Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nhằm đưa nền kinh tế nước nhà phát triển một cách toàn diện và hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới. Những giải pháp đưa ra và được thực hiện trên thực tế đã thu được những kết quả khả quan, trong đó có những biện pháp quy định về lãi suất (interest rate). Việc điều chỉnh lãi suất hợp lí sẽ giúp phát triển nền kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay những quy định của pháp luật về hợp đồng vay tài sản và đặc biệt là lãi suất có những bất cập nhất định. Những bất cập đó thể hiện ở chỗ những quy định pháp luật này còn thiếu cụ thể, lỗi thời không phù hợp với thực tế. Sự quy định của pháp luật đã bộc lộ những khiếm khuyết khi những quy định này được áp dụng trong cuộc sống. Và khi có rất nhiều tranh chấp xảy ra cộng với tình hình phức tạp của nền kinh tế hiện nay thì một đòi hỏi nhất thiết là phải sửa đổi luật để đảm bảo lợi ích cho các chủ thể và xây dựng một hàng rào pháp luật vững chắc. Với tình hình diễn biến kinh tế ngày càng phức tạp đòi hỏi các nhà chuyên môn phải có những biện pháp để cải thiện tình hình, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu cuối năm 2008 vừa qua. Nhiều nước chịu ảnh hưởng nặng nề và rất khó khăn khi khôi phục lại, trong đó có Việt Nam. Việc áp dụng mức lãi suất của từng nước như nào sẽ giúp điều phối được một phần nền kinh tế của nước đó. Ngày nay, tỉ lệ lạm phát có nguy cơ tăng cao và biến đổi nhanh chóng khiến các nhà chuyên môn rất khó khăn để có thể dự đoán được biến đổi của lạm phát như thế nào. Hơn nữa trong thời gian này lạm phát tăng cao cộng với những khó khăn trong quá trình khôi phục nền kinh tế sau khủng hoảng càng làm tăng tính quan trọng của lãi suất đối với nền kinh tế. Vì vậy, việc quy định mức lãi suất hợp lí và thay đổi đúng lúc sẽ giúp giảm tỉ lệ lạm phát đồng thời giúp khắc phục những khó khăn mà khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu mang lại. Vay tiền là một hình thức rất phổ biến, trong hợp đồng vay thường có một điều khoản gọi là lãi suất. Với những tác động tích cực của nó, lãi suất là một yếu tố quan trọng và đôi khi không thể thiếu trong đời sống. Việc sử dụng lãi suất trong hợp đồng vay tiền cũng vậy. Lãi suất không chỉ đem lại lợi nhuận và thoả mãn nhu cầu về vật chất của người cho vay, lãi suất còn đem lại sự đầu tư hay sử dụng có mục đích của người đi vay. Trên thực tế các tranh chấp về hợp đồng vay tiền ngày càng gia tăng đặc biệt là các tranh chấp liên quan đến lãi và lãi suất. Tuy nhiên những quy định của pháp luật về vấn đề này còn rất chung chung và chưa rõ ràng. Điều đó càng làm tăng thêm các tranh chấp và đã bị một số đối tượng lợi dụng những quy định còn thiếu chặt chẽ của pháp luật để cho vay nặng lãi, để tổ chức đánh bạc… làm biến thái đi mục đích thiết thực của lãi suất. Vì vậy có rất nhiều điều cần phải nói và bàn bạc thêm về lãi suất nhưng với sự phong phú và đa dạng của nó nên đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu một số khía cạnh cơ bản, khái quát nhất. Có thể nói lãi suất là một vấn đề còn rất mới mẻ và sự biến đổi không ngừng, thất thường của chính nó đặc biệt trong thời gian gần đây đã thôi thúc rất nhiều nhà khoa học, nhà chuyên môn và những ai yêu thích tìm hiểu về tiền tệ nghiên cứu với mục đích mong muốn kìm hãm những rủi ro do lãi suất mang lại. Cụ thể, đặt ra những mục tiêu trước mắt, giải thích được do đâu lãi suất lại có sự tăng giảm nhanh chóng như vậy, tại sao lãi suất chịu sự chi phối của nền kinh tế và ngược lại lãi suất có ảnh hưởng gì đối với lạm phát và giảm phát thì sẽ tìm ra biện pháp khắc phục. Tuy nhiên với kiến thức còn nhiều hạn chế và sự eo hẹp về tài liệu, thời gian nên đề tài này không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi xin chân thành đón nhận ở thầy cô và các bạn những ý kiến đóng góp bổ ích để đề tài được hoàn thiện hơn. Trong đề tài gồm những chương sau: Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về hợp đồng vay tiền Chương 2: Lãi suất trong hợp đồng vay tiền Chương 3: Quy định của pháp luật Việt Nam về lãi suất trong hợp đồng vay tiền và thực trạng áp dụng Chương 4: Tác động của lãi suất trong hợp đồng vay tiền tới nền kinh tế hiện nay Chương 5: Nhận xét và kiến nghị
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế, Đảng
và Nhà nước ta luôn luôn nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nhằm đưa nền kinh tế nước nhà phát triển một cách toàn diện và hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới Những giải pháp đưa ra và được thực hiện trên thực tế đã thu được những kết quả khả quan, trong đó có những biện pháp quy định về lãi suất (interest rate) Việc điều chỉnh lãi suất hợp lí sẽ giúp phát triển nền kinh tế.
Tuy nhiên, hiện nay những quy định của pháp luật về hợp đồngvay tài sản và đặc biệt là lãi suất có những bất cập nhất định.Những bất cập đó thể hiện ở chỗ những quy định pháp luật nàycòn thiếu cụ thể, lỗi thời không phù hợp với thực tế Sự quyđịnh của pháp luật đã bộc lộ những khiếm khuyết khi những quyđịnh này được áp dụng trong cuộc sống Và khi có rất nhiềutranh chấp xảy ra cộng với tình hình phức tạp của nền kinh tếhiện nay thì một đòi hỏi nhất thiết là phải sửa đổi luật để đảmbảo lợi ích cho các chủ thể và xây dựng một hàng rào pháp luậtvững chắc
Với tình hình diễn biến kinh tế ngày càng phức tạp đòi hỏi cácnhà chuyên môn phải có những biện pháp để cải thiện tìnhhình, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàncầu cuối năm 2008 vừa qua Nhiều nước chịu ảnh hưởng nặng
Trang 2nề và rất khó khăn khi khôi phục lại, trong đó có Việt Nam Việc
áp dụng mức lãi suất của từng nước như nào sẽ giúp điều phốiđược một phần nền kinh tế của nước đó
Ngày nay, tỉ lệ lạm phát có nguy cơ tăng cao và biến đổi nhanhchóng khiến các nhà chuyên môn rất khó khăn để có thể dựđoán được biến đổi của lạm phát như thế nào Hơn nữa trongthời gian này lạm phát tăng cao cộng với những khó khăn trongquá trình khôi phục nền kinh tế sau khủng hoảng càng làm tăngtính quan trọng của lãi suất đối với nền kinh tế Vì vậy, việc quyđịnh mức lãi suất hợp lí và thay đổi đúng lúc sẽ giúp giảm tỉ lệlạm phát đồng thời giúp khắc phục những khó khăn mà khủnghoảng kinh tế tài chính toàn cầu mang lại
Vay tiền là một hình thức rất phổ biến, trong hợp đồng vaythường có một điều khoản gọi là lãi suất Với những tác độngtích cực của nó, lãi suất là một yếu tố quan trọng và đôi khikhông thể thiếu trong đời sống Việc sử dụng lãi suất trong hợpđồng vay tiền cũng vậy Lãi suất không chỉ đem lại lợi nhuận vàthoả mãn nhu cầu về vật chất của người cho vay, lãi suất cònđem lại sự đầu tư hay sử dụng có mục đích của người đi vay.Trên thực tế các tranh chấp về hợp đồng vay tiền ngày càng giatăng đặc biệt là các tranh chấp liên quan đến lãi và lãi suất Tuynhiên những quy định của pháp luật về vấn đề này còn rấtchung chung và chưa rõ ràng Điều đó càng làm tăng thêm các
Trang 3tranh chấp và đã bị một số đối tượng lợi dụng những quy địnhcòn thiếu chặt chẽ của pháp luật để cho vay nặng lãi, để tổchức đánh bạc… làm biến thái đi mục đích thiết thực của lãisuất Vì vậy có rất nhiều điều cần phải nói và bàn bạc thêm vềlãi suất nhưng với sự phong phú và đa dạng của nó nên đề tàinày chỉ tập trung nghiên cứu một số khía cạnh cơ bản, kháiquát nhất.
Có thể nói lãi suất là một vấn đề còn rất mới mẻ và sự biến đổikhông ngừng, thất thường của chính nó đặc biệt trong thời giangần đây đã thôi thúc rất nhiều nhà khoa học, nhà chuyên môn
và những ai yêu thích tìm hiểu về tiền tệ nghiên cứu với mụcđích mong muốn kìm hãm những rủi ro do lãi suất mang lại Cụthể, đặt ra những mục tiêu trước mắt, giải thích được do đâu lãisuất lại có sự tăng giảm nhanh chóng như vậy, tại sao lãi suấtchịu sự chi phối của nền kinh tế và ngược lại lãi suất có ảnhhưởng gì đối với lạm phát và giảm phát thì sẽ tìm ra biện phápkhắc phục Tuy nhiên với kiến thức còn nhiều hạn chế và sự eohẹp về tài liệu, thời gian nên đề tài này không thể tránh khỏinhững thiếu sót nhất định Tôi xin chân thành đón nhận ở thầy
cô và các bạn những ý kiến đóng góp bổ ích để đề tài đượchoàn thiện hơn
Trong đề tài gồm những chương sau:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về hợp đồng vay tiền
Trang 4Chương 2: Lãi suất trong hợp đồng vay tiền
Chương 3: Quy định của pháp luật Việt Nam về lãi suất
trong hợp đồng vay tiền và thực trạng áp dụng
Chương 4: Tác động của lãi suất trong hợp đồng vay tiền tới
nền kinh tế hiện nay
Chương 5: Nhận xét và kiến nghị
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG VAY TIỀN
1.1 Khái niệm hợp đồng vay tiền
Cho vay là một hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện khitrong xã hội loài người có tình trạng tạm thời thừa và tạm thờithiếu vốn Khái niệm cho vay, theo nghĩa chung nhất được hiểu
là việc một người thoả thuận để cho người khác được quyền sửdụng số tài sản của mình (bao giờ cũng là tài sản cùng loại)trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả, dựa trên
cơ sở tin tưởng hay tín nhiệm của mình đối với người đó Hợpđồng vay tiền là một hợp đồng vay có đối tượng là một tài sảnđặc biệt – tiền Cho vay nói chung và cho vay tiền nói riêng baogồm các yếu tố cấu thành cơ bản sau:
· Thứ nhất, về chủ thể, việc cho vay bao giờ cũng có ít nhất hai
bên chủ thể tham gia, bao gồm bên vay và bên cho vay Bêncho vay là người có khoản tiền chưa dùng đến, muốn cho
Trang 5người khác sử dụng để thoả mãn lợi ích của mình, có thể là lợiích vất chất hoặc tinh thần Còn bên vay chính là người đangcần sử dụng số tiền đó để thoả mãn nhu cầu về kinh doanhhoặc tiêu dùng.
· Thứ hai, hình thức pháp lý của việc cho vay chính là hợp
đồng cho vay tiền Hợp đồng này được các bên xác lập và thựchiện trên nguyên tắc căn bản của hợp đồng như nguyên tắc về
tự do và thống nhất ý chí, nguyên tắc tự định đoạt…
· Thứ ba, sự kiện cho vay phát sinh bởi hai hành vi căn bản là
hành vi ứng trước và hành vi hoàn trả một số tiền nhất định.Hành vi ứng trước tài sản do người cho vay thực hiện, cònhành vi hoàn trả lại được người vay thực hiện sau đó mộtkhoảng thời gian theo sự thoả thuận giữa các bên
Có thể thấy rằng, phổ biến là hoạt động cho vay của các tổchức tín dụng nhưng không phải vì thế các hình thức cho vaykhác không hoạt động Có thể là cho vay giữa hai chủ thể, hai
tổ chức với nhau… hoặc dưới hình thức họ, hụi, biêu, phường.Việc cho vay chính là giao dịch dân sự được thể hiện dưới hìnhthức pháp lý là hợp đồng vay tiền Vậy hợp đồng vay tiền là gì?Hợp đồng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống, làhình thức pháp lý của các mối quan hệ của các chủ thể trong xãhội
Trang 6Điều 388 – Bộ Luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) định nghĩa: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
BLDS của Pháp giải thích Hợp đồng là một sự nhất trí, theo đó,một người hoặc một số người giao cho một hoặc một số ngườikhác nghĩa vụ phải làm hoặc không phải làm một việc gì đó
Về cơ bản, các quy định đều đề cập tới các khía cạnh quantrọng của hợp đồng như sau:
+ Hợp đồng là sự thoả thuận ý chí của ít nhất hai bên Sự thoảthuận này được thể hiện thông qua hai giai đoạn là đề nghị giaokết và chấp nhận đề nghị
+ Sự thoả thuận của các bên phải đạt được đến sự thống nhấttức là chỉ khi nào ý chí qua lại đồng thời là ý chí thống nhất thìhợp đồng mới hình thành Nếu giao dịch thể hiện ý chí một bên
sẽ không có hợp đồng
+ Mục đích của hợp đồng phải nhằm đạt được hậu quả pháp lý
đã định trước Hậu quả pháp lý của hợp đồng có thể làm phátsinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự
Là một loại hợp đồng dân sự, hợp đồng vay tài sản được hiểu
là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật đã quy định” ([1])
Trang 7Hợp đồng vay tiền là một loại hợp đồng vay tài sản, dựa trênđịnh nghĩa về Hợp đồng (Điều 388 – BLDS 2005) và Hợp đồngvay tài sản (Điều 471 – BLDS 2005) tác giả xin định nghĩa về
hợp đồng vay tiền như sau: hợp đồng vay tiền là sự thoả
thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tiền cho bên vay; khi đến hạn trả bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay đúng số lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật quy định.
Hợp đồng vay tiền có lãi suất là hợp đồng có sự thoả thuận vềlãi suất hoặc lãi suất do pháp luật quy định Khi tranh chấp xẩy
ra đòi hỏi thẩm phán phải quan tâm để giải quyết cả về việc trảtiền nợ gốc, nợ lãi, bao gồm cả lãi suất và thời gian tính lãi nợquá hạn kể từ khi hết hạn vay, với hợp đồng vay không có thờihạn thì thời gian tính lãi nợ quá hạn kể từ khi đòi nợ
1.2 Đặc điểm của hợp đồng vay tiền
Qua những phân tích ở trên, hợp đồng vay tiền có những đặcđiểm pháp lý sau:
· Thứ nhất, hợp đồng vay tiền là hợp đồng chuyển quyền sở
hữu đối với số tiền vay, khi bên vay nhận tiền Bên vay có toàn
quyền đối với tiền vay trừ trường hợp vay tiền có điều kiện sửdụng Ví dụ: A thoả thuận với B không được sử dụng khoản tiền
mà A cho B vay để chi tiêu vào việc kinh doanh, chỉ được muasắm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hành ngày…
Trang 8· Thứ hai, hợp đồng vay tiền có lãi suất là hợp đồng song
vụ Nghĩa là các bên chủ thể trong hợp đồng (bên cho vay và
bên vay) đều có nghĩa vụ đối với nhau (theo khoản 1 điều 406 –BLDS 2005), hay nói cách khác mỗi bên chủ thể trong hợpđồng vay tiền có lãi suất là người vừa có quyền vừa có nghĩa
vụ dân sự Trong nội dung của hợp đồng, quyền dân sự củabên này đối lập tương ứng với nghĩa vụ bên kia và ngược lại.Tức là bên cho vay có nghĩa vụ chuyển tiền đúng thời hạn, bênvay có nghĩa vụ nhận tiền và phải trả cả gốc và lãi đúng thờihạn theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật Khi cácbên vi phạm nghĩa vụ nêu trên thì sẽ phải chịu trách nhiệm dânsự
· Thứ ba, hợp đồng vay tiền là hợp đồng có đền bù hoặc không
có đền bù Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, vấn đề mà chúng ta đề cập tới là lãi suất trong hợp đồng vay tiền nên hợp
đồng vay có lãi suất là hợp đồng vay có đền bù Các bên chủthể sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từbên kia một lợi ích tương ứng Chúng ta biết rằng bản chất củacác giao dịch dân sự mang tính đền bù tương đương và đặcđiểm cơ bản của quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự là sựtrao đổi ngang giá Khi cho vay một khoản tiền nhất định thìtrong một thời hạn có thể do các bên thoả thuận hoặc do phápluật quy định phải có một khoản tiền phát sinh để đền bù cho sự
Trang 9đầu tư cho vay tiền của bên cho vay nhằm thoả mãn nhu cầucủa bên cho vay.
1.3 Đối tượng và kỳ hạn của hợp đồng vay tiền
1.3.1 Đối tượng
Đối tượng của hợp đồng vay tiền là một khoản tiền nhất định
Sự tiến triển không ngừng các hoạt động kinh tế dưới các hìnhthức khác nhau của sản xuất và trao đổi sản phẩm là sự pháttriển của hệ thống tiền tệ Dù tiền tệ được thể hiện dưới dạng
vỏ sò, hạt tiêu, miếng vàng hay tiền giấy chúng đều thể hiện bachức năng cơ bản sau:
- Phương tiện trao đổi
Trong hầu hết các giao dịch, tiền đóng vai trò phương tiện traođổi – thực chất là thực hiện giá trị của hàng hoá, có nghĩa là nóđược sử dụng mua bán, thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ.Chức năng trao đổi của tiền tệ khắc phục được những hạn chếcủa quá trình trao đổi trực tiếp, nhờ đó mà tiết kiệm các chi phígiao dịch liên quan đến việc tìm kiếm, chờ đợi tác nhân có khảnăng thoã mãn nhu cầu trao đổi
- Đơn vị tính toán giá trị
Các hàng hoá khi trao đổi với nhau cần có sự so sánh để hìnhthành tỉ lệ trao đổi Chức năng này của tiền tệ biểu hiện giá trịhàng hoá thành tiền, nhờ đó mà các hàng hoá có thể so sánhvới nhau về mặt lượng Điều này có tầm quan trọng rất lớn do
Trang 10tiết kiệm được các chi phí giao dịch bởi số lần hình thành giátrung gian trong trao đổi trực tiếp.
- Phương tiện tích luỹ giá trị
Chức năng này của tiền tệ giúp để tích luỹ sức mua trong thờigian nhận thu nhập cho đến khi sử dụng chúng bởi thu nhậpcủa con người thường không được sử dụng ngay một lúc
Tiền là đối tượng của hợp đồng vay có thể là Việt Nam đồng(VND) hay ngoại tệ tuỳ theo sự thoả thuận của các bên hoặcpháp luật quy định Đối tượng của hợp đồng vay tiền đượcchuyển từ bên cho vay sang bên vay làm sở hữu Bên vay cóquyền định đoạt số tiền vay Khi hết hạn của hợp đồng vay tiền,bên vay có nghĩa vụ trả cho bên kia số tiền đã vay Có hợpđồng vay tiền không thoả thuận thời hạn thì bên vay phải trả sốtiền vay bất kỳ lúc nào khi có yêu cầu của bên cho vay
Trang 112005) Nếu hợp đồng không có kỳ hạn thì bên vay có thể thựchiện hợp đồng bất cứ lúc nào, bên cho vay không được từ chốitiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ của bên vay Xác định thờiđiểm chấm dứt hợp đồng vay tiền có ý nghĩa quan trọng trongviệc xác định trách nhiệm dân sự của các bên và thời hiệu khởikiện yêu vầu giải quyết tranh chấp về hợp đồng.
Trường hợp hết hạn hợp đồng mà bên vay không trả nợ đượcthì phải chịu trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng Trongphạm vi nghiên cứu của đề tài này chúng ta đang đề cập tớihợp đồng vay có lãi suất nên bên vay phải trả lãi trên nợ gốc vàlãi quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công
bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu cóthoả thuận (Khoản 4 Điều 474 – BLDS 2005)
1.4 Hình thức của hợp đồng vay tiền
Hình thức của hợp đồng vay tiền có thể bằng miệng hoặc bằngvăn bản Hình thức miệng thường được áp dụng trong nhữngtrường hợp như số lượng tiền cho vay không lớn hoặc giữa cácbên có mối quan hệ thân quen Trường hợp cho vay bằngmiệng nếu xảy ra tranh chấp hợp đồng, bên cho vay phải chứngminh được là mình đã cho vay một số tiền nhất định Trongthực tế nếu hình thức của hợp đồng bằng miệng có tranh chấpthì rất khó xác định quyền và nghĩa vụ của các bên Để làm cơ
sở pháp lí cho việc giải quyết hợp đồng vay tiền, các bên cần
Trang 12phải ký kết hợp đồng bằng văn bản Các bên có thể tự lập vănbản hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhậnvăn bản đó.
1.5 Quyền và nghĩa vụ của các bên
1.5.1 Bên cho vay
Nếu hợp đồng vay tiền không có kỳ hạn, bên cho vay có quyềnyêu cầu bên vay trả lại tiền và lãi bất cứ thời gian nào nhưngphải thông báo cho bên vay một thời hạn hợp lí Hết thời hạn đó
là hết hạn của hợp đồng và bên vay không trả nợ là vi phạmnghĩa vụ trả tiền
Đối với hợp đồng vay tiền có kì hạn, khi hết hạn của hợp đồng,bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay phải trả cho mình một
số tiền tương ứng với số tiền đã vay cộng với một khoản lãi tínhtheo lãi suất thời hạn và theo thoả thuận Nếu hợp đồng chovay tiền có áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụnhưng bên vay không thực hiện đúng thời hạn thì bên cho vay
có quyền xử lý tài sản bảo đảm đó hoặc bán đấu giá để thựchiện nghĩa vụ
Bên cho vay có nghĩa vụ giao tiền đúng số lượng như thoảthuận cho bên vay Nếu bên cho vay có ý lừa dối bên vay màgây thiệt hại cho bên vay thì phải bồi thường
1.5.2 Bên vay
Trang 13Là người cần đến sự giúp đỡ vật chất của bên cho vay do vậykhi hết thời hạn của hợp đồng phải tự giác thực hiện đầy đủ cácnghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng đã ký kết Phải trả đủtiền gốc và tiền lãi theo thoả thuận hoặc theo pháp luật quyđịnh Nếu hợp đồng cho vay không kỳ hạn, khi bên cho vay yêucầu trả nợ thì bên vay phải thực hiện hợp đồng trong thời gianthoả thuận Bên vay cũng có thể thực hiện hợp đồng bất cứ thờigian nào Thời điểm này được coi là thời điểm chấm dứt hợpđồng cho vay tiền không kỳ hạn Trường hợp các bên có thoảthuận về mục đích vay, bên cho vay có quyền kiểm tra việc sửdụng tiền của bên vay có đúng mục đích như thoả thuận haykhông Nếu sử dụng tiền không đúng mục đích như đã thoảthuận, bên cho vay có quyền huỷ hợp đồng (Khoản 2 Điều 478– BLDS 2005).
1.6 Họ, hụi, biêu, phường
Họ, hụi, biêu, phường (gọi chung là họ) là một loại giao dịchdân sự về tài sản Giao dịch này được nhân dân ta sử dụng từlâu và nó đã trở thành tập quán Dưới hình thức góp vốn, lĩnhvốn theo phường, hội trên cơ sở thoả thuận của một nhómngười về thời gian, số tiền, thể thức góp vốn, lĩnh họ và quyền,nghĩa vụ của các thành viên
Nguyên tắc chung của chơi họ là nhiều người (nhà con) cùngtham gia một dây họ bầu ra nhà cái (người thu tiền của các nhà
Trang 14con và chuyển cho người bốc (bát) họ) Hàng tháng, mỗi nhàcon phải góp một số tiền nhất định cho nhà cái Lần lượt theothứ tự bốc thăm hoặc theo thoả thuận đến kỳ hạn bốc họ, mộtnhà con sẽ nhận về số tiền từ nhà cái, số tiền này do các nhàcon khác góp họ Theo thứ tự bốc họ, khi người cuối cùng bốc
họ thì dây họ chấm dứt
Bản chất truyền thống của góp họ là những người chơi họtương trợ giúp đỡ lẫn nhau Dưới hình thức góp họ, thành viêngóp họ có được số vốn tập trung để có điều kiện kinh doanhhoặc sử dụng vào những công việc cần chi tiêu lớn Nhữnghình thức chơi họ có tính chất lành mạnh được Nhà nướckhuyến khích Ngược lại Nhà nước cấm hình thức “chơi họ” đểnhằm mục đích cho vay nặng lãi giữa nhà cái với các nhà con,các hình thức chơi họ nhằm lừa đảo hoặc các hình thức biếntướng của chơi họ là đánh bạc… Những trường hợp này, tuỳtheo mức độ vi phạm nặng nhẹ mà bị xử lí hành chính, chịutrách nhiệm dân sự hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự
Trang 15nêu rõ, quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia họ
là nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân Có hai hình thức
họ là họ không lãi và họ có lãi, trong đó họ có lãi gồm họ đầuthảo và họ hưởng hoa hồng Chủ họ phải trả lãi đối với cácphần họ giao chậm theo mức lãi do các bên thỏa thuận, nếukhông có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì áp dụngmức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tươngứng với thời gian giao chậm tại thời điểm giao các phần họ.Trong trường hợp họ có lãi thì lãi suất đối với phần họ đượcthực hiện theo quy định tại Điều 476 của BLDS 2005
Trong trường hợp có tranh chấp về họ hoặc phát sinh từ họ thìtranh chấp đó được giải quyết bằng thương lượng, hòa giảihoặc theo yêu cầu của một hoặc nhiều người tham gia họ, tranhchấp đó được giải quyết tại Tòa án theo quy định của pháp luật
tố tụng dân sự
Chương 2
LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN
2.1 Định nghĩa lãi suất (interest rate)
Trong hầu hết các hợp đồng cho vay tiền, người vay thườngphải trả thêm một phần giá trị ngoài phần vốn gốc ban đầu Tỉ lệphần trăm của phần tăng thêm này so với phần vốn vay ban
Trang 16đầu được gọi là lói suất (interest rate) Lói suất phải được trảbởi lẽ đồng tiền ngày hụm nay cú giỏ hơn đồng tiền nhận đượcngày mai khi tớnh đến giỏ trị thời gian của tiền tệ Khi người chovay chuyển quyền sử dụng tiền cho người khỏc cú nghĩa là anh
ta đó hi sinh quyền sử dụng tiền tệ ngày hụm nay của mỡnh với
hi vọng cú được lượng tiền lớn hơn ngày mai Sẽ khụng cú sựchuyển nhượng vốn nếu khụng cú phần lớn lờn thờm đú hoặc là
nú khụng đủ đề bự đắp cho giỏ trị thời gian của tiền tệ
Cú nhiều cỏch định nghĩa về lói và lói suất Theo Quy định phương phỏp tớnh và hoạch toỏn thu, trả lói của Ngõn hàng Nhà nước Việt Nam và cỏc tổ chức tớn dụng Ban hành kốm theo
Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17-5-2001 của Thống
đốc Ngõn hàng Nhà nước thì Lói đợc hiểu là khoản tiền bờn vay, huy động vốn hoăc bờn thuờ trả cho bờn vay, đầu tư chứng khoỏn, gửi tiền hoặc bờn cho thuờ về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động hoặc tài sản cho thuờ Lói được tớnh toỏn căn cứ vào
số vốn, thời gian sử dụng vốn và lói suất ([2])
Cũng cú định nghĩa cho rằng: lói suất là giỏ cả của quyền được
sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sửdụng vốn phải trả cho người sở hữu vốn([3])
Theo Bỏch khoa toàn thư mở Wikipedia, lói suất được định
nghĩa là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vaytrong một khoảng thời gian nhất định Lói suất là giỏ mà người
Trang 17vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ
và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chitiêu
Từ những cơ sở trên, tác giả xin được đưa ra định nghĩa về lãi
suất như sau: lãi suất trong hợp đồng vay tiền là tỉ lệ nhất
định mà bên vay phải trả thêm vào số tiền đã vay tính theo đơn vị thời gian Lãi suất thường được tính theo tuần, tháng
hoặc năm do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định.Căn cứ vào lãi suất số tiền vay và thời gian vay mà bên vayphải trả một số tiền nhất định Số tiền này tỉ lệ thuận với lãi suất,
số tiền đã vay và thời gian vay
Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về lãi suất thìhợp đồng vay tiền sẽ không có lãi suất Nếu các bên có thoảthuận về lãi suất thì không được vượt quá “150% của lãi suất
cơ bản do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố đối với loạicho vay tương ứng”([4]) Như vậy, nếu các bên thoả thuận về lãisuất gấp hai, ba hoặc nhiều lần lãi suất của Ngân hàng Nhànước công bố thì khi tranh chấp xảy ra, mức lãi suất tối đa màToà án chấp nhận không vượt quá “150% mức lãi suất cơ bản
do NHNN công bố đối với loại cho vay tương ứng”
2.2 Đặc điểm của lãi suất
Trang 18Là một công cụ để tính lợi nhuận nhằm thoả mãn nhu cầu vậtchất hoặc tinh thần của cả bên cho vay và bên vay, lãi suất cónhững đặc điểm cơ bản sau đây:
· Thứ nhất, lãi suất được phát sinh chủ yếu trong các hợp đồng
vay tài sản: Qua nghiên cứu có thể thấy lãi suất có thể xuất hiện
trong các hợp đồng đầu tư, cho thuê tài chính hoặc các hợpđồng khác và là cơ sở để tĩnh lãi Tuy nhiên, lãi suất chủ yếuvẫn được tồn tại trong các hợp đồng vay bởi lẽ trong hợp đồngvay bên vay chỉ phải trả lại tài sản vay sau một thời hạn nhấtđịnh do đó phải có một tỉ lệ xác định để tính lãi tương ứng vớithời hạn vay Hơn nữa, nếu trong các hợp đồng khác như thuêtài chính, đầu tư thì cơ sở để tính lãi còn dựa trên nhiều yếu tốkhác như chi phí bỏ ra, công sức đóng góp… còn trong hợpđồng vay thì cơ sở để tính lãi chủ yếu vẫn là lãi suất do các bênthoả thuận hoặc do pháp luật quy định
· Thứ hai, lãi suất không được phát sinh một cách độc lập, nó
chỉ phát sinh do thoả thuận của các bên sau khi đã thoả thuận được số vay gốc: Bản chất của lãi suất là một tỉ lệ nhất định mà
bên vay phải trả cho bên cho vay dựa vào số tiền vay gốc trongmột thời hạn nhất định Do đó, sẽ không thể có tỉ lệ đó nếu nhưkhông tồn tại số tiền gốc mà các bên thoả thuận được tronghợp đồng vay tài sản
Trang 19· Thứ ba, lãi suất được tính dựa trên số vay gốc và thời hạn vay
(thời gian vay): Như đã phân tích ở trên, lãi suất tỉ lệ thuận với
vốn gốc và thời hạn vay Do đó, tương ứng với số nợ gốc nhiềuhay ít, thời hạn vay dài hay ngắn mà các bên có thể thoả thuậnmức lãi suất cho phù hợp
2.3 Phân loại lãi suất
Có nhiều tiêu chí để phân loại lãi suất, có thể là lãi suất do cácbên thoả thuận hoặc lãi suất do pháp luật quy định; có thể là lãisuất đúng hạn hay lãi suất quá hạn… Dựa vào mỗi tiêu chí khácnhau sẽ có những cách phân loại lãi suất khác nhau
2.3.1 Phân loại theo loại hình tín dụng([5])
Trong lãi suất tín dụng thường có lãi suất tín dụng thương mại(TDTM), lãi suất tín dụng ngân hàng, lãi suất tín dụng Nhà nước
và lãi suất tín dụng tiêu dùng
- Lãi suất tín dụng thương mại được áp dụng khi các doanh
nghiệp cho nhau vay với hình thức mua bán chịu hàng hoá Tuỳtheo thời điểm mua bán chịu, cung – cầu về mua bán chịu vàmức độ tín nhiệm giữa các doanh nghiệp tham gia quan hệ muabán chịu mà lãi suất tín dụng thương mại có các mức khácnhau Song các mức lãi suất tín dụng thương mại đều có điểmchung là chúng không được ghi cụ thể bằng tỷ lệ phần trăm (%)trên chứng từ vay nợ (trên thương phiếu) mà được bao hàmtrong tổng giá cả hàng hoá bán chịu có nghĩa là doanh nghiệp
Trang 20mua chịu phải trả giá hàng hoá cao hơn mức mua trả tiền ngay.Chênh lệch giữa hai loại tổng giá cả hàng hoá này là tiền lãi màdoanh nghiệp mua chịu trả cho doanh nghiệp bán chịu, do vậy
để tính lãi suất tín dụng thương mại, người ta sử dụng côngthức sau:
Tổng giá cả hàng hóa bán chịu – Tổng giá
cả hàng hóa bán trả tiền ngay x 100%
————————————————————————————–
Tổng giá cả hàng hóa bán trả tiền ngay
- Lãi suất tín dụng ngân hàng áp dụng trong quan hệ giữa ngân
hàng với công chúng và doanh nghiệp trong việc thu hút tiềngửi và cho vay, trong hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàngTrung ương cho các ngân hàng, và trong quan hệ giữa cácngân hàng với nhau trong thị trường liên ngân hàng Việc phânbiệt khái niệm lãi suất trong các quan hệ này là cần thiết để hiểu
rõ mối quan hệ giữa chúng:
+ Lãi suất tiền gửi được áp dụng để tính tiền lãi phải trả cho
người gửi tiền Lãi suất tiền gửi có nhiều mức khác nhau tuỳthuộc vào thời hạn gửi, vào quy mô tiền gửi Sự biến động lãisuất tiền gửi ở mức độ lớn không chỉ ảnh hưởng đến quy mô
Trang 21nguồn vốn của các ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến khối tiềngiao dịch và qua đó tới lạm phát Chính vì vậy việc áp dụngchính sách tăng mạnh lãi suất tiền gửi có hiệu quả cao trongkiềm chế đẩy lùi lạm phát.
+ Lãi suất tiền vay được áp dụng để tính lãi tiền vay mà khách
hàng phải trả ngân hàng Về mặt nguyên tắc mức lãi suất tiềnvay bình quân phải cao hơn mức lãi suất tiền gửi bình quân, và
có sự phân biệt giữa các khoản vay với thời hạn khác nhaucũng như mức rủi ro khác nhau Sự thay đổi lãi suất tiền vay cótác động tới quy mô cho vay và khả năng cung ứng tiền của hệthống ngân hàng trung gian Vì cơ chế này mà Ngân hàngTrung ương có thể thực hiện mục tiêu nới lỏng hoặc thắt chặtcung ứng tiền bằng cách ảnh hưởng tới lãi suất tiền vay củacác ngân hàng áp dụng đối với nền kinh tế
+ Lãi suất chiết khấu áp dụng khi ngân hàng trung gian cho
khách hàng vay dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giáchưa đến hạn thanh toán và thoả mãn các điều kiện chiết khấutheo quy định Nó được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên mệnhgiá của giấy tờ có giá và được khấu trừ ngay khi ngân hàngphát tiền vay cho khách hàng Mức chiết khấu được quyết địnhbởi cung – cầu vốn trên thị trường tín dụng, căn cứ vào chấtlượng của giấy tờ có giá, thời hạn chiết khấu cũng như quan hệgiữa ngân hàng với khách hàng
Trang 22+ Lãi suất tái chiết khấu (lãi suất tái cấp vốn) áp dụng khi ngân
hàng trung ương tái cấp vốn cho các ngân hàng dưới hình thứcchiết khấu lại các giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanhtoán của các ngân hàng Lãi suất tái chiết khấu do Ngân hàngTrung ương ấn định căn cứ vào mục tiêu của chính sách tiền tệtrong thời kỳ và chiều hướng biến động lãi suất trên thị trườngtiền tệ Ngân hàng Trung ương các nước thường hình thànhmột cặp lãi suất tái cấp vốn tạo nên một khung lãi suất chỉ đạonhằm kiểm soát và điều tiết sự biến động lãi suất trên thị trườngđặc biệt là mức lãi suất ngắn hạn
+ Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng
khi cho nhau vay trên thị trường liên ngân hàng Lãi suất liênngân hàng thường được ấn định hàng ngày vào một buổi sáng(còn gọi là lãi suất hàng ngày) Nó được hình thành bởi quan hệcung – cầu tiền trung ương của các tổ chức tín dụng và chịu sựchi phối bởi lãi suất tái cấp vốn của Ngân hàng Trung ương.Mức độ chi phối này phụ thuộc vào sự phát triển của nghiệp vụthị trường mở và tỷ trọng sử dụng vốn vay Ngân hàng Trungương của các tổ chức tín dụng Giữa lãi suất tái chiết khấu, lãisuất liên ngân hàng và lãi suất chiết khấu của ngân hàng trunggian có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Với một thị trường tàichính phát triển, sự thay đổi lãi suất tái chiết khấu tạo nênnhững phản ứng dây truyền giữa các mức lãi suất Kết quả cuối
Trang 23cùng sẽ thay đổi mặt bằng lãi suất phù hợp mục tiêu của Ngânhàng Trung ương.
+ Lãi suất cơ bản: là lãi suất mà các ngân hàng sử dụng làm cơ
sở để ấn định mức lãi suất kinh doanh của mình
Lãi suất cơ bản được hình thành khác nhau tuỳ từng nước, nó
có thể do Ngân hàng trung ương ấn định (Nhật là mức lãi suấtcho vay thấp nhất) hoặc có thể do bản thân các ngân hàng tựxác định căn cứ vào tình hình hoạt động cụ thể của ngân hàngmình (Mỹ, Anh, úc) và đó là mức lãi suất được áp dụng cho cácngân hàng có mức rủi ro thấp nhất; hoặc căn cứ vào mức lãisuất cơ bản của một số ngân hàng đứng đầu, của các ngânhàng khác… cộng, trừ (±) biên độ dao động theo một tỷ lệ phầntrăm (%) nhất định để hình thành lãi suất cơ bản của mình(Malaysia) Một số nước lại sử dụng lãi suất liên ngân hàng làmlãi suất cơ bản (Singapore, Pháp) vì thực chất lãi suất cơ bảncủa các ngân hàng rất gần với mức lãi suất thị trường liên ngân
hàng nếu không như vậy hoạt động Arbitrage (buôn chứng
khoán) về lãi suất sẽ diễn ra Mặc dù khác nhau, lãi suất cơ bảncủa hầu hết các nước đều hình thành trên cơ sở thị trường và
đó là mức lãi suất tối thiểu bù đắp được chi phí và có một mứclợi nhuận bình quân cho phép Khi áp dụng đối với các đốitượng có mức rủi ro khác nhau, mức lãi suất kinh doanh sẽkhác nhau vì sự biến động của mức bù rủi ro
Trang 24ở Việt Nam, Luật Ngân hàng Nhà nước 1997“ quy định
Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm
cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh”([6]).Hiện nay lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở thamkhảo lãi suất cho vay thương mại tốt nhất của một nhóm ngânhàng (chiếm phần lớn thị phần tín dụng) do thống đốc Ngânhàng Nhà nước quy định
- Lãi suất tín dụng Nhà nước áp dụng khi Nhà nước đi vay của
các chủ thể khác nhau trong xã hội dưới hình thức phát hànhtín phiếu hoặc trái phiếu Loại lãi suất này có thể do Nhà nước
ấn định căn cứ vào lãi suất tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng,vào các yếu tố khác như: sự biến động của lạm phát, nhu cầucấp thiết về vốn của Nhà nước… hoặc được hình thành thôngqua hoạt động đấu thầu tín phiếu, trái phiếu của Nhà nước ởViệt Nam hiện nay, Ngân hàng Nhà nước được giao nhiệm vụ
tổ chức đấu thầu tín phiếu Kho bạc Nhà nước
2.3.2 Phân loại theo giá trị thực của lãi suất (hay theo mối quan hệ giữa lạm phát và giảm phát)([2])
Theo giá trị thực, lãi suất được phân chia thành lãi suất danhnghĩa và lãi suất thực tế
- Lãi suất danh nghĩa là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của
tiền tệ vào thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là loại lãisuất chưa loại trừ đi tỷ lệ lạm phát
Trang 25Ví dụ: trong hợp đồng vay tiền quy định lãi suất mà bên vay
phải trả cho bên cho vay là 14%/năm Đây chính là lãi suấtdanh nghĩa vì đã chưa trừ đi tỷ lệ lạm phát
- Lãi suất thực tế là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo
những thay đổi về lạm phát Hay nói cách khác là lãi suất đãloại trừ đi tỷ lệ lạm phát
Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghĩa – tỉ lệ lạm phát
Ví dụ: Lãi suất danh nghĩa là 18%/năm; tỷ lệ lạm phát là
8%/năm
Ta sẽ có lãi suất thực tế bằng: 18% – 8% = 10%/năm
Như vậy lãi suất thực tế là 10%/năm
Từ công thức trên ta có thể gọi:
+ i là lãi suất danh nghĩa;
Biến đổi phương trình, chúng ta có thể thấy lãi suất danh nghĩa
là tổng của lãi suất thực tế và tỷ lệ lạm phát:
i = ir + p
Phương trình trên gọi là phương trình Fisher([7]).
Trang 26Theo phương trình, tỷ lệ lạm phát tăng 1% sẽ tiếp tục làm lãisuất danh nghĩa tăng 1% Tỷ lệ một – một giữa tỷ lệ lạm phát và
lãi suất danh nghĩa được gọi là hiệu ứng Fisher.
Mặc dù người cho vay và người vay không thể dự đoán mộtcách chắc chắn lạm phát trong tương lai, nhưng họ có một kỳ
vọng nào đó về tỷ lệ lạm phát Dùng p để biểu thị tỷ lệ lạm phát thực hiện trong tương lai và pe biểu thị kì vọng về lạm phát
trong tương lai Mức lãi suất thực dự kiến là i – pe, còn mức lãi suất thực được thực hiện là i – p.
Sự phân biệt giữa lạm phát thực tế và dự kiến cho thấy lãi suấtdanh nghĩa không thể điều chỉnh để thích ứng với lạm phát thực
Trang 27phân biệt hai loại lãi suất này có ý nghĩa quan trọng đối với cácchủ thể tham gia trên thị trường tín dụng.
2.3.3 Phân loại theo bản chất hợp đồng tài chính([8])
Trả lãi theo mức độ cố định hay thả nổi là bản chất của hợpđồng tài chính Cách phân loại theo tiêu thức này chia lãi suấtthành hai loại là lãi suất cố định và lãi suất thả nổi
Lãi suất cố định được giữ cố định trong suốt thời hạn vay Còn
lãi suất thả nổi có thể thay đổi theo chỉ số lạm phát
Lãi suất cố định có ưu điểm: người gửi tiền và người vay tiềnbiết trước số tiền lãi được trả và phải trả Nhưng cũng có nhữngnhược điểm: bị ràng buộc vào một lãi suất nhất định trong thờigian nào đó, dù cho các loại lãi suất khác thay đổi như thế nào
Nó thường được áp dụng trong trường hợp lãi suất thị trườngtương đối ổn định
Lãi suất thả nổi có lợi cho cả hai bên nếu khi nhận và trả tiền
đều tính theo cùng mức lãi suất chung là lãi suất hiện tạithường áp dụng trong các thời kỳ lãi suất thị trường biến độngnhiều, khó dự đoán chính xác chiều hướng cũng như mức độbiến động lãi suất
2.3.4 Phân loại theo cách đo lường lãi suất([9])
Theo cách đo lường lãi suất, lãi suất được chia thành: lãi suấtđơn, lãi suất kép và lãi suất hoàn vốn
Trang 28- Lãi suất đơn là lãi suất tính một lần trên số vốn gốc cho suốt
thời kỳ hạn vay Loại lãi suất này thường được áp dụng cho cáckhoản tín dụng ngắn hạn và việc trả nợ một lần khi đến hạn
Ta có thể tính lãi suất đơn theo công thức như sau:
Số tiền lãi = vốn gốc x lãi suất x số thời kỳ gửi vốn
(Số thời kỳ gửi vốn phải tương đương với thời kỳ của lãi suất)
Ví dụ: Khoản cho vay 1.000.000 đồng (1 triệu đồng); lãi suất
15%/năm; thời hạn vay 90 ngày, 1 năm = 360 ngày Khoản tiềnlãi thu được như sau:
1 000 000 x 15% x 90/360 ngày = 37.500 đồng
- Lãi suất kép: là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của
lợi tức thu được trong thời hạn sử dụng tiền vay Nó thường ápdụng cho các khoản đầu tư có nhiều kỳ hạn thanh toán trong đólãi của kỳ trước được nhập vào vốn gốc để tính lãi cho kỳ sau
- Lãi suất hiệu quả tương tự như lãi suất kép nhưng tính cho 1năm
- Lãi suất hoàn vốn là lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại củađồng tiền (hay các khoản thu nhập) nhận được trong tương lai
từ một khoản đầu tư với giá trị hôm nay (hiện tại) của khoảnđầu tư đó Lãi suất hoàn vốn là phép đo chính xác nhất Nó chophép so sánh tỷ lệ sinh lời của các khoản đầu tư khác nhau vềthời hạn về cách thức trả nợ
2.3.5 Phân loại theo thời hạn vay
Trang 29Theo thời hạn vay lãi suất có thể được phân loại thành lãi suấtđúng hạn và lãi suất quá hạn.
Lãi suất đúng hạn là tỷ lệ nhất định mà bên vay phải trả cho bên
cho vay tính trên số tiền đã vay tương ứng với thời hạn mà cácbên đã thoả thuận
Lãi suất quá hạn là tỉ lệ phần trăm tính trên nợ gốc mà bên vay
phải trả cho bên cho vay tương ứng với thời gian chậm trả Lãisuất quá hạn thường cao hơn lãi suất đúng hạn do được ápdụng đối với người vay vi phạm nghĩa vụ về thời hạn Sau thờihạn mà bên vay không trả hoặc trả không hết số tiền vay thìbên cho vay có quyền tính lãi dựa trên lãi suất quá hạn theođúng như thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật
Cũng cần nên chú ý việc trả lãi trước hoặc sau thời hạn vẫn có
thể coi là đúng hạn Ví dụ: đến hạn trả lãi nhưng do sự kiện bất
ngờ hay sự kiện bất khả kháng mà bên vay không thể thực hiệnnghĩa vụ trả lãi của mình hoặc được bên cho vay chấp nhậnkhông phải trả lãi quá hạn khi qua thời hạn vay…
2.4 Những chính sách về lãi suất ở nước ta từ đầu thập kỷ
90 đến nay
Từ đầu thập kỷ 90, chính sách lãi suất đã dần thay đổi để từngbước thích ứng với cơ chế lãi suất thị trường đồng thời tăngcường hiệu lực của cơ chế giá trong việc thực hiện chích sáchtiền tệ
Trang 302.4.1 Giai đoạn trước tháng 6 năm 1992([10])
Nhà nước can thiệp ở mức độ cao và trực tiếp vào lãi suấtthông qua ấn định các mức lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay
Cơ chế lãi suất âm và mang nặng tính chất bao cấp được duytrì suốt thời kỳ này với mức cho vay đối với doanh nghiệp Nhànước thấp hơn đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh; Lãisuất danh nghĩa nhỏ hơn (<) tỉ lệ lạm phát Lãi suất cho vayngắn hạn lớn hơn lãi suất cho vay dài hạn; Lãi suất tiền gửi tiếtkiệm cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm cao hơn lãi suất tiền gửicác tổ chức kinh tế Tình trạng này làm cho lãi suất không thựchiện được chức năng vốn có của nó
2.4.2 Giai đoạn từ tháng 6 năm 1992 đến năm 1995([11])
Ngân hàng Nhà nước đã có nhiều bước điều chỉnh trong điềuhành chính sách lãi suất: chuyển từ cơ chế lãi suất thực âmsang cơ chế lãi suất thực dương để đảm bảo cho bên cho vay
và bên vay đều có lợi, xoá bỏ về cơ bản sự chênh lệch lãi suấtcho vay giữa các thành phần kinh tế; thay vì ấn định lãi suất cụthể bằng quản lý lãi suất theo một khung, bao gồm lãi suất tốithiểu về tiền gửi và lãi suất tối đa về tiền vay Những thay đổi vềlãi suất đã được cải cách linh hoạt hơn với cơ chế thị trường.Tuy nhiên, cơ chế này vẫn khống chế trực tiếp lãi suất, điều nàylàm giảm tác dụng kích thích và điều tiết hoạt động kinh doanhcủa các ngân hàng
Trang 312.4.3 Giai đoạn từ năm 1996 đến tháng 7 năm 2000([12])
Ngân hàng Nhà nước trực tiếp ấn định mức lãi suất tái cấp vốn
và có những đổi mới căn bản về điều hành lãi suất Thay vì quyđịnh khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi – lãi suất tối đa tiền vay,Ngân hàng Nhà nước chỉ quy định các mức lãi suất “trần” theothời hạn cho vay và khống chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay
và lãi suất huy động vốn bình quân là 0,35%/tháng (4,2%/năm)
để khắc phục tình trạng hầu hết các ngân hàng thương mại đều
có mức lợi nhuận cao trong khi các doanh nghiệp lại gặp khókhăn về tài chính (khi thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận ở giaiđoạn trước) Đến cuối tháng 1 năm 1998, Ngân hàng Nhà nướcxoá bỏ chênh lệch lãi suất chỉ còn quy định trần lãi suất chovay Cùng với nới lỏng sự kiểm soát lãi suất, Ngân hàng Nhànước liên tục điều chỉnh trần lãi suất cho vay theo hướng giảm
cơ cấu trần và mức khống chế đặc biệt trong hai năm 1998,
1999 Trong năm 1997, Ngân hàng Nhà nước đã thay đổi hìnhthức tái cấp vốn chuyển sang quy định mức lãi suất cụ thể Mứclãi suất tái cấp vốn cũng được điều chỉnh giảm xuống trong thờigian này (từ 1,1% năm 1997 xuống 0,7%/ tháng từ 4/9/1999) đểphù hợp với chỉ số lạm phát, quan hệ cung cầu vốn trên thịtrường và thực hiện giải pháp kích cầu về đầu tư của ChínhPhủ Để bổ sung thêm công cụ điều hành lãi suất, tháng11/1999 Ngân hàng Nhà nước đưa vào sử dụng nghiệp vụ chiết
Trang 32khấu, tái triết khấu giấy tờ có giá cho các ngân hàng thươngmại Tháng 7 năm 2000 Ngân hàng Nhà nước đưa vào sử dụngnghiệp vụ thị trường mở, lãi suất thị trường mở được hìnhthành qua các phiên giao dịch.
Việc điều chỉnh lãi suất như trên nhằm tiến tới việc duy trì mộttrần lãi suất cho vay, tạo điều kiện để áp dụng mức lãi suất cơbản và từng bước tự do hoá lãi suất, mặt khác nhằm mục đíchkích cầu thúc đẩy đầu tư và tiêu dùng Tuy nhiên ảnh hưởngcủa lãi suất đối với tổng cầu của nền kinh tế Việt Nam rất hạnchế Có hai lý do: trước hết việc giảm phát trong thời gian từ
1996 đến nay xuất phát từ sự suy giảm các yếu tố sản xuất liênquan đến tổng cung nhiều hơn tổng cầu vì thế các chính sách vĩ
mô tác động vào tổng cầu sẽ chỉ đem lại hiệu quả hạn chế; thứhai, sự điều chỉnh lãi suất thường chậm so với thị trường, nênmất đi lợi thế bất ngờ của sự thay đổi lãi suất Hơn nữa việc sửdụng các công cụ gián tiếp khác chưa thực sự có hiệu quả; việcđiều hành trần lãi suất vẫn là một biện pháp can thiệp hànhchính của Nhà nước do vậy đã hạn chế tính chủ động linh hoạttrong kinh doanh của các tổ chức tín dụng, hạn chế việc hìnhthành và phát triển của các công cụ tài chính, có nguy cơ làmsuy giảm năng lực tài chính của tổ chức tín dụng
2.4.4 Giai đoạn từ tháng 8 năm 2000 đến tháng 05 năm
2002([13])
Trang 33Đây là giai đoạn sử dụng lãi suất cơ bản với lãi suất tái triếtkhấu, lãi suất tái cấp vốn trong điều hành chính sách tiền tệ.Theo cơ chế lãi suất cơ bản, Ngân hàng Nhà nước hàng tháng
sẽ công bố lãi suất cơ bản (lãi suất cơ bản được hình thành căn
cứ vào mức lãi suất cho vay thương mại tốt nhất của một nhóm các tổ chức tín dụng chiếm phần lớn thị phần tín dụng) Chính
sách lãi suất thời kỳ này đã tiến gần đến các nguyên tắc lãi suấtthị trường hơn Tuy nhiên việc khống chế dao động của lãi suất
cơ bản làm hạn chế phần nào tính thị trường của lãi suất và làmcho cơ chế này về bản chất vẫn là cơ chế điều hành trần lãisuất Mặc dù vậy, việc sử dụng lãi suất cơ bản làm lãi suấttham chiếu khi cấp tín dụng các tổ chức tín dụng là bước chuẩn
bị cho tự do hoá lãi suất hoàn toàn sau này
2.4.5 Giai đoạn từ tháng 6 năm 2002 đến cuối năm 2008 (đến khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu cuối năm 2008)
Ngân hàng Nhà nước có những thay đổi mang tính bước ngoặttrong điều hành lãi suất Cơ chế lãi suất thoả thuận từ ngày01/6/2002 đã xoá bỏ biên độ khống chế lãi suất cho vay, chophép các tổ chức tín dụng được tự do thoả thuận lãi suất chovay bằng đồng Việt Nam dựa theo quan hệ cung – cầu vốn vàmức độ tín nhiệm đối với khách hàng Sang những tháng đầunăm 2003, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều chỉnh cơ chế điều
Trang 34hành lãi suất mà theo đó lãi suất tái cấp vốn đóng vai trò lãi suấttrần, lãi suất tái chiết khấu là lãi suất sàn trên thị trường tiền tệliên ngân hàng, lãi suất thị trường mở đóng vai trò là công cụđiều hành thường xuyên của Ngân hàng Nhà nước Ngoài hìnhthức tái cấp vốn thông thường, Ngân hàng Nhà nước qua đêmtrong thanh toán điện tử liên ngân hàng và thanh toán bù trừ.Ngân hàng Nhà nước còn áp dụng lãi suất tiền gửi của các tổchức tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước làm phương tiệnthường xuyên điều tiết lãi suất liên ngân hàng; tiếp tục công bốlãi suất cơ bản nhằm mục đích định hướng lãi suất thị trường.
Cơ chế lãi suất mới nhằm đảm bảo tính thị trường của lãi suất
và tạo điều kiện khai thác triệt để sức mạnh của cơ chế thịtrường trong các hoạt động điều tiết kinh tế vĩ mô và kinh tế vi
mô Các tổ chức tín dụng đã chủ động linh hoạt hơn trong quyếtđịnh đưa ra lãi suất kinh doanh của mình Các nguồn lực đãđược khai thác nhiều hơn cho sản xuất kinh doanh Tuy nhiênhiệu quả của chính sách vẫn còn hạn chế do các yếu tố nềntảng của cơ chế này đang trong quá trình hoàn thiện
2.4.6 Giai đoạn từ khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu cuối năm 2008 đến nay
Sự biến đổi của nền kinh tế mà đặc biệt là khủng hoảng kinh tế
có ảnh hưởng trực tiếp tới lãi suất và ngược lại lãi suất sẽ giúpnền kinh tế sau khủng hoảng khắc phục được những hậu quả
Trang 35của suy thoái, chống suy giảm kinh tế và kiềm chế lạm phát Đó
là lí do vì sao không chỉ Việt Nam mà cả thế giới đã có nhữngchính sách thay đổi lãi suất để phù hợp với tình hình hiện tại.Trong thời gian này lạm phát đang lan tràn khắp nơi trên thếgiới và làm rung chuyển một số thị trường tài chính Chính phủTrung Quốc đã công bố các biện pháp hút bớt tiền ra khỏi hệthống tài chính để kiềm chế lạm phát Tại Mỹ các nhà đầu tưbán thống bán tháo trái phiếu kho bạc khi được cục dự trữ liênbang Mỹ thông báo về nguy cơ lạm phát có thể tăng cao Vànhư vậy phương thức điển hình để chống lạm phát là tăng lãisuất đã được áp dụng ở hầu hết các quốc gia Tuy nhiên, biệnpháp này có xu hướng gây tác hại cho tăng trưởng kinh tế vàảnh hưởng đến giá cổ phiếu Nó cũng gây phức tạp đối với nỗlực của một số nền kinh tế đang phát triển trong việc duy trì sự
ổn định của đồng nội tệ, bởi các nền kinh tế này đều dựa vàoxuất khẩu Đối với Việt Nam tỷ lệ lạm phát nhìn chung thấp hơn
so với các quốc gia khác, có những thời điểm trong thời giannày chúng ta cũng tăng lãi suất nhưng Nhà nước cũng cónhững chính sách nhằm hỗ trợ lãi suất và Chính Phủ đưa racác gói giải pháp nhằm kích cầu kinh tế Cụ thể gần đây nhấttrong quyết định số 497/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủngày 17/4/2009 quy định mức tiền cho vay tối đa bằng 100%giá trị hàng hóa đối với các sản phẩm máy móc, thiết bị cơ khí,
Trang 36phương tiện phục vụ sản xuất, chế biến nông nghiệp và máy vitính (riêng máy vi tính, mức tiền cho vay tối đa không quá 05triệu đồng/chiếc) được hỗ trợ 100% lãi suất vay; đối với các sảnphẩm vật tư nông nghiệp mức tiền cho vay tối đa là 100% giá trịhàng hóa nhưng không vượt quá 07 triệu đồng/ha; vật liệu xâydựng các loại để làm nhà ở được vay ở mức tiền tối đa bằng100% giá trị hàng hóa nhưng không vượt quá 50 triệu đồng, haihạng mục này được hỗ trợ 4% lãi suất vay Theo đó, các khoảnvay từ ngày 01 tháng 05 năm 2009 đến ngày 31 tháng 12 năm
2009 sẽ có thời gian hỗ trợ lãi suất tối đa 24 tháng đối với cácsản phẩm máy móc, thiết bị cơ khí, phương tiện phục vụ sảnxuất, chế biến nông nghiệp và máy vi tính, hỗ trợ lãi suất tối đa
12 tháng đối với các sản phẩm vật tư nông nghiệp và vật liệuxây dựng các loại để làm nhà ở Điều kiện được hưởng chínhsách hỗ trợ lãi suất là sản phẩm được sản xuất trong nước vàphải được đăng ký, niêm yết giá bán và có nhãn hàng hóa theoquy định của pháp luật Đồng thời với các giải pháp của ChínhPhủ, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra mức lãi suất cơ bản saumột thời gian biến động và hiện tại ổn định ở mức 7%/năm(tháng 7 năm 2009)
Chương 3:
Trang 37QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG
3.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về lãi suất
Có thể thấy Nhà nước không phải lúc nào cũng kiểm soát đượchết mọi quan hệ pháp luật cho nên có tình trạng nhiều vi phạmpháp luật nằm ngoài vòng kiểm soát của pháp luật Điều nàyhoàn toàn dễ hiểu khi các văn bản pháp luật của nước ta cònthiếu cụ thể, tính khả thi không cao, hơn nữa luật nước ta là luậtkhung, muốn thi hành được trên thực tế phải có Nghị địnhhướng dẫn thi hành Vấn đề lãi suất trong hợp đồng vay cũngrơi vào tình trạng này Trong BLDS 2005 chỉ quy định duy nhấtmột điềuvề lãi suất một cách trực tiếp:
“Điều 476 Lãi suất
1 Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.
2 Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”.
Việc quy định chỉ một điều luật trực tiếp về lãi suất trong BLDS
2005 là quá khái quát sẽ tạo khe hở cho nhiều đối tượng “lách
Trang 38luật”, cố tình làm biến thái đi và lợi dụng nó để kinh doanh, tổchức thực hiện một số hình thức không lành mạnh.
Lãi suất cơ bản được quy định trong điều 476 bỗng dưng đãgây tranh cãi xem có nên sửa đổi hay không Lãi suất này tựdưng trở thành mốc để suy ra lãi suất trần Ví dụ có thời điểmlãi suất cơ bản lãi 12%/năm suy ra lãi suất cho vay tối đa sẽ ởmức 18%/năm Tức là một điều luật nhằm ngăn chặn hiệntượng cho vay nặng lãi ngoài xã hội bỗng trở thành yếu tố điềutiết lãi suất của hệ thống ngân hàng chính thống
Về nguyên tắc, lãi suất cho vay cụ thể sẽ do các bên thoảthuận; tuy nhiên, nhằm ngăn ngừa hiện tượng cho vay nặng lãi
và cũng tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về lãisuất hoặc trong trường hợp không có cơ sở xác định rõ mức lãi
đã thỏa thuận, mà pháp luật dân sự quy định phương thức đểxác định một mức lãi suất nào đó được xem là hợp lý và tiêuchuẩn được BLDS năm 1995 lựa chọn là căn cứ vào cơ chếđiều hành trần lãi suất của Ngân hàng Nhà nước, tức mức lãisuất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định từng thời điểmđối với loại cho vay tương ứng
BLDS 1995 cũng như BLDS 2005 quy định một điều duy nhất
về lãi suất nhưng so với Bộ luật này, BLDS 2005 có những thay
đổi căn bản Đối với BLDS 1995 thì chỉ quy định “lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 50% của mức
Trang 39lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại cho vay tương ứng”.Thực tế cho thấy khi áp dụng quy định này
trong nhiều năm có nhiều bất cập và không còn phù hợp nữa,
thay vào đó là quy định “Lãi suất vay do các bên thoả thuận
nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”.
Quy định mới này đã dễ hiểu hơn, thực tế hơn và hiệu quả hơn
và sau gần bốn năm thực hiện quy định về lãi suất này, từ ngày01/01/2006 – ngày BLDS 2005 có hiệu lực thi hành, chúng ta đãthu được những kết quả đáng mừng Tại sao lại có sự thay đổiđó? Đó là vì cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhànước đã có nh÷ng thay đổi, cơ chế điều hành trần lãi suất đượcthay thế bằng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản Luật Ngânhàng Nhà nước năm 1997 quy định: “Lãi suất cơ bản là lãi suất
do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các Tæ chøctÝn dông (TCTD) ấn định lãi suất kinh doanh”([14]); “Ngân hàngNhà nước xác định và công bố lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp
mới ban hành Quyết định số 241/2000/QĐ-NHNN (có hiệu lực
từ ngày 5/8/2000) chính thức bắt đầu thực hiện cơ chế điềuhành lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng Đồng Việt Nam thaycho cơ chế điều hành trần lãi suất cho vay Hệ quả là: từ thờigian này cho đến trước khi BLDS năm 2005 có hiệu lực, rõ ràng
Trang 40đã tồn tại một khoảng trống pháp lý khi có sự bất tương đồnggiữa Điều 473 BLDS năm 1995 với Luật Ngân hàng Nhà nước
1997 và Quyết định số 241/2000/QĐ-NHNN1 về tiêu chí sosánh (lãi suất trần và lãi suất cơ bản), Toà án không có cơ sở
để dẫn chiếu khi giải quyết các tranh chấp về lãi suất phát sinhtrong thời gian ấy Thay thế cho BLDS năm 1995 và có hiệu lực
từ ngày 01/01/2006, về nội dung này, BLDS năm 2005 quyđịnh: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không vượtquá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bốđối với loại cho vay tương ứng”([16]) Đây là sự pháp điển hoáLuật Ngân hàng Nhà nước, Quyết định sè 241/2000/QĐ-NHNN1 vào trong BLDS mới một cách hợp lý và tất yếu
Như vậy, nếu như cơ sở tồn tại của tiêu chí so sánh đã đượcBLDS năm 2005 giải quyết hợp lý, thì trong lời văn của điều luậtlại phát sinh một vấn đề khác, đó là sự khác nhau về mức lãisuất thoả thuận tối đa được phép (bị khống chế) giữa 2 quyđịnh tương ứng trong hai Bộ luật dân sự Vấn đề đặt ra chochúng ta là cần thống nhất cách hiểu và cách tính toán mức lãisuất cho vay tối đa này của BLDS năm 2005 như thế nào đểkhông phạm luật? Hay nói cách khác, với quy định trên ta cầnquan niệm giá trị 150% là của phần vượt quá so với lãi suất cơbản hay là tỷ lệ so sánh thuần tuý giữa chúng với nhau – lãisuất thoả thuận với lãi suất cơ bản?