1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề pháp lý về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

102 139 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 4,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nhiệm vụ nghiên cứu luận văn: làm rõ các quy định về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa, từ đó đánh giá bất cập, hạn chế của quy định và đề xuất phương hướng và cá

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 4

Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với sự hỗ trợ của người khác Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập tại trường đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè Vì vậy, Em xin gởi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy cô trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô khoa Kinh tế, những người đã trực tiếp hoặc gián tiếp giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành bổ ích cho bản thân em trong suốt quá trình theo học tại trường

Đặc biệt, em xin chân thành cám ơn thầy giáo Nguyễn Viết Tý đã quan

tâm và nhiệt tình hướng dẫn để em có thể hoàn thành tốt luận văn thạc sỹ

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, đã luôn ở bên động viên em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp

Hà Nội, ngày 20 tháng 7 năm 2017

Học Viên

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 5

1 Giới thiệu khái quát về đề tài và tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu luận văn 3

4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 4

7 Bố cục của luận văn 5

CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO NHẬN VÀ THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 6

1.1 KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 6

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa 6

1.1.2 Nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa 11

1.2 KHÁI QUÁT VỀ GIAO NHẬN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 13 1.2.1 Khái niệm về giao nhận hàng hóa 13

1.2.2 Chủ thể tham gia giao nhận hàng hóa 14

1.2.3 Phương thức giao nhận hàng hóa 16

1.3 KHÁI QUÁT VỀ THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 18

1.3.1 Khái niệm về thanh toán 18

1.3.2 Chủ thể tham gia thanh toán 19

1.3.3 Phương thức thanh toán 20

Trang 6

1.4.1 Hệ thống các quy định pháp luật về giao nhận và thanh toán trong hợp

đồng mua bán hàng hóa 21

1.4.2 Nội dung pháp luật về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 22

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIAO NHẬN VÀ THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 25

2.1 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LIÊN QUAN TỚI VẤN ĐỀ GIAO NHẬN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 25

2.1.1 Quy định về phương thức giao nhận hàng hóa 25

2.1.2 Quy định về số lượng, chủng loại hàng hóa giao nhận 33

2.1.3 Quy định về thời gian/thời hạn giao nhận hàng hóa 39

2.1.4 Quy định về địa điểm giao nhận hàng hóa 43

2.1.5 Quy định về chứng từ hàng hóa liên quan tới giao nhận hàng hóa 45

2.1.6 Những vấn đề lưu ý liên quan tới giao nhận hàng hóa trong mua bán hàng hóa quốc tế 49

2.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LIÊN QUAN TỚI VẤN ĐỀ THANH TOÁN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 51

2.2.1 Quy định về phương thức thanh toán 51

2.2.2 Quy định về thời gian thanh toán 55

2.2.3 Quy định về giá thanh toán 59

2.2.4 Quy định về chứng từ thanh toán 62

Trang 7

CHƯƠNG 3:MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO NHẬN VÀ THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 69

3.1 CƠ SỞ CỦA SỰ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO NHẬN VÀ THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 69 3.2 KIẾN NGHỊ VỀ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIAO NHẬN VÀ THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG 70

3.2.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về giao nhận hàng hoá 70

3.2.2 Hoàn thiện các quy định pháp luật về thanh toán hàng hoá 71

3.2.3 Hoàn thiện một số quy định pháp luật dựa trên các quy định Công ước Viên 1980 73

3.2.4 Hoàn thiện pháp luật về thanh toán tín dụng thư 74

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ VIỆC ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ GIAO NHẬN VÀ THANH TOÁN TRONG THỰC TIỄN 75

3.3.2 Bổ sung các án lệ với tư cách là nguồn luật có giá trị tham khảo trong lĩnh vực pháp luật về hợp đồng 78

3.3.3 Chính phủ cần đưa ra những chính sách tăng cường hiệu quả giao nhận và thanh toán bằng việc nâng cấp cơ sở hạ tầng vận tải hàng hoá, sử dụng các công

cụ hỗ trợ cho việc thanh toán 80

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Giới thiệu khái quát về đề tài và tính cấp thiết của đề tài

Mua bán hàng hóa là một phương thức giao dịch cổ điển và phổ biến trong đời sống kinh tế-xã hội kể từ khi con người biết trao đổi sản phẩm Cho tới ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, mua bán hàng hóa nói chung cũng như giao nhận và thanh toán nói riêng đang có xu hướng thay đổi

để phù hợp với thời đại mới- thời đại của sự hội nhập Nguyên nhân của sự thay đổi này bởi lẽ mua bán hàng hóa ngày nay không chỉ đơn thuần trong phạm vi biên giới quốc gia mà còn là sự trao đổi hàng hóa và giao lưu kinh tế giữa các nước với nhau, trong “cơn lốc”của nền kinh tế hàng hóa, khi mà nhu cầu buôn bán cũng như phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng trở nên mạnh mẽ

Trước tình hình các giao dịch kinh doanh diễn ra ngày càng sôi động, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các thương nhân, giữa các doanh nghiệp với nhau ngày càng tăng về số lượng, đòi hỏi Nhà nước phải ban hành quy định pháp luật về mua bán hàng hóa có tính “đổi mới”và “mở cửa”để hợp đồng được xác lập nhanh chóng mang lại lợi nhuận tối ưu cho chủ thể, nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo tính chặt chẽ, điều chỉnh chi tiết cho quá trình thiết lập và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, hạn chế thấp nhất những rủi ro và đảm bảo quyền lợi cho thương nhân Việt Nam

Xét từ những yêu cầu nêu trên, pháp luật về giao nhận và thanh toán hiện hành hiện hành liệu đã phát huy hết vai trò của nó? Trong thực tiễn áp dụng, bên cạnh những ưu điểm, việc áp dụng các quy định pháp luật liệu có gặp phải những khó khăn và hạn chế Thực tế, một số nội dung liên quan tới giao nhận và thanh toán hiện nay chưa được quy định cụ thể hoặc chưa được quy định, dẫn tới những tranh chấp không mong muốn giữa các chủ thể trong hợp đồng Mặt khác, sự hạn chế hiểu biết của các chủ thể kinh doanh về pháp

Trang 9

luật hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung cũng như giao nhận và thanh toán nói riêng cũng là một nguyên nhân làm giảm hiệu quả trong việc áp dụng pháp luật đối với các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực này

Vì vậy, từ những lí do nêu trên, việc nghiên cứu đề tài “Những vấn đề

pháp lý về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa”

mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn Việc nêu ra và phân tích các quy định pháp luật hiện hành góp phần nâng cao hiểu biết của các nhà kinh doanh liên quan tới hoạt động giao nhận và thanh toán trong mua bán hàng hóa Đồng thời từ việc đánh giá thực trạng áp dụng các quy định thực tiễn là tiền đề cho việc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này, tạo cơ sở vững chắc

để hạn chế tối đa những rủi ro trong giao nhận và thanh toán từ đó giúp hoạt động mua bán hàng hóa phát triển mạnh mẽ, mang lại hiệu quả cho nền kinh

tế quốc dân

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Về quy định pháp luật giao nhận và thanh toán đã được đề cấp tới trong rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học liên quan tới hợp đồng mua bán hàng hóa Đến nay có không ít các công trình nghiên cứu, các bài viết phân tích về hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh như:

- “Pháp luật hợp đồng kinh tế - Thực trạng và hướng hoàn thiện”đề tài khoa học KH99-06 của Trường đại học Luật Hà Nội;

- “Hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sỹ của tác giả Lê Thị Giang;

- “Hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại công ty cổ phần hóa dầu Petrolimex” Luận văn thạc sỹ của tác giả Vũ Phương Huyền;

- “Một số vấn đề pháp lý về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ở Việt Nam” Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Phú Vinh

Trang 10

Những công trình của các tác giả kể trên đã đề cập từ nhiều góc độ và phạm vi nghiên cứu khác nhau, là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng trong quá trình thực hiện đề tài

Điểm chung của những công trình nghiên cứu nêu trên đều tiếp cận hợp đồng mua bán hàng hóa theo hướng khái quát về các nội dung của hợp đồng mà không đi sâu phân tích và tìm hiểu kỹ một khía cạnh của nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa Vì vậy, việc tập trung giải quyết vấn đề giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa của luận văn dường như là hướng tiếp cận mới mẻ mà trước nay chưa có công trình nghiên cứu nào thực hiện

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu luận văn

- Đối tượng nghiên cứu luận văn là pháp luật giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa hiện hành ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: hợp đồng mua bán hàng hóa dưới giác độ là hợp đồng dân sự đặc thù Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật về giao nhận và thanh toán – một trong những nội dung chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa, bao gồm hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

- Mục tiêu nghiên cứu của luận văn: nghiên cứu những vấn đề lý luận

về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa và các pháp luật hiện hành về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

- Nhiệm vụ nghiên cứu luận văn: làm rõ các quy định về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa, từ đó đánh giá bất cập, hạn chế của quy định và đề xuất phương hướng và các giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật về giao nhận và thanh toán

Trang 11

5 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ những đặc thù của đối tượng và phạm vi nghiên cứu, các phương pháp được chủ yếu sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài là:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để phân tích các quy định pháp lý về giao nhận và thanh toán, từ đó đưa ra những đánh giá về ưu điểm và hạn chế của các quy định pháp luật

- Phương pháp so sánh giữa quy định pháp luật hiện hành với các quy định pháp luật cũ, quy định pháp luật Việt Nam với quy định pháp luật của các quốc gia khác, các điều ước quốc tế để tìm ra những sự tương đồng, khác biệt, những ưu điểm hạn chế của quy định pháp luật

- Phương pháp phân loại, chỉ cho người đọc sự đa dạng với một vấn đề

có thể được thực hiện hoặc tiếp cận theo những cách thức nào

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn hoàn thành sẽ là một nguồn tham khảo pháp luật về giao nhận

và thanh toán trong hoạt động mua bán hàng hóa hiện nay

Trong luận văn, tác giả giải quyết các vấn đề về mặt lí luận về vấn đề

giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa, các quy định của pháp luật về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa, cũng như thực tiễn thực hiện trong những năm vừa qua Luận văn nghiên cứu tập trung chủ yếu trong phạm vi những quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam

2015 và Luật Thương mại 2005, phân tích đối chiếu giữa qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành với quy định pháp luật đã hết hiệu lực, quy định pháp luât của Việt Nam và quy định pháp luật các nước khác cũng như quy

phạm quốc tế

Trang 12

Từ những phân tích về mặt lí luận, luận văn đề xuất những giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về giao nhận và thanh toán liên quan tới mua bán hàng hóa

7 Bố cục của luận văn

Chương 1: Những vấn đề lý luận về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa;

Chương 2: Thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa;

Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO NHẬN VÀ THANH TOÁN

TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

1.1 KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa

● Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa

Hiện nay, pháp luật không có quy định cụ thể thế nào là hợp đồng mua bán hàng hóa Tuy nhiên, căn cứ định nghĩa hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội và định nghĩa mua bán tài sản trong luật thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005 của Quốc hội, có thể suy ra khái niệm của hợp đồng mua bán hàng hóa

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015: "Hợp đồng mua bán tài sản là

sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán"

Trong hợp đồng mua bán tài sản, bên bán là người có tài sản đem bán,

là chủ sở hữu tài sản hoặc là người được ủy quyền bán hoặc cũng có thể là người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật Bên mua là người có tiền mua tài sản

Tài sản trong hợp đồng phải là tài sản được phép giao dịch theo quy định của pháp luật Tài sản có thể là vật, có thể là quyền tài sản với điều kiện tài sản đó phải được phép giao dịch Nếu tài sản là vật thì vật đó phải được xác định rõ (vật gì; trọng lượng; khối lượng; số lượng); nếu là quyền tài sản thì phải có giấy tờ hoặc các bằng chứng khác chứng minh quyền đó thuộc sở

Trang 14

hữu của bên bán Ngoài ra, theo quy định của các văn bản pháp luật khác thì đối tượng của hợp đồng mua bán còn có thể là các tài sản hình thành trong tương lai Trong trường hợp này, bên bán phải cung cấp đầy đủ các giấy tờ, tài liệu, chứng cứ để có thể xác định được tài sản đó và chứng minh tài sản sẽ chắc chắn được hình thành trong tương lai và khi hình thành, chắc chắn tài sản đó thuộc quyền sở hữu của mình.1

Trong hợp đồng mua bán tài sản, mỗi bên trong hợp đồng đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia Bên bán có nghĩa vụ chuyển giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán Bên bán có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với tài sản đã bán cho bên mua không bị người thứ ba tranh chấp

Theo quy định của Luật thương mại 2005, Mua bán hàng hoá là quan

hệ chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá và có thanh toán, theo đó “bên bán có

nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận."

Theo định nghĩa trên cho thấy bản chất của mua bán hàng hoá là sự chuyển giao quyền sở hữu đối với hàng hoá từ người này sang người khác, từ

đó có thể phân biệt mua bán hàng hoá với những hình thức chuyển giao tài sản khác Đối với thuê tài sản, việc thuê tài sản chỉ chuyển quyền sử dụng và quyền chiếm hữu cho người thuê, người cho thuê vẫn là chủ sở hữu đối với tài sản Đối với giao nhận hàng hoá, vì người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá chỉ thực hiện chức năng trung gian vận chuyển hàng hoá từ người gửi, tổ chức vận chuyển lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có

web:tongdaituvanluat.vn

Trang 15

liên quan để giao hàng cho người nhận Đối với gia công hàng hoá, bên nhận gia công bằng nguyên vật liệu của bên đặt gia công cung cấp thực hiện việc gia công hàng hoá để hưởng thù lao, hàng hoá luôn thuộc quyền sở hữu của bên đặt gia công

Khi chuyển quyền sở hữu hàng hoá giữa bên bán và bên mua có nhiều cách thanh toán khác nhau, trong đó phương thức thanh toán bằng tiền chủ yếu được sử dụng trong giao dịch Ngoài ra, bên bán và bên mua có thể lựa chọn phương thức thanh toán hàng đổi hàng hoặc thanh toán bù trừ theo thời hạn Tuy nhiên, dù hai bên lựa chọn phương thức nào, sau cùng người bán phải nhận được một khoản lợi nhuận từ việc chuyển giao hàng hoá cho bên mua

Như vậy, căn cứ quy định pháp luật và những phân tích trên, hợp đồng

mua bán hàng hoá được hiểu là sự thoả thuận, theo đó bên bán có nghĩa vụ

chuyển quyền sở hữu cho người mua hàng hóa mà pháp luật cho phép chuyển giao, còn người mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán cho bên bán một giá trị tương ứng với giá trị của hàng hoá

● Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa

Có thể xem xét các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa trong mối liên hệ với hợp đồng mua bán tài sản theo nguyên lý của mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung Xét về cái chung, hợp đồng mua bán hàng hoá có những đặc điểm chung của hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự như:

* Là hợp đồng ưng thuận - tức là nó được coi là giao kết tại thời điểm các bên thỏa thuận xong các điều khoản cơ bản, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng không phụ thuộc vào thời điểm bàn giao hàng hóa, việc bàn giao hàng hóa chỉ được coi là hành động của bên bán nhằm thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng mua bán đã có hiệu lực

Trang 16

* Có tính đền bù – Hợp đồng mang tính đền bù là những hợp đồng mà trong đó một bên sau khi thực hiện nghĩa vụ cho bên đối tác sẽ nhận được những lợi ích vật chất ngược lại từ phía bên kia Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua sẽ nhận

từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận, thông thường dưới dạng khoản tiền thanh toán

* Là hợp đồng song vụ - mỗi bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình Trong hợp đồng mua bán hàng hóa tồn tại hai nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau: nghĩa vụ của bên bán phải bàn giao hàng hóa cho bên mua

và nghĩa vụ của bên mua phải thanh toán cho bên bán2

Đồng thời, với tư cách là hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm nhất định, xuất phát từ bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa

* Về chủ thể, hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ

thể chủ yếu là thương nhân Luật thương mại 2005 quy định thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp; cá nhân hoạt động thương mai một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa Theo quy định Luật thương mại 2005, hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo luật thương mại khi chủ thể này lựa chọn áp dụng luật thương mại

Trang 17

* Về hình thức, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thể hiện dưới

hình thức lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết Trong một số trường hợp nhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải giao kết hợp đồng dưới hình thức văn bản, ví dụ như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế - phải được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương như điện báo, TELEX, FAX hay thông điệp dữ liệu

Về đối tượng, hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa

Theo nghĩa thông thường có thể hiểu hàng hóa là sản phẩm lao động của con người, với sự phát triển của xã hội, hàng hóa càng trở nên phong phú Khái niệm hàng hóa được quy định trong luật pháp các nước hiện nay dù có những khác biệt nhất định song đều có xu hướng mở rộng các đối tượng là hàng hóa được phép lưu thông

Một số cách hiểu về phạm vi hàng hóa là đối tượng của mua bán thương mại trong pháp luật các nước như sau:

Theo luật thương mại của đa số các nước và trong nhiều điều ước quốc

tế như Hiệp định GATT, Hiệp định thành lập khối thị trường chung châu Âu…; hàng hóa – đối tượng của mua bán thương mại gồm những tài sản có hai thuộc tính cơ bản là: có thể đưa vào lưu thông và có tính chất thương mại

Theo luật Hoa Kỳ, hàng hóa bao gồm mọi thứ có thể dịch chuyển quyền sở hữu được vào thời gian xác định theo hợp đồng mua bán hàng hóa; hàng hóa có thể đã có ở hiện tại hoặc sẽ có trong tương lai

Theo Luật thương mại 2005, hàng hóa là đối tượng của quan hệ mua bán

có thể là hàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại

Trang 18

1.1.2 Nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa

Xét từ bản chất hợp đồng là sự thoả thuận giữa hai bên, nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa là các điều khoản do các bên thỏa thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của bên bán và bên mua trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện và phòng ngừa các tranh chấp có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng, pháp luật một số quốc gia có quy định các nội dung bắt buộc phải có trong Hợp đồng nhằm hướng các bên tập trung vào thỏa thuận các nội dung quan trọng của hợp đồng

Các nước thuộc hệ thống luật Anh - Mỹ về cơ bản chỉ bắt buộc thỏa thuận về điều khoản đối tượng của hợp đồng mua bán; còn những nội dung khác nếu các bên không thỏa thuận cụ thể thì có thể viện dẫn tập quán thương mại để xác định Trong khi đó, pháp luật của các nước thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, điển hình là Cộng hòa Pháp, thông thường hợp đồng mua bán cần phải thoả thuận rõ về đối tượng, chất lượng và giá cả3 Luật Thương mại 1997 Số: 58/L-CTN ngày 10 tháng 5 năm 1997 của Quốc hội trước đây có quy định về những nội dung chủ yếu có trong hợp đồng mua bán hàng hoá, Luật thương mại 2005 không còn quy định một điều khoản riêng như vậy mà cụ thể hoá trong từng điều luật Trên cơ sở các quy định của Bộ luật dân sự 2015 và Luật thương mại 2005, điều 50 Luật thương mại 1997 và xuất phát từ tính chất của quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, có thể thấy những điều khoản quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm: Đối tượng hàng hoá, chất lượng, số lượng, chủng loại; phương thức giao nhận; giá cả; phương thức thanh toán, thời gian thanh toán; thời hạn

và địa điểm giao nhận hàng

Trang 19

Những nội dung được liệt kê trên là những nội dung quan trọng cần có trong hợp đồng, giúp cho hợp đồng cụ thể, rõ ràng, tránh những hậu quả pháp

lý không đáng có Ngoài ra, hợp đồng là sự thoả thuận của hai bên, do đó các bên có thể tự do thoả thuận những điều khoản khác, miễn không vi phạm điều cấm của pháp luật Thông thường, trong nội dung hợp đồng còn có điều khoản về hiệu lực hợp đồng, phương thức giải quyết tranh chấp , một số hợp đồng quan trọng còn có điều khoản về phạt hợp đồng, phương thức bồi thường thiệt hại

Trong những nội dung của hợp đồng mua bán hàng hoá, thông qua việc đánh giá pháp luật nhiều quốc gia, đối tượng hàng hoá luôn được xác định là điều khoản chủ yếu của hợp đồng “Đối với các nước theo hệ thống Thông luật (Common law) mà tiêu biểu là Anh, Mỹ, một hợp đồng mua bán hàng hoá chỉ cần sự thoả thuận về đối tượng thì hợp đồng được coi là hợp pháp về mặt nội dung Các điều khoản khác như giá cả, quy cách chất lượng, phương thức thanh toán được coi là các bên mặc nhiên chấp thuận và được đưa vào hợp đồng, phù hợp với các quy tắc thừa nhận trong lĩnh vực buôn bán hàng hoá tương tự, hoặc tuân theo tập quán thương mại.Trong khi đó ở Pháp, nội dung chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hoá gồm đối tượng và giá cả” 4

Trong quan hệ mua bán hàng hóa, các bên không chỉ bị ràng buộc bởi những điều khoản đã thỏa thuận với nhau mà còn chịu sự ràng buộc bởi những quy định của pháp luật Trong trường hợp hợp đồng có những thoả thuận trái với quy định của pháp luật, hợp đồng có thể vô hiệu một phần hoặc toàn bộ Trường hợp, một số điều khoản pháp luật có quy định đồng thời pháp luật mở rộng cho phép các bên có thoả thuận khác với quy định pháp luật, nếu trong hợp đồng hai bên không có thoả thuận về điều khoản đó, thì được hiểu

Nguyễn Am Hiểu- THS Quản Thị Mai Hương

Trang 20

hai bên thống nhất thực hiện hợp đồng theo những quy định của pháp luật.Ví dụ: Luật Thương mại cho phép hai bên thỏa thuận về địa điểm giao hàng, trường hợp hai bên không có thỏa thuận thì thời điểm giao hàng được xác định theo khoản 2 điều 35 Luật thương mại 2005

1.2 KHÁI QUÁT VỀ GIAO NHẬN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

1.2.1 Khái niệm về giao nhận hàng hóa

Giao nhận hàng hoá là quá trình kể từ khi người bán giáo hàng đến khi người mua nhận hàng, việc giao nhận hàng hóa luôn gắn liền với việc chuyển quyền sở hữu đối hàng hóa đó Việc giao nhận được coi là hoàn tất khi quyền

sở hữu được chuyển cho bên nhận hàng Trong mua bán hàng hóa, quá trình này có thể diễn ra trực tiếp giữa bên mua và bên bán mà cũng có thể có sự tham gia của một bên là người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá: tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho bên nhận

Giao nhận hàng hóa là nghĩa vụ cơ bản, đầu tiên của các bên trong quan

hệ hợp đồng mua bán hàng hóa nhằm hiện thực hóa những thỏa thuận trong hợp đồng bằng những hành vi cụ thể Trong nghĩa vụ giao - nhận hàng hóa, giao hàng là nghĩa vụ cơ bản của bên bán và nhận hàng là nghĩa vụ cơ bản của bên mua Cụ thể, pháp luật đã quy định rõ bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng, trường hợp không có thỏa thuận cụ thể, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ liên quan theo quy định của Luật thương mại 2005 Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu bên bán không giao hàng thì bên mua không thể thực hiện các cam kết tiếp theo như nhận hàng, thanh toán Do vậy, giao hàng là nghĩa vụ cơ bản nhất, cũng là bước tiên quyết trong việc hiện thực hóa hợp đồng

Trang 21

Song song với nghĩa vụ giao hàng của bên bán là nghĩa vụ nhận hàng của bên mua Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng theo thỏa thuận và thực hiện những công việc hợp lý để giúp bên bán giao hàng Như vậy, không chỉ có nghĩa vụ nhận hàng, bên mua còn phải thực hiện những công việc hợp lý tạo

sự thuận lợi cho việc giao hàng của bên bán Các công việc hợp lý như sắp xếp kho bãi, bố trí người nhận hàng, thông tin cụ thể các vấn đề đó cho bên bán… trước khi bên bán giao hàng Việc bên bán không giao hàng hoặc bên mua không nhận hàng đều có thể cấu thành vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng

và phải chịu các chế tài do Luật thương mại 2005 quy định

Tuỳ theo tính chất của từng loại hàng hoá mà hai bên chủ hàng và vận tải quy ước với nhau trong hợp đồng và ghi vào giấy vận chuyển là giao nhận theo

số lượng, trọng lượng, thể tích hoặc vừa số lượng, vừa trọng lượng kết hợp

Khi giao nhận hàng hoá, bên bán và bên mua luôn phải tuân theo

nguyên tắc “hàng hóa nhận để chở đi theo nguyên tắc nào thì khi trả cũng

theo nguyên tắc ấy”, nghĩa là nhận theo số lượng thì trả theo số lượng, nhận

theo trọng lượng thì trả theo trọng lượng…Hàng hoá đóng gói trong thùng, hòm, bao… có gắn xi, cặp chì, thì khi trả hàng, thùng hòm, bao phải nguyên vẹn, xi, chì không mất dấu Nếu hàng hoá thuộc loại có hao hụt trong thời gian vận chuyển thì ghi rõ tỷ lệ hao hụt vào hợp đồng vận tải và giấy vận chuyển Nếu không thể ghi rõ tỷ lệ hao hụt thì giải quyết theo thỏa thuận giữa hai bên.5

1.2.2 Chủ thể tham gia giao nhận hàng hóa

Chủ thể tham gia trong hợp đồng mua bán hàng hoá có thể gồm hai bên: bên bán và bên mua hoặc có thể có thêm bên thứ ba trung gian tham gia

Trang 22

vào quá trình giao nhận hàng hoá: bên vận tải hoặc thương nhân thực hiện dịch vụ logistic

Để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng mang lại lợi ích cho các bên đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ, ngoài những điều khoản quy định quyền và nghĩa vụ do hai bên thoả thuận, các bên trong quan hệ mua bán hàng hoá phải tuần thủ các quy định bắt buộc theo quy định pháp luật

Trong hợp đồng mua bán hàng hoá, nghĩa vụ cơ bản nhất của người bán là giao hàng đúng đối tượng và chất lượng Bên bán phải kiểm tra chất lượng hàng hóa trước khi giao hàng, nếu hai bên có thỏa thuận trong hợp đồng thì bên bán phải đảm bảo cho bên mua tham dự việc kiểm tra Ngoài ra, theo quy định của pháp luật, bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng số lượng, địa điểm, thời gian hoặc thời hạn theo thoả thuận Trường hợp có thoả thuận

về giao chứng từ liên quan tới hàng hoá, bên bán có nghĩa vụ giao chứng từ cho bên mua trong thời hạn, tại địa điểm và bằng phương thức hai bên thỏa thuận Ngoài ra, bên bán phải đảm bảo tính hợp phát của hàng hoá, hàng hoá không vi phạm sở hữu trí tuệ, không bị tranh chấp quyền sở hữu bởi bên thứ

ba Nếu hàng hóa mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo nội dung và thời hạn đã thoả thuận

Theo quy định của pháp luật, trong hợp đồng mua bán hàng hoá bên mua có nghĩa vụ nhận hàng theo thỏa thuận và thực hiện những công việc hợp

lý để giúp bên bán giao hàng Đồng thời, bên mua có nghĩa vụ thanh toán đầy

đủ cho bên bán theo thời gian và phương thức hai bên thoả thuận

Tuy nhiên, bên mua có quyền tạm ngưng việc thanh toán nếu có bằng chứng về việc bên bán lừa dối, hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp, hàng hoá được giao không phù hợp với hợp đồng Trường hợp tạm ngừng thanh

Trang 23

toán vì hàng hóa là đối tượng của tranh chấp hoặc hàng hóa giao không phù hợp với hợp đồng mà bằng chứng do bên mua đưa ra không xác thực, gây thiệt hại cho bên bán thì bên mua phải bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật

Trong quá trình mua bán hàng hóa, khi bên bán và bên mua không đủ điều kiện để vận tải hàng, đặc biệt với hàng hóa phải vận chuyển ở cự li dài, hai bên có thể sử dụng dịch vụ vận tải thông qua bên thứ ba trung gian: bên kinh doanh dịch vụ vận tải hoặc thương nhân thực hiện dịch vụ logistic

Với ngành nghề kinh doanh đặc thù, bên thứ ba sẽ tìm ra cách thức để tiết kiệm thời gian phương tiện di chuyển, thời gian xếp dỡ hàng hóa và thời gian không tác nghiệp vận chuyển do thời tiết, khí hậu hay do sự kết nối các phương tiện vận tải không liên tục…sao cho quả trình vận chuyển hàng hóa từ điểm nhận hàng đến điểm trả hàng nhanh nhất có thể, đồng thời đảm bảo hàng hóa an toàn Ngoài ra, khi có sự cố xảy ra trên đường vận chuyển như thay đổi các phương thức vận tải hay địa điểm xếp dỡ hàng hóa, bên thứ ba với kinh nghiệm lâu năm sẽ linh hoạt hơn để đưa ra phương án chuyển đổi đảm bảo hàng hóa được vận chuyển thuận lợi

1.2.3 Phương thức giao nhận hàng hóa

Hiện nay, khi mạng lưới giao thông phát triển, việc giao nhận hàng hoá giữa người mua và người bán có thể lựa chọn nhiều phương thức khác nhau, như: phương thức giao nhận hàng rời; phương thức giao nhận nguyên toa, nguyên hầm; phương thức giao nhận theo thước đo mớn nước … Với mỗi phương thức giao nhận lại có những ưu điểm và nhược điểm riêng, tùy thuộc vào phương tiện vận tải cũng như thể loại hàng hóa mà các bên lựa chọn phương thức giao nhận cho phù hợp Bên cạnh đó, khi thỏa thuận về phương thức giao nhận các bên phải dựa trên các quy định về giao nhận đối với mỗi

Trang 24

loại phương thức vận chuyển, như các quy định về: giao nhận bằng vận tải đường bộ, giao nhận bằng đường thuỷ, giao nhận bằng đường hàng không, giao nhận bằng đường sắt, đường ống

Giao nhận hàng hoá bằng đường hàng không có ưu điểm an toàn hơn, cung cấp dịch vụ tiêu chuẩn, và đơn giản hoá về chứng từ thủ tục hơn so với các phương tiện vận tải khác Đồng thời, các tuyến đường vận tải hàng không hầu hết là các đường thẳng nối hai điểm vận tải với nhau do đó tốc độ của vận tải hàng không cao, tốc độ khai thác lớn, thời gian vận chuyển nhanh Tuy nhiên, cước vận tải hàng không cao, và không phù hợp với việc vận chuyện chuyển hàng hoá cồng kềnh, có khối lượng lớn hoặc có giá trị thấp

Giao nhận hàng hoá bằng đường thuỷ chủ yếu bằng đường biển và được

sử dụng trong buôn bán quốc tế Giao nhận hàng hoá bằng đường thuỷ nhìn chung phù hợp chuyên chở với tất cả các loại hàng hoá Giao nhận bằng đường thuỷ nổi trội hơn về năng lực chuyên chở, không bị hạn chế như các phương thức vận tải khác, đồng thời đây là phương thức có giá thành thấp, phù hợp với việc vận chuyển ở cự ly dài Tuy nhiên, vận tải đường thủy có một số nhược điểm như phụ thuộc rất nhiều vào điệu kiện tự nhiên, các tuyến đường vận tải hầu hết là những tuyến đường giao thông tự nhiên do đó tốc độ của tàu còn thấp

và việc tăng tốc độ khai thác của tàu còn bị hạn chế

Giao nhận hàng hoá bằng đường bộ là phương thức vận chuyển phổ biến hiện nay, loại hình vận tải này có những ưu điểm nổi bật về sự tiện lợi, tính cơ động và khả năng thích nghi cao với các điều kiện địa hình và thời tiết, có hiệu quả kinh tế cao trên các cự li ngắn và trung bình.Vận tải hàng hóa bằng đường bộ luôn chủ động về thời gian và đa dạng trong vận chuyển các loại hàng hóa Tuy nhiên hình thức vận tải này bị hạn chế bởi khối lượng và kích thước hàng hóa, không chở được những khối lượng hàng hóa lớn như

Trang 25

vận tải bằng đường thủy, nhưng lại khá linh hoạt với những hàng hóa có khối lượng vận chuyển không quá lớn và nhỏ 6

Ngoài ba phương thức giao nhận hàng hoá phổ biển trên, giao nhận hàng hoá còn bao gồm hai phương thức khác, bao gồm vận chuyển bằng đường sắt hiện nay không còn áp dụng nhiều và vận chuyển hàng hoá bằng đường ống, là phương thức đặc biệt chủ yếu dùng để vận chuyển khí và xăng dầu

1.3 KHÁI QUÁT VỀ THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN

1.3.1 Khái niệm về thanh toán

Thanh toán được hiểu là sự chi trả của một bên cho bên còn lại theo phương thức và thời hạn nhất định, thường được sử dụng khi trao đổi sản phẩm hoặc dịch vụ trong một giao dịch có ràng buộc pháp lý7

Trong hợp đồng mua bán hàng hoá, thông thường các bên tự thoả thuận tất cả các điều kiện của việc thanh toán như: phương thức thanh toán, địa điểm, thời hạn thanh toán trong trường hợp không có sự thoả thuận của các bên về điều kiện thanh toán trong hợp đồng thì sẽ lựa chọn theo quy định của pháp luật

Trước đây, khi việc mua bán hàng hoá còn giản đơn, hai bên lựa chọn hình thức thanh toán hàng đổi hàng Tuy nhiên, hình thức thanh toán này không còn phù hợp nữa khi việc mua bán hàng hoá ngày càng trở nên phức tạp, nhất là khi việc mua bán hàng hoá được mở rộng giữa các quốc gia với nhau Sau đó, tiền mặt là hình thức thành toán phổ biến được thay thế trong các cuộc mua bán và là hình thức được sử dụng trong một thời gian dài Hiện nay cùng với sự phát triển của ngân hàng, hầu hết các cuộc mua bán hàng hoá

Trang 26

trong thương mại đặc biệt mua bán hàng hoá quốc tế, các chủ thể thường lựa chọn hình thức thanh toán tiền thông qua ngân hàng Việc lựa chọn thanh toán thông qua ngân hàng thay vì đưa tiền mặt trực tiếp đảm bảo tính an toàn cao, đồng thời là hình thức tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông, từ đó giảm bớt những phí tổn to lớn của xã hội liên quan tới phát hành và lưu thông tiền tệ

1.3.2 Chủ thể tham gia thanh toán

Chủ thể tham gia trong hợp đồng mua bán hàng hoá chủ yếu là bên mua và bên bán Song song với việc bên bán có nghĩa vụ giao hàng, bên mua

có nghĩa vụ thanh toán giá trị hàng hoá nhận được Việc thanh toán của bên mua có thể thực hiện một lần hoặc nhiều lần, trước hoặc sau khi giao hàng theo thoả thuận của hai bên

Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, thông thường bên bán chỉ quy định đơn giản bao gồm giá thanh toán, hình thức thanh toán: chuyển khoản hoặc tiền mặt Để tránh tranh chấp không đáng có, điều khoản về thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hoá nên bao gồm những nội dung về giá của từng loại hàng hoá, giá có bao gồm thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu hay các loại phí, lệ phí khác hay không… Hình thức thanh toán cần nêu rõ đồng tiền thanh toán, số tài khoản giao dịch, phí ngân hàng chuyển khoản do bên nào chịu, lãi suất trả chậm…Ngoài ra, trong điều khoản thanh toán có thể thỏa thuận thêm điều khoản phạt nếu thanh toán chậm so với thời hạn để tăng trách nhiệm đối với bên bán về việc thanh toán đầy đủ và đúng hạn

Hiện nay, chủ thể tham gia thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa bên cạnh bên mua và bên bán, còn có sự góp mặt của ngân hàng, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thanh toán giữa bên mua và bên bán

Ngân hàng được xem như người “thứ ba”không thể thiếu khi bên bán

và bên mua lựa chọn hình thức thanh toán chuyển khoản, bởi vì chỉ có ngân

Trang 27

hàng – người quản lý tài khoản tiền gửi của bên mua mới được phép trích chuyển tài khoản cho bên bán Có thể nói toàn bộ quá trình thanh toán được thực hiện thuận lợi trôi chảy hay không được quyết định bởi Ngân hàng là người đóng vai trò “kết thúc”quá trình thanh toán Việc lựa chọn thanh toán qua ngân hàng bảo đảm tốt nhất về an toàn vốn trong thanh toán, tiết kiệm chi phí bảo quản, của chuyển tiền và tạo khả năng kết thúc các giao dịch mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ nhanh chóng nhất

1.3.3 Phương thức thanh toán

Phương thức thanh toán là cách thức mà các bên thực hiện nghĩa vụ giao, nhận tiền khi mua bán hàng hoá Căn cứ vào đặc điểm riêng của hợp đồng, mối quan hệ, các điều kiện khác mà các bên có thể lựa chọn một trong các phương thức thanh toán sau đây cho phù hợp:

Phương thức thanh toán trực tiếp: với phương thức này bên bán không

cần sự hỗ trợ của bên thứ ba để yêu cầu bên mua trả tiền và bên mua trực tiếp thanh toán cho bên bán bằng tiền mặt, séc, phiếu chi hoặc thanh toán thông qua các dịch vụ của Bưu Điện hoặc Ngân hàng Phương thức này trong thực tiễn thường được sử dụng khi các bên đã có quan hệ buôn bán lâu dài và tin tưởng lẫn nhau, với những hợp đồng có giá trị không lớn

Phương thức thanh toán gián tiếp: là phương thức mà hai bên cần sự

hỗ trợ của ngân hàng để thực hiện việc thanh toán như phương thức nhờ thu, tín dụng thư Thực hiện những phương thức thanh toán gián tiép thường được

sử dụng trong thanh toán quốc tế, những hợp đồng mua bán hàng hóa có giá trị lớn hoặc hai bên không có sự tin tưởng lẫn nhau Sử dụng những phương thức thanh toán gián tiếp bên bán hoặc bên mua sẽ phải chịu thêm chi phí cho bên trung gian thực hiện việc hỗ trợ tuy nhiên sẽ hạn chế được những rủi ro không đáng có liên quan tới vấn đề thanh toán trong hợp đồng

Trang 28

1.4 CẤU TRÚC PHÁP LUẬT VỀ GIAO NHẬN VÀ THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

1.4.1 Hệ thống các quy định pháp luật về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa được điều chỉnh thông qua hệ thống các văn bản pháp luật, các án lệ, các tập quán Quốc

tế

Đối với hợp đồng mua bán trong nước, Luật thương mại 2005 quy định

cơ bản quyền và nghĩa vụ các bên trong quá trình giao nhận và thanh toán, bên cạnh đó các nội dung về giao nhận và thanh toán còn được điều chỉnh bởi

Bộ luật dân sự 2015 với những điều khoản quy định khái quát quyền và nghĩa

vụ của các bên trong quá trình mua bán tài sản

Trong giao nhận hàng hóa, các phương thức giao nhận hàng hóa khác nhau sẽ điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật chuyên ngành tương ứng Ví dụ: giao nhận hàng hóa bằng đường hàng không, phương thức giao nhận hàng hóa được điều chỉnh bởi Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11 ban hành ngày 29 tháng 06 năm 2006 của Quốc hội và các văn bản dưới luật; giao nhận hàng hóa bằng đường bộ được điều chỉnh bởi Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 ban hành ngày 13 tháng 11 năm 2008

và các văn bản dưới luật Với giao nhận hàng hóa quốc tế, việc giao nhận hàng hóa thông thường được thực hiện thông qua tập quán quốc tế được nhiều nước công nhận và được áp dụng ở nhiều nơi, nhiều khu vực, được tổng hợp tại INCOTERMS do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) tập hợp và soạn thảo

Về chất lượng hàng hóa bên bán giao cho bên mua, với từng mặt hàng, pháp luật đưa ra tiêu chuẩn khác nhau quy định cụ thể các chỉ tiêu để xác định chất lượng mặt hàng như: Quyết định số 76/2003/QĐ-BNN ngày 23 tháng 07

Trang 29

năm 2003 ban hành tiêu chuẩn ngành rau quả; Quyết định số: 15/QĐ- BCN, ngày 26 tháng 05 năm 2006 về việc ban hành tiêu chuẩn ngành Da – Giầy…

Trong thanh toán hàng hóa, các quy định về phương thức thanh toán được quy định tại Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quy định về thanh toán không dùng tiền mặt Đối với thanh toán quốc tế, tùy từng phương thức thanh toán các chủ thể lựa chọn sẽ được điều chỉnh bởi các biểu mẫu quy định về phương thức thanh toán: Phương thức nhờ thu được thực hiện tuân theo những quy định trong Bản quy tắc thống nhất về nhờ thu URC 522, Tín dụng thư L/C được thực hiện tuân theo những quy định trong Bản điều lệ và cách thức thực hành thống nhất về tín dụng thư

là cơ sở để hai bên tuân thủ nghĩa vụ và thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong phạm vi công việc Tại Mục II Chương III Luật thương mại 2005, pháp luật

đã đưa ra các quy định khá đầy đủ và toàn diện về giao-nhận trong mua bán hàng hóa Luật quy định các nội dung về giao nhận hàng gồm: địa điểm giao hàng, trách nhiệm khi giao hàng có liên quan tới người vận chuyển, thời hạn giao hàng, trong đó giao hàng sớm hoặc muộn hơn so với thời hạn thỏa thuận

sẽ xử lý như thế nào, giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, giao hàng không đúng số lượng, giao chứng từ liên quan tới hàng hóa, kiểm tra hàng hóa trước khi nhận hàng, chuyển giao rủi ro hàng hóa, chuyển quyền sở hữu hàng hóa, việc bên bán đảm bảo quyền sở hữu hàng hóa của bên mua sau khi nhận

Trang 30

hàng, quyền sở hữu trí tuệ của hàng hóa và nghĩa vụ bảo hành hàng hóa sau khi hai bên đã chấm dứt việc giao nhận hàng

Về thanh toán hàng hóa sau khi nhận hàng, Luật cũng đưa ra các quy định cụ thể nhằm đảm bảo bên bán thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán sau khi nhận hàng cũng như hạn chế những tranh chấp giữa bên bán và bên mua liên quan tới vấn đề thanh toán Cụ thể, Luật 2005 quy định bên mua có nghĩa

vụ thanh toán sau khi nhận hàng, bao gồm tuân thủ đúng phương thức thanh toán, trình tự, thủ tục thanh toán như hai bên đã thỏa thuận, đồng thời bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán trường hợp hàng hóa đã chuyển giao rủi ro từ bên bán sang bên mua trừ trường hợp rủi ro xảy ra với hàng hóa do lỗi bên bán Bên cạnh đó, để tránh những tranh chấp về thanh toán giữa hai bên trong mua bán hàng hóa, luật đã đưa ra các quy định về cách xác định giá trường hợp hai bên không thỏa thuận về giá trong hợp đồng mua bán hàng hóa, xác định giá theo trọng lượng, địa điểm thanh toán, thời hạn thanh toán Ngoài ra, pháp luật còn đưa ra các quy định với chứng từ thanh toán, đồng tiền thanh toán, thanh toán không dùng tiền mặt thông qua các Nghị định, Thông tư, Quyết định

Trang 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

- Về bản chất, hợp đồng mua bán hàng hóa là loại hợp đồng dân sự đặc thù, có những tính chất chung của hợp đồng dân sự, bên cạnh đó hợp đồng mua bán hàng hóa cũng có những đặc thù về chủ thể, nội dung và hình thức của hợp đồng;

- Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa là các điều khoản hai bên thỏa thuận, trong đó có điều khoản về giao nhận và thanh toán

- Tham gia quá trình giao nhận và thanh toán không chỉ có bên mua và bên bán mà trong nhiều trường hợp có sự tham gia của bên thứ ba Bên thứ ba không phải là chủ thể của quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa, nhưng bên thứ ba có vị trí rất quan trọng trong thực hiện ngía vụ giao nhận và thanh toán

- Việc thực hiện nghĩa vụ giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa không chỉ theo các thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa mà còn theo các quy định pháp luật về vận chuyển hàng hóa cũng như các quy định thanh toán qua ngân hàng

Trang 32

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIAO NHẬN VÀ THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 2.1 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LIÊN QUAN TỚI VẤN ĐỀ GIAO NHẬN

VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1.1 Quy định về phương thức giao nhận hàng hóa

Có nhiều cách thức để phân loại các phương thức giao nhận hàng hoá Một cách khải quát và chung nhất, tài sản có thể được giao một lần hoặc

nhiều lần do các bên thỏa thuận căn cứ theo điều 436 Bộ luật dân sự 2015 “tài

sản được giao theo phương thức do các bên thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì tài sản do bên bán giao một lần và trực tiếp cho bên mua.” Ngoài

ra, có thể chia phương thức giao nhận hàng hoá theo phương thức vận tải hàng hóa

Trên thực tế, khi phương tiện giao thông phát triển, người mua và người bán nếu ở xa nhau, để vận chuyển hàng hóa từ địa điểm người bán đến địa điểm người mua, hai bên có thể lựa chọn nhiều phương tiện khác nhau để giao hàng hóa phù hợp với hoàn cảnh và tính chất hàng

● Vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không

Vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không, điều kiện vận chuyển hàng hoá được quy định nghiêm ngặt hơn so với các phương thức vận chuyển khác Hàng hoá vận chuyển bằng đường hàng không phải đảm bảo thuộc danh mục hàng hoá được phép lưu thông, được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu Hàng hoá nguy hiểm chỉ được chấp nhận vận chuyển bằng đường hàng không khi có Giấy chứng nhận đủ điều kiện vận chuyển hàng nguy hiểm bằng đường hàng không do Bộ Giao thông vận tải cấp hoặc công nhận Các hàng hoá như

vũ khí, dụng cụ chiến tranh, chất thải hạt nhân không được phép vận chuyển

Trang 33

bằng đường hàng không, trừ trường hợp đặc biệt được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép

Theo quy định Luật Hàng không 2006, người vận chuyển có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do mất mát, thiếu hụt, hư hỏng hàng hoá từ thời điểm người gửi hàng cho người vận chuyển đến thời điểm người vận chuyển trả hàng hoá cho người có quyền nhận Thời gian trên không bao gồm quá trình vận chuyển bằng đường biển, đường bộ, đường sắt hoặc đường thuỷ nội địa được thực hiện ngoài cảng hàng không, sân bay Cách xác định trách nhiệm bồi thường của người vận chuyển được xác định dựa trên sự thoả thuận của các bên nhưng không vượt qua giá trị thiệt hại thực tế Nếu không có thoả thuận, mức bồi thường được xác định dựa trên mức giá trị đã kê khai của việc nhận hàng hoá, nếu người gửi cũng không kê khai giá trị của hàng hoá, mức bồi thường được xác định dựa trên giá trị thiệt hại thực tế Trong trường hợp hàng hoá gửi không kê khai giá trị và không xác định được giá trị thiệt hại thực tế thì mức bồi thường của người vận chuyển được tính đến mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại là mười bảy đơn vị tính toán cho mỗi kilôgam hàng hoá Đơn vị tính toán là đơn vị tiền tệ do Quỹ tiền tệ quốc tế xác định, đơn vị tính toán được chuyển đổi sang Đồng Việt Nam theo tỷ giá chính thức do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm thanh toán

Trong quá trình vận chuyển hàng hóa nếu bị tổn thất hoặc giao chậm, quy định Luật hàng không dân dụng Việt Nam cũng giống với Nghị định thư Hague 1955, thời gian khiếu nại người chuyên chở về tổn thất hàng hoá và giao chậm là 14 đến 21 ngày kể từ ngày nhận hàng Người vận chuyển phải thông báo cho người khiếu nại biết việc chấp nhận hoặc không chấp nhận khiếu nại trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại Trường hợp khiếu nại không được chấp nhận hoặc quá thời hạn trên mà

Trang 34

không nhận được thông báo trả lời thì người khiếu nại có quyền khởi kiện Nếu người nhận hàng không khởi kiện trong thời gian nói trên thì không việc khởi kiện nào được coi là hợp pháp chống lại người vận chuyển trừ khi họ gian lận

● Vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy

Đối với vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy, hiện nay có hai phương thức vận chuyển: vận chuyển hàng hóa bằng đường biển và vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy nội địa Hai phương thức vận chuyển này được điều chỉnh bởi những văn bản pháp luật khác nhau

* Quy định pháp luật về vận chuyển hàng hoá bằng đường biển

Theo quy định của Luật Hàng hải số 95/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội, hàng hoá vận chuyển bằng đường biển bao gồm máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhiên liệu, hàng tiêu dùng và các động sản khác, kể cả động vật sống, công-ten-nơ hoặc công cụ tương tự do người gửi hàng cung cấp để đóng hàng được vận chuyển theo hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển Người gửi hàng phải bảo đảm hàng hoá được đóng gói và đánh dấu ký, mã hiệu theo quy định Người vận chuyển có quyền

từ chối bốc lên tàu biển những hàng hoá không bảo đảm các tiêu chuẩn đóng gói cần thiết Bên cạnh đó, với hàng hoá nguy hiểm, người gửi hàng phải cung cấp cho người vận chuyển các tài liệu và chỉ dẫn cần thiết đối với hàng hoá dễ nổ, dễ cháy và các loại hàng hoá nguy hiểm khác hoặc loại hàng hoá cần phải có biện pháp đặc biệt khi bốc hàng, vận chuyển, bảo quản và dỡ hàng Tuy nhiên nếu hàng hoá nguy hiểm đe dọa sự an toàn của tàu, người và hàng hoá trên tàu thì người vận chuyển có quyền dỡ hàng hoá khỏi tàu biển, huỷ bỏ hoặc làm mất khả năng gây hại của hàng hoá Trường hợp này, người

Trang 35

vận chuyển chịu trách nhiệm về tổn thất phát sinh theo các nguyên tắc về tổn thất chung và chỉ được thu cước cự ly

Trách nhiệm của người vận chuyển phát sinh từ khi người vận chuyển nhận hàng tại cảng nhận hàng, được duy trì trong suốt quá trình vận chuyển và chấm dứt khi kết thúc việc trả hàng tại cảng trả hàng Trường hợp chủng loại, giá trị của hàng hoá không được người gửi hàng, người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng hoặc không được ghi rõ trong vận đơn, giấy gửi hàng đường biển hoặc chứng từ vận chuyển khác thì người vận chuyển chỉ có nghĩa vụ bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hoá hoặc tổn thất khác liên quan đến hàng hoá trong giới hạn tối đa theo quy định pháp luật Trong trường hợp chủng loại và giá trị hàng hoá được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng và được người vận chuyển chấp nhận, ghi vào chứng từ vận chuyển thì người vận chuyển chịu trách nhiệm bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hoá trên cơ sở giá trị đó theo nguyên tắc đối với hàng hoá bị mất mát thì bồi thường bằng giá trị đã khai báo, đối với hàng hoá bị hư hỏng thì bồi thường bằng mức chênh lệch giữa giá trị khai báo và giá trị còn lại của hàng hoá

Người vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với mất mát, hư hỏng hàng hoá do việc tàu biển không đủ khả năng đi biển, nếu người vận chuyển đã mẫn cán để trước và khi bắt đầu chuyến đi, tàu biển có đủ khả năng đi biển, có thuyền bộ thích hợp, được cung ứng đầy đủ trang thiết bị và vật phẩm dự trữ; các hầm hàng, hầm lạnh và khu vực khác dùng để vận chuyển hàng hoá có đủ các điều kiện nhận, vận chuyển và bảo quản hàng hoá phù hợp với tính chất của hàng hoá Trong trường hợp này, người vận chuyển

có nghĩa vụ chứng minh đã thực hiện nhiệm vụ một cách mẫn cán Ngoài ra, người vận chuyển được miễn hoàn toàn trách nhiệm, nếu tổn thất hàng hoá xảy ra trong các trường hợp bất khả kháng

Trang 36

* Quy định pháp luật về vận chuyển hàng hoá bằng đường thuỷ

Theo quy định luật giao thông đường thuỷ nội địa số 23/2004/QH11 ngày 15 tháng 06 năm 2004 của Quốc hội, khi giao hàng cho người kinh doanh vận tải đường thuỷ nội địa, sau đây gọi chung là người vận tải, người gửi phải chuẩn bị đầy đủ giấy tờ hợp pháp về hàng hoá trước khi giao hàng hoá cho người kinh doanh vận tải; đóng gói hàng hoá đúng quy cách, ghi ký hiệu, mã hiệu hàng hoá đầy đủ và rõ ràng; giao hàng hoá cho người vận tải đúng địa điểm, thời gian và các nội dung khác ghi trong giấy gửi hàng hoá Đối với vận chuyển hàng hóa nguy hiểm, phương tiện vận tải hàng hoá nguy hiểm phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép và phải có ký hiệu riêng Người vận tải phải chấp hành đúng quy định về phòng chống độc hại, phòng chống cháy, nổ; phải có phương án ứng cứu sự cố tràn dầu khi vận tải xăng, dầu Vận tải hàng hoá siêu trường, siêu trọng phải sử dụng loại phương tiện phù hợp với loại hàng hoá và phải có phương án bảo đảm an toàn trong quá trình vận tải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

Theo quy định Thông tư 61/2015/TT-BGTVT ngày 02 tháng 11 năm

2015 của Bộ giao thông vận tải ban hành quy định về vận tải hàng hoá đường thuỷ nội địa, trách nhiệm đối với hàng hoá được xác định qua mạn phương tiện, mạn phương tiện là ranh giới để xác định hàng hóa thuộc trách nhiệm của người thuê vận tải hay của người vận tải, trừ những trường hợp hai bên có thỏa thuận khác Trường hợp hàng hóa hư hỏng, mất mát do lỗi của người vận tải, trừ trường hợp hai bên có thoả thuận, theo quy định pháp luật người vận tải phải bồi thường theo nguyên tắc: đối với hàng hóa có khai giá trị trong giấy vận chuyển, bồi thường theo giá trị đã khai; trường hợp người vận tải chứng minh được giá trị thiệt hại thực tế thấp hơn giá trị đã khai thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế Đối với hàng hóa không khai giá trị trong giấy vận chuyển, bồi thường theo giá trung bình của hàng hóa cùng loại trong

Trang 37

khu vực nơi trả hàng.Ngoài việc bồi thường thiệt hại theo các quy định nêu trên, người kinh doanh vận tảicòn phải hoàn lại cho người thuê vận tải tiền cước hoặc phụ phí của số hàng hóa bị tổn thất

Theo quy định Luật giao thông đường thuỷ nội địa,thời hạn người thuê vận tải yêu cầu bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hoá là 20 ngày, kể từ ngày hàng hoá được giao cho người nhận Người kinh doanh vận tải phải giải quyết bồi thường trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày có yêu cầu bồi thường của người thuê vận tải Trường hợp hai bên không giải quyết được yêu cầu bồi thường thì có quyền yêu cầu trọng tài kinh tế hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật Thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hoálà một năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết yêu cầu bồi thường

● Vận tải hàng hoá bằng đường bộ

Theo quy định Luật Giao thông đường bộ, phương tiện vận chuyển phải đáp ứng trọng tải được phép chở khối lượng hàng hoá tối đa theo quy định pháp luật Hàng hoá khi được vận chuyển trên xe phải được xếp đặt gọn gàng

và chằng buộc chắc chắn, vận chuyển hàng rời phải che đậy, không để rơi vãi Đối với vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng, hàng nguy hiểm, xe vận

chuyển hàng phải được cấp Giấy phép phù hợp theo quy định của pháp luật

Căn cứ quy định của Luật trên, người vận tải hàng hoá phải bồi thường thiệt hại cho người thuê vận tải do mất mát, hư hỏng hàng hóa xảy ra trong quá trình vận tải từ lúc nhận hàng đến lúc giao hàng, trừ trường hợp miễn bồi thường thiệt hại do sự kiện bất khả kháng Căn cứ nghị định 86/2014/ NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 2014 của Chính Phủ quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, việc bồi thường hàng hóa hư hỏng, mất mát, thiếu hụt được thực hiện theo hợp đồng vận tải hoặc theo thỏa thuận giữa người vận tải và người thuê vận tải Trường hợp trong hợp đồng vận tải

Trang 38

không có nội dung quy định về việc bồi thường hàng hóa hư hỏng, mất mát, thiếu hụt do lỗi của người kinh doanh vận tải hàng hóa và hai bên không thỏa thuận được mức bồi thường thì người kinh doanh vận tải hàng hóa bồi thường cho người thuê vận tải theo mức 70.000 đồng Việt Nam cho một kilôgam hàng hóa bị tổn thất, trừ trường hợp có quyết định khác của Tòa án hoặc trọng tài

● Vận tải hàng hoá bằng đường sắt

Theo luật đường sắt số: 35/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005 của Quốc hội, đối với vận tải hàng hoá bằng đường sắt, hàng hoá vận chuyển phải được đóng gói, bao bì, ký hiệu, mã hiệu hàng hóa và không thuộc các loại hàng hóa Nhà nước cấm Trường hợp thấy hàng hoá nghi ngờ về tính xác thực của việc khai báo chủng loại hàng hóa so với thực tế, người vận chuyển có quyền yêu cầu người thuê vận tải mở bao gói để kiểm tra Người vận tải đường sắt có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người thuê vận tải khi để xảy ra mất mát, hư hỏng hàng hoá trong quá trình vận chuyển hàng hóa từ nơi nhận đến nơi đến và giao hàng hoá cho người nhận hàng được quy định trong hợp đồng hoặc do việc giao hàng hoá quá thời hạn vận chuyển do lỗi của doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt

Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận tải đường sắt được tính căn cứ theo giá trị đã kê khai đối với hàng hóa, theo giá trị trên hóa đơn mua hàng hoặc theo giá thị trường tại thời điểm bồi thường đối với hàng hóa không kê khai giá trị mà chỉ kê khai chủng loại và trọng lượng, tuỳ theo cách tính nào cao hơn Nếu hàng hoá không kê khai giá trị, không có hoá đơn mua hàng thì mức bồi thường được tính theo giá trị trung bình của hàng hoá cùng loại nhưng không vượt quá mức bồi thường do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định

Trang 39

Người thuê vận tải có quyền khiếu nại về hàng hoá với người vận tải đường sắt trong thời hạn do các bên thoả thuận, trường hợp các bên không có thoả thuận thì thời hạn khiếu nại là 60 ngày đối với hàng hoá bị mất mát, hư hỏng, kể từ ngày hàng hoá được giao cho người nhận hoặc ngày mà lẽ ra phải được giao cho người nhận;Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, người vận tải đường sắt có trách nhiệm giải quyết.Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu giải quyết tranh chấp về hợp đồng trong hoạt động kinh doanh đường sắt được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự

và pháp luật về trọng tài thương mại

● Vận tải hàng hoá bằng đường ống

Đối với vận tải bằng đường ống, đây là phương thức vận chuyển rất đặc thù, chỉ phù hợp với những loại hàng đặc biệt như khí hóa lỏng, dầu lửa … Phục vụ cho đối tượng đặc biệt như các công ty đa quốc gia, hoặc công ty Nhà nước lớn

Theo Nghị định 140/2007/NĐ-CP ngày 05 tháng 09 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc, thương nhân nước ngoài không được thực hiện dịch vụ vận tải đường ống, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác Như vậy, có thể hiểu chỉ doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành lập theo pháp luật Việt Nam mới được kinh doanh dịch vụ vận tải đường ống Hiện nay, chưa có một văn bản nào quy định trực tiếp, cụ thể điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải đường ống mà phải tham chiếu quy định của pháp luật chuyên ngành

Về điều kiện tiêu chuẩn của đường ống để vận chuyển hàng hoá là khí, dầu mỏ, sản phẩm dầu mỏ an toàn Nghị định số 13/2011/NĐ-CP ngày11 tháng

Trang 40

02 năm 2011 của Chính phủ quy định về an toàn công trình dầu khí trên đất liền, đưa ra các quy định liên quan tới khoảng cách an toàn giữa hai đường ống chôn ngầm đặt song song, hai đường ống liền kề (1 ống đặt ngầm, 1 ống đặt nổi), đường ống chôn ngầm đặt xiên; Tiêu chuẩn thiết kế độ dày thành đường ống; độ sâu của đường ống đặt ngầm tối thiểu tính từ mặt bằng hoàn thiện tới đỉnh ống; Biện pháp an toàn, đảm bảo các phương tiện thủy hoạt động không thể đâm, va vào đường ống; các giải pháp kỹ thuật tăng cường chống rung động và va đập đối với đường ống chôn ngầm chạy cắt ngang qua đường giao thông bộ hoặc đường sắt

Như vậy, hầu hết quá trình giao nhận hàng hoá hiện nay đều có sự xuất hiện của bên thứ 3 - người vận chuyển có trách nhiệm vận chuyển hàng hoá từ người bán tới người mua và chịu trách nhiệm về hàng hoá trong quá trình vận chuyển theo quy định pháp luật Hàng hoá khi giao cho người chuyên chở, người gửi có trách nhiệm đóng gói hàng hoá, bao bì ký hiệu mã hiệu hàng hoá theo đúng quy định pháp luật Người vận chuyển có quyền từ chối nhận hàng nếu hàng hoá đóng gói không phù hợp, không thuộc danh mục hàng hoá được phép lưu thông Với hàng hoá nguy hiểm, siêu trường siêu trọng người vận chuyển chỉ được phép vận chuyển khi có đầy đủ giấy chứng nhận được cấp phép cho phương tiện theo quy định pháp luật

2.1.2 Quy định về số lượng, chủng loại hàng hóa giao nhận

Khi giao nhận hàng hóa, bên mua và bên bán cần đảm bảo giao hàng đúng số lượng và chủng loại theo như sự thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng Giao hàng đúng số lượng là giao đủ số lượng về hàng hóa, không thừa không thiếu Giao hàng đúng chủng loại là giao hàng đúng quy cách, thông số

kỹ thuật và chất lượng… mà Bên bán đã quy định trong hợp đồng hoặc thỏa thuận bằng miệng và bên mua đã đồng ý

Ngày đăng: 12/03/2019, 21:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w