Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, các mối quan hệ ngày càng đa dạng trong hoạt động kinh doanh, sự phức tạp trong hoạt động điều hành các loại hình doanh nghiệp, các nh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
MAI THỊ HƯƠNG CHANH
NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG CÁCH THỨC TỔ CHỨC, QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN THEO
LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
\
HÀ NỘI – NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
MAI THỊ HƯƠNG CHANH
NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG CÁCH THỨC TỔ CHỨC, QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN THEO
LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Am Hiểu
HÀ NỘI – NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả luận văn
Mai Thị Hương Chanh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC, QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC, QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN 7
1.1 Một số vấn đề lý luận về tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần 7
1.1.1 Lịch sử hình thành công ty cổ phần 7
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của công ty cổ phần 10
1.1.3 Khái niệm tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần 13
1.1.4 Vai trò của hoạt động tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần 17
1.1.5 Các nguyên tắc cơ bản tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần 19
1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần 21
1.2 Các nội dung chính trong tổ chức quản lý, điều hành công ty cổ phần 22
1.2.1 Mô hình quản lý công ty cổ phần 22
1.2.2 Đại hội đồng cổ đông 24
1.2.3 Hội đồng quản trị 28
1.2.4 Giám đốc hoặc Tổng giám đốc 29
1.2.5 Ban kiểm soát 29
1.3 Các căn cứ để tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần 30
1.3.1 Văn bản pháp luật về tổ chức quản lý, điều hành công ty cổ phần 30
1.3.2 Điều lệ hoạt động của công ty 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ CÁCH THỨC TỔ CHỨC, QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014 33
2.1 Mô hình quản lý công ty cổ phần 33
2.2 Đại hội đồng cổ đông 37
2.3 Hội đồng quản trị 53
Trang 62.4 Giám đốc hoặc Tổng giám đốc 55
2.5 Ban kiểm soát 56
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH MỚI VỀ CÁCH THỨC TỔ CHỨC, QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014 59
3.1 Luật hóa khái niệm tổ chức, quản lý, điều hành CTCP 59
3.2 Tổ chức tập huấn cho doanh nghiệp về các nội dung liên quan đến hoạt động tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần và những đổi mới của LDN 2014 về tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần 60
3.3 Ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết, tiếp tục bổ sung, sửa đổi một số quy định của LDN 2014 chưa phù hợp 61
3.4 Xây dựng cơ chế thi hành những quy định mới về tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần 65
3.5 Hướng dẫn doanh nghiệp sử dụng công cụ quản lý là điều lệ công ty 66
KẾT LUẬN 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Luật doanh nghiệp năm 2005 ra đời đánh dấu một cột mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển hành lang pháp lý của Việt Nam nói chung và hệ thống pháp luật điều chỉnh về doanh nghiệp nói riêng Sau hơn 10 năm áp dụng, văn bản luật này đã chứng minh được tính hiệu quả của nó trong vai trò điều chỉnh các nội dung liên quan đến loại hình công ty, cơ cấu tổ chức, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào hoạt động thành lập, tổ chức, điều hành công ty Thực tế đã chứng minh,
so với thời điểm trước khi ra đời Luật doanh nghiệp 2005, số lượng các công ty được gia tăng nhanh chóng Cùng với sự phát triển nhanh chóng về số lượng doanh nghiệp
và sự xuất hiện của các công ty lớn, vấn đề tổ chức, quản lý, điều hành công ty đang ngày càng nhận được sự đầu tư của cộng đồng doanh nghiệp và các nhà xây dựng pháp luật về doanh nghiệp Với sứ mệnh xây dựng và hoàn thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp, khung pháp lý về công ty cũng đã từng bước bổ sung và hoàn thiện
So với thời kỳ trước, khung pháp lý về quản lý công ty ở Việt Nam được đánh giá là phù hợp với các yêu cầu và nguyên tắc quản lý phổ biến được thừa nhận trên thế giới Song so với thế giới, hoạt động quản lý công ty ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế Đánh giá về vấn đề này, có thể nhìn nhận ở những khía cạnh sau:
Về khuôn khổ pháp lý tổ chức, quản lý, điều hành công ty: Xét trong phạm vi
LDN 2005, LDN 2005 cơ bản đã được thống nhất không phân biệt tính chất sở hữu và thành phần kinh tế, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của LDN 2005 được xác định theo hình thức tổ chức kinh doanh, không có sự phân biệt sở hữu trong doanh nghiệp là của Nhà nước, nước ngoài hay trong nước Nói cách khác, LDN 2005 điều chỉnh việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các loại công ty thuộc mọi thành phần kinh tế Theo báo cáo tổng kết thi hành LDN 2005 của Bộ Kế hoạch và đầu
tư (tháng 8/2013) nhận định: “Lần đầu tiên trong gần 20 năm cải cách, pháp luật về
doanh nghiệp đã được thống nhất không phân biệt tính chất sở hữu và thành phần kinh tế Các quy định về quản trị doanh nghiệp trong LDN và một số quy định khác có liên quan được coi là là một bước tiến dài trong hoàn thiện pháp luật về công ty nói chung và quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp có sở hữu nhà nước; tạo ra
Trang 8một thay đổi căn bản trong quá trình hoàn thiện khung quản trị doanh nghiệp ở nước
ta Những nội dung đó của khung quản trị công ty đã tuân thủ và về cơ bản phù hợp với các nguyên tắc và thông lệ thông dụng phổ biến Về cơ bản những thay đổi của LDN đã phát huy những tác động tích cực trên thực tế, được các bên có liên quan và cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao và hưởng ứng” Bên cạnh những đóng góp to
lớn trong quá trình áp dụng, LDN 2005 đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập trước sự vận động và phát triển không ngừng nghỉ của nền kinh tế Các quy phạm còn mâu thuẫn, chồng chéo Khả năng làm luật còn hạn chế, các quy định thiếu tính dự báo Do đó gặp khó khăn trong việc hoàn thiện và nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh Trong
số những hạn chế đó có các quy định liên quan đến điều chỉnh nội dung tổ chức, quản
lý, điều hành doanh nghiệp
Về mặt thực tiễn: vấn đề tổ chức, quản lý tại các doanh nghiệp Việt Nam còn rất
yếu kém Không thể phủ nhận những tác động tích cực trong tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng; thúc đẩy huy động vốn, phát triển và mở rộng kinh doanh của các doanh nghiệp; góp phần gia tăng tốc độ tăng trưởng và giải quyết các vấn đề
xã hội của LDN năm 2005; tuy nhiên việc triển khai thi hành luật còn nhiều khiếm khuyết, làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác điều hành và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Khiếm khuyết trong các quy định khiến việc quản lý, điều hành doanh nghiệp nói chung, nhất là công ty cổ phần, trở nên kém linh hoạt, tăng thêm chi phí tuân thủ và làm chậm quá trình ra quyết định của doanh nghiệp,…Một yếu tố khác ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý doanh nghiệp đó là do sự hời hợt của các doanh nghiệp trong việc đánh giá vai trò của cách thức tổ chức và quản lý nội bộ công
ty Một bộ máy công ty đơn giản, gọn nhẹ, linh hoạt với sự phân công chức năng nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng đồng thời xây dựng được cơ chế phối hợp đồng bộ, ăn khớp với nhau, thiết lập được cơ chế giám sát và giảm thiểu mâu thuẫn trong nội bộ là một trong những yếu tố bảo đảm cho hiệu quả kinh doanh của công ty Nhưng trên thực tế, việc thiết lập bộ máy quản lý trên tại một số doanh nghiệp còn mang tính hình thức, các hoạt động điều hành theo hướng tự do, “bản năng” tự quyết của doanh nghiệp
CTCP là loại hình doanh nghiệp được sử dụng phổ biến nhất hiện nay, đặc biệt với những lĩnh vực kinh doanh cần phải có nguồn vốn lớn, huy động vốn dễ dàng Bên
Trang 9cạnh đó, xuất phát từ đặc điểm là công ty đối vốn không hạn chế về số lượng chủ sở hữu, vấn đề tổ chức, quản lý, điều hành trong CTCP là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi phải có một cơ chế pháp lý điều chỉnh hợp lý Giải quyết tốt các vấn đề pháp lý trong quản lý CTCP sẽ: (i) làm cho từng công ty nói riêng và nền kinh tế nói chung huy động được nhiều hơn vốn đầu tư xã hội, kể cả vốn đầu tư nước ngoài; (ii) phân bổ
và sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả hơn, qua đó nâng cao hiêu quả và năng lực cạnh tranh của cả công ty và nền kinh tế; (iii) là một yếu tố cơ bản thúc đẩy phát triển nền kinh tế và tự do hóa thị trường vốn; (iv) góp phần cải thiện và làm hài hòa các mối quan hệ xã hội Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống và khoa học nhằm hoàn thiện pháp luật về tổ chức, quản lý, điều hành CTCP là một việc làm
vô cùng có ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong thời điểm hiện tại Trước yêu cầu thực tiễn đặt ra, Luật doanh nghiệp năm 2014 đã được Quốc hội thông qua và
có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2015 LDN 2014 chứa đựng nhiều nội dung mới, trong đó có nhiều quy định về tổ chức quản lý, điều hành công ty cổ phần…Thực tế này đã đặt ra nhu cầu phải nghiên cứu các quy định mới, đánh giá sự tác động của chúng tới sự phát triển của nền kinh tế nói chung và cơ cấu, tổ chức quản lý các công
ty trên thị trường Chính vì vậy, em đã lựa chọn đề tài: “Những đổi mới trong cách
thức tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp năm 2014” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
Nhìn chung, các nội dung liên quan đến mô hình doanh nghiệp nói chung, cơ cấu
tổ chức quản lý hay quản trị công ty không phải là một đề tài mới ở Việt Nam cũng như là trên thế giới Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, các mối quan
hệ ngày càng đa dạng trong hoạt động kinh doanh, sự phức tạp trong hoạt động điều hành các loại hình doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã phát triển và tập trung sâu hơn trong việc nghiên cứu các nội dung liên quan đến cách thức tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần Cụ thể như:
- “Những điểm mới về tổ chức quản lý công ty theo Luật doanh nghiệp năm
2014” của Thạc sĩ Võ Đình Đức, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2015;
- “ Tổ chức quản lý nội bộ công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp năm 2014”
của Thạc sĩ Lưu Thị Dung, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2015;
Trang 10- “Hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty cổ phần” của Thạc sĩ Nguyễn Thùy
Linh, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2014;
- “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý CTCP – góc nhìn từ kinh
nghiệm của Nhật Bản” của Thạc sĩ Đào Thúy Anh, Trường Đại học Luật Hà Nội,
năm 2014;
- “Mô hình quản trị công ty cổ phần tại Việt Nam hiện nay – thực trạng và
phương hướng hoàn thiện” của Thạc sĩ Phan Thị Bảo Yến, Trường Đại học Luật Hà
Nội, năm 2014;
- “ Pháp luật về quản trị công ty cổ phần – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”
của thạc sĩ Vũ Thị Niềm, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2012;
- “Đánh giá khung pháp lý về quản trị công ty và các kiến nghị hoàn thiện”
của TS Lê Vũ Nam – Tạp chí nghiên cứu pháp luật, năm 2012;
Đã có đề tài “Những điểm mới về tổ chức quản lý công ty theo Luật doanh
nghiệp năm 2014” Tuy nhiên, hiện chưa có đề tài tập trung nghiên cứu sâu hơn về
những đổi mới trong cách thức tổ chức quản lý, điều hành công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp năm 2014
Luận văn đặt ra mục đích nghiên cứu làm rõ các quy định mới về cách thức tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần; phân tích những ưu, nhược điểm của những quy định mới so với các quy định của LDN 2005; đồng thời đánh giá tác động và dự báo những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành để từ đó đề xuất các kiến nghị, phương thức thực hiện, thi hành hiệu quả những quy định mới về cách thức tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần theo LDN 2014
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài nhằm làm rõ những vấn đề sau đây:
i Chỉ rõ cơ sở lý luận về tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần; vai trò và những nguyên tắc đặt ra đối với hoạt động tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần
ii Những hạn chế của hoạt động về tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần theo LDN 2005 trước những yêu cầu và điều kiện mới
Trang 11iii Chỉ rõ, đánh giá những quy định mới về tổ chức, quản lý, điều hành công
ty cổ phần theo LDN 2014; phân tích, bình luận hiệu quả, hạn chế và sự tác động của các quy định đó
iv Đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm áp dụng hiệu quả các quy định mới của pháp luật về tổ chức quản lý công ty trong thực tiễn thi hành pháp luật
- Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu những quy định mới về tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần theo LDN 2014 trong quan hệ đối chiếu, so sánh với những quy định tương ứng trong LDN 2005; đồng thời liên hệ với thực tiễn của hoạt động tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần trong thời gian qua để đánh giá tác động của những quy định mới đó trong sự hình thành và phát triển công ty nói chung
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định mới về tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần theo LDN 2014 trên cơ sở đánh giá những quy định về cùng nội dung điều chỉnh trong LDN 2005 Do đó, luận văn không đề cập đến những quy định mới về tổ chức, quản lý, điều hành công ty TNHH, công ty hợp danh hay loại hình doanh nghiệp Nhà nước hoặc những nội dung liên quan đến hoạt động tổ chức, quản
lý, điều hành công ty cổ phần nhưng không phải là những điểm đổi mới theo LDN
Trang 126 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo.nội dung Luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần và pháp luật về cách thức tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần
Chương 2: Thực trạng về cách thức tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp năm 2014
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi các quy định mới về cách thức tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp năm 2014
Trang 13tệ.“Công ty cồ phần là một loại hình kinh doanh phổ biến hiện nay, được xem là
phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển” Quá trình công
nghiệp hoá ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ từ thế kỷ 18, 19 cùng với nhu cầu tích tụ vốn để đầu tư của các nhà tư bản đã làm xuất hiện loại hình CTCP Sự phát triển mạnh
mẽ của chủ nghĩa Tư bản đòi hỏi sản xuất kinh doanh phải có quy mô ngày càng to lớn, cạnh tranh và độc quyền có mức độ ngày càng gay gắt Các chủ tư bản đi đến thoả hiệp với nhau nhằm thu được lợi nhuận tối đa và bành trướng hơn nữa thế lực kinh tế của mình CTCP là hình thức kinh doanh thoả mãn được những nhu cầu này, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút và tập trung tư bản, như nhận định của Các Mác
“Qua các công ty cổ phần, sự tập trung đã thực hiện được việc đó trong nháy mắt”.1
Về mặt lịch sử hình thành, CTCP ra đời sau các loại công ty đối nhân nhưng là hình thức đầu tiên của loại hình công ty đối vốn Khác với sự ra đời của hình thức công ty TNHH – là sản phẩm của các nhà lập pháp xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn kinh doanh, CTCP được hình thành trong hoạt động kinh doanh và do nhu cầu của các nhà kinh doanh rồi sau đó mới được pháp luật thừa nhận và được hoàn thiện thành một chế định pháp lý Chẳng hạn như ở Anh, Luật công ty được ban hành lần đầu tiên năm
https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/04/27/4833/
Trang 141844 nhưng trước đó hơn 100 năm đã có sự xuất hiện của các công ty cổ phần Và đến năm 1856, ở Anh mới có Luật về công ty cổ phần Công ty cổ phần đầu tiên đánh dấu
sự ra đời của CTCP trên thế giới đó là công ty Đông Ấn của Anh, được thành lập ngày 31/10/1860 bởi một nhóm có 218 người, và được cấp phép độc quyền kinh doanh trong vòng 15 năm ở vùng Đông Ấn, các quốc gia và hải cảng ở châu Á, châu Phi và được đi lại từ tất cả các hải cảng của các đảo, thị trấn và địa điểm ở châu Á, châu Phi
và Mỹ hay bất kỳ địa điểm nào như thế nằm ngoài Mũi Hảo Vọng và Eo biển Magellan Đến năm 1602, ở Hà Lan xuất hiện các công ty cổ phần theo hình thức tương tự công ty Đông Ấn của Anh, rồi lần lượt CTCP xuất hiện ở Thụy Điển, Đan Mạch, Đức…Từ cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19, CTCP bắt đầu phát triển ở nhiều lĩnh vực khác nhau như giao thông, vận tải, xây dựng, các ngành chế tạo cơ khí, ngân hàng, bảo hiểm… các nước tư bản phát triển và về sau phát triển rộng rãi ở các nơi khác trên thế giới Đến những năm 20, 30 của thế kỷ 19, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật, nền kinh tế thế giới có bước phát triển mạnh mẽ, điều đó dẫn đến nhu cầu phải tập trung những nguồn vốn lớn để xây dựng cơ sơ hạ tầng kinh tế –
xã hội Công ty cổ phần là một trong những công cụ giúp thực hiện nhanh chóng vấn
đề tập trung vốn Sự ra đời của CTCP đã giúp cho các nhà doanh nghiệp giải quyết được mâu thuẫn về tiền vốn một cách sáng tạo Ở Mỹ, CTCP phát triển rất mạnh Năm
1989, số lượng các công ty cổ phần chiếm 31,7% trong tổng số các xí nghiệp công nghiệp và chiếm 92,6% giá trị tổng sản phẩm công nghiệp Ngày nay, công ty cổ phần
đã chiếm vị trí thống lĩnh trong các ngành công nghiệp, dịch vụ công cộng và trong các ngành khác nhau của nền kinh tế Hoa Kỳ Ở các nước phương Tây, CTCP là mô hình phổ biến nhất cho các doanh nghiệp có quy mô lớn Ở Đức, vốn cơ bản trung bình của các công ty cổ phần năm 1980 là 43 triệu DM, trong khi đó vốn trung bình của một công ty TNHH chỉ là 0,38 triệu DM Trong 100 công ty lớn nhất của Đức năm
1980 có tới 66 công ty cổ phần Ở Pháp, vào năm 1986, có tới 123.303 công ty cổ phần, chiếm tới 15,22% tổng số các doanh nghiệp Ở Nhật Bản, CTCP được coi là trụ cột của nền kinh tế Luật thương mại Nhật Bản với bề dày lịch sử hàng trăm năm đã công nhận sự tồn tại của loại hình công ty này Trải qua hàng trăm năm phát triển, cho đến nay, cùng với quá trình toàn cầu hóa, hình thức CTCP đã có sức bật mới với sự xuất hiện của các loại hình CTCP “đa quốc gia”, “xuyên quốc gia” có tầm hoạt động
Trang 15rộng lớn và khả năng cạnh tranh cao, hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đúng như nhận định: “Công ty cổ phần đã phát triển ở hầu hết các nước từ đơn giản đến phức tạp, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, từ một ngành đến đa ngành, từ một quốc gia đến nhiều quốc gia thông qua các công ty siêu quốc gia”.2
Ở Việt Nam, so với các nước trên thế giới, loại hình CTCP ra đời muộn và chậm phát triển hơn Trước năm 1954 đã xuất hiện loại hình công ty này tại Việt Nam Tuy nhiên, miền Bắc Việt Nam sau năm 1954 cho đến khi thống nhất đất nước vào năm
1975 và trên phạm vi cả nước từ sau năm 1975 đến những năm 80 của thế kỷ 20, với chính sách kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các hình thức công ty nói chung và CTCP nói riêng hầu như không được pháp luật thừa nhận Đến năm 1990 khi Luật công ty được ban hành (ngày 21/12/1990), hình thức CTCP mới chính thức được quy định cụ thể Việc ban hành đạo luật này đã đặt cơ sở pháp lý cho việc hình thành và phát triển
hệ thống doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam nói chung và CTCP nói riêng Tuy nhiên, sau gần mười năm thực hiện, nhiều nội dung của hai đạo luật trên đã tỏ ra bất cập, không đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh hoạt động của các loại hình doanh nghiệp nên rất cần phải sửa đổi bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới Đáp ứng nhu cầu đó LDN 1999 đã ra đời và bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2000 LDN 1999 là nền tảng quan trọng nhất cho sự phát triển của CTCP tại Việt Nam Theo số liệu thống kê của Cục Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), từ đầu năm 2000 đến hết năm 2006, số lượng các CTCP ở Việt Nam
đã liên tục tăng lên, tăng từ khoảng 7% tổng số các doanh nghiệp thành lập năm 2000 lên trên 20% năm 2006
Dưới áp lực và nhu cầu mạnh mẽ của việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, tham gia các hiệp định FTA thế hệ mới, hàng loạt các luật có liên quan phải ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung; trong đó có Luật doanh nghiệp LDN 2005, LDN 2014 đã lần lượt ra đời trong hoàn cảnh đó, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của loại hình doanh nghiệp là CTCP Cho đến nay, CTCP là một loại hình khá phố biến, là
sự lựa chọn với nhiều điểm ưu việt cho các nhà đầu tư khi quyết định thành lập công
ty
https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/04/27/4833/
Trang 161.1.2 Khái niệm và đặc điểm của công ty cổ phần
Do tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định nên ở các
nước khác nhau, CTCP có thể có những tên gọi khác nhau Cụ thể như:
Ở Pháp, CTCP được gọi là công ty vô danh, đảm bảo điều kiện phải có ít nhất
7 cổ đông, vốn pháp định tối thiểu là 25.000 FF đối với các công ty không phát hành chứng khoán và 1.500.000 FF đối với các công ty phát hành chứng khoán, mệnh giá thống nhất ở mỗi cổ phiếu là 100FF đối với các công ty phát hành chứng khoán Các
cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần Trường hợp có đủ điều kiện, công ty
có thể phát hành chứng khoán để huy động vốn (Theo Luật quy định điều kiện để công
ty phát hành các loại chứng khoán ngày 14/12/1985), [16.tr7]
Ở Anh, CTCP được định nghĩa như sau: "Công ty cổ phần có nghĩa là một công
ty có vốn điều lệ đã góp hoặc cổ phần danh nghĩa của tổng số vốn cố định được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, cũng có số vốn cố định, hoặc nắm giữ và chuyển giao như chứng khoán, hoặc được chia và nắm giữ một phần bằng cách này và một phần bằng cách khác, được thành lập trên nguyên tắc có các thành viên sở hữu cổ phiếu hoặc chứng khoán đó và không có những người khác" (Điều 1041 Luật công ty Anh năm 2006), [16.tr8]
CTCP ở Đức, là mô hình công ty đối vốn có tư cách pháp nhân sau khi tiến hành đăng ký kinh doanh; vốn điều lệ tối thiểu khi thành lập công ty là 50.EUR và được chia thành các cổ phần có mệnh giá thấp nhất là 1 EUR; cổ đông của CTCP có thể là cá nhân hoặc tổ chức; công ty chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi tài sản của công ty; cổ phần của công ty được tự do chuyển nhượng và CTCP được phát hành các loại cổ phần khác nhau để huy động, [16.tr7] Pháp luật Việt Nam không đưa ra định nghĩa cụ thể về CTCP mà chỉ quy định những dấu hiệu để nhận biết nó Theo đó các quy định có nội dung giải thích về CTCP cũng được hoàn thiện từ Luật Công ty năm 1990, LDN 1999, LDN 2005 và LDN
2014 Ghi nhận tại Luật Công ty năm 1990, CTCP được coi là "doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty" (Điều 2 Luật Công ty năm 1990) Quy định về CTCP được hoàn thiện không những về kỹ thuật lập pháp mà còn về nội dung định nghĩa
Trang 17Theo đó, CTCP là một loại hình doanh nghiệp (LDN 1999, LDN 2005, LDN 2014) Theo Khoản 7 Điều 4 LDN 2014 thì: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản,
có trụ sở giao dịch, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.” Theo điều 111 LDN 2014, CTCP là doanh nghiệp có các dấu hiệu
cơ bản sau: “Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; người
sở hữu cổ phần là các cổ đông, cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng tối thiểu là
ba và không hạn chế số lượng tối đa; Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác của Doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; CTCP có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn” Đó cũng là những đặc điểm đặc trưng, giúp phân biệt CTCP với các loại hình doanh nghiệp khác Mặc dù có cách gọi khác nhau về CTCP, có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng xét về bản chất, pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước trên thế giới
có quan điểm tương đồng khi quan niệm đây là loại hình công ty đặc trưng của công ty đối vốn với đặc điểm quan trọng là có sự tách bạch tài sản của công ty và tài sản của các cổ đông
Từ quy định chung về CTCP theo điều 111 LDN 2014, có thể nhận thấy CTCP theo pháp luật Việt Nam có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, CTCP có cấu trúc vốn đặc biệt Khác với các loại hình Doanh nghiệp
khác, vốn điều lệ của CTCP được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu Một cổ phiếu có thể phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần Các cổ đông góp vốn vào công ty bằng cách mua cổ phần Vốn điều lệ công ty là tổng giá trị mệnh giá cổ phần
đã bán các loại Một cổ đông có thể mua nhiều cổ phần, pháp luật không hạn chế số lượng cố phần mà một cổ đông có thể nắm giữ Tuy nhiên, các cổ đông có thể thỏa thuận ghi vấn đề này vào điều lệ công ty để tránh việc cổ đông lớn dần thâu tóm công
ty Đặc điểm cấu trúc vốn của CTCP còn được thể hiện ở khả năng huy động vốn lớn bằng việc phát hành chứng khoán CTCP là loại hình có khả năng huy động vốn lớn nhất trong tất cả các loại hình doanh nghiệp, công ty được phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn Cơ chế huy động vốn linh hoạt của công ty đã tạo điều kiện cho các cá nhân có số vốn nhỏ cũng có thể sở hữu cổ phần trong công ty và được hưởng lợi nhuận khi công ty làm ăn có hiệu quả đồng thời cũng giúp các nhà đầu tư giảm
Trang 18thiếu rủi ro bằng cách cùng một lúc đầu tư vào nhiều công ty khác nhau Sự chủ động
về nguồn vốn là một trong những yếu tố rất quan trọng tạo nên sự thành công của doanh nghiệp Với khả năng huy động vốn lớn trong công chúng, CTCP cũng đem lại rủi ro cao cho các nhà đầu tư Do vậy, CTCP chịu sự điều chỉnh bởi khung pháp lý khắt khe hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác
Thứ hai, CTCP có số lượng cổ đông rất lớn LDN 2014 không giới hạn số lượng
tối đa các cổ đông trong CTCP mà chỉ giới hạn số lượng tối thiểu là ba cổ đông (Điểm
b khoản 1 điều 110) So với các quy định cũ như trước đây như quy định số lượng cổ đông tối thiểu là 7 cổ đông (Điều 30 Luật công ty 1990) thì có thể đánh giá quy định này có ý nghĩa nhất định về mặt thực tiễn Một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư khi thành lập công ty Với khả năng và tiềm lực kinh tế đáp ứng, số lượng ba cổ đông là đủ để có thể thành lập, điều hành công ty Mặt khác, với tính tự do chuyển nhượng cổ phần, quyền phát hành cổ phần để huy động vốn thì số lượng cổ đông trong công ty luôn biến đổi, quy định này giúp hạn chế nguy cơ công ty phải chấm dứt hoạt
động khi không đủ số lượng cổ đông thiểu số, tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư
Thứ ba, chế độ chịu trách nhiệm của các cổ đông đối với CTCP là chế độ chịu
TNHH Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp CTCP với tư cách
là một pháp nhân sẽ tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản của công ty Các cổ
đông không phải chịu trách nhiệm thay công ty về các khoản nợ của công ty Chế độ
chịu TNHH trong CTCP giúp các nhà đầu tư hạn chế rủi ro trong kinh doanh, tránh sự khánh kiệt gia sản đối với cổ đông khi công ty phá sản như chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh Tuy nhiên, đây cũng là điểm bất
lợi cho các chủ nợ vể khả năng thanh toán nợ khi công ty phá sản
Thứ tư, về tư cách pháp lý: CTCP là một tổ chức kinh tế có tên riêng, trụ sở giao
dịch được thành lập hợp pháp trên cơ sở có đăng ký doanh nghiệp CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Khoản 2 điều
110 LDN 2014) Cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành công ty được pháp luật và điều lệ công ty quy định chặt chẽ Công ty có tài sản độc lập và chịu trách nhiệm bằng tài sản
đó đồng thời công ty cũng nhân danh chính mình khi tham gia vào các quan hệ pháp
Trang 19luật, xác lập các quyền và nghĩa vụ cho công ty Như vậy CTCP thoả mãn điều kiện
của một pháp nhân theo quy định tại Điều 74 Bộ luật dân sự 2015
Là một pháp nhân, thông qua người đại diện của mình, công ty có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự trong quan hệ tố tụng tại tòa án Trong quá trình hoạt động, công ty phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ bằng chính tài sản của công ty Khi công ty mua sắm tài sản mới thì tài sản đó thuộc quyền sở hữu của công ty, các cổ đông chỉ được sở hữu cố phần trong công ty mà không được quyền sở hữu tài sản của công ty
Thứ năm, về khả năng chuyển nhượng cổ phần: So với mô hình công ty TNHH,
phần vốn góp (cổ phần) của cổ đông trong CTCP có khả năng chuyển nhượng dễ dàng hơn Theo quy định của LDN 2014, các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần mà mình sở hữu, trừ trường hợp cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập trong vòng ba năm đầu kể từ ngày công ty được cấp GCN ĐKKD (Khoản 3 Điều 119) và cổ phần ưu đãi biểu quyết (Điều 116)
1.1.3 Khái niệm tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần
So với khái niệm tổ chức, quản lý, điều hành công ty, khái niệm quản trị công ty cũng có nhiều nét tương đồng về nội hàm nhưng được biết và nghiên cứu đến nhiều hơn Dưới góc độ pháp lý, QTCT được giải thích bao gồm các quá trình áp dụng, thực thi và rà soát các chính sách một cách đúng đắn và thường xuyên Quá trình này thường được thực hiện thông qua hội đồng quản trị, với mục đích giải trình và cân bằng quyền lực, qua đó nâng cao giá trị bền vững của một công ty.3 Kế thừa nguồn gốc cũng như điều chỉnh phù hợp với sự phát triển của QTCT ở từng thể chế, thời kỳ, cho đến nay, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra rất nhiều quan điểm xung quanh nội dung của QTCT Tiếp cận QTCT theo định hướng này, Ngân hàng thế giới (World
Bank) định nghĩa: "QTCT đề cập đến các cơ cấu và quá trình cho việc định hướng và
kiểm soát các công ty QTCT liên quan tới mối quan hệ giữa ban giám đốc, Hội đồng quản trị, các cổ đông lớn, các cổ đông nhỏ và những bên có quyền lợi liên quan"
Phòng thương mại quốc tế ICC (International Chamber of Commerce) định nghĩa một cách cụ thể hơn về QTCT, đó là tổng hòa mối quan hệ giữa các nhà quản lý công
Trang 20
ty, các giám đốc và các chủ sở hữu vốn, người dân và các tổ chức giữ và đầu tư vốn của họ vào công ty để kiếm lợi nhuận Nó đảm bảo rằng hội đồng quản trị chịu trách nhiệm cho việc theo đuổi các mục tiêu của công ty và rằng các hệ thống của công ty phù hợp với luật pháp và các quy tắc.4
Cho đến nay, định nghĩa QTCT của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) ghi nhận trong tài liệu "Các nguyên tắc quản trị công ty" (1999) được xem là
có nội hàm bao quát và có sức ảnh hưởng rộng lớn nhất OECD cho rằng QTCT là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty, liên quan đến các mối quan
hệ giữa ban giám đốc, Hội đồng quản trị và các cổ đông của công ty với các bên có quyền lợi liên quan QTCT cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty,
và xác định các phương tiện để đạt được mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty QTCT chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được Ban giám đốc và Hội đồng quản trị theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát các hoạt động của công ty một cách hiệu quả từ đó khuyến khích công ty sử dụng nguồn lực một cách tốt hơn Có thể nói định nghĩa này đã xác định một cách đầy đủ và rõ ràng nội dung, phạm vi và mục đích của QTCT hướng tới
Kế thừa quan điểm của OECD, WB và ICC, khái niệm QTCT được tiếp nhận vào Việt Nam theo nghĩa rộng Khái niệm QTCT lần đầu tiên được ghi nhận chính thức tại Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán/Trung tâm giao dịch chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/03/2007 (Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty
niêm yết) Quy chế này định nghĩa: "QTCT là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho
công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi cổ đông và những người liên quan đến công ty"
Đó là cách các nhà quản lý Việt Nam định nghĩa về QTCT Đối với khái niệm tổ chức quản lý, điều hành công ty, cho đến nay Việt Nam chưa có văn bản luật chính thức nào định nghĩa về khái niệm này Duy có trong Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ban hành ngày 13 tháng 3 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ tài chính về việc ban hành quy
công ty, Đánh giá tình hình quản trị công ty của Việt Nam, Hà Nội
Trang 21chế quản trị công ty niêm yết có định nghĩa quản lý nội bộ công ty là “hệ thống các
quy tắc để đảm bảo cho công ty định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty”
Từ sự phân tích khái niệm QTCT ở trên và nội dung định nghĩa về quản lý nội bộ công ty được định nghĩa trong một văn bản duy nhất (nêu trên) có thể nhận thấy khái niệm QTCT và hoạt động quản lý điều hành nội bộ công ty có chung một nội hàm Sự đồng nhất hai khái niệm này là chưa hợp lý Bởi,nếu như quản trị có nghĩa là toàn bộ quá trình quyết định ra chính sách, các khung về quy tắc, đặt ra các mục tiêu chung
Đó là các hoạt động cấp cao, là quá trình đặt nền móng các nguyên tắc vận hành cơ bản cho một doanh nghiệp Theo đó hướng dẫn, lãnh đạo, kiểm soát tổ chức, doanh nghiệp để hướng đến việc đạt được mục tiêu chung Thìquản lý là việc tiếp nhận, kết nối và khởi động các yếu tố khác nhau, điều phối, thúc đẩy các hoạt động của tổ chức
để hướng đến các mục tiêu đã được đặt ra bởi quản trị Chức năng của quản trị là ra quyết định, chiến lược; chức năng của quản lý là thi hành Xét về cấp độ, quản trị thuộc cấp độ cao hơn quản lý Do đó, có thể nhận thấy khái niệm quản lý nội bộ công
ty trong quyết định trên chưa thể hiện được hết phạm vi nội hàm của tổ chức quản lý công ty điều hành công ty khi chưa khái quát được trong đó là hệ thống các mối quan
hệ bên trong công ty, sự ràng buộc và hỗ trợ lẫn nhau cũng như quy chế hoạt động trong đó của tổ chức quản lý công ty
Ngân hàng thế giới (WB), tổ chức quản lý nội bộ công ty được định nghĩa là một
hệ thống kết hợp các yếu tố luật pháp, thể chế các hệ thống quản trị của công ty Nó cho phép công ty có thể thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực hoạt động một cách hiệu quả, tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho các thành viên trong khi vẫn tôn trọng các quyền lợi của những người có quyền và lợi ích liên quan và của xã hội.5
Theo một nghiên cứu khác về khái niệm Quản lý nội bộ công ty: “Quản lý nội bộ
công ty là hệ thống các cơ chế mà theo đó công ty được quản lý, thông qua việc tổ chức điều hành nội bộ công ty, mà trong đó các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
công ty, Đánh giá tình hình quản trị công ty của Việt Nam, Hà Nội
Trang 22quản lý như các cổ đông, HĐQT, giám đốc, người lao động và những người có lợi ích liên quan được phân định rõ ràng” 6
So với khái niệm quản lý nội bộ của WB, khái niệm trên đã khái quát được phạm
vi của hoạt động tổ chức quản lý và cho đó là một hệ thống nhằm quản lý công ty, đã nói lên được mối quan hệ nội tại trong bản thân công ty, giữa các chủ thể và vị trí quản
lý nhất định Tuy nhiên tác giả mới chỉ đánh giá và đưa ra khái niệm ở một mức độ chung nhất mà chưa nhìn nhận được các mối quan hệ, quản lý vượt ra ngoài phạm vi công ty Cơ cấu tổ chức công ty không chỉ nhằm quản lý công ty mà còn tác động tới những chủ thể có liên quan và phát huy hiệu quả quản lý đối với những chủ thể khác nhằm mang lại hiệu quả hoạt động cao nhất Nội dung này cũng đã được đề cập đến trong khái niệm của WB
Mặc dù khái niệm quản lý chưa được định nghĩa một cách triệt để, tuy nhiên LDN 2014 đã đề cập đến người thực hiện hoạt động tổ chức quản lý, điều hành CTCP,
đó là Chủ tịch hội đồng quản trị, thành viên hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định của pháp luật.7 Bên cạnh các chủ thể thực hiện chức năng quản lý điều hành trong công ty như đã nêu trên còn có chủ thể là cơ quan thực hiện việc tổ chức quản lý, điều hành CTCP đó là ĐHĐCĐ, HĐQT và BKS Nếu giải thích theo ngữ nghĩa thì có thể hiểu:
"Tổ chức" là sắp xếp, bố trí cho thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu
trúc và những chức năng chung nhất định
"Quản lý" gồm chuỗi các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một
tổ chức Quản lý nói chung bao gồm các hoạt động: hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm soát và điều chỉnh
"Điều hành" là hướng dẫn cho mọi hoạt động chung diễn ra theo một đường lối,
chủ trương nhất định
Từ những phân tích các khái niệm trên có thể hiểu: Tổ chức quản lý điều hành công ty là một chuỗi các hoạt động như thiết lập mô hình nhất định, định hướng và tổ chức thực hiện, điều chỉnh, kiểm soát, hướng dẫn để các cơ quan, cán bộ thực hiện
6
Cao Thị Kim Trinh (2004), "Tổ chức quản lý nội bộ CTCP những vấn đề lý luận và thực tiễn", Luận văn thạc
sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 23chức năng quản lý, điều hành công ty dựa trên các nguyên tắc, mô hình, cơ chế nhất định, tuân thủ theo quy định của pháp luật và quy chế quản trị của công ty; mục đích giúp cho bộ máy của công ty được vận hành và hoạt động một cách có hệ thống, hiệu quả, theo đúng định hướng; đảm bảo quyền lợi của công ty, các cổ đông, những người
và đối tượng khác có liên quan
Có thể nhận thấy hoạt động tổ chức quản lý, điều hành công ty bao hàm các đặc điểm sau:
Một là, tạo ra cơ cấu và quy trình nhất định mà thông qua đó tất cả các mối quan
hệ giữa các bên liên quan đến công ty được thiết lập và xác định Quy trình này thường được thể hiện dưới dạng các trình tự, thủ tục về quản lý năng lực hoạt động hoặc các chế độ báo cáo khác nhau
Hai là mục đích của hoạt động tổ chức quản lý, điều hành công: Xây dựng các cấu trúc và quy trình hoạt động phục vụ cho điều hành và kiểm soát hoạt động của công ty
Ba là mục tiêu hướng tới của hoạt động tổ chức quản lý, điều hành công ty: Phân chia một cách phù hợp quyền lợi và trách nhiệm các bên có liên quan, từ đó tạo ra giá trị lâu dài cho các cổ đông, những chủ đầu tư vốn vào công ty nhằm tìm kiếm lợi nhuận
1.1.4 Vai trò của hoạt động tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần
Công ty cổ phần là mô hình kinh doanh điển hình trong nền kinh tế thị trường
Sự trỗi dậy và phát triển mạnh mẽ của loại hình doanh nghiệp này trên thế giới đặt ra nhu cầu cần thiết về tính hiệu quả của hoạt động quản lý công ty Mặc dù xuất hiện từ trước đó rất lâu nhưng cho đến đầu những năm 1990, sau sự thất bại và khủng hoảng
có hệ thống của nhiều công ty, tập đoàn lớn trên thế giới, hoạt động tổ chức quản lý, điều hành công ty mới được chú trọng nghiên cứu nhằm giải quyết một cách có hệ thống các vấn đề pháp lý, thể chế và thông lệ quản lý của các công ty Sở dĩ hoạt động này được quan tâm hơn là vì vai trò và tác động tích cực nhiều mặt đối với phát triển của từng công ty cụ thể nói riêng và nền kinh tế nói chung
a) Vai trò đối với sự phát triển công ty
Tổ chức, quản lý, điều hành công ty tốt là một trong những nhân tố cơ bản xây dựng, củng cố và duy trì lòng tin của các nhà đầu tư vào thị trường, vào giá trị tài sản
Trang 24của họ vào công ty bởi họ tin rằng việc ký kết hợp đồng hay cấp vốn đầu tư vào đó sẽ
có khả năng thành công và mang lại lợi nhuận nhiều hơn Do đó, một công ty thực hiện tốt việc tổ chức, quản lý, điều hành thường sẽ có khả năng tiếp cận dễ dàng hơn với các nguồn vốn từ bên ngoài và đạt được hiệu quả kinh doanh cao hơn Bởi các khoản vốn đầu tư đó thường không cần thế chấp và có thời hạn dài hơn so với tín dụng ngân hàng Điều đó sẽ tạo thuận lợi cho công ty mở rộng đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, làm tăng cầu về đầu tư cổ phiếu, qua đó tăng trị giá của công ty Bên cạnh đó, hoạt động quản lý hiệu quả sẽ làm giảm các chi phí không cần thiết trong quá trình hoạt động của công ty như các chi phí liên quan đến khiếu kiện liên quan đến giao dịch nội bộ công ty, tham nhũng và giảm thiểu trách nhiệm đền bù của công ty
Có thể nói khi thiết lập được được một cơ cấu tổ chức hợp lý, hiệu quả; xây dựng được
cơ chế điều hành, phối hợp giữa các cơ quan, bộ phận, người quản lý một cách nhịp nhàng; có một nguồn nhân lực có trình độ, trách nhiệm để thực hiện sẽ là những yếu tố mang tính quyết định đến hiệu quả hoạt động và sự phát triển bền vững của một công
ty Bên cạnh đó, trong khuôn khổ hoạt động của công ty, hoạt động tổ chức, quản lý điều hành công ty còn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cổ đông, các nhà đầu tư
b) Vai trò đối với sự phát triển của hệ thống công ty
Sự ra đời, phát triển của mạng lưới công ty và sự phát triển của nền kinh tế luôn
có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau Sự ổn định và hợp lý của những mô hình quản lý chung là tiền đề cho sự phát triển của hệ thống công ty, thúc đẩy phát triển kinh tế Các mô hình quản lý này được hợp pháp hóa trong các quy định của pháp luật và điều
lệ công ty Đây sẽ là nguồn "thành văn" cho những doanh nghiệp sau kế thừa và áp dụng Hiệu quả bền vững của mô hình quản lý sẽ giúp doanh nghiệp có chỗ đứng vững chắc trên thương trường, nâng cao hiệu quả kinh tế, khả năng cạnh tranh, góp phần vào
sự ổn định và phát triển của hệ thống các công ty
c) Vai trò đối với nền kinh tế
Các doanh nghiệp nói chung và CTCP nói riêng là một bộ phận của nền kinh tế
Sự tăng trưởng của bộ phận này góp phần duy trì ổn định và phát triển cho nền kinh tế
Do đó tổ chức, quản lý, điều hành công ty được đánh giá là yếu tố then chốt để đẩy mạnh hiệu quả thị trường, phát triển kinh tế cũng như tăng cường lòng tin của nhà đầu tư Sự tồn tại của một hệ thống quản lý công ty hiệu quả vượt ra ngoài phạm vi tác
Trang 25động của một công ty mà còn tác động chung đến nền kinh tế, là nền tảng cho sự phát triển kinh tế thị trường Thực hiện tốt việc quản lý là yếu tố làm cho vốn đầu tư được huy động nhiều hơn và phân bổ tốt hơn vào những nơi sử dụng nguồn vốn đó có hiệu quả, từ đó góp phần giúp cho nền kinh tế đạt hiệu quả và mức tăng trưởng cao hơn Một quốc gia có nhiều doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành hiệu quả sẽ
sở hữu mạng lưới đầu tư thu hút, an toàn, ổn định cho các nhà đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, tính hiệu quả của hoạt động quản lý sẽ có vai trò tích cực trong việc giảm thiểu được rủi ro khủng hoảng tài chính Các cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính ở mức độ nhất định đều có nguyên nhân từ sự yếu kém của hoạt động quản
lý, ví dụ như cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ 1997-1998 được cho là xuất phát từ nguyên nhân yếu kém của hoạt động quản lý tại những nước châu Á Như vậy, có thể thấy hoạt động tổ chức, quản lý, điều hành công ty có vai trò khá quan trọng không chỉ với bản thân công ty mà với cả đối với nền kinh tế nói chung
1.1.5 Các nguyên tắc cơ bản tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần
Thứ nhất, bộ máy tổ chức quản lý điều hành phù hợp với quy định của pháp
luật và tình hình thực tế của công ty
Nói một cách khái quát, cấu trúc quản trị nội bộ của các CTCP trên thế giới, đặc biệt là các công ty niêm yết, thường theo một trong hai mô hình sau đây: (i) mô hình hội đồng đơn – hay còn gọi là hội đồng một tầng (unitary board hay one-tier board model), và (ii) mô hình hội đồng kép – hay còn gọi là hội đồng hai tầng/mô hình đa hội đồng (dual board hay two-tier board model) Mô hình đa hội đồng có nguồn gốc từ cộng hòa liên bang Đức với cấu trúc nội bộ theo pháp luật CHLB Đức gồm: Đại hội đồng cổ đông, Aufsichtsrat (Hội đồng quản lý/Giám sát), Vorstand (Ban quản trị điều hành)
Bộ máy tổ chức quản lý điều hành phù hợp với quy định của pháp luật và tình hình thực tế của công ty là nguyên tắc quan trọng đối với việc quản lý CTCP Pháp luật Việt Nam và pháp luật của các nước trên thế giới đều có những quy định rất mở, cho phép doanh nghiệp được lựa chọn mô hình quản lý phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp hay lựa chọn một nhân sự trong quá trình thực hiện việc quản lý của mình Dựa trên những quy định đó, bộ máy quản lý doanh nghiệp xây dựng đảm bảo tính gọn nhẹ, vận hành tốt sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí đáng kể cho
Trang 26công ty và đồng thời hoạt động của công ty sẽ linh hoạt và vận hành nhịp nhàng, mang lại hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, việc gọn nhẹ ở đây không có nghĩa là giảm nhẹ Công ty luôn phải đảm bảo bộ máy quản lý này được thiết lập dựa trên những quy định của pháp luật, đồng thời có những bộ phận cần thiết, phù hợp với đặc điểm quy mô, ngành nghề để việc vận hành trơn tru và mang lại hiệu quả kinh tế cao Trong một số trường hợp LDN hay một số luật khác có liên quan có những quy định cụ thể như tiêu chuẩn để vào một số vị trí quan trọng trong bộ máy quản lý, điều hành công ty thì các nhà quản lý cần tuân thủ một cách tuyệt đối Bởi sở dĩ các quy định đó giúp cho doanh nghiệp xây dựng được một bộ máy đảm bảo hoạt động một cách khách quan, an toàn, hiệu quả
Thứ hai, nguyên tắc công khai và minh bạch hóa thông tin
Bên cạnh các quy định của pháp luật, yêu cầu này đặt ra với mục đích xây dựng được bộ máy tổ chức quản lý, điều hành an toàn và đạt được các mục tiêu đề ra Yêu cầu có nghĩa việc tổ chức quản lý phải dựa trên các nguyên tắc về sự minh bạch, dễ tiếp cận, kịp thời, đầy đủ và chính xác thông tin ở mọi cấp độ Công ty phải công khai hóa các thông tin quan trọng, như: thông tin chung về công ty, thông tin về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh, về sở hữu, về cách thức quản trị công ty,… Công khai hóa đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin theo cách dễ tiếp cận với chi phí hợp lý sẽ thúc đẩy, cải thiện độ minh bạch trong quản trị công ty Việc công khai và minh bạch thông tin có ý nghĩa rất quan trọng: (i) tạo khả năng và điều kiện cho các cổ đông trong việc thực hiện các quyền sở hữu, qua đó bảo vệ được lợi ích hợp pháp của
họ ở công ty, nhất là cổ đông thiểu số; (ii) giúp củng cố niềm tin của nhà đầu tư và các bên có liên quan vào thị trường vốn, ngăn ngừa và làm giảm những ứng xử và hành vi lạm dụng phi pháp, làm hại đến lợi ích của công ty và cổ đông; (iii) giúp cổ đông hiểu được cơ cấu, chính sách hoạt động của công ty để tự bảo vệ quyền lợi của mình; (iv) Hạn chế được các hành vi và quyết định quá giới hạn thẩm quyền; (v) Giúp cho hoạt động giám sát bộ máy quản lý công ty được hiệu quả
Thứ ba, đảm bảo nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong công ty vừa tách biệt lại vừa phối hợp chặt chẽ với nhau
Bộ máy quản lý của CTCP gồm nhiều bộ phận hợp thành, trong đó có sự phân phối chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các bộ phận Đó tạo nên cơ chế Tự chủ -
Trang 27Giám sát - Phối hợp Cơ chế này khiến mỗi cơ quan/cán bộ quản lý có một phạm vi thẩm quyền riêng để chủ động thực hiện chức năng quản lý, điều hành của mình Song song với bước trao quyền lực là việc thực thi hoạt động giám sát đảm bảo không có hành vi lạm dụng thẩm quyền
Để công ty kinh doanh hiệu quả thì những người quản lý phải được trao quyền và mức độ tự chủ để quản lý công ty, mặt khác những người quản lý cũng cần được ngăn ngừa, giám sát đủ mức để họ không lạm dụng quyền và vị thế được giao để tư lợi, làm hại đến lợi ích của công ty và cổ đông công ty LDN 2014 đã quy tương đối đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ của ĐHĐCĐ, HĐQT, BKS và ban giám đốc trong CTCP, đảm bảo cho các cơ quan này có thể vừa phối hợp hoạt động vừa có khả năng giám sát nhau Tuy nhiên, phụ thuộc vào điều kiện riêng của từng công ty, điều lệ công ty nên
bổ sung hoặc cụ thể hóa hơn các quy định để phát huy hiệu quả của cơ chế này trong
hoạt động quản lý, điều hành công ty
Thứ tư, tổ chức quản lý CTCP phải bảo vệ quyền lợi của các cổ đông
Cổ đông là những người chủ sở hữu công ty Hoạt động tổ chức quản lý điều hành công ty cần đặt quyền lợi của công ty lên hàng đầu, cũng là lợi ích của các cổ đông trong công ty Thực hiện tốt yêu cầu này giúp cho hoạt động quản lý công ty đạt được mục tiêu đề ra, tránh được các khiếu kiện phát sinh trong công ty xuất phát từ những hoạt động tư lợi Quản lý, điều hành công ty cần hướng tới bảo vệ hài hòa lợi ích của các cổ đông trong công ty để tạo sự tin tưởng của các nhà đầu tư khi góp cổ phần vào công ty, từ đó tăng khả năng thu hút vốn từ các chủ đầu tư
1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần
Để tổ chức được một hệ thống quản lý, điều hành ưu việt, bên cạnh việc thực thi tốt các yêu cầu đặt ra đối với hoạt động này, các nhà quản lý cần quan tâm đến các yếu
tố ảnh hưởng và tác động của chúng đến hiệu quả và tính khả thi của việc tổ chức, quản lý CTCP Đó là các yếu tố chính như pháp luật điều chỉnh, cơ cấu vốn công ty, thị trường, khả năng thực tế của thành viên
Các quy định của pháp luật là cơ sở để các doanh nghiệp xây dựng một thiết chế quản lý phù hợp LDN 2014 đã quy định khá cụ thể một số nội dung liên quan đến hoạt động tổ chức quản lý CTCP Trách nhiệm của doanh nghiệp là tuân thủ nghiêm
Trang 28ngặt đối với các quy định mang tính bắt buộc Còn đối với các quy định tùy nghi, doanh nghiệp có thể tự chủ lựa chọn hoặc cụ thể hóa các quy định của luật trong Điều
lệ, Quy chế quản trị công ty Đó cũng là nguồn luật ảnh hưởng đến hoạt động quản lý công ty, tác động đến hiệu quả, tính khả thi của công tác quản lý
Yếu tố thứ hai các nhà quản lý cũng cần nghiên cứu đến đó là cơ cấu vốn Yếu tố này ảnh hưởng mạnh mẽ đến từng vị trí trong cơ cấu tổ chức quản lý công ty Các vị trí quản lý chủ chốt như Chủ tịch HĐQT, Thành viên HĐQT, Tổng giám đốc sẽ chịu tác động rõ rệt nhất của yếu tố cơ cấu vốn Các cổ đông sở hữu tỷ lệ vốn lớn trong công ty có xu hướng muốn nắm giữ quyền lực lãnh đạo, tác động đến các quyết định quan trọng trong hoạt động kinh doanh của công ty Do đó, các cổ đông này muốn nắm giữ những vị trí chủ chốt trong cơ cấu quản lý, điều hành công ty Bởi vậy, yếu tố
cơ cấu vốn cũng là yếu tố quan trọng có sức tác động lớn đến hoạt động tổ chức, quản
lý, điều hành công ty
CTCP là loại hình công ty có số lượng thành viên lớn, có thể có tới hàng ngàn cổ đông Do đó, cơ cấu tổ chức quản lý CTCP đòi hỏi cần phải đảm bảo sự chặt chẽ, hiệu quả, nhằm đảm bảo tính ổn định và phát triển của công ty Không những thế, đây cũng
là công cụ để các nhà quản lý thể hiện tốt vai trò và chức năng của mình trước các cổ đông, gây dựng sự tín nhiệm của họ đối với các cán bộ quản lý hoạt động cũng như tin tưởng vào quyết định đầu tư vào công ty
1.2.1 Mô hình quản lý công ty cổ phần
Đánh giá hiệu quả hoạt động của CTCP phụ thuộc nhiều vào mô hình quản lý
điều hành mà các nhà quản lý công ty lựa chọn Tính đến nay, thuật ngữ mô hình quản
lý công ty vẫn chưa được định nghĩa tại bất cứ một văn bản nào Tuy nhiên, từ thực tiễn sử dụng có thể hiểu mô hình quản lý công ty là hình mẫu thực hiện hoạt động quản lý, điều hành công ty, trong đó bao gồm cấu trúc các mối quan hệ trong công ty
và nguyên tắc thiết lập, hoạt động của cấu trúc đó Các nguyên tắc đó đề cập đến các
cơ chế như cơ chế hình thành các vị trí trong bộ máy điều hành; cơ chế hoạt động, giám sát lẫn nhau giữa các vị trí; cơ chế đảm bảo quyền lợi Mô hình quản lý thể hiện
rõ sự phân chia và kiểm soát quyền lực, đánh giá được mức độ đảm bảo lợi ích của công ty, của cổ đông, và các bên có quyền lợi liên quan khác Thiết kế một mô hình
Trang 29quản lý công ty như thế nào phụ thuộc vào các yếu tố như chính sách kinh tế, thị trường, môi trường pháp lý, đạo đức kinh doanh Một mô hình quản lý hiệu quả là
mô hình trong đó có sự phân cấp quyền lực của từng vị trí, từng bộ phận một cách rõ rệt; quá trình thực hiện công việc nhanh gọn, không bị chồng chéo về thẩm quyền và chức năng; cơ chế thực hiện tốt; không những thế yếu tố tiết kiệm chi phí cũng được coi là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá tính hiệu quả Mô hình quản lý không tốt, không những không đem lại hiệu quả mà còn tiềm ẩn khả năng gây hậu quả, thiệt hại nghiêm trọng cho bản thân công ty trong tương lai Theo mục đích quản lý công ty hoặc theo cấu trúc quản lý, hệ thống quản lý được phân chia thành các mô hình khác nhau
Trường hợp dựa vào mục đích của quản lý CTCP, mô hình quản lý được phân chia thành mô hình quản lý hướng tới cổ đông và mô hình quản lý hướng tới lợi ích
của tất cả những bên có quyền lợi liên quan của công ty (được hiểu là các cá nhân, tỏ
chức có mối liên hệ liên quan đến quá trình quản lý, điều hành, kiểm soát công ty hoặc
là những chủ thể bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của công ty hay quyết định của công
ty thông qua các cơ quan trong bộ máy quản lý), thậm chí có các mô hình hướng tới
lợi ích của người lao động hay nhà nước Ở các quốc gia khác nhau, mục đích hướng đến của hoạt động quản lý cũng khác nhau Nếu như các nhà quản lý tại các quốc gia như Mỹ, Anh, Úc thường cố gắng tối đa hóa lợi nhuận, vì lợi ích của các cổ đông thì
mô hình quản lý công ty của Nhật Bản và Đức thường đề cao lợi ích của các bên có quyền lợi liên quan Pháp luật Việt Nam không có văn bản nào ghi nhận cụ thể và rõ ràng về mục đích của quản lý, tuy nhiên đánh giá thông qua hệ thống các quy định liên quan đến mô hình quản lý của CTCP thì có thể nhận thấy hệ thống mô hình quản lý CTCP ở Việt Nam hướng đến lợi ích của các bên có quyền lợi liên quan nhiều hơn Căn cứ theo cấu trúc quản lý điều hành CTCP, trên thế giới tồn tại chủ yếu hai
mô hình cấu trúc quản lý cơ bản đó là cấu trúc hội đồng hai tầng (Cấu trúc hội đồng kép) và mô hình hội đồng một tầng (Cấu trúc hội đồng đơn) Ở Việt Nam, cho đến khi LDN 2014 ra đời, các nhà làm luật đã tiếp thu kinh nghiệm quản lý từ thế giới và luật hóa thêm mô hình quản lý mới để có thêm cơ hội cho các doanh nghiệp lựa chọn Từ
đó, doanh nghiệp dựa trên cơ sở thực tiễn của công ty, xem xét kinh nghiệm quản lý từ
Trang 30các doanh nghiệp đi trước, vận dụng sáng tạo đổi mới để từ đó xây dựng được mô hình hoàn chỉnh và hiệu quả
1.2.2 Đại hội đồng cổ đông
Luật công ty hiện đại của các dòng họ luật trên thế giới đều phân chia quyền lực trong CTCP, tức là thẩm quyền quyết định các vấn đề liên quan đến công ty, giữa các
cổ đông và người quản lý công ty Những lý thuyết quan trọng về sự phân chia quyền lực trong công ty hiện đại đã xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ trước Các học giả
về luật công ty hiện đại quan tâm đến sự phân tách giữa sở hữu và quản lý, đặc biệt trong các CTCP có nhiều cổ đông, nơi mà các cổ đông chỉ quan tâm đến giá trị cổ phiếu trên thị trường, cùng với một quyền rất quan trọng là lựa chọn các nhà quản lý mang lại giá trị cao nhất có thể cho cổ phần của họ Cũng từ đó, các lý thuyết về đại diện đã xuất hiện để lý giải mối quan hệ giữa các cổ đông và các nhà quản lý, người ta bàn nhiều về bản chất mối quan hệ giữa cổ đông với người quản lý công ty, việc làm thế nào để hạn chế các hành vi tư lợi của người quản lý và bảo vệ lợi ích cho nhà đầu
tư Và trong một số trường hợp, để bảo vệ tốt nhất quyền lợi của chính mình, các cổ đông tự nói lên tiếng nói của bản thân, tham gia biểu quyết đối với một số vấn đề quan
trọng trong công ty
Nhìn vào mô hình quản lý điều hành CTCP có thể thấy CTCP có 4 trung tâm quyền lực: ĐHĐCĐ, HĐQT, Ban GĐ và BKS Trong đó, ĐHĐCĐlà cơ quan tập thể, không làm việc thường xuyên mà chỉ tồn tại trong thời gian họp Theo Luật công ty
1990, ĐHĐCĐ có ba loại: Đại hội đồng thành lập, Đại hội đồng thường niên và Đại hội đồng bất thường Tuy nhiên, theo LDN 1999, LDN 2005 và LDN 2014, ĐHĐCĐ chỉ bao gồm ĐHĐCĐ thường nhiên và ĐHĐCĐ bất thường ĐHĐCĐ là cơ quan quyết định cao nhất của CTCP bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết Trong CTCP, đây được xem là cơ quan đại diện quyền lực của những người góp vốn, là nơi phản ánh tập trung nhất quyền lực của các cổ đông Với ý nghĩa đó, ĐHĐCĐ có quyền quyết định hầu hết những vấn đề trọng đại của công ty, như: (i) Quyết định về số phận công ty (ĐHĐCĐ có quyền thông qua định hướng phát triển công ty, quyết định tổ chức lại, giải thể công ty, quyết định việc sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty - một văn bản pháp lý đóng vai trò quan trọng nhất trong toàn bộ quá trình tồn tại và hoạt động của công ty); (ii) Quyết định về tài chính công ty (quyết định về việc phát hành/chào
Trang 31bán/mua lại cổ phần; mức cổ tức; đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị lớn của công ty ); (iii) Quyết định thành lập, bãi bỏ các cơ quan quan trọng trong công ty (bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT, thành viên BKS; đồng thời có quyền xem xét và
xử lý các vi phạm của HĐQT, BKS gây thiệt hại cho công ty và cổ đông)
ĐHĐCĐ họp thường niên một năm một lần, trong một số trường hợp có thể tiến hành họp bất thường để quyết định các vấn đề quan trọng của công ty và ra quyết định trên cơ sở biểu quyết tại cuộc họp hoặc lấy ý kiến của các cổ đông có quyền biểu quyết bằng văn bản hay hình thức khác hợp lệ Điều kiện tiến hành họp thường niên hay bất thường đều phải tuân thủ các quy định về thủ tục triệu tập, quyền triệu tập, trình tự thủ tục tại cuộc họp và thông qua các nghị quyết, quyết định
Với vai trò bảo vệ tốt nhất quyền lợi của các nhà đầu tư, ĐHĐCĐ thể hiện quyền lực trong việc chấp nhận hay không chấp nhận một số giao dịch đặc biệt Để tiến hành hoạt động, CTCP tất yếu phải thiết lập các giao dịch với các chủ thể khác nhau Trong các giao dịch, có thể có những giao dịch chứa đựng khả năng xung đột về quyền lợi
mà trong khoa học pháp lý thường gọi là “giao dịch tư lợi” Những quy định về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong CTCP theo quy định hiện hành gồm những nội dung sau:
Xác định các giao dịch dễ phát sinh tư lợi
LDN 2014 đã xác định các giao dịch liên quan đến tài sản có giá trị lớn và giao dịch của công ty với một số chủ thể nhất định là hai nhóm giao dịch phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của các cổ đông trong công ty8
Thứ nhất, những giao dịch có liên quan đến tài sản có giá trị lớn
Đây là loại giao dịch cần thiết phải được kiểm soát vì nó có ảnh hưởng đến sự tồn tại của doanh nghiệp Các loại giao dịch này có thể mang lại lợi nhuận lớn cho công ty nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn rủi ro lớn so với các loại giao dịch khác Vậy nên cần xây dựng một cơ chế kiểm soát tốt các loại giao dịch này một mặt để gia tăng lợi nhuận, tối đa hóa hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty, mặt khác có thể hạn chế được những thiệt hại về kinh tế có nguy cơ phát sinh Đối với những giao dịch
học, số 9/2010
Trang 32này, quyết định thông qua/ký kết hay không thuộc về tập thể Để xác định giá trị lớn cũng như quyết định trong các giao dịch, trước hết sẽ do chính công ty quyết định thông qua quy định trong điều lệ của công ty (Cá nhân/tổ chức/bộ phận nào có quyền quyết định? Phạm vi quyết định giao dich nào? Có giá trị bao nhiêu? Hình thức như thế nào? Chế độ trách nhiệm ra sao?); nếu điều lệ công ty không đề cập đến sẽ áp dụng mức do LDN quy định Đây là quy định thể hiện sự tôn trọng quyền của các cổ đông công ty đối với việc định đoạt tài sản trong doanh nghiệp Theo LDN 2014, ĐHĐCĐ hoặc HĐQT sẽ là những cơ quan bộ phận quyết định đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị lớn theo một tỷ lệ nhất định
Thứ hai, các giao dịch của công ty với một số chủ thể đặc biệt
Những chủ thể đặc biệt đó có thể là cổ đông công ty, người quản lý công ty, người có liên quan của doanh nghiệp,… Cổ đông hay người tham gia quản lý doanh nghiệp là những người chủ sở hữu doanh nghiệp, người điều phối hoạt động của doanh nghiệp, cũng chính là người trực tiếp hoặc gián tiếp có quyền trong việc thiết lập các giao dịch của doanh nghiệp với các chủ thể khác hay có cơ hội tiếp cận và nắm bắt những thông tin nội bộ Khi tiến hành giao dịch với các chủ thể này dễ dàng phát sinh những xung đột về lợi ích, có cơ hội để nảy sinh những hành vi bất chính trục lợi cho mình hoặc cho những người có liên quan đến họ gây ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của công ty Do đó việc kiểm soát các giao dịch có yếu tố đặc biệt này là cần thiết và quan trọng trong công tác quản lý và điều hành công ty
Có thể thấy các giao dịch giữa công ty với các cổ đông hoặc giữa công ty với những người quản lý công ty và những người liên quan đã được xác định rõ ràng theo quy định của luật Để thực hiện tốt công tác giám sát đối với loại giao dịch đặc biệt này, khi soạn thảo điều lệ hoặc quy chế quản lý nội bộ, bên cạnh việc yêu cầu các chủ thể thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định, không vi phạm điều cấm, cần xây dựng cụ thể cơ chế giám sát để phát hiện được những dấu hiệu có nguy cơ gây ảnh hưởng đến lợi ích của công ty Bên cạnh các quy định của pháp luật, công ty cũng cần quy định một cách chặt chẽ, ràng buộc trách nhiệm vật chất của các đối tượng trong điều lệ công
ty hoặc quy chế quản lý nội bộ để thực hiện tốt việc kiểm soát các loại giao dịch này Một số biện pháp kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong CTCP là:
Trang 33Thứ nhất, tất cả các giao dịch, hợp đồng được xác định là có giá trị lớn hoặc
được giao kết giữa công ty với người có liên quan đều chịu các cơ chế kiểm soát chặt chẽ Có thể thấy, những giao dịch giá trị lớn trong công ty có được thực hiện hay không đều do các cổ đông có quyền biểu quyết quyết định mà không trao quyền quyết định này cho người đại diện theo pháp luật của công ty Quy định này nhằm ngăn chặn người đại diện có thể nảy sinh ý đồ tư lợi, gây thiệt hại lớn về tài sản cho công ty và các chủ nợ, cổ đông khác của công ty Ngoài ra, Luật quy định khi thông qua quyết định đối với các giao dịch có giá trị tài sản lớn thì yêu cầu số phiếu đại diện cho tỉ lệ %
số cổ phần có quyền biểu quyết cao hơn khi thông qua các quyết định khác
Thứ hai, pháp luật quy định về chế độ công khai hóa thông tin: Đối với các giao
dịch giữa công ty với một số chủ thể nhất định thì thông thường người đại diện theo pháp luật của công ty phải công khai hoá các nội dung về hợp đồng, giao dịch đó theo trình tự nhất định; thành viên HĐQT và những người quản lý khác trong CTCP phải
có trách nhiệm thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho công ty về các doanh nghiệp
mà họ và người có liên quan của họ làm chủ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối….Việc công khai hoá sẽ giúp công ty loại trừ các nguy cơ có thể bị một số đối tượng lợi dụng
để tư lợi Vì khi có thông báo công khai thì các cổ đông còn lại trong công ty sẽ phát hiện, giám sát và ngăn chặn kịp thời các ý đồ tư lợi trong các giao dịch đó Nếu cổ đông nghi vấn hoặc phát hiện ra giao dịch có ý đồ tư lợi thì có quyền phản đối, không thông qua các giao dịch đó và về nguyên tắc thì tất cả các giao dịch này chỉ được giao kết sau khi có sự đồng ý của công ty thông qua các cơ quan có thẩm quyền trong công
ty
Thứ ba, Quy định quyền và trách nhiệm của cổ đông và người quản lý công ty
để có thể kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi Ngoài quyền tham dự họp ĐHĐCĐ, LDN quy định cổ đông còn có quyền kiểm soát các giao dịch có nguy
cơ phát sinh tư lợi thông qua việc: Xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, sổ biên bản họp ĐHĐCĐ và các nghị quyết của ĐHĐCĐ; Cổ đông có quyền khởi kiện đối với thành viên HĐQT, GĐ/TGĐ công ty khi không thực hiện đúng nghĩa
vụ, gây thiệt hại đến lợi ích công ty hoặc cổ đông Bên cạnh đó, LDN 2014 cũng quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của các cổ đông, người quản lý công ty nhằm ngăn ngừa, hạn chế các giao dịch tư lợi trong công ty Chẳng hạn: (i) Quy định về chế độ chịu
Trang 34trách nhiệm của những người thực hiện giao dịch (ii) Quy định về nghĩa vụ trung thực, trung thành với lợi ích của công ty (iii) Quy định về chế độ công khai hóa thông tin
Thứ năm, LDN 2014 còn đưa ra chế tài để xử lý các hành vi vi phạm cơ chế
kiểm soát giao dịch nói trên Theo đó: (i) Các hợp đồng, giao dịch khi được giao kết không đúng quy định của pháp luật sẽ bị vô hiệu và bị xử lý theo quy định của pháp luật; (ii) Người ký kết hợp đồng, cổ đông, thành viên HĐQT hoặc GĐ/TGĐ có liên quan phải bồi thường thiệt hại phát sinh, hoàn trả cho công ty các khoản lợi thu được
từ việc thực hiện hợp đồng, giao dịch đó
số lượng thành viên tối thiểu Chẳng hạn như, Trung quốc quy định số thành viên HĐQT từ 5 đến 19 thành viên; Thái Lan ít nhất là 15 thành viên, không quy định tối đa; Châu Âu, Châu Mỹ luật pháp thường quy định số lượng tối thiểu là 3 thành viên…Về số lượng thành viên HĐQT theo quy định của pháp luật Việt Nam có thể thấy là phù hợp với thông lệ quốc tế Về nhiệm kỳ: nhiệm kỳ của HĐQT là 5 năm, nhiệm kỳ của thành viên HĐQT không quá 5 năm, thành viên HĐQT có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế Với vị trí là cơ quan thường trực, nắm giữ quyền quản lý công ty, HĐQT có quyền: (i) Kiến nghị một số vấn đề liên quan đến cổ phần,
cổ tức, tổ chức lại/giải thể/phá sản công ty; (ii) quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển kinh doanh công ty; phương án đầu tư; chào bán/mua lại cổ phần trong phạm vi thẩm quyền; một số nội dung liên quan đến cơ cấu tổ chức; các hợp đồng, giao dịch trong phạm vi thẩm quyền; (iii) Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức một số chức vụ trong hoạt động tổ chức, quản lý, điều hành công ty Về cơ chế hoạt động, HĐQT là
cơ quan không thường trực làm việc theo chế độ tập thể, thông qua các cuộc họp Đứng đầu HĐQT là chủ tịch HĐQT Các cuộc họp của HĐQT phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục tiến hành cuộc họp và thông qua các quyết định
Trang 351.2.4 Giám đốc hoặc Tổng giám đốc
GĐ/TGĐ là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty Với chức năng đó, GĐ/TGĐ được xem là người quản lý doanh nghiệp, có các nghĩa vụ chung của người quản lý doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trong tư cách đó Hoạt động của GĐ/TGĐ được đại hội thường niên của ĐHĐCĐ xem xét trên cơ sở báo cáo đánh giá công tác quản lý, điều hành công ty Khác với pháp luật Việt Nam, pháp luật công ty của các nước Anh – Mỹ không có quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của TGĐ Quyền lực của TGĐ sẽ do Hội đồng giám đốc quyết định trên cơ sở ủy nhiệm, vì thế, không phải các TGĐ đều có quyền lực như nhau Còn trong mô hình quản trị CTCP theo luật Việt Nam và Luật Công ty 2005 của Trung Quốc thì Tổng giám đốc CTCP xuất hiện như một cơ quan trong bộ máy quản lý, với các quyền và nghĩa vụ do luật định mà các cổ đông hay HĐQT chỉ có thể trao thêm chứ không được hạn chế quyền Theo đó, GĐ/TGĐ có các quyền quan trọng để thực hiện hoạt động điều hành công ty: (i) Quyết định các vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh hàng ngày; (ii) Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty; (iii) Kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty; (iv) Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công ty ; Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật, Điều lệ công ty và quyết định của HĐQT Nhìn vào nhiệm vụ, quyền hạn của GĐ có thể thấy: Thẩm quyền của GĐ chủ yếu thiên về điều hành, triển khai thực hiện quyết định của HĐQT và GĐ/TGĐ có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của công ty, trong việc chỉ đạo, giám sát hoạt động của công tỵ
1.2.5 Ban kiểm soát
Mô hình quản trị CTCP theo cấu trúc hội đồng đơn kiểu Anh-Mỹ không có một
cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ giám sát những người quản lý – điều hành công ty như BKS trong LDN Việt Nam và luật công ty Trung Quốc hay như hội đồng giám sát trong mô hình hội đồng hai tầng của Đức Theo quy định hiện hành tại Việt Nam, đối với CTCP có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc cổ đông là tổ chức nắm giữ hơn 50% vốn điều lệ công ty phải có BKS Nếu tạm coi CTCP là một “nhà nước” thu nhỏ, thì đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) đóng vai trò là cơ quan lập pháp – nơi quyết định
Trang 36phương hướng phát triển và những vấn đề trọng đại khác của công ty; HĐQT và BGĐ được coi là cơ quan hành pháp – nơi điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày; còn BKS đóng vai trò của cơ quan tư pháp9.Theo đó, BKS là cơ quan thay mặt thành viên,
cổ đông công ty kiểm soát các hoạt động của công ty; BKS chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ, thực hiện giám sát HĐQT và Ban GĐ trong việc quản lý công ty, kiểm tra tính hợp pháp, trung thực và mức độ cẩn trọng trong hoạt động kinh doanh, thẩm định báo cáo, xem xét tài liệu, các hoạt động của công ty BKS chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ trong thực hiện các nhiệm vụ được giao Mối quan hệ giữa BKS với HĐQT, Ban GĐ là mối quan hệ giữa cơ quan giám sát và cơ quan chịu sự giám sát. BKS có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật
1.3 Các căn cứ để tổ chức, quản lý, điều hành công ty cổ phần
Việc tổ chức quản lý, điều hành CTCP cần phải dựa trên những căn cứ nhất định làm cơ sở nền tảng lý luận và thực tiễn cho hoạt động của mình Các căn cứ đó bao gồm các văn bản pháp luật và điều lệ công ty với các điều khoản bắt buộc và điều khoản tùy nghi; nhiệm vụ của doanh nghiệp là đảm bảo tuân thủ và vận dụng kết hợp sáng tạo giữa quy định chung và quy định riêng, những nguyên tắc bắt buộc và những
gì mà pháp luật cho phép để thiết kế được bộ máy quản lý công ty lý tưởng mang lại hiệu quả cao
1.3.1 Văn bản pháp luật về tổ chức quản lý, điều hành công ty cổ phần
Pháp luật về tổ chức quản lý, điều hành CTCP được quy định cụ thể trong LDN
và các văn bản hướng dẫn thi hành LDN Bên cạnh đó, đối với một số công ty hoạt động trong một số lĩnh vực đặc thù, vấn đề tổ chức quản lý, điều hành công ty được
cụ thể hóa hơn trong các văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật chứng khoán, Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm Trường hợp Luật chuyên ngành có quy định đặc thù về việc đề tổ chức quản lý, điều hành công ty thì phải ưu tiên áp dụng quy định của Luật đó Với một số nội dung
cụ thể trong quá trình thực hiện hoạt động này, nếu luật chuyên ngành không điều chỉnh, không đề cập đến, LDN sẽ được áp dụng để giải quyết các vấn đề trên Về cơ
9
TRẦN THANH TÙNG – Văn phòng Luật sư Phuoc & Partners VAI TRÒ CỦA BAN KIỂM SOÁT TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN http://www.tinkinhte.com/nd5/detail/luat/phan-tich-thao-luan/vai-tro-cua-ban-kiem-soat- trong-cong-ty-co-phan/37651.021151.html
Trang 37bản, LDN là văn bản pháp lý áp dụng chung cho các loại hình công ty hoạt động trong các lĩnh vực, là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất Trước khi tìm hiểu các văn bản hướng dẫn hay luật chuyên ngành, các nhà quản lý cần nắm bắt và tìm hiểu kỹ các quy định trong LDN về tổ chức quản lý, điều hành công ty để có một cách hiểu bao quát nhất
1.3.2 Điều lệ hoạt động của công ty
Trong hệ thống các căn cứ làm cơ sở cho hoạt động tổ chức quản lý, điều hành CTCP, nếu như LDN giữ vai trò nền tảng; Luật chuyên ngành giữ vai trò bổ trợ; thì Điều lệ công ty được coi là luật riêng của mỗi công ty, đóng vai trò điều chỉnh chủ chốt Về nguyên tắc các quy định trong Điều lệ công ty được phát triển theo hướng chi tiết hóa, vận dụng khả năng sáng tạo của các nhà quản lý, các cam kết của các thành viên trong công ty để xây dựng những quy định phù hợp với doanh nghiệp của mình; nội dung điều lệ không trái với quy định trong các VBPL điều chỉnh Nội dung điều lệ phải đảm bảo có đầy đủ các thông tin liên quan tới tên, trụ sở chính của công ty, ngành nghề kinh doanh, vốn điều lệ, cơ cấu tổ chức quản lý, người đại diện theo pháp luật và một số quy định quan trọng khác Khi có quyết định xây dựng hay sửa đổi bộ máy tổ chức quản lý, điều hành công ty đòi hỏi các chủ thể có quyền phải tôn trọng quy định trong điều lệ công ty Trường hợp quyết định theo một nội dung khác so với quy định trong điều lệ, khi đó cơ quan có thẩm quyền cần ra quyết định sửa đổi, bổ sung điều lệ Nội dung sửa đổi vẫn trong phạm vi quy định được pháp luật cho phép Đóng vai trò là nguồn cho hoạt động tổ chức quản lý, điều hành CTCP; LDN và các văn bản pháp luật hướng dẫn LDN, các văn bản pháp luật chuyên ngành là tiền đề, cơ sở cho việc hình thành Điều lệ; Điều lệ công ty tác động ngược lại, góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về nội dung trên Vận dụng linh hoạt mối quan hệ bổ trợ và sự tương tác qua lại của hai nguồn cơ sở này, các nhà quản lý sẽ thực hiện tốt vai trò của mình trong quá trình thực hiện các chức năng
Việc áp dụng điều lệ công ty để giải quyết các vấn đề nội bộ công ty nói chung
và các tranh chấp phát sinh trong công ty nói riêng một mặt thể hiện việc tôn trọng quyền tự do thỏa thuận giữa các thành viên trong công ty; mặt khác giúp các chủ thể thực hiện hoạt động quản lý, điều hành chủ động trong việc xử lý các vấn đề phát sinh Thứ tự áp dụng các căn cứ trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý, ưu tiên điều lệ
Trang 38công ty áp dụng trước Trường hợp Điều lệ công ty không quy định hoặc quy định trái
so với quy định của pháp luật thì áp dụng các văn bản pháp luật điều chỉnh Như vậy, với công cụ hữu hiệu trong tay là Điều lệ công ty, các chủ thể quản lý sẽ rất chủ động trong việc thực hiện công việc của mình một cách nhanh gọn và hiệu quả Do đó, tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật, nghiên cứu các tài liệu về hoạt động tổ chức quản lý điều hành công ty để xây dựng một bản điều lệ phù hợp sẽ là tiền đề giúp cho các nhà quản lý công ty thực hiện tốt chức năng của mình
Trang 39CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ CÁCH THỨC TỔ CHỨC, QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014
Ở Việt Nam, thời kỳ hệ thống các công ty chịu sự điều chỉnh của LDN 2005, cơ cấu tổ chức quản lý CTCP gồm có: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát.10 Có thể sơ đồ hóa mô hình này như sau:
Như vậy, LDN 2005 đã quy định cố định một mô hình tổ chức quản lý công ty cổ phần, đó là mô hình đa hội đồng (Hội đồng hai cấp) Trong thực tiễn, mô hình quản lý CTCP theo mô hình hội đồng hai cấp ít được học hỏi và áp dụng trên thế giới Trong khu vực châu Âu, cho đến nay chỉ còn vài quốc gia lựa chọn mô hình quản trị hội đồng hai cấp là Áo, Thụy Sĩ, Hà Lan; một số nước khác tiếp nhận ở mức độ hạn chế mang
Trang 40tính tự nguyện như Đan Mạch, Lucxembourg và Thụy Điển.11 Việc áp dụng duy nhất một mô hình quản lý đa hội đồng không còn phù hợp với sự đa dạng của doanh nghiệp
về quy mô, tính chất sở hữu và sự đa dạng, sáng tạo trong cách thức quản trị công ty Bên cạnh đó, mô hình quản lý đa hội đồng làm tăng chi phí của doanh nghiệp trong hoạt động quản lý công ty Có những trường hợp BKS lập ra mang tính hình thức chỉ với mục đích tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật, thực tế thì hoạt động không hiệu quả Trong khi đó, DN vẫn phải bỏ ra chi phí thành lập, duy trì hoạt động của cơ quan này Xét một khía cạnh khác, việc áp đặt cấu trúc quản lý CTCP của mình cho các nhà đầu tư có thể sẽ dẫn đến việc hạn chế tính cạnh tranh trong thu hút đầu tư nước ngoài Vì vậy, nhiều quốc gia đã cho phép DN được lựa chọn một cách linh hoạt hơn
Ở một số nước phát triển như nước Pháp, Ý đã ban hành đạo luật cho phép các công ty lựa chọn cấu trúc quản lý trong số các mô hình được pháp luật quy định trên cơ sở các mẫu hình phổ biến trên thế giới Ví dụ, CTCP của Pháp có thể lựa chọn một trong ba
mô hình quản lý: (i) Mô hình hội đồng kép kiểu Đức, (ii) Mô hình hội đồng đơn với sự phân tách hai chức vụ chủ tịch và tổng giám đốc, (iii) Mô hình hội đồng đơn với chức chủ tịch Theo một khuyến nghị của Ủy ban Châu Âu từ năm 2001 - Statute of the European Public Company (Societas of Europeca) of 2001, Ủy ban Châu Âu dành cho các nước thành viên lựa chọn mô hình quản lý nội bộ một cấp, hai cấp hoặc nhiều hơn nữa, ví dụ lựa chọn thêm mô hình của Pháp có thể lựa chọn thêm Ủy ban thanh tra trong công ty.12 Do đó, vấn đề sửa đổi các quy định mang tính hạn chế quyền tự do, tính chủ động của DN khi thực hiện hoạt động quản lý, điều hành công ty; soạn thảo quy định mới phù hợp đối với thông lệ quốc tế là một yêu cầu đặt ra đối với LDN
2005
Với một tư duy mở, LDN 2014 có điểm mới đáng được ghi nhận Theo đó,
CTCP có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác: (i) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát; (ii) Đại hội
11
Comparative study of Corporate governance codes relevant to the European union and its members states, tr3
Việt Nam" Tạp chí nghiên cứu lâp pháp số 79/2006