 30 ngày để phê duyệt báo cáo ĐTM hoặc tổ chức một ủy ban thẩm định hoạt động trong thời hạn 40 ngày Báo cáo sẽ tự động được phê duyệt nếu quá thời hạn trên mà các cơ quan nhà nước không kết thúc công tác thẩm định Nếu báo cáo ĐTM không được thông qua, chủ đầu tư có 30 ngày
để sửa chữa, bổ sung báo cáo
Chương Kiểm soát ô nhiễm là chương lớn nhất, quy định cụ thể nhất trong đạo luật này Có 8 vấn đề được giải quyết trong chương này bao gồm: thành lập hội đồng kiểm soát
ô nhiễm; tiêu chuẩn phát thải; khu vực kiểm soát ô nhiễm; ô nhiễm không khí và tiếng ồn; ô nhiễm nước; ô nhiễm khác và chất thải nguy hại; quan trắc, thanh tra, kiểm tra; phí dịch vụ
và xử lý hành chính Các vấn đề được đề cập ở chương này được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, từ các công cụ can thiệp đến từng thành phần môi trường
Điều đáng chú ý là Luật Tăng cường và Bảo vệ Chất lượng môi trường Quốc gia dành hẳn chương VII quy định về trách nhiệm hình sự gồm 14 tội liên quan đến bảo vệ môi trường và hình phạt tương ứng cụ thể Ví dụ: Điều 104 quy định, chủ nguồn thải không thực hiện nghĩa vụ quan trắc môi trường theo yêu cầu thì bị phạt tù không quá 1 năm hoặc phạt tiền không quá 100.000 Baht hoặc cả hai
Tóm lại, Pháp luật về BVMT của Thái Lan đã tạo hành lang pháp lý cho việc từng bước giải quyết các vấn đề môi trường trong đó có quy định chung việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển với kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung với việc cho phép đặt ra các khu vực cần ưu tiên bảo vệ đặc biệt và các khu vực đã bị ô nhiễm nghiêm trọng giúp Chính phủ Thái Lan đối phó với các vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Luật Tăng cường và Bảo vệ Chất lượng môi trường Quốc gia là đạo luật quy định khung làm cơ sở cho việc ban hành các quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Thái Lan được quy định tại một số luật chuyên ngành: Luật về Cảng, Luật Thủy lợi công cộng có một số điều khoản liên quan đến ngăn ngừa ô nhiễm nước Luật Thủy sản, Luật
Trang 37Khoáng sản và Luật Dầu khí có quy định về kiểm soát ô nhiễm biển Luật Nhà máy quy định về quản lý chất thải công nghiệp
Nhìn chung, mặc dù khung pháp lý và thể chế của pháp luật Thái Lan về bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển nói riêng được đánh giá là có tính
hệ thống, song trong thực tiễn áp dụng còn bộc lộ một số vấn đề nhất định, ví dụ, các quy định về kiểm toán môi trường, quan trắc môi trường và đánh giá tác động môi trường trong kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng không được áp dụng thường xuyên trên thực tế Luật Tăng cường và Bảo vệ Chất lượng môi trường Quốc gia là một đạo luật tương đối đồ sộ, bao quát nhiều vấn đề và mức độ chi tiết của các quy định rất cao Tuy vậy, vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường biển lại không được quy định riêng thành một đạo luật mà được điều chỉnh ở nhiều văn bản khác nhau dẫn đến hiện tượng chồng chéo khó vận dụng và thực thi pháp luật để kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
* Kinh nghiệm của Na Uy
Na Uy là một quốc gia theo thể chế quân chủ lập hiến tại Bắc Âu chiếm phần phía tây Bán đảo Scandinavia Nước này giáp biên giới với Thuỵ Điển, Phần Lan, và Nga có đường bờ biển dài 53.199 km đứng thứ 7 trên thế giới24 Từ lâu, Na Uy đã áp dụng đồng thời nhiều biện pháp nh m kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải một cách hết sức có hiệu quả Na Uy bảo vệ môi trường biển và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải trước tiên và xuyên suốt là kiểm soát ô nhiễm và suy thoái môi trường biển cũng như tài nguyên biển Na Uy đã ban hành một Chính sách biển quốc gia thực sự tổng hợp và dài hạn
Chính sách này được ban hành vào năm 2002 nh m mục đích cung cấp các điều kiện cần thiết cho phép Na Uy duy trì sự cân b ng giữa các lợi ích thương mại của các ngành khác nhau như hoạt động hàng hải, như hoạt động dầu khí, hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản theo định hướng phát triển bền vững25 Chính vì tiếp cận theo hướng phòng ngừa và khắc phục ô nhiễm và suy thoái môi trường biển trong các hoạt động khác nhau nên Na Uy đã tập trung xây dựng các kế hoạch phòng tránh ô nhiễm, kiểm soát giao thông trên biển, xây dựng chiến lược thu dọn các ô nhiễm biển, ngăn chặn sự lan rộng khi ô nhiễm xảy ra, phân loại các khu vực bị ô nhiễm… Đối với kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, Na
24 Xem thêm về Na Uy, tại địa chỉ: https://vi.wikipedia.org/wiki/Na_Uy
25 UNESCO/IOC/Luật Biển, Chính sách biển quốc gia Australia, Brazil, Canada, Trung Quốc, Colombia, Nhật Bản, Na
Uy, Bồ Đào Nha, Liên bang Nga, Hoa Kì, UNDP, Hà nội, tr.132
Trang 38Uy đã tiến hành các hoạt động phòng ngừa xả thải từ hoạt động hàng hải, ngăn ngừa sự ô nhiễm từ khu vực cảng, triệt để xử lí tai nạn hàng hải và sự cố tràn dầu26
Đặc biệt quốc gia này tiến hành kiểm soát chặt chẽ hoạt động hàng hải Việc kiểm soát được tiến hành thông qua cơ quan đầu mối là Cơ quan Quản lí bờ biển quốc gia, phối hợp có Cục Kiểm soát và ứng cứu khẩn cấp, các trung tâm kiểm soát giao thông ven biển cùng với một số cơ quan nhà nước khác như Bộ Quốc phòng hay bộ phận Dịch vụ dân sự Việc kiểm soát này vừa nh m mang lại những hiệu quả về mặt kinh tế, vừa góp phần kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
Na Uy đã thực hiện các chiến lược và chính sách kiểm soát ô nhiễm biển thông qua Luật Ô nhiễm Luật Ô nhiễm và nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” là cơ sở chung để xử lý và giải quyết các hành vi gây ô nhiễm biển, trong đó có gây ô nhiễm từ hoạt động hàng hải Đồng thời, các biện pháp tài chính tích cực cũng sẽ được áp dụng đối với các khu vực bị ô nhiễm rộng thường có nhiều hơn một tác nhân gây ô nhiễm Khi đó, các bên sẽ phải đóng góp tài chính cho việc phục hồi môi trường biển b ng cách thức là các bên
tự nguyện hợp tác và chia sẻ với nhau hoặc thông qua cơ quan có thẩm quyền kiểm soát ô nhiễm biển Mặt khác, Na Uy cũng kí kết với các quốc gia các thỏa thuận cảnh báo sớm ô nhiễm, tích cực hợp tác quốc tế trong kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
Tóm lại, thông qua việc phân tích về kinh nghiệm xây dựng pháp luật trong kiểm soát ô nhiễm môi trường biển của một số quốc gia trên thế giới, ta thấy hiện nay thế giới đang có hai xu hướng xây dựng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển:
Xu hướng thứ nhất, các nước Châu Âu, Canada và Mỹ thiên về việc xây dựng luật các vùng biển, bao gồm việc xác định chiều rộng và chế độ pháp lí các vùng biển, quản lí các vùng biển và các hoạt động trên biển theo hướng tổng hợp Phương pháp này cho phép đưa ra một văn bản luật khung, đảm bảo tính hài hòa, cho phép áp dụng mô hình quản lí biển tổng hợp, tạo điều kiện cho công tác tổ chức bộ máy quản lí biển, tốn ít thời gian trong việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành cũng như triển khai áp dụng pháp luật Tuy vậy, phương pháp này lại đòi hỏi trình độ xây dựng pháp luật cao, trình độ nhận thức của người dân và ý thức môi trường thuận lợi, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước ở mức độ tốt27
26
Lưu Ngọc Tố Tâm (2012), Pháp luật kiểm soát nhiễm m i trường biển trong hoạt động hàng hải, Luận án tiến sĩ
luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr.68
27 Lưu Ngọc Tố Tâm (2012), Pháp luật kiểm soát nhiễm m i trường biển trong hoạt động hàng hải, Luận án tiến sĩ
luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr.71
Trang 39Xu hướng thứ hai thường được Châu Á và Trung Quốc lựa chọn Theo phương pháp này, các nước tuần tự thông qua một loạt các văn bản pháp qui, trong đó mỗi văn bản giải quyết một vấn đề cụ thể của luật biển Phương pháp này cần nhiều thời gian, không cần quản lí biển tổng hợp ngay, không đòi hỏi đầu tư nhiều nhân lực cũng như tài chính cho quản lí biển và các hoạt động trên biển, cũng không đòi hỏi quá cao sự phối hợp các hoạt động trên biển Phương pháp này phù hợp với tiến trình đi từ trình độ quản lí từ thấp đến cao, dễ vượt qua được thủ tục xây dựng pháp luật cồng kềnh của các nước đang phát triển như Việt Nam28
Với hai xu hướng nêu trên, trong quá trình xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam có thể tham khảo học hỏi kinh nghiệm các nước trên thế giới và vận dụng vào pháp luật Việt Nam dựa trên cơ sở phù hợp với các điều kiện của Việt Nam về kinh tế xã hội, về trình độ và ý thức dân trí, về kĩ thuật lập pháp cũng như các điều kiện ảnh hưởng khác, để Việt Nam có thể tiếp thu một cách có chọn lọc các phương thức xây dựng pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển một cách khoa học nhất
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Trong Chương I, tác giả đã tập trung phân tích, luận giải một số vấn đề chung về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển như: khái niệm môi trường biển, ô nhiễm môi trường biển, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển cũng như vai trò và nội dung của pháp luật trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường biển; các kinh nghiêm xây dựng pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển của một số quốc gia trên thế giới Qua đó, giúp cho việc làm rõ những vấn đề cơ bản về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, đặt nền móng cho việc nghiên cứu các vấn đề tiếp theo của đề tài Ngoài ra, tác giả cũng đã trình bày quá trình hình thành và phát triển pháp luật về kiểm soát
ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam Có thể thấy r ng, qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam là một bộ phận của pháp luật môi trường và được xây dựng ngày càng hoàn thiện hơn
28 Sđd, tr.71
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ KIỂM
SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
2.1.1 Nguồn luật điều chỉnh về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam
Cơ sở pháp lý của việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam là các văn bản luật quốc tế mà Việt Nam là quốc gia thành viên và luật quốc gia Việt Nam về lĩnh vực BVMT biển: (i)Luật quốc tế về môi trường: Là tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm cơ bản
và đặc thù của luật quốc tế điều chỉnh hoạt động của các quốc gia, giữa quốc gia và tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn, phòng ngừa, giảm bớt tiến tới xóa bỏ, khắc phục những thiệt hại các loại, do các nguồn gây ra đối với môi trường biển của các nước và môi trường ngoài phạm vi quyền tài phán quốc gia Sự BVMT biển nói chung và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển nói riêng b ng luật quốc tế được tiến hành ở cấp toàn cầu, khu vực và hợp tác hai bên thông qua việc cam kết thực hiện các quy định tại các điều ước quốc tế song phương và đa phương được các bên ký kết, gia nhập; (ii) Luật quốc gia và các văn bản về luật quốc tế được các nước ký kết, phê duyệt là cơ sở quan trọng để thực hiện công tác quản
lý nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
2.1.2 Nguyên tắc điều chỉnh kiểm soát ô nhiễm môi trường biển của Việt Nam
Trên cơ sở nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển và các văn bản pháp luật khác có liên quan có thể thấy được một số nguyên tắc sau:
* Nguyên tắc bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành Con người dù ở đâu cũng có quyền được sống và mưu cầu hạnh phúc Các tuyên bố Xtốckhôm, Tuyên bố Rio de Janeiro, Tuyên bố Johannesburg đều nhấn mạnh: “Con người
là trung tâm của các mối quan tâm phát triển bền vững Họ được quyền có một cuộc sống hữu ích và lành mạnh, hài hoà với thiên nhiên”
Chương 6 của chương trình hành động 21 nhấn mạnh: Sức khoẻ và phát triển là các vấn đề liên quan mật thiết với nhau, sự kém phát triển sẽ dẫn đến đói nghèo và sự phát triển không hợp lý sẽ dẫn tới tiêu cực quá mức, tăng dân số, ảnh hưởng đến môi trường sống Sức khoẻ của con người phụ thuộc vào môi trường trong lành, đó là nguồn nước sạch, thức
ăn đầy đủ và sạch sẽ Rõ ràng sức khoẻ của con người, vấn đề phát triển và bảo vệ thể chất của môi trường luôn gắn bó một cách chặt chẽ Quyền được sống trong môi trường trong