1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO CÁO THỰC TẬP NGHIÊN CỨU GIÁ DÂU WTI

13 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 54,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Than,nguồn nhiên liệu cho các dạng máy đầu tiên trong sự đổi mới của nền công nghiệp đã được thay thế trong thời gian này Dầu mỏ chiếm đến 41.2% trong tổng sản lượng tiêu thụ năng lượng

Trang 1

Báo cáo thực tập

Lời cảm ơn

Em xin gởi lời cám ơn chân thành tới :

- Ban giám hiệu trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để em

có môi trường học tập và nghiên cứu hiệu quả nhất

- PGS.TS Bùi Xuân Hồi đã tận tình giảng dạy giúp em nắm bắt những kiến thức quan trọng từ môn Kinh tế lượng và Lý thuyết giá để có thể vận dụng chi tiết vào

mô hình kinh tế và giải thích các hiện tượng kinh tế

- Chuyên viên phòng phân tích dự báo thị trường Nguyễn Thành Luân cùng các anh, chị, cô, chú trong Viện Dầu Khí đã giúp em có được kinh nghiệm làm việc tại môi trường thực tế

Lý do chọn đề tài

Thị trường dầu mỏ luôn được các tầng lớp trong xã hội, nhà đầu tư, phân tích, doanh nghiệp và chính phủ của các quốc gia trên thế giới quan tâm một cách đặc biệt, vì những ảnh hưởng của thị trường sâu rộng đến mọi mặt đời sống và các chiến lược phát triển kinh tế Không giống các thị trường thông thường, dầu khí có sự đa dạng và phức tạp chịu sự chi phối từ quan hệ người mua người bán, các nhà đầu cơ và các mục tiêu chính trị của các quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu dầu mỏ lớn trên thế giới ( OPEC và nhóm OECD) Trong nghành học Kinh tế công nghiệp, thị trường dầu mỏ luôn là vấn đề lớn đòi hỏi người học nghiên cứu tìm tòi và có những hiểu biết nhất định để có thể giải thích được các hiện tượng kinh tế, cũng là nơi đòi hỏi vận dụng sâu rộng các kiến thức vi mô,

vĩ mô, các đặc điểm đặc trưng riêng của mặt hàng dầu mỏ Được nghiên cứu về sự thay đổi, biến động của thị trường là cơ hội quý giá để được thực nghiệm lại những kiến thức

đã học qua môi trường thực tế, cũng như áp dụng những kiến thức đã học để phục vụ cho mục tiêu phân tích và dự báo là vinh dự cho môt sinh viên học khoa Kinh tế công nghiệp như em

Mục đích nghiên cứu :

Thông qua phương pháp kinh tế lượng để phân tích giá dầu, tính toán và lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp để từ đó làm rõ được mối quan hệ kinh tế giữa giá và các yếu

tố ảnh hưởng Từ đó, dự báo được giá dầu đến năm 2014

Trang 2

Đối tượng nghiên cứu :

Đối tượng được nghiên cứu trong mô đề tài là giá dầu WTI Do phản ánh được những biến động liên tục của giá dầu trong những năm qua và có tính thương mại quốc tế tốt nhất mà giá dầu WTI được đưa vào mô hình làm biến ngoại sinh, phục vụ cho quá trình nghiên cứu một cách khách quan và chi tiết, dễ dàng thu nhập và nghiên cứu

Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu :

Nhiệm vụ :

Thông qua thực tập tốt nghiệp để một lần nữa ôn lại những kiến thức quan trọng của ngành học Kinh tế công nghiệp, nắm vững và vận dụng các kiến thức Kinh tế lượng và

Lý thuyết giá Từ đó, phân tích hiện trạng của ngành dầu khí và dự báo được giá dầu Phạm vi :

Toàn bộ bài luận xoay quanh giá dầu WTI và các yếu tố có sự ảnh hưởng rõ ràng Bài viết chỉ tập trung đến quan hệ cung cầu và các đặc trưng riêng của ngành dầu khí, và bỏ qua các yếu tố của các thị trường liên quan như thị trường chứng khoán và thị trường vàng Bài viết cũng loại bỏ hoặc giả định coi các yếu tố có liên quan đến lượng cung và lượng cầu như các yếu tố mùa vụ và tỷ lệ lãi là bất biến

Phương pháp nghiên cứu :

Vận dụng kiến thức đã học được từ bộ môn Lý thuyết giá để hiểu rõ được các yếu tố ảnh hưởng, xác định được các biến nội sinh Thông qua mô hình hồi quy tuyến tính của kinh

tế lượng để lượng hóa được các yếu tố ảnh hưởng, chứng minh các kiến thức kinh tế đặc trưng dành cho ngành dầu khí Từ đó, giá dầu sẽ được dự báo từ những kết quả đã nghiên cứu

Cấu trúc bài báo cáo :

Chương 1 : Giới thiệu, khái quát hóa chung về Viện Dầu Khí

Chương 2 : Phân tích hiện trạng và dự báo giá dầu 2014

Chương 1 : Giới thiệu, khái quát hóa chung về Viện Dầu Khí :

1. Quá trình hình thành và phát triển :

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển :

Trang 3

Giới thiệu về dầu mỏ, vai trò và ứng dụng của dầu mỏ trong nền kinh tế

Dầu mỏ là nguồn tài nguyên không tái sinh, có nguồn gốc xuất phát xa xưa cùng với loài người, ngay từ những ngày đầu tiên của nền văn minh, dầu mỏ và các sản phẩm của dầu

mỏ đã xuất hiện trong đời sống và các nghi lễ Nhựa đường được biến đến như dạng chất nhầy của dầu mỏ, đã được sử dụng như chất chống thấm nước và để sưởi ấm cho con người từ 6000 năm trước công nguyên, nó cũng được biết đến như chất ướp xác của người Ai Cập cổ đại từ 3000 năm trước công nguyên Dầu mỏ lần đầu tiên được sử dụng một cách phổ biến và đóng vai trò chính yếu trong sự phát triển của loài người từ cuối những năm của thế kỉ 19 Than,nguồn nhiên liệu cho các dạng máy đầu tiên trong sự đổi mới của nền công nghiệp đã được thay thế trong thời gian này

Dầu mỏ chiếm đến 41.2% trong tổng sản lượng tiêu thụ năng lượng của thế giới ( tính theo số liệu cung cấp của IEA năm 2010 ), cộng với tính chất là nguồn tài nguyên không tái sinh nên nguồn năng lượng này đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thế giới Đối với các nước xuất khẩu dầu ( OPEC), mặt hàng có tính chất chiến lược trong nền kinh tế, không chỉ phục vụ nhiệm vụ an ninh năng lượng trong nước mà còn tối đa hóa lợi ích về lâu dài cho các thành viên trong cả khối Thông qua chính sách “giá hợp lý”, OPEC đóng vai trò là người cung cấp cuối cùng, đảm ứng nhu cầu về dầu cho cả thế giới Thay vì áp đặt giá như các năm từ 1973 đến 1981, OPEC đã thay đổi vai trò của mình, đạt được mục đích thống nhất các nước trong khối và duy trì lợi ích về lâu dài OPEC cũng có lợi thế trong quá trình tham dò, khai thác và lọc dầu, chính điểm này đã khiến cho giá thành và khả năng đáp ứng nhu cầu tức thời của OPEC là cao hơn nhiều so với các quốc gia khai thác dầu thô không thuộc OPEC Không chỉ là nhóm xuất khẩu dầu lớn nhất, OPEC còn có trữ lượng về dầu mỏ lớn nhất trên thế giới ( chiếm đến 77% ), chính điểm này đã khiến cho OPEC khẳng định được vị thế tuyệt đối về mặt hàng dầu mỏ trong những năm tiếp theo

Trang 4

Đối với các nước tiêu thụ ( chiếm 49.45% bởi OECD ), dầu mỏ đóng vai trò quan trọng trong an ninh năng lượng quốc gia, đảm bảo được nguồn cung cấp chính là đảm bảo cho nền kinh tế được hoạt động liên tục, hơn nữa, dầu mỏ được tiêu thụ chính bởi quá trình vận chuyển ( chiếm đến 50% tổng số tiêu thụ về dầu ) Trong khi công nghệ và giá sử dụng các dạng nhiên liệu khác vẫn còn cao hơn giá sử dụng các loại động cơ đốt trong hiện hành, dầu mỏ vẫn đóng vai trò quan trọng và khó bị thay thế trong sản xuất và vận chuyển

Ngày nay,dầu mỏ là nguyên liệu đầu vào của quá trình chưng lọc, sản xuất các sản phẩm như dầu hỏa, diesel, xăng nhiên liệu , các sản phẩm này lại là nguồn nhiên liệu đầu vào của nhiều ngành sản xuất ( trong đó cũng có những ngành sản xuất năng lượng đầu vào cho các ngành khác như công nghiệp điện ) và dầu mỏ cũng được biết đến như nguyên liệu đầu vào của các ngành hóa dầu như phân bón, dung môi, nhựa đường và thuốc trừ sâu

Giới thiệu và lý do phân tích giá dầu WTI :

WTI ( là viết tắt của West Texas Intermediate, hay còn được biết đến với tên Texas light sweet ) là một hạng dầu thô được sử dụng như một chuẩn mực trong giá dầu Hạng dầu này có tỷ trọng nhẹ và chứa ít hàm lượng lưu huỳnh, là mặt hàng cơ bản trong các hợp đồng dầu của Chicago Mercantile Exchange ( được viết tắt CME group, là tập đoàn cung cấp sàn giao dịch tài chính, bao gồm sàn giao dịch chứng khoán như NYMEX ) Được đánh giá là loại dầu thô ngọt, WTI chứa 0.24% lưu huỳnh, ít hơn 0.5% so với dầu Brent WTI được lọc chủ yếu ở Trung tây và vùng bờ vịnh của Mĩ và được sử dụng ở khu vực Bắc Mĩ, khu vực tiêu thụ dầu mỏ lớn nhất ( chiếm 22.37% tổng tiêu thụ dầu trên toàn thế giới)

Bắt đầu từ quyết định loại bỏ sự khống chế của chính phủ Mĩ đối với giá dầu vào tháng 1 năm 1981, chính điều này gây ảnh hưởng chung đến viển cảnh của thị trường giao ngay tại Mĩ và trên toàn thế giới, và ảnh hưởng riêng đến đến khối lượng giao dịch trên thị trường giao ngay tại Mĩ, bao gồm cả WTI và các lớp khác của Mĩ Thay đổi từ kiểm soát tiến tới loại bỏ kiểm soát đã đặt tiền đề quá trình kết hợp các giao dịch thương mại và giá giao ngay đơn giản thành một hàng hóa trước khi quá trình loại bỏ sự kiểm soát được phân chia ra thành nhiều hạng mục khác nhau dưới các cơ chế kiểm soát, và cũng tạo điều kiện thuận lợi gia tăng tính hàng hóa và giao dịch của WTI Chính điều này đã tạo

cơ sở đầy đủ cho việc ra đời của các hợp đồng giấy trong các giao dịch dầu thô ngọt trong nước tại Crushing Oklahoma, được gọi tên như WTI và được lưu hành thông qua CME group ( NYMEX) bắt đầu từ năm 1983

Trang 5

Chính từ sự thuận tiện, dễ dàng và minh bạch trong mua bán và trao đổi mà dạng hợp đồng này thành khung chuẩn cho các tiêu chuẩn giá trên toàn thế giới Thay đổi trong thị trường dầu mỏ bao gồm các yếu tố sản xuất, dự trữ, trữ lượng, tiêu thụ và cung cấp đều

có ảnh hưởng mạnh mẽ đến thị trường giao dịch lớn nhất trên thế giới, và thông qua giá của loại dầu WTI đại diện cho thị trường này mà phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường dầu trên toàn thế giới có thể gần chính xác nhất, phản ánh được các biến động của giá WTI thông qua sự thay đổi của cung cầu hay sự tăng thêm về trữ lượng dầu qua quá trình thăm dò

Giới thiệu và mô tả bộ số liệu :

Lựa chọn kích thước mẫu :

Dựa trên bộ số liệu của IEA đến tiến hành thu thập mẫu sao cho đầy đủ các số liệu cần thiết tương ứng theo thời gian ( số liệu theo từng năm )

Lựa chọn biến :

Số liệu được thu thập của EIA : Đơn vị tính :

Giá dầu WTI : USD

Tổng thu nhập thế giới (GWP) : Nghìn tỷ USD Tổng dân số thế giới ( POP) : Tỷ người

Lượng cung : Triệu thùng/ngày Lượng cầu : Triệu thùng/ngày

Dự trữ : Triệu thùng

CO2 : Triệu tấn

Công suất lọc dầu : Triệu thùng/ ngày Trữ lượng : Tỷ thùng

Tiêu thụ nhiệt : Triệu Btu/ thùng dầu

Trang 6

Năm Giá

dầu

GWP POP Lượng

cung

Lượng cầu

Dự trữ CO2 Công

suất lọc

Trữ lượng

Nhiệt tiêu thụ

1994 17.72 26.87 5.61 68.63 68.93 3886.25 9296.55 73.07 998.33 565.54

1995 18.43 29.81 5.69 70.30 70.13 3770.95 9421.66 74.24 999.26 565.54

1996 22.12 30.41 5.77 71.98 71.71 3769.88 9604.63 74.39 1007.36 565.54

1997 20.61 30.33 5.85 74.22 73.46 3884.30 9815.43 75.98 1018.51 565.54

1998 14.42 30.22 5.93 75.68 74.11 4017.04 9863.03 78.03 1020.07 577.21

1999 19.34 31.34 6.00 74.83 75.88 3746.01 10037.721 80.08 1032.75 577.21

2000 30.38 32.35 6.08 77.72 76.78 3809.92 10174.17 81.52 1016.77 577.21

2001 25.98 32.16 6.16 77.65 77.48 3925.89 10232.07 81.31 1028.13 577.21

2002 26.18 33.41 6.23 77.07 78.17 3828.53 10307.31 81.44 1031.95 577.21

2003 31.08 37.59 6.31 79.51 79.71 3928.08 10562.39 81.99 1213.11 588.56

2004 41.51 42.3 6.39 83.04 82.57 3993.50 10911.33 82.26 1265.02 588.56

2005 56.64 45.74 6.46 84.52 84.08 4075.96 11125.66 82.79 1277.22 600.15

2006 66.05 49.56 6.54 84.50 85.14 4168.6 11166.42 85.34 1292.93 600.15

2007 72.34 55.91 6.61 84.34 85.91 4085.52 11143.91 85.35 1316.66 600.15

2008 99.67 61.38 6.69 85.48 84.57 4202.86 11077.06 85.46 1332.04 600.15

2009 61.95 58.13 6.76 84.64 84.81 4206.61 11015.94 85.90 1340.01 600.15

2010 79.48 63.51 6.84 87.17 87.44 4219.61 11296.99 86.97 1355.74 600.15

2011 94.88 70.44 6.92 87.48 88.66 4121.98 11407.68 88.09 1473.76 606.07

2012 94.05 71.92 6.99 89.35 89.27 4189.01 11562.56 88.00 1525.95 606.07

Phân tích hiện trạng và mối quan hệ kinh tế giữa giá dầu WTI và các biến trong mô hình:

Trang 7

Dựa trên phương pháp phân tích và dự báo bằng mô hình kinh tế lượng với các biến nội sinh giải thích cho giá dầu bao gồm : dân số thế giới, tổng sản phẩm toàn thế giới, cung

và cầu của dầu mỏ, trữ lượng, lượng dự trữ và tiêu thụ dành cho nhiệt

1 Dân số :

Dân số thế giới có ảnh hưởng nói chung đến toàn bộ các sản phẩm tiêu thụ, đặc biệt là một mặt hàng có nhu cầu thiết yếu, không thể thay thế như dầu mỏ

Phân tích xu thế dân số thế giới giai đoạn 1994 – 2012 :

Lượng tăng giảm tuyệt đối :

Trang 8

Chỉ số này phản ảnh sự thay đổi về trị số tuyệt đối của trị số trong dãy số giữa hai thời gian nghiên cứu Nếu mức độ của hiện tượng tăng thì trị số mang dầu dương (+) và ngược lại mang dấu âm (-)

Tùy theo mục đích nghiên cứu thì sẽ có lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn, bình quân

và định gốc

• Lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn phản ánh mức độ chênh lệch giữa các mức

độ nghiên cứu(yi) mức độ kì liền trước đó (yi-1)

∂i=∂I - ∂i-1 i = 2,3…

trong đó :

∂i là lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn

n : là số lượng các mức độ trong dãy

∂2=y2-y1 = 5,687,000,000 - 5,606,000,000 = 81000000

∂3=y3-y2 = 5,766,000,000 - 5,687,000,000 = 79000000

∂19=y19-y18 = 6,992,000,000 - 6,916,000,000 = 76000000

• Lượng tăng (giảm) tuyệt đối định gốc : Là mức độ chênh lệch tuyệt đối giữa mức

độ kì nghiên cứu và mức độ kì dược chọn làm gốc, thông thường mức độ của kì gốc là mức độ đầu tiên trong dãy số (y1) Chỉ tiêu này phản ánh được sự tăng (giảm) tuyệt đối trong thời gian dài

Công thức : Δi = yi – y1

Ta có :

Trong 15 năm từ 1994 đến 2009, dân số đã tăng lên hơn 1,1 tỉ dân đánh dấu tốc độ tăng trưởng nhanh hơn bất kì khoảng thời gian nào trước đó Sự tăng trưởng nhanh chóng chủ yếu thuộc về các quốc gia thuộc khu vực châu Á như Trung Quốc và Ấn Độ , nơi có dân

số trẻ và nền kinh tế phát triển nhanh chóng, kéo theo nhu cầu sử dụng dầu cho giao thông, đi lại và điện năng ngày càng cao Theo một thống kê của IEA ( International Energy Angecy), từ năm 1973 đến 2010, tỷ lệ tiêu thụ dầu dành cho mục đích giao thông

đã tăng từ 45.4% lên đến 61.5 %, Vì vậy, tiêu thụ về dầu mỏ đã tăng bởi sự phát triển của dân số

Trang 9

Bên cạnh sự gia tăng dân số, một biến số ảnh hưởng quan trọng đến giá dầu chính là tổng sản phẩm của toàn thế giới Từ năm 1997, GWP ( Gross World Product ) là 30.33 nghìn tỉ

đô la thì đến năm 2008, con số này 61.38 Thu nhập thực của cả thế giới đã tăng hơn 87

% Quá trình này có được nhờ sự phát triển mạnh mẽ của các quốc gia có thu nhập trung bình và thu nhập thấp trong khoảng thời gian trước, lượng sản phẩm đóng góp chủ yếu trong các ngành công nghiệp,các quá trình công nghiệp hóa , đòi hỏi nguồn năng lượng đầu vào vô cùng lớn Lấy ví dụ với Trung quốc đã tăng lượng tiêu thụ về dầu của mình

từ 2320 nghìn thùng trên ngày năm 1990 lên đến 10221 nghìn thùng trên ngày năm 2012, hay như Ấn độ, cũng tăng từ 1213 nghìn thùng lên đến 3652 nghìn thùng Hai quốc gia này là ví dụ điển hình cho mối quan hệ giữa tăng trưởng sản lượng gắn liền với quá trình tiêu thụ nhanh chóng các năng lượng, mà quan trọng là nguồn năng lượng đến từ dầu mỏ Dầu mỏ là mặt hàng chiến lược và được kiểm soát chặt chẽ bởi quốc gia, trữ lượng và lượng dự trữ luôn có ảnh hưởng đến giá dầu đặc biệt là giá trên sàn giao dịch tại thị trường NYMEX Các quyết định về tăng, giảm lượng dự trữ hàng năm hay thăm dò được thêm các mỏ mới đều ảnh hưởng đến các phân tích và dự đoán giá dầu của cả người mua lẫn người bán, khiến cho giá dao dịch lên xuống phụ thuộc một phần vào tình hình biến động của các thành phần này Giá dầu trong những năm gần đây luôn có tác động qua lại với quyết định về tỷ lệ dự trữ dầu thô, khi giá dầu tăng cao, phản ứng của các nước có nhu cầu dầu thô lớn là giảm tỉ lệ dữ trự, dùng dầu thô đã tích trữ để bình ổn giá, và ngược lại, giá dầu thô được giảm xuống, và ngược lại, khi các quốc gia có quyết định tăng tỉ lệ

dự trữ, kéo theo sự tăng của giá dầu Tuy nhiên, khi giá dầu luôn bất ổn trong những năm gần đầy bởi nhiều yếu tố khác nhau như chính trị hay đầu cơ, tỉ lệ dự trữ của các nước tiêu thụ lớn luôn có xu thế tăng qua từng năm

Trong ngắn hạn, giá dầu mỏ được xác định từ cân bằng giữa cung và cầu Đối với thị trường dầu mỏ, hai yếu tố này đều có chung một đặc điểm là có độ co giãn rất nhỏ so với giá Theo J Cooper thì hệ số đàn hồi giá của cầu chỉ dao động trong khoảng từ 0.109 đến – 0.023 Điều này được giải thích bởi những đặc trưng của thị trường dầu mỏ

• Trong ngắn hạn, thị trường nguồn năng lượng này phụ thuộc chủ yếu vào sự cung cấp của OPEC, hơn nữa, những nước này lại phụ thuộc vào dầu mỏ nên những quyết định về tăng giảm sản lượng xuất khẩu chỉ phụ thuộc vào chi tiêu của quốc gia Thêm vào đó, khả năng điều tiết ngắn hạn của các nước không thuộc khối OPEC là vô cùng hạn chế Ngoài ra, đối với ngành công nghiệp dầu khí ( vồn là ngành mang đầy đủ tính chất của kinh tế quy mô ) thì việc đầu tư cho dự trữ hay khai thác là điều khó có thể xảy ra trong ngắn hạn vì chi phí đầu tư là quá lớn và thời gian từ thăm dò cho đến khi khai thác là khá dài Sự thay đổi trong quá trình phân phối quyền lực giữa OPEC và các tập đoàn đa quốc gia về vận chuyển, lọc

Trang 10

và phân phối dầu đã khiến cho thị trường trở nên ít nhạy cảm hơn Chính vì những đặc điểm trên mà sự thay đổi về cầu so với giá tại thị trường dầu mỏ là rất hạn chế

• Về lượng cầu, với mặt hàng thiết yếu, không thể thay thế trong ngắn hạn và tiêu dùng tức thời như dầu mỏ thì giá cả sẽ không thể ảnh hưởng quá nhiều đến quyết định tiêu dùng của người mua Thêm vào đó, giá dầu thô chỉ chiếm 30-40% trong giá của các sản phẩm dầu mỏ, điều đó có nghĩa là sự ảnh hưởng thật sự của giá dầu thô lên lượng cầu chỉ đóng một phần chứ không thể ảnh hưởng toàn diện Với những đặc điểm như vậy, khi lượng cung và cầu có sự thay đổi nào thì cũng dẫn đến

sự thay đổi lớn về giá

Sau cuộc khủng hoảng 1973, thị trường dầu mỏ đã được phân tách, OPEC kiểm soát khâu khai thác và sản xuất dầu thô và phần vận chuyển, lọc và phân phối thuộc về các công ty

đa quốc gia Quá trình lọc phản ánh trực tiếp sự thay đổi lên xuống của giá dầu, khi nhu cầu của các sản phẩm dầu mỏ tăng cao, công suất lọc được gia tăng phù hợp với lượng nhu cầu Giá dầu thô bị ảnh hưởng trực tiếp do sự thay đổi về cầu và tăng nhanh, ngược lại, khi nhu cầu về các sản phẩm dầu mỏ giảm, giá dầu từ đó cũng bị ảnh hưởng theo hướng ngược lại

Dầu mỏ cũng đóng góp vai trò trong các quá trình sản xuất nhiệt, chủ yếu dành cho sưởi

ấm và lò hơi, đặc biệt ở các nước ôn đới thì nhu cầu nhiệt cũng quan trọng như nhu cầu đi lại, chính vì điều đó, để tăng tính khách quan của mô hình mà biến tiêu thụ nhiệt cần được nêu ra để giải thích được sự thay đổi của giá dầu trong những năm vừa qua Khi nhu cầu tiêu thụ nhiệt tăng cao, dầu đầu vào của quá trình được cung ứng nhiều hơn, chênh lệch từ nguồn cầu với nguồn cung về dầu dẫn đến sự gia tăng về giá, điều ngược lại sẽ khiến cho sự sụt giảm về giá

Khí thải CO2 được thoát ra trong quá trình tiêu thụ dầu được cho tỷ lệ nghịch với giá dầu, khi giá dầu tăng cao, lượng cầu về dầu mỏ sẽ giảm, từ đó lượng CO2 được thoát ra qua quá trình tiêu thụ từ đó cũng giảm đi, ngược lại, lượng CO2 cũng từ đó mà tăng lên

Từ những lập luận mối quan hệ giữa từng biến với giá dầu WTI, kì vọng dấu của từng biến trong mô hình là :

GWP : + Lượng cầu : +

Lượng cung : - POP : +

Công suất lọc : + Dự trữ :

-CO2 : - Tiêu thụ nhiệt : +

Ngày đăng: 12/03/2019, 19:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w