1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát làng nghề truyền thống – làng gốm Bát Tràng

46 1,2K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát làng nghề truyền thống – làng gốm Bát Tràng
Tác giả GS. Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến, Nguyễn Quang Ngọc
Trường học Viện Việt Nam học và khoa học phát triển
Chuyên ngành Nghiên cứu văn hóa
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thăng Long – Hà Nội là mảnh đất có nền văn hóa lâu đời, nơi đây còn nổi tiếng với những làng thủ công mỹ nghệ bởi bàn tay tài hoa của những bậc nghệ nhân từ cổ chí kim. Các sản phẩm tài hoa của Thăng Long không những nổi tiếng trong nước mà còn bay cao, bay xa trên trường Quốc tế. Một trong những làng nghề nổi tiếng ấy là làng gốm Bát Tràng, làng gốm đã trải qua trên năm thế kỉ với nhiều thành tựu rất đáng tự hào, đó là bệ đỡ vững chắc để Bát Tràng hôm nay ngày càng tiến nhanh hơn cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của Đất Nước. Như chúng ta đã biết làng nghề phản ánh cuộc sống của cư dân nông nghiệp gắn liền với cơ chế sản xuất mùa vụ, mang đặc trưng của chế độ làng xã, trong đó bao gồm cả yếu tố dòng họ.Ở làng nghề, ngoài yếu tố sản xuất còn mang rất đậm yếu tố văn hóa và phần nào còn có những yếu tố tâm linh phù hợp. Bởi làng nghề ngoài phạm vi đơn vị sản xuất và khái niệm khu biệt bởi địa lý, nhân văn, còn có đặc trưng riêng biệt là tính cộng đồng cư trú, cộng đồng lợi ích và cộng cảm rất cao. Làng gốm Bát Tràng cũng mang đầy đủ đặc điểm của làng nghề truyền thống. Làng gốm Bát Tràng chứa đựng trong nó những yếu tố nhân văn và giá trị văn hóa truyền thống quý giá. Ngoài những yếu tố kinh tế cần được nghiên cứu phát triển thì làng gốm Bát Tràng còn là một di sản văn hóa quan trọng cần được bảo tồn và phát huy trong sự nghiệp phát triển văn hóa dân tộc và phát triển đất nước. Đó là kho tàng các kinh nghiệm, kỹ thuật, bí quyết truyền nghề từ việc sử dụng nguyên vật liệu, kỹ thuật chế tác đến chủ đề sáng tạo cho từng sản phẩm của mỗi làng nghề. Bởi vì quá trình lao động tức là quá trình sáng tạo; trong mỗi sản phẩm đơn chiếc ấy là kinh nghiệm, là kỹ thuật, là bí quyết của nghệ nhân, người thợ thủ công, và họ còn thổi vào sản phẩm ấy cả tâm hồn và ý niệm. Ví dụ, từ những tảng đất vô tri vô giác, bằng sức lao động sáng tạo, những người thợ thủ công đã tạo ra hàng vạn sản phẩm tuyệt vời, mà ở đó là tư duy, là kinh nghiệm được đúc rút qua bao thế hệ. Mỗi sản phẩm còn là khúc tuỳ hứng, khát vọng của con người và của cả cộng đồng. Đó chính là phần tồn tại vô hình cần được bảo tồn của làng nghề và sản phẩm của làng nghề - làng gốm Bát Tràng. Mặt khác, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, việc bảo tồn các giá trị văn hóa, bản sắc văn hóa của mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước đang là một vấn đề thời sự, trong đó vấn đề bảo tồn và phát huy làng nghề thủ công truyền thống đang trở thành vấn đề quan tâm của ngành văn hóa mà còn là của toàn xã hội và đặc biệt là cộng đồng cư dân, nơi hiện có các làng nghề truyền thống. Vì vậy, công tác bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể của làng nghề truyền thống là không thể thiếu khi tiến hành thành lập các khu tiểu thủ công nghiệp, cũng như trong quá trình công nghiệp hóa nông thôn. Chính vì những lí do trên nên tôi đã chọn đề tài “ Khảo sát làng nghề truyền thống – làng gốm Bát Tràng” làm đề tài nghiên cứu cho bài tiểu luận của mình.

Trang 1

A/ PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thăng Long – Hà Nội là mảnh đất có nền văn hóa lâu đời, nơi đây cònnổi tiếng với những làng thủ công mỹ nghệ bởi bàn tay tài hoa của những bậcnghệ nhân từ cổ chí kim Các sản phẩm tài hoa của Thăng Long không nhữngnổi tiếng trong nước mà còn bay cao, bay xa trên trường Quốc tế

Một trong những làng nghề nổi tiếng ấy là làng gốm Bát Tràng, lànggốm đã trải qua trên năm thế kỉ với nhiều thành tựu rất đáng tự hào, đó là bệ

đỡ vững chắc để Bát Tràng hôm nay ngày càng tiến nhanh hơn cùng với sựphát triển kinh tế - xã hội của Đất Nước

Như chúng ta đã biết làng nghề phản ánh cuộc sống của cư dân nôngnghiệp gắn liền với cơ chế sản xuất mùa vụ, mang đặc trưng của chế độ làng

xã, trong đó bao gồm cả yếu tố dòng họ.Ở làng nghề, ngoài yếu tố sản xuấtcòn mang rất đậm yếu tố văn hóa và phần nào còn có những yếu tố tâm linhphù hợp Bởi làng nghề ngoài phạm vi đơn vị sản xuất và khái niệm khu biệtbởi địa lý, nhân văn, còn có đặc trưng riêng biệt là tính cộng đồng cư trú,cộng đồng lợi ích và cộng cảm rất cao Làng gốm Bát Tràng cũng mang đầy

đủ đặc điểm của làng nghề truyền thống Làng gốm Bát Tràng chứa đựngtrong nó những yếu tố nhân văn và giá trị văn hóa truyền thống quý giá.Ngoài những yếu tố kinh tế cần được nghiên cứu phát triển thì làng gốm BátTràng còn là một di sản văn hóa quan trọng cần được bảo tồn và phát huytrong sự nghiệp phát triển văn hóa dân tộc và phát triển đất nước

Đó là kho tàng các kinh nghiệm, kỹ thuật, bí quyết truyền nghề từ việc

sử dụng nguyên vật liệu, kỹ thuật chế tác đến chủ đề sáng tạo cho từng sảnphẩm của mỗi làng nghề Bởi vì quá trình lao động tức là quá trình sáng tạo;trong mỗi sản phẩm đơn chiếc ấy là kinh nghiệm, là kỹ thuật, là bí quyết củanghệ nhân, người thợ thủ công, và họ còn thổi vào sản phẩm ấy cả tâm hồn và

Trang 2

ý niệm Ví dụ, từ những tảng đất vô tri vô giác, bằng sức lao động sáng tạo,những người thợ thủ công đã tạo ra hàng vạn sản phẩm tuyệt vời, mà ở đó là

tư duy, là kinh nghiệm được đúc rút qua bao thế hệ Mỗi sản phẩm còn làkhúc tuỳ hứng, khát vọng của con người và của cả cộng đồng Đó chính làphần tồn tại vô hình cần được bảo tồn của làng nghề và sản phẩm của làngnghề - làng gốm Bát Tràng

Mặt khác, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, việc bảo tồn các giátrị văn hóa, bản sắc văn hóa của mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗiđất nước đang là một vấn đề thời sự, trong đó vấn đề bảo tồn và phát huy làngnghề thủ công truyền thống đang trở thành vấn đề quan tâm của ngành vănhóa mà còn là của toàn xã hội và đặc biệt là cộng đồng cư dân, nơi hiện cócác làng nghề truyền thống Vì vậy, công tác bảo tồn các giá trị văn hóa phivật thể của làng nghề truyền thống là không thể thiếu khi tiến hành thành lậpcác khu tiểu thủ công nghiệp, cũng như trong quá trình công nghiệp hóa nôngthôn Chính vì những lí do trên nên tôi đã chọn đề tài “ Khảo sát làng nghềtruyền thống – làng gốm Bát Tràng” làm đề tài nghiên cứu cho bài tiểu luậncủa mình

2 Mục đích nghiên cứu

Qua việc khảo sát làng gốm Bát Tràng tôi muốn cung cấp cho bản thâncũng như mọi người vốn kiến thức cơ bản về làng nghề truyền thống – gốmBát Tràng, về địa lý, lịch sử, quy trình sản xuất đồ gốm, đặc điểm của gốmBát Tràng Nhận thấy những giá trị phi vật thể to lớn ấy sẽ giúp nâng caonhận thức của người dân trong bảo tồn và phát triển giá trị của làng nghềtruyền thống

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đây là một đề tài hấp dẫn và đầy ý nghĩa nên đã thu hút rất nhiều cácnhà nghiên cứu trong và ngoài nước, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu,tạp chí, sách báo nghiên cứu vấn đề này

Trang 3

Các công trình nghiên cứu, tạp chí sách báo liên quan như:

Cuốn sách “Gốm Bát Tràng thế kỷ XIV – XIX ”, Sách do Trung tâm Hợptác Nghiên cứu Việt Nam (nay là Viện Việt Nam học và khoa học phát triển)phối hợp với Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, biên soạn và xuất bản, tácgiả: GS Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến và Nguyễn Quang Ngọc, nhà xuấtbản Thế giới, Hà Nội

Sau Lời mở đầu, sách có 2 phần giới thiệu về trung tâm sản xuất gốm BátTràng của Bắc Việt Nam từ thế thế kỷ XIV - XIX

Phần 1: gồm 3 bài viết của 3 tác giả:

Cuốn sáchKhám phá các làng nghề ở Việt Nam” giới thiệu hơn 40làng nghề của Hà Nội và khu vực Hà Tây (cũ) do các tác giả Sylvie Fanchette

và Nicholas Stedman thực hiện từ năm 2003, một cuốn cẩm nang mới vôcùng dày dặn và đầy đủ thông tin về các làng nghề, vừa ra mắt bạn đọc với ba

ấn bản bằng tiếng Việt, Anh, Pháp Một trong nhóm tác giả này, NicholasStedman, nhà nghiên cứu, giáo viên tiếng Anh, người có tới 10 năm gắn bóvới Việt Nam, đã có cuộc trao đổi chung quanh cuốn sách

Trang 4

Theo bài “Gốm cổ Việt Nam” - tập san Nghiên cứu Huế tập Bốn năm

2002, trang 274

Kỷ yếu Hội thảo khoa học kỷ niệm 995 năm Thăng Long – Hà Nội,Nxb Hà Nội, 2005, tr295-tr299

Và còn rất nhiều công trình nghiên cứu, tạp chí viết về đề tài này Một

số trang web lien quan như:

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Khảo sát làng nghề truyền thống ở Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Vì thời gian không cho phép và do kiến thức còn hạn hẹp nên trong đề

tài “Khảo sát làng nghề truyền thống” tôi chỉ nghiên cứu trong phạm vi khảo sát “Làng nghề truyền thống – làng gốm Bát Tràng”.

5 Ý nghĩa, tính thực tiễn của đề tài

Đây là kết quả của quá trình học tập môn phương pháp nghiên cứukhoa học và phương pháp nghiên cứu khoa học trong văn hóa học, là bước tập

sự cho viết tiến hành các công trình nghiên cứu sau này Đóng góp vào nguồn

tư liệu về các làng nghề truyền thống Việt Nam nói chung, làng nghề - gốmBát Tràng nói riêng

Trang 5

Ngoaì việc đóng góp vào nguồn tư liệu về các làng nghề truyền thốngViệt Nam nói chung, làng nghề - gốm Bát Tràng nói riêng đề tài còn muốngóp một phần nhỏ bé vào việc tôn vinh làng nghề truyền thống Việt Nam.Qua đó muốn mọi người đặc biệt là giới trẻ, thế hệ con cháu biết được cái cổtruyền của cha ông ta, thấy được tài năng nghệ thuật, óc sáng tạo ấy sẽ nângcao ý thức gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa phi vật thể này.

Trang 6

B/ PHẦN NỘI DUNG

1 Vị trí làng gốm Bát Tràng

Xã Bát Tràng là tên gọi cũ của

làng Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm,

Hà Nội từ trước năm 1945 Trước đây

hơn 700 năm, người dân thôn Bát

Tràng di cư từ làng Bồ Bát (xã Bồ Xuyên và trang Bạch Bát thuộc tổng BạchBát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hóa ngoại, nay là hai thôncủa xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình), theo vua Lý Công Uẩnrời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, đến vùng đất bồi trên bờ sông Hồng, lậpphường làm nghề gốm (gạch xây dựng); lúc đầu thôn Bát Tràng được gọi làBạch Thổ Phường, Xã Bát Tràng (tức làng Bát Tràng ngày nay) thuộc tổngĐông Dư, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, tỉnh Bắc Ninh) sinh sống chủ yếubằng nghề làm gốm sứ và buôn bán và làm quan Thời nhà Hậu Lê, xã BátTràng thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc Sang thời nhàNguyễn, năm 1822 trấn Kinh Bắc đổi làm trấn Bắc Ninh, năm 1831 đổi làmtỉnh Bắc Ninh, lúc này xã Bát Tràng thuộc tổng Đông Dư, huyện Gia Lâm,phủ Thuận An Đến năm 1862 chia về phủ Thuận Thành và năm 1912 chia vềphủ Từ Sơn Từ tháng 2 đến tháng 11 năm 1949, huyện Gia Lâm thuộc vềtỉnh Hưng Yên Từ năm 1961 đến nay, huyện Gia Lâm thuộc ngoại thành HàNội Năm 1948, xã Bát Tràng nhập với xã Giang Cao và xã Kim Lan lậpthành xã Quang Minh Từ năm 1964, xã Bát Tràng được thành lập gồm 2 thônBát Tràng và Giang Cao như hiện nay

Năm 1958, nhà nước thực hiện đào sông Bắc Hưng Hải - Đại thuỷ nôngBắc Hưng Hải làm thuỷ lợi tưới tiêu cho một vùng đồng ruộng rộng lớn của 3tỉnh: Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, tạo ra thêm một con đường mới đivào xã Bát Tràng, vì vậy từ Hà Nội, có thể theo đường thuỷ từ bến Chương

Trang 7

Dương hoặc bến Phà Đen, xuôi sông Hồng đến bến Bát Tràng, cũng có thểtheo đường bộ qua cầu Chương Dương (hay cầu Long Biên) rồi theo đê sôngHồng đến dốc Giang Cao rẽ xuống Bát Tràng (khoảng 15 km) hoặc theo quốc

lộ số 5 đến Trâu Quỳ rẽ về phía tay phải theo đường liên huyện qua xã ĐaTốn đến Bát Tràng (khoảng hơn 20 km) Hoặc từ trung tâm thành phố HàNội, nếu theo đường thủy có thể xuất phát từ bến Chương Dương dọc theosông Hồng đến bến Đình Bát Tràng (cảng du lịch Bát Tràng) hoặc theo đường

bộ, qua cầu Chương Dương hoặc cầu Long Biên dọc theo tuyến đê LongBiên-Xuân Quan (đê Tả Hồng) tới Cống Xuân Quan (công trình Đại thủynông Bắc Hưng Hải) rồi rẽ tay phải đi khoảng 1 km sẽ tới Trung tâm làng cổBát Tràng Hoặc từ quốc lộ 5 rẽ vào Trâu Quỳ qua xã Đa Tốn lên đê rẽ taytrái tới 1 km tới cống Xuân Quan rồi rẽ tay phải (cách trường Đại học Nôngnghiệp I - Trâu Quỳ chỉ khoảng 7 km)

Ngày nay việc đến Bát Tràng rất thuận lợi vì từ năm 2006, công ty vậntải Hà Nội đã mở tuyến xe buýt 47 về đến Chợ Gốm Làng cổ Bát Tràng làđiểm cuối bến

Ở huyện An Lão, thành phố Hải Phòng có một xã tên gọi Bát Tranggần giống với Bát Tràng

2 Lịch sử làng gốm Bát Tràng

Gốm Bát Tràng là một dòng gốm Việt Nam có lịch sử gắn liền với việchình thành làng gốm cổ Bát Tràng từ thế kỷ XIV – XV Thời gian trôi qua đãchứng kiến nhiều giai đoạn phát triển của dòng gốm này Trong quá trình giaolưu thông thương, gốm Bát Tràng mặc dù có chịu ảnh hưởng của một số đặcđiểm gốm sứ Trung Quốc nhưng với chất đất và sự tài hoa của người Việt,gốm Bát Tràng vẫn tạo ra phong cách riêng độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc

Theo sử biên niên có thể xem thế kỷ 14-15 là thời gian hình thành làng

gốm Bát Tràng chép "Nhâm Thìn, Thiệu Phong năm thú 12 (1352) mùa thu, tháng 7, nước lớn tràn ngập, vỡ đê xã Bát, Khối, lúa má chìm ngập Khoái

Trang 8

Châu, Hồng Châu và Thuận An bị hại nhất" Xã Bát là xã Bát Tràng, xã Khối

là xã Thổ Khối, hai xã ven đê bên tả ngạn sông Nhị, tức sông Hồng ngày nay

Cũng theo Đại Việt sử ký toàn thư thì năm 1376, trong một cuộc Namchinh, đoàn chiến thuyền của vua Trần Duệ Tông xuất phát từ Thăng Long

xuôi theo sông Nhị (sông Hồng) đi qua "bến sông xã Bát" tức bến sông Hồng

thuộc xã Bát Tràng

Dư địa chí của Nguyễn Trãi chép "Làng Bát Tràng làm đồ bát chén" và còn có đoạn "Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, Huê Câu thuộc huyện Văn Giang Hai làng ấy cung ứng đồ cống cho Trung Quốc là 70 bộ bát đĩa, 200 tấm vải thâm"

Nhưng theo những câu chuyện thu thập được ở Bát Tràng thì làng gốmnày có thể ra đời sớm hơn Tại Bát Tràng đến nay vẫn lưu truyền nhữnghuyền thoại về nguồn gốc của nghề gốm như sau:

Vào thời nhà Lý, có ba vị Thái học sinh là Hứa Vinh Kiều (hay Cảo),Đào Trí Tiến và Lưu Phương Tú (hay Lưu Vĩnh Phong) được cử đi sứ BắcTống Sau khi hoàn tất sứ mệnh, trên đường trở về nước qua Thiều Châu(Quảng Đông) (hiện nay tại Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc) gặpbão, phải nghỉ lại Ở đây có lò gốm nổi tiếng, ba ông đến thăm và học đượcmột số kỹ thuật đem về truyền bá cho dân chúng quê hương Hứa Vĩnh Kiềutruyền cho Bát Tràng nước men rạn trắng Đào Trí Tiến truyền cho Thổ Hà(huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) nước men sắc màu vàng đỏ Lưu Phương

Tú truyền cho Phù Lãng (huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) nước men màu đỏmàu vàng thẫm Câu chuyện trên cũng được lưu truyền ở Thổ Hà và PhùLãng với ít nhiều sai biệt về tình tiết Nếu đúng vậy, nghề gốm Bát Tràng đã

có từ thời nhà Lý, ngang với thời Bắc Tống nghĩa là trước năm 1127

Theo ký ức và tục lệ dân gian thì trong số các dòng họ ở Bát Tràng, códòng họ Nguyễn Ninh Tràng Có ý kiến cho rằng Nguyễn Ninh Tràng là họ

Nguyễn ở trường Vĩnh Ninh, một lò gốm ở Thanh Hoá, nhưng chưa có tư liệu

Trang 9

xác nhận Gia phả một số dòng họ ở Bát Tràng như họ Lê, Vương, Phạm,Nguyễn ghi nhận rằng tổ tiên xưa từ Bồ Bát di cư ra đây (Bồ Bát là BồXuyên và Bạch Bát) Vào thời Hậu Lê khoảng cuối thế kỉ thứ 14 - đầu thế kỉ

15 và đầu thời Nguyễn, xã Bồ Xuyên và trang Bạch Bát thuộc tổng Bạch Bát,huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hoá Ngoại Ngày nay, BồXuyên và Bạch Bát là hai thôn của xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh NinhBình, vùng này có loại đất sét trắng rất thích hợp với nghề làm gốm Theotruyền thuyết và gia phả một số họ như họ Vũ ở Bồ Xuyên, ngày xưa cư dân

Bồ Bát chuyên làm nghề gốm từ lâu đời Điều này được xác nhận qua dấutích của những lớp đất nung và mảnh gốm ken dày đặc tìm thấy nhiều nơi ởvùng này

Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, Thăng Long trởthành trung tâm chính trị của nước Đại Việt Do nhu cầu phát triển của kinhthành, nhiều thương nhân, thợ thủ công từ các nơi tìm về Thăng Long hànhnghề và lập nghiệp Sự ra đời và phát triển của Thăng Long đã tác động mạnhđến hoạt động kinh tế của các làng xung quanh, trong đó có làng Bát Tràng.Đặc biệt vùng này lại có nhiều đất sét trắng, một nguồn nguyên liệu tốt để sảnxuất đồ gốm Một số thợ gốm Bồ Bát đã di cư ra đây cùng họ Nguyễn NinhTràng lập lò gốm, gọi là Bạch Thổ phường (phường Đất Trắng) Những đợt di

cư tiếp theo đã biến Bát Tràng từ một làng gốm bình thường đã trở thành mộttrung tâm gốm nổi tiếng được triều đình chọn cung cấp đồ cống phẩm cho nhàMinh

Đến nay, chưa tìm thấy tư liệu lịch sử nào xác nhận tiểu sử của ba nhânvật trên cũng như khẳng định sự hình thành của làng Những công trình khaiquật khảo cổ học trong tương lai có thể cho thấy rõ hơn bề dày lịch sử vànhững di tích của làng gốm Bát Tràng Chỉ có điều chắc chắn là gốm BátTràng xuất hiện từ rất sớm, vào giai đoạn cuối của Văn hoá Hoà Bình đầuVăn hoá Bắc Sơn Trong quá trình phát triển nghề gốm, đương nhiện có nhiều

Trang 10

quan hệ giao lưu với gốm sứ Trung Quốc và có tiếp nhận một số ảnh hưởngcủa gốm sứ Trung Quốc.

2.1 Thế kỉ 15–16

Một chiếc đỉnh bằng gốm tráng

men trang trí đắp nổi rồng và nghê do

thợ làng Bát Tràng chế tạo vào năm

1736, thời Cảnh Hưng

Chính sách của nhà Mạc đối với

công thương nghiệp trong thời gian này

là cởi mở, không chủ trương "ức

thương" như trước nên kinh tế hàng hoá

có điều kiện phát triển thuận lợi hơn;

nhờ đó, sản phẩm gốm Bát Tràng được lưu thông rộng rãi Gốm Bát Tràngthời Mạc có nhiều sản phẩm có minh văn ghi rõ năm chế tạo, tên người đặthàng và người sản xuất Qua những minh văn này cho thấy người đặt hàngbao gồm cả một số quan chức cao cấp và quý tộc nhà Mạc như công chúaPhúc Tràng, phò mã Ngạn quận công, Đà quốc công Mạc Ngọc Liễn, Mĩ quốccông phu nhân Người đặt hàng trải ra trên một không gian rộng lớn baogồm nhiều phủ huyện vùng đồng bằng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ

2.2 Thế kỉ 16–17

Sau những phát kiến địa lí cuối thế kỉ 15, nhiều nước phát triển của Tây

Âu tràn sang phương Đông Các nước Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp thành lập công ty, xây dựng căn cứ ở phương Đông để buôn bán Hoạt độngmậu dịch hàng hải khu vực Đông Nam Á vốn có lịch sử lâu đời càng trở nênsôi động, lôi cuốn các nước trong khu vực vào hệ thống buôn bán châu Á vàvới thị trường thế giới đang hình thành

Trang 11

Sau khi thành lập, nhà Minh (Trung Quốc) chủ trương cấm tư nhânbuôn bán với nước ngoài làm cho việc xuất khẩu gốm sứ nổi tiếng của TrungQuốc bị hạn chế đã tạo điều kiện cho đồ gốm Bát Tràng mở rộng thị trường ở

vùng Đông Nam Á Khi nhà Minh (Trung Quốc) bãi bỏ chính sách bế quan toả cảng (1567) nhưng vẫn cấm xuất khẩu một số nguyên liệu và mặt hàng

quan trọng sang Nhật Bản, đã tạo cho quan hệ buôn bán giữa Việt Nam vàNhật Bản đặc biệt phát triển, qua đó nhiều đồ gốm Bát Tràng được nhập cảngvào Nhật Bản

Năm 1644 nhà Thanh (Trung Quốc) tái lập lại chính sách cấm vượtbiển buôn bán với nước ngoài, cho đến năm 1684 sau khi giải phóng ĐàiLoan Trong thời gian đó, một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, trong đó

có đồ gốm Bát Tràng không bị hàng Trung Quốc cạnh tranh nên lại có điềukiện phát triển mạnh

Thế kỉ 15–17 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của ngành sản xuất gốmxuất khẩu Việt Nam, trong đó ở phía bắc có hai trung tâm quan trọng và nổitiếng là Bát Tràng và Chu Đậu-Mỹ Xá (các xã Minh Tân, Thái Tân, huyệnNam Sách, tỉnh Hải Dương) Lúc bấy giờ, Thăng Long (Hà Nội) và Phố Hiến(nay thuộc tỉnh Hưng Yên) là hai đô thị lớn nhất và cũng là hại trung tâm mậudịch đối ngoại thịnh đạt nhất của Đàng Ngoài Bát Tràng có may mắn vàthuận lợi lớn là nằm bên bờ sông Nhị (sông Hồng) ở khoảng giữa Thăng Long

và Phố Hiến, trên đường thuỷ nối liền hai đô thị này và là cửa ngõ thôngthương với thế giới bên ngoài Qua thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản, cácnước Đông Nam Á và các nước phương Tây, đồ gốm Việt Nam được bánsang Nhật Bản và nhiều nước Đông Nam Á, Nam Á

Các công ty phương Tây, nhất là Công ty Đông Ấn của Hà Lan, trong phươngthức buôn bán "từ Ấn Độ (phương Đông) sang Ấn Độ", đã mua nhiều đồ gốmViệt Nam bán sang thị trường Đông Nam Á và Nhật Bản

Trang 12

2.3 Cuối thế kỉ 17 đến đầu thế kỉ 18

Việc xuất khẩu và buôn bán đồ gốm Việt Nam ở Đông Nam Á bị giảmsút nhanh chóng vì sau khi Đài Loan được giải phóng (1684) và triều Thanhbãi bỏ chính sách cấm vượt biển buôn bán với nước ngoài Từ đó, gốm sứchất lượng cao của Trung Quốc tràn xuống thị trường Đông Nam Á và đồgốm Việt Nam không đủ sức cạnh tranh Nhật Bản, sau một thời gian đóngcửa để bảo vệ các nguyên liệu quý như bạc, đồng, đã đẩy mạnh được sự pháttriển các ngành kinh tế trong nước như tơ lụa, đường, gốm sứ mà trước đâyphải mua sản phẩm của nước ngoài

2.4 Thế kỉ 18–19

Tượng nghê bằng gốm do thợ gốm

làng Bát Tràng làm thời Cảnh Hưng

Một số nước phương Tây đi vào cuộc cách

mạng công nghiệp với những hàng hoá

mới cần thị trường tiêu thụ rộng lớn Tình

hình kinh tế đó cùng với chính sách hạn

chế ngoại thương của các chính quyền

Trịnh, Nguyễn trong thế kỉ 18 và của nhà

Nguyễn trong thế kỉ 19 đã làm cho quan hệ mậu dịch đối ngoại của Việt Nam

sa sút và việc xuất khẩu đồ gốm cũng bị suy giảm Đó là lí do khiến một sốlàng nghề gốm bị gián đoạn sản xuất (như làng gốm Chu Đậu-Mỹ Xá) GốmBát Tràng tuy có bị ảnh hưởng, nhưng vẫn giữ được sức sống bền bỉ nhờ cómột thị trường tiêu thụ rộng rãi trong nước với những đồ gia dụng, đồ thờ, đồtrang trí và gạch xây rất cần thiết cho mọi tầng lớp xã hội từ quý tộc đến dânthường Trong giai đoạn này, gốm Bát Tràng xuất khẩu giảm sút, nhưng lànggốm Bát Tràng vẫn là một trung tâm sản xuất gốm truyền thống có tiếng trongnước

Trang 13

2.5 Thế kỉ 19 đến nay

Trong thời Pháp thuộc, các lò gốm Bát Tràng tuy bị một số xí nghiệpgốm sứ và hàng ngoại nhập cạnh tranh nhưng vẫn duy trì được hoạt động bìnhthường

Sau Chiến tranh Đông Dương (1945–1954), năm 1957, 10 cá nhân làđịa chủ, con địa chủ của thôn Giang Cao(sau cải cách ruộng đất năm 1955)góp vốn thành lập công ty gốm Trường Thịnh, để sản xuất gốm sứ dân dụngphục vụ xã hội, đây là nền tảng khởi đầu cho Xí nghiệp sứ Bát Tràng Năm

1958 nhà nước làm công tư hợp doanh, chuyển đổi công ty gốm TrườngThịnh thành Xí nghiệp sứ Bát Tràng, thuê công nhân thôn Bát Tràng vào làmviệc Với cơ sở vật chất đầy đủ, nhân công Bát Tràng được thử nghiệm, thựchành, sáng tạo trên cơ sở sự chịu khó, cần cù đã tạo nên được một thế hệ cótay nghề gốm vững chãi Cùng lúc đó một số hợp tác xã như Hợp Thành(1962), đóng ở phần đất gần với xã Đa Tốn, Hưng Hà (1977), Hợp Lực(1978), Thống Nhất (1982), Ánh Hồng (1984) và Liên hiệp ngành gốm sứ(1984)Xí nghiệp X51, X54 (1988) Các cơ sở sản xuất trên cung cấp hàngtiêu dùng trong nước, một số hàng mĩ nghệ và một số hàng xuất khẩu Nhữngnghệ nhân nổi tiếng như của Bát Tràng như Đào Văn Can, Nguyễn VănKhiếu, Lê Văn Vấn, Lê Văn Cam đào tạo được nhiều thợ gốm trẻ cung cấpcho các lò gốm mới mở ở các tỉnh

Sau năm 1986 làng gốm Bát Tràng có sự chuyển biến lớn theo hướngkinh tế thị trường Các hợp tác xã lần lượt giải thể hoặc chuyển thành công ty

cổ phần, những công ty lớn được thành lập nhưng vẫn còn tồn tại nhiều tổ sảnxuất và phổ biến là những đơn vị sản xuất nhỏ theo hộ gia đình Xã Bát Tràngnay đã trở thành một trung tâm gốm lớn

Tượng hổ bằng gốm do thợ gốm

làng Bát Tràng làm thời Cảnh Hưng

Trang 14

Hiện nay, sản phẩm gốm Bát Tràng càng ngày càng phong phú và đa dạng.Ngoài các mặt hàng truyền thống, các lò gốm Bát Tràng còn sản xuất nhiềusản phẩm mới đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong Việt Nam như các loại ấmchén, bát đĩa, lọ hoa kiểu mới, các vật liệu xây dựng, các loại sứ cách điện

và các sản phẩm xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nước ngoài Sản phẩm BátTràng có mặt trên thị trường cả nước và được xuất khẩu sang nhiều nước châu

Á, châu Âu Bát Tràng cuốn hút nhiều nhân lực từ khắp nơi về sáng tác mẫu

mã mới và cải tiến công nghệ sản xuất Một số nghệ nhân đã bước đầu thànhcông trong việc khôi phục một số đồ gốm cổ truyền với những kiểu dáng vànước men đặc sắc thời Lý, Trần, Lê, Mạc

3 Quy trình sản xuất đồ gốm Bát Tràng

Để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn, xử lí và phachế đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men, và cuối cùng là nung sản phẩm Kinhnghiệm truyền đời của dân làng gốm Bát Tràng là "Nhất xương, nhì da, thứ badạc lò"

Người thợ gốm quan niệm hiện vật gốm không khác nào một cơ thểsống, một vũ trụ thu nhỏ trong đó có sự kết hợp hài hòa của Ngũ hành là kim,mộc ,thuỷ ,hoả và thổ Sự phát triển của nghề nghiệp được xem như là sựhanh thông của Ngũ hành mà sự hanh thông của Ngũ hành lại nằm trong quátrình lao động sáng tạo với những quy trình kĩ thuật chặt chẽ, chuẩn xác

3.1 Quá trình tạo cốt gốm

3.1.1 Chọn đất

Điều quan trọng đầu tiên để hình thành nên các lò gốm là nguồn đất sétlàm gốm Những trung tâm sản xuất gốm thời cổ thường là sản xuất trên cơ sở

Trang 15

khai thác nguồn đất tại chỗ Làng gốm Bát Tràng cũng vậy, sở dĩ dân làng BồBát chọn khu vực làng Bát Tràng hiện nay làm đất định cư phát triển nghềgốm vì trước hết họ đã phát hiện ra mỏ đất sét trắng ở đây Đến thế kỉ 18,nguồn đất sét trắng tại chỗ đã cạn kiệt nên người dân Bát Tràng buộc phải đitìm nguồn đất mới Không giống như tổ tiên, dân Bát Tràng vẫn định cư lại ởcác vị trí giao thông thuận lợi và thông qua dòng sông bến cảng, dùng thuyềntoả ra các nơi khai thác các nguồn đất mới Từ Bát Tràng ngược sông Hồnglên vùng Sơn Tây, Phúc Yên, rẽ qua sông Đuống, xuôi dòng Kinh Thầy đếnĐông Triều, khai thác đất sét trắng ở Hồ Lao, Trúc Thôn.

Đất sét Trúc Thôn có độ dẻo cao, khó tan trong nước, hạt mịn, màu trắng xám, độ chịu lửa ở khoảng 1650°C Thành phần hoá học (tính trung bình theo % trọng lượng) của đất sét Trúc Thôn như sau: Al203: 27,07; Si02: 55,87; Fe203 1,2; Na2O 0,7; CaO 2,57; MgO 0,78; K2O: 2,01; Ti02: 0,81 Tuy

là loại đất tốt được người thợ gốm Bát Tràng ưa dùng nhưng sét Trúc Thôn cũng có một số hạn chế như chứa hàm lượng ôxít sắt khá cao, độ ngót khi sấy khô lớn và bản thân nó không được trắng.

3.1.2 Xử lí, pha chế đất

Trong đất nguyên liệu thường có

lẫn tạp chất, ngoài ra tuỳ theo yêu cầu

của từng loại gốm khác nhau mà có thể

Trang 16

gọi là ngâm lâu để cho đất nát ra) Khi đất đã "chín" (cách gọi dân gian), đánhđất thật đều, thật tơi để các hạt đất thực sự hoà tan trong nước tạo thành mộthỗn hợp lỏng Sau đó tháo hỗn hợp lỏng này xuống bể thứ hai gọi là "bể lắng"hay "bể lọc" Tại đây đất sét bắt đầu lắng xuống, một số tạp chất (nhất là cácchất hữu cơ) nổi lên, tiến hành loại bỏ chúng.

Sau đó, múc hồ loãng từ bể lắng sang bể thứ ba gọi là "bể phơi", ngườiBát Tràng thường phơi đất ở đây khoảng 3 ngày, sau đó chuyển đất sang bểthứ tư là "bể ủ" Tại bể ủ, ôxit sắt (Fe2O3) và các tạp chất khác bị khử bằngphương pháp lên men (tức là quá trình vi sinh vật hoá khử các chất có hạitrong đất) Thời gian ủ càng lâu càng tốt

Nhìn chung, khâu xử lí đất của người thợ gốm Bát Tràng thường khôngqua nhiều công đoạn phức tạp Trong quá trình xử lí, tuỳ theo từng loại đồgốm mà người ta có thể pha thêm cao lanh ở mức độ nhiều ít khác nhau.3.1.3 Tạo dáng

Phương pháp tạo dáng cổ truyền

của người làng Bát Tràng là làm bằng

tay trên bàn xoay Trong khâu tạo

dáng, người thợ gốm Bát Tràng sử

dụng phổ biến lối "vuốt tay, be chạch"

trên bàn xoay, trước đây công việc này

thường vẫn do phụ nữ đảm nhiệm Thợ

ngồi trên một cái ghế cao hơn mặt bàn

rồi dùng chân quay bàn xoay và tay

vuốt đất tạo dáng sản phẩm Đất trước khi đưa vào bàn xoay được vò cho thậtnhuyễn, cuốn thành thoi rồi ném ("bắt nẩy") để thu ngắn lại Sau đó người tađặt vào mà giữa bàn xoay, vỗ cho đất dính chặt rồi lai nén và kéo cho đấtnhuyễn dẻo mới "đánh cử" đất và "ra hương" chủ yếu bằng hai ngón tay bênphải Sau quá trình kéo đất bằng tay và bằng sành tới mức cần thiết người thợ

Trang 17

sẽ dùng sành dan để định hình sản phẩm Sản phẩm "xén lợi" và "bắt lợi"xong thì được cắt chân đưa ra đặt vào "bửng" Việc phụ nữ sử dụng bàn xoayvuốt tạo dáng ban đầu của sản phẩm là công việc bình thường phổ biến ở mỗi

lò gốm cổ Việt Nam (không chỉ riêng Bát Tràng) nhưng lại rất xa lạ với một

số người thợ gốm phương Tây Tuy thế, kĩ thuật này đã mất dần và hiện naykhông còn mấy người thợ gốm Bát Tràng còn có thể làm được công việc nàynữa "Be chạch" cũng là một hình thức vuốt sản phẩm trên bàn xoay nhẹ đà vàchủ yếu do thợ đàn ông đảm nhiệm

Người thợ "đắp nặn" gốm là người thợ có trình độ kĩ thuật và mĩ thuậtcao Có khi họ đắp nặn một sản phẩm gốm hoàn chỉnh, nhưng cũng có khi họđắp nặn từng bộ phận riêng rẽ của một sản phẩm và sau đó tiến hành chắpghép lại Hiện nay theo yêu cầu sản xuất gốm công nghiệp hay mĩ nghệ, nghệnhân gốm có thể đắp nặn một sản phẩm mẫu để đổ khuôn thạch cao phục vụcho việc sản xuất hàng loạt

Việc tạo hình sản phẩm gốm theo khuôn in (khuôn thạch cao hay khuôngỗ) được tiến hành như sau: đặt khuôn giữa bàn xoay, ghim chặt lại, láng lòngkhuôn rồi ném mạnh đất in sản phẩm giữa lòng khuôn cho bám chắc chân, vétđất lên lợi vành, quay bàn xoay và kéo cán tới mức cần thiết đề tạo sản phẩm.Ngày nay người làng gốm Bát Tràng sử dụng phổ biến kĩ thuật "đúc" hiện vật.Muốn có hiện vật gốm theo kĩ thuật đúc trước hết phải chế tạo khuôn bằngthạch cao Khuôn có cấu tạo từ đơn giản đến phức tạp Loại đơn giản là khuônhai mang, loại phức tạp thì thường cớ nhiều mang, tuỳ theo hình dáng của sảnphẩm định tạo Cách tạo dáng này trong cùng một lúc có thể tạo ra hàng loạtsản phẩm giống nhau, rất nhanh và giản tiện Ngoài ra người ta còn dùngphương pháp đổ rót: đổ "hồ thừa" hay "hồ đầy" để tạo dáng sản phẩm

Trang 18

3.1.4 Phơi sấy và sửa hàng mộc

hiện vật trên giá và để

nơi thoáng mát Ngày nay phần nhiều các gia đình sử dụng biện pháp sấy hiệnvật trong lò sấy, tăng nhiệt độ từ từ để cho nước bốc hơi dần dần

Sản phẩm mộc đã định hình cần đem "ủ vóc" và sửa lại cho hoàn chỉnh.Người thợ gốm đặt sản phẩm vào mà trên bàn xoay nhẹ đà rồi vừa xoay bànxoay vừa đẩy nhẹ vào chân vóc cho cân, dùng dùi vỗ nhẹ vào chân "vóc" chođất ở chân "vóc" chặt lại và sản phẩm tròn trở lại (gọi là "lùa") Người thợgốm tiến hành các động tác cắt, gọt chỗ thừa, bồi đắp chỗ khuyết, chắp các bộphận của sản phẩm (như vòi ấm, quai tách ), khoan lỗ trên các sản phẩm, tỉalại đường nét hoa văn và thuật nước cho mịn mặt sản phẩm Những sản phẩmsửa lại mà không dùng bàn xoay thì gọi là "làm hàng bộ", phải dùng bàn xoaythì gọi là "làm hàng bàn"

Theo yêu cầu trang trí, có thể đắp thêm đất vào một vài vùng nào đótrên sản phẩm rồi cắt tỉa để tạo hình (đắp phù điêu), có khi phải khắc sâu cáchoạ tiết trang trí trên mặt sản phẩm

3.2 Quá trình trang trí hoa văn và phủ men

Trang 19

nghề cao, hoa văn học

tiết phải hài hoà với

dáng gốm, các trang trí

hoạ tiết này đã nâng nghề gốm lên mức nghệ thuật, mỗi cái là một tác phẩm.Thợ gốm Bát Tràng cũng đã dùng rất nhiều hình thức trang trí khác, có hiệuquả nghệ thuật như đánh chỉ, bôi men chảy màu, vẽ men màu

Gần đây, Bát Tràng xuất hiện kĩ thuật vẽ trên nền xương gốm đã nung

sơ lần 1 hoặc kĩ thuật hấp hoa, một lối trang trí hình in sẵn trên giấy decal,

nhập từ nước ngoài Hai kiểu này tuy đẹp nhưng không phải là truyền thốngcủa Bát Tràng Những loại này không được coi là nghệ thuật và sáng tạotrong di sản gốm Bát Tràng, cũng như gốm Việt Nam nói chung

3.2.2 Chế tạo men

Men tro là men đặc sắc của gốm Bát Tràng, ngoài ra còn có men màunâu, thành phần loại men này bao gồm men tro cộng thêm 5% đá thối (hỗnhợp ôxít sắt và ôxít mangan lấy ở Phù Lãng, Hà Bắc) Từ thế kỉ 15 thợ gốmBát Tràng đã từng chế tạo ra loại men lam nổi tiếng Loại men này được chế

từ đá đỏ (có chứa ôxít côban) đá thối (chứa ôxít mangan) nghiền nhỏ rồi trộnvới men áo Men lam phát màu ở nhiệt độ 1250°C Đầu thế kỉ 17 người BátTràng dùng vôi sống, tro trấu và cao lanh chùa Hội (thuộc Bích Nhôi, KinhMôn, Hải Dương) có màu hồng nhạt điều chế thành một loại men mới là menrạn

Trang 20

Thợ gốm Bát Tràng thường quen sử dụng cách chế tạo men theophương pháp ướt bằng cách cho nguyên liệu đã nghiền lọc kĩ trộn đều vớinhau rồi khuấy tan trong nước đợi đến khi lắng xuống thì bỏ phần nước trong

ở trên và bã đọng ở dưới đáy mà chỉ lấy các "dị" lơ lửng ở giữa, đó chính làlớp men bóng để phủ bên ngoài đồ vật Trong quá trình chế tạo men người thợgốm Bát Tràng nhận thấy để cho men dễ chảy hơn thì phải chế biến bột tronhỏ hơn nhiều so với bột đất, vì thế mà có câu "nhỏ tro to đàn"

3.2.3 Tráng men

Khi sản phẩm mộc đã hoàn chỉnh, người thợ gốm có thể nung sơ bộ sảnphẩm ở nhiệt độ thấp rồi sau đó mới đem tráng men hoặc dùng ngay sảnphẩm mộc hoàn chỉnh đó trực tiếp tráng men lên trên rồi mới nung Người thợgốm Bát Tràng thường chọn phương pháp tráng men trực tiếp lên trên sảnphẩm mộc hoàn chỉnh Sản phẩm mộc trước khi đem tráng men phải đượclàm sạch bụi bằng chổi lông Những sản phẩm mà xương gốm có màu trướckhi tráng men phải có một lớp men lót để che bớt màu của xương gốm, đồngthời cũng phải tính toán tính năng của mỗi loại men định tráng nên từng loạixương gốm, nồng độ men, thời tiết và mức độ khó của xương gốm Kĩ thuậttráng men có nhiều hình thức như phun men, dội men nên bề mặt cốt gốm cỡlớn, nhúng men đối với loại gốm nhỏ nhưng thông dụng nhất là hình thứcláng men ngoài sản phẩm, gọi là "kìm men", và khó hơn cả là hình thức "quaymen" và "đúc men" Quay men là hình thức tráng men bên trong và bên ngoàisản phẩm cùng một lúc, còn đúc men thì chỉ tráng men trong lòng sản phẩm.Đây là những thủ pháp tráng men của thợ gốm Bát Tràng, vừa là kĩ thuật vừa

là nghệ thuật, được bảo tồn qua nhiều thế hệ, thậm chí đã từng là bí quyếttrong nghề nghiệp ở đây

Trang 21

3.2.4 Sửa hàng men

Người thợ

gốm tiến hành tu

chỉnh lại sản phẩm

lần cuối trước khi

đưa vào lò nung

Trước hết phải xem

kĩ từng sản phẩm

một xem có chỗ nào

khuyết men thì phải

bôi quệt men vào các vị trí ấy Sau đó họ tiến hành "cắt dò" tức cạo bỏ nhữngchỗ dư thừa men, công việc này gọi là "sửa hàng men"

3.3 Quá trình nung

Khi công việc chuẩn bị hoàn tất thì đốt lò trở thành khâu quyết định sựthành công hay thất bại của một mẻ gốm Vì thế giờ phút nhóm lò trở nênthiêng liêng trọng đại với người thợ gốm Người thợ cả cao tuổi nhất thắp banén hương và thành kính cầu mong trời đất và thần lửa phù giúp Việc làmchủ ngọn lửa theo nguyên tắc nâng dần nhiệt độ để lò đạt tới nhiệt độ cao nhất

và khi gốm chín thì lại hạ nhiệt độ từ từ chính là bí quyết thành công của khâuđốt lò

Trước đây người thợ gốm Bát Tràng chuyên sử dụng các loại lò như lòếch (hay lò cóc), lò đàn và lò bầu để nung gốm, sau này, xuất hiện thêm nhiềuloại lò nung khác, càng ngày càng hiện đại và đơn giản trong việc thao táchơn

Trang 22

3.3.1 Lò nung

Lò ếch là kiểu lò gốm cổ

nhất được sử dụng một cách

phổ biến ở khắp mọi nơi, hiện

nay mất hết dấu tích nhưng qua

các nguồn tư liệu gián tiếp vẫn

có thể hình dung được lò có

hình dáng giống như một con

ếch dài khoảng 7 mét, bề ngang

chỗ rộng nhất khoảng 3-4 mét,

cửa lò rộng khoảng 1,2 mét,

cao 1 mét Đáy lò phẳng nằm

ngang, vòm lò cao khoảng từ 2

mét đến 2,7 mét Bên hông lò có một cửa ngách rộng 1 mét, cao 1,2 mét phục

vụ cho việc chồng lò và dỡ sản phẩm Lò có 3 ống khói thẳng đứng cao 3-3,5mét Trong mỗi bầu lò người ta chia thành 5 khu vực xếp sản phẩm là: hàngdàn, hàng gáy, hàng giữa, hàng chuột chạy và hàng mặt

Trong quá trình lâu dài sử dụng lò ếch, để khắc phục nhược điểm của lớp đấtgia cố bên trong và sàn lò, người ta thay vào đó lớp gạch mộc và vữa ghép lại

Lò đàn xuất hiện vào giữa thế kỉ 19 Lò đàn có bầu lò dài 9 mét, rộng

2,5 mét, cao 2,6 mét được chia thành 10 bích bằng nhau Vị trí phân cách giữacác bích là hai nống (cột) Cửa lò rộng 0,9 mét, cao l mét Bích thứ 10 gọi làbích đậu thông với buồng thu khói qua 3 cửa hẹp Để giữ nhiệt, bích lò kéodài và ôm lấy buồng thu khói Lớp vách trong ghép gạch Bát Tràng, lớp váchngoài xây bằng gạch dân dụng Mặt dưới của cật lò gần như bằng phẳng cònmặt trên hình vòng khum Hai bên cật lò từ bích thứ 2 đến bích thứ 9 người tadấu mở hai cửa nhỏ hình tròn, đường kính 0,2 mét gọi là các lỗ giòi để ném

Trang 23

nhiên liệu vào trong bích Riêng bích đậu người ta mở lỗ đậu (lỗ giòi rộnghơn nửa mét) Nhiệt độ lò đàn có thể đạt được 1250–1300°C.

Lò bầu, hay lò rồng, xuất hiện vào đầu thế kỉ 20 Lò bầu chia ra làm

nhiều ngăn, thường có từ 5 đến 7 bầu (cũng có khi đến 10 bầu) Bầu lò cóvòm cuốn liên tiếp vuông góc với trục tiêu của lò tựa như những mảnh vỏ sò

úp nối với nhau Người ta dùng gạch chịu lửa đề xây dựng vòm cuốn của lò

Lò dài khoảng 13 mét cộng với đoạn để xây ống khói ở phía đuôi dài 2 métthì toàn bộ độ dài của lò tới 15 mét Độ nghiêng của trục lò khoảng 12-15⁰.Nhiệt độ của lò bầu có thể đạt tới 1300°C

Lò hộp hay lò đứng: Khoảng năm 1975 trở lại đây người Bát Tràng

chuyển sang xây dựng lò hộp để nung gốm Lò thường cao 5 mét rộng 0,9mét, bên trong xây bằng gạch chịu lửa giống như xây tường nhà Lò mở haicửa, kết cấu đơn giản, chiếm ít diện tích, chi phí xây lò không nhiều, tiện lợicho quy mô gia đình Vì thế hầu như gia đình nào cũng có lò gốm, thậm chímỗi nhà có đến 2, 3 lò Nhiệt độ lò có thể đạt 1250°C

Lò con thoi (hay lò gas), lò tuynen (lò hầm, lò liên tục): Trong những

năm gần đây, Bát Tràng xuất hiện thêm những kiểu lò hiện đại là lò con thoi,hoặc lò tuynen, với nhiên liệu là khí đốt hoặc dầu Trong quá trình đốt, nhiệt

độ được theo dõi qua hỏa kế, việc điều chỉnh nhiệt độ mà thực chất là quátrình tăng giảm nhiên liệu được thực hiện bán tự động hoặc tự động, côngviệc đốt lò trở nên đơn giản hơn nhiều Tuy nhiên, đây không phải là những lòtruyền thống của Bát Tràng

3.3.2 Bao nung

Trước đây, các lò gốm Bát Tràng dùng một loại gạch vuông ghép lạilàm bao nung Loại gạch này sau hai ba lần sử dụng trong lò đạt đến độ lửacao và cứng gần như sành (đó chính là gạch Bát Tràng nổi tiếng)

Ngày đăng: 23/08/2013, 08:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Thế kỉ 14–15: Hình thức trang trí trên gốm Bát Tràng bao gồm các kiểu như khắc chìm, tô men nâu theo kĩ thuật gốm hoa nâu thời Lý–Trần, kết hợp với chạm nổi và vẽ men lam - Khảo sát làng nghề truyền thống – làng gốm Bát Tràng
h ế kỉ 14–15: Hình thức trang trí trên gốm Bát Tràng bao gồm các kiểu như khắc chìm, tô men nâu theo kĩ thuật gốm hoa nâu thời Lý–Trần, kết hợp với chạm nổi và vẽ men lam (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w