Bên cạnh đó, với những truyền thống pháp luật khác nhau, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, tập quán kinh doanh không đồng nhất, chế định hợp đồng thương mại của các nước còn có sự khá
Trang 1BOUNTEM BOUASYPHAN
ĐỀ TÀI CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT CỦA LÀO VÀ KINH
NGHIỆM CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60380107
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ YẾN
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
BOUNTEM BOUASYPHAN
Trang 3Từ viết tắt Tên đầy đủ
CHDCND Cộng hoà dân chủ nhân dân
Trang 4MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI 7
1.1 Khái quát về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 7
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 7 1.1.2 Các loại chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 12
1.2 Khái quát về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 15
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 15 1.2.2 Vai trò của chế tài phạt vi phạm và ưu điểm của chế tài phạt vi phạm hợp đồng so với các hình thức chế tài khác trong lĩnh vực thương mại 18
1.3 Khái quát pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 24
1.3.1 Nguồn pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại 24 1.3.2 Nội dung cơ bản và những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng các quy định pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 29
Tiểu kết chương 1 32 Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
VỀ CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI
VÀ KINH NGHIỆM CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM 33
2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 33 2.2 Thực trạng quy định pháp luật Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại………36
2.2.1 Căn cứ áp dụng phạt vi phạm hợp đồng 36 2.2.2 Mức phạt vi phạm 39
Trang 52.4 Kinh nghiệm từ việc nghiên cứu pháp luật Việt Nam về chế tài phạt vi
phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 55
Tiểu kết chương 2 59
Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT CỦA NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 60
3.1 Những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 60
3.1.1 Phù hợp với đường lối xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay 60
3.1.2 Đảm bảo sự thống nhất của các văn bản pháp luật 61
3.1.3 Đảm bảo sự bình đẳng của các bên trong quan hệ hợp đồng 62
3.1.4 Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 62
3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 63
3.2.1 Cần làm rõ đặc điểm của chế tài phạt vi phạm 63
3.2.2 Bổ sung một điều khoản cụ thể quy định về căn cứ để áp dụng chế tài phạt vi phạm 64
3.2.3 Nên cho phép các bên tự do thỏa thuận mức phạt vi phạm 65
3.2.4 Nên trao thẩm quyền cho Tòa án có thể hạ mức phạt vi phạm của các bên nhưng có căn cứ xác định cụ thể 66
3.2.5 Bổ sung quy định về các trường hợp miễn trừ trách nhiệm 68
Tiểu kết chương 3 71
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao cấp tồn tại và phát triển trong một thời gian dài khi nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào) loay hoay tìm hướng đi phát triển đất nước Khi đã xác định con đường cải cách, bước sang nền kinh tế thị trường, do được thiết lập trên nền tảng pháp lý của quyền tự do kinh doanh, quan hệ thương mại và đầu tư
có phương thức hình thành chủ yếu là thông qua quan hệ hợp đồng Sự thoả thuận, thống nhất ý chí một cách tự nguyện, bình đẳng giúp cho các bên cùng
có cơ hội tìm kiếm lợi nhuận và thực hiện các mục tiêu nghề nghiệp của mình Pháp luật hợp đồng với sứ mệnh là nền tảng pháp lý của mọi sự thoả thuận tự nguyện luôn đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập các quan hệ hợp đồng bình đẳng, an toàn cùng có lợi cho tổ chức, cá nhân
Là chế định có lịch sử phát triển lâu đời trong khoa học pháp lý và thời gian gần đây, dưới sự tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa, chế định hợp đồng thương mại của các quốc gia đã có nhiều nét tương đồng Bên cạnh
đó, với những truyền thống pháp luật khác nhau, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, tập quán kinh doanh không đồng nhất, chế định hợp đồng thương mại của các nước còn có sự khác biệt về quan niệm, nguồn điều chỉnh quan hệ hợp đồng cũng như một số nội dung cụ thể của chế định này Với vị trí và vai trò
to lớn của hợp đồng thương mại, việc quan tâm đến hợp đồng thương mại thật
sự là một điều rất cần thiết trong quá trình phát triển hiện nay Bên cạnh việc quan tâm đến nội dung, hình thức của hợp đồng thương mại, một vấn đề cũng rất quan trọng cần phải được quan tâm đến là việc thỏa thuận, áp dụng các chế tài trong hợp đồng thương mại, trong đó có Phạt vi phạm hợp đồng Phạt vi phạm hợp đồng lần đầu tiên được ghi nhận một trong những hình thức chế tài được ghi nhận tại Luật hợp đồng Lào 1990 Sau đó, cùng với những sửa đổi trong Luật Doanh nghiệp Lào 2005 cũng như Luật giải quyết tranh chấp hợp
Trang 7đồng 2005, Lào đã ban hành Luật Hợp đồng và Xử lý vi phạm số 01/NA năm
2008 (gọi tắt là Luật Hợp đồng và Xử lý vi phạm Lào năm 2008) Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế Lào đã có nhiều thay đổi, đặc biệt cùng với sự gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, mở cửa hội nhập thế giới, thì các quy định của Luật Hợp đồng và Xử lý vi phạm Lào năm 2008 về các hình thức chế tài nói chung, về chế tài phạt vi phạm hợp đồng nói riêng đã bộc lộ nhiều hạn chế Tiếp nhận sự đổi mới của hệ thống pháp luật về hợp đồng trong những năm gần đây, nhu cầu hoàn thiện các quy định về vấn đề chế tài trong thương mại nói chung, phạt vi phạm hợp đồng nói riêng ngày càng trở nên bức thiết nhằm ổn định các quan hệ hợp đồng, nhất là khi Lào đã
tham gia vào “sân chơi” quốc tế về các vấn đề thương mại
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, tôi đã quyết định lựa chọn
“Chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại theo pháp luật của Lào và kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ, với hi
vọng góp phần hoàn thiện các quy định quan trọng trong lĩnh vực thương mại này của Lào
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu về chế định hợp đồng nói chung và phạt vi phạm hợp đồng nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu tập trung tìm hiểu ở các khía cạnh khác nhau Trong đó:
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu này tồn tại dưới các hình thức
đa dạng khác nhau từ sách, giáo trình đến các bài báo, tạp chí với nhiều khía cạnh khác nhau liên quan tới trách nhiệm hợp đồng: (i) Nghiên cứu về hợp
đồng nói chung: Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam, Nxb Tư pháp; Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng Việt Nam - Phần chung, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội; Nguyễn Như Phát, Lê Thị Thu Thủy (2003), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay, Nxb Công an nhân dân…; (ii)
Trang 8Nghiên cứu về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại: Nguyễn Thị Dung
(2001), Áp dụng trách nhiệm hợp đồng trong kinh doanh, Sách tham khảo, Nxb Chính trị quốc gia; Nguyễn Thị Dung (1999), Trách nhiệm hợp đồng theo qui định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Luật Thương mại, Luận văn
thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Hoàng Thị Hà Phương (2012),
Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại - Những vấn đề lý luận và thực tiễn,
Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Đào Thị Ngọc Ánh
(2009), Các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại, Khoá luận tốt
nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội…; (iii) Nghiên cứu về phạt vi phạm hợp đồng thương mại: Đỗ Văn Đại (2007), “Phạt vi phạm hợp đồng trong pháp
luật thực định Việt Nam”, Tạp chí Toà án nhân dân, Toà án nhân dân tối cao,
Số 19/2007, tr 12 – 25; Nguyễn Việt Khoa, “Chế tài phạt vi phạm hợp đồng
theo Luật thương mại năm 2005”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng
Quốc hội, Số 15/2011, tr 46 – 51; Đỗ Văn Đại, Lê Thị Diễm Phương (2012),
“Về khái niệm và giảm mức phạt vi phạm hợp đồng”, Tạp chí Khoa học pháp
lý Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Số 3/2012, tr 71 – 80;
Đồng Thái Quang, “Chế tài phạt vi phạm hợp đồng theo Luật thương mại
2005 - Một số vướng mắc về lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân tối cao, Số 20/2014, tr 19 – 26; Lê Thị Hiên (2012), Chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng theo Luật Thương mại năm 2005, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Thu Hương (2015), Chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, Khóa luận tốt nghiệp,
Trường Đại học Luật Hà Nội …;
Tại Lào, nghiên cứu về chế tài do vi phạm hợp đồng nói chung, phạt vi phạm hợp đồng nói riêng chưa được quan tâm nghiên cứu Do đó, các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này hầu như tồn tại dưới các bài viết
tạp chí, trong đó có thể kể đến: BunNhăng VoLaChít (2011), “Trách nhiệm hợp đồng trong Luật hợp đồng”, Tạp chí A-LunMay, tháng 11/2011; Okeo
Trang 9PhômMa Kon (2012), “Một số vấn đề về chế tài do vi phạm hợp đồng trong
cơ chế thị trường”, Tạp chí KoSáng Phăk số 02 năm 2012; PhănKhăm ViPhaVân (2014), “Một số suy nghĩ về việc hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh doanh trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí A-LunMay tháng 04/2014;
Những công trình nghiên cứu trên đây chủ yếu tập trung nghiên cứu về vấn đề hợp đồng nói chung cũng như vấn đề các chế tài áp dụng do vi phạm hợp đồng Còn các vấn đề nghiên cứu về phạt vi phạm hợp đồng, hầu hết mới tồn tại dưới dạng các bài tạp chí (ở cả Việt Nam và Lào) Vì vậy, các công trình này, hầu hết mới chỉ nghiên cứu ở một góc độ nào đó về vấn đề phạt vi phạm hợp đồng Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học về vấn đề phạt vi phạm hợp đồng theo pháp luật của nước CHDCND Lào hay pháp luật Việt Nam Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu và đúc rút các bài học kinh nghiệm từ pháp luật Việt Nam và đề xuất các kiến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật phạt vi phạm hợp đồng của nước CHDCND Lào trong giai đoạn hiện nay Do đó, việc nghiên cứu đề tài càng có ý nghĩa quan trọng hơn
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn này tập trung phân tích các quy
định pháp lý về khái niệm, đặc điểm của chế tài phạt vi phạm, những vấn đề liên quan đến phạt vi phạm về quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định phạt vi phạm tại nước CHDCND Lào và một số ý kiến nhằm làm sáng tỏ những vấn đề pháp lý về phạt vi phạm trong pháp luật Lào
* Phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài này, người viết chỉ tập trung
nghiên cứu chế tài phạt vi phạm được quy định trong Luật Hợp đồng và Xử lý
vi phạm số 01/NA năm 2008 của nước CHDCND Lào, đồng thời người viết cũng dựa vào Luật Thương mại 2005 của Việt Nam để làm rõ chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng của Việt Nam để rút ra bài học kinh nghiệm cho Lào
Trang 104 Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm nắm rõ khái niệm về chế tài và phân loại chế tài thương mại Hiểu và nắm được các quy định của pháp luật về việc áp dụng phạt vi phạm, các điều kiện áp dụng của phạt vi phạm, bên cạnh đó, nhận thức được sự khác nhau và giống nhau giữa chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại Giải quyết những vụ án liên quan đến chế tài phạt vi phạm, đưa ra phương hướng riêng để giải quyết những điểm chưa phù hợp của chế tài phạt vi phạm trong hoạt động thương mại
5 Các câu hỏi nghiên cứu
- Khái niệm về chế tài và phân loại chế tài? Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa chế tài phạt vi phạm thương mại?
- Quy định của pháp luật về việc áp dụng phạt vi phạm, các điều kiện
áp dụng của phạt vi phạm, bên cạnh đó, nhận thức được sự khác nhau và giống nhau giữa chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại?
- Thực tiễn giải quyết những vụ án liên quan đến chế tài phạt vi phạm ở nước CHDCND Lào?
- Bài học kinh nghiệm từ pháp luật Việt Nam?
- Phương hướng riêng để giải quyết những điểm chưa phù hợp của chế tài phạt vi phạm trong hoạt động thương mại
6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Tác giả đã nghiên cứu giải quyết đề tài Luận văn dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (Đảng NDCM Lào) về Nhà nước và pháp luật Trong quá trình nghiên cứu,
để làm rõ vấn đề được đặt ra, người viết sử dụng các phương pháp phương pháp sau đây: (i) Phương pháp phân tích luật viết được sử dụng để tìm hiểu các quy định của pháp luật Lào hiện hành; (ii) Phương pháp so sánh, đối chiếu được vận dụng để đối chiếu với các quy định của pháp luật khác có liên
Trang 11quan (đặc biệt là pháp luật Việt Nam); (iii) Phương pháp chứng minh được sử dụng để đưa ra những dẫn chứng cụ thể; (iv) Phương pháp tổng hợp, thống kê tài liệu như chương trình nhằm tìm kiểm, tra cứu và thu thập tài liệu
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Đề tài nghiên cứu về vấn đề phạt vi phạm hợp đồng một cách toàn diện
và có hệ thống trên cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật kinh doanh, hợp đồng kinh doanh và thương mại, miễn trách nhiệm phạt
vi phạm hợp đồng trong giai đoạn vừa qua So sánh một số điểm tương đồng
và khác biệt giữa miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Lào so với các quy định của Việt Nam cũng như Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Phân tích, luận giải các quy định về vấn đề miễn trách nhiệm phạt vi phạm hợp đồng thời phân tích các điểm bất cập của các quy định này trong tình hình hiện nay Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về phạt vi phạm hợp đồng, cụ thể cần sửa đổi những điều khoản nào của các văn bản pháp luật có liên quan
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế tài phạt trong vi phạm hợp đồng lĩnh vực thương mại
Chương 2: Thực trạng pháp luật Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại và kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện các quy định về pháp luật về chế tài vi phạm hợp đồng thương mại trong lĩnh vực thương mại theo pháp luật Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
1.1.1.1 Khái niệm
Trong nền kinh tế thị trường, hình thức pháp lý chủ yếu của các quan
hệ tài sản nói chung và các quan hệ kinh doanh nói riêng chính là hợp đồng
“Bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trên cơ sở tự do,
tự nguyện và bình đẳng”1 Tuy nhiên, một thoả thuận nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ được coi là hợp pháp khi được Nhà nước thừa nhận và đảm bảo thực hiện, tức là phải đảm bảo các yêu cầu về thẩm quyền giao kết; về mục đích, đối tượng giao kết; về hình thức của sự thoả thuận… đó chính là các quy định của pháp luật về hợp đồng Một thoả thuận đáp úng được các yêu cầu trên là một hợp đồng hợp pháp Trong quá trình thực hiện hợp đồng, không phải lúc nào các bên cũng thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ đã được thỏa thuận Do đó, các chế tài do vi phạm hợp đồng xuất hiện, như là một đảm bảo cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng
Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại là một loại chế tài phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, do đó để hiểu thế nào là chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại cần hiểu khái niệm chế tài
Chế tài là một khái niệm mang tính chất pháp lý, hiểu theo nghĩa hẹp
là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động
1
Bùi Ngọc Cường (2004), Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành ở Việt
Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.109
Trang 13mà nhà nước dự kiến để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh Các biện pháp tác động nêu ở bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật
sẽ được áp dụng đối với tổ chức hay cá nhân nào vi phạm pháp luật, không thực hiện đúng mệnh lệnh của Nhà nước đã nêu ở bộ phận quy định của quy phạm pháp luật Hiểu theo nghĩa rộng, chế tài là những hậu quả pháp lý bất lợi đối với bên vi phạm pháp luật
Chế tài là điều kiện đảm bảo cần thiết cho những quy định của nhà nước được thực hiện chính xác, triệt để Do vậy, các biện pháp nêu trong chế tài những biện pháp cưỡng chế gây hậu quả bất lợi đối với chủ thể vi phạm pháp luật Các hình thức chế tài rất đa dạng, có thể là những biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính trừng phạt có liên quan tới trách nhiệm pháp lý, báo gồm: chế tài hình sự, chế tài hành chính, chế tài dân sự; cũng có thể là những biện pháp chỉ gây cho chủ thể những hậu quả bất lợi như đình chỉ, bãi bỏ các văn bản sái trái của cơ quan cấp dưới, tuyên bố hợp đồng vô hiệu và các biện pháp khác
Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại là một hình thức chế tài, tuy nhiên, pháp luật các nước đều không đưa ra định nghĩa cụ thể thế nào là chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại hay chế tài thương mại Theo pháp luật Hoa Kỳ, vi phạm hợp đồng là hành vi của một bên không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ theo các điều kiện hợp đồng, Điều kiện hợp đồng (conditions) là bất kỳ điều kiện nào đã được các bên thoả thuận cụ thể trong hợp đồng hoặc được xác định áp dụng bằng những cách khác, ví dụ từ những thông lệ, tập tụng hoặc các quy phạm dự liệu khi các bên không thoả thuận (gap filling rules) Một sai lệch so với các điều kiện này đều được coi là
vi phạm hợp đồng Theo truyền thống thông luật, có thể chia vi phạm hợp đồng thành: từ chối thực hiện nghĩa vụ (anticipatory repudiation), không có khả năng thực hiện hợp đồng (disability of performance) và thực hiện không đầy đủ theo các điều kiện hợp đồng Pháp luật Hoa Kỳ không có khái niệm chế tài thương mại hay chế tài hợp đồng mà chỉ đưa ra các hình thức chế tài
áp dụng cho vi phạm hợp đồng bao gồm: đền bù thiệt hại, đền bù thiệt hại đã
Trang 14được ước trước, huỷ bỏ hợp đồng, yêu cầu thực hiện hợp đồng và chế tài do Toà án áp đặt nhằm sửa đổi hoặc xác định lại nội dung hợp đồng theo các nguyên tắc của luật công bình (injunction), trong đó, chế tài bồi thương thiệt hại là chế tài được áp dụng phổ biến nhất2
Điều 33 Luật Hợp đồng và Xử lý vi phạm Lào năm 2008 và Khoản 12 Điều 3 Luật Thương mại Việt Nam 2005 đều đưa ra khái niệm vi phạm hợp
đồng tương tự nhau, đó là: Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này Cùng với đó, Luật Hợp đồng và
xử lý vi phạm 2008 của Lào đã thiết lập nhằm thực hiện hiệu quả hợp đồng, đó
là chế tài phạt, cầm cố và bảo lãnh bằng tài sản của cá nhân và pháp nhân cùng chế tài bồi thường thiệt hại Còn Luật thương mại Việt Nam lại liệt kê các loại chế tài trong thương mại, bao gồm: buộc thực hiện đúng hợp đồng; đình chỉ thực hiện hợp đồng; huỷ bỏ hợp đồng; và các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế Như vậy, chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại là trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại, là
sự gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi của bên có hành vi vi phạm hợp đồng
Một cách khái quát có thể hiểu: chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại là hình thức chế tài áp dụng đối với các chủ thể không thực hiện hay thực hiện không đúng, không đầy đủ các cam kết theo hợp đồng, theo đó bên có hành vi vi phạm hợp đồng thương mại phải gánh chịu một hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi vi phạm của mình gây ra
Hoàng Thị Hà Phương (2012), Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại - Những vấn đề lý luận và thực
tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.12
Trang 15Thứ nhất, chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng Khác với trách nhiệm pháp lý nói chung
được áp dung đối với mọi vi phạm pháp luật, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong thương mại chỉ được áp dụng đối với những vi phạm pháp luật hợp đồng hay vi phạm những điều khoản mà các bên đã thoả thuận Xuất phát
từ nguyên tắc tự do hợp đồng đã được pháp luật thừa nhận, các bên được quyền tự do quyết định việc giao kết những hợp đồng trong thương mại phù hợp với mục đích kinh doanh của mình Chính vì vậy, trách nhiệm hợp đồng chủ yếu phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng (khi đã có hợp đồng và
các bên đã bị ràng buộc với nhau về quyền và nghĩa vụ)
Thứ hai, về căn cứ phát sinh Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
phát sinh trong lĩnh vực thương mại khi có hành vi vi phạm hợp đồng thương mại có hiệu lực pháp luật Khác với các loại chế tài pháp lý nói chung được
áp dụng đối với những hành vi vi phạm những điểu khoản trong hợp đồng mà các bên đã thoả thuận Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng, các bên tự nguyện quyết định việc giao kết những hợp đồng phù hợp với mục đích kinh doanh của mình Khi hợp đồng đã được ký kết hợp pháp, các bên sẽ ràng buộc với nhau về việc quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng, bên vi phạm các nghĩa vụ này sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi hay những chế
tài do vi phạm hợp đồng
Thứ ba, về tính chất Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại mang tính
tài sản rõ rệt: chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại buộc bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về tài sản Yếu tố tài sản thể hiện ở cách thức bên
vi phạm phải gắng chịu những hậu quả bất lợi như: bên vi phạm phải sử dụng tiền hoặc tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ nộp phạt vi phạm, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ các cam kết theo hợp đồng Việc nộp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại này được thực hiện theo sự thoả thuận của các bên và theo quy định của pháp luật; bên vi phạm
Trang 16cũng phải có những chi phí cần thiết để thực hiện đúng hợp đồng hay chịu những
hậu quả bất lợi nếu bên bị vi phạm đình chỉ hoặc huỷ bỏ hợp đồng
Thứ tư, việc áp dụng chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại cũng mang tính mền dẻo, linh hoạt và tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên
Khi bị vi phạm hợp đồng thương mại, bên vi phạm hợp đồng có quyền áp dụng chế tài đối với bên vi phạm theo thoả thuận trong hợp đồng và theo quy định pháp luật Như vậy, việc áp dụng chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại có thể được các bên thoả thuận trước trong hợp đồng (ví dụ như phạt vi phạm hợp đồng, các trường hợp vi phạm dẫn đến huỷ hợp đồng…) Hơn nữa, nếu xảy ra tranh chấp các bên có thể yêu cầu Toà án hay Trọng tài (khi có thoả thuận) giải quyết
Thứ năm, chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại có hình thức đa dạng và được áp dụng trực tiếp giữa các bên trong quan hệ hợp đồng Ví dụ,
Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 đã liệt kê có 6 hình thức chế tài cụ thể
do vi phạm hợp đồng thương mại và các hình thức khác do bên thoả thuận phù hợp với quy định pháp luật Để đảm bảo nguyên tắc tự do kinh doanh, tự
do hợp đồng, khi các bên tự nguyên thiết lập quan hệ hợp đồng thì nghĩa vụ hợp đồng và nghĩa vụ trực tiếp giữa các bên Do đó, khi xảy ra hợp đồng, bên
vi phạm phải trực tiếp chịu trách nhiệm với bên bị vi phạm, tức trực tiếp gánh chịu hậu quả bất lợi, còn bên bị vi phạm sẽ trực tiếp được hưởng thụ những
bù đắp vật chất mà bên vi phạm phải thực hiện
Thứ sáu, mục đích của của việc xây dựng và áp dụng chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng Xây dựng chế tài do vi phạm hợp đồng
thương mại trước tiên là để ngăn ngừa và hạn chế những hành vi vi phạm hợp đồng và khi xảy ra vi phạm hợp đồng là nhằm khôi phục lại trạng thái ban
đầu, bồi hoàn những tổn thất đã xảy ra và trừng phạt bên có hành vi vi phạm
Trang 171.1.2 Các loại chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Trong lĩnh vực hợp đồng thương mại, có nhiều chế tài được áp dụng khi
có vi phạm hợp đồng thương mại Căn cứ chung để áp dụng chế tài bao gồm: có hành vi vi phạm; có thiệt hại vật chất thực tế xảy ra; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế; có lỗi của bên vi phạm Tùy từng trường hợp, mức độ vi phạm khác nhau mà các chủ thể có thể phải chịu những loại chế tài khác nhau Trong đó, pháp luật Lào quy định hai chế tài chủ yếu đó là bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng, còn pháp luật Việt Nam, ngoài hai chế tài này, còn ghi nhận thêm một số loại chế tài khác Tựu chung lại, các chế tài áp dụng khi có vi phạm hợp đồng thương mại bao gồm:
Thứ nhất, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng Buộc thực hiện đúng
hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi
phạm phải chịu chi phí phát sinh
Mục đích của các bên khi ký kết hợp đồng là muốn các quyền và nghĩa
vụ phát sinh từ hợp đồng được thực hiện đúng, đầy đủ và thiện chí, mang lại lợi ích kinh tế cho mỗi bên Đây chính là cơ sở thực tiễn của biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng, một biện pháp được áp dụng phổ biến khi có hành
vi vi phạm hợp đồng
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được áp dụng là nhằm đảm bảo thực hiện trên thực tế hợp đồng đã ký kết, làm cho nghĩa vụ hợp đồng phải được tiếp tục thực hiện Các bên xuất phát từ mục tiêu kinh doanh để ký kết hợp đồng chứ không phải là nhằm đạt được lợi ích từ việc nộp phạt hay bồi thường thiệt hại từ phía bạn hàng Trong nhiều trường hợp tiền phạt hay bồi thường thiệt hại không thể thay thế lợi ích từ việc thực hiện hợp đồng đã ký kết của các bên
Thứ hai, chế tài phạt vi phạm hợp đồng Phạt vi phạm là việc bên bi vi
phạm yêu cầu bên vi phạm phải trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng
Trang 18nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm được
pháp luật ghi nhận
Phạt hợp đồng là một chế tài tiền tệ, được áp dụng phổ biến đối với tất
cả các hành vi vi phạm các điều khoản của hợp đồng, không cần tính đến
hành vi đó đã gây ra thiệt hại hay chưa gây thiệt hại So với chế tài “buộc thực
hiện đúng hợp đồng”, chế tài phạt hợp đồng cứng rắn hơn và có chức năng
chủ yếu là trừng phạt, phòng ngừa vi phạm hợp đồng, đề cao ý thức tôn trọng pháp luật nói chung và pháp luật hợp đồng nói riêng
Mục đích chủ yếu mà bên bị phạm hướng tới khi áp dụng hình thức chế
tài này không phải là “hành vi” giống như buộc thực hiện đúng hợp đồng mà
là khoản tiền phạt mà bên vi phạm phải trả
Luật Hợp đồng và Xử lý vi phạm Lào năm 2008 cũng như Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 qui định các bên có thể thoả thuận về một khoản tiền phạt hợp đồng, nếu xảy ra vi phạm, bên bị vi phạm có quyền đòi khoản tiền phạt mà không được quyền đòi bồi thường thiệt hại
Với quy định như vậy, chế tài phạt vi phạm dường như được áp dụng nhằm đồng thời hai mục đích: răn đe, ngăn chặn vi phạm hợp đồng (trong trường hợp có vi phạm thì bên vi phạm sẽ phải nộp “phạt” không phụ thuộc vào việc thực tế vi phạm đó có gây ra thiệt hại cho bên kia không); và, bồi thường thiệt hại theo mức định trước (tức là nếu có vi phạm gây thiệt hại thì bên bị thiệt hại không được quyền đòi bồi thường thiệt hại theo mức thiệt hại thực tế mà chỉ được đòi khoản tiền đã xác định trước mặc dù thực tế không có thiệt hại hoặc thiệt hại có thể là thấp hơn hoặc cao hơn mức quy định này)
Thứ ba, chế tài bồi thường thiệt hại Bồi thường thiệt hại là việc bên vi
phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên
bị vi phạm
Nếu như hình thức phạt hợp đồng có chức năng chủ yếu là trừng phạt, giáo dục và phòng ngừa thì bồi thường thiệt hại có chức năng chủ yếu là bồi
Trang 19hoàn, bù đắp khôi phục lợi ích vật chất bị thiệt hại cho bên bị vi phạm Với mục đích này, bồi thường thiệt hại chỉ được áp dụng khi có thiệt hại xảy ra
Thứ tư, các chế tài tạm ngừng, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng Chế tài
tạm ngừng, đình chỉ và huỷ bỏ hợp đồng thể hiện sự tự vệ và thái độ phản ứng
trực tiếp của bên bị vi phạm đối với bên vi vi phạm hợp đồng
- Tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng Khi hợp đồng thương mại bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực
- Đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa
vụ hợp đồng Khi hợp đồng thương mại bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt hiệu lực từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng
- Huỷ bỏ hợp đồng là sự kiện pháp lý mà hậu quả của nó làm cho nội dung hợp đồng bị huỷ bỏ không có hiệu lực từ thời điểm giao kết Huỷ bỏ hợp đồng có thể là huỷ bỏ một phần hợp đồng hoặc huỷ bỏ toàn bộ hợp đồng
Huỷ bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ
hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực
Huỷ bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả
các nghĩa vụ của hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng Khi một hợp đồng trong thương mại bị huỷ bỏ toàn bộ, hợp đồng được coi là không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết Các bên không không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ
đã thoả thuận trong hợp đồng, trừ thoả thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi huỷ bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp
Tuy nhiên, nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng mà các bên thoả thuận tạm ngừng, đình chỉ và huỷ bỏ hợp đồng thì không được coi là chế tài trong thương mại, chỉ được coi là chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương
Trang 20mại khi một bên vi phạm và một bên tuyên bố đơn phương tạm ngừng, đình chỉ, hoặc huỷ bỏ hợp đồng
Thứ năm, các biện pháp khác do các bên thỏa thuận Trong điều kiên
kinh tế thị trường, khi bước vào sân chơi chung của thế giới, các chủ thể kinh doanh không chỉ phải tuân thủ các quy định của pháp luật trong nước, mặt khác nguyên tắc tự do giao kết, tự do thoả thuận hợp đồng càng có vai trò quan trọng
Do đó, để đáp ứng yếu cầu của xu thế mở cửa hội nhập chung vào nền kinh tế thế giới, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 đã ghi nhận thêm hình thức chế tài do các bên thoả thuận Tuy nhiên, không phải cứ biện pháp chế tài nào do các bên thoả thuận là đều được áp dụng khi có hành vi vi phạm, mà các biện pháp khác do các bên thoả thuận phải không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế3
1.2 Khái quát về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
1.2.1.1 Khái niệm chế tài phạt vi phạm
Phạt vi phạm được hiểu là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận Tuy nhiên, quan điểm về chế tài phạt vi phạm lại có sự khác nhau giữa các hệ thống pháp luật
Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Viên 1980) đã không có một quy định nào về vấn đề phạt vi phạm,
có lẽ đây là hệ quả của việc không thể dung hòa được quan điểm khác nhau của hai hệ thống pháp luật lớn nhất thế giới là Civilaw và Common law về trách nhiệm phạt vi phạm Tuy nhiên vấn đề này đã được quy định trong Bộ
3
Khoản 7, Điều 292, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005
Trang 21nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng Thương mại quốc tế năm 2004 (Bộ nguyên tắc UNIDROIT 2004), đây quả thực là một nỗ lực đáng ghi nhận của các nhà soạn thảo Bộ nguyên tắc Bộ nguyên tắc đã không sử dụng thuật ngữ phạt vi phạm, mà lại gọi là tiền bồi thường ấn định trước nhưng thực chất đây chính là hình thức phạt vi phạm hợp đồng Điều 7.4.13 Bộ nguyên tắc
UNIDROIT 2004 quy định về “Tiền bồi thường ấn định trước trong hợp đồng” như sau: “khi hợp đồng quy định bên không thực hiện nghĩa vụ sẽ phải trả một khoản tiền bồi thường nhất định do việc không thực hiện, bên có quyền sẽ được hưởng khoản tiền này một cách độc lập với thiệt hại thực tế phải gánh chịu Tuy vậy, mặc dù có thỏa thuận khác, khoản tiền bồi thường
có thể được giảm một cách hợp lý nếu nó quá mức so với thiệt hại gây ra do việc không thực hiện và do các hoàn cảnh khác”
Các hệ thống pháp luật khác nhau, có những cách nhìn nhận không giống nhau về hình thức trách nhiệm phạt vi phạm Trong khi các nước theo
hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa đều ghi nhận hình thức này thì trái ngược lại các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ lại không thừa nhận vấn đề
này, và cho rằng: “các biện pháp bảo vệ pháp lý trong lĩnh vực dân sự chỉ có thể mang tính chất đền bù mà không có tính chất dự phạt hoặc trừng phạt bên
vi phạm nghĩa vụ Vì vậy, những thỏa thuận của các bên về những khoản tiền mang tính chất dự phạt (penalty) sẽ bị bác bỏ hoặc sẽ không được công nhận Nói cách khác, khi có vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, bên có quyền không có quyền đòi phạt vi phạm (penalty) mà chỉ được bồi thường hoặc những thiệt hại xảy ra hoặc những loại thiệt hại được ấn định trước hay được tính trước (lig-uidated damaged) với điều kiện những thiệt hại được ấn định trước hay được tính trước đó phải hợp lý , tức là phải tương ứng với thiệt hại dự kiến hoặc thiệt hại thực tế xảy ra” 4
Pháp luật Việt Nam và Lào đều thừa nhận hình thức phạt vi phạm:
4
Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội,
tr.481
Trang 22Pháp luật Lào quy định chế tài phạt vi phạm tại Điều 36 Luật Hợp đồng
và Xử lý vi phạm Lào năm 2008 như sau: “Phạt vi phạm hợp đồng là biện pháp áp dụng đối với những người không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên
Mức phạt sẽ được áp dụng theo các quy định cụ thể liên quan hoặc theo thỏa thuận giữa các bên ký kết hợp đồng trong trường hợp không có quy định cụ thể”
Trong khi đó, theo Điều 300 Luật Thương Mại Việt Nam 2005 quy
định: “Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận” Theo Điều 418 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 cũng quy định rằng: “Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm”
Nghiên cứu quy định của Lào, Việt Nam và các nước, dù còn những khác nhau trong nội hàm chế tài phạt vi phạm, nhưng nhìn chung lại, chúng ta
có hiểu chế tài phạt vi phạm theo nghĩa sau: “Chế tài phạt vi phạm là một loại chế tài gây bất lợi cho người có hành vi vi phạm, được thỏa thuận cụ thể giữa các bên về một mức phạt nhất định khi có hành vi vi phạm mà ở đó các bên
dù có lỗi hay không có lỗi vẫn phải chịu hậu quả bất lợi này.”5
1.2.1.2 Đặc điểm của chế tài phạt vi phạm
Khi một hợp đồng thương mại được xác lập có hiệu lực pháp luật, các bên có nghĩa vụ phải thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng Việc vi phạm các nghĩa vụ theo hợp đồng (không thực hiện, thực hiện không đúng, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ) sẽ dẫn đến bên vi phạm phải chịu chế tài do pháp luật quy định Xét về bản chất thì phạt vi phạm là dạng cụ thể của trách nhiệm pháp lý phát sinh trong hoạt động thương mại
Phạt vi phạm trong hoạt động thương mại có những đặc điểm cơ bản là:
5
Lê Trung Thảo (2009), Tài liệu nghiên cứu pháp luật về thương mại, Nxb Thời Đại, Hà Nội tr.278
Trang 23Thứ nhất, được áp dụng trên cơ sở hành vi vi phạm hợp đồng thương
mại có hiệu lực pháp luật Có nghĩa là việc thỏa thuận về phạt vi phạm phải phù hợp với pháp luật hiện hành, bảo đảm đầy đủ các điều kiện của một hợp đồng có hiệu lực theo của Luật hợp đồng, không rơi vào các điều khoản về hợp đồng vô hiệu đã được quy định tại Luật hợp đồng
Thứ hai, nội dung gắn liền với việc thực hiện các nghĩa vụ theo hợp
đồng hoặc trách nhiệm về tài sản Việc thỏa thuận về phạt vi phạm phải liên quan trực tiếp đến phần nghĩa vụ trong hợp đồng mà hai bên giao kết, việc thỏa thuận này không thể nào là một thỏa thuận nằm ngoài và không liên quan đến hợp đồng Việc quy định này đảm bảo quyền lợi ích cho các bên, tránh được những thỏa thuận trong hợp đồng gây ảnh hưởng đến các bên, ảnh hưởng đến vấn đề cạnh tranh lành mạnh
Thứ ba, do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng hoặc do bên bị phạt
vi phạm áp dụng trên cơ sở pháp luật Khi một bên bắt đầu có hành vi xâm phạm đến hợp đồng đã thỏa thuận, đó có thể là việc thực hiện sai, thực hiện không đúng theo thỏa thuận hoặc có thể là không thực hiện hợp đồng thì bên bị vi phạm đương nhiên có quyền yêu cầu bên vi phạm phải có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền phạt vi phạm như đã thỏa thuận trong hợp đồng với mình (không đề cập đến những phần nghĩa vụ khác) Khi bên vi phạm luôn tìm cách trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản tiền phạt vi phạm như trong thỏa thuận với bên bị phi phạm thì bên bị vi phạm có quyền tiến hành quá trình tố tụng tại cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật Lúc này quyền lợi của bên bị vi phạm sẽ được sự bảo đảm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
1.2.2 Vai trò của chế tài phạt vi phạm và ưu điểm của chế tài phạt vi phạm hợp đồng so với các hình thức chế tài khác trong lĩnh vực thương mại
1.2.2.1 Vai trò của chế tài phạt vi phạm
Theo quy định của pháp luật hiện hành, bên vi phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm tiền phạt hợp đồng và trong trường hợp có thiệt hại thì phải
Trang 24bồi thường thiệt hại Như vậy, phạt vi phạm hợp đồng được áp dụng không phụ
thuộc vào việc có hay không có thiệt hại Thực tế có nhiều trường hợp, số tiền phạt vi phạm và số tiền bồi thường thiệt hại sẽ lớn hơn thiệt hại thực tế mà bên bị
vi phạm phải gánh chịu Cũng chính vì điều đó mà phạt vi phạm được xem là một biện pháp được áp dụng nhằm củng cố quan hệ hợp đồng thương mại, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật họp đồng kinh tế nói riêng, pháp luật quản lý kinh
tế nói chung đồng thời phòng ngừa vi phạm hợp đồng thương mại
Phạt vi phạm được nói đến chủ yếu trong luật thương mại là một trong những biện pháp chế tài do vi phạm hợp đồng Xuất phát từ quy định nói trên của pháp luật mà nhiều người có quan điểm, theo đó việc trả tiền phạt vi phạm được coi là biện pháp trừng phạt do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Quan điểm này chỉ phù hợp trong nền kinh tế phi thị trường, kế hoạch hoá Bởi vì khi đó các chủ thể của quan hệ hợp đồng thương mại chủ yếu tập trung ở doanh nghiệp nhà nước và khi đó việc ký kết và thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được xem là kỷ luật của Nhà nước Trong cơ chế kinh tế thị trường thì mục đích của việc áp dụng phạt vi phạm có nội dung hoàn toàn khác Vì vậy, cách hiểu trên trở nên không thích hợp
Xuất phát từ việc phân chia các quan hệ hợp đồng trong hoạt động dân
sự và thương mại thành những lĩnh vực riêng biệt và được điều chỉnh bởi các quy định của các văn bản pháp luật khác nhau mà các quy định về phạt hợp đồng có các vai trò sau:
Thứ nhất, phạt vi phạm được xem là biện pháp tăng cường trách nhiệm
thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi chưa có hành vi vi phạm nghĩa vụ Với mức phạt được quy định cụ thể thì điều này giúp cho các chủ thể có thể biết trước được mực phạt sẽ phải gánh chịu nếu vi phạm hợp đồng và hạn chế được tình trạng vi phạm trong hợp đồng Đối với trường hợp phạt vi phạm theo hợp đồng, khi các bên đưa điều kiện phạt vi phạm vào hợp đồng với mục đích thúc đẩy bên chậm thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đầy đủ, thì việc sử dụng phạt vi phạm trước hết với tư cách là
Trang 25tăng cường mức trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ khi giao kết hợp đồng Tuy nhiên trong trường hợp này phạt vi phạm cũng có thể được sử dụng với tư cách là một hình thức của trách nhiệm vật chất với mục đích là đền bù cho bên bị vi phạm, đặc biệt là khi các bên chỉ thoả thuận phạt vi phạm mà không thoả thuận bồi thường thiệt hại6
Thứ hai, khi có sự vi phạm thì nó được coi là hình thức trách nhiệm do
vi phạm hợp đồng bởi vì bản chất của việc trả tiền phạt vi phạm là sự đền bù vật chất cho bên bị vi phạm Và sự đền bù vật chất này được quy định cụ thể
với một lượng phần trăm (%) theo luật định Theo quan điểm của TS Dương
Anh Sơn và TS Lê Thị Bích Thọ, phạt vi phạm là một trong hai hình thức của trách nhiệm do vi phạm hợp đồng không thể mang tính trừng phạt mà chỉ có chức năng đền bù Pháp luật của nhiều nước trên thế giới cũng không coi tính trừng phạt là chức năng của phạt vi phạm Cách nhìn nhận này trong pháp luật của các nước rõ ràng phù hợp với thực tiễn lưu thông dân sự và thương mại Trong thực tiễn có những trường hợp mặc dù có hành vi vi phạm hợp đồng nhưng thiệt hại không xảy ra, nếu bên bị vi phạm trong trường hợp đó yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt đã thoả thuận trước thì rõ ràng là phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành, vì đó là phần trách nhiệm mà chính các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng7
Thứ ba, nhằm bảo đảm phân biệt rõ giá trị pháp lý, ý nghĩa riêng biệt
của mỗi điều khoản (nhiều khi phải mất nhiều công sức qua đàm phán, thỏa thuận mới đạt được), cũng như nhằm ngăn chặn hành vi lợi dụng, lạm dụng của một bên yêu cầu hủy bỏ giao dịch vì sự vô hiệu của một điều khoản mà trong nhiều tình huống là không cần thiết và không bảo vệ được quyền và lợi ích của bên (các bên) còn lại Tuy nhiên đều này không có nghĩa là các bên được quyền tự do thỏa thuận nội dung của điều khoản này mà nó còn tùy
6
Dương Anh Sơn, Lê Thị Bích Thọ (2005), “Một số ý kiến về phạt vi phạm hợp đồng theo quy định của
pháp luật Việt Nam”, Tạp chí khoa học pháp lý, (1), tr.42-48
7
Dương Anh Sơn, Lê Thị Bích Thọ (2005), “Một số ý kiến về phạt vi phạm hợp đồng theo quy định của
pháp luật Việt Nam”, Tạp chí khoa học pháp lý, (1), tr.42-48
Trang 26thuộc vào luật điều chỉnh hợp đồng nơi mà pháp luật có thể có những quy định khác và chặt chẽ hơn quyền của các bên khi thỏa thuận điều khoản vô hiệu , nhất là các quy định bảo vệ nguyên tắc pháp luật quốc gia
Thứ tư, răn đe, ngăn chặn vi phạm hợp đồng (trong trường hợp có vi phạm thì bên vi phạm sẽ phải nộp "phạt" không phụ thuộc vào việc thực tế vi
phạm đó có gây ra thiệt hại cho bên kia không) Mục đích này nhằm cho các bên phải thấy trước được khoản giá trị vi phạm mà mình phải trả cho bên bị vi phạm, từ đó có một hướng nhìn trước về tương lai của việc thực hiện hợp đồng, việc cam kết về thời gian, hàng hóa, chất lượng, kho bãi, nhân viên, kỹ
thuật đảm bảo cho hợp đồng được thực hiện theo đúng những gì các bên đã
thỏa thuận, nâng cao ý thức, tính trách nhiệm trong quá trình giao kết hợp đồng Chế định trách nhiệm hợp đồng chủ trương áp dụng các biện pháp chế tài đối với mọi hành vi vi phạm hợp đồng (trừ trường hợp được miễn theo quy định của pháp luật hoặc bên vi phạm không yêu cầu áp dụng chế tài phạt vi phạm) Quy định về trách nhiệm hợp đồng có tác dụng rất mạnh mẽ vào ý thức các bên, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, ngăn ngừa và hạn chế vi phạm hợp đồng xảy ra
Thứ năm, chi trả một khoản tiền cho bên bị vi phạm theo mức định
trước (tức là nếu có vi phạm gây thiệt hại thì bên bị thiệt hại không được quyền đòi mức phạt vi phạm quá mức mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng trước đó, mặc dù lỗi dẫn đến vi phạm trong hợp đồng hoàn toàn thuộc
về bên kia) Việc này đảm bảo một khung pháp lý vững chắc theo hình thức thỏa thuận mức phạt vi phạm nhằm ngăn chặn hành vi lợi dụng việc vi phạm của một bên mà tăng mức phạt vi phạm đã thỏa thuận trước kia
Bên cạnh đó, vì phạt vi phạm do pháp luật quy định nên theo quan điểm của một số tác giả, không thể thực hiện chức năng tăng cường trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ, bởi vì phạt vi phạm do pháp luật quy định không ràng buộc với bất kỳ một nghĩa vụ cụ thể nào hay với bất kỳ các bên cụ thể nào tham gia vào quan hệ nghĩa vụ đó với mục đích bảo đảm cho việc thực
Trang 27hiện nghĩa vụ nói trên Quan điểm này theo tôi là thiếu thuyết phục bởi những
lý do sau đây:
Một là, phạt vi phạm được quy định ngay trong phần trách nhiệm và
thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng của pháp luật nhiều nước;
Hai là, mặc dù phạt vi phạm do pháp luật quy định không ràng buộc
với bất kỳ một nghĩa vụ cụ thể nào hay với bất kỳ các bên cụ thể nào tham gia
quan hệ nghĩa vụ đó nhưng khi ký kết hợp đồng các bên không thể không biết quy định của pháp luật về điều đó
1.2.2.2 Ưu điểm của chế tài phạt vi phạm hợp đồng so với các hình thức chế tài khác trong lĩnh vực thương mại
* Mối quan hệ giữa các loại chế tài
Mối quan hệ giữa các chế tài đó là việc có thể áp dụng hay không áp dụng các chế tài khác nhau cho một vi phạm
Về nguyên tắc những loại chế tài không logic, trái ngược nhau về hậu quả thì không thể cùng áp dụng được Như chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng thì không thể áp dụng đồng thời với nó là huỷ hợp đồng, tạm ngừng hay đình chỉ hợp đồng vì làm như vậy không hề logic do mục đích và hậu quả của mỗi loại chế tài đưa đến là khác nhau
Một số loại chế tài có thể tuỳ nghi lựa chọn vì chúng có cùng điều kiện
áp dụng như huỷ hợp đồng, đình chỉ hay tạm ngưng đều có cùng điều kiện áp dụng là khi có sự vi phạm cơ bản hợp đồng Quy định của pháp luật như vậy không rõ ràng, thiếu chuẩn mực đối với mỗi loại chế tài vì mức độ khắc nghiệt và hậu quả của nó khác biệt nhau rất lớn
* Ưu điểm của việc áp dụng chế tài phạt vi phạm so với các hình thức chế tài khác
Trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng dân sự, thương mại, việc chứng minh có thiệt hại và mức độ thiệt hại do việc vi phạm nghĩa vụ gây ra
là vấn đề không đơn giản và mất nhiều thời gian Bởi vậy, việc áp dụng phạt
Trang 28vi phạm như là một hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng có những ưu điểm sau:
Thứ nhất, là công cụ thuận tiện để đền bù những tổn thất, mất mát của
người có quyền do hành vi không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa
vụ gây ra Chế tài phạt vi phạm được xem như một công cụ hiệu quả tức thời
mà bên bị vi phạm có thể nhận lại được phần giá trị vi phạm đó nhanh chóng
và phù hợp nhất
Thứ hai, cho phép thiệt hại được đền bù một cách nhanh chóng Chỉ
cần có sự vi phạm hợp đồng và sự vi phạm này không phải là hậu quả của tình huống bất khả kháng hay thuộc trường hợp miễn trừ trách nhiệm do các bên thoả thuận là người bị thiệt hại có thể yêu cầu bên vi phạm trả số tiền mà hai bên đã thỏa thuận Việc yêu cầu này có thể được gửi trực tiếp cho bên vi phạm hoặc đến cơ quan có thẩm quyền khi hợp đồng có điều khoản phạt vi phạm đúng theo quy định của pháp luật hiện hành
Thứ ba, khi sử dụng hình thức bồi thường thiệt hại, bên có quyền không
những cần phải chứng minh thiệt hại và mức độ thiệt hại, mà còn phải chứng minh được rằng họ đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết để ngăn chặn thiệt hại Điều này gây cho bên bị vi phạm rất nhiều điều bất lợi và trong một số trường hợp sẽ dẫn đến việc bên vi phạm sẽ không phải chịu trách nhiệm, bởi vì do những lý do nào đó họ không thể chứng minh một cách đầy đủ những thiệt hại
mà họ phải gánh chịu Còn khi sử dụng biện pháp phạt vi phạm thì bên vi phạm phải chứng minh những sự kiện nói trên nếu họ không muốn chịu trách nhiệm Việc quy định bên vi phạm hợp đồng phải chứng minh rằng mình đã cố gắng khắc phục hậu quả nhằm tránh thiệt hại, tổn thất cho bên bị vi phạm là một quy định hợp lý giúp cho quyền lợi của bên bị vi phạm được bảo đảm vì việc chứng minh những tổn thất như đối với quy định trong bồi thường thiệt hại thì thật là một vấn đề khó khăn đối với bên bị vi phạm
Trang 29Thứ tư, tránh được những chi phí phát sinh trong quá trình chứng minh
thiệt hại, mức độ của thiệt hại Rõ ràng, việc chứng minh mức độ thiệt hại không phải là việc dễ dàng trong thực tế, bên bị thiệt hại trong nhiều trường hợp phải nhờ đến sự giúp đỡ của những người khác và chi phí này cũng được coi là thiệt hại thực tế và bên vi phạm phải gánh chịu Việc tránh được những chi phí liên quan trong quá trình phải chứng minh tổn thất, mức độ thiệt hại đối Với bên bị vi phạm là một thuận lợi lớn đối với bên bị vi phạm trong chế tài thương mại Nó giúp bên bị vi phạm tránh được những khoản tiền lớn mà mình phải bỏ ra trong quá trình chứng minh, đôi khi số tiền này lại lớn hơn so với số tiền mà bên vi phạm phải thanh toán Do vậy, bỏ qua việc chứng minh tổn thất, thiệt hại đối với bên bị vi phạm trong chế tài thương mại là một quy định hợp lý giúp các bên có thể bào vệ được quyền lợi thật sự của mình khi trong hợp đồng có điều khoản quy định về phạt vi phạm hợp đồng
Nói tóm lại, “phạt vi phạm không chỉ đơn giản là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hay hình thức trách nhiệm hợp đồng, hơn thế nữa nó là công cụ pháp lý linh hoạt và hữu hiệu đấu tranh cho việc thi hành đúng và đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng, là công cụ có thể sử dụng ngay tức khắc mà không cần đợi đến khi có thiệt hại xảy ra Điều đó lý giải tại sao phạt vi phạm được
áp dụng khá phổ biến trong hợp đồng thương mại quốc tế”.8
1.3 Khái quát pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
1.3.1 Nguồn pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại
Nguồn pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại nằm trong cấu trúc nguồn pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Lào, các quan hệ thương mại có phương thức hình thành chủ yếu là thông qua các quan hệ hợp đồng Pháp luật hợp đồng chính là nền tảng pháp
8
O.S.Ioffe (1975), Luật trái vụ, Nxb Pháp lí, Matxcơva, tr.163, trích trong tài liệu: “Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.481”
Trang 30lý của mọi sự thoả thuận tự nguyện, luôn đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập các quan hệ hợp đồng bình đẳng, an toàn, cùng có lợi giữa các tổ chức, cá nhân
Việc pháp luật quy định và từng bước mở rộng quyền tự do kinh doanh,
tự do hợp đồng đã tạo ra sức sống mới cho các doanh nghiệp và diện mạo mới cho nền kinh tế Tuy nhiên, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và
ổn định các quan hệ kinh tế, bên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật Do đó pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại có ý nghĩa quan trọng không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể trong quan hệ hợp đồng mà còn nhằm duy trì trật tự cho cả nền kinh tế
Hiểu một cách khái quát: Pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh do vi phạm chế độ pháp lý
về hợp đồng thương mại
Cấu trúc pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại có sự khác nhau phụ thuộc vào hệ thống pháp luật đó thừa nhận những nguồn luật nào điều chỉnh lĩnh vực pháp luật này Ở các nước theo hệ thống thông luật (Common Law) như Anh, Mỹ, án lệ là nguồn luật quan trọng, thẩm phán có quyền giải quyết và sáng tạo pháp luật Còn ở những nước theo hệ thống dân luật (Civil Law) như Pháp, Đức thẩm quyền này của thẩm phán bị hạn chế,
án lệ là nguồn luật không chủ yếu, khi xét xử chủ yếu dựa vào các quy định của luật, văn bản dưới luật, thậm chí Điều 5 Bộ luật Dân sự Pháp quy định
“Cấm các thẩm phán đặt ra các quy định chung có tính chất quy chế để tuyên
án đối với các vụ kiện được giao xét xử”
Ở một số nước, nhất là những nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì tập quán thương mại cũng đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ thương mại Trong Bộ luật Thương mại Nhật Bản, khi xác định
Trang 31thứ tự áp dụng tập quán thương mại thậm chí còn được ưu tiên áp dụng trước các quy định của Bộ luật Dân sự và tập quán dân sự9
Ở Việt Nam cũng đã công nhận tập quán là một nguồn phụ trợ của pháp luật và đóng một vai trò nhất định trong điều chỉnh các quan hệ thương mại, các văn bản như Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại đều có các quy định về áp dụng tập quán Điều 5 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nguyên tắc áp dụng tập quán và áp dụng quy định tương tự của pháp luật như sau:
“Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này”
Khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại 2005 cũng có quy định về nguyên tắc áp
dụng tập quán thương mại quốc tế: “Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” Còn ở Lào, mặc dù không có một Bộ luật dân sự riêng, nhưng
thông qua các quy định của Luật Hợp đồng và Xử lý vi phạm Lào năm 2008 cùng những quy định có liên quan của luật tố tụng dân sự cho thấy, bên cạnh quy phạm pháp luật, pháp luật Lào thừa nhận việc áp dụng tập quán cũng như các nguyên tắc tương tự pháp luật Điều này tương tự như pháp luật các nước trong hệ thống Civil Law, cũng như Việt Nam trước đây
Bên cạnh đó, trong thực tế, việc tham khảo các tài liệu tổng kết kinh nghiệm xét xử của Toà án nhân dân tối cao khi giải quyết các tranh chấp trong thương mại lại có ý nghĩa quan trọng Điều 6 Bộ Luật dân sự Việt Nam 2015
đã quy định, “Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự
9
Hoàng Thị Hà Phương (2012), Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại - Những vấn đề lý luận và thực
tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.17
Trang 32Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng” Song hiện nay
pháp luật Lào chưa ghi nhận điều này
Như vậy, ở Lào, nguồn luật chủ yếu và quan trọng nhất chính là hệ thống các văn bản pháp luật cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, đây cũng chính là bộ phận quan trọng nhất trong cấu trúc pháp luật điều chỉnh mỗi lĩnh vực kinh tế - xã hội Hệ thống các văn bản pháp luật chứa đựng các quy phạm về hợp đồng thương mại nói chung và chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại nói riêng rất đa dạng, bao gồm từ các quy định cơ bản về quyền
tự do kinh doanh được ghi nhận trong Hiến pháp, đến các văn bản luật chuyên ngành và văn bản hướng dẫn thi hành
Trong đó, khác với các nước thiết kế cấu trúc luật thành luật chung và luật chuyên ngành Trong hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh một vấn đề thì nguyên tắc luật chung và luật chuyên ngành (lex generalis và lex specialis) được xem là một nguyên tắc áp dụng luật cơ bản Các nước theo truyền thống dân luật chịu ảnh hưởng sâu sắc của các nguyên tắc này Ở hầu hết các nước theo truyền thống Civil Law, Bộ luật dân sự được coi là một đạo luật xương sống áp dụng cho mọi giao dịch có tính chất bình đẳng, tự nguyện giữa các chủ thể tham gia, trừ khi giao dịch đó đã được điều chỉnh bởi một đạo luật riêng Ví dụ, Bộ luật Dân sự
Pháp, tại điều 1107, Thiên III “Hợp đồng hay nghĩa vụ của hợp đồng nói chung” quy định: “Mọi hợp đồng, dù có hay không có tên gọi riêng, đều phải tuân theo các quy định chung tại thiên này Một số hợp đồng được quy định riêng trong các đạo luật về thương mại” Hay Mục 1 Chương I Bộ luật Thương mại Nhật Bản quy định: “Bộ luật Dân sự là bộ luật điều chỉnh những quan hệ trong đời sống xã hội nói chung, còn Bộ luật Thương mại thì điều chỉnh các quan hệ trong đời sống của một doanh nghiệp Tuy nhiên, một số vấn đề thuộc về doanh nghiệp vẫn được quy định từng phần trong Bộ luật Dân sự Như vậy, Bộ luật Dân sự là một đạo luật chung, còn Bộ luật Thương mại là một đạo luật chuyên ngành” Hay ở Việt Nam,
Trang 33Luật thương mại là luật chuyên ngành trong mối quan hệ với Bộ luật dân sự Trong mối quan hệ giữa luật chung và luật chuyên ngành, luật pháp thừa nhận luật chuyên ngành có thể có những quy định không đồng nhất với luật chung, nhưng những quy định này phải đảm bảo tính thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật, không chồng chéo và gây khó khăn khi áp dụng Nguyên tắc luật chung - luật chuyên ngành không chỉ giải quyết vấn đề xác định các văn bản nào chứa đựng quy phạm điều chỉnh quan hệ đó mà còn đưa ra nguyên tắc áp dụng pháp luật Theo đó, trong một quan hệ cụ thể các quy định của luật chuyên ngành sẽ được ưu tiên áp dụng trước, những vấn đề nào luật chuyên ngành không quy định hoặc không quy định đầy đủ thì sẽ áp dụng luật chung
Còn ở Lào, Luật Hợp đồng năm 1990 trước đây, hiện nay là Luật Hợp đồng và Xử lý vi phạm số 01/NA năm 2008 được xem là đạo luật chung dành cho vấn đề hợp đồng, còn các vấn đề cụ thể liên quan đến nội dung hợp đồng,
sẽ tham chiếu đến các quy định của các đạo luật liên quan trong từng lĩnh vực Bên cạnh đó, việc áp dụng pháp luật còn tuân theo nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế, trong trường hợp điều ước quốc tế mà CHDCND Lào
là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, nếu không đi ngược lại lợi ích công của Lào
Pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại ở Lào là một bộ phận của pháp luật hợp đồng và pháp luật thương mại nói chung Do đó, nguồn pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại bao gồm: văn bản pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế và pháp luật nước ngoài (nếu các bên trong quan hệ hợp đồng có quyền và thoả thuận lựa chọn áp dụng hoặc được điều ước quốc tế dẫn chiếu đến) Trong đó,
hệ thống các văn bản pháp luật quốc gia về hợp đồng và hoạt động thương mại là chủ yếu với luật chung là Luật Hợp đồng và Xử lý vi phạm Lào năm
2008 cùng quy định của các văn bản luật chuyên ngành khác về từng hoạt
động thương mại đặc thù và các văn bản hướng dẫn thi hành
Trang 341.3.2 Nội dung cơ bản và những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng các quy định pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
1.3.2.1 Nội dung cơ bản của pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại cho phép các bên được quyền áp dụng các hình thức chế tài phù hợp khi có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra Đây chính là sự ghi nhận của Nhà nước và cũng thể hiện thái độ của Nhà nước đối với hành vi vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho đối tác trong hợp đồng và cho kinh tế - xã hội nói chung
Nằm trong nội hàm của pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại, nội dung cơ bản của pháp luật về phạt hợp đồng thương mại bao gồm:
- Quy định về căn cứ áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại: đây chính là những dấu hiệu cần và đủ để áp dụng phạt vi phạm hợp đồng đối với bên vi phạm hợp đồng
- Quy định về điều kiện, cách thức áp dụng phạt vi phạm hợp đồng thương mại
- Quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên khi áp dụng phạt vi phạm hợp đồng thương mại;
- Quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại
Pháp luật về phạt vi phạm hợp đồng thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên cũng như sự vận hành và phát triển có định hướng của nền kinh tế thị trường do đó luôn được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn phát triển của các quan hệ kinh tế cũng như định hướng phát triển kinh tế đất nước
Trang 351.3.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng các quy định pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
Xây dựng pháp luật là một trong những hình thức hoạt động cơ bản nhất của nhà nước Việc tạo ra các văn bản quy phạm pháp luật phản ánh được những nhu cầu phát triển khách quan của xã hội là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng và hiệu quả của quản lý nhà nước Xây dựng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo, là quá trình nhận thức của các quy luật xã hội đặc biệt là quy luật lợi ích, xác định tầm quan trọng của các quan
hệ xã hội từ đó xác định tầm quan trọng của các quan hệ xã hội từ đó xác định phạm vi và phương pháp điều chỉnh đúng đắn đối với chúng Do đó, cần xác định được những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc xây dựng pháp luật Việc xây dựng pháp luật và chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại chịu ảnh hưởng của những yếu tố cơ bản sau:
Thứ nhất, việc xây dựng các quy định về chế tài phạt vi phạm hợp đồng
thương mại phụ thuộc vào những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ Bản chất của pháp luật là luôn mang tính giai cấp và tính xã hội, pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội Vào từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển và vận động của kinh tế - xã hội mà những lợi ích pháp luật bảo vệ có sự thay đổi Ở Việt Nam và Lào, khi mới giành được độc lập, hậu quả sau chiến tranh rất nặng nề, cả nước chủ trương khắc phục hậu quả chiến tranh, thực hiện nền kinh tế tập trung có kế hoạch để phát huy sức mạnh tập thể và tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam Do đó, các quan hệ kinh tế giai đoạn này chủ yếu là thể hiện các kế hoạch kinh tế của Nhà nước, các quan hệ kinh tế tư nhân không phát triển, các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng kinh tế mang tính chất hành chính như một hình thức xử lý kỷ luật nhằm bảo đảm trật tự của nền kinh tế tập trung có kế hoạch Bước vào giai đoạn đổi mới kinh tế, Việt Nam cũng như Lào chủ trương thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Do đó, lợi ích pháp luật cần bảo vệ không còn là các kế hoạch kinh tế tập
Trang 36trung của Nhà nước mà đảm bảo sự vận hành của nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, trong đó ghi nhận và đảm bảo quyền tự do kinh doanh, tự do hợp đồng cũng tức là pháp luật đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển Các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại giai đoạn này mang tính chất tài sản giữa các bên trong quan hệ hợp đồng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế Nhà nước khi các bên có yếu cầu
Thứ hai, việc xây dựng các quy định về chế tài phạt vi phạm hợp đồng
thương mại phụ thuộc vào tính chất và hành vi vi phạm Cơ sở để xem xét, đánh giá tính chất trái pháp luật của hành vi vi phạm là những cam kết trong hợp đồng có hiệu lực pháp luật và những quy định của pháp luật về hợp đồng thương mại Khi một hợp đồng thương mại được thiết lập, nghĩa vụ hợp đồng phát sinh và bắt buộc thực hiện đối với các bên, trừ khi các bên thoả thuận thay đổi, đình chỉ hay huỷ bỏ chúng Trong nhiều trường hợp, cam kết của các bên không đầy đủ dẫn tới những mâu thuẫn, bất đồng trong việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Những quy định của pháp luật trở thành cơ sở đánh giá tính trái pháp luật của hành vi Tuy nhiên, không phải bất cứ hành vi vi phạm nào cũng mang lại hậu quả bất lợi đối với bên vi phạm, chẳng hạn nghĩa vụ hợp đồng không thể thực hiện được do bất khả kháng - bên vi phạm hoàn toàn không có lỗi Do đó, khi xây dựng các quy định về chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại cần xây dựng các quy định về căn cứ áp dụng hình thức phạt
vi phạm cũng như các trường hợp bên vi phạm được miễn trách nhiệm (khi bên vi phạm không có lỗi) để đảm bảo quyền lợi chính đáng của các bên Mặt khác, việc xây dựng các quy định về chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại cũng cần đảm bảo nguyên tắc mức bồi thường không vượt qua mức thiệt hại thực tế, trực tiếp của các bên trong hợp đồng và đảm bảo tính ngăn ngừa, trừng phạt hành vi vi phạm nhưng vẫn tạo điều kiện để các bên có thể được giải thoát khỏi hợp đồng nhằm đạt được hiệu quả kinh tế khác cao hơn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Trang 37Thứ ba, xây dựng các quy định về chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương
mại còn phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan và khách quan khác như: điều kiện kinh tế - xã hội, khả năng lập pháp hay ảnh hưởng của tư tưởng pháp luật cũ và
hệ thống pháp luật khác… Đây là những yếu tố ảnh hưởng đến không chỉ việc
xây dựng các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại mà còn ảnh hưởng đến việc xây dựng và hoàn thiện cả hệ thống pháp luật nói chung Vào mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn của lịch sử cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội là một trình độ và tư quy pháp lý tương ứng, nó vừa mang tính khác quan lại vừa mang tính chủ quan Do đó, để xây dựng pháp luật cần nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc các quy luật, các hiện tượng xã hội, kinh tế, chính trị, tư tưởng của thực tiễn khách quan để từ đó rút ra những giá trị chuẩn mực từ trong nhu cầu của xã hội Bên cạnh đó cũng cần nghiên cứu sự điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội cùng loại của các nước trên thế giới từ đó chọn ra giải pháp xây dựng các quy định phù hợp
Tiểu kết chương 1
Trên cơ sở mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra cho đề tài, trong Chương 1 này, tác giả, trên cơ sở kế thừa các công trình đi trước, đã nghiên cứu các vấn đề lý luận về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Trong đó, xuất phát điểm rằng chế tài phạt vi phạm hợp đồng là một trong những chế tài do vi phạm hợp đồng, do đó, trước hết, Chương 1 tìm hiểu và nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, phân loại chế tài do
vi phạm hợp đồng thương mại Trên cơ sở đó, chương 1 đã nghiên cứu và khái quát nên khái niệm, đặc điểm, vai trò của chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong mối tương quan với các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng khác Cùng với đó, Chương 1 cũng nghiên cứu về nguồn, nội dung của pháp luật về chế tài phạt vi phạm trong lĩnh vực thương mại Những nội dung này là cơ sở nền tảng cho việc nghiên cứu thực trạng pháp luật nước CHDCND Lào về chế tài phạt phi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại và kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO VỀ CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG
LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI VÀ KINH NGHIỆM
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Trước năm 1975, lịch sử CHDCND Lào đã trải qua nhiều biến động với các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, và sự phân chia chính trị giữa các khu vực Chính vì vậy, thời kỳ này, nền kinh tế CHDCND Lào mạnh mún, nhỏ lẻ, quan hệ kinh tế thương mại ở Lào không có sự phát triển nhiều,
do đó, không cần thiết phải có một khung pháp lý điều chỉnh vấn đề này
Sau khi giành được độc lập năm 1975, trong giai đoạn này, không có khái niệm về hợp đồng thương mại mà tất cả các hợp đồng trong kinh doanh, thương mại đều được gọi chung là hợp đồng kinh tế Đặc trưng cơ bản của các văn bản pháp luật thời kỳ này là: chủ thể tham gia các quan hệ hợp đồng chủ yếu là các đơn vị kinh tế xã hội chủ nghĩa; việc ký kết hợp đồng nhằm thực hiện chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước nên phải dựa trên những nguyên tắc bắt buộc và tuân theo các chỉ tiêu kế hoạch được Nhà nước giao; khi hợp đồng kinh tế bị vi phạm thì Trọng tài kinh tế là cơ quan có thẩm quyền giải quyết Thời kỳ này, các hình thức chế tài được áp dụng đối với các hành vi vi phạm hợp đồng kinh tế bao gồm phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại Phạt hợp đồng là một chế tài tiền tệ được áp dụng đối với bên vi phạm hợp đồng kinh tế nhằm củng cố kỷ luật hợp đồng và kỷ luật kế hoạch của Nhà nước; căn cứ để áp dụng hình thức chế tài này có hành vi vi phạm và có lỗi Bồi thường thiệt hại là một chế tài tiền tệ được dùng để bù đắp những thiệt hại thực tế cho bên bị vi phạm trong hợp đồng; căn cứ để áp dụng hình thức chế
Trang 39tài này là có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế xảy ra,
có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế,
có lỗi của bên vi phạm
Trong đó, chế tài phạt hợp đồng trong thời kỳ này thực chất không phải
là một hình thức chế tài phát sinh trực tiếp giữa các bên trong quan hệ hợp đồng, mà mang đặc điểm của chế tài hành chính, thể hiện sự cưỡng chế của Nhà nước với bên vi phạm hợp đồng, nhằm giáo dục bên vi phạm và không liên quan đến bên bị vi phạm hợp đồng Điều này thể hiện là phạt hợp đồng
có thể được áp dụng ngay cả khi chưa có hợp đồng, khi các bên từ chối, trì hoãn ký kết hợp đồng cũng chính là từ chối, trì hoãn thực hiện kế hoạch Nhà nước nên phải nộp phạt hợp đồng Tuy nhiên, mức phạt hợp đồng được quy định rất thấp, chỉ mang tính hình thức và tiền phạt hợp đồng được nộp ngân sách nhà nước Mặt khác, căn cứ để tính tiền phạt hợp đồng là giá trị hợp đồng kinh tế, như vậy yếu tố ảnh hưởng đến mức tiền phạt là giá trị hợp đồng,
là chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước chứ không phải mức độ vi phạm của các bên Trong cơ chế tập trung bao cấp, với vai trò là công cụ để thực hiện kế hoạch của Nhà nước, chế tài do vi phạm hợp đồng kinh tế tất yếu mang những đặc điểm trên Cho dù các hình thức chế tài mang nặng dấu ấn hành chính nhưng vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc củng cố kỷ luật hợp đồng và thực hiện các kế hoạch của Nhà nước
Khi Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Nhà nước Lào tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước Lào đã quan tâm nghiên cứu về sở hữu tư nhân, các loại hình doanh nghiệp cũng như các vấn đề liên quan đến hợp đồng thương mại Quá trình diễn ra rõ nét nhất từ Đại hội V (1991) của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, nhất là sau khi ban hành Hiến pháp Lào năm 1991 Tuy nhiên, từ trước đó,
để đáp ứng được yêu cầu kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới, trong giai đoạn 1986-1991, Đảng và Nhà nước Lào đã quan tâm, xây dựng các chính sách kinh
Trang 40tế - xã hội, chuẩn bị cho bước ngoặt thay đổi của đất nước Chính vì vậy, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII Lào ngày 10/7/1990, Quốc hội Lào đã thông qua Luật Hợp đồng số 02/90/PSA, và được quyền Chủ tịch nước CHDCND Lào ban hành bằng Nghị định ban hành Luật hợp đồng số 41/PO vào ngày 27/7/1990 Tiếp đó, để giải quyết các vấn đề liên quan đến xử lý vi phạm hợp đồng, Quốc hội Lào đã ban hành Luật xử lý vi phạm số 08/90/PSA ngày 29/11/1990 Đây là những văn bản có giá trị pháp lý đầu tiên quy định về hợp đồng thương mại và các vấn đề liên quan đến hợp đồng thương mại Bên cạnh đó, các đạo luật chuyên ngành trong các lĩnh vực cũng được ban hành, góp phần điều chỉnh vấn
đề hợp đồng trong từng lĩnh vực
Cuối những năm 90 của thế kỷ XX, Lào chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), và ký kết, gia nhập một số điều ước quốc tế Đồng thời, với việc xác định chính xác mô hình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã dẫn tới sự thay đổi to lớn trong nền kinh tế - xã hội Lào, từ đó, cũng đòi hỏi pháp luật phải có sự thay đổi cho phù hợp Trong bối cảnh đó, nước CHDCND Lào đã tiến hành sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1991 lần thứ nhất và thông qua ngày 6/5/2003, gồm 98 điều
và 11 chương Trên cơ sở đó, một loạt văn bản pháp luật cũng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với các quy định mới của Hiến pháp và phù hợp với hoàn cảnh thực tế, trong đó có thể kể đến sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005
và Luật Giải quyết tranh chấp kinh tế năm 2005
Trong bối cảnh đó, nhận thấy rằng, một số quy định của Luật Hợp đồng
số 41/PO và Luật Xử lý vi phạm số 08/90/PSA đã không còn phù hợp trong việc điều chỉnh việc giao kết, thực hiện hợp đồng giữa các chủ thể kinh doanh, ngày 08/12/2008, Quốc hội nước CHDCND Lào đã ban hành Luật Hợp đồng và Xử lý vi phạm số 01/NA, thay thế cho hai đạo luật trên Cùng với đó, các quy định liên quan trong các văn bản pháp luật chuyên ngành cũng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Luật Hợp đồng và Xử lý vi phạm Lào năm 2008