Kinh tế vĩ mô nghiên cứu, phân tích nền kinh tế một cách tổng thể thông qua các biến số: tổng sản phẩm quốc gia, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, lượng cung tiền trong nền kinh tế…, tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-
NGUYỄN THỊ THÖY AN
TÁC ĐỘNG CỦA BẤT ỔN KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN
ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số : 60 34 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 05 năm 2017
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG
2 Thư ký: TS Trương Minh Chương
3 Phản biện 1: PGS TS Vương Đức Hoàng Quân
4 Phản biện 2: TS Dương Như Hùng
5 Ủy viên: TS Nguyễn Thị Thu Hằng
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV và Trưởng Khoa quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: NGUYỄN THỊ THÚY AN MSHV: 1570478
Ngày, tháng, năm sinh: 01/01/1989 Nơi sinh: Đồng Tháp Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 60 34 01 02
I TÊN ĐỀ TÀI:
Tác động của bất ổn kinh tế vĩ mô đến đầu tư của doanh nghiệp
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
- Tìm hiểu các yếu tố bất ổn kinh tế vĩ mô tác động đến đầu tư của doanh nghiệp
- Nhận định về sự tác động của bất ổn kinh tế vĩ mô đến đầu tư của doanh nghiệp
III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : 06/02/2017
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM3 VỤ: 12/05/2017
V CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN THU HIỀN
Tp HCM, ngày tháng năm 2017
TRƯỞNG KHOA
Trang 4dữ liệu
Xin chân thành cảm ơn quý Thầy cô khoa Quản lý công nghiệp – Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt những kiến thức quý báu, những kinh nghiệm thực tiễn cho tôi trong suốt chương trình học tập
Cuối cùng, xin cảm ơn những người bạn và gia đình đã hỗ trợ, đã động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2017
Người thực hiện
Nguyễn Thị Thúy An
Trang 5TÓM TẮT
Luận văn nghiên cứu về Tác động của bất ổn kinh tế vĩ mô đến đầu tư của doanh
nghiệp được thực hiện với các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán
Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2015 Nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ ngược chiều của các yếu tố đại diện bất ổn kinh tế vĩ mô: GDP thực, chỉ
số sản xuất công nghiệp – IPI (nhưng chưa có ý nghĩa về mặt thống kê), chỉ số giá tiêu dùng (CPI), suất sinh lợi thị trường của chỉ số chứng khoán Việt Nam (VNindex, thực hiện với biến kiểm soát lãi suất LIBOR) Luận văn góp phần khẳng định bất ổn kinh tế
vĩ mô làm hạn chế đầu tư của doanh nghiệp
Từ khóa: đầu tư doanh nghiệp, bất ổn kinh tế vĩ mô, ARCH
of companies
Key words: corporate investment, macroeconomic uncertainty, ARCH
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
- Những nội dung trong luận văn này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô TS Nguyễn Thu Hiền
- Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố
- Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tp, Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 05 năm 2017
Người thực hiện
Nguyễn Thị Thúy An
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
LỜI CAM ĐOAN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC HÌNH viii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT x
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Tổng quan về đề tài 1
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 5
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 5
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
1.4 Phương pháp nghiên cứu 5
1.5 Ý nghĩa đề tài 6
1.6 Cấu trúc luận văn 7
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN LÝ LUẬN 8
2.1 Mối quan hệ giữa bất ổn kinh tế vĩ mô và đầu tư 8
2.1.1 Đầu tư của doanh nghiệp 8
2.1.2 Bất ổn kinh tế vĩ mô 8
2.1.2.1 GDP 10
Trang 82.1.2.2 Chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI) 11
2.1.2.3 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 12
2.1.2.4 Suất sinh lợi thị trường của chỉ số chứng khoán Việt Nam (Stock market return) 12
2.1.3 Chính sách kinh tế Nhà nước (Government Policy) 13
2.1.3.1 Chính sách tài khóa 13
2.1.3.2 Chính sách tiền tệ 14
2.1.4 Các yếu tố khác ảnh hưởng đến đầu tư của doanh nghiệp 16
2.1.4.1 LIBOR (London Interest bank rate – lãi suất liên ngân hàng) 16
2.1.4.2 Lạm phát 16
2.1.4.3 Thay đổi chính sách vĩ mô tăng trưởng GDP (GDP growth) 17
2.1.4.4 Thay đổi chính sách vĩ mô do bầu cử Quốc Hội/Chính phủ 17
2.1.4.5 Tăng trưởng doanh thu (sales growth - SG) 18
2.1.4.6 Chỉ số Tobin’s q 18
2.1.4.7 Dòng tiền 19
2.2 Các nghiên cứu trước đây 19
2.2.1 Bất ổn chính sách Chính phủ và đầu tư của doanh nghiệp 19
2.2.2 Tác động của bất ổn kinh tế vĩ mô lên tính thanh khoản của doanh nghiệp phi tài chính 21
2.3 Đề xuất mô hình nghiên cứu 23
CHƯƠNG 3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Mô tả dữ liệu 25
3.2 Nguồn thu thập dữ liệu 25
Trang 93.3 Mô hình và cách đo các khái niệm, biến nghiên cứu 26
3.3.1 Mô hình nghiên cứu 26
3.3.2 Cách đo các biến 27
3.4 Phương pháp phân tích 29
3.5 Mối quan hệ kỳ vọng giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập 33
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
4.1 Biến đại diện cho bất ổn kinh tế vĩ mô 34
4.2 Tác động của bất ổn kinh tế vĩ mô và đầu tư của doanh nghiệp 36
4.2.1 Thống kê mô tả 36
4.2.2 Ma trận tương quan 39
4.2.3 Kết quả thực nghiệm 41
4.2.3.1 Kết quả thực nghiệm về mối quan hệ của bất ổn kinh tế vĩ mô về GDP thực và đầu tư của doanh nghiệp 42
4.2.3.2 Kết quả thực nghiệm về mối quan hệ của bất ổn kinh tế vĩ mô về chỉ số sản xuất công nghiệp – IPI và đầu tư của doanh nghiệp 44
4.2.3.3 Kết quả thực nghiệm về mối quan hệ của bất ổn kinh tế vĩ mô về chỉ số giá tiêu dùng - CPI và đầu tư của doanh nghiệp 49
4.2.3.4 Kết quả thực nghiệm về mối quan hệ của bất ổn kinh tế vĩ mô về lãi suất thị trường chỉ số chứng khoán VNindex và đầu tư của doanh nghiệp 51
4.3 Nhận xét kết quả hồi quy 54
4.3.1 Nhận xét kết quả hồi quy với biến MU1 – GDP: 55
4.3.2 Nhận xét kết quả hồi quy với biến MU2 – IPI: 56
4.3.3 Nhận xét kết quả hồi quy với biến MU3 – CPI: 56
Trang 104.3.4 Nhận xét kết quả hồi quy với biến MU4 - VNindex: 57
4.3.5 Nhận xét chung: 58
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 60
5.1 Nhận xét kết quả hồi quy 60
5.2 Những điểm hạn chế 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 66
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Tăng trưởng GDP thực thế giới, các nền kinh tế đã phát triển và các thị trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển 2 Hình 1.2 Đầu tư trong nền kinh tế và lạm phát của Việt Nam năm 2005 -2015 4
Trang 12DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Mối quan hệ kỳ vọng các biến trong mô hình 33
Bảng 4.1 Bảng kết quả chuỗi thời gian biến đại diện bất ổn kinh tế vĩ mô 35
Bảng 4.2 Thống kê mô tả 37
Bảng 4.2 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 40
Bảng 4.3 Kết quả hồi quy mô hình đầu tư với MU1 – GDP 43
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy mô hình đầu tư với MU2 – IPI (1) 46
Bảng 4.5 Kết quả hồi quy mô hình đầu tư với MU2 – IPI (2) 47
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy mô hình đầu tư với MU2 – IPI cho DN trong ngành công nghiệp (3) 48
Bảng 4.7 Kết quả hồi quy mô hình đầu tư MU3 – CPI (1) 50
Bảng 4.8 Kết quả hồi quy mô hình đầu tư với MU4 – VNindex (1) 52
Bảng 4.9 Kết quả hồi quy mô hình đầu tư với MU4 – VNindex (2) 53
Bảng 4.10 Kiểm tra đa cộng tuyến MU4 – VNindex và LIBOR (UK) 54
Bảng 4.11 Bảng tổng kết kết quả hồi quy 55
Trang 13DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 CAPX: Capital investment (vốn đầu tư)
2 CF: Cash flow (dòng tiền)
3 CPI: Consumer price index (chỉ số giá tiêu dùng)
4 DN: Doanh nghiệp
5 ELECTION: Bầu cử
6 GDP: Gross domestic product (tổng sản phẩm quốc nội)
7 HNX: Hà Nội Stock exchange (Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội)
8 HOSE: Hồ Chí Minh Stock Exchange (Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh)
9 IMF: International Monetary Fund (Quỹ tiền tệ Quốc tế)
10 IPI: Industrail production index (chỉ số sản xuất công nghiệp)
11 LIBOR: London Iterbank Offer rate (lãi suất liên ngân hàng London)
12 MU: Macroecomic uncertainty (bất ổn kinh tế vĩ mô)
13 PU: Policy uncertainty (bất ổn chính sách)
14 SG: Sales growth (tăng trưởng doanh thu - DT)
15 TA: Total assets (tổng tài sản)
16 TTCK: Thị trường chứng khoán
17 UK: United Kingdom (nước Anh)
18 US: United States of America (nước Mỹ)
19 VNindex: Việt Nam index, chỉ số chứng khoán Việt Nam
20 WTO: World Trade Organization (Tổ chức thương mại Thế Giới)
Trang 14CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 Tổng quan về đề tài
Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp là một hoạt động quan trọng có vai trò tác động đến tương lai hoạt động của doanh nghiệp, là khởi đầu cho mọi cơ hội kinh doanh trong dài hạn lẫn ngắn hạn, nó có ảnh hưởng rất lớn đến giá trị doanh nghiệp, gián tiếp làm ảnh hưởng đến quyền lợi chủ sở hữu của doanh nghiệp Quá trình ra quyết định đầu tư được thực hiện sau khi cân nhắc nhiều yếu tố khác nhau Các yếu tố tác động đến đầu tư đến từ nhiều nguồn như: doanh thu, lợi nhuận, rủi ro, giá trị tài sản, dòng tiền, qui mô doanh nghiệp, bất ổn kinh tế vĩ mô, nhưng yếu tố gây ảnh hưởng to lớn nhất đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp là yếu tố về bất ổn về kinh tế vĩ mô
Theo Elbadawi và Schmidt (1998), cho rằng bất ổn kinh tế vĩ mô là tình trạng không nên xuất hiện trong một nền kinh tế do những tác động xấu có thể gây ra đối với tăng trưởng và phát triển Theo Fred Harrison, nhà kinh tế học Anh Quốc, giám đốc Quỹ nghiên cứu Đất đai (Land Research Trust) đã từng phát biểu công khai với thủ tướng Anh – Tony Blair về dấu hiệu của khủng hoảng về bất ổn kinh tế vĩ mô có chu
kỳ là 18 năm và chu kỳ bị phá vỡ khi có chiến tranh thế giới diễn ra Ông bắt đầu cảnh báo các xu hướng từ năm 1997, và vào tháng 4/2005 ông đã cảnh báo rằng sự bùng nổ bất động sản sẽ chỉ tiếp diễn thêm ba năm nữa, sau đó nó sẽ sụp đổ vào năm 2008 Ông cũng đã phát biểu với giới báo chí và trình bày số liệu cho thấy xu hướng này Tuy nhiên, như nhiều người khác từng đi đến kết luận, lời cảnh báo của ông bị phớt lờ cho đến khi cuộc khủng khoảng thực sự xảy ra Ông cho rằng nền kinh tế cứ lên xuống đều đặn như kim đồng hồ Và nhiều nhà khoa học sau đó như Amar Manzoor – người sáng tạo ra hệ thống đào tạo cho các tiêu chuẩn sản xuất, Steve Hanke của viện Cato – cơ quan nghiên cứu của Mỹ cũng đồng tình với phát biểu khủng hoảng có tính chu kỳ Chu kỳ kinh tế còn gọi là chu kỳ kinh doanh, là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự ba phần lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (bùng nổ), cũng có quan
Trang 15điểm coi pha phục hồi là thứ yếu nên chu kỳ kinh doanh chỉ gồm hai pha chính là suy thoái và hưng thịnh (hay mở rộng)
Như vậy, dù muốn hay không muốn bất ổn kinh tế vĩ mô xảy ra thì nó vẫn tồn tại và xảy ra, bất ổn đó diễn ra như thế nào, tác động của nó ảnh hưởng đến các quốc gia ra sao và diễn ra trong bao lâu hiện nay vẫn là nghiên cứu hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu Kinh tế vĩ mô nghiên cứu, phân tích nền kinh tế một cách tổng thể thông qua các biến số: tổng sản phẩm quốc gia, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, lượng cung tiền trong nền kinh tế…, trên cơ sở đó đề ra các biện pháp nhằm ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Bất ổn kinh tế chính là trạng thái của nền kinh tế mà trong đó các chính sách tài khóa, tiền tệ của Chính phủ không đem lại tác dụng, dẫn đến các chỉ số của nền kinh
tế như lạm phát, thất nghiệp tăng cao, chính điều này làm cho sản xuất trì trệ, đình đốn, sức mua của thị trường trong nước giảm, đời sống của người dân gặp khó khăn.
Hình 1.1 Tăng trưởng GDP thực thế giới, các nền kinh tế đã phát triển và các thị
trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển
Trang 16biểu hiện của thế giới Việt Nam được xếp vào quốc gia có nền kinh tế đang phát triển Điểm chính của nền kinh tế giai đoạn 2005 – 2010 là sự tăng trưởng nóng của nền kinh
tế thế giới lên tới đỉnh cao vào năm 2007 và sau đó rơi vào cuộc Đại Suy giảm (Great Recession) tồi tệ nhất kể từ sau Cuộc Đại Suy thoái (Great Depression) giai đoạn 1929 – 1933 Việc kinh tế thế giới phát triển mạnh (và không vững khắc) cho tới năm 2007 chủ yếu bắt nguồn từ chính sách vĩ mô nới lỏng thái quá của Chính phủ Mỹ từ sau cuộc khủng hoảng Dot.com vào năm 2000, sự trỗi dậy nhanh chóng của tư tưởng mới nổi, Brazil, Nga, Ấn Độ và đặc biệt là Trung Quốc (nhóm BRIC), đã tích tụ sự mất cân đối
vĩ mô toàn cầu Việt Nam là quốc gia bị ảnh hưởng không nằm ngoài sự tác động này Tăng trưởng GDP của Việt Nam qua các năm 2006 – 2010 là 7 – 7,1 – 5,7 – 5,4 -6,4% Tăng trưởng GDP giảm sâu ở năm 2009 và phục hồi trở lại vào 2010 Xuất khẩu năm
2009 giảm 13,48% so với 2007 Thâm hụt ngân sách năm 2008 tăng 1,77% so với
2007 Lạm phát Việt Nam tăng cao vào năm 2008 tăng 2,7% so với 2007, đỉnh điểm là tháng 8/2008 với tỷ lệ lạm phát là 28.31%
Theo Paul Krugman, chuyên gia hàng đầu về kinh tế thế giới nhận định cuộc khủng hoảng khiến sức cầu về hàng hóa lâu bền (tư bản) sẽ suy giảm trước hết là ở Mỹ trong một thời gian mang tính trung hạn, do đó, các nước có lợi thế sản xuất hàng tư bản sẽ
bị ảnh hưởng nặng nề hơn cả Hay nói cách khác, chính những nền kinh tế phát triển nhất như Nhật và Đức sẽ chịu hậu quả lâu dài Trong khi đó, các nền kinh tế có lợi thế sản xuất hàng tiêu dùng như Trung Quốc, Việt Nam và các nước đang phát triển, thì hậu quả sẽ ít hơn, và khả năng phục hồi sẽ nhanh hơn Cụ thể, năm 2008 xuất khẩu tăng 1,31% so với 2007, luồng vốn FDI (foreign direct investment, đầu tư trực tiếp nước ngoài) vào tăng 1,71% so với 2007
Bất ổn kinh tế vĩ mô ở những quốc gia khác nhau sẽ có mức ảnh hưởng khác nhau
và còn tùy thuộc vào thể chế chính trị, các điều tiết của các quốc gia
Các tác động của kinh tế vĩ mô là đề tài mà nhiều đối tượng quan tâm từ nhà nghiên cứu, chính trị gia, nhà đầu tư cho đến các quản lý của doanh nghiệp Vì thế mà có
nhiều bài nghiên cứu Bất ổn kinh tế vĩ mô Việt Nam từ chính sách tiền tệ – Hạ Thị
Trang 17Thiều Dao và Phạm Thị Tuyết Trinh (2013), Quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và
biến động thị trường chứng khoán: bằng chứng nghiên cứu từ thị trường Việt Nam –
Nguyễn Minh Kiều và Nguyễn Văn Điệp (2013), Bất ổn kinh tế vĩ mô – góc nhìn từ sự
phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa – Tô Ngọc Hưng (2011) …ra đời
với các góc nhìn nghiên cứu khác nhau về bất ổn kinh tế vĩ mô Bất ổn kinh tế vĩ mô thể hiện dưới nhiều mức độ và hình thức khác nhau và lạm phát cũng là một trong các biểu hiện về bất ổn kinh tế vĩ mô, biểu đồ sau đây đôi nét miêu tả quan hệ quan hệ đầu
tư của doanh nghiệp và tỉ lệ lạm phát qua các năm 2005 -2015
Hình 1.2 Lạm phát và tăng trưởng đầu tư của Việt Nam năm 2005 -2015
Nguồn: IMF -2016 và Tổng cục Thống kê
Theo hình 1.2, Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại Thế Giới WTO (World Trade Organization) ngày 11/01/2007, góp phần đóng góp cho đầu tư của nền kinh tế tăng mạnh Theo Bộ Kế hoạch và đầu tư, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong năm 2007 thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 20.3 tỷ đồng, tăng gần 70% so với năm 2006, tính cho cả việc cấp mới và tăng vốn , nhưng năm 2008 ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới làm lạm phát Việt Nam tăng mạnh và làm tăng trưởng cho đầu tư của nền kinh tế giảm mạnh từ 31.5% xuống còn 15.9%, bất ổn
Trang 18làm hạn chế đầu tư của nền kinh tế, trong đó đầu tư thuộc khu vực doanh nghiệp chiếm
từ 51.9% đến 66.1% qua các năm Vậy, cụ thể bất ổn kinh tế vĩ mô tác động đến doanh nghiệp như thế nào và đặc biệt là hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, hoạt động quan trọng cho tương lai và khởi đầu cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ra sao, là
một đề tài cần được quan tâm Qua đó cho thấy, đề tài nghiên cứu về Tác động bất ổn
kinh tế vĩ mô đến đầu tư của doanh nghiệp là một đề tài cần được nghiên cứu và hy
vọng sẽ là bằng chứng thực nghiệm cho tác động của bất ổn kinh tế vĩ mô đối với đầu
tư của doanh nghiệp
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này có mục tiêu tìm hiểu tác động của bất ổn kinh tế vĩ mô đến đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam
Đề tài thực hiện với câu hỏi nghiên cứu đưa ra: Liệu bất ổn kinh tế vĩ mô có tác động lên đầu tư của các doanh nghiệp không?
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ và sự tác động của bất ổn kinh tế
vĩ mô đối với đầu tư của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu dùng phương pháp nghiên cứu định lượng, dựa trên mẫu dữ liệu từ
313 công ty được niêm yết từ năm 2005 đến năm 2015 trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Biến chính được sử dụng nhằm đo lường đầu tư của doanh nghiệp là biến đầu tư (Capital investment - CAPX)
Trang 19Nghiên cứu này sử dụng bốn biến đại diện cho bất ổn kinh tế vĩ mô là bốn proxy đại diện cho bất ổn kinh tế vĩ mô là các biến đo lường tính biến động của: tổng sản phẩm quốc nội (GDP), chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI), chỉ số giá tiêu dùng (CPI), suất sinh lợi thị trường của chỉ số chứng khoán Việt Nam (VNindex)
Mô hình dùng các biến kiểm soát như: lãi suất liên ngân hàng (LIBOR), lạm phát, dòng tiền ròng (Cash flow), chỉ số Tobin’s q, tăng trưởng doanh thu (Sales growth), bầu cử, tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP growth)
Mô hình nghiên cứu được sử dụng dựa trên mô hình đề xuất của H Gulen và M.Ion
(2015) trong bài nghiên cứu Policy uncertainty and Corporate Investment và kết hợp
với mô hình đề xuất của Chirstopher F.Baum và các cộng sự (2005) trong bài nghiên
cứu The impact of macroeconomic uncertainty on non – financial firm’s demand for
liquidity
Mô hình nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng được hồi quy theo ba phương pháp: Pooling regression, mô hình nghiên cứu cố định (Fixed Effect Model), mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effect Model) Sau đó, xác định phương pháp hồi quy nào cho kết quả ước lượng phù hợp nhất đối với mô hình dùng phương pháp kiểm định La-grange Multiplier (LM text, Breusch và Pagan, 1980), kiểm định Hausman (Hausman, 1978) lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp giữa mmô hình Random Effect và mô hình Fixed Effect Từ hai kết quả kiểm định, chọn ra được mô hình hồi quy thích hợp nhất
1.5 Ý nghĩa đề tài
Đề tài kỳ vọng nhận diện được sự tác động và mức độ tác động của bất ổn kinh tế
vĩ mô đến đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam, cụ thể là các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (Hồ chí Minh Stock Exchange – HOSE) Từ
đó, tác giả có thể đưa ra kết luận và đánh giá về mức độ tác động của bất ổn kinh tế vĩ
mô đến đầu tư của doanh nghiệp
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài kỳ vọng đem lại các bằng chứng thực nghiệm cho cơ quan quản lý kinh tế quốc gia về tác động của bất ổn kinh tế vĩ mô đến đầu tư của doanh nghiệp, từ đó tăng cường điều hành kiểm soát bất ổn, thúc đẩy đầu tư,
Trang 20đem lại quan sát cho doanh nghiệp giúp hiểu rõ hơn tác động của bất ổn vĩ mô trong hoạt động đầu tư của doanh nghiệp
1.6 Cấu trúc luận văn
Cấu trúc của đề tài gồm 5 chương:
Chương 1: Phần giới thiệu tổng quan: cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu, vấn đề
và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết quả thực nghiệm đạt được
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan lý luận: trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài, các lý thuyết nền có liên quan, mô hình nghiên cứu
Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu: nguồn thu thập dữ liệu, loại dữ liệu, cách đo các biến, kiểm chứng mô hình
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bình luận: kết quả phát triển, phân tích và kiểm định mô hình, nêu ý nghĩa biến số và kết quả
Chương 5: Kết luận: rút kết vấn đề đặt ra và có nhận xét chung về đề tài, nhìn nhận các mặt hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai
Trang 21CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN LÝ LUẬN
2.1 Mối quan hệ giữa bất ổn kinh tế vĩ mô và đầu tư
2.1.1 Đầu tư của doanh nghiệp
Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu lợi về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội
Tùy theo các căn cứ phân loại mà có các kiểu đầu tư như sau:
Căn cứ vào thời gian bỏ vốn đầu tư và thực hiện, có hai loại đầu tư: đầu tư ngắn hạn (dưới một năm), đầu tư dài hạn
Căn cứ vào mục tiêu đầu tư có hai loại: đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp (góp vốn liên doanh, mua cổ phiếu, trái phiếu), đầu tư vào bên trong doanh nghiệp: đầu
tư theo chiều sâu (nghiên cứu và phát triển sản phẩm, tạo điều kiện phát triển lâu dài cho doanh nghiệp), đầu tư mở rộng (đầu tư mở rộng thêm xưởng mới hay đơn vị trực thuộc …), đầu tư thay thế hoặc duy trì (đầu tư đổi mới tài sản cho phù hợp với tiến độ khoa học kỹ thuật nhằm thỏa mãn yêu cầu của thị trường, giữ vững thị trường, tiết kiệm chi phí…)
Căn cứ vào chủ thể đầu tư: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp
Nhân tố quyết định đầu tư: chính sách kinh tế Nhà nước, thị trường và sự cạnh tranh, chính sách huy động vốn, độ vững chắc tin cậy của sự đầu tư, sự tiến bộ của khoa học công nghệ, khả năng tài chính của doanh nghiệp, tính cách của chủ đầu tư… Hoạt động đầu tư luôn diễn ra hai giai đoạn cơ bản: giai đoạn bỏ vốn ra đầu tư và giai đoạn thu hồi vốn và có lãi
2.1.2 Bất ổn kinh tế vĩ mô
Kinh tế vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế ở góc độ tổng thể thông qua các chỉ tiêu tổng quát như sản lượng quốc gia, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp… Mục tiêu điều tiết vĩ
Trang 22mô là: hiệu quả, công bằng, ổn định và tăng trưởng Chính phủ điều tiết bằng các chính sách kinh tế:
Chính sách tài khóa: chính sách thuế và chi ngân sách của chính phủ
Chính sách tiền tệ: Ngân hàng Trung ương thay đổi lượng cung tiền tệ nhằm làm thay đổi lãi suất tiền tệ
Chính sách ngoại thương: tác động đến cán cân thương mại và cán cân thanh toán thông qua chính sách can thiệp và tỷ giá hối đoái và thuế xuất nhập khẩu… Hiện nay chưa có định nghĩa thống nhất cho vấn đề bất ổn kinh tế vĩ mô tại một nền kinh tế Theo Azam (2001), bất ổn kinh tế vĩ mô là những biến động theo chiều hướng xấu đi đối với tình hình kinh tế vĩ mô của một nền kinh tế Theo Sameti và các tác giả (2012) cho rằng bất ổn kinh tế vĩ mô được đánh giá bởi các biến động của một tập hợp các biến số kinh tế vĩ mô bao gồm tăng trưởng, lạm phát, thâm hụt ngân sách, thâm hụt cán cân vãng lai và dự trữ ngoại hối
Bất ổn kinh tế chính là trạng thái của nền kinh tế mà trong đó các chính sách tài khóa, tiền tệ của Chính phủ không đem lại tác dụng, dẫn đến các chỉ số của nền kinh tế như lạm phát, thất nghiệp tăng cao, chính điều này làm cho sản xuất trì trệ, đình đốn, sức mua của thị trường trong nước giảm, đời sống của người dân gặp khó khăn… Bất
ổn kinh tế có thể mở ra cơ hội cho nền kinh tế trên một số khía cạnh: là liều thuốc thử quan trọng đối với các doanh nghiệp kinh tế, các doanh nghiệp quản lý khoa học sẽ phát triển vững mạnh; là cơ hội để Chính phủ các nước nhận ra những hạn chế trong nền kinh tế để có các chính sách, công cụ điều chỉnh hợp lý; là cơ hội để cải thiện đời sống người dân đặc biệt là người dân nghèo chịu nhiều ảnh hưởng đến bất ổn kinh tế vĩ
mô Như vậy, bất ổn kinh tế vĩ mô gắn liền với sự chuyển biến xấu đi của các biến số kinh tế vĩ mô quan trọng trong nền kinh tế, được biểu hiện và theo dõi theo thời gian thông qua sự kết hợp các biến số, lạm phát, thâm hụt ngân sách, biến động tỷ giá, dự trữ ngoại hối…
Bất ổn kinh tế vĩ mô phát sinh do hai nhóm nguyên nhân: các cú sốc từ bên ngoài
Trang 23và sự không phù hợp của các chính sách kinh tế Ngoài ra, bất ổn kinh tế vĩ mô cũng có thể phản ánh chính sách chưa phù hợp khi tương tác với các cú sốc bên ngoài Nhóm nguyên nhân bên ngoài như: tình hình ngoại thương, luồng vốn từ nước ngoài tràn vào nền kinh tế, khủng hoảng kinh tế thế giới Nhóm nguyên nhân bên trong chủ yếu từ các chính sách gồm có chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và sự phối hợp chính sách tài
khóa – chính sách tiền tệ
Bất ổn kinh tế có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và mức độ khác nhau: lạm phát tăng cao, tỷ lệ thất nghiệp cao, lãi suất cho vay và lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh, thị trường ngoại hối thiếu cạnh tranh, thị trường bất động sản đóng
băng, thâm hụt ngân sách, sản suất trì trệ đình đốn, sức mua trong nước giảm mạnh…
Từ đó cho thấy bất ổn kinh tế vĩ mô có nhiều biểu hiện khác nhau nên bài nghiên cứu dùng bốn proxy về mức độ dao động của bất ổn kinh tế vĩ mô: tổng sản phẩm quốc nội theo giá thực tế (GDP real), chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI – industrial produc-tion index), chỉ số lạm phát giá tiêu dùng (CPI – consumer price inflation), lãi suất bình quân thị trường của chỉ số chứng khoán Việt Nam (VNindex return), theo nghiên cứu của Baum và các tác giả (2005)
2.1.2.1 GDP
GDP (gross domestic product – tổng sản phẩm quốc nội): là giá trị bằng tiền của toàn bộ các sản phẩm cuối cùng được sản xuất ra trên lãnh thổ của một nước, tính trong khoảng thời gian nhất định thường là một năm GDP được tính theo ba phương pháp:
Theo phương pháp thu nhập: bằng tổng thu nhập được tạo ra trong nền kinh
từ ba chủ thể là doanh nghiệp, hộ gia đình và chính phủ, và tương tác nhau qua thị trường hàng hóa và thị trường các yếu tố sản xuất
Theo phương pháp chi tiêu: là tổng chi tiêu của tất cả các khu vực của toàn bộ nền kinh tế Chi tiêu từ chi tiêu cuối cùng của hộ gia đình, chi đầu tư của doanh nghiệp, chi tiêu chính phủ, xuất khẩu (chi của khu vực nước ngoài cho hàng hóa trong nước), nhập khẩu (chi cho khu vực trong nước cho hàng hóa nước ngoài)
Trang 24 Theo phương pháp giá trị gia tăng: tính những cái doanh nghiệp sản xuất ra, phương pháp này còn được gọi là phương pháp sản xuất
GDP thực hay còn được gọi là GDP theo giá so sánh, là GDP được tính theo giá của một năm nào đó được gọi là năm gốc, GDP thực giúp loại trừ yếu tố lạm phát Theo phương pháp tính GDP theo chi tiêu cho thấy đầu tư của doanh nghiệp góp phần làm gia tăng GDP trong chủ thể đóng góp là doanh nghiệp Khi các giá trị tạo ra hay chi tiêu trong các chủ thể gia tăng sẽ thúc đẩy sự gia tăng GDP và tăng trưởng kinh
tế Bất ổn kinh tế vĩ mô diễn ra làm doanh nghiệp và các chủ thể trong nền kinh tế hạn chế chi tiêu, giá trị GDP giảm mạnh
2.1.2.2 Chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI)
Chỉ số sản xuất công nghiệp (industrial production index – IPI) là chỉ tiêu quan trọng trong danh mục nhóm chỉ tiêu quốc gia Là chỉ tiêu đánh giá tốc độ phát triển sản xuất công nghiệp hàng tháng, quý, năm Chỉ số ngày thường được tính dựa trên khối lượng sản phẩm sản xuất, nên còn được gọi là “chỉ số khối lượng sản phẩm công nghiệp”, là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh khái quát tình hình phát triển toàn ngành công nghiệp nói chung và tốc độ phát triển của từng sản phẩm, nhóm ngành sản phẩm nói riêng, đáp ứng nhu cầu thông tin của cơ quan quản lý Nhà nước, các nhà đầu tư và các đối tượng dùng tin khác
IPI là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng sản xuất công nghiệp tạo ra trong kỳ hiện tại với khối lượng sản xuất công nghiệp kỳ gốc Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế là toàn bộ giá trị sản phẩm do hoạt động sản xuất công nghiệp tạo ra tính theo giá tại thời kỳ tính giá trị sản xuất Giá trị sản xuất công nghiệp là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ của các nhóm ngành công nghiệp thực hiện trong một thời kỳ nhất định Giá trị sản xuất công nghiệp bao gồm: giá trị nguyên liệu, năng lượng, phụ tùng thay thế; chi phí dịch vụ sản xuất và khấu hao tài sản cố định, chi phí tiền lương, tiền công lao động; thuế sản xuất và giá trị thặng dư tạo ra trong cấu thành giá trị sản phẩm Chỉ số thực hiện dựa trên nguồn số liệu điều tra chọn mẫu các cơ sở
Trang 25sản xuất đại diện cho sản xuất công nghiệp hàng tháng do Tổng Cục Thống kê thực hiện
Chỉ số phản ánh tình hình phát triển của toàn ngành công nghiệp nói chung và các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp nói riêng Khi doanh nghiệp gia tăng đầu tư, tạo
ra nhiều sản phẩm sẽ góp phần thúc đẩy chỉ số đánh giá cho ngành phát triển Khi bất
ổn kinh tế diễn ra, các chủ thể trong nền kinh tế hạn chế chi tiêu làm hàng hóa tiêu thụ kém, doanh nghiệp hạn chế sản xuất làm chỉ tiêu IPI sụt giảm, doanh nghiệp hạn chế và trì hoãn đầu tư của doanh nghiệp
2.1.2.3 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng – CPI (consumer price index): là chỉ số quan trọng mà một số nước thường lấy để đo tỉ lệ lạm phát và được xem là để đo lường chi phí liên quan đến
rổ hàng hóa và dịch vụ cụ thể được người tiêu dùng mua CPI dùng cùng một nhóm hàng hóa và dịch vụ của năm gốc (tức là năm 0) để thấy được sự biến động của giá qua các thời kỳ Là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng hóa tiêu dùng theo thời gian Là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá và sự thay đổi của mức giá chính là lạm phát CPI giúp theo dõi mức tăng giảm giá của hàng hóa tiêu dùng, các nhóm hàng quan trọng nhất có ảnh hưởng đến đời sống cũng như tâm lý của dân chúng Nó phản ánh tình hình biến động và mức độ trượt giá trong ngắn hạn và dài hạn
Chỉ số có nhiều biến động, người dân sẽ hạn chế tiêu dùng và chi tiêu dùng, làm cho hàng hóa sản xuất khó tiêu thụ, doanh nghiệp sẽ hạn chế chi tiêu cho việc đầu tư, sản xuất Khi chỉ số có biểu hiện tích cực sẽ giúp doanh nghiệp gia tăng đầu tư và thúc đẩy kinh tế phát triển
2.1.2.4 Suất sinh lợi thị trường của chỉ số chứng khoán Việt Nam (Stock market return)
Chỉ số được tính toán và công bố sau một phiên giao dịch, sự biến động về giá cổ phiếu sẽ làm thay đổi giá trị chỉ số, đồng thời được so sánh tăng giảm với phiên trước
Trang 26bằng phần trăm Chỉ số thị trường chứng khoán là một giá trị thống kê phản ánh tình hình của thị trường cổ phiếu Nó được tổng hợp từ danh mục các cổ phiếu theo phương pháp tính nhất định Thông thường, danh mục sẽ bao gồm các cổ phiếu có những điểm chung như cùng niêm yết tại một sở giao dịch chứng khoán, cùng ngành hay cùng mức vốn hóa thị trường Chỉ số giá chứng khoán có thể được xem như là nền tảng và thước
đo sự biến động cơ bản cho thị trường chứng khoán mà các thành phần tạo nên GDP từ chủ thể doanh nghiệp không bao gồm hoạt động đầu tư tài chính Thị trường chứng khoán giúp doanh nghiệp huy động vốn đặc biệt là vốn nước ngoài
Độ bất ổn của TTCK thường chỉ sự thay đổi, tăng giảm của giá chứng khoán trong một khoảng thời gian Sự cách biệt giữa các mức giá chứng khoán càng lớn thì độ bất
ổn của giá chứng khoán càng cao
Tỷ suất sinh lợi của thị trường là lãi suất bình quân trên thị trường, là thu nhập nhà đầu tư kỳ vọng sẽ thu được trong tương lai trên mỗi đồng vốn đầu tư Lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán có quan hệ đồng biến với rủi ro của chứng khoán, nghĩa là nhà đầu tư kỳ vọng chứng khoán rủi ro cao sẽ có lợi nhuận cao và ngược lại Khi TTCK bất ổn nhà đầu tư sẽ hạn chế đầu tư và có xu hướng chuyển đầu tư sang kênh khác an toàn và ổn định hơn
2.1.3 Chính sách kinh tế Nhà nước (Government Policy)
Nhân tố quyết định đầu tư: chính sách kinh tế Nhà nước, thị trường và sự cạnh tranh, chính sách huy động vốn, độ vững chắc tin cậy của sự đầu tư, sự tiến bộ của khoa học công nghệ, khả năng tài chính của doanh nghiệp, tính cách của chủ đầu tư Lý thuyết nền của đề tài chủ yếu dựa trên kiến thức về kinh tế vĩ mô nhằm nghiên cứu những vấn
đề mang tính tổng thể, tổng quát của nền kinh tế nhằm phân tích, mô tả, nhận định, giải thích các vấn đề kinh tế một cách khách quan và khoa học Kiến thức kinh tế vĩ mô liên quan đến các chính sách của Chính phủ như: chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
2.1.3.1 Chính sách tài khóa
Trang 27Chính sách tài khóa là hệ thống các chính sách của chính phủ về tài chính, thường được hoạch định và thực hiện trong một niên khóa tài chính, nhằm tác động đến các định hướng phát triển của nền kinh tế, thông qua những thay đổi trong kế hoạch chi tiêu của chính phủ và chính sách thu ngân sách (chủ yếu là các khoản thu về thuế) Mục tiêu của chính sách tài khóa: giảm sự dao động của chu kỳ kinh doanh, duy trì nền kinh tế ở mức sản lượng tiềm năng Nguyên tắc thực hiện: khi nền kinh tế suy thoái (áp dụng chính sách tài khóa mở rộng – giảm thuế và tăng chi ngân sách), khi nền kinh tế lạm phát (áp dụng chính sách tài khóa thu hẹp – tăng thuế và giảm chi ngân sách) Chính sách tài khóa là một trong những nhân tố quyết định đến sự ổn định trong ngắn hạn cũng như tăng trưởng bền vững trong dài hạn của một quốc gia Đặc biệt, đối với những nước có quy mô của khu vực nhà nước lớn như Việt Nam thì chính sách này lại càng quan trọng Khu vực nhà nước có thể ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế một cách trực tiếp, thông qua các chương trình chi tiêu và huy động ngân sách, hoặc gián tiếp thông qua việc tác động vào cách phân bổ và sử dụng nguồn lực của khu vực
tư nhân Tác động trực tiếp và gián tiếp của chính sách tài khóa có thể ảnh hưởng đến chi tiêu cá nhân, đầu tư của doanh nghiệp, tỷ giá hối đoái, mức thâm hụt ngân sách và thậm chí là cả lãi suất, chỉ số thường được coi là liên quan đến chính sách tiền tệ nhiều hơn
Chính sách tài khóa có ý nghĩa quan trọng, có phạm vi tác động lớn tới quản lý, điều tiết vĩ mô lên kinh tế thông qua huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính Chính sách tài khóa là công cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế, ngược lại nền kinh tế lại là môi trường chứa đựng các yếu tố ảnh hưởng đến thu – chi ngân sách Nhà nước Nếu chính sách tài khóa phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nước trong từng giai đoạn có thể phát triển kinh tế xã hội một cách tốt hơn
Chính sách tài khóa thắt chặt làm giảm tổng cầu là biện pháp hữu hiệu nhằm giảm lạm phát Chính sách tài khóa mở rộng nhằm kích thích tổng cầu, làm tăng sản lượng thực tế và giảm tỷ lệ thất nghiệp
2.1.3.2 Chính sách tiền tệ
Trang 28Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô, trong đó Ngân hàng trung ương thông qua các công cụ của mình để kiểm soát và điều tiết lượng tiền cung ứng hoặc lãi suất nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô về giá cả, sản lượng và công ăn việc làm Mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định nền kinh tế và ổn định giá trị tiền tệ Chính sách tiền tệ tác động đến nền kinh tế thông qua việc ngân hàng trung ương làm thay đổi lượng cung tiền trong nền kinh tế Có ba công cụ chính ảnh hưởng đến lượng cung tiền: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu, mua – bán chứng khoán
của chính phủ
Nguyên tắc hoạch định:
Nền kinh tế suy thoái thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng: giảm tỷ lệ dự trữ
bắt buộc, giảm lãi suất chiết khấu, mua chứng khoán chính phủ
Nền kinh tế lạm phát cao thực hiện chính sách tiền tệ thu hẹp: tăng tỷ lệ dự
trữ bắt buộc, tăng lãi suất chiết khấu, bán chứng khoán chính phủ
Việc cung ứng tiền tệ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô phát triển sản xuất và tăng thu nhập cho các cá nhân trong xã hội Từ đó gia tăng chỉ tiêu
tiêu dùng trên đầu người có tác động trở lại với việc phát triển sản xuất
Chính sách tiền tệ cũng tạo ra những thay đổi kinh tế Một chính sách tiền tệ thắt chặt với tốc độ cung tiền giảm sẽ làm giảm việc cung cấp vốn lưu động và sẽ hạn chế việc mở rộng sản xuất, kinh doanh đối với tất cả doanh nghiệp Bên cạnh đó, một chính sách tiền tệ thắt chặt với lãi suất định trước có thể làm tăng lãi suất thị trường và do vậy chi phí của công ty sẽ tăng Còn đối với cá nhân thì việc vay vốn để mua nhà hay các hàng hóa lâu bền như ô tô và thiết bị sẽ trở nên đắt đỏ hơn Do đó, chính sách tiền
tệ tác động đến tất cả các bộ phận của một nền kinh tế và các nền kinh tế khác có liên quan Đối với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chính sách tiền tệ chỉ góp phần đạt được mục tiêu trong ngắn hạn, thông qua việc tác động vào lãi suất, chính sách tiền tệ điều chỉnh hành vi đầu tư, tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế
Vì vậy, chính sách tiền tệ không thể tác động trực tiếp vào tổng cầu như chính sách
Trang 29tài khóa mà phải tác động thông qua các mục tiêu trung gian – là mức cung tiền hoặc
lãi suất thị trường
2.1.4 Các yếu tố khác ảnh hưởng đến đầu tư của doanh nghiệp
2.1.4.1 LIBOR (London Interest bank rate – lãi suất liên ngân hàng)
LIBOR hay còn gọi là lãi suất liên ngân hàng Anh, là lãi suất mà tại đó các ngân hàng có thể vay mượn tiền, ở mức có thể tính toán được, từ các ngân hàng khác trên thị trường liên ngân hàng London Theo thời gian, LIBOR đã trở thành cơ sở cho các khoản vay lãi suất thay đổi, tín dụng và các công cụ tài chính trị giá hàng nghìn tỷ đô la trên khắp thế giới LIBOR là một loạt các lãi suất nhằm đánh giá chi phí mà các ngân hàng lớn toàn cầu phải bỏ ra để vay tiền lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng
Nếu LIBOR tăng, các khoản tiền trả lãi hàng tháng của người vay sẽ tăng lên và ngược lại khi LIBOR giảm xuống người vay sẽ trả lãi ít hơn Nhưng khi LIBOR hạ thấp sẽ tác động đến các khoản đầu tư dựa trên lãi suất LIBOR vì họ sẽ nhận được ít hơn Khi bất ổn kinh tế diễn ra sẽ làm cho lãi suất biến động theo cả hai chiều hướng tăng, giảm và tác động đến việc đầu tư của doanh nghiệp, các nhà đầu tư sẽ hạn chế đầu tư và mở rộng quy mô doanh nghiệp
2.1.4.2 Lạm phát
Lạm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng lên trong khoảng thời gian nhất định Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần trăm gia tăng của mức giá chung của kỳ này so với kỳ trước Lạm phát giúp phân phối lại thu nhập và tài sản giữa các thành phần đầu cơ Nếu tỷ lệ lạm phát thấp và dự đoán được thì không xảy ra sự phân phối lại Nếu lạm phát không dự đoán trước và tỷ lệ lạm phát cao sẽ dẫn đến sự phân phối lại tài sản và thu nhập, có lợi cho những người vay nợ, gây thiệt hại cho người vay, người có thu nhập cố định, người hưởng trợ cấp
Theo kinh nghiệm từ các nước phát triển, lạm phát tăng cao cho thấy nền kinh tế đang nóng, báo hiệu sự tăng trưởng kém bền vững Lạm phát cao cho thấy việc quản lý các công cụ, chính sách kinh tế của Nhà nước không ổn định Lạm phát tăng cao, đồng
Trang 30tiền bị mất giá, người dân có xu hướng nắm giữ tiền mặt và hạn chế đầu tư Doanh nghiệp sẽ thiếu vốn đầu tư, dù hoạt động kinh doanh vẫn có lãi, nhưng không mang tính hấp dẫn đầu tư
Lạm phát là biến số được sử dụng phổ biến nhất vì có thể đại diện cho khả năng điều hành nền kinh tế của Chính phủ
Sự thay đổi không mong đợi của tỷ lệ lạm phát sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch, ngăn cản sự tăng trưởng và đổi mới của doanh nghiệp
Lạm phát ảnh hưởng đến các chủ thể trong nền kinh tế, ảnh hưởng nhiều nhất là các doanh nghiệp Lạm phát làm chi phí đầu vào tăng làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm Lạm phát làm thu nhập thực tế của người dân giảm, nhu cầu tiêu dùng giảm kéo theo nhu cầu về hàng hóa dịch vụ trên thị trường giảm
2.1.4.3 Thay đổi chính sách vĩ mô tăng trưởng GDP (GDP growth)
GDP tăng trưởng nhanh thể hiện một nền kinh tế phát triển tạo nhiều cơ hội cho công ty tăng doanh số bán hàng Đây là đầu ra của nền kinh tế và sản lượng sản xuất của nền kinh tế Tốc độ tăng trưởng GDP thể hiện tính ổn định của một nền kinh tế thịnh vượng và thị trường chứng khoán được nuôi dưỡng trên nền tảng một nền kinh tế phát triển ổn định, nhà đầu tư có nhiều cơ hội hơn trong việc tìm kiếm lợi nhuận và giá
cả cổ phiếu cũng tăng lên Ngược lại, trong thời kỳ suy thoái của nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng GDP chậm lại và có thể âm Thể hiện một nền tảng bất ổn và đầy khó khăn, nhà đầu tư hạn chế đầu tư mở rộng quy mô, hạn chế sản xuất
Đầu tư và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ cùng chiều, nghĩa là đầu tư càng nhiều thì tăng trưởng càng cao Tuy nhiên cũng có trường hợp ngược lại, đầu tư lớn nhưng không hiệu quả, đầu tư không đem lại hiệu quả ngay như đầu tư vào dự án trung
và dài hạn Bên cạnh đó tăng trưởng kinh tế còn chịu ảnh hưởng của chính sách Chính phủ, thể chế, sự ổn định chính trị và kinh tế, đặc điểm địa lý, nguồn tài nguyên thiên
nhiên và trình độ y tế và giáo dục
2.1.4.4 Thay đổi chính sách vĩ mô do bầu cử Quốc Hội/Chính phủ
Trang 31Theo H Gulen (2015) các lần bầu cử cấp lãnh đạo cơ quan chính quyền sẽ dẫn đến
sự biến động về chính sách quản lý, cách điều hành của nhà lãnh đạo mới
Các đợt bầu cử được xem là yếu tố tác động đến bất ổn chính sách và gián tiếp ảnh hưởng đến đầu tư của doanh nghiệp theo chiều hướng tốt hoặc xấu hơn tùy theo quan điểm của nhà đầu tư Tùy theo chính sách của mỗi quốc gia mà đợt bầu cử diễn ra bốn hay năm năm một lần Trong thực tế, ngay cả việc triệu tập một phiên họp Quốc Hội bất thường cũng có thể gây ra sự náo động thị trường
2.1.4.5 Tăng trưởng doanh thu (sales growth - SG)
Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền đã và sẽ thu được do tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong thời kỳ nhất định Doanh thu là một chỉ tiêu tài chính quan trọng của doanh nghiệp Chỉ tiêu này không những có ý nghĩa đối với doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với cả nền kinh tế xã hội Có được doanh thu, cho thấy doanh nghiệp đã sản xuất ra sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ phù hợp với nhu cầu của xã hội và được
xã hội công nhận, có nguồn vốn để trang trải các khoản chi phí, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất sau và giúp doanh nghiệp tích thêm vốn đầu tư để mở rộng quy
mô
Doanh thu tăng trưởng cho thấy doanh nghiệp kinh doanh tốt, các điều kiện vĩ mô tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và tăng trưởng ổn định, giúp doanh nghiệp thu hút thêm vốn đâu tư Bên cạnh đó, doanh thu tăng trưởng giúp doanh nghiệp tích lũy được nhiều lợi nhuận nhằm phục vụ thêm vốn cho việc tích lũy
và đầu tư thêm tài sản
2.1.4.6 Chỉ số Tobin’s q
Hệ số q của Tobin (Tobin's Q) được James Tobin và William Brainard giới thiệu năm 1968 Ý tưởng của Tobin là nếu thị trường (chứng khoán) đánh giá một công ty cao hơn giá trị vật lý (physical capital) của công ty đó thì đó là tín hiệu thị trường cho rằng công ty này có triển vọng phát triển
Trang 32Khi Q lớn hơn 1, công ty sẽ đẩy mạnh đầu tư để tăng trưởng, ngược lại nếu Q nhỏ hơn 1 thì công ty sẽ hạn chế đầu tư, nghĩa là bán bớt tài sản vật chất hoặc giảm đầu tư xuống Nếu hệ số Q cao, công ty sẽ đầu tư nhiều hơn vì việc huy động thêm vốn sẽ rẻ hơn do thị giá của công ty khá cao so với chi phí huy động thêm vốn Ngược lại, nếu hệ
số Q thấp, công ty sẽ không gia tăng đầu tư
Chỉ số chịu ảnh hưởng từ điều kiện kinh tế vĩ mô của cơ quan Nhà nước và khối đầu tư nước ngoài thông qua chính sách kinh tế vĩ mô và hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt
là trong điều kiện kinh tế mở
2.1.4.7 Dòng tiền
Dòng tiền ròng (cash flow - CF): của một công ty trong khoảng thời gian (thường
là một quý hoặc một năm) bằng sự thay đổi số dư tiền mặt trong giai đoạn này: tích cực nếu gia tăng số dư tiền mặt (nhiều tiền mặt hơn), tiêu cực nếu số dư tiền mặt giảm đi Dòng tiền ròng tăng cho thấy tình trạng và biểu hiện tốt từ các chính sách của cơ quan Nhà Nước, không gây ra tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Dòng tiền ròng có quan hệ cùng chiều với đầu tư của doanh nghiệp, khi dòng tiền ròng thực tế tăng cho thấy doanh nghiệp có thêm vốn đầu tư và có thêm vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh
2.2 Các nghiên cứu trước đây
2.2.1 Bất ổn chính sách Chính phủ và đầu tư của doanh nghiệp
Bài nghiên cứu của Gulen và Ion (2015) với bài nghiên cứu Policy incertainty and
Corporate Investment cho rằng, yếu tố tác động đến đầu tư của doanh nghiệp có thể
nghiên cứu qua nhiều hướng như tổng thể bất ổn hay đi từ chính sách của Chính phủ Các chính sách nhóm tác giả đề cập ở đây bao gồm: chính sách tài khóa, chính sách
tiền tệ và an sinh xã hội
Mô hình nghiên cứu của nhóm tác giả có 441.326 quan sát trong 24 năm từ năm
1987 đến năm 2013, dữ liệu thu thập theo quý, cho 10.278 doanh nghiệp
Trang 33Phương pháp nghiên cứu định lượng, nhóm tác giả thực hiện hồi quy và kiểm định giữa các yếu tố biến độc lập với biến phụ thuộc và giữa bất ổn chính sách tổng thể với thành phần bất ổn nghiên cứu chỉ số BBD, thực hiện các kiểm định và chạy hồi quy mô hình với tổng thể các thành phần về bất ổn chính sách Chính phủ và cho từng thành
phần cấu thành nên biến bất ổn chính sách Chính phủ
Mô hình có các biến sau: biến phụ thuộc là biến đầu tư (CAPX), các biến độc lập: chính sách bất ổn (PU), chỉ số Tobin’s q, dòng tiền/tổng tài sản (CF/TA), tăng trưởng doanh thu (SG), yếu tố quý (theo mùa - QRT), thay đổi biến (tăng trưởng GDP và bầu
tỷ trọng trung bình của biến chính sách bất ổn ( cho việc dựa vào thông tin - từ khóa tìm kiếm, cho các yếu tố liên quan đến thuế và cho sự bất đồng ý kiến) Nhóm tác
giả điều chỉnh từ khóa tìm kiếm liên quan đến thị trường chứng khoán vốn và kết quả
Trang 34có độ tương quan là 0,73
Trong mô hình nghiên cứu trên, nhóm tác gỉ sử dụng biến đại diện cho thay đổi
chính sách vĩ mô, bao gồm thay đổi trong tăng trưởng GDP và thay đổi do bầu cử làm thay đổi Quốc Hội/ Chính phủ Nhóm tác giả thực hiện với biến giả cho yếu tố bẩu cử,
năm diễn ra bầu cử sẽ nhận giá trị là 1 và bằng không cho các năm còn lại
Kết quả từ nghiên cứu này thu được, các biến độc lập – các yếu tố tác động cùng chiều với đầu tư là: chỉ số Tobin’s q, dòng tiền, tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng GDP, và các biến có tác động ngược chiều với đầu tư: chính sách bất ổn, bầu cử Bên cạnh đó có biểu hiện tương quan rõ rệt của biến bầu cử tại mốc thời gian có diễn ra bầu
cử, đầu tư có mối tương quan cùng chiều ở quý đầu và tương quan ngược chiều ở các
quý còn lại
Nhóm tác giả nghiên cứu biến bất ổn chính sách dùng theo kỹ thuật thống kê số liệu
từ khóa tìm được, các tài liệu dự báo của các chuyên gia về mã số thuế và dự báo về bất ổn chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Nhóm tác giả dùng ba nội dung thành phần trên để đo lường đại diện cho biến bất ổn chính sách Kỹ thuật của biến này dựa trên nội dung thống kê và kiểm đếm số lượng từ khóa có liên quan Kiểm chứng của nhóm tác giả về kỹ thuật bóc tách bất ổn chính sách là dựa trên phần dư khi chạy hồi quy hai phương trình với giả định lý tưởng là hai nền kinh tế Mỹ và Canada có mối liên hệ với nhau, nhằm tách ảnh hưởng của bất ổn chính sách Chính phủ của Mỹ ra
khỏi bất ổn chính sách của vĩ mô
2.2.2 Tác động của bất ổn kinh tế vĩ mô lên tính thanh khoản của doanh nghiệp phi tài chính
Bài nghiên cứu của Baum và nhóm tác giả (2005) với đề tài nghiên cứu The impact
of macroeconomic uncertainty on non – financial firm’d demand for liquidity, nghiên
cứu về những thay đổi trong biến động kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến sự phân phối hiệu quả tài sản lưu động cho các doanh nghiệp phi tài chính Nhóm tác giả cho rằng bất ổn cao sẽ cản trở khả năng dự đoán chính xác các thông tin của nhà quản lý thực hiện các chính sách quản lý tiền mặt Trái lại, khi môi trường kinh tế vĩ mô ổn định hơn, nhà
Trang 35quản lý sẽ điều chỉnh tài sản theo điều kiện tương ứng Bài nghiên cứu tập trung vào câu hỏi “Tại sao doanh nghiệp nắm giữ tiền mặt vượt xa nhu cầu cần thiết, các doanh nghiệp có nhu cầu thanh khoản khác nhau trong cùng loại hình doanh nghiệp”
Bài nghiên cứu dùng dữ liệu của COMPUSTAT, dữ liệu từ năm 1970 – 2000, với 125.000 doanh nghiệp ở Mỹ, trong đó doanh nghiệp phi tài chính 4.125 doanh nghiệp, cho 127.302 quan sát Các doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu được phân thành sáu nhóm: có 25.923 doanh nghiệp thuộc nhóm tăng trưởng thấp, 25.871 doanh nghiệp tăng trưởng cao, 64.546 doanh nghiệp hạn chế về tài chính, 29.869 doanh nghiệp không hạn chế về tài chính, 38.113 doanh nghiệp thâm hụt vốn, 32.428 doanh nghiệp thâm hụt lao động Bài nghiên cứu có các nội dung: nêu ảnh hưởng của bất ổn kinh tế
vĩ mô đối với việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp phi tài chính, phân tích dữ liệu
và đưa ra kết luận và kiến nghị
Mô hình nghiên cứu:
Proxy 2: Chỉ số sản xuất công nghiệp theo tháng
Proxy 3: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) theo tháng
Proxy 4: Chỉ số chứng khoán S&P 500 theo tháng
Trang 36Các biến proxy thực hiện dựa trên ước lượng dao động từ mô hình ARCH (GARCH) để xác định mức độ bất ổn giữa hai thời điểm Đầu tiên nhóm dùng dữ liệu chuỗi thời gian cho bốn proxy nhằm để ước lượng giá trị phương sai có điều kiện Dữ liệu của các proxy sử dụng theo tháng, riêng giá trị GDP thực là giá trị thống kê theo quý, nhóm tác giả thực hiện kỹ thuật Denton (Baum, 2001) để chuyển dữ liệu từ quý sang tháng dựa trên chỉ số IPI Sau đó thực hiện ước lượng phương sai có điều kiện bằng mô hình ARCH (GARCH) cho từng proxy, gộp các giá trị để chuyển từ dữ liệu tháng về năm tương ứng Kết hợp các proxy với biến độc lập để thực hiện hồi quy theo từng nhóm doanh nghiệp được phân loại Mô hình thực hiện với các biến kiểm soát là lãi suất LIBOR ba tháng và chỉ số lạm phát đại diện cho chi phí quỹ tư nhân, thực hiện hồi quy cho từng proxy cho từng nhóm doanh nghiệp
Kết quả nghiên cứu cho thấy, những thay đổi bất ổn kinh tế vĩ mô làm thay đổi phân phối việc nắm giữ tài sản lưu động đối với các doanh nghiệp phi tài chính, được đo qua
tỷ lệ dòng tiền trên tổng tài sản Các biến đại diện cho bất ổn kinh tế vĩ mô đều có tác động tiêu cực, ngược chiều với biến phụ thuộc ở tất cả các phân nhóm đối tượng doanh nghiệp Các doanh nghiệp có tăng trưởng nhanh và các doanh nghiệp thuộc nhóm có thâm hụt vốn có độ nhạy mạnh với các biến về bất ổn kinh tế vĩ mô
2.3 Đề xuất mô hình nghiên cứu
Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu về tác động của bất ổn kinh tế vĩ mô lên đầu tư của doanh nghiệp, tác giả dùng mô hình nghiên cứu đề xuất được dựa trên hai nghiên cứu trước đó, với sự kết hợp các biến từ hai mô hình Cụ thể, tác giả dựa trên nghiên cứu của Christopher F.Baum và nhóm tác giả (2005) để ước lượng các biến đại diện cho bất ổn kinh tế vĩ mô gồm bốn biến bất ổn (kí hiệu MU): GDP thực, chỉ số sản xuất công nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng, tỷ suất sinh lợi chỉ số chứng khoán Việt Nam (VNindex)
Sau đó sử dụng kết hợp với các biến kiểm soát từ nghiên cứu của H.Gulen và M.Ion (2015) để kiểm chứng tác động của bất ổn kinh tế vĩ mô lên đầu tư của doanh nghiệp
Trang 37
= + + +
+ + + +
Cụ thể mô hình và phương pháp nghiên cứu sẽ trình bày rõ trong chương 3
Biến phụ thuộc: CAPX/TA (tỷ lệ đầu tư trên tổng tài sản)
Các biến độc lập: bất ổn kinh tế vĩ mô (MU), CF/TA (tỷ lệ dòng tiền trên tổng tài sản), chỉ số Tobin’s q, tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng GDP, biến giả bầu cử Biến độc lập được chọn làm nghiên cứu chính của đề tài là biến bất ổn kinh tế vĩ mô (MU) Các biến kiểm soát: lạm phát và lãi suất LIBOR Các biến kiểm soát này có tác động vào biến phụ thuộc như biến độc lập, nhưng sự tác động không phải là sự quan tâm chính Việc đưa hai biến kiểm soát này vào mô hình vì không thể bỏ qua sự tác động của chúng khi xem xét các tác động của các biến độc lập
Trang 38CHƯƠNG 3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mô tả dữ liệu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài Tác động của bất ổn kinh tế vĩ mô lên đầu tư của
doanh nghiệp, đề tài sử dụng dữ liệu nghiên cứu từ 313 doanh nghiệp tài chính và phi
tài chính được niêm yết từ năm 2005 đến 2015 trên Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) Mẫu dữ liệu thu thập với thời gian 11 năm từ năm 2005 đến năm 2015 Số liệu được thu thập từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các công
ty niêm yết trên sàn chứng khoán
Dữ liệu được dùng trong phân tích hồi quy của bài nghiên cứu này là dữ liệu bảng
vì là bộ dữ liệu bao gồm cả hai chiều không gian và thời gian Dữ liệu bảng kết hợp cả không gian và thời gian cung cấp nhiều thông tin hơn, nhiều bậc tự do hơn, hiệu quả hơn, phù hợp hơn cho các nghiên cứu của thay đổi
3.2 Nguồn thu thập dữ liệu
Các dữ liệu thu thập là dữ liệu thứ cấp
Các biến doanh nghiệp: đầu tư, tổng tài sản, dòng tiền được thu thập từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp niếm yết qua từng năm Dữ liệu thu thập từ trang web điện tử Vietstock.vn, Cophieu68.vn và Cafef.vn
Dữ liệu vĩ mô: các số liệu theo tháng gồm: chỉ số giá tiêu dùng – CPI, chỉ số lạm phát (INFLATION - theo giá trị phần trăm), lãi suất LIBOR ba tháng, số liệu theo năm: tăng trưởng GDP (GDP growth, theo giá trị phần trăm theo năm gốc 2010) Nhưng vì
dữ liệu lãi suất LIBOR ba tháng của Việt Nam không có dữ liệu nên dùng lãi suất BOR của Mỹ và Anh thay thế và lựa chọn LIBOR thích hợp cho bộ dữ liệu Các dữ liệu vĩ mô nêu trên được thu thập từ trang Quỹ Tiền tệ Quốc tế - International Mone-tary Fund (IMF) Dữ liệu GDP theo dữ liệu quý được thu thập từ trang Tổng cục Thống
LI-kê, GDP được thống kê theo quý không có dữ liệu thống kê theo tháng nên dùng kỹ
Trang 39thuật Denton để chuyển dữ liệu quý sang tháng dựa trên chỉ số IPI để phù hợp với bộ
dữ liệu vĩ mô Riêng dữ liệu về chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI) được thu thập từ Tổng Cục Thống Kê và Công thông tin điện tử Quốc Gia, dữ liệu theo tháng Biến đại diện cho bất ổn về suất thị trường của chỉ số chứng khoán VNindex được thu thập từ trang Cophieu68.vn
3.3 Mô hình và cách đo các khái niệm, biến nghiên cứu
3.3.1 Mô hình nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu của đề tài “Tác động bất ổn kinh tế vĩ mô đến đầu tư của
do-anh nghiệp” được kết hợp từ hai nghiên cứu H.Gulen và M.Ion (2015) và Christopher
F Baum và các tác giả (2005), với mô hình nghiên cứu như sau:
= + + + +
i: các chỉ tiêu của doanh nghiệp
t: thời điểm t (năm)
MU: macroeconomic uncertainty – bất ổn kinh tế vĩ mô được ước lượng
theo phương pháp của Baum và cộng sự (2005)
Theo mô hình trên bất ổn kinh tế vĩ mô, , được gọi là MU trong nghiên cứu này chính là phương sai có điều kiện ước lượng từ mô hình ARCH/GARCH Bốn biến đại diện cho bất ổn kinh tế vĩ mô do vậy sẽ được tính toán, bao gồm:
o : bất ổn kinh tế vĩ mô ước lượng theo GDP thực (ký hiệu là MU1 – GDP)
o : bất ổn kinh tế vĩ mô ước lượng theo chỉ số sản xuất công nghiệp (ký hiệu là MU2 – IPI)
o : bất ổn kinh tế vĩ mô ước lượng theo chỉ số giá tiêu dùng (ký hiệu là MU3 – CPI)
Trang 40o : bất ổn kinh tế vĩ mô ước lượng theo suất sinh lợi thị trường chỉ số chứng khoán VN- index (ký hiệu là MU4 – VNINDEX)
LIBOR: lãi suất liên ngân hàng
Inflation: lạm phát
TQ: chỉ số Tobin’s q của doanh nghiệp
CF: dòng tiền của doanh nghiệp
TA: tổng tài sản (total assets) của doanh nghiệp
CAPX: đầu tư của doanh nghiệp
SG: sales growth – tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp
M: thay đổi chính sách vĩ mô (macroeconomic policy) (được đại diện bởi tăng trưởng GDP và biến giả ELECTION - Bầu cử) Cụ thể, biến giả ELECTION nhận
giá trị 1 vào năm có bầu cử, và nhận giá trị 0 cho các năm còn lại
: sai số
Biến phụ thuộc: (CAPX/TA) tỷ số đầu tư trên tổng tài sản của doanh nghiệp
Các biến độc lập: bất ổn kinh tế vĩ mô (MU), CF/TA (tỷ lệ dòng tiền trên tổng tài sản), chỉ số Tobin’s q, tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng GDP, năm diễn ra bầu cử, lạm phát và lãi suất LIBOR
Biến độc lập được chọn làm nghiên cứu chính của đề tài là biến bất ổn kinh tế vĩ
mô (MU)
CAPX và CF được chia cho tổng tài sản nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của qui mô
3.3.2 Cách đo các biến
o
: là biến đầu tư của doanh nghiệp i tại thời điểm t, được đo bằng giá trị
đầu tư thuần chia cho tổng tài sản trong năm t - 1 Biến đầu tư được thu thập từ báo cáo lưu chuyển tiền tệ, và tổng tài sản thu thập từ bảng cân đối kế toán của các doanh nghiệp qua các năm tương ứng
o : Bất ổn vĩ mô của nền kinh tế Biến MU được ước lượng từ dao động của bốn biến đại diện cho các yếu tố vĩ mô quan trọng của nền kinh tế gồm: GDP thực,