1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện chi nhánh thừa thiên huế

134 699 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Bưu Điện Chi Nhánh Thừa Thiên Huế
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Huế
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2007
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 855,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thạc sĩ, tiến sĩ, chuyên đề, luận văn, khóa luận, đề tài

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

Sau hơn 14 năm đổi mới và mở cửa (1993-2007), thị trường Bảo hiểm Việt Nam nói chung và thị trường Bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng đã có những bước phát triển vượt bậc, với 23 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đã tham gia đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế, góp sức ổn định và phát triển kinh tế-xã hội Tuy nhiên, trước ngưỡng cửa Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), thị trường Bảo hiểm Việt nam đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong những năm vừa qua được đánh giá là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong nền kinh tế quốc dân Đây cũng là lĩnh vực luôn được các nhà đầu tư nước ngoài chấm điểm là "lĩnh vực có tiềm năng rất lớn"

Có thể nói bảo hiểm thúc đẩy sự ổn định tài chính và giảm bớt các nỗi lo âu

về tinh thần, có thể thay thế cho các chương trình đảm bảo xã hội do Nhà nước thực

hiện, thúc đẩy các hoạt động thương mại Dịch vụ này cũng là kênh huy động vốn tiết kiệm quan trọng cho đầu tư phát triển, là công cụ hữu hiệu để quản lý rủi ro Các doanh nghiệp bảo hiểm góp phần thúc đẩy việc phân bổ một cách có hiệu quả hơn những nguồn vốn trong một quốc gia

Ngày nay, nhận thức và nhu cầu về dịch vụ bảo hiểm của người dân và các doanh nghiệp ngày càng được cải thiện theo sự phát triển của nền kinh tế Mặt khác do các biến cố như thiên tai, tai nạn giao thông, phá vỡ hợp đồng kinh doanh xảy ra thường xuyên nên sự quan tâm của người dân và các doanh nghiệp đến dịch vụ bảo hiểm ngày càng cao

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Thị trường bảo hiểm ở Việt Nam đang là mảnh đất màu mở, là thị trường có tiềm năng đầy hứa hẹn để các doanh nghiệp phát triển Đó là, nền kinh tế sẽ tăng trưởng với tốc độ trên 8%/năm; các ngành kinh tế như: Thương mại, hàng không, du lịch, khai thác và vận tải biển sẽ tăng tốc mạnh; lộ trình cổ phần hoá các doanh nghiệp

Trang 2

nhà nước sẽ kết thúc vào năm 2009, số lượng các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài tăng, trong đó tập quán mua bảo hiểm để an toàn trong kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài sẽ lan rộng trong khối kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, thu nhập của người lao động ngày càng gia tăng lên, năm 2006, thu nhập bình quân đầu người đạt 720 USD, vào năm 2007, dự kiến sẽ tăng là 820 USD Ngoài ra, cơ chế quản lý Nhà nước

về bảo hiểm ngày càng hoàn thiện hơn, tạo cơ sở vững chắc cho các thị trường bảo hiểm hoạt động lành mạnh

Theo cam kết mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam, các doanh nghiệp bảo hiểm của nước ngoài được cấp phép vào Việt Nam với họat động dịch vụ bảo hiểm cho các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam Ngoài

ra, họ còn được cung cấp dịch vụ tái bảo hiểm, vận tải quốc tế, môi giới bảo hiểm, tư vấn, tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường cho thị trường bảo hiểm Việt Nam Điều đáng lo ngại nhất là các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài không cần thành lập doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam cũng có thể vươn cánh tay của mình vào khai thác thị trường bảo hiểm Việt nam theo cam kết WTO Trong khi năng lực bảo hiểm của Việt Nam vẫn còn một khoảng cách nhất định với nhiều nước trên thế giới, nhất là về tài chính, công nghệ, con người và chất lượng dịch vụ Đây quả là điều đáng lo ngại!

Bên cạnh đó, trong năm 2007, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục mở cửa thị trường bảo hiểm, số doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ không dừng lại ở mức 23 công ty như hiện nay, khi có nhiều công ty mới ra đời, sự cạnh tranh trên thị trường sẽ quyết liệt hơn Cạnh tranh sẽ diễn ra trên quy mô rộng hơn và mức độ gay gắt hơn Trước hết là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam cả về sản phẩm bảo hiểm, chất lượng phục vụ, nguồn nhân lực và phát triển kênh phân phối sản phẩm Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam với các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài về cung cấp sản phẩm bảo hiểm trong khuôn khổ đã cam kết tại WTO cũng gay gắt không kém

Với sự ra đời ngày càng nhiều các doanh nghiệp bảo hiểm đã làm cho cuộc canh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm trong và ngoài nước ngày càng diễn ra gay gắt

Trang 3

và khốc liệt hơn Để có thể tồn tại và phát triển một cách bền vững, các doanh nghiệp cần nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Hơn bao giờ hết, nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập là vấn đề cấp thiết đang đặt ra cho Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện Chi nhánh Thừa Thiên Huế (PTI Huế) để có thể khẳng định hơn nữa vị thế của mình trên thị trường.

Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, tôi chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện Chi nhánh Thừa Thiên Huế” làm đề tài nghiên cứu

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu, đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty CP Bảo hiểm Bưu điện Chi nhánh Thừa Thiên Huế

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm

- Đánh giá thực trạng, hiệu quả họat động và năng lực cạnh tranh của Công ty

CP Bảo hiểm Bưu điện từ tháng 05/2005 đến năm 2007; Phát hiện những thế mạnh

và hạn chế của công ty trên thị trường Thừa Thiên Huế

- Đề xuất các định hướng và biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh để phát triển Công ty CP Bảo hiểm Bưu điện trên thị trường Thừa Thiên Huế

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: năng lực cạnh tranh của 5 nhà cung cấp Bảo Việt, Bảo Minh, PJICO, PTI, Viễn Đông trên thị trường Thừa Thiên Huế: giá cả, sản phẩm, kênh phân phối, thị phần, đánh giá của người tiêu dùng về dịch vụ đối với 5 công ty bảo hiểm

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu, giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Bảo hiểm Bưu điện so với 4 công ty: Bảo Việt, Bảo Minh, PJICO, Viễn Đông tại Thừa Thiên Huế

Trang 4

Từ các chỉ tiêu thu thập này tiến hành phân tích, tìm ra các nhân tố ảnh hưởng

và đề xuất các biện pháp giải quyết chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh Công

ty CP Bảo hiểm Bưu điện Chi nhánh Thừa Thiên Huế

- Phạm vi về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Công ty CP Bảo hiểm Bưu điện Thừa Thiên Huế

- Phạm vi về thời gian: các tài liệu phục vụ đánh giá hiện trạng được thu thập trong khoảng thời gian từ 05/2005 đến năm 2007, các cơ chế, chính sách, định hướng giải pháp xây dựng, đề xuất cho các năm đến 2010 và định hướng đến năm 2020

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục đích của đề tài, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu

4.1.1 Số liệu thứ cấp

Các số liệu và thông tin về hoạt động kinh doanh của đơn vị được thu thập từ các báo cáo qua các năm của Bảo hiểm bưu điện Chi nhánh Huế như: Báo cáo tổng kết, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo kế toán cũng như các tài liệu hiện có về dịch vụ bảo hiểm đã được đăng tải trên các báo, tạp chí và trên internet…

4.1.2 Số liệu sơ cấp

- Việc điều tra nguồn số liệu sơ cấp được tiến hành trên cơ sở khảo sát thực tế, điều tra thu thập ý kiến của các khách hàng đã mua bảo hiểm của PTI Huế Thang điểm Likert (từ 1 đến 5 theo mức độ tăng dần) được sử dụng để lượng hoá các mức

độ đánh giá về chất lượng dịch vụ, phí bảo hiểm, thái độ và phong cách của nhân viên cũng như mức độ hài lòng của khách hàng đối với PTI Huế Trên cơ sở đó, đưa

ra những giải pháp phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm đạt được những mục tiêu của PTI đã đề ra Các thông tin cần thiết cho quá trình nghiên cứu được thiết lập thông qua phiếu thăm dò ý kiến khách hàng (Phụ lục 01)

- Phương pháp chọn mẫu mà luận văn này sử dụng là phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Trên cơ sở khách hàng hiện đang mua bảo hiểm của PTI Huế theo số liệu

Trang 5

thống kê của Chi nhánh là 763 khách hàng doanh nghiệp và các khách hàng cá nhân; chúng tôi chọn mẫu ngẫu nhiên và phỏng vấn, điền vào bảng câu hỏi của Phiếu tham

dò tất cả là 107 khách hàng Cơ cấu mẫu điều tra được phân tổ theo các tiêu thức như đối tượng khách hàng, độ tuổi, giới tính, trình độ, thu nhập…(Phụ lục 02)

- Phương pháp tiến hành khảo sát điều tra: tiếp cận trực tiếp, phỏng vấn và điền vào bảng câu hỏi Các khách hàng được tiến hành phỏng vấn hoặc nghiên cứu điền vào bảng câu hỏi thông qua các cán bộ khai thác, các đại lý Các khách hàng được phát phiếu tham dò là những khách hàng tham gia bảo hiểm tại PTI Huế và đã xảy ra tổn thất Trong một số trường hợp, chúng tôi gửi Phiếu tham dò cho khách hàng nghiên cứu điền vào và đề nghị gửi trả lại qua đường bưu điện

Thời gian tiến hành điều tra phỏng vấn từ ngày 10/01/2008 đến ngày 10/04/2008 Trong quá trình tiếp cận và tiến hành điều tra, có một số khách hàng còn cung cấp thông tin một cách sơ sài, không đầy đủ, thậm chí thiếu chính xác Vì vậy, những đánh giá của khách hàng trong luận văn này được xem là những đánh giá có tính chất về xu hướng hơn là tính chính xác tuyệt đối

Kết quả thu thập thông tin về quan hệ giao dịch của khách hàng tham gia bảo hiểm của PTI Huế được tổng hợp ở Phụ lục 03

4.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu thống kê

Trên cơ sở các tài liệu đã được tổng hợp, vận dụng các phương pháp phân tích thống kê như số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân gia quyền, lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn, tốc độ phát triển liên hoàn, tốc độ tăng (giảm) liên hoàn, phương pháp dãy số theo thời gian và phương pháp so sánh để phân tích kết quả hoạt động kinh doanh qua các năm nhằm đáp ứng được mục đích nghiên cứu của đề tài đặt ra

Các phương pháp phân tích, xử lý số liệu thống kê được thực hịên nhờ vào dụng cụ tin học Toàn bộ việc xử lý số liệu được tiến hành trên chương trình phần mềm SPSS 15.0 và Excel Trong nghiên cứu này sử dụng thang điểm Likert gồm 5 mức được sử dụng để người được phòng vấn lựa chọn

Bảng 1.1: Thang đo Liker 5 mức độ

Trang 6

Thang đo 1 2 3 4 5

Đánh giá của khách

hàng

Rất không hài lòng

Không hài lòng Bình thường

Hài lòng

Rất hài lòng

4.2.1 Kiểm định phân phối chuẩn của các biến phân tích

Tiêu chuẩn Kolmogow – Smirnov được sử dụng để kiểm định giả thiết phân

bổ của dữ liệu có phù hợp với phân bố lý thuyết Kết quả kiểm định phân phối chuẩn

sử dụng tiêu chuẩn Kolmogow – Smirnov cho các biến điều tra (16 biến) được trình bày ở Phụ lục 04 Kết quả cho thấy: Mức ý nghĩa quan sát (Observed Significase Level) viết tắt là Sig trong phụ lục 04 cho thấy các biến điều tra đều có Sig nhỏ hơn 1/1000 với mức α đặt làm cơ sở phân tích là 0.05

Mặt khác, giá trị lệch về bên trái Skewness và giá trị lệch về bên phải Kurtosis của tất cả các biến đều ở trong mức giá trị cho phép với giá trị tuyệt đối nhỏ hơn hoặc bằng 2 Do đó tất cả các biến điều tra phân tích đều thỏa mãn về kiện phân phối chuẩn với sự thỏa mãn về điều kiện này việc phân tích số liệu đa biến là hoàn toàn

có thể tiến hành được

4.2.2 Kiểm định độ tin cậy của các biến số phân tích với hệ số Cronbach’s Alpha

Để kiểm định độ tin cậy của số liệu điều tra, chúng tôi tiến hành kiểm tra mức

độ tin cậy của các thông tin từ những khách hàng được hởi bằng hệ số Cronbach’s Alpha Khi đánh giá hệ số Cronbach’s Alpha, biến nào có hệ số tương quan biến tổng (Item – total correclation) nhỏ hơn 0,3 sẽ bị loại và tiêu chuẩn để lựa chọn thang đo là

hệ số Cronbach’s Alpha của thành phần lớn hơn 0.6 Tiến hành kiểm định SPSS, ta

có kết quả phân tích độ tin cậy của các biến số phân tích đối với khách hàng được trình bày ở Phụ lục 05

Tại Phụ lục 05 ta cũng thấy rằng tất cả các hệ số Cronbach’s Alpha cho từng câu hỏi phân tích điều đạt hệ số cao hơn 0,8 Đồng thời các câu hỏi đều có hệ số tương quan biến tổng Item – Total Correlation lớn hơn 0,3 Hơn nữa, hệ số Cronbach’s Alpha toàn bộ các câu hỏi cần phân tích có giá trị là 0,902 là rất cao Vì

Trang 7

vậy, ta có thể kết luận rằng các thông tin điều tra thu thập qua quá trình phỏng vấn là khá đầy đủ và đáng tin cậy để sử dụng trong nghiên cứu.

Ngoài các phương pháp phân tích thống kê đã nêu ở trên, trong luận văn còn

sử dụng phương pháp phân tích phương sai ANOVA để kiểm định sự khác nhau về gía trị trung bình (điểm bình quân gia quyền về tỷ lệ ý kiến đánh giá của khách hàng theo thang điểm Liker) Ý kiến đánh giá của các nhóm khách hàng (khách hàng là doanh nghiệp hay cá nhân, khách hàng tham gia loại hình bảo hiểm ôtô hay bảo hiểm con người) được phân tổ theo từng tiêu thức khác nhau có hay không có sự khác biệt khi trả lời các câu hỏi phỏng vấn Từ đó, đưa ra các ứng xử phù hợp đối với từng nhóm khách hàng cụ thể

PHẦN II

Trang 8

NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ

THỰC TIỄN CỦA DỊCH VỤ BẢO HIỂM

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh

1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh [26]

Các học thuyết kinh tế thị trường, dù trường phái nào điều thừa nhận rằng: cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nơi mà cung - cầu và giá cả hàng hoá là những nhân tố cơ bản của thị trường, là đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường, cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường

Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, do cách tiếp cận khác nhau, nên có các quan điểm khác nhau về cạnh tranh, đặc biệt là phạm vi của thuật ngữ này Có thể dẫn ra như sau:

Cuốn Từ điển rút gọn về kinh doanh đã định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình định giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” [1]

Theo cuốn kinh tế học của P.Samuelson thì “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trừơng” [24]

Theo các tác giả của cuốn Các vần đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh

tranhvà kiểm soát độc quyền kinh doanh thì: “Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể” [34]

Ngoài ra, còn có thể dẫn ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh… Song qua các định nghĩa trên có thể tiếp cận về cạnh tranh như sau:

Trang 9

Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự.

Thứ hai, mục đích của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà các bên điều muốn giành giật, mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao

Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh

Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều cách khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm, dịch

vụ, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm, dịch vụ, cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm, cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt, cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán…

Với cách tiếp cận trên, khái niệm cạnh tranh có thể được hiểu như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất cho mình với mục đích cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận

1.1.1.2 Những thuật ngữ liên quan khái niệm cạnh tranh [26]

- Xét theo tính chất của phương thức cạnh tranh:

+ Cạnh tranh lành mạnh là biện pháp cạnh tranh phù hợp với luật pháp, tập

quán, đạo đức kinh doanh [26]

+ Cạnh tranh không lành mạnh là biện pháp cạnh tranh bằng những thủ

đoạn chú không phải vươn lên bằng nổ lực của chính mình [26]

- Xét theo hình thái của cạnh tranh:

+ Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh trong đó giá cả của một loại

hàng hoá là không thay đổi trong toàn bộ địa danh của thị trường, bởi vì người mua, người bán đều biết tường tận về các điều kiện của thị trường [26]

+ Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong

các ngàng sản xuất mà ở đó người bán hoặc sản phẩm có đủ sức mạnh và thế lực có

Trang 10

thể chi phối được giá cả sản phẩm của mình trên thị trường Trong cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: [26]

+ Độc quyền nhóm là hình thái thị trường mà trong đó chỉ có một số ít các

nhà sản xuất, mỗi người đều nhận thức được rằng giá cả của mình không chỉ phụ thuộc vào hoạt động của các nhà cạnh tranh quan trọng trong ngành đó [26]

+ Cạnh tranh mang tính độc quyền là hình thái thị trường có nhiều người

bán sản xuất ra những sản phẩm có thể dễ dàng thay thế cho nhau [26]

- Cạnh tranh tự do: Một nền kinh tế trong đó hoàn toàn không có sự can thiệp

của Nhà nước và giá cả đều được tự do biến động theo tác động của luật cung cầu [3]

- Cạnh tranh phi giá cả: Một tình huống thị trường khi những người bán trên

tư cách là những đối thủ của nhau ra sức cạnh tranh giành giật thị trường không phải bằng cách hạ thấp giá cả mà bằng cách tạo ra những yếu tố hấp dẫn khách hàng chẳng hạn như làm cho sản phẩm có chất lượng tốt hơn, bao bì đóng gói tốt hơn, được bày bán ở những nơi thuận tiện hơn cho người mua, có các dịch vụ sau bán tốt hơn, v.v [3]

- Quảng cáo cạnh tranh: Thuyết phục người tiêu dùng mua hàng hoá hay

dịch vụ của mình hơn là mua của người khác [3]

- Dưới góc độ các công đoạn của sản xuất - kinh doanh, có ba loại : cạnh tranh trước khi bán hàng, trong quá trình bán hàng và sau khi bán hàng Cạnh tranh này được thực hiện bằng phương thức thanh toán và dịch vụ [3]

Trang 11

- “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.[8]

- “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp”.[16]

- “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững” [27]

Khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh, ngoài việc đưa ra khái niệm, các nhà nghiên cứu thường đưa ra các tiêu chí xác định và mong muốn đo lường được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.[27]

Năm 1994, theo Chaharbaghi và Feurer năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào đánh giá của khách hàng và người cung ứng, môi trường cạnh tranh và động cơ thúc đẩy cạnh tranh Họ phân ra 3 loại giá trị: giá trị của khách hàng, giá trị của những người cộng tác và khả năng hành động – phản ứng

Theo Wangwe (1995) và Biggs và Saturi (1997), chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là hiệu quả kỹ thuật và năng suất; theo Cockburn (1997)

đó là hiệu quả tài cính theo nghĩa hẹp (lợi nhuận ); theo Poster (1990) đó là khả năng duy trì lợi thế cạnh tranh; theo Salinger (2001) đó là năng suất lao động và năng lực vốn con người

Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của Momaya (2004) đã hệ thống hóa cụ thể hơn các tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh doanh nghiệp theo từng nhóm năng lực như sau :

- Khả năng khai thác, sử dụng tài sản (assets) gồm các chỉ tiêu liên quan tới nguồn nhân lực, cơ cấu doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp công nghệ

- Năng lực vận hành các quá trình (processes): Quá trình quản lý chiến lược (năng lực quản lý, chiến lược cạnh tranh, khả năng linh hoạt và thích ứng ); quá trình sử dụng nguồn nhân lực (tài năng thiết kế và cải tiến); các

Trang 12

quá trình công nghệ (đổi mới, các hệ thống công nghệ; công nghệ thông tin; các quá trình tác nghiệp (sản xuất, chất lượng…); các quá trình marketing, quản lý các mối quan hệ, năng lực thuyết phục …

- Năng lực cạnh tranh hoạt động (performance) gồm các chỉ tiêu: Năng xuất (productivity), thị phần tài chính (finance market share), sự khác biệt (differientiation), mức sinh lời (profitability), giá cả (price), chi phí (cost),

sự đa dạng sản phẩm (variety, product range), hiệu quả ( efficiency), tạo ra giá trị (value creation), đáp ứng nhu cầu khách hàng (customer satisfaction), phát triển sản phẩm mới (new product development)

Theo chúng tôi, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững

1.1.1.4 Những thuật ngữ liên quan khái niệm năng lực cạnh tranh [3]

- Giá cả có sức cạnh tranh: Một giá cả thấp hơn giá cả các mặt hàng cùng

loại hoặc có chi phí sản xuất và phân phối thấp hơn, hoặc do định mức lãi thấp hơn hoặc do có sự phá giá chịu lỗ tạm thời để tranh giành thị trường với các đồng nghiệp.[3]

- Những mặt hàng có sức cạnh tranh: Những mặt hàng có khả năng tranh thủ

được nhiều khách hàng tiêu dùng hơn những mặt hàng cùng loại, do hoặc có chất lượng tốt hơn, hoặc có giá cả thấp hơn, hoặc được quảng cáo tốt hơn, hoặc do hai hay tất cả những điều đó.[3]

- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm: Là khả năng sản phẩm đó tiêu thụ

được nhanh trong khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên cùng thị trường Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đó Năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng của nó, giá cả, tốc độ cung cấp, dịch vụ đi kèm, uy tín của người bán, thương hiệu, quảng cáo, điều kiện mua bán, v.v.[3]

Trang 13

- Thị trường cạnh tranh: Một thị trường trong đó chỉ luôn luôn có một giá cả

cho một mặt hàng nhất định; tất cả những người mua và những người bán đều biết rõ điều kiện của thị trường, đều có thể tự do lựa chọn bạn hàng của mình.[3]

- Giai đoạn cạnh tranh: Giai đoạn quảng cáo trong đó một sản phẩm đã được

thừa nhận rộng rãi là hữu ích nhưng còn phải xác lập tính ưu việt của nó so với các sản phẩm tương tự nhằm giành được sự ưu tiên mua của khách hàng.[3]

- Phân tích đối thủ cạnh tranh: Việc các nhà sản xuất và các nhà bán buôn

tiến hành khảo soát một cách cẩn trọng những sản phẩm-hàng hóa đang cạnh tranh với những sản phẩm-hàng hóa của chính bản thân mình trên thị trường và tìm ra những phương cách để thay đổi hay hoàn thiện hơn những sản phẩm-hàng hóa của mình sao cho chúng chiếm được một tỷ phần lớn hơn của thị trường Việc này là một

bộ phận trong công cuộc nghiên cứu thị trường.[3]

- Người thách thức thị trường: Những người bán một mặt hàng, mà được xếp

hạng thứ hai, thứ ba theo tỷ phần thị trường và đang ở thế thách thức những người bán đang cần đến thị trường Trong trường hợp này, họ có thể chọn phương án không tấn công những người đó để tăng tỷ phần thị trường của mình lên mà chỉ tìm cách duy trì vị trí của họ hiện có trên thị trường bằng cách thụ động đi theo các chiến lược của những người dẫn đầu thị trường về mặt hàng, giá cả và xúc tiến thương mại Như vậy, họ được gọi là những người đi theo thị trường.[3]

1.1.2 Lý luận cơ bản về dịch vụ bảo hiểm [10]

1.1.2.1 Khái niệm về bảo hiểm

Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm, tuy nhiên nhìn một cách khái quát có thể hiểu bảo hiểm là một phương thức xử lý rủi ro trong cuộc sống

mà nhờ đó việc chuyển giao, phân tán rủi ro được thực hiện thông qua hoạt động kinh doanh của các tổ chức bảo hiểm

Hoạt động bảo hiểm là một hoạt động tài chính nhằm bồi thường thiệt hại, dựa vào sức mạnh tập thể của toàn thể các thành viên đã tham gia bảo hiểm nhằm xây dựng một quỹ tiền tệ chung (ở đây được tuân thủ theo quy luật số đông), nhà bảo hiểm nhận tiền phí bảo hiểm từ người tham gia nhằm hoán chuyển rủi ro đáng lẽ do

Trang 14

người tham gia bảo hiểm phải gánh chịu do sự cố bất ngờ hay khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra.

Do sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa ở mức độ cao thành kinh tế thị trường, loại hình dịch vụ bảo hiểm ngày càng phát triển thành một ngành nghề kinh doanh đặc biệt, đáp ứng nhu cầu đảm bảo an toàn của con người ngày càng phong phú và đa dạng

1.1.2.2 Bản chất của bảo hiểm

* Bản chất kinh tế: Bản chất kinh tế của bảo hiểm thể hiện ở chỗ nếu cá nhân nào

đó muốn bảo hiểm cho chính mình thì người đó phải có một lượng vật chất (tiền tệ)

đủ lớn nào đó ngay một lúc hoặc phải tích luỹ dần từ trước để khi xảy ra rủi ro sẽ sẵn sàng có khả năng trang trải và bù đắp cho những tổn thất đó.Tuy nhiên, dự trữ của các cá nhân hoặc tổ chức có nhiều hạn chế, bởi vì nếu đòi hỏi phải dự trữ lớn ngay một lúc thì nhiều người không có khả năng, còn nếu tích luỹ dần thì khi xảy ra rủi ro sớm hoặc xảy ra nhiều lần thì không đủ trang trải Vì vậy, nếu có nhiều cá nhân hoặc đơn vị cùng tham gia hoạt động bảo hiểm thì sẽ dễ dàng tạo ra một lượng vật chất lớn đảm bảo đủ trang trải các chi phí cho mọi cá nhân hay tổ chức bị rủi ro Bên cạnh đó, nếu có nhiều cá nhân hoặc đơn vị tham gia bảo hiểm thì lượng dự trữ vật chất của quỹ bảo hiểm sẽ rất lớn, trong đó lượng tiền nhàn rỗi của quỹ sẽ được dùng vào việc kinh doanh trên các lĩnh vực khác nhau Ở đây, bảo hiểm thực hiện chức năng kinh doanh dịch vụ vừa nhằm mục đích chi trả, bồi thường các rủi ro vừa tăng quỹ thực hiện kinh doanh bảo hiểm, có lợi nhuận, để tiếp tục phục vụ tốt hơn mọi đối tượng tham gia bảo hiểm

* Bản chất xã hội của bảo hiểm: Dù đối với mọi cơ quan bảo hiểm, đặc biệt là bảo

hiểm thương mại, tính kinh doanh đặt lên hàng đầu, nhưng trên phạm vi toàn xã hội bảo hiểm thương mại mang tính xã hội rất cao Một mặt, nhờ có sự san sẽ rủi ro giữa các cá nhân, đơn vị tham gia bảo hiểm nên nhiều thiệt hại về người và của đã được trợ giúp trang trải, bù đắp làm cho đời sống không bị xáo trộn, sản xuất không bị đình trệ Mặt khác, tính xã hội còn thể hiện rất rõ trong bảo hiểm xã hội, nhờ có bảo hiểm khi người lao động bị ốm đau, thai sản, tai nan lao động thì họ sẽ được bù đắp phần thiếu hụt do nguồn thu nhập của họ bị giảm sút

Trang 15

Mục đích chủ yếu của bảo hiểm là góp phần ổn định kinh tế cho người tham gia bảo hiểm từ đó khôi phục và phát triển sản xuất đời sống, đồng thời tạo nguồn vốn cho phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.

Thực chất của hoạt động bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm trong nước giữa những người tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh khi tai nạn rủi ro bất ngờ xảy ra gây tổn thất đối với người tham gia bảo hiểm, phân phối trong bảo hiểm là phân phối không đều, không bằng nhau hoạt động trên nguyên tắc

số đông bù số ít

1.1.2.3 Những đặc thù của dịch vụ bảo hiểm

* Tính phi vật chất: Các dịch vụ đều vô hình, khách hàng không thể nhìn thấy hoặc

thử trước khi tiêu dùng, khách hàng khi mua dịch vụ buộc phải tin vào doanh nghiệp dịch vụ Trong quan hệ bảo hiểm cũng vậy, khách hàng khi tham gia bảo hiểm chưa thể kiểm nghiệm trước được chất lượng của sản phẩm, khi khách hàng tham gia chủ yếu dựa vào cảm tính, niềm tin vào đội ngũ nhân viên khai thác Để củng cố niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể thi hành một loạt các giải pháp

+ Có thể tăng tính hữu hình của dịch vụ

+ Có thể không chỉ mô tả dịch vụ của mình mà còn làm cho khách hàng chú ý đến lợi ích có liên quan đến dịch vụ đó

+ Có thể nghĩ ra tên gọi cho các dịch vụ của mình một cách gợi cảm

Tính phi vật chất gây khó khăn cho việc xác định các tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan đến sản phẩm, từ đó gây khó khăn cho việc quản lý chất lượng dịch vụ

* Tính đồng thời giữa quá trình sản xuất và tiêu dùng: Quá trình sản xuất và tiêu

dùng hay là vấn đề thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quan hệ giao dịch bảo hiểm cùng diễn ra đồng thời, khác với sản xuất vật chất, quá trình sản xuất dịch vụ bảo hiểm không thể sản xuất sẵn để vào kho, sau đó mới tiêu thụ Dịch vụ bảo hiểm cũng đồng thời kể từ khi một bên mua chi trả tiền phí bảo hiểm thì đồng thời phát sinh nghĩa vụ phải thực hiện các cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm, có thể nói trong quá trình sản xuất ra dịch vụ bảo hiểm có sự tham gia của khách hàng

Trang 16

* Tính không đồng nhất của bảo hiểm: Chất lượng bảo hiểm dao động trong một

khoảng rất rộng, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ (như nguồn cung ứng, thời gian, địa điểm cung ứng) Sự không ổn định về chất lượng giải thích vì sao người

tham gia bảo hiểm thường hỏi ý kiến của những người mua trước, trong khi lựa chọn người cung cấp dịch vụ

* Tầm quan trọng của nhân viên tiếp xúc trực tiếp: Nhân viên khai thác bảo hiểm là

người tiếp xúc và đóng vai trò rất quan trọng vì họ là người thay mặt doanh nghiệp bảo hiểm để phục vụ khách hàng, nếu nhân viên tiếp xúc phục vụ không tốt sẽ làm giảm uy tín của doanh nghiệp

1.1.2.4 Nghiên cứu thị trường bảo hiểm

* Đặc điểm của thị trường bảo hiểm

Thị trường bảo hiểm là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi và mua bán các sản phẩm bảo hiểm, đáp ứng nhu cầu đảm bảo sự an toàn trong cuộc sống của mọi tầng lớp dân cư Tư duy kinh doanh thị trường của một công ty bảo hiểm chính là những khách hàng thực tế và khách hàng tiềm năng của công ty đó Thị trường bảo hiểm có những đặc điểm hoạt động và chịu sự tác động của các quy luật thị trường giống như thị trường các sản phẩm khác Tuy nhiên, do đặc tính của sản phẩm và môi trường kinh doanh hiện tại, thị trường bảo hiểm ở nước ta cũng có những đặc điểm riêng biệt:

♦ Về chủ thể tham gia thị trường: Trên thị trường bảo hiểm, người bán là các công ty bảo hiểm thuộc nhiều thành phần kinh tế, với sức mạnh và uy tín kinh doanh khác nhau Người mua là các tổ chức hoặc cá nhân với nhu cầu mua rất đa dạng và khả năng thanh tóan cũng khác nhau

♦ Nhu cầu trên thị trường bảo hiểm tăng trưởng cùng với sự phát triển kinh tế, thu nhập và mức sống của dân cư: Trong các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm thì trước hết phải kể đến là các nhân tố kinh tế Sự phát triển của nền kinh tế và mức sống của dân cư kéo theo sự phát triển tất yếu về nhu cầu sản phẩm bảo hiểm, theo mô hình tháp Maslow thì bảo hiểm không phải là nhu cầu căn bản nhất, mà chỉ khi nhu cầu căn bản (nhu cầu sinh lý) được đáp ứng mới đến nhu cầu được an toàn (bảo hiểm)

Trang 17

♦ Cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm Việt nam diễn ra ngày một quyết liệt: Với

sự ra đời của nhiều công ty bảo hiểm trên thị trường như hiện nay đã đặt ra yêu cầu cạnh tranh mạnh mẽ và sôi động

♦ Trên thị trường bảo hiểm, các doanh nghiệp vừa cạnh tranh với nhau quyết liệt, vừa phải tìm cách liên minh với nhau vừa phân chia thị trường đã trở nên quyết liệt và mỗi công ty chiếm giữ cho mình những ưu thế nhất định Sự liên minh giữa các công ty nhằm bảo vệ sự thống trị thị trường của mình và tránh những đụng độ không có lợi cho các bên

♦ Thị trường bảo hiểm trong nước có mối quan hệ mật thiết với thị trường bảo hiểm quốc tế thông qua hoạt động tái bảo hiểm Do đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm tạo nên, tái bảo hiểm là một loại nghiệp vụ mà người bảo hiểm sử dụng để chuyển một phần trách nhiệm đã chấp nhận với người được bảo hiểm sang cho nhà bảo hiểm khác, trên cơ sở nhượng lại cho nhà bảo hiểm đó một phần phí bảo hiểm qua hợp đồng tái bảo hiểm Nhờ hoạt động tái bảo hiểm này mà hình thành các mối quan hệ mật thiết chi phối lẫn nhau giữa các công ty bảo hiểm của các quốc gia, đòi hỏi hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động Marketing nói riêng của các công ty bảo hiểm phải đảm bảo tính thích ứng và phù hợp theo các chuẩn mực mang tính quốc tế

♦ Thị trường bảo hiểm chịu sự quản lý và chi phối chặt chẽ của Nhà nước Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản luật khác là công cụ quản lý hữu hiệu của Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm Đây cũng chính là hành lang pháp lý để mọi công

ty bảo hiểm tiến hành hoạt động kinh doanh, đồng thời đảm bảo quyền lợi cho khách hàng tham gia bảo hiểm

* Nghiên cứu thị trường bảo hiểm

- Nghiên cứu "cầu" trên thị trường bảo hiểm

Cầu trên thị trường là hình thức phản ảnh của nhu cầu tiêu dùng Cầu không phát sinh tự nó mà xuất phát từ nhu cầu của thị trường Nếu như nhu cầu là một khái niệm chung chung xuất phát từ ý thức mong muốn được bảo đảm an toàn thì cầu trên thị trường gắn liền với một sản phẩm cụ thể và khả năng thanh tóan của khách hàng

Cầu trên thị trường bảo hiểm phụ thuộc vào các nhân tố ảnh hưởng sau:

Trang 18

• Sự phát triển của nền kinh tế và khoa học kỹ thuật;

• Thu nhập và khả năng thanh toấn của khách hàng;

• Giá cả của sản phẩm bảo hiểm;

• Chiến lược khách hàng và chiến lược thị trường của các công ty bảo hiểm;

• Hoạt động Marketing và hoạt động bán hàng của công ty;

• Uy tín và danh tiếng của công ty bảo hiểm;

• Tác động của Chính phủ

- Nghiên cứu khách hàng bảo hiểm

Khách hàng là đối tượng chính của hoạt động kinh doanh và là trung tâm của hoạt động Marketing trong các công ty bảo hiểm Khi nghiên cứu khách hàng các công ty bảo hiểm cần chú ý nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:

+ Nghiên cứu động cơ tiêu dùng: Động cơ tiêu dùng là nguồn gốc phát sinh nhu cầu tiêu dùng của mọi khách hàng Đó là sự thôi thúc thực hiện những mong muốn của mọi các nhân vì những lý do cụ thể Nghiên cứu động cơ tiêu dùng cho phép các công ty bảo hiểm hiểu được nguyện vọng, mong muốn của khách hàng, những kỳ vọng của họ dành cho sản phẩm Với những động cơ tiêu dùng khác nhau, khách hàng có yêu cầu tiêu dùng khác nhau và vì vậy các công ty bảo hiểm phải thỏa mãn họ bằng những giải pháp Marketing khác nhau

+ Nghiên cứu thu nhập và khả năng thanh tóan: Khả năng thanh tóan là một trong hai yếu tố quyết định hành vi của người tiêu dùng Nhu cầu tiêu dùng sản phẩm bảo hiểm chỉ có thể trên cơ sở đảm bảo phù hợp với khả năng thanh tóan mới trở thành nhu cầu thực tế Vì vậy, nghiên cứu thu nhập và khả năng thanh tóan của khách hàng cho phép công ty bảo hiểm xác lập được chiến lược kinh doanh thích ứng và có khả năng khai thác khách hàng hiệu quả nhất

+ Nghiên cứu thái độ của khách hàng: Thái độ của khách hàng hàng biểu hiện mức độ mong muốn của họ trong mối quan hệ với các công ty bảo hiểm Từ đó các công ty bảo hiểm nắm được khách hàng sẽ giao dịch và tiêu thụ những sản phẩm nào của công ty và sẽ chọn mức độ giao dịch với từng sản phẩm bảo hiểm cụ thể

+ Nghiên cứu quá trình mua hàng gồm có:

Trang 19

Các giai đoạn của qúa trình mua hàng: Quá trình mua hàng của khách hàng thông thường trải qua 5 giai đoạn khác nhau: Ý thức nhu cầu ⇒ tìm kiếm thông tin

⇒ đánh giá các phương án ⇒ quyết định mua ⇒ đánh giá sau khi mua

Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng: Bao gồm yếu tố văn hóa, yếu tố xã hội, yếu tố tâm lý của cá nhân

- Nghiên cứu cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh vừa tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các công ty bảo hiểm, vừa tạo ra sức ép và đòi hỏi khả năng thích ứng của các công ty này Nghiên cứu cạnh tranh giúp các công ty bảo hiểm nhìn rõ mình và hiểu rõ về đối thủ cạnh tranh hơn Trên cơ sở đó thiết lập hệ thống chính sách Marketing vừa đáp ứng tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng, vừa có tiềm năng cạnh tranh mạnh mẽ nhất Khi phân tích đối thủ cạnh tranh cần có một cách nhìn toàn diện, phải đánh giá đúng những điểm mạnh điểm yếu của họ và so sánh với công ty Từ đó tìm ra các giải pháp phát huy thế mạnh, hạn chế những mặt yếu trong cạnh tranh thị trường

1.1.2.5 Đặc điểm hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm vì mục đích lợi nhuận Vì vậy, mọi hoạt động đều mang đặc trưng kinh doanh, lấy lợi nhuận làm mục tiêu phấn đấu Để đạt mục tiêu đó, hoạt động kinh doanh bảo hiểm có những đặc điểm sau :

- Đối tượng kinh doanh đa dạng;

- Bảo hiểm là ngành kinh doanh có nguồn vốn lớn;

- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn phải có dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm – là nguồn vốn đầu tư sinh lời;

- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm vừa hợp tác vừa cạnh tranh;

- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tuân thủ các quy định của pháp luật và các điều ước quốc tế có liên quan

1.1.3 Hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh [25]

Trang 20

1.1.3.1 Tổ chức của doanh nghiệp và phân công trách nhiệm

Nhiều nhà kinh tế học nước ngoài cho rằng một tổ chức mạnh quyết định tới 70% đến 80% thành công trong mọi hoạt động của tổ chức (DN) ấy Điều đó nói lên vai trò của tổ chức quan trọng đến mức nào! Thực tế, trong mọi hoạt động, ở mọi lĩnh vực chúng ta đều thấy rõ điều đó

Trong tiêu chí này có các tiêu chí phụ (phân nhóm tiêu chí) sau đây:

a Hoạt động theo pháp luật

b Hoạt động theo tiêu chuẩn quản lý chất lượng

c Phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm của mọi bộ phận, mọi thành viên

d Có chính sách, chiến lược, mục đích, mục tiêu hoạt động cụ thể

e Có tổ chức gọn nhẹ

Tiêu chí này mang tính định tính nhưng có thể lượng hoá được bằng điểm số (cao nhất là 5, thấp nhất là 1) và phân bổ hệ số quan trọng theo các tiêu chí phụ (a,b, )

Tiêu chí này có thể tính theo công thức:

QT - chất lượng tổ chức của doanh nghiệp (điểm số)

mi - hệ số quan trọng của tiêu chí phụ thứ i

qi - điểm số của tiêu chí phụ thứ i

1.1.3.2 Trình độ của đội ngũ lãnh đạo

Trong tiêu chí này có các tiêu chí phụ như sau:

a Trình độ tư tưởng, chính trị, đạo đức (5 bậc trình độ theo trọng số)

b Trình độ học vấn (phân bậc như a.)

c Trình độ văn hoá (phân bậc như a.)

d Trình độ quản trị doanh nghiệp (hiệu lực, hiệu quả các quyết định) – phân bậc như a.)

Trang 21

Nếu doanh nghiệp nào có tỷ lệ cán bộ lãnh đạo tốt cao hơn sẽ có năng lực cạnh tranh (về tiêu chí này) cao hơn Như vậy, trình độ lãnh đạo có thể xác định theo công thức: TL = mL / ML

Trong đó: TL - tỷ lệ cán bộ lãnh đạo có trình độ tốt (%), bao gồm khá, tốt

và giỏi

mL - số cán bộ lãnh đạo tốt

ML - tổng số cán bộ lãnh đạo của doanh nghiệp

1.1.3.3 Tỷ lệ nhân viên, công nhân lành nghề

Đây là đòi hỏi quan trọng, nhất là ở thời đại mà việc cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm trở nên rất gay gắt như hiện nay Tiêu chí này cũng là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp đạt được năng suất cao, chi phí thấp Một doanh nghiệp có tỷ lệ này cao sẽ có lợi thế cạnh tranh và năng lực cạnh tranh cao Tỷ lệ về trình độ lành nghề

có thể chia thành 5 bậc: dưới 5% - điểm 1, từ 6% đến 15% - điểm 2, từ 16% đến 25%

- điểm 3, từ 26% đến 40% - điểm 4 (tốt), trên 40% - điểm 5 (cao)

Công thức tính như sau: Tn = n / N

Trong đó: Tn - tỷ lệ công nhân, nhân viên lành nghề (%)

n - số nhân viên, công nhân lành nghề

N - tổng số cán bộ, công nhân viên

1.1.3.4 Số sáng kiến, cải tiến, đổi mới hàng năm được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh

Các tổ chức đánh giá quốc tế thường dùng tiêu chí này để đánh giá NLCTDN Tiêu chí này có thể chia thành 3 nhóm tiêu chí phụ là nhóm sáng kiến, nhóm cải tiến

và nhóm đổi mới Trong mỗi nhóm lại phân ra 5 bậc số lượng và 5 bậc chất lượng

1.1.3.5 Chất lượng cơ sở vật chất, kỹ thuật

Cơ sở vật chất, kỹ thuật là yếu tố rất cơ bản góp phần tạo nên NLCTDN Nhóm này bao gồm nhà xưởng, hệ thống kho tàng, hệ thống cung cấp năng lượng, hệ thống nước, công nghệ sản xuất và quản lý, mạng thông tin Ở đây người ta muốn đánh giá chất lượng của các yếu tố đó Chất lượng mỗi nhóm (tiêu chí phụ) này chia thành 5 cấp; trong đó tiêu chí phụ “công nghệ quản lý” là quan trọng nhất, tiêu chí

Trang 22

phụ “mạng công nghệ quản lý” là quan trọng thứ hai, v.v Có thể sử dụng công thức sau để tính:

Trong đó: Qc - chất lượng cơ sở vật chất, kỹ thuật của doanh nghiệp (điểm)

mi - hệ số quan trọng của từng yếu tố

qi - chất lượng của từng yếu tố (điểm)

1.1.3.6 Năng lực tài chính doanh nghiệp

Năng lực tài chính là yếu tố rất quan trọng để xem xét tiềm lực của doanh nghiệp mạnh, yếu như thế nào Trong tiêu chí này có 4 nhóm chỉ tiêu chủ yếu

* Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp:

Nhóm này có 3 hệ số, mỗi hệ số có thể chia ra 5 bậc

1 Hệ số khả năng thanh toán hiện hành = Tổng tài sản lưu động / Tổng nợ ngắn hạn

Hệ số này cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu tài sản lưu động Hệ số này quá nhỏ, doanh nghiệp có khả năng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Hệ số này quá cao, tức doanh nghiệp đã đầu tư vào tài sản lưu động quá nhiều, không mang lại hiệu quả lâu dài Mức hợp lý bằng 2

2 Hệ số khả năng thanh toán nhanh = (Tổng tài sản lưu động – Hàng tồn kho)/ Tổng nợ ngắn hạn

Hệ số này cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu tiền đang có Hệ số này càng cao càng tốt Tuy nhiên còn phải xem xét kỹ các khoản phải thu (nợ khó đòi) có ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của doanh nghiệp Doanh nghiệp hoạt động bình thường thì hệ số này thường bằng 1

3 Hệ số khả năng thanh toán tức thời = Tổng vốn tiền mặt / Tổng nợ ngắn hạnVốn bằng tiền có khả năng thanh khoản cao nhất, nó được sử dụng ngay khi cần trả nợ Hệ số này cho thấy khả năng doanh nghiệp thanh toán được nợ ngắn hạn

Trang 23

ngay Nếu hệ số này cao, doanh nghiệp có khả năng lớn, nhưng quá cao thì không có hiệu quả vì tiền mặt không sinh lời Hệ số này hợp lý thường khoảng 0,5.

* Nhóm các chỉ tiêu đánh giá khả cơ cấu vốn và nguồn vốn: Mỗi chỉ tiêu thành

Tỉ lệ vốn lưu động = Vốn lưu động / Tổng tài sản x 100 (%)

Cho biết cơ cấu vốn của doanh nghiệp có hợp lý không và có phù hợp với đặc điểm kinh doanh của mình không

* Nhóm các chỉ tiêu về năng lực hoạt động hay hiệu suất sử dụng vốn: Mỗi chỉ

2 Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản thu / Doanh thu bình quân một ngày

Chỉ tiêu này đo lường khả năng thu hồi vốn trong kinh doanh Kỳ thu tiền bình quân thấp thì vốn của doanh nghiệp ít bị đọng trong thanh toán Tuy nhiên cần xem xét với chính sách tín dụng thương mại nhằm mục tiêu mở rộng thị trường của doanh nghiệp Để tránh bị ứ đọng vốn, doanh nghiệp cần đôn đốc khách hàng trả nợ kịp thời và tìm khách hàng làm ăn có uy tín

Trang 24

3 Số vòng quay vốn cố định (Hiệu quả sử dụng vốn cố định) = Doanh thu thuần / Giá trị tài sản cố định

Chỉ tiêu này đo lường hiệu suất sử dụng tài sản cố định xem một đồng vốn cố định tạo ra được mấy đồng doanh thu Tỷ số này càng cao càng tốt

4 Hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản = Doanh thu thuần / Tổng tài sản hay Tổng vốn đầu tư

* Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả: Là nhóm chỉ tiêu quan trọng đánh giá kết

quả hoạt động kinh doanh trong kỳ, là căn cứ để đưa ra các quyết định trong tương lai Mỗi chỉ tiêu thành phần chia 5 bậc

1 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = Lợi nhuận / Doanh thu x 100(%)

Chỉ tiêu này phản ánh trong 1 hay 100 đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận thu được Chỉ tính lợi nhuận do hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại, tức

là phần lợi nhuận có được từ doanh thu bán hàng Chỉ số này càng cao càng tốt, chứng tỏ giá thành sản phẩm thấp

2 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư = Lợi nhuận / Tổng vốn đầu tư x 100(%)

Chỉ số này phản ánh 1 hay 100 đồng vốn đem vào đầu tư thì sinh được bao nhiêu lợi nhuận

3 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn tự có = Lợi nhuận / Tổng vốn chủ sở hữu x 100(%)

Các chủ sở hữu đặc biệt quan tâm đến chỉ tiêu này

1.1.3.7 Chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm (CLSP) là yếu tố cấu thành quan trọng hàng đầu của năng lực cạnh tranh của sản phẩm (NLCTSP), mà NLCTSP là yếu tố cấu thành NLCTDN Vì lẽ đó mà CLSP là tiêu chí để xem xét NLCTDN Các chỉ tiêu đánh giá CLSP là những tiêu chí phụ của tiêu chí này Các chỉ tiêu CLSP được chia thành 4 nhóm: nhóm chỉ tiêu thẩm mỹ, an toàn - vệ sinh, kỹ thuật và nhóm chỉ tiêu kinh tế Hội đồng đánh giá xác định hệ số quan trọng cho từng chỉ tiêu và tổ hợp lại theo công thức:

Trang 25

Trong đó:

Qa - chỉ tiêu tổ hợp của một sản phẩm, đơn vị đo là điểm số

mi - hệ số quan trọng của chỉ tiêu thứ i

qi - chỉ tiêu thứ i, quy ra điểm

k - lượng các chỉ tiêu cần đưa vào xem xét

So sánh Qa của các sản phẩm cùng loại cả các doanh nghiệp với nhau ta sẽ chọn ra được sản phẩm của doanh nghiệp nào đạt tốt nhất Doanh nghiệp nào có nhiều sản phẩm đạt chất lượng tốt nhất, doanh nghiệp đó sẽ có năng lực cạnh tranh cao nhất theo tiêu chí trên

1.1.3.8 Thị phần của doanh nghiệp

Thị phần là phần thị trường mà doanh nghiệp bán được sản phẩm của mình một cách thường xuyên và có xu hướng phát triển Thị phần càng lớn chứng tỏ sản phẩm của doanh nghiệp được khách hàng, người tiêu dùng ưa chuộng, NLCTSP cao

Để phát triển thị phần, ngoài chất lượng, giá cả, doanh nghiệp còn phải tiến hành công tác xúc tiến thương mại, tổ hiệu và uy tín của doanh nghiệp nữa Như vậy, chúng ta thấy rằng “thị phần” là một tiêu chí quan trọng đánh giá NLCTDN Tiêu chí này cũng có thể chia ra 5 bậc và được tính theo công thức:

∑ - tổng doanh thu của các doanh nghiệp trên thị trường đó

1.1.3.9 Năng suất lao động

Năng suất lao động là chỉ tiêu tổng hợp và chất lượng phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực mà doanh nghiệp đã sử dụng để sản xuất ra một khối lượng nhất định trên một đơn vị thời gian hoặc thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

Năng suất lao động được đo bằng lượng sản phẩm đảm bảo chất lượng trên một đơn vị lao động Năng suất này có thể tính bằng hiện vật hoặc bằng giá trị theo công thức:

NS = R/L

Trang 26

NS: năng suất lao động, đơn vị đo là đồng/ một lao động, hoặc bằng lượng sản phẩm đảm bảo chất lượng/ một lao động.

R: đầu ra (có thể lấy theo giờ, ca, ngày, v.v ), đơn vị đo là lượng sản phẩm đảm bảo chất lượng, hoặc bằng tiền

L: số lượng lao động làm ra lượng đầu ra đó

Năng suất lao động của doanh nghiệp càng cao bao nhiêu thì NLCTDN càng cao bấy nhiêu (về tiêu chí đó) so với các doanh nghiệp cùng loại Có năng suất cao là nhờ tổ chức sản xuất kinh doanh tốt, sử dụng tối ưu các nguồn lực, giảm tối đa các chi phí (trong có chi phí lao động và thời gian) Vì thế năng suất là tiêu chí rất quan trọng để xem xét, đánh giá NLCTDN

1.1.3.10 Chất lượng môi trường sinh thái

Chất lượng môi trường sinh thái là vấn đề nóng hổi và cấp bách mang tính toàn cầu Thế giới đánh giá cao tiêu chí này đối với các doanh nghiệp Để có năng lực cạnh tranh cao, sản phẩm làm ra không được gây ô nhiễm môi trường (trong phạm vi

và ngoài phạm vi doanh nghiệp) bao gồm ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước và

ô nhiễm sự yên tĩnh Các sản phẩm của doanh nghiệp phải có nhãn sinh thái, doanh nghiệp phải có chứng chỉ an toàn môi trường theo ISO.14000, hoặc theo tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn Việt Nam Việc đánh giá tiêu chí này phức tạp vì nó bao hàm nhiều chỉ tiêu mà phạm vi ảnh hưởng của nó đôi khi khó xác định Tuy vậy, phần lớn các chỉ tiêu hoá, lý, sinh, đều lượng hoá được bằng các dụng cụ đo chính xác

1.1.3.11 Giá trị vô hình của doanh nghiệp

Giá trị vô hình là tiêu chí mang tính tổng hợp Giá trị này có được là do quá trình phấn đấu bền bỉ theo định hướng và chiến lược phát triển đúng đắn, hợp đạo, hợp lý của doanh nghiệp, được xã hội và cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước biết đến

Giá trị vô hình của doanh nghiệp gồm hai bộ phận Thứ nhất là uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp, được phản ánh chủ yếu ở “văn hoá doanh nghiệp”, bao gồm trang phục, văn hoá ứng xử, hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước, hoạt động từ

Trang 27

thiện, kinh doanh minh bạch, v.v Thứ hai là giá trị của tài sản nhãn hiệu Những nhãn hiệu lâu đời, có uy tín cao thì giá trị càng cao Muốn có được giá trị thương hiệu cao doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới, tạo sự khác biệt về chất lượng và phong cách cung cấp sản phẩm

Sau khi đã xem xét và đánh giá doanh nghiệp qua các tiêu chí chúng ta sẽ có điểm số của từng tiêu chí Cộng các điểm đó lại chúng ta có điểm đánh giá chung

về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp So sánh tổng điểm của từng doanh nghiệp với nhau chúng ta sẽ có được kết luận về năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp

Theo Thạc sỹ Nguyễn Tất Thịnh: Chín tiêu chí về năng lực phát triển của doanh nghiệp là:

1 Năng lực ban lãnh đạo

2 Chỉ số tài chính lành mạnh: hệ số tài chính minh bạch (tham gia thị trường chứng khoán); những khoản nợ xấu <5 % (nợ không có khả năng thanh toán)

3 Qui mô kênh phân phối: thâm nhập đến khách hàng mục tiêu như thế nào?

4 Kinh nghiệm kinh doanh:

- Tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận

- Tốc quay vòng vốn

- Các đối tác quốc tế

5 Giá trị chuổi liên minh: “Hãy chỉ cho tôi biết bạn anh là ai, tôi sẽ cho biết anh là ai”

Ghép logo của doanh nghiệp mình với các doanh nghiệp khác

6 Khả năng chống đỡ rủi ro: sử dụng dịch vụ bảo hiểm

7 Năng lực cam kết: thể hiện trình độ rất cao, thể hiện uy tín của doanh nghiệp

8 Áp dụng công nghệ hàng đầu

9 Thương hiệu xã hội: là hình ảnh nhân bản, nhân văn của xã hội thừa nhận

Toàn bộ giá trị xã hội cảm nhận, so sánh, tin cậy được khi nghe đến cái tên, được mệnh danh là mặt trận lòng dân

Trang 28

Do điều kiện hạn chế về thời gian và kinh phí, và qua quá trình thu thập số liệu thực tế về mức độ cạnh tranh hiện nay giữa các doanh nghiệp, chúng tôi chỉ tập trung đi sâu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo các tiêu chí sau:

1 Cạnh tranh giá cả: đánh giá trên các tiêu chí chiến lược giá, chỉ số giá của các doanh nghiệp

2 Qui mô kênh phân phối: các đại lí, của hàng bán lẻ trên địa bàn

3 Cạnh tranh về sản phẩm:

4 Chất lượng phục vụ của doanh nghiệp:

5 Chương trình quảng cáo, khuyến mãi: đánh giá về tính thường xuyên, hấp dẫn, lợi ích đối với người tiêu dùng

6 Thị phần doanh nghiệp

7 Khả năng liên kết, hợp tác của các doanh nghiệp bảo hiểm

8 Phân tích yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp

9 Kinh nghiệm kinh doanh: Tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận

Từ những đánh giá trên, phân tích ma trận SWOT

1.1.3.12 Kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

* Doanh thu [23]

Doanh thu của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm các khoản thu bao gồm:

a Doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm: Thu phí bảo hiểm gốc; thu phí nhận tái bảo hiểm; thu hoa hồng nhượng tái bảo hiểm; thu phí về dịch vụ đại lý bao gồm giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn, xử lý hàng bồi thường 100%; thu phí giám định tổn thất không kể giám định hộ giữa các đơn vị thành viên hạch toán nội bộ trong cùng một doanh nghiệp bảo hiểm hạch toán độc lập sau khi đã trừ đi các khoản phải chi để giảm thu như: hoàn phí bảo hiểm; giảm phí bảo hiểm; phí nhượng tái bảo hiểm; hoàn phí nhận tái bảo hiểm; giảm phí nhận tái bảo hiểm; hoàn hoa hồng nhượng tái bảo hiểm; giảm hoa hồng nhượng tái bảo hiểm

b Doanh thu hoạt động tài chính: Thu hoạt động đầu tư theo quy định tại Mục 3 Chương II Nghị định số 46/2007/NĐ-CP; thu từ hoạt động mua bán chứng khoán;

Trang 29

thu lãi trên số tiền ký quỹ; thu cho thuê tài sản và các khoản thu hoạt động tài chính khác theo quy định của pháp luật.

c Thu nhập hoạt động khác: Thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản cố định; các khoản nợ khó đòi đã xoá nay thu hồi được và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

Châu Á tiếp tục dẫn đầu thế giới về tốc độ tăng trưởng kinh tế và ngành bảo hiểm trong khu vực cũng đã có những bước phát triển đầy ấn tượng Theo thống kê của tạp chí Sigma, doanh thu phí bảo hiểm ở Châu Á có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn so với GDP, trong khi các nước phát triển doanh thu phí chỉ tăng trưởng tương đương với tốc độ tăng trưởng GDP Các chuyên gia ước tính rằng doanh thu phí ở các nước đang phát triển sẽ tăng trung bình 7.5 % một năm trong thời gian trung hạn cho tới năm 2014 Sau đây là những nét chính về các thị trường bảo hiểm Châu Á và tiềm năng phát triển của khu vực:

Trung Quốc

Tổ chức xếp hạng tín nhiệm tài chính Standard & Poor’s (S&P) đã đưa ra đánh giá mới về triển vọng của thị trường bảo hiểm Trung Quốc từ mức “đang phát triển” lên mức “triển vọng tích cực”

Tổng phí bảo hiểm của thị trường Trung Quốc năm 2005 là 492 tỷ NDT (tương đương 61 tỷ USD) và đứng thứ 3 Châu Á sau Hàn Quốc và Nhật Bản Trong

đó, các công ty có vốn nước ngoài chiếm thị phần khoảng 6.9 % Trong vòng 10 năm nữa, Trung Quốc có nhiều khả năng sẽ trở thành thị trường hàng đầu thế giới vì tỷ lệ tham gia bảo hiểm ở đây còn rất thấp, trong khi tốc độ tăng trưởng của các thị trường phát triển không cao

Trang 30

Singapore

Singapore đang trên đường phát triển thành một trung tâm bảo hiểm – tái bảo hiểm hàng đầu tại Châu Á Hiên tại thị trường bảo hiểm Singaporecó 56 công ty bảo hiểm gốc (bao gồm cả nhân thọ, phi nhân thọ và tổng hợp), 28 công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp và 60 công ty bảo hiểm nôi bộ Singapore hiện là nơi tập trung nhiều nhất các công ty nôi bộ ở khu vực Châu á và có tới 20 trong số 25 tập đoàn tái bảo hiểm hàng đầu trên thế giới có hoạt động ở nước này Bảo hiểm nhân thọ vẫn đạt tốc

độ tăng trưởng tốt và nhu cầu về các sản phẩm liên kết đầu tư không ngừng tăng Các công ty bảo hiểm nhân thọ đã đưa ra những sản phẩm cho phép khách hàng có thể hưởng lợi tức đầu tư cao hơn tùy theo tình hình thị trường Các công ty phi nhân thọ

chủ yếu duy trì lợi nhuận nhờ thu nhập đầu tư do lãi suất ngân hàng tăng và một phần

nhờ sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán

Thái Lan

Thái Lan đang trở thành một thị trường hấp dẫn đối với nhiều nhà đầu tư bảo hiểm nước ngoài nhờ những ưu đãi về thuế dành cho các công ty bảo hiểm và tỷ lệ bồi thường thấp Thị trường bảo hiểm Thái Lan hiện bao gồm 24 công ty nhân thọ và

75 công ty phi nhân thọ Với nổ lực nhằm tăng cường nhân thức của người dân về bảo hiểm và khuyến khích tiết kiệm trong tầng lớp thanh niên, bảo hiểm đã được đưa vào giảng dạy như một môn học từ cấp tiểu học cho đến đại học

Trước những khó khăn về kinh tế và bất ổn về chính trị, các công ty bảo hiểm

ở Thái Lan đã phải tăng thêm 52 % chi phí cho hoạt động quảng bá, tập trung vào các sản phẩm bảo hiểm y tế, để bù đắp sự giảm sút doanh thu từ các sản phẩm truyền thống Doanh thu bảo hiểm nhân thọ của Thị trường Thái Lan vào khoảng 4.6 tỷ USD (năm 2005) và doanh thu chi phí nhân thọ đạt kđạt khoảng 2.5 tỷ USD

Indonesia

Tính đến tháng 6 năm 2006, có 406 công ty bảo hiểm được cấp phép hoạt động ở Indonesia, trong đó 157 công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm và 249 công ty bảo hiểm hỗ trợ Tổng tài sản của 157 công ty bảo hiểm vào khoảng 15,7 tỷ USD theo số liệu của cơ quan quản lý các tổ chức tài chính và thị trường vốn

Trang 31

Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ hiện có 97 công ty, trong đó có 3 công ty nhà nước, 19 liên doanh, và 1 công ty tái với tổng phí năm 2006 khoảng 1,9 tỷ USD Ba công ty có thị phần lớn nhất là Jasindo, Sinar Mas và TPI.

Các thị trường bảo hiểm phi nhân thọ các nước thuộc khu vực Châu Á - TBD có trình độ phát triển khá chênh lệch, xét trên góc độ thành phần kết cấu thị trường, các loại hình và độ phức tạp của sản phẩm, mức độ tự do hóa và cạnh tranh, cũng như mức độ tương thích của hệ thống luật pháp với tập quán kinh doanh quốc tế

Những thị trường được nghiên cứu này bao gồm từ Australia, thị trường phát triển nhất, cho đến Việt Nam, Indonesia và Philippines là những thị trường kém phát triển nhất Những thị trường còn lại như Đài Loan, Nhật Bản và Singapore có trình

độ phát triển khá, xếp sau Australia, còn thị trường Trung Quốc và Ấn Độ cũng đang vươn lên mạnh mẽ để gia nhập tốp trên

Ngoài những thị trường bảo hiểm Châu Á đang phát triển rất nhanh, thì chú ý một số thị trường lâu đời như Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản

Hàn Quốc

Thị trường bảo hiểm Hàn Quốc đứng thứ 7 trên thế giới về quy mô Đó là kết quả báo cáo của một công ty tái bảo hiểm Thuỵ Sĩ - Swiss Re - công ty tái bảo hiểm nhân thọ và y tế lớn nhất thế, tổng giá trị phí bảo hiềm đạt 69,2 nghìn tỉ won (55,4 tỉ USD) trong năm 2002, chiếm 2,1% thị trường bảo hiểm thế giới

Shim Jae-youb, một chuyên gia của Mirae Asset Securities cho biết “người Hàn Quốc bắt đầu tham gia bảo hiểm như một hoạt động đầu tư cho tương lai Họ dường như bắt đầu nhận thấy không ai có thể chăm sóc đầy đủ cho họ, đó là điểm khác biệt so với trước đây” Bảo hiểm phi nhân thọ, loại hình bảo hiểm mà phí bảo hiểm đạt tới 20 nghìn tỉ won (bằng 41% giá trị bảo hiểm nhân thọ trong nước) cũng được dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh

Hoa Kỳ là thị trường bảo hiểm lớn nhất thế giới, với mức phí bảo hiểm tăng tới 1 nghìn USD, hay 38,1% giá trị thị trường bảo hiểm thế giới Tiếp theo là Nhật Bản với 445,5 tỉ USD (17%), Anh với 236,7 tỉ USD (9%), Đức với 135,8 tỉ USD (5,2%), Pháp với 125,1 tỉ USD (4,8%) và Italy với 84,1 tỉ USD (3,2%)

Thực tế bảo hiểm tại thị trường Việt Nam cũng có nhiều biến đổi Năm 2007

là năm đầu tiên Việt Nam thực hịên các cam kết khi trở thành thành viên thứ 150 của

Trang 32

Tổ chức Thương mại Thế giới WTO Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục mở cửa và hội nhập quốc tế với mức độ sâu rộng hơn với nhiều cơ hội và thách thức cho sự nghiệp phát triển nền kinh tế xã hội nói chung và ngành bảo hiểm nói riêng.

Năm 2007 Bộ tài chính đã cấp giấy phép họat động cho Bảo hiểm quân đội, Cathy Life và Great Eastern đưa tổng số doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ lên đến

23 doanh nghiệp Các doanh nghiệp bảo hiểm tiếp tục nâng cao năng lực họat động, chấp nhận cạnh tranh lành mạnh trong xu thế mở cửa hội nhập ngày càng sôi động hơn Các doanh nghiệp bảo hiểm đã chú ý tới đào tạo cán bộ bảo hiểm, đào tạo và sử dụng đội ngủ bảo hiểm ngày càng có chất lượng hơn Hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm đều đầu tư vào phát triển công nghệ thông tin phục vụ cho công tác quản lý và khai thác bảo hiểm Nhiều doanh nghiệp đã tăng vốn với quy mô lớn cao hơn cả vốn pháp định, tăng khả năng tài chính, tăng năng lực giữ lại và giảm bớt phần tái bảo hiểm Một số doanh nghiệp đã chọn được đối tác chiến lược là các tập đoàn bảo hiểm tài chính hàng đầu quốc tế như Bảo Việt với HSBC, Bảo Minh với Swiss Re vừa thu được nguồn thu vốn lớn, vừa tiếp thu được kinh nghiệm công nghệ quản lý bảo hiểm, đầu tư và phát triển sản phảm mới

Năm 2007, phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt doanh thu gần 8.360 tỷ đồng tăng 31% so với năm 2006 Tổng quỹ dự phòng nghiệp vụ đạt 4.500 tỷ đồng, đầu tư vào nền kinh tế gần 9.000 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước trên 1.000 tỷ đồng Dẫn đầu doanh thu là Bảo Việt 2.601 tỷ đồng, tiếp đó là PVI 1.650 tỷ đồng, Bảo Minh 1.612

tỷ đồng, PJICO 880 tỷ đông, PTI 304 tỷ đồng Một số doanh nghiệp mới đi vào họat động cũng đạt doanh thu đáng phấn khởi như BIC 147 tỷ đồng, AAA 157 tỷ đồng, Tòan cầu 172 tỷ đồng, Viễn Đông 156 tỷ đồng

Các doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu lớn là Bảo Minh 2.226 tỷ đồng, PVI 1.750 tỷ đồng, Bảo Việt 1.005 tỷ đồng Các doanh nghiệp bảo hiểm có quỹ dự phòng nghiệp vụ lớn là Bảo Việt 1.895 tỷ đồng, Bảo Minh 785 tỷ đồng, PVI 460 tỷ đồng, PTI 303 tỷ đồng

PTI luôn là một trong những năm doanh nghiệp bảo hiểm hàng đầu tại Việt Nam, mặc dù doanh thu đạt 304 tỷ đồng song quỹ dự phòng của Công ty 303 tỷ đồng, như vậy phần nào đã khẳng định khả năng tài chính của Công ty

Trang 33

CHƯƠNG 2 NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN CHI NHÁNH THỪA THIÊN HUẾ

2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Biểu đồ 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế là một trong 5 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, có toạ độ địa lý là 16-16,8 độ vĩ Bắc và 107,8-108,2 độ kinh đông Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, phía Tây giáp nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào, phía Đông giáp Biển Đông Vị trí địa lý của tỉnh hết sức thuận lợi cho tỉnh phát triển toàn diện cả kinh tế, văn hóa, xã hội và mở rộng giao lưu với các tỉnh trong nước và quốc tế

Trang 34

Với diện tích tự nhiên 5.054 km2, dân số trung bình năm 2006 là 1.137.962 người, chiếm 1,5% về diện tích và 1,4% về dân số so với cả nước Thừa Thiên Huế là một tỉnh trung bình cả về diện tích và dân số của nước ta Độ che phủ rừng tăng lên từ 45% (năm 2001) lên 48,7% (năm 2006).

Nằm giữa thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh-hai trung tâm lớn của hai vùng kinh tế phát triển nhất nước ta - Thừa Thiên Huế là nơi giao thoa về cả điều kiện tự nhiên - kinh tế và xã hội của cả hai miền Nam - Bắc Thừa Thiên Huế nằm trên trục giao thông quan trọng Bắc - Nam, trục hành lang Đông - Tây, nối Thái Lan - Lào - Việt Nam theo đuờng bộ qua 2 cửa khẩu A Đớt và Hồng Vân Thành phố Huế là điểm dừng chính của đường sắt Bắc Nam, có sân bay dân dụng Phú Bài Sự thuận lợi trong việc giao lưu với các vùng khác, đặc biệt là các vùng kế cận như thành phố Vinh (Nghệ An), thành phố Đà Nẵng, nước bạn Lào,… là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế -

xã hội của Thừa Thiên - Huế

Bờ biển của tỉnh dài 120 km, có cảng Thuận An và cảng Chân Mây với độ sâu 18-20m đủ điều kiện đón các tàu có trọng tải lớn cập bến

2.1.1.2 Tài nguyên

Với chiều dài 120 km, vùng biển Thừa Thiên Huế có 4 cửa biển: Thuận An,

Tư Hiền, Cảnh Dương, Lăng Cô Tài nguyên hải sản phong phú, có khoảng 500 loài

cá, tôm … trong đó 30 - 40 loài có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, cá chim, cá thu

và các loại hải sản khác Trữ lượng khai thác trung bình còn thấp, khoảng 30-35 nghìn tấn/năm Thừa Thiên Huế có ưu thế về phát triển thuỷ sản ở cả 3 vùng: Biển, đầm phá và vùng nước ngọt Vùng đầm phá với chiều dài hơn 70 km, diện tích 22.000 ha, có khoảng 160 loài cá, 12 loài tôm và nhiều loại nhuyễn thể Vùng này giàu tiềm năng về nuôi trồng và đánh bắt nhiều loại thuỷ hải sản có giá trị như các loại tôm sú, tôm bạc, cua, cá mú, cá đối, cá dìa, sò huyết, vẹm xanh, ốc hương Đặc biệt có rong câu chỉ vàng là nguồn nguyên liệu phong phú cho công nghiệp chế biến agar và agarose

Tài nguyên khoáng sản, Thừa Thiên Huế có rất ít khoáng sản, các khoáng sản chủ yếu bao gồm titan, đá vôi, và một số loại khác với trữ lượng nhỏ

Trang 35

2.1.1.3 Cơ sở hạ tầng

Thừa Thiên Huế thuận lợi về các đường giao thông nối liền với các tỉnh vùng Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ và với cả nước, có hệ thống đường tỉnh lộ đang được xây dựng và nâng cấp Quốc lộ 1A, đường sắt Thống nhất và đường Hồ Chí Minh chạy dọc theo tỉnh, tạo ra một hành lang phát triển kinh tế và dịch vụ Có đường giao thông, từ cửa biển đến hai cửa khẩu A Đớt và Hồng Vân sang Lào, nối với Thái Lan,

là con đường ngắn nhất và thuận tiện nhất cho Lào và miền Đông Bắc Thái Lan đi ra biển Đông

Ven biển Thừa Thiên Huế còn có những vũng, vịnh có điều kiện thuận lợi để xây dựng các cảng biển như Thuận An, Chân Mây Đặc biệt vịnh Chân Mây đang được xây dựng trở thành một trong những cảng nước sâu lớn nhất khu vực miền Trung

Hệ thống phân phối điện đầu tư mới 315 km đường dây trung thế, 670 km hạ thế, 296 trạm biến áp phân phối, tổng dung lượng 31.000 KVA 100% số xã có điện lưới quốc gia với 95% số hộ sử dụng điện; mô hình quản lý điện nông thôn được chuyển đổi nâng cao hiệu quả sử dụng điện

Hệ thống cấp nước được đầu tư nâng cấp, mở rộng, chất lượng nước được nâng cao, cơ bản đảm bảo phục vụ sản xuất và sinh hoạt Các dự án cấp nước ở khu vực thành phố Huế, thị trấn Alưới, khu tam giáo Bạch Mã-Lăng Cô-Cảnh Dương đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân đồng thời còn tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ tại các khu vực này

Các cơ sở hạ tầng khác như vệ sinh môi trường, y tế giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ trong thời gian qua đã được quan tâm đầu tư góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ phát triển

2.1.2 Đặc điểm xã hội và nhân văn

2.1.2.1 Dân số

Dân số trung bình năm 2006 của Thừa Thiên Huế là 1.137.962 người Dân số thành thị là 357.682 người (chiếm khoảng 31,4% tổng số dân) Tỷ trọng dân thành thị tỉnh Thừa hiên Huế cao hơn mức trung bình của cả nước (27,12%)

Trang 36

Bảng 2.1: Tỷ trọng dân số thành thị và nông thôn các tỉnh Bắc trung bộ năm 2006

(nghìn người) Nông thôn Tỷ trọng

(%)

Thành thị (%)

(Nguồn: Website Tổng cục thống kê)

Tỷ trọng dân thành thị của Thừa Thiên Huế so với khu vực và cả nước cao Do vậy Thừa Thiên Huế có tiềm năng con người về công nghiệp và dịch vụ

Tốc độ tăng dân số tự nhiên đã giảm từ 3,3% (1995) xuống còn 1,45% (2002)

và chỉ còn 1,28% (2006) Chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ từng bước nâng cao Tỷ

lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng chỉ còn 23%

Dân cư phân bố không đều trên lãnh thổ tỉnh, phần lớn tập trung vào thành phố Huế, các thị trấn, vùng ven biển, ven sông Nguồn lao động năm 2006 là 662 nghìn người, chiếm 58,2% dân số

Huế có hệ thống đào tạo đại học và trên đại học, với quy mô lớn gồm 8 trường đại học (7 trường đại học thuộc Đại học Huế và 1 đại học Dân lập), 4 trường cao đẳng, 4 trường trung học chuyên nghiệp

Cơ cấu lao động Thừa Thiên Huế năm 2006: 48% lao động trong ngành nông nghiệp, 22% lao động trong ngành công nghiệp, 30% lao động dịch vụ Thừa Thiên Huế là một tỉnh có điều kiện thuận lợi về du lịch rất lớn so với các tỉnh trong cả nước Nguồn lao động có trình độ có thể được đáp ứng ngay tại tỉnh nhưng với tỷ trọng lao động trong ngành dịch vụ chưa cao chứng tỏ Thừa Thiên Huế vẫn chưa tận dụng được những lợi thế của mình, phát triển mạnh du lịch, đưa du lịch thành ngành kinh

tế mũi nhọn của tỉnh

Trang 37

Bảng 2.2: Hiện trạng lao động tỉnh Thừa Thiên Huế

1 Dân số trung bình người 1.105.500 1.120.000 1.134.500

2 Dân số trong độ tuổi lao động người 624.328 641.906 661.541

3 Lực lượng lao động xã hội người 625.330 642.900 662.560

Công nghiệp và Xây dựng người 138.198 142.724 147.088

(Nguồn: Bảng số liệu điều tra tổng hợp đầy đủ 2006 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế)

Cơ cấu lao động của Thừa Thiên Huế trong những năm gần đây đã có sự chuyển đổi, tỷ trọng lao động trong ngành dịch vụ và công nghiệp xây dựng tăng, nhưng mức độ tăng chưa lớn Và với cơ cấu lao động như vậy, Thừa Thiên Huế vẫn thuộc vào các tỉnh có tỉ trọng lao động nông nghiệp cao trong cả nước

2.1.2.2 Văn hóa

Di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới Nhã nhạc Cung đình Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại

Huế là kinh đô cuối cùng của các Triều đại quân chủ Việt Nam, Huế còn giữ khá tập trung những giá trị văn hóa nghệ thuật cung đình Việt Nam, tiêu biểu một phần cho đỉnh cao của sức sáng tạo Việt Nam trong quá khứ

Nổi bật trong Di sản văn hóa cố đô Huế là hệ thống di tích cố đô đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới Các di tích còn lại đến nay mới được khởi công xây dựng đầu thế kỷ XIX dưới thời các vua Gia Long (1802-1820), Minh Mạng (1820-1840), là sự tiếp nối hệ thống kiến trúc của các dinh phủ, đô thành thời

Trang 38

chúa Nguyễn và kinh đô Phú Xuân của triều đại Tây Sơn Nguyễn Huệ, được tiếp tục

bổ sung, điều chỉnh đến đầu thế kỷ XX

Thành nội Huế với Kỳ đài vững chãi, uy nghi, với 10 cổng thành đối xứng, với

hệ thống các dinh thự Lục Bộ, Cơ Mật viện, Quốc Tử Giám, Tàng Thư lâu, vừa phản ánh những thiết chế trị nước của một vương triều, vừa là chứng tích ghi dấu sự có mặt của nhiều thế hệ danh nhân của đất nước như Nguyễn Du, Phan Huy Vịnh, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Bà Huyện Thanh Quan, Tùng Thiện, Tuy

Lý, Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Tôn Thất Thuyết, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,… phản ánh bộ mặt sinh hoạt chính trị và văn hóa của chốn kinh

kỳ một thời

Ngày nay cùng với chính sách mở cửa, văn hoá Huế cũng đã có những sự giao thoa, thay đổi Bên cạnh những xu hướng tiêu cực, văn hoá Huế cũng đã có những hướng tích cực hoà nhập cùng xu thế của thời đại

2.1.3 Tình hình phát triển kinh tế tỉnh Thừa Thiên Huế

2.1.3.1 Hiện trạng kinh tế tỉnh

Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tốc độ tăng trưởng GDP năm sau cao hơn năm trước, bình quân trong 5 năm 2001-2005 đạt 10,44%, vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XII (8-9%) Đây là thời kỳ

có mức tăng trưởng khá cao, tương đối ổn định và có tính bền vững hơn so với các thời kỳ trước

Giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng tăng 17,8%; giá trị sản xuất nông lâm

và ngư nghiệp nghiệp tăng 4,6%; giá trị sản xuất ngành dịch vụ tăng 13,5%

GDP bình quân đầu người năm 2006 của tỉnh đạt 580 USD, giá trị xuất khẩu đạt 200 triệu USD, thu ngân sách nhà nước đạt 1.373 tỷ đồng

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) có chuyển biến, các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính phủ (ODA) và phi chính phủ (NGO), năm sau cao hơn năm trước

Xuất khẩu bình quân hàng năm tăng 13,9% Công nghiệp và xây dựng có tốc

độ tăng trưởng cao, hình thành một số ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực cho nền kinh tế

Trang 39

Bảng 2.3: Tổng giá trị sản phẩm của tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2004-2006 Năm Tổng sản phẩm

Nông nghiệp Lâm ngiệp Thủy sản

Công nghiệp và xây dựng

(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2006)

Tỷ trọng các ngành năm 2006: Tỷ trọng ngành dịch vụ 43,8%, công nghiệp 36,1%, nông lâm nghiệp thủy sản là 21% Với tỷ trọng giá trị các ngành như vậy Thừa Thiên Huế được đánh giá là tỉnh phát triển công nghiệp và dịch vụ

Công nghiệp và xây dựng duy trì mức tăng trưởng cao (17,6%), trong đó khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp quan trọng như: Bia, xi măng, sợi… chất lượng và sức cạnh tranh của một số sản phẩm công nghiệp đang được cải thiện, kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp tăng 60%, chiếm 70% tổng giá trị xuất khẩu của toàn tỉnh Các ngành dịch vụ đáp ứng tốt hơn yêu cầu sản xuất và đời sống nhân dân, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng khá cao, riêng doanh thu du lịch tăng 46% Giá trị hàng hóa xuất khẩu vượt kế hoạch đề

ra tăng 53,2% Sản xuất nông nghiệp vượt qua khó khăn về thiên tai và dịch bệnh, đạt tăng trưởng cao nhất trong 5 năm qua, nguyên nhân chính là do chuyển đổi cơ cấu cây trồng

Tăng trưởng kinh tế đạt mức cao nhất trong 5 năm qua Tốc độ tăng trưởng đạt 13,4% trong đó nông nghiệp lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,5%, công nghiệp và xây dựng tăng 17,8%, dịch vụ tăng 13,5%

Cơ cấu chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng ngành Nông Lâm Ngư nghiệp giảm từ 21,6% xuống còn 20,1%, tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng tăng tương ứng từ 34,8% lên 35,9%, tỷ trọng ngành dịch vụ là 43,8%

Trang 40

Thu ngân sách đạt khá, năm 2006 là năm đầu tiên đạt trên 1.373 tỷ Huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt khá nhất là vốn đầu tư nước ngoài và đầu tư của doanh nghiệp Một số dự án có vốn đầu tư lớn như thủy điện, xi măng, bia đang được triển khai tích cực.

Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển Doanh nghiệp nhà nước được đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, hoàn thành kế hoạch; kinh tế cá thể tư nhân phát triển Hầu hết các doanh nghiệp đều hoạt động hiệu quả

Hạ tầng kinh tế kỹ thuật tiếp tục được cải thiện, nhất là giao thông, điện nước, trường học Các lĩnh vực xã hội được phát triển toàn diện Công tác xóa đói giảm nghèo có kết quả tốt, công tác xóa nhà tạm cho dân tộc thiểu số được hoàn thành

So với khu vực và cả nước Thừa Thiên Huế là tỉnh có tỷ trọng ngành dịch vụ cao So sánh mức trung bình của khu vực Bắc trung bộ (34,9%) và của cả nước (35,1%) với công nghiệp Thừa Thiên Huế cao hơn mức trung bình của khu vực (30,9%), nhưng thấp hơn trung bình cả nước (39,7%); nguyên nhân do công nghiệp không phải là thế mạnh của Bắc trung bộ

Bảng 2.4: So sánh tổng thu nhập tỉnh Thừa Thiên Huế với khu vực năm 2006

(tỷ đồng)

Tỷ trọng (%) Nông nghiệp

Lâm nghiệp Thủy sản

Ngày đăng: 22/08/2013, 23:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tỷ trọng dân số thành thị và nông thôn các tỉnh Bắc trung bộ năm 2006 - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện chi nhánh thừa thiên huế
Bảng 2.1 Tỷ trọng dân số thành thị và nông thôn các tỉnh Bắc trung bộ năm 2006 (Trang 36)
Bảng 2.2: Hiện trạng lao động tỉnh  Thừa Thiên Huế - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện chi nhánh thừa thiên huế
Bảng 2.2 Hiện trạng lao động tỉnh Thừa Thiên Huế (Trang 37)
Bảng 2.3: Tổng giá trị sản phẩm của tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2004-2006 Năm Tổng sản phẩm - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện chi nhánh thừa thiên huế
Bảng 2.3 Tổng giá trị sản phẩm của tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2004-2006 Năm Tổng sản phẩm (Trang 39)
Bảng 2.4: So sánh tổng thu nhập tỉnh Thừa Thiên Huế với khu vực năm 2006 - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện chi nhánh thừa thiên huế
Bảng 2.4 So sánh tổng thu nhập tỉnh Thừa Thiên Huế với khu vực năm 2006 (Trang 40)
Sơ đồ 2.1 : Sơ đồ tổ chức bộ máy của Chi nhánh - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện chi nhánh thừa thiên huế
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Chi nhánh (Trang 45)
Bảng 2.5: Doanh thu của PTI Huế qua 03 năm - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện chi nhánh thừa thiên huế
Bảng 2.5 Doanh thu của PTI Huế qua 03 năm (Trang 54)
Bảng 2.6: Doanh thu bảo hiểm theo nghiệp vụ của PTI Huế qua 03 năm - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện chi nhánh thừa thiên huế
Bảng 2.6 Doanh thu bảo hiểm theo nghiệp vụ của PTI Huế qua 03 năm (Trang 56)
Bảng 2.7: Chi phí của PTI Huế qua 03 năm - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện chi nhánh thừa thiên huế
Bảng 2.7 Chi phí của PTI Huế qua 03 năm (Trang 58)
Bảng 2.8: Bảng các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh của PTI Huế qua 03 năm - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện chi nhánh thừa thiên huế
Bảng 2.8 Bảng các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh của PTI Huế qua 03 năm (Trang 60)
Bảng 2.9: Các hệ số thanh tóan qua 03 năm 2005-2007 - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện chi nhánh thừa thiên huế
Bảng 2.9 Các hệ số thanh tóan qua 03 năm 2005-2007 (Trang 61)
Bảng 2.10: Ý kiến đánh giá của khách hàng về phí bảo hiểm - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện chi nhánh thừa thiên huế
Bảng 2.10 Ý kiến đánh giá của khách hàng về phí bảo hiểm (Trang 64)
Bảng 2.11: Kiểm định ý kiến đánh giá của khách hàng về phí bảo hiểm  Tiêu chí Theo đối tượng Theo loại hình bảo hiểm - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện chi nhánh thừa thiên huế
Bảng 2.11 Kiểm định ý kiến đánh giá của khách hàng về phí bảo hiểm Tiêu chí Theo đối tượng Theo loại hình bảo hiểm (Trang 65)
Bảng 2.12: Tổng hợp hệ thống kênh phân phối của 5 doanh nghiệp tại  Thừa Thiên Huế năm 2007 - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện chi nhánh thừa thiên huế
Bảng 2.12 Tổng hợp hệ thống kênh phân phối của 5 doanh nghiệp tại Thừa Thiên Huế năm 2007 (Trang 67)
Bảng 2.14: Ý kiến đánh giá của khách hàng về hệ thống kênh phân phối  Tiêu chí Không hài lòng Bình thường Hài lòng - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện chi nhánh thừa thiên huế
Bảng 2.14 Ý kiến đánh giá của khách hàng về hệ thống kênh phân phối Tiêu chí Không hài lòng Bình thường Hài lòng (Trang 68)
Bảng 2.15: Kiểm định ý kiến đánh giá của khách hàng về hệ thống kênh phân phối Tiêu chí Theo đối tượng Theo loại hình bảo hiểm - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện chi nhánh thừa thiên huế
Bảng 2.15 Kiểm định ý kiến đánh giá của khách hàng về hệ thống kênh phân phối Tiêu chí Theo đối tượng Theo loại hình bảo hiểm (Trang 69)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w