Chọn đề tài “Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt", chúng tôi tập trung nghiên cứu những đặc điểm cấu tạo, phương thức tạo thành, đặc điểm ngữ nghĩa bao gồm ý
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC XÁC HỘI VIỆTNAM Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Hà Quang Năng
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2019
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Các bài viết đăng trên các Tạp chí khoa học
1) Lê Thị Mỹ Hạnh (2018), "Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ mĩ thuật
tiếng Việt", Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống (Hội Ngôn ngữ học Việt
Nam), số 8/2018
2) Lê Thị Mỹ Hạnh (2018), "Đặc điểm định danh của hệ thống thuật
ngữ mĩ thuật tiếng Việt", Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội (Học viện
Khoa học xã hội), số 8/2018
3) Lê Thị Mỹ Hạnh (2019), " Đặc điểm ý nghĩa của thuật ngữ mĩ thuật
tiếng Việt", Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội (Học viện Khoa học xã
hội), số 1/2019
4) Lê Thị Mỹ Hạnh (2019), “ Các phương thức xây dựng hệ thuật ngữ
mĩ thuật tiếng Việt,” Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống (Hội Ngôn ngữ học Việt Nam), số 2/2019
-
Trang 4MỞ ĐẦU
01 Lý do chọn đề tài
Mĩ thuật là một trong những bộ môn nghệ thuật ra đời sớm nhất của loài người Mĩ thuật học là ngành khoa học nghiên cứu những vấn đề lí luận của các loại hình nghệ thuật tạo hình như hội họa, điêu khắc, đồ họa, về các phương diện như thể loại, chất liệu, hoạt động sáng tạo, đặc trưng ngôn ngữ, các trường phái, xu hướng của các loại hình nghệ thuật kể trên Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về mĩ thuật ở nước ta từ nhiều phương diện khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay, hệ thống thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt chưa được chú ý nghiên cứu, ngoài một số công trình từ điển được biên soạn trên
cơ sở dịch các thuật ngữ mĩ thuật nước ngoài, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện hệ thống thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt về phương diện lí thuyết
Chọn đề tài “Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt", chúng tôi tập trung nghiên cứu những đặc điểm cấu tạo,
phương thức tạo thành, đặc điểm ngữ nghĩa (bao gồm ý nghĩa và đặc điểm định danh) của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
02 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt được thu thập trong các từ điển thuật ngữ mĩ thuật tiếng Viêt và trong các giáo trình giảng dạy về mĩ thuật học, gồm các ngành: hội họa, điêu khắc, kiến trúc, đồ họa
Phạm vi nghiên cứu của luận án là nghiên cứu đặc điểm cấu tạo, các phương thức tạo thành và đặc điểm ngữ nghĩa, định danh của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
03 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng rõ đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa, đặc điểm định danh và các phương thức tạo thành thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu thuật ngữ nói chung, nghiên cứu thuật ngữ mĩ thuật nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam
- Tìm hiểu, xác lập những vấn đề lí thuyết có liên quan đến việc triển khai đề tài luận án
Trang 5- Khảo sát đặc điểm cấu tạo thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt về các mặt: yếu tố cấu tạo thuật ngữ, phương thức tạo thành thuật ngữ và các kiểu cấu tạo thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
- Tìm hiểu đặc điểm ngữ nghĩa của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt dựa trên đặc điểm định danh, cách thức biểu thị, đặc điểm phân định nội dung biểu đạt theo các phạm trù nội dung của hệ thuật ngữ
- Tìm hiểu các phương thức tạo thành ý nghĩa của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
04 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục đích đề ra, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả dùng để làm rõ các phương thức tạo thành thuật ngữ, các kiểu cấu tạo thuật ngữ, các lớp thuật ngữ được sử dụng trong lĩnh vực chuyên môn của mĩ thuật học, đặc điểm ý nghĩa, đặc điểm định danh
và phương thức tạo thành của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
- Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp
Phương pháp này được áp dụng để phân tích cấu tạo thuật ngữ theo thành tố trực tiếp nhằm xác định các yếu tố cấu tạo nên thuật ngữ Từ đó, tìm ra được các nguyên tắc tạo thành thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt, các mô hình cấu tạo của chúng
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa
Phương pháp phân tích ngữ nghĩa được áp dụng để nghiên cứu ngữ nghĩa của các thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt, từ đó thiết lập được các mô hình định danh thuật ngữ, các nét đặc trưng làm cơ sở định danh của hệ thuật ngữ và các kiểu quan hệ ngữ nghĩa là cơ sở tạo nên thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
- Thủ pháp thống kê
Thủ pháp thống kê được sử dụng để tìm hiểu số lượng, tần số xuất hiện, tỉ lệ phần trăm của các phương thức tạo thành thuật ngữ, các kiểu cấu tạo thuật ngữ, các lớp thuật ngữ được sử dụng trong lĩnh vực chuyên môn của mĩ thuật học, các mô hình định danh thuật ngữ Các kết quả thống kê sẽ được tổng hợp lại dưới hình thức các bảng biểu giúp hình dung rõ hơn các nét đặc trưng cơ bản về cấu tạo, cấu trúc ngữ nghĩa của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
Trang 605 Đóng góp và cái mới của luận án
Đây là công trình nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện những đặc điểm cơ bản của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt trên phương diện cấu tạo, phương thức tạo thành, nội dung ngữ nghĩa Chúng tôi đã áp dụng quan niệm
về yếu tố cấu tạo thuật ngữ, nội dung ngữ nghĩa của thuật ngữ của các nhà ngôn ngữ học Xô Viết trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu của mình Kết quả nghiên cứu của luận án là cầu nối tri thức ngôn ngữ học với tri thức khoa học của ngành mĩ thuật học, do vậy sẽ phục vụ thiết thực cho quá trình giảng dạy, truyền thụ kiến thức thuật ngữ học kết hợp với kiến thức về
mĩ thuật học trong các cơ sở đào tạo về mĩ thuật học và nghệ thuật tạo hình Luận án còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc biên soạn từ điển thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
06 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm ba chương:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
- Chương 2: Đặc điểm cấu tạo và phương thức tạo thành thuật ngữ mĩ
thuật tiếng Việt
- Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa và định danh của thuật ngữ mĩ thuật
tiếng Việt
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chúng tôi đã tổng quan tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và
ở Việt Nam Theo đó, đã trình bày các hướng nghiên cứu và các nội dung nghiên cứu thuật ngữ của ba trường phái nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới: trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Áo, với đại diện là E.Wuste; trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Tiệp khắc, với đại diện là L Drodz; trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Nga-Xô viết, với đại diện là D.S Lotte Ở Việt Nam, chúng tôi đã tổng kết tình hình nghiên cứu thuật ngữ trong các thời kì từ 1930 đến nay, chỉ ra các nội dung nghiên cứu thuật ngữ trong từng thời kì Về tình hình nghiên cứu thuật ngữ mĩ thuật trên thế giới và ở Việt Nam, chúng tôi đã tìm hiểu một số công trình nghiên cứu thuật ngữ mĩ thuật trên thế giới và một số từ điển mĩ thuật tiếng Việt được dịch từ tiếng nước ngoài Không có nhiều công trình nghiên cứu thuật ngữ mĩ thuật ở trên thế giới và ở Việt Nam
Trang 71.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Một số vấn đề về từ, cụm từ và quan hệ ngữ pháp trong tiếng Việt
Thuật ngữ là những từ, cụm từ của ngôn ngữ để biểu thị các khái niệm chuyên môn, tên gọi các đối tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn Vì vậy, cần hiểu rõ khái niệm từ, đơn vị cấu tạo, phương thức cấu tạo từ, các quan hệ ngữ pháp tiếng Việt làm cơ sở để tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, mô hình cấu tạo thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
1.2.2 Vấn đề nghĩa của từ và nghĩa của thuật ngữ
Mặt nội dung của thuật ngữ chính là ý nghĩa của thuật ngữ Chúng tôi
đã trình bày về khái niệm nghĩa của từ, các thành phần nghĩa của từ, cấu trúc nghĩa của từ và sự biến đổi ý nghĩa của từ Đó là cơ sở để tìm hiểu nghĩa của thuật ngữ, các phương thức biến đổi ý nghĩa của từ thông thường thành nghĩa của thuật ngữ Ý nghĩa của thuật ngữ cũng là cơ sở để tìm hiểu đặc điểm định danh của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
1.2.3 Một số vấn đề về thuật ngữ học
1.2.3.1 Khái niệm và đặc điểm của thuật ngữ
Có nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ nhưng nhìn chung, các
nhà khoa học đều cho rằng thuật ngữ là những từ, cụm từ của ngôn ngữ để
biểu thị các khái niệm chuyên môn và chỉ tên các đối tượng, sự vật, hiện tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn Với cách hiểu như vậy, những tiêu chuẩn
của thuật ngữ cũng đã được các nhà nghiên cứu chỉ ra một cách khá cụ thể
Thuật ngữ có những đặc điểm là tính khoa học (bao gồm tính chính xác,
tính hệ thống, tính ngắn gọn), tính quốc tế, tính dân tộc
1.2.3.2 Phân biệt thuật ngữ và một số khái niệm liên quan
- Thuật ngữ và từ vựng thông thường
Thuật ngữ có những điểm chung sau với vốn từ vựng thông thường
Một là, chúng đều phải tuân theo quy luật ngữ âm chung và quy luật kết
cấu của ngữ pháp chung Hai là, chúng đều bị quy định bởi trường từ vựng
Với tư cách là một bộ phận đặc biệt, thuật ngữ cũng có những sự khác
biệt đáng kể so với từ vựng thông thường Thứ nhất, trong khi từ ngữ
thông thường biểu đạt các khái niệm thông dụng ai cũng có thể biết đến, thì thuật ngữ lại diễn đạt các khái niệm chuyên môn chỉ một số lượng các
nhà chuyên môn biết đến Thứ hai, nội dung khái niệm do từ thông
thường biểu thị phụ thuộc vào những biến đổi của hệ từ vựng, còn nội dung khái niệm thuật ngữ biểu thị phụ thuộc vào sự phát triển của ngành khoa học đấy [Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Trang 8(1997)] Thứ ba, thuật ngữ không có tính biểu cảm, còn từ ngữ thông
thường mang tính biểu cảm [Palamarchuk (1975), Superanskaja (1976),
Lưu Vân Lăng (1987)] Thứ tư, thuật ngữ chỉ có một nghĩa, không có từ
đồng nghĩa, không có hiện tượng đa nghĩa Thuật ngữ không phụ thuộc vào ngữ cảnh và vẫn bảo tồn nghĩa của chúng khi đứng biệt lập, còn từ ngữ thông thường chỉ được xác định chính xác nghĩa của nó trong sự kết hợp với những từ khác tại một ngữ cảnh nhất định [Lotte (1978), Kapanadze (1978), Đỗ Hữu Châu (1981), Nguyễn Thiện Giáp (1998)]
Thứ năm, thuật ngữ và từ thông thường đều có chức năng định danh,
nhưng thuật ngữ khác từ thông thường ở chỗ, ngoài chức năng dịnh danh, thuật ngữ còn chức năng định nghĩa [Vinogradov (1947), Moixeev (1978)]
Bên cạnh những điểm giống nhau và khác nhau kể trên, từ ngữ thông thường và thuật ngữ có quan hệ xâm nhập và có thể chuyển hóa lẫn nhau [Lotte (1978), Nguyễn Thiện Giáp (1998)]
- Thuật ngữ và danh pháp
Thuật ngữ và danh pháp có những sự khác nhau nhất định Thuật ngữ gắn với hệ thống khái niệm của một khoa học cụ thể và ở thuật ngữ, chức năng định nghĩa là quan trọng Còn danh pháp không có quan hệ trực tiếp với khái niệm của khoa học mà nó chỉ gắn với sự vật, đối tượng cụ thể của một lĩnh vực khoa học Danh pháp là tên gọi chuyên môn được dùng trong một lĩnh vực khoa học cụ thể và đối với danh pháp, chức năng gọi tên mới
là quan trọng [Vinokur (1939), Reformatxki (1961), Palamarchuk (1975), Superanskaja (1976), Nguyễn Thiện Giáp (1998), Nguyễn Như Ý (1998)] Mặc dù có sự khác biệt như vậy, các nhà nghiên cứu cũng khẳng định rằng, giữa thuật ngữ và danh pháp có tác động qua lại với nhau và có thể chuyển hóa lẫn nhau [Superanskaja (1976)]
- Thuật ngữ và từ nghề nghiệp
Thuật ngữ và từ nghề nghiệp có một số điểm giống nhau sau Thứ
nhất, chúng có phạm vi sử dụng giống nhau, đấy là, chúng đều được sử
dụng trong một phạm vi hẹp Thuật ngữ thuộc ngành khoa học cao nên thuật ngữ diễn đạt các khái niệm chuyên môn chỉ một số lượng các nhà chuyên môn biết đến Từ nghề nghiệp là một lớp từ bao gồm những đơn vị
từ ngữ được sử dụng phổ biến trong phạm vi những người cùng làm một
nghề nào đó [65, 223] Thứ hai, từ nghề nghiệp và thuật ngữ đều có thể trở
thành từ vựng toàn dân, và góp phần làm phong phú hơn cho vốn từ vựng chung của dân tộc Từ nghề nghiệp dễ dàng trở thành từ vựng toàn dân khi những khái niệm riêng của nghề nào đó trở thành phổ biến rộng rãi trong
Trang 9toàn xã hội [17, 269] Các thuật ngữ cũng có thể trở thành từ vựng toàn dân khi trình độ khoa học và kiến thức của quần chúng nhân dân được nâng lên Thuật ngữ và từ nghề nghiệp cũng có những sự khác biệt Thuật ngữ chỉ khái niệm của một ngành khoa học, do đó, nó phải bảo đảm tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế Trong khi đó, từ ngữ nghề nghiệp là những
từ ngữ biểu thị những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội Những từ ngữ này thường được những người cùng trong ngành nghề đó biết và sử dụng Bên cạnh đó, so với thuật ngữ,
từ nghề nghiệp vẫn có những sắc thái riêng Từ nghề nghiệp mang tính cụ thể, sinh động, nhiều màu sắc, và một số từ nghề nghiệp có khả năng gợi hình ảnh cao Bên cạnh những điểm giống nhau và khác nhau, thuật ngữ và
từ nghề nghiệp có quan hệ xâm nhập và có thể chuyển hóa lẫn nhau Một thuật ngữ có thể trở thành từ nghề nghiệp khi thuật ngữ ấy chỉ các đối tượng, sự vật cụ thể Ngoài ra, trong quá trình sử dụng, khi từ nghề nghiệp biểu thị một khái niệm, nó có thể trở thành thuật ngữ Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, những từ nghề nghiệp là các đơn vị từ vựng gọi tên các sự vật, hoạt động, tính chất, tên gọi của sản phẩm không thể trở thành thuật ngữ
1.2.4 Lí thuyết định danh và định danh ngôn ngữ
Hiểu một cách đơn giản, định danh chính là việc đặt tên gọi cho một
sự vật, hiện tượng Tên gọi có vai trò quan trọng đối với nhận thức và tư duy Nhờ các tên gọi mà sự vật, hiện tượng thực tế khách quan tồn tại trong
lí trí của chúng ta, phân biệt được với các sự vật, hiện tượng khác cùng loại và khác loại…Vì các tên gọi làm cho tư duy trở nên rành mạch sáng sủa, cho nên một sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan chỉ thực sự trở thành một sự vật được nhận thức, một sự vật của tư duy khi nó đã có một tên gọi trong ngôn ngữ Định danh là một trong những chức năng của các đơn vị từ ngữ của ngôn ngữ: chức năng gọi tên đối tượng, thuộc tính hoặc những hành động Dựa vào lí thuyết định danh để tìm hiểu đặc điểm định danh của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
1.2.5 Xác định khái niệm thuật ngữ mĩ thuật
Dựa trên những quan điểm đã nêu và tìm hiểu lược sử mĩ thuật và
mĩ thuật học, tìm hiểu khái niệm mĩ thuật trong các giáo trình mĩ thuật học cùng với kết quả khảo sát, thống kê thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt từ nhiều nguồn khác nhau, chúng tôi đưa ra định nghĩa thuật ngữ mĩ thuật
như sau: Thuật ngữ mĩ thuật là các từ, cụm từ được sử dụng trong
ngành mĩ thuật để biểu thị những khái niệm, sự vật, hiện tượng, quá trình, hoạt động, tính chất… thuộc các ngành: hội họa, điêu khắc, kiến trúc, đồ họa và trang trí
Trang 10Tiểu kết
Trong chương này, chúng tôi đã tổng quan tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam và trình bày một số vấn đề lí luận liên quan đến luận án
- Về các vấn đề chung của thuật ngữ: chúng tôi hệ thống hóa, phân tích các quan điểm về khái niệm thuật ngữ, tiêu chuẩn của thuật ngữ, phân biệt thuật ngữ với danh pháp, từ thông thường và từ nghề nghiệp Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ biểu đạt khái niệm, thuộc tính, đối tượng, sự vật, hiện tượng… thuộc một lĩnh vực khoa học hoặc chuyên môn Để xác định thuật ngữ cần một tập hợp các tiêu chuẩn, đó là: tính khoa học (bao gồm tính chính xác, tính hệ thống, tính ngắn gọn), tính quốc tế, tính dân tộc
- Trình bày hai vấn đề lí thuyết phục vụ cho việc nghiên cứu thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt - đó là vấn đề từ, cụm từ, quan hệ ngữ pháp trong tiếng Việt; vấn đề nghĩa của từ, nghĩa của thuật ngữ và lí thuyết định danh ngôn ngữ
- Trình bày sơ lược những thông tin thiết yếu về mĩ thuật Việt Nam
và xác định khái niệm thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt làm cơ sở nghiên cứu trong luận án Những cơ sở lí thuyết được trình bày trong chương này tạo nên một khung lí thuyết rõ ràng và chắc chắn để tiến hành các nội dung nghiên cứu tiếp sau của luận án
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ PHƯƠNG THỨC TẠO THÀNH
THUẬT NGỮ MĨ THUẬT TIẾNG VIỆT 2.1 Yếu tố cấu tạo thuật ngữ
Xét về mặt ngôn ngữ học, thuật ngữ là từ hay cụm từ của một ngôn ngữ tự nhiên nào đó Việc phân tích cấu tạo của thuật ngữ chính là việc miêu tả cấu trúc ngôn ngữ của thuật ngữ từ góc độ ngôn ngữ học Khi phân tích thành phần cấu tạo của các thuật ngữ cần xét đến yếu tố cơ sở
để cấu tạo thuật ngữ Các thành phần được chia tách ra trong cấu trúc của một thuật ngữ được gọi là yếu tố cấu tạo thuật ngữ
2.2 Thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt xét về mặt cấu tạo
Xuất phát từ thực tế tư liệu thu thập được, chúng tôi thấy rằng, quan
điểm về “yếu tố thuật ngữ” của các nhà ngôn ngữ học Xô Viết rất phù hợp
với việc phân tích cấu tạo thuật ngữ Vì thế, trong luận án này, chúng tôi sẽ
Trang 11vận dụng quan điểm đó cho quá trình tìm hiểu của mình Theo quan điểm
của các nhà ngôn ngữ học Xô Viết, thuật ngữ “họa sĩ” có cấu tạo là từ sẽ
gồm hai yếu tố là “họa” và “sĩ” là các hình vị có nghĩa, “họa” là một bộ phận cấu thành khái niệm, “sĩ” là một bộ phận cấu thành khái niệm Hai
yếu tố này kết hợp với nhau tạo thành một khái niệm hoàn chỉnh Thuật
ngữ chủ nghĩa lập thể có cấu tạo là một cụm từ gồm hai yếu tố cấu tạo là từ: chủ nghĩa và lập thể
Trong quá trình thu thập tư liệu, chúng tôi thu được 1.320 thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo, chúng tôi phân chia thuật ngữ
mĩ thuật tiếng Việt thành 2 nhóm: thuật ngữ mĩ thuật có cấu tạo là từ và thuật ngữ mĩ thuật có cấu tạo là cụm từ.Trên cơ sở số lượng các yếu tố tham gia cấu tạo thuật ngữ, chúng tôi phân 1.320 thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt thành
sáu nhóm: thuật ngữ một yếu tố, thuật ngữ hai yếu tố, thuật ngữ ba yếu tố,
thuật ngữ bốn yếu tố, thuật ngữ năm yếu tố, thuật ngữ sáu yếu tố Ở mỗi
nhóm thuật ngữ này, chúng tôi đều miêu tả về nguồn gốc và cấu tạo thuật ngữ, từ đó tìm ra các kết quả về quan hệ ngữ pháp và đặc điểm từ loại, các
mô hình cấu tạo và nguồn gốc thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
Bảng 2.1: Tổng hợp phương thức cấu tạo của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
2.3 Các mô hình cấu tạo thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
Khảo sát 1.320 thuật ngữ mĩ thuật tiếng Viêt, chúng tôi đã xác định được
22 mô hình cấu tạo, trong đó mô hình cấu tạo của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt thường dùng nhất gồm 2, 3, 4 yếu tố Trong đó, yếu tố một là yếu tố khái quát
và là yếu tố chính, yếu tố hai, ba, bốn là các đặc trưng được thêm vào yếu tố
một để làm rõ nghĩa của thuật ngữ Ví dụ, ở thuật ngữ “tranh sơn mài”,
“tranh” là yếu tố đầu tiên, yếu tố cơ bản, khái quát nhất, quan trọng nhất vì chỉ loại duy nhất; “sơn mài” là yếu tố thứ hai, là đặc trưng bản chất được thêm vào, và là đặc trưng để tạo thuật ngữ và định danh thuật ngữ “sơn mài” mang
tính cụ thể hơn “tranh” và không mang tính khái quát như “tranh” Dưới đây là bảng về mô hình cấu tạo nên thuật ngữ mĩ thuật Việt
Trang 122.4.Thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt xét về mặt từ loại
Trong số 566 thuật ngữ là từ chỉ có 107 thuật ngữ là từ đơn, chiếm
18,90%: tượng, dó, mẫu, màu, khung, hình, nhã, vóc, mép, lề, thuật (cần
kim loại), ,… trong đó:
- Thuật ngữ là từ đơn danh từ: 52/107, chiếm 48,60%: màu, sơn, tranh,
lụa, khung, hình, lề, bìa, dáng, dó, điệp, nét, khối, hình, đường, giấy, lụa,
gỗ, đá, ngọc, goát, hồ, keo, phông, sắc,
- Thuật ngữ là từ đơn là động từ chỉ có 20 đơn vị (18.69%): đắp,
chạm, xay, tán, nghiền, tỉa, nặn, phác, di, chạm, tạc, vẽ, in, kẻ
- Thuật ngữ đơn là tính từ có 35 đơn vị (32,71 %) : đỏ, đen, trắng, thuận, xám, xanh, tím, thảm, đẹp, bạc
Về mặt từ loại của thuật ngữ là từ ghép, kết quả khảo sát 459 thuật ngữ
mĩ thuật tiếng Việt là từ ghép cho thấy:
- Có 354 thuật ngữ là từ ghép thuộc từ loại danh từ (77,12 %): hình thể,
màu sắc, sắc điệu, đường nét, họa đồ Có 46 đơn vị thuật ngữ là từ ghép thuộc
từ loại động từ (10,75 %): hửng màu, khắc nổi, lên nước, khắc chìm Có 59 đơn vị thuật ngữ là từ ghép thuộc từ loại tính từ (13,78%): cân bằng, cân đối,
cơ bản, lục thẳm Trong 1.320 thuật ngữ mĩ thuật có 754 thuật ngữ là cụm từ,
chiếm 57,12% tổng số các thuật ngữ được thu thập để nghiên cứu Tất cả các thuật ngữ là cụm từ đều có cấu tạo là cụm từ chính phụ, trong đó phần lớn là cụm từ chính phụ gồm 2 yếu tố Cụ thể, thuật ngữ là cụm từ chính phụ có 2 yếu tố có đến 528 đơn vị (70,03% ): khuynh hướng hoành tráng, mĩ thuật ứng dụng, nghệ thuật giả động, sản phẩm sơn mài.Thuật ngữ là cụm từ gồm 3 yếu
tố có 132 đơn vị (17,51%): tranh khắc kim loại, chạm nổi thấp, nung đồ gốm
Về mặt từ loại, đối với thuật ngữ là cụm từ, căn cứ vào từ loại của yếu
tố chính để xác định từ loại cho cụm từ Khảo sát 754 thuật ngữ mĩ thuật là cụm từ cho kết quả như sau:
- Có 626 thuật ngữ mĩ thuật là cụm danh từ, chiếm 83,02%: chủ nghĩa
ấn tượng, chủ nghĩa tân thời, đất nung, đường viền, khung viền, khuôn trổ, màu nước, vân đá, sáp màu, nhựa thông, chủ nghĩa tiền phong, xu hướng hiện thực, xu hướng tượng trưng, chủ nghĩa tượng trưng, bức tranh sáp màu, hội họa tổng thể, phong cách biểu hiện, bức họa đồng quê, chất liệu sơn dầu, bức tranh màu phấn…
- Thuật ngữ mĩ thuật là cụm động từ có 38 đơn vị (5,03%): Thiết kế in,
không pha màu, không sơn, nghiền màu, thêu trang trí, khắc nổi thấp, khắc nổi cao, in tranh đồ họa, chạm nổi cao, chạm nổi thấp,…
Trang 13- Thuật ngữ mĩ thuật là cụm tính từ có 90 đơn vị (11,94%): đậm nhạt cùng sắc, trắng ti tan, trắng kẽm, đen hạt huyền, vàng crôm, đỏ cát mi, xanh
cô ban Dưới đây là bảng tổng hợp kết quả
Bảng 2.2: Tổng hợp đặc điểm từ loại của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
Từ đơn
Danh từ 52 (48,60%)
Tính từ 35 (32,71%) Động từ 20 (18,69%)
459 34,78
Tính từ 59 (13,78%) Động từ 46 (10,75%)
2.5 Thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt xét về mặt nguồn gốc
2.5.1 Nguồn gốc của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt là từ
Sau khi khảo sát và phân tích 1.320 thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt, chúng tôi thấy rằng, các thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt có nguồn gốc rất phong phú Chúng có thể được cấu thành bởi các yếu tố Việt, Hán Việt hoặc Ấn Âu Dưới đây là bảng về nguồn gốc của các thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt Thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt có cấu tạo là các yếu tố cấu tạo Hán
Việt chiếm tỉ lệ cao nhất với 408 đơn vị (chiếm 72,10%): khỏa thân, tạo
hình, độc bản, đường nét, bích họa, biếm họa Thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
có cấu tạo là các yếu tố Việt có 125 đơn vị (22,01%): bìa, cắt, dàn dựng, đĩa,
dòng, dựng, đường nét, ghi chép, lề, loa, sóng, xén, giấy, giấy bồi Thuật ngữ
mĩ thuật tiếng Việt có các yếu tố cấu tạo Ấn Âu có 22 đơn vị, chiếm tỉ lệ thấp