1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hoạt động đầu tư theo hình thức ma và thực tiễn áp dụng tại việt nam trong giai đoạn 2010 2015

82 136 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 3,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2006, cùng với sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập WTO, thị trường chứng khoán phát triển mạnh sau sáu năm kể từ khi xuất hiện, sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Đầu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ ĐÌNH VINH

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ Giáo viên hướng dẫn là Tiến sĩ Lê Đình Vinh Các nội dung nghiên cứu

và kết quả trong đề tài này là trung thực Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác và cũng thể hiện trong phần tài liệu tham khảo Nếu phát hiện có bất cứ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng cũng như kết quả luận văn của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả

Đậu Quốc Dũng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự

nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt khóa học cũng như trong thời gian nghiên cứu đề tài luận văn

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân

thành đến Tiến sĩ Lê Đình Vinh – người thầy kính mến đã hết lòng giúp đỡ,

tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu Luận văn của mình

Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban Giám hiệu, toàn thể quý thầy cô, cán bộ trong Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Pháp luật kinh tế và cán bộ Thư viện trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và hoàn thành luận văn thạc sĩ

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ở bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này

Trân trọng cảm ơn /

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả

Đậu Quốc Dũng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 7

1.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC M&A 7

1.1.1 Khái niệm về M&A và đầu tư theo hình thức M&A 7

1.1.2 Phân loại hình thức M&A 9

1.1.3 Những tác động của đầu tư theo hình thức M&A đối với nền kinh tế - xã hội và doanh nghiệp 12

1.2 PHÁP LUẬT VỀ M&A VÀ ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC M&A 17

1.2.1 Pháp luật về M&A và đầu tư theo hình thức M&A trước Luật Doanh nghiệp năm 2014 17

1.2.2 Pháp luật về M&A và đầu tư theo hình thức M&A sau Luật Doanh nghiệp năm 2014 22

CHƯƠNG 2 27

2.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC M&A QUA MỘT SỐ VỤ VIỆC THỰC TIỄN 27

2.1.1. Vụ việc tách doanh nghiệp và mua lại cổ phần 27

2.1.2 Vụ việc về sáp nhập doanh nghiệp 34

2.1.3 Vụ việc về nhà đầu tư nước ngoài xâm nhập và thâu tóm thị trường bán lẻ Việt Nam 41

2.2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ M&A 50

2.2.1 Hành lang pháp lý về M&A của pháp luật Việt Nam chưa đầy đủ và đồng bộ 50

2.2.2 Về khái niệm mua lại doanh nghiệp theo Luật Cạnh tranh và Luật doanh nghiệp chưa thống nhất 51

2.2.3 Về chủ thể có quyền mua lại doanh nghiệp 53

Trang 6

2.2.4 Về hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối 54CHƯƠNG 3 573.1 YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ M&A TẠI VIỆT NAM 573.2 Một số giải pháp hoàn thiện cụ thể 583.2.1 Sửa đổi khái niệm mua lại doanh nghiệp tại Luật Cạnh tranh năm 2004

……….5832.2 Định hướng về nội dung hợp đồng mua lại/mua bán doanh nghiệp 58KẾT LUẬN 62

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Trong tiếng Anh, cụm từ Merge and Acquisition (viết tắt là M&A) có nghĩa là sáp nhập và mua lại (hoặc mua bán) doanh nghiệp Đó là hoạt động giành quyền kiểm soát một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp

Trước năm 1999, tại Việt Nam, gần như không có dữ liệu và sự xuất hiện các thương vụ M&A Luật Doanh nghiệp năm 1999 ra đời, làm cơ sở pháp lý quan trọng cho các hoạt động M&A sau đó Năm 2006, cùng với sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập WTO, thị trường chứng khoán phát triển mạnh sau sáu năm kể từ khi xuất hiện, sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm

2005 và Luật Đầu tư năm 2005, chủ trương và các quy định pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã góp phần tạo môi trường đầu tư rộng mở cho tất cả các thành phần kinh tế Trong môi trường đó, các nhà đầu tư đã từng bước sử dụng M&A như một công cụ chiến lược đầu tư để phát triển hoạt động kinh doanh Do vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về đầu tư theo hình thức M&A, thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư theo hình thức M&A đang là nhiệm vụ cần thiết hiện nay

Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc giải quyết

nhiệm vụ nêu trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về hoạt động đầu tư theo hình thức M&A và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam trong giai đoạn 2010-2015” làm Đề tài Luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu Đề tài

Cho đến nay, các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến Đề tài pháp luật về đầu tư theo hình thức M&A ở Việt Nam là tương đối đa dạng, phong phú Rất nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố trong thời gian qua, trong đó phải kể đến một số công trình tiêu biểu như sau:

- Lê Viết Thái, Hành vi tập trung nghiên cứu, năm 2008 Đề tài nghiên

cứu về thể chế cạnh tranh trong điều kiện phát triển thị trường tại Việt Nam

Trang 8

được định giá là một nghiên cứu rất sớm về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp trên góc độ tập trung kinh tế và chống độc quyền nghiên cứu này được thực hiện vào năm 2005, trước khi hoạt động này thực sự nở rộ ở Việt Nam nên các thông tin về mua lại và sáp nhập chưa thực sự phản ánh chính xác và đầy đủ thực tiễn mua lại và sáp nhập tại Việt Nam Mặt khác, chuyên đề này chưa thể hiện hết bản chất mua lại và sáp nhập vì tác giả chuyên đề chủ yếu phân tích mua lại và sáp nhập theo góc nhìn của pháp luật cạnh tranh mà chưa đánh giá mualại và sáp nhập dưới lăng kính của pháp luật doanh nghiệp, thương mại

- Nhiều tác giả, Cẩm nang Mua bán và sáp nhập tại Việt Nam, năm

2009 Cuốn sách bao gồm 216 trang, được kết cấu thành mười chương, trong

đó có chín chương (từ chương một đến chương chín) liên quan đến các thương vụ mua lại và sáp nhập Mục đích của cuốn sách là hướng đến các công ty có nhu cầu mua và bán doanh nghiệp, do vậy, các nội dung về chính sách quản lý nhà nước đối với thị trường sáp nhập và mua bán doanh nghiệp được đề cập rất ít

- Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh tổ chức và chủ trì, Pháp

luật điều chỉnh sáp nhập, mua lại ở Việt Nam – kỷ yếu hội thảo khoa học Pháp luật về sáp nhập, mua lại: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, năm 2010

Các tác giả tham đề tài trên tập trung nghiên cứu các nội dung như: (i) Vì sao pháp luật cần phải điều chỉnh sáp nhập, mua lại doanh nghiệp; (ii) Một số nội dung về bản chất pháp lý của mua bán doanh nghiệp; (iii) Những vấn đề pháp

lý trong thương vụ sáp nhập, mua lại doanh nghiệp (các bước của giao dịch sáp nhập, mua lại doanh nghiệp, thẩm định pháp lý ) dưới con mắt của các luật sư các công ty luật; (iv) Một số vấn đề về tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài và cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO trong các giao dịch mua lại và sáp nhập; (v) Các quy định pháp luật về định giá doanh nghiệp khi thực hiện thương vụ mua lại và sáp nhập; (vi) Kinh nghiệm của Trung Quốc trong điều chỉnh sáp nhập, mua lại doanh nghiệp; (vii) Mua lại và sáp nhập

Trang 9

dưới sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh Như vậy, nội dung của đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Pháp luật điều chỉnh sáp nhập, mua lại ở Việt Nam” đã phân tích hoạt động mua lại và sáp nhập tương đối tổng thể ở các khía cạnh kinh tế, khía cạnh pháp lý và có sự so sánh với kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về mua lại và sáp nhập của Trung Quốc Tuy nhiên, do có nhiều tác giả tham gia trong cùng một đề tài nên các bài viết đã bị trùng lặp về một số nội dung, ý tưởng như: Tìm hiểu về khái niệm mua lại và sáp nhập, thẩm định pháp lý về mua lại và sáp nhập Các bài viết chưa thống nhất về việc sử dụng các thuật ngữ như thẩm định chi tiết, mua lại và sáp nhập doanh nghiệp…nên chất lượng khoa học của công trình còn bị hạn chế Mặt khác, do

sự trùng lặp về ý tưởng, nội dung bài viết nên đã dẫn đến tình trạng một số nội dung được đề cập quá nhiều (như thẩm định pháp lý- thẩm định chi tiết) nhưng có những nội dung cần quan tâm (các quy định luật lao động, sở hữu trí tuệ) khi thực hiện thương vụ mua lại và sáp nhập lại không được đưa vào hoặc nghiên cứu sơ sài trong đề tài hội thảo khoa học cấp Bộ này

- Phạm Trí Hùng và Đặng Thế Đức, M&A – Sáp nhập và mua lại doanh

nghiệp ở Việt Nam – Hướng dẫn cơ bản dành cho bên bán, năm 2011 Đây là

một cuốn sách phân tích các thương vụ sáp nhập và mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam theo các nội dung: sự cần thiết sáp nhập và mua lại doanh nghiệp; thẩm định doanh nghiệp; khuôn khổ pháp lý để thực hiện hoạt động mua bán doanh nghiệp Bên cạnh đó, các tác giả cũng giới thiệu tới độc giả các mẫu hợp đồng mua bán doanh nghiệp, hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, biên bản ghi nhớ trong giao dịch sáp nhập và mua lại doanh nghiệp Cuốn sách trên được ghi nhận là nguồn tư liệu cung cấp thông tin cho bên bán doanh nghiệp,

vì vậy, những yêu cầu tư vấn pháp lý cho bên mua doanh nghiệp vẫn là một

nội dung bỏ ngõ mà nghiên cứu: M&A – Sáp nhập và mua lại doanh nghiệp ở

Việt Nam – Hướng dẫn cơ bản dành cho bên bán chưa có lời giải đáp

- Trần Thị Bảo Ánh, Pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam,

Luận án Tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2014 Luận án

Trang 10

nghiên cứu hoạt động mua bán doanh nghiệp dưới góc độ pháp lý và xây dựng mọt số giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam

Trên cơ sở có kế thừa có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây về hoạt động mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam, đồng thời với quá trình nghiên cứu độc lập và nghiêm túc, luận văn đặt vấn đề nghiên cứu các vấn đề sau:

Thứ nhất, luận văn xây dựng được hệ thống lý luận khoa học của pháp

luật về đầu tư theo hình thức M&A ở Việt Nam: nêu ra quan niệm về mua bán doanh nghiệp và làm rõ đặc điểm pháp lý của mua bán doanh nghiệp thông qua các ví dụ thực tiễn Từ đó, luận văn chỉ ra những đặc trưng pháp lý cơ bản của mua bán doanh nghiệp, mua bán tài sản, chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp của thành viên doanh nghiệp

Thứ hai, luận văn đánh giá một cách tương đối toàn diện và có hệ thống

thực trạng pháp luật về hoạt động đầu tư theo hình thức M&A ở Việt Nam, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành về hoạt động đầu tư theo hình thức M&A

Thứ ba, luận văn đề xuất các yêu cầu khoa học và giải pháp cụ thể cho

việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động đầu tư theo hình thức M&A, đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động đầu tư theo hình thức M&A trong nền kinh tế thị trường thời kỳ hội nhập quốc tế ở Việt Nam Đặc biệt là trong những năm gần đây, hoạt động đầu tư tại Việt Nam chủ yếu được thực hiện dưới hình thức M&A nhiều hơn là hình thức đầu tư trực tiếp

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của Luận văn

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là hệ thống lý luận pháp lý và luật thực định liên quan đến hoạt động đầu tư theo hình thức M&A, các vụ việc đầu tư theo hình thức M&A diễn ra trên thực tế, tập trung vào các chế định

Trang 11

chủ yếu sau đây: Tổ chức lại doanh nghiệp; Hình thức đầu tư; Trình tự thủ tục đăng ký đầu tư; Tập trung kinh tế

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung chủ yếu vào hệ thống khoa học pháp lý, các quy định pháp luật của Việt Nam về đầu tư, M&A và pháp luật của Việt Nam về cạnh tranh

4 Mục đích nghiên cứu của Luận văn

Luận văn được thực hiện với mục đích nghiên cứu, làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận pháp lý về đầu tư theo hình thức M&A Luận văn cũng tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về pháp luật trong lĩnh vực M&A cũng như tình hình thực hiện trên thực tế, phân tích những mặt tích cực cũng như những mặt còn hạn chế trong các quy định của pháp luật, kết quả thực hiện, tồn tại và nguyên nhân Từ các kết quả nghiên cứu nêu trên, Luận văn đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về đầu tư theo hình thức M&A ở Việt Nam hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu Đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong lĩnh vực khoa học pháp lý, như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê

Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, với hạt nhân là phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử Ngoài

ra, tác giả bám sát các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, về cải cách tư pháp, mà trọng tâm là Nghị quyết 48-NQ/TW và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị và các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, IX, X, XI, XII và Hiến pháp năm 2013

Các số liệu thống kê sử dụng trong Luận văn được tác giả trích dẫn từ các nguồn có sẵn với giả định rằng các nguồn đó là chính xác và tin cậy Do

Trang 12

thời gian nghiên cứu có hạn nên tác giả không có điều kiện kiểm chứng Ngoài ra, một số ví dụ minh họa về đầu tư theo hình thức M&A trong Luận văn được tác giả khái quát và tổng hợp từ thực tiễn lĩnh vực công tác của mình

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

7 Bố cục của luận văn

Ngoài Lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 03 chương chính như sau:

- Chương I: Những vấn đề lý luận về hoạt động đầu tư theo hình thức M&A và pháp luật về M&A

- Chương II: Hoạt động đầu tư theo hình thức M&A tại Việt Nam qua một số vụ việc thực tiễn

- Chương III: Thực trạng và hướng hoàn thiện quy định pháp luật về M&A tại Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ THEO HÌNH

THỨC M&A VÀ PHÁP LUẬT VỀ M&A 1.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC M&A

1.1.1 Khái niệm về M&A và đầu tư theo hình thức M&A

M&A là những hoạt động kinh doanh và quản trị không xa lạ ở các nền kinh tế phát triển trên thế giới Các doanh nghiệp luôn có xu hướng phát triển

và chiếm lĩnh thị trường nên đây là một hiện tượng phổ biến và tất yếu trong nền kinh tế Các tài liệu khác nhau trên thế giới có nhiều khái niệm về M&A (Mergers and Acquisitions), tuy nhiên các khái niệm này khá đồng nhất:

- Mergers được hiểu là sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp, là sự kết hợp của hai hoặc nhiều công ty để tạo ra một công ty mới duy nhất có quy mô lớn hơn Công ty bị sáp nhập chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công

ty bị sáp nhập Các công ty bị hợp nhất chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa

vụ và lợi ích hợp pháp tạo thành một công ty mới (công ty hợp nhất), đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất

- Acquisitions được hiểu là mua bán/mua lại doanh nghiệp, là việc một công ty mua lại một công ty khác, thông thường một công ty lớn sẽ mua lại công ty nhỏ hơn Tên gọi mua bán hay mua lại doanh nghiệp có sự khác nhau

là do cách dịch ra tiếng Việt có sự khác nhau Bản chất mua bán hoặc mua lại doanh nghiệp đều giống nhau, đều phản ánh việc một bên (bên bán) chuyển quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp cho một bên (bên mua) và bên mua có quyền kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp mà họ mua lại1 Hình thức mua lại còn có thể được biết đến với một thuật ngữ chuyên môn tương đương là hoạt động thâu tóm Thâu tóm xảy ra khi hai công ty kết hợp với nhau để tạo thành một công ty hoàn toàn mới Nó là khái niệm được

Prentice Hall

Trang 14

sử dụng để chỉ một công ty tìm cách nắm giữ quyền kiểm soát đối với một công ty khác thông qua thâu tóm toàn bộ hoặc một số lượng cổ phần hoặc tài sản của công ty mục tiêu đủ để có quyền khống chế toàn bộ quyết định của công ty đó Tỷ lệ này có thể khác nhau theo quy định trong Luật công ty của từng quốc gia Sau khi bị thâu tóm, công ty mục tiêu sẽ chấm dứt hoạt động hoặc trở thành một công ty con của công ty thâu tóm Thương hiệu của công

ty mục tiêu nếu được đánh giá là vẫn còn giá trị để duy trì thị phần thì vẫn giữ lại như một thương hiệu độc lập, hoặc được gộp lại thành một thương hiệu chung

Hoạt động M&A có thể được mô tả như sau2:

Như vậy, mục tiêu của M&A là giành quyền kiểm soát doanh nghiệp, tham gia vào hoạt động điều hành, quản lý doanh nghiệp ở mức độ nhất định, không đơn thuần là sở hữu một phần vốn góp hay nắm giữ cổ phần như hoạt động đầu tư thông thường Do đó, khi nhà đầu tư đạt được mức sở hữu phần vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp đủ để tham gia, và có quyền đưa ra các quyết định liên quan tới các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp thì khi đó có

Prentice Hall

Mergers (Sáp nhập/Hợp nhất)

Acquisitions (Mua bán/Mua lại/Thâu tóm)

M&A

Mergers and Acquisitions

Mua lại toàn bộ

Mua lại một phần

Trang 15

thể coi đây là hoạt động M&A Ngược lại, nếu nhà đầu tư chỉ sở hữu một lượng vốn góp, hoặc cổ phần rất nhỏ không đủ quyền đưa ra các quyết định liên quan tới vấn đề của doanh nghiệp thì đây chỉ được coi là hoạt động đầu tư thông thường Điểm chung của hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất hay mua lại, sáp nhập, hợp nhất là tạo cho doanh nghiệp mới hình thành có giá trị lớn hơn nhiều lần giá trị riêng lẻ của một doanh nghiệp ban đầu Đó chính là kết quả của sự thành công hay thất bại của một thương vụ M&A mang lại

1.1.2 Phân loại hình thức M&A

Dựa theo các tiêu chí, hoạt động M&A có thể được phân loại như sau3,4:

(a) Căn cứ vào chức năng của các công ty thành viên: hoạt động

M&A có thể được phân loại theo 3 hình thức: (1) M&A chiều ngang, (2) M&A chiều dọc và (3) M&A kết hợp:

(1) M&A chiều ngang (Horizontal): là hình thức mua bán, sáp nhập giữa các doanh nghiệp cùng ngành, việc sáp nhập giữa các công ty cạnh tranh trực tiếp, có cùng loại sản phẩm và thị trường Kết quả từ việc mua bán, sáp nhập theo hình thức này sẽ mang lại cơ hội mở rộng thị trường, tăng hiệu quả trong việc kết hợp thương hiệu, giảm chi phí cố định, tăng cường hiệu quả hệ thống phân phối

(2) M&A chiều dọc (Vertical): Mua bán, sáp nhập giữa các doanh nghiệp tham gia vào các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất và tiếp cận thị trường, nhằm giảm chi phí giao dịch và các chi phí khác thông qua việc quốc tế hóa các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất và phân phối, đồng thời tạo ra lợi thế về đảm bảo và kiểm soát chất lượng nguồn hàng hoặc đầu ra sản phẩm, giảm chi phí trung gian, khống chế nguồn hàng hoặc đầu ra của đối thủ cạnh tranh… Hay nói cách khác, mua bán và sáp nhập theo chiều dọc là hoạt động sáp nhập hoặc mua lại giữa hai doanh nghiệp hoạt động kinh

3

Prentice Hall

hàng Việt Nam, Luận án Tiến sĩ

Trang 16

doanh trên cùng một chuỗi giá trị Hoạt động sáp nhập theo chiều dọc thường đem lại cho doanh nghiệp tiến hành sáp nhập nhiều lợi thế về đảm bảo và kiểm soát chất lượng nguồn hàng hoặc đầu ra của sản phẩm, giảm chi phí trung gian, không chế nguồn hàng hoặc đầu ra của đối thủ cạnh tranh (3) M&A kết hợp (Conglomerate): Đây là hình thức mua bán và sáp nhập để hình thành nên các tập đoàn Hình thức này là sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau và không có liên quan, nhằm giảm cơ bản rủi ro nhờ đa dạng hóa và để khai thác các hình thức kinh

tế khác nhau trong các lĩnh vực tài chính, tài nguyên Việc sử dụng hình thức M&A hình thành nên các tập đoàn sẽ là một cách tránh và không làm ảnh hưởng tới mức độ tập trung của thị trường Thông thường, các doanh nghiệp theo đuổi chiến lược đa dạng hóa các dãy sản phẩm thường lựa chọn chiến lược liên kết để thành lập các tập đoàn Lợi ích của M&A hình thành các tập đoàn là việc giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa, tiết kiệm chi phí gia nhập thị trường và đạt được lợi nhuận gia tăng nhờ có nhiều sản phẩm dịch vụ

(b) Căn cứ vào chủ thể tham gia thương vụ: hoạt động M&A có thể

được phân chia thành 2 loại: (1) M&A trong nước và (2) M&A quốc tế

(1) M&A trong nước: là hình thức mua bán và sáp nhập diễn ra tại một quốc gia và được thực hiện giữa các doanh nghiệp trong cùng lãnh thổ một quốc gia, không có sự kết hợp giữa các tài sản xuyên biên giới

(2) M&A quốc tế: là hình thức được thực hiện giữa các doanh nghiệp thuộc hai quốc gia khác nhau Ngoài ra, đây còn có thể coi là một trong những hình thức đầu tư trực tiếp và phổ biến trong nền kinh tế thị trường hiện nay Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế gần đây, làn sóng toàn cầu hóa

đã dần xóa bỏ biên giới kinh doanh của các công ty đa quốc gia khiến cho xu hướng M&A xuyên biên giới ngày càng trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh kinh tế toàn cầu

(c) Căn cứ trên góc độ tài chính doanh nghiệp: hoạt động M&A có

thể phân chia thành 3 loại cơ bản: (1) sáp nhập hay hợp nhất công ty, (2) thâu

Trang 17

tóm cổ phiếu/phần vốn góp để thâu tóm công ty, (3) thâu tóm tài sản dẫn đến

thâu tóm công ty:

(1) Sáp nhập hay hợp nhất công ty: Sáp nhập (merger) là sự nhập chung công ty này vào một công ty khác, theo đó công ty bị sáp nhập (acquired firm)

sẽ ngừng tồn tại như là thực thể riêng biệt, nhập chung tài sản và nợ của nó vào công ty sáp nhập (acquiring firm), trong khi công ty sáp nhập vẫn giữ lại tên và sự tồn tại của nó Tài sản, nợ phải trả được nhập vào công ty sáp nhập nên phát sinh nhiều vấn đề về tài chính Hợp nhất (consolidation) khác ở chỗ kết quả là một công ty hoàn toàn mới được tạo ra sau khi hợp nhất, cả 2 công

ty trước đó sẽ trở thành một phần của công ty mới, đều không còn tồn tại như một thực thể độc lập

(2) Thâu tóm cổ phiếu/phần vốn góp để thâu tóm công ty: Bao gồm chào giá riêng (giữa ban quản lý 2 công ty) hay chào giá công khai Hoạt động có một số đặc điểm như không cần họp đại hội cổ đông, bỏ phiếu, công ty đặt giá

có thể thương lượng trực tiếp với cổ đông, không cần hỏi ý kiến ban quản lý, hội đồng quản trị, ít thân thiện, dễ gặp sự kháng cự, và kết quả đa dạng khi có thể công ty mục tiêu sẽ không bị thâu tóm toàn bộ, hoặc kết thúc bằng sáp nhập

(3) Thâu tóm tài sản (acquisition of assets): Đây là hình thức công ty sáp nhập, mua lại có thể tự mình hoặc cùng với công ty mục tiêu tiến hành định giá tài sản của công ty đó (thông thường họ sẽ thuê một công ty định giá tài sản độc lập) Sau đó các bên sẽ tiến hành thương lượng để đưa ra một mức giá phù hợp (có thể cao hoặc thấp hơn) Phương thức thanh toán có thể bằng tiền mặt và nợ Điểm hạn chế của phương thức này là các tài sản vô hình như thương hiệu, thị phần, văn hóa… thường rất khó định giá và thương lượng, thường đòi hỏi cần họp bàn để tổ chức bỏ phiếu giữa các cổ đông về việc bán công ty Thêm vào đó, hình thức này còn liên quan đến nhiều vấn đề về thủ tục pháp lý khi chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản, dẫn tới làm tăng chi phí khi thực hiện M&A

Trang 18

(d) Căn cứ trên tính chất của thương vụ: đây là cách phân loại theo

UNCTAD (2011), với 2 loại: (1) M&A thân thiện (Friendly), (2) M&A thù nghịch (Hostile)

(1) M&A thân thiện (Friendly): là hình thức ban quản trị công ty mục tiêu hay công ty bị mua lại) đồng thuận và ủng hộ trong giao dịch mua lại đó Các thương vụ M&A này thường xuất phát từ lợi ích chung của cả hai bên (2) M&A thù nghịch (Hostile): M&A theo kiểu thù nghịch – M&A bất hợp tác: là hình thức ban quản trị của công ty mục tiêu không đồng ý và sử dụng các biện pháp nhằm chống lại sự thâu tóm, mua lại từ phía công ty đi mua Đây là những thương vụ không có sự ủng hộ của ban quản lý của công

ty mục tiêu, bởi đôi khi, việc thâu tóm có thể gây nên những tổn thất cho công

ty mục tiêu

(e) Căn cứ vào phạm vi, lãnh thổ: M&A có thể phân chia thành 3 loại

(1) Inbound M&A, (2) Outbound M&A, (3) Domestic M&A

(1) Inbound M&A: Đây là hình thức mua bán và sáp nhập trong đó các tập đoàn, doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài tham gia đầu tư vào thị trường một quốc gia thông qua việc đầu tư vào hoặc thâu tóm doanh nghiệp nội địa của quốc gia đó

(2) Outbound M&A: Đây là hình thức mua bán và sáp nhập trong đó tập đoàn, doanh nghiệp, tổ chức nội địa thực hiện đầu tư ra nước ngoài thông qua việc thâu tóm doanh nghiệp nước ngoài tại nước đến đầu tư

(3) Domestic M&A: các thương vụ M&A diễn ra giữa các doanh nghiệp trong một quốc gia bao gồm cả công ty nội địa, công ty nước ngoài thành lập

và hoạt động tại quốc gia đó

1.1.3 Những tác động của đầu tư theo hình thức M&A đối với nền kinh tế - xã hội và doanh nghiệp

1.1.3.1 Những tác động của đầu tư theo hình thức M&A đối với nền kinh tế - xã hội:

Trang 19

(a) Những tác động tích cực của đầu tư theo hình thức M&A đối với nền kinh tế - xã hội:

- Hoạt động đầu tư theo hình thức M&A góp phần gia tăng mức độ năng động của nền kinh tế Thông qua hoạt động M&A, các doanh nghiệp hoạt động không tốt, có nguy cơ phá sản sẽ được các doanh nghiệp khác xem xét mua lại hoặc tiến hành sáp nhập, hợp nhất Khi đó, ảnh hưởng không tốt từ các doanh nghiệp phá sản đối với nền kinh tế sẽ giảm đi

- Hoạt động đầu tư theo hình thức M&A càng phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của nhiều ngành dịch vụ hỗ trợ như các công ty tư vấn pháp luật, các ngân hàng đầu tư, các trung gian môi giới để đảm bảo cho sự thành công của các thương vụ mua bán

- Hoạt động đầu tư theo hình thức M&A sẽ tạo kênh huy động, thu hút các nguồn vốn đầu tư và nguồn lực nước ngoài, góp phần phát triển kinh tế đất nước Cùng với việc bỏ vốn xây dựng một doanh nghiệp mới, các nhà đầu

tư nước ngoài có thể bỏ vốn mua lại hoặc sáp nhập với một cơ sở kinh doanh

có sẵn và tiếp tục hoạt động, phát triển nó

- Hoạt động đầu tư theo hình thức M&A là một giải pháp quan trọng trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế M&A là một trong những hoạt động phổ biến trong bối cảnh cạnh tranh ngành càng khốc liệt Quá trình tái cấu trúc kinh tế tạo áp lực cho các doanh nghiệp còn trụ lại phải là những doanh nghiệp khỏe mạnh, được sàng lọc M&A góp phần hình thành nên những tổ chức mới, những tập đoàn phù hợp và hoạt động có hiệu quả trong tình hình mới, từ đó gia tăng các động lực tích cực cho phát triển kinh tế

- Hoạt động đầu tư theo hình thức M&A có sự tham gia của các nhà đầu

tư nước ngoài còn giúp tạo công ăn việc làm cho người dân, nâng cao chất lượng nguồn lao động và nâng cao đời sống cho người dân Thông qua M&A

có sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài, chúng ta cũng có cơ hội để phát triển nguồn nhân lực Bởi lẽ, vì mục đích hoạt động của mình mà các nhà đầu tư sẽ tiến hành bồi dưỡng đào tạo đội ngũ lao động sở tại để họ có thể thích nghi với phương thức hoạt động cũng như cách làm ăn với nước ngoài

Trang 20

(b) Những tác động tiêu cực của đầu tư theo hình thức M&A đối với nền kinh tế - xã hội:

- Không phải hoạt động đầu tư theo hình thức M&A nào cũng làm gia tăng năng lực sản suất và giá trị thị trường, hoạt động đầu tư theo hình thức M&A tràn lan không suy tính kỹ càng, không có chiến lược quản lý hiệu quả

có thể là con đường dẫn đến sự phá sản, gây ra những hoang mang, sự suy sụp cho ngành nghề lĩnh vực mà nó tham gia

- Mặc dù hoạt động đầu tư theo hình thức M&A có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài cũng là một hình thức đầu tư FDI, nhưng có thể tinh giản

bộ máy hoạt động, đôi khi còn thay đổi cơ cấu, đào thải những lao động không phù hợp, vì vậy làm tăng gánh nặng quản lý của Nhà nước

- Hoạt động đầu tư theo hình thức M&A đã tạo ra sân chơi không công bằng cho các doanh nghiệp nhỏ, thông qua hoạt động đầu tư theo hình thức M&A các công ty lớn, công ty đa quốc gia có thể thao túng dễ dàng một thị trường nào đó, làm gia tăng tính độc quyền Đặc biệt với hình thức thao túng

cổ phần sẽ là nỗi lo âu của các doanh nghiệp vốn cổ phần còn thấp

- Hoạt động đầu tư theo hình thức M&A còn mang một nguy cơ tiềm tàng rất nguy hiểm Chính hoạt động đầu tư theo hình thức M&A sẽ làm lụi tàn lòng nhiệt huyết của những nhà quản lý các công ty nhỏ, làm mất đi động lực, sức sáng tạo của quá trình phát triển kinh tế

1.1.3 Những tác động của đầu tư theo hình thức M&A đối với doanh nghiệp:

(a) Những tác động tích cực của đầu tư theo hình thức M&A đối với doanh nghiệp:

- Hoạt động đầu tư theo hình thức M&A tạo nền tảng hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường, cũng như thâm nhập thị trường mới Khi tiến hành hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, các doanh nghiệp đi mua thường

có lợi thế sau thương vụ M&A hoàn thành, bởi ngay lập tức, doanh nghiệp đã

có thể tận dụng cơ sở vật chất của doanh nghiệp mục tiêu làm nền tảng cho

Trang 21

quá trình phát triển kế tiếp thay vì phải xây mới từ đầu Do vậy, doanh nghiệp mới hình thành hay doanh nghiệp sáp nhập có thể thâm nhập ngay vào thị trường mới mà không tốn thời gian, chi phí xây dựng cơ sở vật chất

- Hoạt động đầu tư theo hình thức M&A góp phần tiết kiệm chi phí Marketing của doanh nghiệp khi doanh nghiệp mới tiếp quản thị phần của doanh nghiệp mục tiêu, hay doanh nghiệp bị sáp nhập Thông thường một doanh nghiệp mới khi gia nhập vào một thị trường tốn khá nhiều chi phí cho hoạt động tuyên truyền, quảng bá giới thiệu doanh nghiệp và sản phẩm Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ thâm nhập thị trường qua M&A, tiến hành mua các doanh nghiệp sẵn có trên thị trường, doanh nghiệp đi mua sẽ giảm được chi phí quảng bá hình ảnh nhờ tận dụng uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp hiện hữu

- Hoạt động đầu tư theo hình thức M&A tạo điều kiện thu hút, tận dụng được nguồn lực chất lượng cao Hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp lại với nhau góp phần hình thành nên một doanh nghiệp mới, tuy nhiên là sự hình thành doanh nghiệp mới trên cơ sở các doanh nghiệp đã sẵn có trên thị trường Vì vậy, ngay lập tức, doanh nghiệp mới hình thành đã có sẵn cơ sở vật chất, và đội ngũ cán bộ, công nhân của doanh nghiệp cũ, nay thuộc doanh nghiệp mới Đây chính là con đường ngắn nhất giúp doanh nghiệp có đội ngũ cán bộ, công nhân được đào tạo nhanh nhất, và cũng giúp doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều chi phí đào tạo đội ngũ cán bộ

- Hoạt động đầu tư theo hình thức M&A là công cụ tài chính góp phần tích tụ các nguồn vốn tài chính hỗ trợ nâng cao năng lực kinh tế cho doanh nghiệp Thông thường sau các thương vụ M&A, quy mô doanh nghiệp thường

có xu hướng tăng lên, do doanh nghiệp tận dụng được nguồn lực, ưu thế vốn, công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến của doanh nghiệp đi mua Do vậy, điều này giúp cho doanh nghiệp mới có thể nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường, nâng cao hiệu quả kinh tế nhờ tính kinh tế theo quy mô khi tăng thị phần, giảm chi phí đầu tư tài sản cố định, giảm chi phí nhân công, công tác hậu cần,

và hoạt động phân phối

Trang 22

- Thông qua hoạt động đầu tư theo hình thức M&A, doanh nghiệp có thể nâng cao năng lực cạnh tranh và năng lực thị trường Hoạt động M&A diễn

ra, tất yếu làm cho thị trường giảm đáng kể số lượng các doanh nghiệp trên thị trường Điều này đồng nghĩa với sức nóng của hoạt động cạnh tranh sẽ bớt căng thẳng hơn giữa các bên liên quan

- Hoạt động đầu tư theo hình thức M&A góp phần hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới về công nghệ, áp dụng khoa học kỹ thuật mới thông qua nhận chuyển giao kỹ thuật, trình độ quản lý từ đối tác Để duy trì lợi thế trong kinh doanh, mỗi doanh nghiệp luôn cần quan tâm tới đầu tư vào hệ thống khoa học công nghệ để vượt qua các doanh nghiệp cạnh tranh khác Thông qua hoạt động mua bán và sáp nhập, các doanh nghiệp có thể nhận chuyển giao kỹ thuật và công nghệ cho nhau Từ đó, doanh nghiệp mới hình thành có thể tận dụng được công nghệ chuyển giao và có những lợi thế cạnh tranh nhất định trên thị trường

- Hoạt động đầu tư theo hình thức M&A góp phần hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện chiến lược đa dạng hóa, dịch chuyển chuỗi giá trị Nhiều tổ chức tài chính thực hiện các thương vụ mua bán và sáp nhập nhằm hiện thực hóa chiến lược đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ tài chính cung ứng Trên cơ sở đó, doanh nghiệp có thể mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ cung ứng nhờ vào kế thừa, học hỏi các sản phẩm của các đối tác trong thương vụ M&A

(b) Những tác động tiêu cực của đầu tư theo hình thức M&A đối với doanh nghiệp:

- Hoạt động đầu tư theo hình thức M&A trong nhiều trường hợp sẽ làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường khi những doanh nghiệp sau khi sáp nhập

có vị trí thống lĩnh trên thị trường

- Hoạt động đầu tư theo hình thức M&A có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài tạo ra môi trường cạnh tranh cần thiết cho các doanh nghiệp trong nước Nhưng chính sự cạnh tranh đó lại là một mối đe doạ đối với họ Điều này đặc biệt đúng với các nước có trình độ mở cửa chưa cao

Trang 23

- Hoạt động đầu tư theo hình thức M&A thường tạo ra các vấn đề xã hội liên quan đến việc người lao động bị dôi dư do cơ cấu lại hoạt động doanh nghiệp

- Sự khác biệt về văn hóa tổ chức và cách vận hành sẽ tạo ra sự mâu thuẫn dẫn đến tính hiệu quả kinh tế thấp

- Hoạt động đầu tư theo hình thức M&A có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài không làm gia tăng thêm năng lực sản xuất nhiều cho nền kinh tế như đầu tư trực tiếp mà nó chỉ đơn thuần là việc chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát cho phía các nhà đầu tư nước ngoài Nhìn chung, hoạt động M&A không thực sự thiện chí và nếu nước nhận đầu tư không có sự chuẩn bị tốt sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sự phát triển kinh tế của nước nhận đầu

- Hoạt động chuyển giao công nghệ, kỹ năng mới của hình thức đầu tư theo hình thức M&A có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài không triệt để bởi vì các nhà đầu tư theo M&A cho rằng doanh nghiệp của họ ở nước nhận đầu tư cũng có một vốn cơ sơ kỹ thuật công nghệ nhất định rồi nên việc đầu

tư toàn bộ công nghệ mới là không cần thiết Cách nghĩ này khác hoàn toàn với đầu tư mới khi mà họ chưa có trong tay cái gì, họ phải tự trang bị toàn bộ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Chính vì thế mà khả năng các nước nhận đầu tư trở thành bãi rác thải công nghiệp của thế giới là rất cao

1.2 PHÁP LUẬT VỀ M&A VÀ ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC M&A

1.2.1 Pháp luật về M&A và đầu tư theo hình thức M&A trước Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trong giai đoạn này các quy định của pháp luật Việt Nam về M&A được ban hành rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau Những quy định mang tính nền tảng về hợp nhất, sáp nhập, chia và tách pháp nhân trong Bộ luật Dân sự (các năm 1995, 2005) là cơ sở để các văn bản chuyên ngành như Luật Doanh nghiệp (thay đổi vào các năm 1999, 2005), Luật Đầu tư năm

Trang 24

2005, Luật Cạnh tranh năm 2004, Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/2/2010 quy định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng, Nghị định số 109/2008/NĐ-CP ngày 10/10/2008 về bán, giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và trong các văn bản có liên quan khác quy định chi tiết đối với vấn đề đầu tư theo hình thức M&A

1.2.1.1 Quy định trong pháp luật về doanh nghiệp

Vấn đề M&A sớm được manh nha trong các quy định của Luật Công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995 (thay đổi năm 2003) tuy nhiên phải đến Luật Doanh nghiệp

1999 thì vấn đề này mới được ghi nhận một cách cụ thể và thống nhất cho các loại hình doanh nghiệp Cụ thể, Luật Doanh nghiệp năm 1999 quy định M&A gồm các dạng: chia doanh nghiệp (Điều 1055), tách doanh nghiệp (Điều

1066), hợp nhất doanh nghiệp (Điều 1077), sáp nhập doanh nghiệp (Điều

1088)

Trên cơ sở kế thừa và phát triển Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 được thông qua tiếp tục ghi nhận và bổ sung những quy định mới về M&A từ đó thúc đẩy quá trình M&A được diễn ra thuận lợi, đáp ứng được yêu cầu phát triển của doanh nghiệp Cụ thể, Luật Doanh

nghiệp năm 2005 đã đề cập đến khái niệm “bán doanh nghiệp” khi quy định

về quyền được bán doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp tư nhân (Khoản 1, Điều 145) Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp chỉ dừng lại ở việc gọi tên hiện tượng mà chưa có bất cứ định nghĩa cụ thể nào về bán doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp năm 2005, Nghị định 109/2008/NĐ-CP cũng đã đề cập đến

5

Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể được chia thành một số công ty cùng loại

hiện có (gọi là công ty bị tách) để thành lập một hoặc một số công ty mới cùng loại (gọi là công ty được tách); chuyển một phần quyền và nghĩa vụ của công ty bị tách sang công ty được tách mà không chấm dứt tồn tại của công ty bị tách

là công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất

là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công

ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.

Trang 25

khái niệm bán doanh nghiệp với bản chất là “việc chuyển sở hữu có thu tiền

toàn bộ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoặc bộ phận doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang sở hữu tập thể, cá nhân hoặc pháp nhân khác9” Khái

niệm trên đã xác định được bản chất của quan hệ mua bán doanh nghiệp là chuyển quyền sở hữu doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có thu tiền

Tuy nhiên, về cơ bản, khái niệm “bán doanh nghiệp” theo quy định tại Nghị

định này được tiếp cận tương đối hẹp khi chỉ điều chỉnh việc mua bán các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Nghị định 109/2008/NĐ-CP mới chỉ dừng lại ở việc thừa nhận mua bán doanh nghiệp chỉ xảy ra ở một loại hình doanh nghiệp nhất định là doanh nghiệp tư nhân theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 hoặc doanh nghiệp 100% vốn nhà nước theo Nghị định 109/2008/NĐ-CP mà không thừa nhận hiện tượng mua bán doanh nghiệp ở các loại hình doanh nghiệp khác

Tương tự các quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 1999, đối với hình thức M&A, Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng ghi nhận hoạt động M&A tồn tại ở các dạng: Chia doanh nghiệp (Khoản 1 Điều 150), Tách doanh nghiệp (Khoản 1 Điều 151), Hợp nhất doanh nghiệp (khoản 1, Điều 152), Sáp nhập doanh nghiệp (khoản 1, Điều 153)

1.2.1.2 Quy định trong pháp luật về cạnh tranh

Dưới góc độ pháp luật về cạnh tranh, Khoản 3 Điều 17 Luật Cạnh tranh

năm 2004 đã ghi nhận hình thức M&A dưới khái niệm “mua lại doanh

nghiệp” Theo đó, mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn

bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại Cũng theo Điều

17, Luật Cạnh tranh năm 2004 thì M&A được thể hiện dưới các hình thức: Sáp nhập doanh nghiệp, Hợp nhất doanh nghiệp, Mua lại doanh nghiệp10

9

Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 109/2008/NĐ-CP

lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập

Trang 26

Có thể nói, nếu như cách tiếp cận về M&A ở Luật Doanh nghiệp năm

2005 và Nghị định số 109/2008/NĐ-CP mang tính chất là luật “mở đường”, dừng lại ở việc trao quyền cho các chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp 100% vốn nhà nước được thực hiện quyền tự do trong kinh doanh nói chung hay giao kết hợp đồng mua bán doanh nghiệp nói riêng, thì Luật Cạnh tranh năm 2004 lại quan tâm đến khả năng kiểm soát, chi phối của doanh nghiệp sau thương vụ mua bán doanh nghiệp Với ý nghĩa như vậy, hoạt động mua bán doanh nghiệp được tiếp cận trong Luật Cạnh tranh năm 2004 dưới khía cạnh khả năng kiểm soát chi phối doanh nghiệp sau mua bán doanh nghiệp có ảnh hưởng gì đến cạnh tranh hay không? Nếu ảnh hưởng nghiêm trọng đến cạnh tranh, hành vi đó sẽ bị kiểm soát11

1.2.1.3 Quy định trong pháp luật về đầu tư

Dưới góc độ pháp luật về đầu tư, đầu tư theo hình thức M&A được ghi nhận đối với các hoạt động góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế Khoản 1 Điều 17 Luật Đầu tư năm 2005 quy định khi thực hiện một

dự án đầu tư, nhà đầu tư có thể chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án

đó cho nhà đầu tư khác Như vậy, đây chính là hoạt động M&A của dự án chứ không phải là hoạt động liên quan đến mua bán cổ phần

Về hình thức đầu tư, Điều 21 Luật Đầu tư năm 2005 ghi nhận nhà đầu tư

có thể đầu tư thông qua các hình thức mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư; đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp Nhà đầu tư được góp vốn, mua cổ phần của các công ty, chi nhánh tại Việt Nam Tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần cửa nhà đầu tư nước ngoài đối với một

số lĩnh vực ngành nghề do Chính phủ quy định Ngoài ra, nhà đầu tư nước ngoài khi góp vốn, mua cổ phần phải thực hiện đúng các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về tỷ lệ góp vốn, hình thức đầu

- Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất

- Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại

Hà Nội, Hà Nội, 2014

Trang 27

tư và lộ trình mở cửa thị trường (Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP) Điều 25 cũng khẳng định điều kiện sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh theo quy định của Luật Đầu tư, pháp luật về cạnh tranh và các quy định khác của pháp luật có liên quan Đối với những ngành nghề kinh doanh có điều kiện (như tài chính, ngân hàng, viễn thông, giáo dục…) thì nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng điều kiện đầu tư như nhà đầu tư trong nước trong trường hợp các nhà đầu tư Việt Nam sở hữu từ 51% vốn điều lệ của doanh nghiệp trở lên (Khoản 4 Điều 29)

Các quy định về thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thủ tục thẩm tra đầu tư được thiết kế để thực hiện vai trò quản lý nhà nước về đầu tư Từ Điều 42 đến Điều

50 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP quy định về việc đăng ký đầu tư và thẩm tra dự án đầu tư; Điều 56 quy định về Thủ tục đầu tư trực tiếp theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp Tuy nhiên, nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và thực hiện thủ tục đầu tư để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư; Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện dự án đầu tư

Trong pháp luật đầu tư chỉ có một số quy định đề cập đến vấn đề kiểm

soát tập trung kinh tế dưới góc độ Luật Cạnh tranh: “Nhà đầu tư khi góp vốn,

mua cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp tại Việt Nam phải: tuân thủ các quy định về điều kiện tập trung tinh tế của pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về doanh nghiệp” (Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 108/2006/NĐ-

CP)

1.2.1.4 Quy định trong pháp luật về chứng khoán

Về vấn đề M&A, Luật Chứng khoán năm 2006 cũng có các điều khoản liên quan đến tập trung kinh tế thông qua các giao dịch trên thị trường chứng khoán12; Điều 32 quy định về chào mua công khai, theo đó các tổ chức, cá

12

Điều 29 quy định việc báo cáo về sở hữu của cổ đông lớn: “1 Tổ chức, cá nhân trở thành cổ đông lớn của công ty đại chúng phải báo cáo công ty đại chúng, ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán nới cổ phiếu của công ty đại chúng đó được niêm yết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày trở thành cổ đông lớn … 4 Quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này cũng áp

Trang 28

nhân chào mua công khai số cổ phiếu có quyền biểu quyết dẫn đến việc sở hữu từ 25% trở lên số cổ phiếu đang lưu hành của một công ty đại chúng phải gửi đăng ký chào mua đến Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; Điều 69 quy định việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ phải được sự chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

1.2.1.5 Quy định trong Luật các Tổ chức tín dụng

Luật các Tổ chức tín dụng năm 1997 (sửa đổi vào năm 2004, 2010), tại Điều 34 quy định đối với chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, mua lại, giải thể tổ chức tín dụng phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản Ngoài ra, một số quy định liên quan giúp hỗ trợ cho hoạt động kiểm soát tập trung kinh tế, như: tổ chức được cấp giấy phép có thể bị Ngân hàng nhà nước thu hồi giấy phép khi chia, sáp nhập, hợp nhất, phá sản (Điều 29); tổ chức tín dụng phải được Ngân hàng nhà nước chấp thuận bằng văn bản trước khi thực hiện chuyển nhượng cổ phần có ghi tên quá tỷ lệ quy định của Ngân hàng nhà nước, hoặc khi thay đổi tỷ lệ cổ phần của các cổ đông lớn (Điều 31)

Ngoài ra, hoạt động M&A còn được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật trong các lĩnh vực khác như Thuế, Kế toán, Kiểm toán, Lao động,

1.2.2 Pháp luật về M&A và đầu tư theo hình thức M&A sau Luật Doanh nghiệp năm 2014

Hiến pháp 2013 ra đời đã khẳng định về quyền tự do kinh doanh của công dân cũng như cam kết xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi và minh bạch hơn nữa để huy động có hiệu quả nguồn vốn đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Trên cơ sở đó, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014,… đã được ban hành, trong đó hành lang pháp lý đối với hình thức đầu tư M&A ngày càng được thông thoáng và hoàn thiện

1.2.2.1 Quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2014

dựng đối với nhóm người có liên quan sở hữu từ năm phần trăm trở lên - số cổ phiếu có quyền biểu quyết của

tổ chức phát hành."

Trang 29

Trước làn sóng M&A ngày càng nở rộ cũng như phù hợp hơn với thực tế kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp năm 2014 được ban hành, đã thực sự tháo gỡ những hạn chế, bất cập của luật cũ trước đây về vấn đề M&A Trong lần thay đổi này, các quy định đối với đầu tư theo hình thức M&A đã được nới lỏng hơn, nhằm tăng quyền tự chủ cho doanh nghiệp,

mở ra các cơ hội đầu tư cho doanh nghiệp và điều này hứa hẹn thị trường mua bán và sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam sẽ là điểm đến lý tưởng cho các nhà đầu tư trên toàn thế giới Cụ thể:

Hiện nay Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã trao quyền tự do nhiều hơn cho doanh nghiệp bằng việc quy định không bắt buộc công ty mới sau khi chia, công ty bị tách, các công ty bị hợp nhất và các công ty bị sáp nhập phải

là công ty cùng loại với công ty bị chia, được tách, được hợp nhất, được sáp nhập13 Đồng thời đã đưa ra những cách thức chia, tách doanh nghiệp một cách linh hoạt và tạo tính chủ động cho các cổ đông (công ty cổ phần) hoặc thành viên (công ty trách nhiệm hữu hạn)14 Như vậy, việc lựa chọn cách thức chia như thế nào, giá trị bao nhiêu là hoàn toàn tùy thuộc về quyền tự quyết của các cổ đông/thành viên

Mặt khác, Luật Doanh nghiệp năm 2014 hiện nay quy định: Khi hợp nhất thì trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của công ty hợp nhất phải kèm theo bản sao của (a) Hợp đồng hợp nhất, (b) Nghị quyết và Biên bản họp thông qua hợp đồng hợp nhất của các công ty bị hợp nhất Đối với trường hợp sáp nhập thì công ty nhận sáp nhập hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải kèm theo bản sao của (a) Hợp đồng sáp nhập, (b) Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp đồng sáp nhập của các công ty nhận sáp nhập, và (c) Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp đồng sáp nhập của các công ty bị sáp nhập, trừ trường hợp công ty nhận sáp nhập là thành viên, cổ đông sở hữu trên 65% vốn điều lệ hoặc cổ phần có quyền biểu quyết của công ty bị sáp nhập Điều này là hoàn toàn cần thiết, để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp tại Việt Nam Bởi nếu như trong trường hợp chia hoặc tách doanh

Trang 30

nghiệp là những trường hợp mang tính chất nội bộ, nhằm cơ cấu lại bên trong

tổ chức của doanh nghiệp bị chia hoặc doanh nghiệp bị tách; đối với hợp nhất doanh nghiệp thì công ty bị hợp nhất cần phải có sự kết nối với bên ngoài, không còn là câu chuyện nội bộ của doanh nghiệp nữa Do đó, khi các công ty

bị hợp nhất liên kết/hợp tác với nhau thì hợp đồng hợp nhất chính là cơ sở pháp lý cho sự liên kết này, và các quyết định và biên bản họp của từng công

ty bị hợp nhất chính là văn bản thể hiện ý chí của các bên trong quan hệ hợp nhất Mặt khác, chính sự liên kết/hợp tác giữa các doanh nghiệp với nhau có thể dẫn đến độc quyền hoặc tập trung kinh tế theo pháp luật cạnh tranh; cho nên, việc các nhà làm luật yêu cầu trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của công ty hợp nhất cần phải có các tài liệu (a) và (b) như trên là hoàn toàn cần thiết, để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp tại Việt Nam

Thay thế Nghị định số 109/2008/NĐ-CP, Nghị định số 128/2014/NĐ-CP cũng tiếp tục ghi nhận các quy định về bán, giao và chuyển giao doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước như bán công ty mẹ trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước

1.2.2.2 Quy định trong Luật Đầu tư năm 2014

Luật Đầu tư năm 2014 được ban hành, đã điều chỉnh hoạt động M&A dựa trên cơ sở thể chế hóa nguyên tắc Hiến định về quyền tự do kinh doanh của công dân trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm; hoàn thiện

cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi và minh bạch hơn nữa để huy động có hiệu quả nguồn vốn đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; tạo bước chuyển biến mới về cải cách thủ tục hành chính trong thực hiện hoạt động đầu tư gắn liền với việc đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư

So với trước đây, Luật Đầu tư năm 2014 đã quy định tương đối minh bạch về chủ thể thực hiện mua bán và sáp nhập doanh nghiệp như nhà đầu tư, trong đó đưa ra quy định rõ ràng về các chủ thể phải thực hiện các thủ tục đầu

tư như nhà đầu tư nước ngoài Luật Đầu tư năm 2014 dung hòa cả hai tiêu chí

Trang 31

là quốc tịch và vốn đầu tư để chia nhà đầu tư thành ba nhóm: (i) nhà đầu tư có quốc tịch nước ngoài; (ii) doanh nghiệp Việt Nam có 51% vốn nước ngoài; và (iii) doanh nghiệp Việt Nam có dưới 51% vốn nước ngoài Nhóm (i) và (ii) bị

áp dụng các điều kiện như nhà đầu tư nước ngoài (từ ngành nghề đầu tư đến thủ tục đầu tư…) còn nhóm (iii) được áp dụng các thủ tục và điều kiện như doanh nghiệp trong nước

Đối với hình thức và điều kiện thực hiện M&A, Luật Đầu tư năm 2014 quy định minh bạch về hình thức và điều kiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế15 Điều 21 Luật Đầu tư năm 2014 sửa đổi, bổ sung quy định về đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần theo hướng khẳng định quyền của nhà đầu tư trong việc thực hiện hoạt động đầu tư theo hình thức góp vốn, mua lại phần vốn góp, mua cổ phần phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và trên cơ sở đáp ứng các điều kiện của Luật Đầu tư 2014 Về tỷ lệ sở hữu vốn, nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ các trường hợp được ghi nhận tại Khoản 3 Điều 22 Luật Đầu tư năm 2014

Về thủ tục, hồ sơ thực hiện M&A hiện nay được ghi nhận tại Điều 37, 40 của Luật Đầu tư năm 2014, có thể nói, thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đã được Luật Đầu tư năm 2014 rút ngắn đáng kể so với Luật Đầu tư năm 2005 Theo đó, Luật Đầu tư năm 2014 đã khắc phục được bất cập nêu trên, quy định minh bạch về thủ tục thực hiện đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp cũng như trình tự để tiến hành thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp

Như vậy, hiện nay thủ tục đối với hình thức M&A đã cởi mở hơn rất nhiều, thậm chí dễ dàng hơn so với việc nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp mới Bởi hiện nay nếu một nhà đầu tư nước ngoài khi mua cổ phần/phần vốn góp, góp vốn dưới 51% vốn điều lệ, không thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện, thì họ không phải làm thủ tục đầu tư, mà chỉ cần thực hiện đăng ký thay đổi thành viên Thủ tục đơn giản hơn như vậy chắc

Trang 32

chắn sẽ kích thích được sự tăng trưởng của hoạt động M&A Các quy định điều chỉnh M&A theo Luật Đầu tư năm 2014 như bộ phận quan trọng của khung pháp lý điều chỉnh hoạt động M&A ở Việt Nam về cơ bản đã thông thoáng, minh bạch, hợp lý, khả thi; tạo điều kiện thúc đẩy được hoạt động M&A

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ THEO

HÌNH THỨC M&A TẠI VIỆT NAM

2.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC M&A QUA MỘT SỐ VỤ VIỆC THỰC TIỄN

2.1.1 Vụ việc tách doanh nghiệp và mua lại cổ phần

Tháng 12 năm 2009, Công ty cổ phần Phát triển An Việt là nhà đầu tư của Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng tại phường Phương Canh, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội Đến tháng 12 năm 2013, Công

ty An Việt mới chỉ hoàn thành đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng được 60% diện tích khu đất để thực hiện Dự án Các cổ đông công ty An Việt tổ chức họp và thống nhất việc chuyển nhượng Dự án để lấy lại nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh khác của công ty Công ty cổ phần Đầu tư Everland là đơn

vị chuyên đầu tư và kinh doanh các sản phẩm bất động sản đã tìm đến để đàm phán mua lại Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng của Công ty

An Việt

Tuy nhiên, tại thời điểm các bên đàm phán các nội dung liên quan đến việc chuyển nhượng thì Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng chưa đủ điều kiện để chuyển nhượng nên Công ty An Việt và Công ty Everland không thể ký kết Hợp đồng chuyển nhượng Dự Án Phương án Công ty cổ phần Đầu tư Everland sẽ sở hữu Dự án thông qua việc nhận chuyển nhượng toàn bộ cổ phần của Công ty cổ phần Phát triển An Việt cũng không khả thi bởi ngoài hoạt động đầu tư tại Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng, Công ty cổ phần Phát triển An Việt hiện còn nhiều hoạt động kinh doanh thương mại đang tiếp diễn

Phương án được Công ty Everland đề xuất là Công ty An Việt tách toàn

bộ tài sản thuộc Dự Án để thành lập một công ty mới và tiến hành thủ tục đăng ký đầu tư để điều chỉnh Nhà đầu tư Dự Án từ Công ty An Việt sang cho

Trang 34

Công ty được tách, sau đó Công ty Everland nhận chuyển nhượng Dự Án thông qua việc mua lại toàn bộ Công ty được tách Các bên thống nhất phương án và xây dựng lộ trình chi tiết để cùng thực hiện Nội dung cụ thể được mô tả như sau:

2.1.1.1 Về việc tách Công ty An Việt

Theo Điều 151 Luật Doanh nghiệp năm 2005, Công ty cổ phần Phát triển Y học An Việt có thể tách bằng cách chuyển một phần tài sản của Công

ty An Việt là khối tài sản thuộc Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng để thành lập một Công ty cổ phần mới (Công ty được tách) Các quyền và nghĩa vụ liên quan đến Dự Án, bao gồm cả quyền đầu tư, khai thác

và thụ hưởng Dự Án được chuyển sang cho Công ty được tách Công ty An Việt không bị chấm dứt tồn tại và tiếp tục triển khai các hoạt động kinh doanh thương mại đang tiếp diễn Sau khi đăng ký kinh doanh cho Công ty được tách, Công ty An Việt và Công ty được tách cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản của Công ty An Việt, trừ trường hợp Công ty An Việt, Công ty được tách và các bên liên quan có thỏa thuận khác

a Điều kiện để tách Công ty An Việt

Điều kiện để có thể tiến hành tách công ty là việc tách công ty cần phải được Đại hội đồng cổ đông Công ty An Việt thông qua theo quy định tại Luật Doanh nghiệp và Điều lệ của Công ty An Việt Nội dung quyết định tách công ty phải có các nội dung chủ yếu như sau:

- Tên, địa chỉ trụ sở chính của Công ty An Việt;

- Tên của Công ty được tách sẽ thành lập;

- Phương án sử dụng lao động khi tiến hành tách công ty;

- Giá trị tài sản thuộc Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng, các quyền và nghĩa vụ liên quan đến Dự Án được chuyển từ Công ty

An Việt cho Công ty được tách sẽ thành lập

- Thời gian thực hiện tách Công ty An Việt

b Trình tự thực hiện:

Trang 35

Việc tách Công ty An Việt để thành lập một Công ty cổ phần mới được tiến hành theo trình tự, thủ tục như sau:

Bước 1: Hội đồng quản trị của Công ty An Việt lập phương án chi tiết về việc tách công ty, bao gồm các nội dung chủ yếu như: phạm vi và giá trị phần tài sản, các quyền và nghĩa vụ được chuyển sang cho công ty được tách sẽ thành lập, phương án sử dụng lao động ở công ty được tách sẽ thành lập, phương án xử lý đối với các khoản nợ của Công ty An Việt đối với các chủ

nợ

Bước 2: Tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông Công ty An Việt để xem xét thông qua phương án tách công ty do Hội đồng quản trị trình tại cuộc họp Bước 3: Thông báo công khai Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông Công ty An Việt về việc tách công ty đến tất cả các chủ nợ và người lao động của công ty

Bước 4: Hội đồng quản trị Công ty An Việt triển khai chi tiết phương án tách công ty đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua

Bước 5: Tiến hành các thủ tục đăng ký kinh doanh cần thiết liên quan đến việc tách Công ty An Việt

Trang 36

(3) Thông báo của Công ty An Việt gửi đến tất cả các chủ nợ và người lao động của Công ty An Việt về việc tách công ty;

(4) Giấy đề nghị thành lập Công ty cổ phần mới được tách ra từ Công ty

An Việt;

(5) Danh sách cổ đông sáng lập Công ty cổ phần mới được tách ra từ Công ty An Việt;

(6) Điều lệ tổ chức hoạt động của Công ty được tách;

(7) Hồ sơ pháp lý về việc bầu Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc (Giám đốc) của Công ty được tách;

(8) Bản sao chứng thực Chứng minh nhân dân/Căn cước công dân/Hộ chiếu của cổ đông sáng lập, người quản lý của Công ty được tách;

(9) Bản sao chứng thực Giấy chứng nhận đầu tư Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng

d Kết quả của việc thực hiện

Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp cho Công ty được tách ra từ Công ty An Việt

2.1.1.2 Về việc đăng ký điều chỉnh Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng

Công ty được tách được thành lập trên cơ sở tách ra từ Công ty An Việt

và Công ty An Việt đã quyết định chuyển cho Công ty được tách các quyền

và nghĩa vụ liên quan đến Dự Án, bao gồm cả quyền đầu tư, khai thác và thụ hưởng Dự Án Theo quy định nêu trên, sau khi hoàn thành thủ tục đăng ký doanh nghiệp do tách Công ty, Công ty được tách tiến hành thủ tục đăng ký điều chỉnh Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng để thay đổi Nhà đầu tư từ Công ty cổ phần Phát triển Y học An Việt sang cho Công ty được tách

Tuy nhiên, Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng là Dự án được nhà nước cho thuê đất không thông qua đấu giá, đấu thầu hoặc nhận chuyển nhượng nên thuộc diện phải quyết định chủ trương của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Do đó, theo quy định tại Khoản 4 Điều 40 Luật Đầu tư

Trang 37

năm 2014, Công ty được tách tiến hành thủ tục quyết định chủ trương đầu tư trước khi tiến hành thủ tục đăng ký điều chỉnh Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng để thay đổi Nhà đầu tư từ Công ty cổ phần Phát triển Y học An Việt sang cho Công ty được tách

2.1.1.3 Trình tự thủ tục thực hiện đăng ký điều chỉnh Dự Án

a Điều kiện tiến hành

Để tiến hành thủ tục đăng ký điều chỉnh Dự Án, Công ty được tách cần phải được Cơ quan Đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp do thành lập trên cơ sở tách ra từ Công ty cổ phần Phát triển Y học An Việt

b Trình tự thực hiện:

Việc đăng ký điều chỉnh Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng để thay đổi Nhà đầu tư từ Công ty cổ phần Phát triển Y học An Việt sang cho Công ty được tách tiến hành theo trình tự, thủ tục như sau:

Bước 1: Công ty được tách thực hiện thủ tục Quyết định chủ trương đầu

tư của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Công ty được tách chuẩn bị bộ hồ

sơ dự án đầu tư (chi tiết tại Mục c dưới đây)

Bước 2: Công ty được tách nộp bộ hồ sơ tại Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội

Bước 3: Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội xem xét thụ lý hồ sơ

và gửi hồ sơ lấy ý kiến thẩm định của các Sở, Ban, Ngành có liên quan về việc thay đổi Nhà đầu tư của Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng

Bước 4: Sau khi nhận được ý kiến thẩm định của các Sở, Ban, Ngành có liên quan, Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội lập báo cáo thẩm định trình Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội

Bước 5: Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội xem xét báo cáo thẩm định

và quyết định chủ trương đầu tư Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng cho Công ty được tách

Trang 38

Bước 6: Công ty được tách thực hiện thủ tục xin cấp mới Giấy chứng nhận Đăng ký đầu tư Dự Án để ghi nhận Công ty được tách là Nhà đầu tư của

Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng

c Thành phần hồ sơ

Để tiến hành thủ tục quyết định chủ trương của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Công ty được tách cần chuẩn bị các hồ sơ tài liệu sau:

(1) Văn bản đề nghị thực hiện dự án đầu tư của Công ty được tách;

(2) Bản sao Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông Công ty An Việt về việc tách công ty;

(3) Bản sao cam kết hỗ trợ tài chính của Ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tín dụng cho Công ty được tách sử dụng vốn để thực hiện Dự Án;

(4) Đề xuất dự án đầu tư bao gồm các nội dung cơ bản của Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng như: Nhà đầu tư thực hiện Dự Án; Mục tiêu đầu tư; Quy mô đầu tư; vốn đầu tư và phương án huy động vốn, địa điểm, thời hạn, tiến độ đầu tư, nhu cầu về lao động, đề xuất hưởng ưu đãi đầu

tư, đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án;

(5) Báo cáo tình hình thực hiện Dự Án tính đến thời điểm nộp hồ sơ quyết định chủ trương;

(6) Bản giải trình về việc xin đăng ký điều chỉnh nội dung Nhà đầu tư

thực hiện Dự Án trên cơ sở tách Công ty An Việt;

(7) Bản sao Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp của Công ty được tách;

(8) Bản sao Giấy chứng nhận đầu tư của Dự án Trung tâm chăm sóc sức

khỏe y tế cộng đồng

d Kết quả của việc thực hiện thủ tục

Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ra Quyết định chủ trương đầu tư ghi nhận Công ty được tách là Nhà đầu tư của Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng Sau đó, Công ty được tách tiến hành thủ tục đăng ký điều chỉnh Dự Án tại Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư thành

Trang 39

phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng cho Công ty được tách

2.1.1.4 Về việc mua lại công ty được tách ra từ Công ty An Việt

Sau khi Công ty hoàn thành thủ tục đăng ký điều chỉnh dự án đầu tư và được ghi nhận là Nhà đầu tư Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng, Công ty cổ phần Đầu tư Everland tiến hành mua lại toàn bộ cổ phần của Công ty được tách Thông qua việc nắm giữ toàn bộ cổ phần của Công ty được tách, Công ty cổ phần Đầu tư Everland trở thành Chủ sở hữu mới của Công ty được tách, có quyền kiểm soát toàn bộ hoạt động của Công ty được tách Từ đó, Công ty cổ phần Đầu tư Everland có toàn quyền quản lý, khai thác Dự án Trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế cộng đồng

a Điều kiện tiến hành

Các cổ đông hiện tại của Công ty được tách chỉ được phép chuyển nhượng cổ phần cho Công ty cổ phần Đầu tư Everland trong trường hợp việc chuyển nhượng cổ phần được Đại hội đồng cổ đông Công ty chấp thuận

b Trình tự thực hiện

Việc Công ty cổ phần Đầu tư Everland mua lại cổ phần của Công ty được tách từ các cổ đông hiện tại được tiến hành theo trình tự, thủ tục như sau:

Bước 1: Đại hội đồng cổ đông Công ty được tách tổ chức họp và thông qua nội dung các cổ đông sáng lập của Công ty được tách chuyển nhượng cổ phần cho Công ty cổ phần Đầu tư Everland và các cá nhân/tổ chức do Công ty Everland chỉ định

Bước 2: Công ty cổ phần Đầu tư Everland và các cá nhân/tổ chức do Công ty Everland chỉ định ký kết Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần với các

cổ đông hiện tại của Công ty được tách

Bước 3: Sau khi Công ty cổ phần Đầu tư Everland thanh toán toàn bộ tiền chuyển nhượng cổ phần cho các cổ đông hiện tại của Công ty được tách, các bên tiến hành thanh lý Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần Công ty cổ

Trang 40

phần đầu tư Everland tiến hành đăng ký thay đổi cổ đông vào sổ đăng ký cổ đông của công ty

Bước 5: Công ty được tách thực hiện thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh do thay đổi chủ sở hữu công ty và thay đổi hình thức pháp lý của công

ty, thay đổi người đại diện theo pháp luật (nếu có)

c Thành phần hồ sơ

Để tiến hành thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh Công ty được tách do thay đổi cổ đông, Công ty được tách cần chuẩn bị các hồ sơ tài liệu sau:

(1) Bản sao Biên bản họp và Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông Công

ty được tách về việc thông qua nội dung chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông sáng lập cho Công ty cổ phần Đầu tư Everland;

(2) Bản sao Nghị quyết của Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Đầu tư Everland về việc nhận chuyển nhượng cổ phần của Công ty được tách từ các

cổ đông hiện tại;

(3) Danh sách cổ đông của Công ty được tách (sau khi chuyển nhượng) (4) Thông báo thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh của Công ty được tách;

(5) Bản sao Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp của Công ty được tách

d Kết quả của việc thực hiện

Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp Giấy xác nhận về việc đăng ký thay đổi cổ đông cho Công ty được tách và Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp mới do thay đổi người đại diện theo pháp luật

2.1.2 Vụ việc về sáp nhập doanh nghiệp

Sáp nhập được hiểu là việc kết hợp của hai hoặc nhiều công ty để tạo ra một công ty mới duy nhất có quy mô lớn hơn Có nhiều lý do và mục đích để các doanh nghiệp thực hiện việc sáp nhập với nhau như: các công ty cạnh tranh sáp nhập để chia sẻ dòng sản phẩm và thị trường, các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng sáp nhập để hợp tác đưa ra cho khách hàng dòng sản

Ngày đăng: 12/03/2019, 21:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Andrew J.Sherman and Milledge A. Hart (2006), Mergers and Acquisitions From A to Z, 2nd edition, Prentice Hall, New York, United States of America Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mergers and Acquisitions From A to Z
Tác giả: Andrew J.Sherman and Milledge A. Hart
Năm: 2006
13. Trần Thị Bảo Ánh, (2008), Thực trạng pháp luật Việt Nam về mua bán doanh nghiệp, Tạp chí Luật học, Số 5/2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng pháp luật Việt Nam về mua bán doanh nghiệp
Tác giả: Trần Thị Bảo Ánh
Năm: 2008
14. Trần Thị Bảo Ánh, (2011), Bất cập của pháp luật hiện hành về mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Luật học, Số 6/2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bất cập của pháp luật hiện hành về mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam và giải pháp hoàn thiện
Tác giả: Trần Thị Bảo Ánh
Năm: 2011
15. Trần Thị Bảo Ánh, (2013), Quan hệ mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam - nhận diện dưới góc độ pháp lí, Tạp chí Luật học, Số 1/2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam - nhận diện dưới góc độ pháp lí
Tác giả: Trần Thị Bảo Ánh
Năm: 2013
16. Trần Thị Bảo Ánh, (2014), Pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Bảo Ánh
Năm: 2014
17. Trần Thị Bảo Ánh, (2014), Hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số 7/2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Tác giả: Trần Thị Bảo Ánh
Năm: 2014
18. Nguyễn Thị Diệu Chi (2014), Phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Chi
Năm: 2014
19. Denzil Rankine Peter Howson (2007), Mua bán doanh nghiệp - những bước đường thành công: Từng bước để có được những hợp đồng khôn ngoan hơn, Dịch: Nguyễn Sơn Nam, Phạm Văn Kiên, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mua bán doanh nghiệp - những bước đường thành công: Từng bước để có được những hợp đồng khôn ngoan hơn
Tác giả: Denzil Rankine Peter Howson
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2007
20. Vũ Ngọc Dũng, (2012), Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp - Thực trạng pháp luật và một số kiến nghị, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số 3/2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp - Thực trạng pháp luật và một số kiến nghị
Tác giả: Vũ Ngọc Dũng
Năm: 2012
21. Nguyễn Hương Giang, (2015), Pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp - Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Hương Giang
Năm: 2015
22. Nguyễn Thị Hà (chủ biên), (2016), Sáp nhập, hợp nhất, mua bán doanh nghiệp- Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Sách chuyên khảo, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáp nhập, hợp nhất, mua bán doanh nghiệp- Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hà (chủ biên)
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2016
23. Đỗ Thị Thanh Huyền, (2013), Một số vấn đề pháp lý về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề pháp lý về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật
Tác giả: Đỗ Thị Thanh Huyền
Năm: 2013
24. Nguyễn Việt Khoa, (2014), Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp và ảnh hưởng của chúng đến hoạt động quản trị công ty, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 2/2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp và ảnh hưởng của chúng đến hoạt động quản trị công ty
Tác giả: Nguyễn Việt Khoa
Năm: 2014
25. Nguyễn Ngọc Oanh, (2013), Pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán doanh nghiệp của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán doanh nghiệp của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thực trạng và giải pháp hoàn thiện
Tác giả: Nguyễn Ngọc Oanh
Năm: 2013
26. Nguyễn Thị Hồng Phúc, (2015), Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Phúc
Năm: 2015
27. Lê Viết Thái (2008), Chuyên đề về Hành vi TTKT, đề tài nghiên cứu về thể chế cạnh tranh trong điều kiện phát triển thị trường tại Việt Nam, Viện nghiên cứu thương mại – Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề về Hành vi TTKT, đề tài nghiên cứu về thể chế cạnh tranh trong điều kiện phát triển thị trường tại Việt Nam
Tác giả: Lê Viết Thái
Năm: 2008
29. Quốc Dũng, http://cafebiz.vn/cau-chuyen-kinh-doanh/tai-sao-ke-doc-hanh-aeon-quyet-dinh-bat-tay-citimart-fivimart-20150130033130102.chn,06/6/2017 Link
30. Duy Khánh, http://cafef.vn/ma-2016-cac-ty-phu-thai-lan-thau-tom-nganh-ban-le-va-hang-tieu-dung-viet-nam-20170104102349321.chn,08/6/2017 Link
31. Hà Thanh, http://baodautu.vn/5-thuong-vu-ma-dinh-dam-nhat-viet-nam-nam-2016-d56816.html, 08/6/2017 Link
32. Huyền Thƣ, http://maf.vn/nhung-thuong-vu-trong-linh-vuc-ban-le.html, 6/8/2017 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w