Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp Phương pháp này được áp dụng để mô tả quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố cấu tạo YTCT trong cấu trúc nội bộ của các thuật ngữ, xác định các kiểuMHC
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hà Quang Năng
Hà Nội, 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 26 tháng 02 năm
2019
Tác giả luận án
Lê Thị Mỹ Hạnh
Trang 3Hà Nội, ngày 26 tháng 02 năm
2019
Tác giả luận án
Lê Thị Mỹ Hạnh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở nước ngoài và ở Việt Nam 7 1.2.Cơ sở lí luận 19
Tiểu kết chương 1 54
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ PHƯƠNG THỨC TẠO THÀNH THUẬT NGỮ MĨ THUẬT TIẾNG VIỆT 55
2.1 Yếu tố cấu tạo thuật ngữ 55
2.2 Các phương diện và cách thức khảo sát 60
2.3 Thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt xét về mặt cấu tạo 60
2.4 Thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt xét về mặt từ loại 77
2.5 Thuật ngữ mĩ thuật xét về mặt nguồn gốc 80
2.6 Nhận xét chung về đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt 82 2.7 Phương thức tạo thành thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt 86
Tiểu kết chương 2 99
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ ĐỊNH DANH CỦA THUẬT NGỮ MĨ THUẬT TIẾNG VIỆT 102
3.1 Ý nghĩa của thuật ngữ 102
3.2 Sự thể hiện ý nghĩa của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt 106
3.3 Đặc điểm định danh của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt 114
Tiểu kết chương 3 140
KẾT LUẬN 142
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU THỐNG KÊ
1 Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các mô hình cấu tạo của thuật 76
ngữ mĩ thuật tiếng Việt
2 Bảng 2.2: Bảng tổng hợp đặc điểm từ loại của thuật 79
ngữ mĩ thuật tiếng Việt
3 Bảng 2.3: Bảng tổng hợp nguồn gốc cấu tạo thuật ngữ mĩ 81
thuật tiếng Việt là từ
4 Bảng 2.4: Bảng tổng hợp nguồn gốc yếu tố cấu tạo 82
thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt là cụm từ
5 Bảng 2.5: Bảng tổng hợp phân bố số lượng TN mĩ thuật 83
tiếng Việt theo yếu tố cấu tạo
6 Bảng 2.6: Tổng hợp các phương thức tạo thành thuật 98
ngữ mĩ thuật tiếng Việt
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Nghiên cứu thuật ngữ, xây dựng hệ thống thuật ngữ và biên soạn,xuất bản các từ điển thuật ngữ đang là nhu cầu cần thiết trong xu thế pháttriển mạnh mẽ của tất cả các ngành khoa học trên thế giới Điều này cũng hếtsức cấp thiết đối với nước ta hiện nay Tuy nhiên, muốn làm tốt công tác này,chúng ta phải xây dựng được nền tảng lí luận vững vàng về thuật ngữ học,cũng như hiểu biết và xác định rõ phương pháp biên soạn các loại từ điểnthuật ngữ Rất tiếc, cả hai vấn đề này đều còn chưa được quan tâm nghiên cứuđúng mức ở Việt Nam
1.2 Trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ, thuật ngữ là đơn vị từ vựng
có phạm vi hoạt động và sử dụng hạn chế Đó là những đơn vị từ vựng củangôn ngữ được sử dụng để biểu đạt khái niệm cụ thể hay trừu tượng trong hệthống lí thuyết thuộc một lĩnh vực chuyên môn nhất định Vì vậy, thuật ngữ làmột đối tượng đặc biệt, khác với từ và cụm từ như là đối tượng của ngôn ngữhọc Mặc dù trong đa số trường hợp thuật ngữ học xem xét các đơn vị từ vựng
đó như là ngôn ngữ học, nhưng ở thuật ngữ có những đặc trưng khác Thuậtngữ có những yêu cầu chuẩn mực khác với những yêu cầu mà ngôn ngữ họcđòi hỏi ở các đơn vị từ vựng khác Vì vậy, để hiểu rõ đặc điểm hệ thống thuậtngữ của bất kì ngành khoa học, kĩ thuật nào đều cần phải nghiên cứu kĩ lưỡngtoàn diện và hệ thống thuật ngữ đó Đó là lí do vì sao hiện nay ở nước ta,trong địa hạt thuật ngữ học, bên cạnh nhiều công trình nghiên cứu lí thuyết vềthuật ngữ tiếng Việt, cũng có nhiều công trình nghiên cứu các hệ thuật ngữcủa các chuyên ngành cụ thể Kết quả nghiên cứu hệ thống thuật ngữ của cácchuyên ngành cụ thể sẽ góp phần thiết thực vào việc phát triển khoa học, kĩthuật và công nghệ của nước ta
Trang 81.3 Mĩ thuật là một trong những bộ môn nghệ thuật ra đời sớm nhất củaloài người Mĩ thuật học là ngành khoa học nghiên cứu những vấn đề lí luậncủa các loại hình nghệ thuật tạo hình như hội họa, điêu khắc, đồ họa, về cácphương diện như thể loại, chất liệu, hoạt động sáng tạo, đặc trưng ngôn ngữ,các trường phái, xu hướng của các loại hình nghệ thuật kể trên Đã có rấtnhiều công trình nghiên cứu về mĩ thuật ở nước ta từ nhiều phương diện khácnhau Tuy nhiên, cho đến nay, hệ thống thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt chưađược chú ý nghiên cứu, ngoài một số công trình từ điển được biên soạn trên
cơ sở dịch các thuật ngữ mĩ thuật nước ngoài, chưa có công trình nào nghiêncứu một cách toàn diện hệ thống thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt về phương diện
lí thuyết
Vì những lí do nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Đặc điểm cấu tạo và
ngữ nghĩa của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt ” cho công trình luận án của
mình Luận án của chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu những đặc điểm cấu tạo,nội dung ngữ nghĩa (bao gồm ý nghĩa và đặc điểm định danh), phương thứctạo thành thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống thuật ngữ mĩ thuật tiếngViêt Đó là các từ, cụm từ biểu thị các khái niệm, sự vật, hiện tượng, quátrình, hoạt động, tính chất… thuộc phạm vi của mĩ thuật truyền thống, gồmcác ngành: hội họa, điêu khắc, kiến trúc, đồ họa
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng rõ đặc điểm cấu tạo, đặcđiểm ngữ nghĩa, đặc điểm định danh (ĐĐĐD) và phương thức tạo thành thuậtngữ mĩ thuật tiếng Việt
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
a Tổng quan tình hình nghiên cứu thuật ngữ nói chung, thuật ngữ mĩthuật nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam, qua đó xác lập cơ sở lí luận choviệc nghiên cứu;
b Khảo sát, thống kê, phân loại thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt; tìm hiểuđặc điểm cấu tạo thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt gồm: xác định khái niệm thuậtngữ mĩ thuật để nhận diện thuật ngữ, tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, miêu tả vàphân tích các mô hình cấu tạo (MHCT) thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt;
c Tìm hiểu nội dung ý nghĩa thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt, gồm cócác phương thức tạo nên ý nghĩa của thuật ngữ và các phạm trù nội dung ýnghĩa làm cơ sở định danh của các đơn vị thuật ngữ trong hệ thống thuật ngữ
mĩ thuật tiếng Việt
d Tìm hiểu các phương thức tạo thành thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
4 Tƣ liệu khảo sát
Tư liệu khảo sát của luận án là các thuật ngữ mĩ thuật rút từ các từ điểnthuật ngữ mĩ thuật và được thu thập từ những giáo trình mĩ thuật học, sáchbáo, tạp chí về mĩ thuật bằng tiếng Việt Cụ thể là:
- Thuật ngữ mĩ thuật Pháp - Việt, Việt - Pháp ( Viện Ngôn ngữ học, Hà
Nội, 1978);
- Từ điển mĩ thuật phổ thông (Đặng Thị Bích Ngân (chủ biên), Nxb.
Mĩ thuật, Hà Nội, 2000);
Trang 10- Từ điển mĩ thuật (Lê Thanh Lộc biên soạn, Nxb Văn hóa - Thông tin,
Hà Nội, 1998);
- Lược sử mĩ thuật và mĩ thuật học (Chu Quang Chứ, Phạm Thị
- Các thể loại và loại hình mĩ thuật (Nguyễn Trân, Nxb Mĩ thuật, Hà
Nội, 2005);
- Mĩ thuật hiện đại Việt Nam, Nxb Mĩ thuật, Hà Nội, 1996;
- Nghệ thuật học (Đỗ Văn Khang, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004);
- Điêu khắc (Nguyễn Thị Hiên, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2008);
- Điêu khắc hiện đại Việt Nam, Nxb Mĩ thuật, Hà Nội, 2000.
- Lịch sử mĩ thuật học (Trần Tiểu Lâm, Phạm Thị chính, Nxb Đại học
Sư phạm, Hà Nội, 2013);
- Lịch sử mĩ thuật Việt Nam (Phạm Thị Chính, Nxb Đại học Sư
phạm, Hà Nội, 2010);
- Hình họa 1 (Triệu Khắc Lễ, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2004).
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu và các nội dung nghiên cứu đã đặt
ra, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây:
5.1 Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả được sử dụng để thu thập, thống kê các thuật ngữ
mĩ thuật từ các nguồn tư liệu khảo sát, miêu tả các phương thức tạo thànhthuật ngữ, các kiểu cấu tạo thuật ngữ, các lớp thuật ngữ được sử dụng tronglĩnh vực chuyên môn của chuyên ngành mĩ thuật và đặc điểm ý nghĩa và địnhdanh của hệ thống thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
5.2 Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp
Phương pháp này được áp dụng để mô tả quan hệ ngữ pháp giữa các yếu
tố cấu tạo (YTCT) trong cấu trúc nội bộ của các thuật ngữ, xác định các kiểuMHCT của hệ thống thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt theo quan hệ
Trang 11ngữ pháp giữa các YTCT trong cấu trúc của thuật ngữ mĩ thuật Từ đó, tìm rađược các nguyên tắc tạo thành thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt và các quy tắc cụthể tạo nên hệ thống thuật ngữ này.
5.3 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa
Phương pháp này được áp dụng để tìm hiểu những cách thức tạo thành ýnghĩa thuật ngữ, phân tích ý nghĩa của các thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt Dựavào các phạm trù nội dung ý nghĩa của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt để phânchia hệ thống thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt thành các tiểu phạm trù ngữ nghĩa
và xác định các đặc trưng làm cơ sở định danh của hệ thuật ngữ và các kiểuquan hệ ngữ nghĩa là cơ sở tạo nên thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt Từ đó lậpcác mô hình định danh thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
5.4 Thủ pháp thống kê
Là một thủ pháp của phương pháp miêu tả, thủ pháp thống kê được sử dụng
để xác định số lượng, tần số xuất hiện, tỉ lệ phần trăm của các phương thức tạothành thuật ngữ, các MHCT, mô hình định danh thuật ngữ Các kết quả thống kê
sẽ được tổng hợp lại dưới hình thức của bảng biểu giúp hình dung rõ hơn tổng
thể diện mạo cấu tạo, định danh của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt.
6 Ý nghĩa và đóng góp của luận án
Trên cơ sở nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện phương diện cấutạo, nội dung ngữ nghĩa, các phương thức tạo thành thuật ngữ mĩ thuật tiếngViệt, luận án sẽ có những đóng góp về mặt lí luận và thực tiễn như sau:
6.1 Ý nghĩa lí luận
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp thêm vào việc nghiên cứu líthuyết chung về thuật ngữ học, đồng thời chỉ ra được những đặc điểm riêng vềphương diện cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa ( ngữ nghĩa và định danh) vàphương thức tạo thành thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ:
Trang 12- Cho phép đề xuất được các biện pháp, phương hướng cấu tạo các thuật ngữ mĩ thuật mà tiếng Việt hiện chưa có;
-Là cơ sở để biên soạn từ điển giải thích thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt, góp phần vào việc nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực thuật ngữ học tiếng Việt
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảophục vụ cho công tác nghiên cứu, biên soạn giáo trình ngành mĩ thuật học vàgiảng dạy ngành mĩ thuật học ở nước ta;
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chươngđược bố cục như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo và phương thức tạo thành thuật ngữ
mĩ thuật tiếng Việt
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa và định danh của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
"Mĩ thuật học là một môn khoa học nghiên cứu những vấn đề lí luận về
mĩ thuật" [16; 5] Loại hình nghệ thuật này có quan hệ đến sự cảm thụ bằngmắt và sự tạo thành các hình tượng lấy từ thế giới vật chất bên ngoài để đưalên mặt phẳng hoặc một không gian nào đấy "Mĩ thuật là một trong những bộmôn nghệ thuật ra đời sớm nhất của loài người, khởi đầu bằng sự khai thác vàphát huy tác dụng của các nhân tố không gian như hình khối, đường nét, màusắc, để diễn đạt và truyền cảm Nó bao gồm nhiều thể loại, tựu trung lấy việckiến tạo các quan hệ không gian làm phương tiện diễn đạt và lấy việc gây cảmhứng thị giác làm mục đích truyền đạt Do đó mĩ thuật được liệt vào loại nghệthuật thị giác hay nghệ thuật không gian" [87, tr.5] Các nhà nghiên cứu cho
rằng: "nếu nói một cách chính xác hơn, nên dùng danh từ "nghệ thuật tạo hình" Trên thế giới, danh từ "nghệ thuật tạo hình" đã trở nên phổ cập và được
chính thức đưa vào bách khoa toàn thư, từ điển" [16; 5] Như vậy, thuật ngữ
"nghệ thuật tạo hình" đồng nghĩa với thuật ngữ "mĩ thuật" Tuy nhiên để đảm bảo tính nhất quán, trong luận án này chúng tôi chỉ sử dụng thuật ngữ "mĩ thuật".
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở nước ngoài và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở nước ngoài
Theo những nghiên cứu và tổng kết của Hà Quang Năng [86, 80 - 86],việc nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới đã sớm bắt đầu ngay từ thế kỉ 18 Cácnghiên cứu về thuật ngữ ở thời kì này đều tập trung vào nội dung tạo lập thuậtngữ, xác định các nguyên tắc cho việc xây dựng một hệ thống thuật ngữ riêngcho từng ngành khoa học Đi tiên phong trong công tác nghiên cứu thuật ngữ
ở thời kì này là các nhà khoa học như: Carl von Linné (1736); Beckmann(1780); A.L Lavoisier, G.de Morveau, M.Berthellot và A.F.de Fourcoy
Trang 14(1789) và William Wehwell (1840) Carl von Linné (1707 - 1778) có thể đượccoi là người xác lập công tác nghiên cứu thuật ngữ, trong đó gồm có việc nêuquy tắc tạo thuật ngữ, xác định chuẩn mực của thuật ngữ và lập kế hoạch xây
dựng các hệ thuật ngữ khoa học Bởi vì chỉ từ khi tác phẩm Fundamenta botanica (1736) của ông ra đời thì người ta mới có thể nói đến một hệ thuật
ngữ thực vật học được xác định theo quy tắc nhất định Có đến gần 1000 thuậtngữ đã được ông giải thích ý nghĩa và chỉ rõ cách sử dụng chúng rất tỉ mỉ.Trong khi Linné dựa vào ngôn ngữ khoa học đang được sử dụng ở châu Âuthời bấy giờ là tiếng Latinh để xây dựng thuật ngữ khoa học, thì ngay từ giữathế kỉ 18, M.V Lomonosov đã đưa ra một hệ thống thuật ngữ lí - hoá riêngcủa tiếng Nga, trong đó ông sử dụng tối đa các thuật ngữ bằng tiếng Nga vàchỉ sử dụng các thuật ngữ ngoại lai khi không thể tìm ra các tương đươngtrong tiếng Nga
Thời kì này ở nước Pháp người ta cũng nỗ lực xây dựng hệ thuật ngữhoá học A L Lavoisier, G de Morveau, M Berthellot và A F de Fourcroy
đã xây dựng được một hệ thuật ngữ gọi tên các chất hoá học trong công trình
Méthode de nomenclature chimique xuất bản năm 1787 Hệ thống thuật ngữ
này đã thể hiện rõ các mối quan hệ qua lại trong các kết hợp của các chất (ví
dụ ở các kết hợp với lưu huỳnh: sulphite, sulphate, sulphurate v.v.) để tạo ra
một hệ thuật ngữ thống nhất và bao quát được toàn bộ hệ thống tên gọi cácchất hóa học
Một bước quan trọng tiếp theo được Johann Beckmann (1739 - 1811)thực hiện với việc lập ra một hệ thuật ngữ công nghệ Ông đã xây dựng hệthống thuật ngữ kĩ thuật trong lĩnh vực thủ công Beckmann biết rõ trong cácnghề thủ công người ta sử dụng rất nhiều các thuật ngữ khác nhau nhưngchúng lại không thống nhất giữa các ngành Có nhiều thuật ngữ rất khác nhaulại được dùng để gọi tên những quá trình hay những phương tiện kĩ thuậtgiống nhau Những người thợ thủ công đã không thể dùng tiếng Latinh, thứ
Trang 15tiếng của các học giả thời đó, để đặt thuật ngữ cho ngành nghề của mình Còncác ngôn ngữ quốc gia lại rất khó khăn để có thể diễn đạt được đầy đủ và rõràng các thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực kĩ thuật Theo tinh thần đó,Beckmann cho rằng để có một hệ thuật ngữ công nghệ được quy định thốngnhất thì, một mặt, "phải loại bỏ đi các từ đồng nghĩa, mặt khác, phải dần tiếpnhận một lượng từ ngữ mới” Tuy nhiên, những chỉ dẫn về việc chuẩn hoáthuật ngữ của Beckmann phải mãi 150 năm sau mới được thực hiện đối với hệthống thuật ngữ về kĩ thuật.
Công tác nghiên cứu và xây dựng một hệ thuật ngữ mang tính hệ thốngbằng tiếng mẹ đẻ của mỗi một dân tộc hay bằng ngôn ngữ quốc gia chỉ đượctiến hành mãi sau chiến tranh thế giới thứ nhất và đạt được đỉnh điểm của nóvào đầu những năm 30 của thế kỉ 20 Ý tưởng về một khoa học thuật ngữ phảiđến đầu thế kỉ 20 mới hình thành, việc nghiên cứu thuật ngữ mới có đượcđịnh hướng khoa học và được công nhận là một hoạt động quan trọng về mặt
Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Áo gắn liền với tên tuổi của
E.Wuster (1898 -1977) Ông không chỉ được coi là người đầu tiên đặt nềnmóng cho công tác nghiên cứu và phát triển thuật ngữ hiện đại ở thế kỉ 20 màcòn là người có ảnh hưởng rất lớn đến việc nghiên cứu thuật ngữ của nhiềuhọc giả sau này Các phương pháp nghiên cứu thuật ngữ của trường phái này
Trang 16chủ yếu dựa theo những nguyên tắc được trình bày rất rõ ràng trong tác phẩm
Lí luận chung về thuật ngữ của Wuster (1931) Trong tác phẩm này, Wuster
đã đề cập đến những phương diện ngôn ngữ học của công tác nghiên cứuthuật ngữ liên quan đến hệ thống tên gọi các khái niệm, đối tượng trong lĩnhvực kĩ thuật Ông đã xác lập được các phương pháp nghiên cứu thuật ngữ, đưa
ra một số nguyên tắc xây dựng thuật ngữ và xác định các phương pháp xử língữ liệu thuật ngữ Công trình của ông đã được Leo Weisgeber (1975) đánhgiá như là một cột mốc của ngôn ngữ học ứng dụng
Đặc điểm quan trọng nhất của trường phái nghiên cứu thuật ngữ Áo là tậptrung vào các khái niệm và hướng việc nghiên cứu thuật ngữ vào chuẩn hóa cácthuật ngữ và các khái niệm Việc nghiên cứu của trường phái này nhằm phục vụnhu cầu của các nhà kĩ thuật, các nhà khoa học là chuẩn hóa thuật ngữ trong lĩnhvực của họ để đảm bảo sự giao tiếp hiệu quả và có thể chuyển tải kiến thức tronglĩnh vực chuyên môn Những nguyên tắc nghiên cứu thuật ngữ của trường pháinày được trình bày cụ thể trong các tài liệu về chuẩn hóa từ vựng của thuật ngữ
Đa số các nước vùng Trung Âu và Bắc Âu (Áo, Đức, Na Uy, Thụy Sĩ, ĐanMạch) đều nghiên cứu thuật ngữ theo hướng này
Trường phái thuật ngữ học của Tiệp Khắc với đại diện tiêu biểu là L.
Drodz, một trong những người khởi xướng và phát triển công tác nghiên cứuthuật ngữ ở Tiệp Khắc từ cách tiếp cận ngôn ngữ học về mặt chức năng của
Trường phái ngôn ngữ học Praha Trong nghiên cứu, các nhà khoa học của
trường phái này quan tâm đặc biệt đến việc miêu tả cấu trúc và chức năng củacác ngôn ngữ chuyên ngành, trong đó thuật ngữ đóng vai trò quan trọng Theo
quan niệm của Trường phái ngôn ngữ học Praha, thì các ngôn ngữ chuyên
ngành mang đặc điểm của phong cách khoa học, tồn tại cùng với các loạiphong cách chức năng khác như phong cách chính luận, phong cách hànhchính - công vụ, phong cách văn học nghệ thuật và phong cách khẩu ngữ Họxem thuật ngữ như là những đơn vị tạo nên diện mạo của phong cách khoa
Trang 17học Mối quan tâm nhất của trường phái này là vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ vàchuẩn hóa thuật ngữ.
Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Nga - Xô Viết
Theo tổng kết của các tác giả công trình "Thuật ngữ học - Những vấn đề
lí luận và thực tiễn" [84], sự phát triển khoa học về thuật ngữ ở Nga và Liên
Xô trải qua 4 thời kì
- Thời kì chuẩn bị: Bắt đầu từ năm 1780 và kéo dài đến cuối thập niên 20
của thế kỉ 20 Đây là thời kì lựa chọn, xử lí sơ bộ các thuật ngữ và xác địnhcác khái niệm chuyên biệt liên quan Sự bắt đầu thời kì này được đánh dấubằng việc dịch các thuật ngữ và biên soạn từ điển thuật ngữ học đầu tiên vàonăm 1780
- Thời kì thứ nhất: từ năm 1930 đến năm 1960 của thế kỉ 20 Đặc điểm
cơ bản thời kì này là sự ra đời các lí thuyết về thuật ngữ học và những hoạtđộng thực tiễn về thuật ngữ học trên nền tảng giáo dục kĩ thuật của hai chuyêngia là D S Lotte và E.K.Drezen, cũng như những đóng góp lớn lao cuả A A.Reformatsky và G O.Vinokur Trong các công trình khoa học của mình, D.SLotte và E.K.Drezen đã đưa các quan điểm ngôn ngữ học vào việc tìm hiểu sựphát triển khoa học về thuật ngữ ở Nga Đại diện tiêu biểu của trường phái
nghiên cứu thuật ngữ Nga - Xô viết là Đ.X Lotte (1898 -1950) với công trình Nguyên lí xây dựng hệ thuật ngữ khoa học kĩ thuật, ông được coi là người
đứng đầu trong công tác phát triển hệ thuật ngữ hiện đại của Liên Xô Lotte
đã tạo ra nền móng về mặt lí thuyết và phương pháp cho công tác thuật ngữcủa Liên Xô
- Thời kì thứ hai kéo dài từ năm 1970 đến 1990 của thế kỉ 20: Thuật ngữ
học trở thành một ngành khoa học độc lập Những thành tựu trong ngôn ngữhọc, logic học và tiến bộ trong công nghệ thông tin đã dẫn đến việc xác định
rõ chủ thể và khách thể của thuật ngữ học với những cải tiến về phương phápnghiên cứu, góp phần giải quyết những vấn đề cơ bản của thuật ngữ học Hoạt
Trang 18động của các Ủy ban về thuật ngữ trong phạm vi nghiên cứu mang tính hànlâm cuả các nước cộng hòa trong Liên bang Xô Viết về công tác chuẩn hóathuật ngữ được đặc biệt chú ý Thời kì này, ở Cộng hòa Liên bang Nga đã tổchức một số hội nghị, hội thảo về thuật ngữ học, hàng chục chuyên khảo đãđược công bố, gần 20 tuyển tập các bài báo về thuật ngữ đã được xuất bản vàhơn 100 luận án Phó tiến sĩ, Tiến sĩ đã được bảo vệ Ngoài ra, hàng nghìn các
từ điển bách khoa và từ điển thuật ngữ học, bao gồm từ điển thuật ngữ kĩthuật tổng hợp, từ điển thuật ngữ khoa học công nghệ chung và các loại từđiển chuyên ngành sâu… đã được biên soạn với sự đóng góp của các nhàkhoa học như L.N Beljaeva, L I Borisova, L.Ju Bujanova, A.S Gerd, B.N.Golovin, S.V Grinev, V.P Danilenko, G.A Dianova, A D Hajutin, T.L.Kandenlaki, R.Ju Kobrin, Z.I Komarova, T.B Kryuchkova; O D.Mitrofanova,V.I Mikhailova, S.E Nikitina, A V Superanskaja, V.D.Tabanakova, V.A Tatarinov, L.B Tkacheva, N.I.Tolstoy, O.N Trubachev,N.V Vasilieva, M.N Volođina
- Thời kì thứ ba là thập niên cuối cùng của thế kỉ 20 Đặc điểm của thời
kì này là việc nghiên cứu thuật ngữ được thực hiện trong bối cảnh sau khiLiên Xô sụp đổ, với những thay đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế, xã hội,khoa học Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu thuật ngữ học được đánh dấubằng sự khủng hoảng ở nửa đầu thập niên và những đổi mới ở nửa sau thậpniên cuối cùng của thế kỉ 20 Trong những thập niên đầu của thế kỉ 21, sốlượng các công trình nghiên cứu thuật ngữ ở Nga không ngừng tăng lên,
tập trung nghiên cứu những phương thức sáng tạo thuật ngữ, nguyên tắc xâydựng các hệ thống thuật ngữ mới và chỉnh lí một số hệ thống thuật ngữ đã có.Hiện nay các nhà nghiên cứu cũng đã tập trung nghiên cứu thuật ngữ theohướng ngôn ngữ học tri nhận, như vấn đề tính đa dạng trong cách tri nhận,trong sáng tạo thuật ngữ Đã có nhiều công trình nghiên cứu thuật ngữ theo
hướng tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận, như: "Cơ sở ngôn ngữ - tri
Trang 19nhận của việc nghiên cứu thuật ngữ chuyên ngành", "Nghiên cứu từ vựng chuyên ngành từ góc độ định danh - tri nhận (trên tư liêu tên gọi các cây thuốc", "Mô hình hóa và cơ sở tri nhận hệ thống thuật ngữ bệnh học trong tiếng Anh hiện đại", "Thuật ngữ học từ vựng là một hệ thống",v.v.[86]
Như vậy, cả ba trường phái nói trên đều có chung quan điểm là nghiêncứu thuật ngữ dựa trên ngôn ngữ học Các nhà khoa học đều xem thuật ngữnhư là một phương tiện để diễn đạt và giao tiếp trong lĩnh vực chuyên môn
Vì vậy cả ba trường phái đã hình thành cơ sở lí thuyết về thuật ngữ và nhữngnguyên lí xây dựng thuật ngữ mang tính phương pháp chi phối những ứngdụng của thuật ngữ Những thành tựu nghiên cứu thuật ngữ của các trườngphái này là một trong những động lực quan trọng cho việc phát triển nhữnghướng mới nghiên cứu thuật ngữ sau này - đó là thuật ngữ được nghiên cứutheo hướng dịch thuật và kế hoạch hóa ngôn ngữ
1.1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam
Thuật ngữ khoa học tiếng Việt xuất hiện chưa lâu, chỉ từ nửa đầu thế kỉ
20 trở lại đây Mãi đến đầu thế kỉ 20, một số thuật ngữ tiếng Việt mới lẻ tẻxuất hiện và cũng chỉ hạn chế trong một vài lĩnh vực rất hẹp, cũng khôngđược phổ biến rộng rãi Những thuật ngữ này lúc đầu chủ yếu là về khoa học
xã hội và nhân văn, nhất là về chính trị và triết học, sau mới phát triển sangcác ngành khoa học khác Đóng góp quan trọng cho sự hình thành hệ thốngthuật ngữ tiếng Việt giai đoạn này là một số tờ báo, một số văn kiện của tổchức đảng tiền thân, một số văn bản ở giai đoạn 1900 – 1930 và những thuật
ngữ Hán Việt xuất hiện trong Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh Lần đầu
tiên trong từ điển này có nhiều mục từ là các thuật ngữ thuộc nhiều môn khoahọc khác nhau được nhận diện và giải thích Việc đặt thuật ngữ khoa học
tiếng Việt cũng đã được các nhà khoa học chú ý và phát triển trong báo Khoa học (1942 - 1943) Đáng chú ý nhất là quan điểm về thuật ngữ trong công trình "Danh từ khoa học" của Hoàng Xuân Hãn, người tiên phong trong
Trang 20nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ tiếng Việt Trong công trình này, lần đầutiên Ông đã tổng kết ba phương thức xây dựng thuật ngữ dựa vào từ thôngthường, mượn tiếng Hán và phiên âm từ các tiếng Ấn - Âu và đề ra 8 yêu cầuđối với việc xây dựng thuật ngữ khoa học Như vậy, giai đoạn 1930 - 1945, hệthống thuật ngữ tiếng Việt đã hình thành.
Thấy rõ tầm quan trọng của công tác xây dựng hệ thống thuật ngữ tiếngViệt, nhằm đẩy mạnh công tác nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ khoa học,dần dần tiêu chuẩn hoá và thống nhất thuật ngữ trong các ngành chuyên môn,cuối tháng 12 - 1964, Uỷ ban Khoa học Nhà nước đã triệu tập Hội nghị bàn vềvấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học với sự tham gia nhiều cán bộ nghiên cứukhoa học, giảng viên các trường đại học thuộc các ngành chuyên môn khác
nhau đã tới dự Một bản Quy tắc phiên âm thuật ngữ khoa học nước ngoài (gốc Ấn - Âu) ra tiếng Việt đã được soạn thảo sau hội nghị Bản Quy tắc này
đã góp phần đẩy công tác thuật ngữ lên một bước và một loạt gần 40 tập thuậtngữ đối chiếu đã ra đời Tuy vẫn còn những có những ý kiến khác nhau trong
vấn đề bàn về các tiêu chuẩn của thuật ngữ: khoa học, dân tộc, đại chúng
nhưng về cơ bản, ý kiến của các nhà nghiên cứu đều thống nhất với những
nguyên tắc trong đề án Quy tắc phiên âm thuật ngữ khoa học nước ngoài ra tiếng Việt do Ủy ban Khoa học xã hội công bố Chính điều này đã góp phần
đẩy mạnh việc thống nhất và tiêu chuẩn hóa thuật ngữ Vì vậy, việc xây dựngcác hệ thống thuật ngữ và biên soạn từ điển thuật ngữ giai đoạn này đã pháttriển mạnh mẽ
Ở miền Nam, Lê Văn Thới là nhà khoa học có nhiều đóng góp với côngtác xây dựng thuật ngữ khoa học tiếng Việt Lê Văn Thới đã soạn thảo nguyêntắc xây dựng danh từ chuyên môn làm tài liệu hướng dẫn chính thức cho côngviệc xây dựng thuật ngữ khoa học ở miền Nam “Qua hơn mười
năm áp dụng bản nguyên tắc đó, các nhà thuật ngữ học miền Nam đã hoàn thành được một khối lượng công việc đáng kể Hơn 50 cuốn thuật ngữ đối
Trang 21chiếu đã được biên soạn Trong hoàn cảnh chính trị lúc bấy giờ, rõ ràng làphải nhiệt tình lắm mới có thể làm được những việc như thế” [127; 28] Saukhi nước nhà thống nhất, công tác xây dựng thuật ngữ tiếp tục được đẩy mạnh
và phát triển trong phạm vi cả nước Theo thống kê chưa đầy đủ, ở thời kì đầusau cách mạng tháng Tám, số lượng thuật ngữ khoa học, kĩ thuật có vàokhoảng 40.000 đơn vị, sau 20 đến 25 năm đã lên tới 900.000 đơn vị [83]
“Trải qua hơn nửa thế kỉ, thuật ngữ tiếng Việt đã có những bước phát triểnnhanh chóng về số lượng Đáng chú ý hơn, bên cạnh mặt số lượng, thuật ngữtiếng Việt đã thay đổi cả về chất” [83;121] Tuy nhiên, trong thời kì này còn
nhiều vấn đề như xác định khái niệm thuật ngữ, những tiêu chuẩn của thuật ngữ; phương thức đặt thuật ngữ; vay mượn và xử lí thuật ngữ nước ngoài trong tiếng Việt; vấn đề chuẩn hóa hệ thuật ngữ tiếng Việt vẫn chưa có những
nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống
Từ 1986 trở đi, khi đất nước ta từng bước hội nhập vào không gian kinh
tế của khu vực và quốc tế, cùng với sự phát triển vũ bão của khoa học kĩthuật, đặc biệt là ngành công nghệ thông tin, ngành tài chính, ngân hàng,ngành kinh tế, luật…số lượng thuật ngữ khoa học vay mượng nước ngoàitrong tiếng Việt tăng lên rất nhiều, nhưng lại chưa có những nguyên tắc, cáchthức xử lí toàn diện và nhất quán
Trong thời kì này, công tác nghiên cứu thuật ngữ về phương diện líthuyết cũng được quan tâm, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu chuyên
sâu về lí luận thuật ngữ Công trình “Sự phát triển của từ vựng nửa sau thế kỉ XX” [83] đã dành một chương nghiên cứu về thuật ngữ tiếng Việt, chỉ rõ
những chặng đường phát triển của tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt, nêu rõnhững con đường hình thành thuật ngữ tiếng Việt cũng như những giải pháp
cụ thể trong việc tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài vào tiếng Việt
Đề tài cấp Bộ “Những vấn đề thời sự của chuẩn hóa tiếng Việt” của Viện
Ngôn ngữ học (do Vũ Kim Bảng và Nguyễn Đức Tồn làm chủ nhiệm đề tài)
Trang 22đã dành riêng cho việc nghiên cứu, xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ tiếngViệt trong thời kì hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay Nội dung nghiên cứu tậptrung vào việc tổng kết những vấn đề lí luận truyền thống về thuật ngữ nhưvấn đề định danh ngôn ngữ và vấn đề xây dựng thuật ngữ, vấn đề vay mượnthuật ngữ nước ngoài và vấn đề áp dụng lí thuyết điển mẫu vào nghiên cứuthuật ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt.
Đề tài "Một số vấn đề lí luận và phương pháp luận biên soạn từ điển chuyên ngành và thuật ngữ" của Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt
Nam (do Hà Quang Năng làm chủ nhiệm) tập trung tìm hiểu những vấn đềnghiên cứu lí luận và thực tiễn của thuật ngữ học ở nước ngoài và ở ViệtNam, trong đó trình bày những kết quả nghiên cứu về nhiều khái niệm cơ bảncủa thuật ngữ học như: YTCT thuật ngữ, tiêu chuẩn của thuật ngữ, ý nghĩa vàđịnh danh thuật ngữ, xây dựng từ điển thuật ngữ, đã được trình bày cụ thể
Kết quả nghiên cứu của đề tài này đã được công bố trong công trình: Thuật ngữ học - Những vấn đề lí luận và thực tiễn" [84].
Đề tài "Nghiên cứu hệ thuật ngữ tiếng Việt hiện đại nhằm góp phần xây dựng nền văn hóa tri thức Việt Nam" [108] do Lê Quang Thiêm làm chủ
nhiệm đã nghiên cứu điều tra tổng hợp đánh giá, miêu tả sự hình thành vàphát triển hệ thuật ngữ tiếng Việt quốc ngữ Latinh hóa theo định hướng vănhóa từ 1907 đến 2005 Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phát triển của tiếngViệt, đặc biệt là bình diện nghĩa, cấp độ từ vựng - ngữ nghĩa mà cụ thể là hệthuật ngữ tiếng Việt hiện đại Tìm hiểu sự phát triển hệ thuật ngữ tiếng Việttheo định hướng văn hóa, đề tài này nghiên cứu thuật ngữ trong mối quan hệvới sự phát triển, phổ biến tri thức khoa học và công nghệ; chuyển từ xem xétthuật ngữ như một lớp từ vựng xét về mặt phạm vi sử dụng sang xem xét, đối
xử với thuật ngữ với tầm mức và quy mô phát triển của nó, với đặc điểm đangành, liên ngành ngôn ngữ - tri thức - văn hóa - giáo dục, như một phân
Trang 23ngành, ngành thuật ngữ với tư cách một ngành khoa học nghiên cứu về thuậtngữ - thuật ngữ học của Việt Nam.
Công trình "Thuật ngữ học tiếng Việt hiện đại" [110] là công trình tổng
kết một số thành tựu mới nhất nghiên cứu về thuật ngữ tiếng Việt Công trình
đã tổng quan tình hình nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ trên thế giới và ởViệt Nam, trình bày khái niệm thuật ngữ và các tiêu chuẩn của thuật ngữtrong sự phân biệt với các đơn vị từ vựng phi thuật ngữ, lí thuyết điển mẫu vàvấn đề chuẩn hóa thuật ngữ Công trình này cũng trình bày những đặc điểmthuật ngữ của một ngành khoa hoc với tư cách là những nghiên cứu trường
hợp cụ thể (hệ thuật ngữ vật lí học; hệ thuật ngữ ngôn ngữ học; hệ thuật ngữ khoa học kĩ thuật xây dựng; hệ thuật ngữ thương mại) Trên cơ sở đó tổng kết
tình hình nghiên cứu, xây dựng và sử dụng thuật ngữ tiếng Việt hiện nay và
đề xuất 6 kiến nghị cụ thể về các giải pháp xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữtiếng Việt trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và hội nhậpquốc tế để làm cơ sở xây dựng luật ngôn ngữ
Các công trình khảo cứu chuyên sâu về hệ thống thuật ngữ của mộtchuyên ngành khoa học nhất định chủ yếu là các luận văn thạc sĩ, luận án tiến
sĩ Cho đến nay đã có hàng chục luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ khảo sát,nghiên cứu nhiều hệ thống thuật ngữ của từng ngành khoa học và kĩ thuật cụthể [26, 33, 40, 43, 44, 70, 78, 106, ] Các luận án tập trung nghiên cứu cácnội dung chủ yếu sau đây:
- Thu thập, thống kê thuật ngữ của các ngành khoa học, kĩ thuật khácnhau, xác định YTCT thuật ngữ rồi tiến hành phân loại thuật ngữ theo đặcđiểm cấu tạo, đặc điểm từ loại và nguồn gốc của thuật ngữ;
- Miêu tả đặc điểm cấu tạo thuật ngữ theo số lượng các YTCT thuật ngữ;
- Xác định các MHCT thuật ngữ và biểu diễn các mối quan hệ ngữ pháp giữa các YTCT thuật ngữ theo sơ đồ chúc đài;
Trang 24- Tìm hiểu những phương thức định danh thuật ngữ, xác định các đặcđiểm, dấu hiệu được sử dụng để định danh thuật ngữ và miêu tả ĐĐĐD thuật ngữ bằng các mô hình định danh;
- Khảo sát một số thuật ngữ không chuẩn căn cứ vào các tiêu chuẩn thuật ngữ,
từ đó đề xuất phương hướng chuẩn hóa thuật ngữ và cách xử lí các thuật ngữ
không chuẩn;
- Đối chiếu chiếu thuật ngữ tiếng Anh với thuật ngữ tiếng Việt vềphương diện cấu tạo, định danh để tìm hiểu những điểm tương đồng và khácbiệt giữa hai hệ thuật ngữ của hai ngôn ngữ
- Tiến hành khảo sát vấn đề dịch thuật ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt
để xác định các kiểu tương đương trong cách dịch thuật ngữ
Như vậy, công tác nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ học ở nước tatrong thời gian qua đã đạt được những kết quả rõ rệt Có thể thấy rằng, cácvấn đề thuật ngữ học được nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu là từ góc độ thựctiễn: xây dựng các thuật ngữ khoa học kĩ thuật Kết quả là hàng loạt cuốn từđiển thuật ngữ đối chiếu các ngôn ngữ nước ngoài và tiếng Việt đã được xuấtbản Giai đoạn cuối thế kỉ 20 đầu thế kỉ 21, công tác nghiên cứu thuật ngữ ởnước ta đã chuyển sang giai đoạn mới: nghiên cứu chuyên sâu về hệ thốngthuật ngữ của một chuyên ngành khoa học cụ thể Hàng loạt các luận án tiến
sĩ nghiên cứu một các toàn diện, có hệ thống đặc điểm cấu tạo,
ĐĐĐD và các phương thức tạo lập các hệ thống thuật ngữ tiếng Việt hoặc đốichiếu hệ thống thuật ngữ tiếng Anh với hệ thống thuật ngữ tiếng Việt củanhiều ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ đã được bảo vệ thành công
1.1.3 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ mĩ thuật ở nước ngoài và ở Việt Nam
1.1.3.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ mĩ thuật ở nước ngoài
Là một trong những bộ môn nghệ thuật ra đời sớm nhất của loài người,ngành mĩ thuật học đã có lịch sử phát triển lâu dài Trên thế giới đã có rất
Trang 25nhiều công trình nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các loại hình nghệthuật phản ánh cái đẹp bằng màu sắc, đường nét, hình khối Tuy nhiên, không
có nhiều công trình nghiên cứu TNMT (TNMT) từ phương diện ngôn ngữhọc Theo khảo sát của chúng tôi, hiện nay có nhiều công trình ngôn ngữ họcnghiên cứu đặc điểm thuật ngữ trong hệ thống thuật ngữ của các ngành khoahọc khác nhau Trong đó có những công trình nghiên cứu thuật ngữ của lĩnh
vực mĩ thuật học Chẳng hạn, công trình "Lịch sử hình thành hệ thuật ngữ nghệ thuật tạo hình trong tiếng Nga thế kỉ 18 đến đầu thế kỉ 19" và "Hệ thống thuật ngữ nghệ thuật tạo hình trong tiếng Nga thế kỉ 19 - 20" của B.N Xécgheev; "Thuật ngữ thiết kế (design) trong hệ thống từ vựng tiếng Nga" của
N.L Tukhareli Các công trình nghiên cứu này chủ yếu dành cho việc tìmhiểu những con đường hình thành và phát triển hệ thống thuật ngữ thuộc lĩnh
vực nghệ thuật học nói chung trong tiếng Nga Công trình "Hệ thống thuật ngữ hội họa trong tiếng Nga (các bình diện cấu trúc và chức năng" của Jan
Lanlan dành cho việc nghiên cứu toàn diện và có hệ thống đặc điểm cấu tạo,ĐĐĐD, nguồn gốc, phương thức sáng tạo thuật ngữ hội họa và hoạt độnghành chức của thuật ngữ hội họa trong lĩnh vực chuyên môn và phi chuyênmôn, tìm hiểu hoạt động của thuật ngữ hội họa trong một số tác phẩm củaGôgôn, Sêkhốp và các tác phẩm thi ca tiếng Nga [86]
1.1.3.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ mĩ thuật ở Việt Nam
Việt Nam là một dân tộc có truyền thống đấu tranh dựng nước và giữnước suốt mấy nghìn năm nay Trong suốt chiều dài lịch sử đó, dân tộc ta đãtạo ra một nền mĩ thuật phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc, mặc
dù mỗi lần đất nước bị xâm lăng là một lần nền văn hóa dân tộc bị thử thách.Cho đến nay, nền văn hóa nghệ thuật của chúng ta không những không bịđồng hóa mà bản sắc dân tộc càng được khẳng định hơn Các nhà nghiên cứu
mĩ thuật đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Tuy nhiên, hệ thống TNMTtiếng Việt (TNMTTV) lại chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ Cho đến
Trang 26nay, chỉ có một vài quyển từ điển mĩ thuật được xuất bản theo cách dịch các
từ điển mĩ thuật nước ngoài [71, 87] và hai bài báo đề cập đến thuật ngữ liên
quan đến lĩnh vực TNMT: "Góp ý về một vài thuật ngữ văn học, mĩ học quan trọng" [89] của Hoàng Xuân Nhị và "Về những thuật ngữ tạo hình thuộc bốn nhóm: "kiến trúc", "sơn nhựa", "khắc gỗ", "màu sắc" [121] của Nguyễn Văn Tỵ.
Thực tế này cho thấy sự cần thiết của việc nghiên cứu hệ thống TNMTTVmột cách toàn diện và hệ thống
1.2 Cơ sở lí luận
Xét về mặt ngôn ngữ học, thuật ngữ là từ hay tổ hợp từ của một ngônngữ tự nhiên nào đó Việc phân tích từ góc độ ngôn ngữ học các thuật ngữ,lớp từ vựng chuyên ngành, là nhiệm vụ đầu tiên, thiết yếu nhất của thuật ngữhọc và hệ thống thuật ngữ Là một lớp từ vựng chuyên ngành, thuật ngữ đều
là những từ, cụm từ của ngôn ngữ tự nhiên, có đặc điểm cấu tạo giống như bất
kì đơn vị từ vựng nào Vì vậy, chúng tôi coi những đặc điểm cấu tạo, đặcđiểm ngữ pháp của từ, cụm từ tiếng Việt là một cơ sở lí luận để nghiên cứuthuật ngữ tiếng Việt nói chung, TNMTTV nói riêng
1.2.1 Một số vấn đề về từ, cụm từ và quan hệ ngữ pháp trong tiếng Việt
1.2.1.1 Vấn đề từ và cấu tạo từ tiếng
Việt a Quan niệm về từ
Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên, sẵn có, luôn được hiểu như một loại đơn
vị cơ bản và chủ yếu nhất của hệ thống tín hiệu ngôn ngữ Tuy thế, từ vẫnkhông phải là một đơn vị cụ thể mà nó là một loại đơn vị trừu tượng thuộc
bình diện hệ thống của ngôn ngữ F de Saussure đã từng nói: "Ngôn ngữ có tính chất kì lạ và đáng kinh ngạc là không có những thực thể thoạt nhìn có thể thấy ngay được, thế nhưng người ta vẫn biết chắc là những thực thể đó tồn tại, và chính sự giao lưu giữa những thực thể đó làm thành ngôn ngữ" [103; 187] Trong số những thực thể đó có từ Do tính chất hiển nhiên, có sẵn
của các từ mà ngôn ngữ của loài người bao giờ cũng được gọi là ngôn ngữcủa các
Trang 27từ Từ là một đơn vị trung tâm trong toàn bộ cơ cấu của ngôn ngữ, nhưng kháiniệm này rất khó định nghĩa Tính phức tạp của việc định nghĩa từ, do chínhbản thân từ trong các ngôn ngữ và ngay trong một ngôn ngữ không phảitrường hợp nào cũng như nhau Chúng có thể khác nhau về:
+ Kích thước vật chất
+ Loại nội dung được biểu thị và cách biểu thị
+ Cách thức tổ chức trong nội bộ cấu trúc
+Mối quan hệ với các đơn vị khác trong hệ thống ngôn ngữ như hình vị, câu+ Năng lực và chức phận khi hoạt động trong câu nói
Vì vậy, không có sự thống nhất trong cách định nghĩa về từ Nói chung,không có định nghĩa nào về từ làm mọi người thoả mãn Hiện nay có tới trên
300 định nghĩa khác nhau về từ
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ cũng dành sự quan tâm đặc
biệt trong việc nghiên cứu về từ Nguyễn Kim Thản quan niệm: "Từ là đơn vị
cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách ra khỏi đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp" [105; 64] Nguyễn Thiện Giáp trong công trình “Dẫn luận ngôn ngữ học” cho rằng: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về hình thức và ý nghĩa” [28; 61] Hay nhóm tác giả công trình “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” cho rằng: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu” [17;136] Khi nghiên cứu đối tượng là từ, Đỗ Hữu Châu đã nêu lên những đặc
điểm của từ: "có hình thức ngữ âm và ngữ nghĩa; có tính có sẵn, cố định, bắtbuộc; là những đơn vị thực tại, hiển nhiên của ngôn ngữ ( ) là đơn vị lớn nhấtcủa hệ thống ngôn ngữ, nhưng lại là đơn vị nhỏ nhất ở trong câu, là đơn vị trựctiếp nhỏ nhất để tạo câu" [13; 133] Từ nhận xét này, ông đưa ra định nghĩa về từ
của tiếng Việt: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những
Trang 28kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu" [13; 139] Đây là định nghĩa về từ
được nhiều người chấp nhận, chỉ ra được đặc điểm khái quát cơ bản của từ là:1/ Vấn đề khả năng tách biệt của từ (tính độc lập của từ); 2/ Vấn đề tính hoànchỉnh của từ (từ có vỏ âm thanh hoàn chỉnh, có nội dung) Chúng tôi dựa vàoquan niêm từ của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở cho nghiên cứu của luận án
Chúng ta có thể phân biệt từ với các đơn vị khác: Phân biệt với YTCTnên từ (đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, nhưng không dùng trực tiếp để đặt câu);phân biệt với cụm từ và câu (các đơn vị có nghĩa nhưng không nhỏ nhất)…Như vậy, rõ ràng từ là một thực thể, tồn tại hiển nhiên sẵn có trong mỗi hệthống ngôn ngữ với những đặc điểm hình thức, cấu trúc nội tại và có thể cócách biểu thị nội dung (ý nghĩa) khác nhau, được người bản ngữ tri giác (hiệnthực về mặt tâm lí)
b Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt
Về nguyên tắc, cấu tạo từ là những vận động trong lòng một ngôn ngữ đểsản sinh ra các từ cho ngôn ngữ, phục vụ những nhu cầu mới về mặt diễn đạt
mà xã hội đặt ra Vận động cấu tạo từ sản sinh ra không phải chỉ một từ riêng
lẻ mà sản sinh ra hàng loạt từ cùng một kiểu Muốn tạo ra các từ phải có cácYTCT từ và các phương thức cấu tạo từ
* Đơn vị cấu tạo từ
Trong tiếng Việt, "các yếu tố cấu tạo từ là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất - tức là những yếu tố không thể phân chia thành những yếu tố nhỏ hơn nữa mà cũng có nghĩa - được dùng để cấu tạo ra các từ theo các phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt" [13; 25] Yếu tố có đặc điểm và chức năng như trên được gọi là hình vị (morpheme).
Một từ có thể gồm một hoặc một số hình vị kết hợp với nhau theo
những nguyên tắc nhất định Ví dụ: nhà, ghế, đi, chạy, đẹp, xanh, và, với, sẽ
Trang 29(từ có một hình vị); binh lính, họa sĩ, nhanh nhẹn, cha mẹ, sân bay (từ có hai hình vị); sinh vật học, hợp tác xã, (từ có ba hình vị).
* Phương thức cấu tạo từ
Nói về cấu tạo từ là phải phân tích thành phần cấu tạo của từ để thấy nóđược cấu tạo bằng những thành tố nào và phương thức tổ chức nào Phươngthức cấu tạo từ là những cơ chế, những quá trình xử lí các nguyên liệu hình vị
để cho ra các từ của ngôn ngữ Có thể hình dung như sau:
ừ
Mỗi phương thức cấu tạo từ có một cách xử lí riêng các hình vị nguyênliệu, cho nên các từ được tạo ra từ một phương thức cấu tạo từ nào đó sẽ cónhững đặc điểm giống nhau và khác biệt với những từ được tạo ra bằng cácphương thức khác
Trong tiếng Việt, từ được tạo thành chủ yếu theo các phương thức sau:+ Từ hoá hình vị là phương thức tạo từ bằng cách tác động vào bản thânmột hình vị, làm cho nó có những đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến
hình vị thành từ mà không thêm bớt gì vào hình thức của nó Ví dụ, các từ: bàn, cây, ăn, tốt, mì chính, lốp, chè, búp, cành, đốn, được cấu tạo bằng phương thức từ hoá hình vị Trong tiếng Việt phương thức từ hóa hình vị thể hiện rõ
"khi một hình vị (thậm chí một hoặc một số âm tiết vốn không có nghĩa) củamột từ nhiều hình vị được tách ra và được dùng với những đặc trưng ngữnghĩa, ngữ pháp của của cả từ trọn vẹn" [13; 86]
+ Phức hóa hình vị là cách tổ hợp hai hoặc một số hình vị vốn độc lậpvới nhau, tách biệt nhau lại với nhau để tạo ra từ Phép kết hợp hình vị lại chiathành hai kiểu:
- Ghép là cách kết hợp hai hoặc hơn hai hình vị có nghĩa với nhau đểsản sinh ra một từ mới mang đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa như một từ Ví
dụ, phương thức ghép tác động vào các hình vị nhà, cửa tạo thành từ ghép
Trang 30nhà cửa, tác động vào các hình vị sân, bay để tạo thành từ ghép sân bay.
Mô hình của phương thức ghép là:
Hình vị A + B từ ghép AB
- Láy là phương thức tác động vào một hình vị nguyên liệu để lặp lại hình
vị nguyên liệu một số lần làm xuất hiện một hình vị láy giống nó toàn bộ hay bộphận về âm thanh Cả hình vị nguyên liệu và hình vị láy tạo thành một từ
láy Ví dụ, phương thức láy tác động vào hình vị xanh tạo thành từ láy xanh xanh, tác động vào hình vị ló, túng cho ta hình vị láy lấp, lúng để tạo thành các
từ láy lấp ló, lúng túng Mô hình của phương thức láy là: Hình vị A -> AA'
* Phân loại từ theo phương thức cấu tạo
Sự phân loại từ về mặt cấu tạo cần phải chú ý đầy đủ đến tất cả các nhân
tố tham gia vào cấu tạo từ để phát hiện ra cơ chế của cấu tạo từ Nói đến cấutạo từ trước hết là nói đến cấu tạo hàng loạt các từ giống nhau về ngữ nghĩa,cho nên phải lấy ngữ nghĩa làm tiêu chí hàng đầu để tiến hành phân loại Mộtloại cấu tạo về ngữ nghĩa như vậy sẽ tương ứng với một kiểu cấu tạo về hìnhthức xét theo quan hệ và tính chất của các hình vị trong nội bộ cấu trúc của từ.Theo quan niệm phân loại như vậy, có thể phân chia các từ tiếng Việt về mặtcấu tạo thành:
- Từ đơn
Là những từ được cấu tạo theo phương thức từ hoá hình vị, do đó, trong
cấu tạo của từ đơn chỉ có một hình vị Ví dụ: tranh, khối, màu, vẽ, khắc, nét, bút, sơn, trổ,… Về ngữ nghĩa, chúng không lập thành những hệ thống có một
kiểu ngữ nghĩa chung, nên phải ghi nhớ nghĩa của từng từ riêng lẻ Từ đơn cóthể là một âm tiết, cũng có thể nhiều âm tiết
Trang 31- Từ ghép
Là những từ được tạo ra theo phương thức ghép hai hoặc một số hình vị
tách biệt, riêng rẽ, đối lập với nhau Ví dụ: các từ mực tàu, sơn dầu, họa sĩ, điêu khắc, màu sắc, phù điêu, thủ pháp, thợ đúc, khuôn mẫu, đồ họa, nghệ thuật, mĩ học, mĩ thuật, trong tiếng Việt.
Căn cứ vào quan hệ ngữ pháp giữa các hình vị và các kiểu ý nghĩa của từghép, người ta còn chia từ ghép thành các loại:
Từ ghép đẳng lập (từ ghép hợp nghĩa): màu sắc, trang nhã, đậm nhạt,…
Từ ghép chính phụ (từ ghép phân nghĩa): bút sắt, bút lông, dao trổ, dầu thông, dầu lanh, dây dọi, dao nghiền, dựng hình, vẽ phác, vẽ mẫu, đánh bóng, đặt mẫu, đất sét, điểm tụ, gạch men, đường trục, hình nổi,…
Căn cứ vào số lượng tiếng (hình vị) tạo thành, từ láy có thể chia thành
các loại: từ láy đôi: sạch sẽ, bập bùng, lấp ló, bâng khuâng, ầm ầm, lao xao, đủng đỉnh…; từ láy ba: sạch sành sanh, dửng dừng dưng, xốp xồm xộp, cỏn còn con, tẻo tèo teo, khít khìn khịt, ; từ láy tư: khấp kha khấp khểnh, gập gà gập ghềnh, bì bà bì bõm, vội vội vàng vàng, bổi hổi bồi hồi,…
1.2.1.2 Quan niệm về cụm từ
Từ kết hợp với từ một cách có tổ chức và có ý nghĩa làm thành những tổhợp từ, tức là những kiến trúc lớn hơn từ Mỗi từ trong tổ hợp từ là một thành
tố Tổ hợp từ có thể là một câu, có thể là một kiến trúc tương đương với câu
Trang 32nhưng chưa thành câu, cũng có thể là một đơn vị có nghĩa của câu Các tổ hợp
từ chưa thành câu được gọi chung là tổ hợp từ tự do Về nguyên tắc, tổ hợp từ
tự do có thể chứa kết từ ở đầu để chỉ chức vụ ngữ pháp của toàn bộ phần cònlại trong tổ hợp từ này Người ta gọi đó là giới ngữ Tổ hợp từ tự do không
chứa kết từ chỉ chức vụ ngữ pháp như vậy, được gọi là cụm từ Khi đề cập đến
đơn vị này, các nhà Việt ngữ học đã đưa ra những tên gọi khác nhau cả về nội
hàm và ngoại diên Lê Văn Lý gọi phrase là nhóm từ ngữ, Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê gọi là từ kết, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Văn Tu lại gọi là
từ tổ, Nguyễn Tài Cẩn và các tác giả công trình "Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt" gọi là đoản ngữ, Cao Xuân Hạo gọi là ngữ đoạn, Các tác giả “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”cho rằng: “Ngữ kết hợp hai hoặc nhiều thực từ (không hoặc có cùng với các hư từ có quan hệ với chúng gắn bó về ý nghĩa và ngữ pháp), diễn đạt một khái niệm thống nhất, và là tên gọi phức tạp biểu thị các hiện tượng của thực tại khách quan” [128;176] Diệp Quang Ban cho rằng: "Cụm từ là những kiến trúc gồm hai từ trở lên kết hợp tự do với nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định và không chứa kết từ
ở đầu (để chỉ chức vụ ngữ pháp của kiến trúc này)" [2; 6] Theo ông, quan hệ
giữa các thành tố trong tổ hợp từ, ngoài tính chất lỏng (tổ hợp từ tự do, cụmtừ) và chặt (ngữ cố định), còn được xét ở kiểu quan hệ Các thành tố trongmột cụm từ nhỏ nhất của tiếng Việt có thể có ba kiểu quan hệ cú pháp: quan
hệ chủ - vị (quan hệ giữa chủ ngữ với vị ngữ); quan hệ chính phụ (quan hệgiữa thành tố chính với thành tố phụ; quan hệ bình đẳng (quan hệ giữa hai yếu
tố bình đẳng với nhau về ngữ pháp) Cụm từ thường được gọi tên theo từ loạicủa thành tố chính trong cụm Trong tiếng Việt có các loại cụm từ: cụm từ có
danh từ làm thành tố chính, gọi là cụm danh từ; cụm từ có động từ làm thành
tố chính, gọi là cụm động từ; cụm từ có tính từ làm thành tố chính, gọi là cụm tính từ; cụm từ có số từ làm thành tố chính, gọi là cụm số từ; cụm từ có đại từ làm thành tố chính, gọi là cụm đại từ Trong số các cụm từ nêu trên, cụm danh
Trang 33từ và cụm động từ là những cụm từ có cấu tạo đa dạng hơn các loại cụm từcòn lại Mỗi loại cụm từ thông thường có thể chia thành ba bộ phận rõ rệt:phần phụ trước, đứng trước thành tố chính; phần trung tâm là phần chứa thành
tố chính; phần phụ sau đứng sau thành tố chính Cụm từ cũng có chức năngđịnh danh và tạo câu như từ, nhưng không hoàn toàn giống từ về cấu tạo vàngữ nghĩa
Như vậy, từ những quan niệm về cụm từ nêu trên, ta thấy cụm từ là một
tổ hợp từ có quan hệ nhất định với nhau và có những đặc điểm sau:
* Về cấu tạo: Cụm từ là một kiểu kết cấu cú pháp được tạo thành bởi haihoặc nhiều thực từ trên cơ sở liên hệ ngữ pháp phụ thuộc - theo quan hệ phùhợp, chi phối hay liên hợp Trong một cụm từ, từ đóng vai trò chủ yếu về ngữnghĩa và ngữ pháp gọi là thành tố chính, các từ phụ thuộc vào thành tố chính
là thành tố phụ Thành tố chính của cụm từ có thể là danh từ (tạo nên cụmdanh từ), động từ (tạo nên cụm động từ), tính từ (tạo nên cụm tính từ)
* Về quan hệ giữa các thành tố: Xét quan hệ giữa các thành tố trong hệthống ngữ pháp, các thành tố trong một cụm từ nhỏ nhất của tiếng Việt có thể
có 3 kiểu quan hệ cú pháp phổ biến sau đây:
- Quan hệ giữa chủ ngữ với vị ngữ, gọi tắt là quan hệ chủ - vị
- Quan hệ giữa thành tố chính và thành tố phụ về ngữ pháp, gọi là quan hệchính phụ
- Quan hệ giữa hai yếu tố bình đẳng với nhau về ngữ pháp, gọi là quan
Trang 34phụ trước, phần trung tâm, phần phụ sau Theo đó, người ta căn cứ vào từ loạicủa thành phần trung tâm của cụm từ để gọi tên cụm từ đó.
* Về chức năng: Cũng giống như từ, cụm từ cũng là phương tiện địnhdanh biểu thị sự vật, hiện tượng, quá trình, phẩm chất, trạng thái, Cụm từ làphương tiện định danh, biểu thị sự vật, hiện tượng quá trình, phẩm chất,
ý nghĩa ngữ pháp của cụm từ được tạo nên bằng quan hệ nảy sinh giữa cácthực từ kết hợp lại trên cơ sở của một kiểu liên hệ nào đó giữa chúng Cụm từthường được chia ra thành hai kiểu: cụm từ tự do và cụm từ cố định Cụm từ
tự do bao gồm những ý nghĩa từ vựng độc lập của tất cả các thực từ tạo thànhcụm từ đó; mỗi liên hệ cú pháp của các yếu tố trong cụm từ tự do là mối liên
hệ linh hoạt và có sức sản sinh Còn trong cụm từ cố định thì tính độc lập vềmặt từ vựng của một hoặc cả hai thành tố bị yếu đi hoặc bị mất và ý nghĩa từvựng của cụm từ cố định trở nên giống như ý nghĩa của một từ riêng biệt
1.2.1.3 Quan hệ ngữ pháp
a Khái niệm quan hệ ngữ pháp
Trong ngôn ngữ, mỗi đơn vị đều là tổng hòa các mối quan hệ của nó vớinhững đơn vị khác Trước hết, phải nói đến những mối quan hệ trên trục liêntưởng (còn gọi là trục dọc hay trục đối vị) Những quan hệ này xác
định giá trị tự thân của từng đơn vị Chẳng hạn, nghĩa của từ bút lông trong tiếng Việt được xác định trên cơ sở đối chiếu nó với hàng loạt từ khác như bút
dạ, bút sắt, bút mực, Bên cạnh các mối quan hệ trên trục liên tưởng, các đơn
vị ngôn ngữ cũng quan hệ với nhau theo trục hình tuyến (trục ngang) Nhữngquan hệ này xác định giá trị lâm thời (chức năng) của đơn vị Chẳng hạn, từ
bút trong câu Bút này rất đẹp có quan hệ với các từ này, đẹp, và những mối quan hệ ấy xác định chức năng chủ ngữ của từ bút Cũng trong câu Nó mua bút này thì bút có quan hệ với mua,
Trang 35này, và nó sắm vai trò bổ ngữ Loại quan hệ giữa các từ trên trục hình tuyến chính là quan hệ ngữ pháp.
Vấn đề đặt ra là cần tìm những dấu hiệu hình thức cho phép nhận biếtcác mối quan hệ ngữ pháp trong câu Theo một số nhà nghiên cứu, hai từtrong câu được coi là có quan hệ ngữ pháp với nhau nếu tổ hợp mà chúng tạonên có những đặc điểm như sau:
a) Có thể được vận dụng độc lập vào các bối cảnh khác nhau;
b) Có thể được xem như là dạng rút gọn của một kết cấu phức tạp hơn;c) Có ít nhất một thành tố có thể được thay bằng từ nghi vấn [88; 152]
Như vậy, "quan hệ ngữ pháp là quan hệ hình tuyến giữa các từ tạo ra những tổ hợp từ có khả năng được vận dụng độc lập, được xem như là dạng rút gọn của một kết cấu phức tạp hơn, và có ít nhất một thành tố cú pháp khả năng được thay thế bằng từ nghi vấn" [88; 254]
b Các kiểu quan hệ ngữ pháp
Quan hệ ngữ pháp giữa các từ tuy đa dạng, nhưng có thể được quy thành
ba kiểu chính là: quan hệ đẳng lập, quan hệ chính - phụ và quan hệ chủ - vị.Quan hệ đẳng lập là quan hệ giữa các thành tố không phụ thuộc vào nhau,trong đó chức vụ cú pháp của các thành tố chỉ được xác định khi đặt toàn bộ
tổ hợp do chúng tạo nên vào một kết cấu lớn hơn Ví dụ, các tổ hợp bố mẹ và con cái, vui vẻ và hòa thuận được xây dựng trên cơ sở quan hệ đẳng lập Chức
vụ của từng thành tố chỉ có thể được xác định khi đặt toàn bộ tổ hợp vào
những kết cấu lớn hơn Ví dụ: Bố mẹ và con cái rất vui vẻ và hòa thuận: bố
mẹ, con cái đều là chủ ngữ; vui vẻ, hòa thuận là vị ngữ.
Quan hệ chính - phụ là quan hệ phụ thuộc một chiều giữa một thành tốchính với một thành tố phụ, trong đó chức vụ cú pháp của thành tố chính chỉđược xác định khi đặt toàn bộ tổ hợp chính - phụ vào một kết cấu lớn hơn, cònchức vụ của thành tố phụ có thể được xác định mà không cần điều kiện ấy Ví
dụ, vẽ tranh, màu đỏ là những tổ hợp từ chính - phụ Không cần đặt
Trang 36các tổ hợp ấy vào một kết cấu nào lớn hơn, ta cũng biết tranh là bổ ngữ, đỏ là
định ngữ Trong tiếng Việt, trật tự thông thường của tổ hợp chính - phụ giữathực từ với thực từ là thành tố chính đứng trước, thành tố phụ đứng sau
Quan hệ chủ - vị là quan hệ giữa hai thành tố phụ thuộc lẫn nhau, trong
đó chức vụ cú pháp của cả hai đều có thể được xác định mà không cần đặt tổ
hợp do chúng tạo nên vào một kết cấu nào lớn hơn Ví dụ: Ông ấy là họa sĩ là
tổ hợp từ xây dựng trên cơ sở quan hệ chủ - vị Chức vụ chủ ngữ của ông và chức vụ vị ngữ của là họa sĩ được xác lập ngay trong bản thân tổ hợp mà
tranh này rất đẹp : câu có 4 từ, chứa 3 quan hệ ngữ pháp
Quan hệ ngữ pháp giữa các từ tạo ra nhiều tổ hợp lớn nhỏ khác nhautrong câu Đó là biểu hiện tính tầng bậc của các quan hệ ngữ pháp trong câu
1.2.2 Vấn đề nghĩa của từ và nghĩa của thuật ngữ
1.2.2.1 Khái niệm về nghĩa của từ
Trong ngôn ngữ học, các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước đã córất nhiều cách hiểu về nghĩa từ vựng khác nhau A.I.Smirnitski cho rằng :
“Nghĩa của từ là sự phản ánh hiển nhiên của sự vật, hiện tượng hay quan hệ
Trang 37trong ý thức (hay là sự cấu tạo tâm lý tương tự về tính chất, hình thành trên
sự phản ánh những yếu tố riêng lẻ của thực tế) nằm trong cấu trúc của từ với
tư cách là mặt bên trong của từ” [Dẫn theo 21, 119].
Trong Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu (2006), cho rằng:
“nghĩa của từ là một thực thể tinh thần” Theo ông, nghĩa của từ gồm 4 thành phần tương ứng với 4 chức năng quan trọng mà từ đảm nhận bao gồm: “a Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật b Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm c Ý nghĩa biểu thái tương ứng với chức năng biểu thái Ba thành phần ý nghĩa trên được gọi chung là ý nghĩa từ vựng” và “d Ý nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp” [13; 97] Trong các thành phần nghĩa
của từ, thì ý nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật, hiện tượng v.v trong thực tế
và ngôn ngữ Đó là những mẩu, những mảnh, những đoạn cắt của thực tế
nhưng không hoàn toàn trùng với thực tế [13, 108] và thuật ngữ ngữ nghĩahọc hiện nay gọi mỗi dấu hiệu (logic) được đưa vào ý nghĩa biểu niệm là mộtnét nghĩa Ý nghĩa biểu niệm là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng,khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Giữa các nét nghĩa
có những quan hệ nhất định [13; 113] Tập hợp này ứng với một hoặc một số
ý nghĩa biểu vật của từ Tập hợp các nét nghĩa phạm trù, khái quát chung chonhiều từ được gọi là cấu trúc niệm Tập hợp một số nét nghĩa tạo thành ýnghĩa biểu niệm là một tập hợp có quy tắc, giữa các nét nghĩa có những quan
hệ nhất định Các từ thuộc các từ loại khác nhau, có cách tổ chức các nétnghĩa khác nhau [13; 115]
1.2.2.2 Cấu trúc ngữ nghĩa của từ
Ngữ nghĩa học hiện đại đã chứng minh được rằng ý nghĩa của từ là sựphản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức và được thể hiện ở ngôn ngữ
Sự phản ánh đó tồn tại trong từ dưới dạng một cấu trúc do một chùm nhữngthành tố (còn được coi là nét nghĩa) được kết hợp với nhau theo quy tắc nhất
Trang 38định, chi phối, quy định lẫn nhau và có quan hệ hữu cơ với nhau, được tổchức theo một tôn ti nhất định Từ luận đề chung này có thể suy ra rằng:
"1 Nghĩa của phần lớn các từ không phải là không phân tích ra được nữa;
2 Nghĩa bao hàm những đơn vị nhỏ hơn gọi là nét nghĩa Nét nghĩa làđơn vị cơ bản phản ánh thuộc tính hoặc quan hệ có giá trị khu biệt của hiệntượng, sự vật trong thế giới khác quan Nhưng nét nghĩa không phải bao giờcũng là yếu tố trực tiếp tạo ra nghĩa từ Nó thường là yếu tố tạo nên nhữngthành tố trực tiếp của nghĩa từ;
3 Thành tố nghĩa là đơn vị trung gian giữa nét nghĩa và nghĩa từ, nó do một hay nhiều nét nghĩa tạo nên." [39, 33]
Dựa theo luận điểm này, trong bài Phân tích ngữ nghĩa, khi phân tích nghĩa của các từ mẹ, cha, vợ, chồng, Hoàng Phê (1975) đã kết luận: “Nói tóm lại,
nghĩa của từ nói chung:
a Là một tập hợp những nét nghĩa có quan hệ quy định lẫn nhau
b Giá trị các nét nghĩa không như nhau (giữa các nét nghĩa có quan hệ cấpbậc) biểu hiện ở khả năng tham gia khác nhau vào việc thực hiện chức năngthông báo
c Các nét nghĩa có tính độc lập tương đối” [95, 10 -26]
Những phân tích trên đây cho chúng ta tấy rõ rằng: nét nghĩa là thành tốnghĩa cơ sở tạo nên nội dung nghĩa của từ Các nét này cũng giống như dấuhiệu khu biệt trong âm vị khi quan niệm rằng âm vị là tổ hợp một số nét khu
biệt như R.Jacobsơn quan niệm Các nét nghĩa của từ có phân biệt nét nghĩa chung cho nhiều từ, cho nhiều nghĩa trong các nghĩa của từ đa nghĩa Tổ hợp các nét nghĩa để tạo thành nghĩa là một cấu tạo “có quy tắc”, “có quan hệ quy định lẫn nhau” Cấu tạo nghĩa từ vựng của từ tổ hợp bởi các nét nghĩa thành nghĩa là cấu tạo cấp một, cấp các nghĩa riêng biệt của từ để phân biệt với cấu tạo cấp hai là cấp hệ thống con nghĩa của các từ đa nghĩa.
Trang 391.2.2.3 Sự biến đổi ý nghĩa của từ
Biến đổi ý nghĩa của từ là một “phương thức để tạo thêm từ mới bên cạnh các phương thức ghép hoặc láy” Sự biến đổi nghĩa của từ thực chất là lấy một từ để biểu đạt một số loại sự vật có quan hệ gần gũi với nhau về một
phương diện nào đấy, cho nên giữa các nghĩa của từ nhiều nghĩa vẫn cónhững mối liên hệ nhất định Sự khác nhau giữa các nghĩa của từ nhiều nghĩakhông phải là sự khác nhau hoàn toàn Sự biến đổi ý nghĩa ở đây thường đitheo xu hướng làm thay đổi một thành phần ý nghĩa nào đấy của từ Theo ĐỗHữu Châu (1999), quá trình biến đổi nghĩa của từ có một số đặc điểm sau:
- Trong sự chuyển biến ý nghĩa, có khi nghĩa biểu vật đầu tiên (nghĩanguyên thủy) không còn nữa Nhưng thường thường thì cả nghĩa đầu tiên lẫn nghĩa mới đều cùng tồn tại, cùng hoạt động
- Giữa nghĩa đầu tiên và các nghĩa/nét nghĩa mới có thể diễn ra sự biếnđổi theo kiểu móc xích Nghĩa đầu tiên chuyển sang nghĩa S1, từ S1 chuyển sangS2, từ S2 chuyển sang S3 v.v Phần lớn các trường hợp nghĩa của từ biến đổitheo kiểu tỏa ra, các nghĩa mới đều dựa vào nghĩa đầu tiên mà xuất hiện
- Các từ có nghĩa biểu vật cùng thuộc một phạm vi hoặc các nghĩa biểuniệm cùng một cấu trúc thì chuyển biến ý nghĩa theo cùng một hướng giốngnhau
-Sự biến đổi ý nghĩa có thể dẫn đến kết quả là nghĩa sau khác hẳn với nghĩatrước
- Khi các nghĩa chuyển biến còn liên hệ với nhau, sự biến đổi ý nghĩa
có thể làm cho nghĩa của từ mở rộng hoặc thu hẹp Các nghĩa/nét nghĩa đó làm thành hệ thống các nghĩa/nét nghĩa của từ
- Sự biến đổi ý nghĩa có thể làm thay đổi nghĩa biểu thái của từ
1.2.2.4 Hiện tượng chuyển nghĩa của từ
Cùng với sự phát triển của xã hội, ngôn ngữ cũng phát triển theo Ngoàiviệc xuất hiện những từ mới biểu thị những khái niệm, sự vật mới còn có tình
Trang 40trạng các từ biểu thị những sự vật, khái niệm chuyển nghĩa để biểu thị những
sự vật, khái niệm trong phương diện khác Việc một nghĩa của từ được hìnhthành dựa trên một nghĩa đã có của từ được gọi là sự chuyển nghĩa của từ Sựchuyển nghĩa của từ, theo Đỗ Hữu Châu, có các khả năng sau:
- Giữa nghĩa đầu tiên với các nghĩa mới có thể diễn ra sự biến đổi theokiểu móc xích: nghĩa đầu tiên chuyển sang nghĩa S1, từ S1 chuyển sanhg S2,
từ S2 chuyển sang S3,v.v Mối liên hệ giữa nghĩa đầu tiên với những nghĩaxuất hiện sau có khi còn thấy rõ nhờ nét nghĩa cơ sở
- Các từ có ý nghĩa biểu vật thuộc cùng một phạm vi hoặc có ý nghĩabiểu niệm cùng một cấu trúc thì chuyển biến ý nghĩa theo cùng một hướng
- Sự chuyển nghĩa có thể dẫn tới kết quả là nghĩa sau khác hẳn vớinghĩa trước Thậm chí, ngay cùng một từ, sự chuyển nghĩa có thể khiến cho
nó trở thành đồng nghĩa với từ trái nghĩa trước kia của nó
- Khi các nghĩa chuyển biến còn liên hệ với nhau, sự chuyển nghĩa cóthể làm cho ý nghĩa của từ mở rộng ra hoặc thu hẹp lại Nói nghĩa của từ mởrộng tức là nói tính khái quát của nó tăng lên, các nét nghĩa cụ thể quy địnhphạm vi biểu vật bị loại bỏ hay mờ nhạt đi Sự thu hẹp nghĩa của từ đi kèmvới sự cụ thể hóa ý nghĩa, đi kèm với việc tăng thêm những nét nghĩa cụ thểquy định phạm vi biểu vật của từ [14, 147] Hai phương thức chuyển nghĩacủa phổ biến nhất là ẩn dụ và hoán dụ Ẩn dụ là phương thức chuyển đổi têngọi dựa trên sự liên tưởng so sánh những mặt, thuộc tính, giống nhau giữacác đối tượng được gọi tên Hoán dụ là phương thức chuyển tên gọi dựa trênmối liên hệ logic giữa các đối tượng được gọi tên
1.2.2.5 Vấn đề nghĩa của thuật ngữ
Khả năng biến đổi ý nghĩa của từ (cái được biểu hiện) có một giới hạn
là thuật ngữ Đó là trường hợp mặt biểu hiện (vỏ ngữ âm) của từ và cái biểuvật giữ nguyên không thay đổi, còn ý nghĩa thì thay đổi Theo Ju X.Xtêpanov, những ý nghĩa thay đổi nằm trong bước chuyển từ quan niệm