1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh quảng ngãi

154 577 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Các Doanh Nghiệp Chế Biến Gỗ Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Ngãi
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2007
Thành phố Quảng Ngãi
Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thạc sĩ, tiến sĩ, chuyên đề, luận văn, khóa luận, đề tài

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong những năm gần đây, ngành chế biến gỗ Việt Nam đã phát triển cả vềquy mô sản xuất, khối lượng, giá trị xuất khẩu Sản phẩm gỗ Việt Nam đã có mặt tạihơn 120 quốc gia trên thế giới, trong đó Mỹ, Nhật Bản và EU là 3 thị trường chính.Ngoài ra, các thị trường như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Đông cũngđầy tiềm năng Tuy nhiên, với việc Việt Nam chính thức gia nhập WTO, bên cạnhlợi thế là không ít khó khăn nếu không có sự chuẩn bị chu đáo Là một trong mườimặt hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất cả nước, nhưng sự tăng trưởng củamặt hàng gỗ xuất khẩu được đánh giá là thiếu bền vững và dễ bị tổn thương bởi cáctác động bên ngoài Gia nhập WTO là cơ hội lớn để vươn tới các thị trường tiềmnăng Các doanh nghiệp sẽ dễ dàng thu hút đầu tư nước ngoài, đầu tư công nghệ chếbiến tiên tiến, hiện đại; được hưởng thuế ưu đãi từ các nước thành viên Bên cạnh

đó cũng đặt ra cho các doanh nghiệp nhiều thách thức lớn như chưa có khả năngtiếp nhận những đơn hàng lớn, mẫu mã sản phẩm chưa phong phú, đa dạng, côngnghệ chế biến còn thô sơ và mang nặng tính thủ công, giá thành sản phẩm cao, áplực cạnh tranh nặng nề

Do thực hiện một số chính sách khuyến khích sản xuất và xuất khẩu sảnphẩm gỗ, sự quan tâm chỉ đạo điều hành của các ngành và địa phương, sự nỗ lựccủa các doanh nghiệp trong việc sản xuất và tìm kiếm thị trường, các doanh nghiệpchế biến gỗ Quảng Ngãi những năm qua đã có bước phát triển mới; vươn lên thànhmột ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu đáng kể của tỉnh; góp phần tạo việc làm,thu nhập cho người lao động, tiêu thụ sản phẩm cho nghề rừng Tuy vậy, những hạnchế mà ngành đang đối mặt đã tác động không nhỏ đến khả năng cạnh tranh: nănglực cung ứng sản phẩm gỗ cho xuất khẩu chưa cao; nguồn nguyên liệu trong nướcchưa ổn định, mới đáp ứng được ở mức độ thấp cả về số lượng và chất lượng; qui

mô sản xuất, chế biến còn nhỏ, phân tán; máy móc, thiết bị và công nghệ lạc hậu;trình độ tổ chức quản lý kinh doanh và tay nghề yếu của đội ngũ lao động; sản

Trang 2

phẩm, mẫu mã chưa đa dạng; công tác thị trường, xúc tiến thương mại, tổ chức quản

lý, phân công, hợp tác trong lĩnh vực này còn yếu…

Trong một môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các doanh nghiệp chếbiến gỗ Quảng Ngãi phải có sự chuẩn bị về lực và định hướng chiến lược phát triển.Nếu doanh nghiệp không có đủ lực, thờ ơ với cạnh tranh thì sẽ bị loại bỏ ra khỏi thịtrường Do đó đặt ra yêu cầu cần phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất kinhdoanh, nghiên cứu những nhân tố đã và đang tác động đến năng lực cạnh tranh củacác doanh nghiệp, từ đó đề xuất các giải pháp Xuất phát từ nhận thức lý luận và

thực tiễn như vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi”.

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung nghiên cứu những mục tiêu chính sau:

- Tổng quan lý thuyết về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

- Xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, trong đó có so sánh với ngành chếbiến gỗ một số địa phương

- Đề xuất giải pháp vi mô và vĩ mô để nâng cao năng lực cạnh tranh của cácdoanh nghiệp

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề liên quan đến năng lực cạnhtranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về thời gian: Việc phân tích tổng quan phát triển ngành chế biến gỗ

được giới hạn trong giai đoạn 2004-2006 Ngoài ra, để thực hiện việc đánh giá cácnhân tố tác động đến năng lực cạnh của doanh nghiệp chế biến gỗ Quảng Ngãi, đềtài tiến hành khảo sát toàn bộ 36 doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành trên địabàn tỉnh Thời gian khảo sát bắt đầu vào tháng 9 năm 2007 nên số liệu thu thập từphía doanh nghiệp từ năm 2004 đến năm 2006

Trang 3

Phạm vi về không gian: Địa bàn nghiên cứu là tỉnh Quảng Ngãi, một số chỉ

tiêu nhất định có khả năng mang tính khác biệt sẽ được nghiên cứu theo phân tổ vịtrí hoặc thị trường tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp

4 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Đúc kết kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chếbiến gỗ ở một số địa phương khác

- Đánh giá vai trò của các chính sách trong việc nâng cao năng lực cạnh tranhcủa các doanh nghiệp chế biến gỗ

- Đánh giá nhận thức về cạnh tranh, về thị trường và hội nhập của các doanhnghiệp chế biến gỗ tại địa bàn nghiên cứu

- Xác định lợi thế cũng như yếu thế cạnh tranh mang tính nội sinh, những cơhội và nguy cơ của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

- Đề xuất hệ thống giải pháp ở tầm vi mô và vĩ mô để các doanh nghiệp chếbiến gỗ Quảng Ngãi có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của mình

5 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 4 chương :

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH – NĂNG LỰC

CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

Chương 1 trình bày khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh ở các cấp

độ quốc gia, doanh nghiệp, ngành và sản phẩm Đồng thời tìm hiểu về các yếu tốcấu thành và nhóm nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.Chương này cũng nêu lên một số nghiên cứu thực tiễn liên quan, giới thiệu kinhnghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ tỉnh BìnhĐịnh và rút ra bài học

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 giới thiệu về ngành chế biến gỗ, về quá trình phát triển qua cácgiai đoạn của ngành chế biến gỗ tỉnh Quảng Ngãi, đồng thời sơ lược tình hình sảnxuất kinh doanh Ở chương này cũng xác định các phương pháp phục vụ cho việcthực hiện đề tài

Trang 4

Chương 3: PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH

NGHIỆP CHẾ BIẾN GỖ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

Chương 3 bắt đầu bằng phân tích khái quát về tình hình hoạt động sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Đểđánh giá những nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của đối tượng nghiên cứu,chương này thực hiện nghiên cứu trên hai nhóm yếu tố: vi mô và vĩ mô

Về những yếu tố vĩ mô, chương 3 đã trình bày các chính sách tác động đếnkhả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãinhư chính sách huy động vốn, chính sách hỗ trợ kỹ thuật, chính sách xúc tiếnthương mại Đồng thời chương này cũng đi vào đánh giá tác động của hội nhậpảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu như thế nào

Về yếu tố vi mô, chương 3 đã phân tích các chỉ tiêu tác động đến năng lựccạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi như: quy

mô doanh nghiệp, đất đai, nhà xưởng, nguồn nguyên liệu, trình độ lao động, trình

độ công nghệ sản xuất, chi phí, sản phẩm, thị trường đầu ra, xúc tiến thương mại vànhận thức về cạnh tranh Dựa trên phân tích trên, đề tài đã xác định được nhữngnhân tố mà các doanh nghiệp chế biến gỗ đang có lợi thế hay bất lợi

Chương 4: GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC

CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN GỖ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

Chương này đề tài đã đề xuất hai nhóm giải pháp chính: đối với doanhnghiệp và đối với Nhà nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Trang 5

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HOÁ

1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh

1.1.1.1 Cạnh tranh

Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hoá, là một độnglực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế Cạnh tranhmang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng Người sản xuất phải tìm mọicách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có

tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn để đáp ứng với thị hiếu củangười tiêu dùng Cạnh tranh xuất hiện từ nửa sau thế kỷ XVIII, xuất phát từ “tự dokinh tế” mà Adam Smith đã phát hiện Nhờ cạnh tranh mà xã hội loài người ngàycàng phát triển Cạnh tranh kích thích lòng tự hào, ý chí vươn lên, ham muốn làmgiàu, ham muốn khám phá… nhờ đó mà thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển, làmcho mọi ngành kinh tế, mọi doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh để khẳng định sự tồntại của mình

Cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế, tuỳ thuộc vào cách tiếp cận mà có nhữngquan niệm khác nhau Về mặt thuật ngữ, có thể dẫn ra đây một số khái niệm như sau:

Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa cácnhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hànghoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”[12] Ở đây, Các Mác đã đề cập tới vấn đềcạnh tranh trong xã hội tư bản chủ nghĩa, mà đặc trưng của chế độ này là chế độchiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Do vậy, theo quan niệm này thì cạnh tranh cónguồn gốc từ chế độ tư hữu

Trang 6

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì thuật ngữ này được định nghĩa: “Cạnhtranh (trong kinh doanh) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hànghoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chiphối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường

có lợi nhất”[23]

Trong cuốn Từ điển rút gọn về kinh doanh thì: “Cạnh tranh là sự ganh đua,

sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng một loại tàinguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”[1]

P.Samuelson trình bày trong cuốn Kinh tế học của mình: “Cạnh tranh là sựkình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thịtrường”[16]

Các tác giả của cuốn Các vấn đề pháp lý về thể chế về chính sách cạnh tranh

và kiểm soát độc quyền kinh doanh thì cho rằng: “Cạnh tranh có thể được hiểu là sựganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặckhách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục tiêukinh doanh cụ thể”[26]

Thực tế còn rất nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ cạnh tranh dùngtrong kinh doanh, và ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnhtranh và coi cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực của sự phát triển kinh tế -

xã hội Từ việc tiếp cận thuật ngữ cạnh tranh qua các khái niệm trên, ta có thể rút ra

rằng: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua tìm mọi

biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.

1.1.1.2 Năng lực cạnh tranh

Cũng như cạnh tranh, khái niệm về năng lực cạnh tranh (còn gọi là sức cạnhtranh, khả năng cạnh tranh) cũng rất phức tạp, được xem xét trên nhiều góc độ, cấp

Trang 7

độ khác nhau: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Có thể trình bày ở đây một số địnhnghĩa như sau:

Theo OCED thì “năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đốicao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp,các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điềukiện cạnh tranh quốc tế”[2]

Hội đồng về sức cạnh tranh của Mỹ đưa ra định nghĩa: Năng lực cạnh tranh

là năng lực kinh tế về hàng hoá và dịch vụ của một nền sản xuất có thể vượt qua thửthách trên thị trường thế giới trong khi mức sống của dân chúng có thể được nângcao một cách vững chắc, lâu dài

Như vậy, trên cơ sở nghiên cứu các khái niệm khác nhau về năng lực cạnhtranh thì rõ ràng cần thiết phải nhận biết và phân loại theo từng cấp độ khác nhau, từ

đó tạo ra nhận thức đúng đắn và đầy đủ về khái niệm năng lực cạnh tranh củaDoanh nghiệp

a Cấp độ quốc gia

Theo các chuyên gia kinh tế, để xác định khả năng tăng trưởng bền vững, thuhút đầu tư trong nước và ngoài nước, đảm bảo ổn định xã hội, cải thiện đời sốngngười dân trong nền kinh tế toàn cầu hoá, khái niệm năng lực cạnh tranh quốc gia

đã được hình thành như một khái niệm phức hợp, dựa trên một chùm các yếu tốkhác nhau ở tầm kinh tế vĩ mô và năng lực quản lý của các doanh nghiệp Theo địnhnghĩa của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF – World Economic Forum) thì năng lựccạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt và duy trì được mức tăng trưởng caotrên cơ sở các chính sách, thể chế vững bền tương đối và các đặc trưng kinh tếkhác[27]

Qua khái niệm này ta thấy năng lực cạnh tranh của quốc gia được xác địnhtrước hết bằng mức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, các yếu tố tác độngtrong dài hạn hay ngắn hạn đến khả năng tăng trưởng kinh tế trong tương lai Tuynhiên, có thể nhận thấy khái niệm này đã bỏ qua một số yếu tố quan trọng khác tác

Trang 8

động đến tiềm năng tăng trưởng dài hạn của quốc gia như sự tiến bộ về giáo dục,khoa học công nghệ…

Một số nhà kinh tế khác lại đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của quốcgia dựa trên năng suất lao động, cụ thể là M.Porter: “Khái niệm có ý nghĩa nhất vềnăng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất lao động”[13] Trong lý luận củamình, Porter dành cho chính phủ và công ty vai trò mới có tính chất hợp tác và khảthi trong tiến trình nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế Đối với chính phủ thìnhiệm vụ quan trọng hàng đầu là tích cực tạo ra môi trường nâng cao năng suất Cónhững lĩnh vực chính phủ cần phải tích cực đầu tư như nguồn nhân lực, hạ tầng cơsở… Nói khác đi, chính phủ cần tạo ra môi trường thuận lợi cho cạnh tranh chứkhông phải trực tiếp tham gia vào cạnh tranh Đối với bên công ty, Porter chỉ rarằng nhiều lợi thế cạnh tranh nằm ở bên ngoài và nó bắt nguồn từ vị trí địa lý và sự

tụ họp trong một ngành Khái niệm năng suất do Porter khởi xướng đã biểu thị chonăng lực cạnh tranh, được giới học thuật chấp nhận một cách rộng rãi

Còn với Fagerberg thì năng lực cạnh tranh quốc gia như là “khả năng củamột đất nước trong việc nhận thức rõ mục đích của chính sách kinh tế tập trung,nhất là đối với tăng trưởng thu nhập và việc làm, mà không gặp phải các khó khăntrong cán cân thanh toán”[22]

Từ việc nghiên cứu tìm hiểu các quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh

quốc gia, có thể đúc rút và hiểu rằng: năng lực cạnh tranh của quốc gia là năng lực

của một nền kinh tế từ tổng hoà những yếu tố tác động đến khả năng tăng trưởng trong môi trường kinh tế đầy biến động trên thị trường thế giới.

Trang 9

Năng lực cạnh tranh theo quan điểm của Fafchamps chính là khả năng doanhnghiệp có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi bình quân thấp hơn giá của nótrên thị trường, điều đó có nghĩa là doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra sảnphẩm có chất lượng tương đương với sản phẩm cùng loại do doanh nghiệp khác sảnxuất, nhưng với chi phí thấp hơn thì được coi là có năng lực cạnh tranh cao[18].Dunning lại cho rằng năng lực cạnh tranh là khả năng cung ứng sản phẩm của chínhdoanh nghiệp trên các thị trường khác nhau mà không phân biệt vị trí bố trí củadoanh nghiệp đó[18] Còn với Philip Lasser, sức cạnh tranh của một công ty trongmột lĩnh vực được xác định bằng những thế mạnh mà công ty có hoặc huy độngđược để có thể cạnh tranh thắng lợi Năm 1992, Markusen đã đưa ra khái niệm:

“Một nhà sản xuất cạnh tranh nếu như nó có một mức chi phí đơn vị trung bìnhbằng hoặc thấp hơn chi phí đơn vị của các nhà cạnh tranh quốc tế”[6]

Như vậy, ta thấy rằng thực tế tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp Có quan niệm gắn sức cạnh tranh với ưu thế sảnphẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường, có quan niệm gắn sức cạnh tranh củadoanh nghiệp theo thị phần mà nó chiếm giữ, có tác giả lại đồng nghĩa năng lựccạnh tranh với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp… Từ nhận thức lý luận vàthực tiễn, cần hiểu rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ có từ thựclực và lợi thế của bản thân nó mà còn chịu tác động của rất nhiều nhân tố khác.Trong thực tế, có nhiều doanh nghiệp thực lực rất nhỏ nhưng vẫn duy trì được vị trícủa mình trên thương trường so với các đối thủ cạnh tranh bằng cách huy độngngoại lực, vay mượn tạm thời…

Về mặt khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể dẫn ra đây rấtnhiều quan điểm khác nhau nữa Song, đúc kết từ lý luận đã nghiên cứu, có thể hiểu

năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo nghĩa chung là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ, chi phí sản xuất thấp, chiếm phần lớn thị trường, tạo ra thu nhập cao cho người lao động và duy trì khả năng phát triển bền vững Để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ta có thể dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau: thị phần,

Trang 10

doanh thu, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, thu nhập bình quân, phương pháp quản

lý, uy tín với thị trường, tài sản, nguồn nhân lực…

c Cấp độ ngành, sản phẩm

Ở cấp độ ngành, năng lực cạnh tranh là khả năng của các công ty cùng hoạt

động sản xuất kinh doanh ở một lĩnh vực nhất định trong nước thành công hơn sovới các đối thủ nước ngoài Nói cách khác, năng lực cạnh tranh ngành được đánhgiá bằng cách so sánh giữa những công ty trong nước với các công ty nước ngoàihoạt động trong cùng một ngành Ở đây cần hiểu rằng những công ty nước ngoài cóthể hoạt động trên cùng lãnh thổ với công ty trong nước hoặc là ở quốc gia, vùnglãnh thổ khác

Năng lực cạnh tranh ngành được đánh giá theo hai phương pháp sau:

- Thông qua chi phí và năng suất của những nhân tố đầu vào: một ngành đượcxem là có năng lực cạnh tranh khi tổng năng suất các yếu tố đầu vào bằng hoặc caohơn các đối thủ nước ngoài cùng ngành, hoặc có chi phí trung bình bằng hoặc thấphơn các đối thủ nước ngoài

- Thông qua yếu tố thương mại: phương pháp này dựa vào tỷ lệ xuất nhậpkhẩu của ngành Theo phương pháp này, một ngành được xem là có năng lực cạnhtranh cao hơn đối thủ nước ngoài nếu ngành đó có tỷ lệ xuất khẩu cao hơn hoặc tỷ

lệ nhập khẩu thấp hơn

Ở cấp độ sản phẩm, cho đến nay các nhà nghiên cứu kinh tế vẫn chưa đưa

ra một định nghĩa thống nhất về năng lực cạnh tranh của sản phẩm Nhìn chung thìcác khái niệm chúng ta tiếp cận đều dựa trên khái niệm về năng lực cạnh tranh củaquốc gia, của doanh nghiệp

Một số quan điểm cho rằng năng lực cạnh tranh của sản phẩm là sự vượt trội

ở một số chỉ tiêu nhất định so với sản phẩm cùng loại do các đối thủ cung cấp trêncùng một thị trường Định nghĩa rõ ràng hơn, một số tác giả cho rằng: năng lực cạnhtranh của sản phẩm chính là năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của loại sảnphẩm do chủ thể sản xuất và cung ứng nào đó đem ra để tiêu thụ so với sản phẩmcùng loại của các chủ thể sản xuất, cung ứng khác đem đến tiêu thụ ở cùng một khu

Trang 11

xác định sản phẩm có năng lực cạnh tranh hay không trên thị trường, là xác địnhmức độ tin cậy của người tiêu dùng đối với sản phẩm về các chỉ tiêu như giá cả,chất lượng, dịch vụ hậu mãi…so với sản phẩm cùng loại trên cùng một thị trườngchứ không quan tâm đến việc nó có vượt trội hơn so với mọi sản phẩm xuất khẩu tạichỗ hay không Hay một quan niệm khác cho rằng: năng lực cạnh tranh của một sảnphẩm được đánh giá qua chất lượng, mức độ đa dạng hoá sản phẩm, giá cả, khảnăng thâm nhập thị trường mới và khả năng lôi kéo khách hàng.

Như vậy, có thể thấy rằng có rất nhiều khái niệm khác nhau về năng lực cạnhtranh của sản phẩm, mặc dù chưa hoàn toàn thống nhất song ta có thế đúc rút rằng:

năng lực cạnh tranh của sản phẩm được cấu thành bởi nhiều yếu tố, trong đó có những yếu tố nắm vai trò quan trọng như: khả năng sử dụng thay thế cho công dụng kinh tế của một loại sản phẩm khác biệt tương tự với loại sản phẩm đó, yếu tố

về chất lượng, về giá cả, về khả năng thoả mãn nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng, đồng thời mang lại lợi nhuận có thể chấp nhận cho nhà sản xuất…

Qua nghiên cứu về khái niệm cạnh tranh ở các cấp độ, chúng ta thấy rằnggiữa chúng có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Khi khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp được hoàn thiện phát triển sẽ tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh mạnh trênthị trường, và ngược lại, một doanh nghiệp có nhiều sản phẩm mang tính cạnh tranhcao sẽ làm cho thế và lực của doanh nghiệp được củng cố và phát triển Đến lượtmình, các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao sẽ góp phần làm cho nền kinh tế

có năng lực cạnh tranh quốc gia cao; để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có sức cạnhtranh, môi trường kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách kinh tế

vĩ mô phải rõ ràng, nền kinh tế phải ổn định, bộ máy Nhà nước phải hoạt động cóhiệu quả…Mặt khác, các yếu tố thuộc về bên trong doanh nghiệp mà đặc biệt làkhâu tổ chức quản lý cũng là yếu tố rất quan trọng cần nghiên cứu xem xét, bởi lẽtrong cùng môi trường kinh doanh lại có những doanh nghiệp thành công bên cạnhnhững doanh nghiệp thất bại Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thể hiện ởkết quả cuối cùng mà các chiến lược kinh doanh mang lại như doanh thu, lợi nhuận,thị phần… Với vai trò tế bào của nền kinh tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệpchính là cơ sở cho năng lực cạnh tranh quốc gia

Trang 12

1.1.2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hoá

Quá trình toàn cầu hoá đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ và sâu rộng, hộinhập kinh tế quốc tế là điều tất yếu đối với mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ Hộinhập kinh tế quốc tế, hoà mình vào biển lớn là mở cửa nền kinh tế, thực hiện tự dohoá thương mại, đưa các doanh nghiệp trong nước tham gia vào cuộc cạnh tranhquốc tế Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh quốc tế đặt các doanh nghiệp của mỗiquốc gia trước những thử thách nghiệt ngã Hội nhập kinh tế quốc tế có tác động tolớn đối với sự phát triển kinh tế nói chung của quốc gia, thể hiện ở một số điểm sau:

Thứ nhất, hội nhập là để cùng hợp tác phát triển, nhưng cũng là cuộc đấu

tranh sinh tồn Do đó các nước đang phát triển phải đấu tranh để bảo vệ lợi ích củamình, vì một trật tự công bằng, chống lại những áp đặt phi lý của các cường quốckinh tế và các công ty xuyên quốc gia

Thứ hai, hội nhập kinh tế đòi hỏi phải từng bước xoá bỏ các rào cản về

thương mại và đầu tư giữa các quốc gia theo hướng tự do hoá kinh tế

Thứ ba, hội nhập kinh tế quốc tế một mặt tạo điều kiện thuận lợi mới cho

doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, mặt khác buộc các doanh nghiệp phải cónhững đổi mới để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thương trường

Thứ tư, hội nhập kinh tế quốc tế tạo thuận lợi cho việc thực hiện các công

cuộc cải cách ở các quốc gia nhưng đồng thời cũng là yêu cầu, sức ép đối với cácquốc gia trong việc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế, đặc biệt là các chính sách

và phương thức quản lý vĩ mô

Thứ năm, hội nhập kinh tế quốc tế chính là tạo dựng các nhân tố mới cho sự

phát triển của từng quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế trên cơ sở trình độ pháttriển cao và hiện đại hoá lực lượng sản xuất

Thứ sáu, hội nhập kinh tế quốc tế chính là sự khơi thông các dòng chảy

nguồn lực trong và ngoài nước, tạo điều kiện mở rộng thị trường, chuyển giao côngnghệ và các kinh nghiệm quản lý

Trang 13

Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh quốc tế đặt nền kinh tế và các doanhnghiệp trước những thách thức:

- Nền sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, tính cạnh tranh càng trở nênkhốc liệt trên cả thị trường trong nước và xuất khẩu Tỷ lệ các doanh nghiệp ViệtNam có khả năng cạnh tranh ngay trên sân nhà là rất thấp, chưa nói đến việc cạnhtranh tranh trên các thị trường khác Vì thế đòi hỏi đầu tiên đối với doanh nghiệptrong hội nhập kinh tế quốc tế chính là phải không ngừng lớn lên cả về lượng lẫn vềchất Cụ thể là không ngừng mở rộng qui mô, tăng vốn, đầu tư công nghệ mới, cảithiện chất lượng nguồn nhân lực để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và nângcao năng lực cạnh tranh

- Khi hội nhập, các doanh nghiệp phải đối đầu với những rào cản thương mạiquốc tế, mà giải quyết vấn đề này phải xuất phát từ cả Nhà nước và doanh nghiệp.Nhà nước đóng vai trò là người cung cấp thông tin, lộ trình thực hiện…, các doanhnghiệp tiếp nhận và xử lý để trang bị kiến thức về thị trường nước ngoài, tập quántiêu dùng, luật kinh doanh… ở thị trường mới

Qua những phân tích ở trên cho thấy, sẵn sàng chấp nhận cạnh tranh vàkhông ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh là vấn đề sống còn đối với mọi doanhnghiệp hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, trong điều kiện toàn cầuhoá Các doanh nghiệp thuộc các ngành, các thành phần kinh tế chỉ có thể tồn tại vàphát triển trong tiến trình hội nhập quốc tế khi năng lực cạnh tranh được nâng cao

1.2 CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

Để tồn tại và phát triển bền vững doanh nghiệp phải có năng lực cạnh tranh.Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được quyết định bởi nhiều yếu tố Mỗi yếu

tố sẽ trở thành lợi thế cạnh tranh nếu doanh nghiệp biết cách đầu tư, xây dựng vàphát triển nó trong bối cảnh cụ thể của thị trường và cạnh tranh Các yếu tố cấuthành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chính là các yếu tố tạo ra sức cạnhtranh, tạo ra sự vượt trội không ngừng so với đối thủ và cả chính mình trong suốtquá trình tham gia thị trường Đối với ngành chế biến gỗ, có thể khái quát nhóm cácyếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh sau :

Trang 14

1.2.1 Quy mô vốn, đất đai nhà xưởng của doanh nghiệp

Vốn là một nguồn lực doanh nghiệp cần phải có trước tiên vì không có vốnthì không thể thành lập doanh nghiệp và tiến hành hoạt động Một doanh nghiệp cónăng lực cạnh tranh là doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào, luôn bảo đảm huy độngđược vốn trong những điều kiện cần thiết một cách hợp lý; bên cạnh đó, doanhnghiệp cần phải có kế hoạch sử dụng đồng vốn một cách hiệu quả để tăng khả năngsinh lời Để có được nguồn vốn dồi dào, doanh nghiệp phải đa dạng hoá nguồncung vốn Nếu không có nguồn vốn dồi dào thì sẽ hạn chế rất lớn đến kết quả hoạtđộng của doanh nghiệp trong việc tiếp cận công nghệ hiện đại, nâng cao trình độnguồn nhân lực, triển khai nghiên cứu thị trường, tìm kiếm thông tin

Đối với các doanh nghiệp chế biến gỗ, diện tích đất đai nhà xưởng cũng làmột trong những yếu tố đầu tiên cần thiết cho quá trình hoạt động Vấn đề trước hếtcần đề cập là nguyên vật liệu của ngành này chiếm diện tích không gian khá lớn, lại

dễ bị tác động bởi các điều kiện tự nhiên, do đó điều kiện cần thiết giúp cho việcbảo quản tốt nguyên vật liệu ở doanh nghiệp là phải có hệ thống kho tàng đủ tiêuchuẩn kỹ thuật Ngoài ra, khu vực sản xuất với hệ thống máy móc thiết bị cồngkềnh, nhiều công đoạn cũng yêu cầu một diện tích phù hợp mới có thể thao tác Qua

đó có thể thấy được rằng đất đai nhà xưởng cũng là một yếu tố quan trọng tác độngđến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ

1.2.2 Nguồn nguyên liệu

Nguyên vật liệu là đối tượng lao động – một trong ba yếu tố cơ bản của quátrình sản xuất Đối với các doanh nghiệp chế biến gỗ, chi phí nguyên vật liệuthường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh

Nguyên liệu của ngành chế biến gỗ hiện nay được cung cấp từ hai nguồnchính là trong nước và nhập khẩu Rừng tự nhiên Việt Nam sau nhiều năm khaithác, sử dụng và cùng với nhiều nguyên nhân khác nhau (du canh du cư, phát nương

làm rẫy, khai hoang trồng lương thực và cây công nghiệp, di dân tự do, khai thác

quá mức) đến nay đã suy giảm nhiều về số lượng và chất lượng Đứng trước tìnhhình đó Nhà nước phải hạn chế khai thác để bảo vệ được vốn rừng hiện có bằng

Trang 15

quyết định đóng cửa rừng tự nhiên Tuy nhiên về lâu dài, cần có sự điều chỉnh chủtrương này để phù hợp với thực tế hơn Bởi vì cây rừng có sinh trưởng phát triểnkhi đạt đến mức thành thục cần khai thác sử dụng hợp lý (trên cơ sở lượng tăng

trưởng của rừng) để rừng tiếp tục sinh trưởng, phát triển Cùng với việc thực hiện

giảm dần lượng khai thác hướng tới đóng cửa rừng tự nhiên là chuyển hướng đẩymạnh trồng rừng và tăng cường sử dụng nguyên liệu rừng trồng vào sản xuất, chếbiến các loại sản phẩm

Do nguồn nguyên liệu trong nước không đủ cung cấp nên Việt Nam phảinhập khẩu một khối lượng tương đối lớn nguyên liệu gỗ từ các nước trong vùng vàtrên thế giới Việc nhập khẩu gỗ từ một số quốc gia có nền lâm nghiệp chưa pháttriển đang đứng trước những nguy cơ bị các tổ chức phi chính phủ quốc tế lên án vàyêu cầu hạn chế Các nước này cũng đang dần phải hoàn thiện công tác kinh doanhrừng bền vững để đáp ứng những yêu cầu của các tổ chức quốc tế đề ra, các loại gỗphải được kiểm tra chứng chỉ rừng trước khi xuất khẩu sang các nước khác Nhưvậy, trong một vài năm tới việc nhập khẩu gỗ từ các nước trên sẽ bị hạn chế rấtnhiều Do vậy nguồn nguyên liệu cho chế biến sẽ bị ảnh hưởng nếu như Việt Namkhông chuẩn bị trước kế hoạch phát triển cho những năm tới Trong thời gian tớiviệc nhập nguyên liệu từ các nước Đông Nam á sẽ gặp nhiều khó khăn, Việt Namđang phải chuyển hướng nhập nguyên liệu từ các nước Châu Phi

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp chế biến gỗ cần chủđộng nguồn nguyên liệu, khai thác các thị trường cung cấp một cách hữu hiệu nhằmđạt được mục tiêu sản xuất đảm các yêu cầu quản lý chất lượng với chi phí thấpnhất có thể Nguồn nguyên liệu thực sự là một yếu tố quan trọng, với đặc trưng củangành chế biến gỗ, giải quyết được bài toán nguyên liệu là doanh nghiệp đã có đượclợi thế nhất định trong quá trình cạnh tranh

1.2.3 Chất lượng đội ngũ lao động, cán bộ quản lý

Nhân lực là nguồn rất quan trọng vì nó sáng tạo ra các nguồn khác Từ xưađến nay vẫn thế, chẳng qua trước đây con người chưa nhận thức được vai trò củamình mà thôi Tuy nhiên, xã hội càng tiến lên thì vai trò của con người càng được

Trang 16

thể hiện rõ hơn Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là vốn quý nhất Trình độ củanguồn nhân lực thể hiện ở trình độ quản lý của các cấp lãnh đạo, trình độ lành nghềcủa nhân viên, công nhân; trình độ tư tưởng văn hoá của mọi thành viên Trình độnguồn nhân lực cao sẽ tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao Sản phẩm

có hàm lượng kỹ thuật cao sẽ bán được nhiều hơn, với giá cao hơn, lợi nhuận củadoanh nghiệp ngày càng tăng, uy tín và danh tiếng doanh nghiệp ngày càng lớn.Nhờ uy tín và danh tiếng đó mà doanh nghiệp có điều kiện phát triển thị trường, mởrộng quy mô, góp phần làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển

Chất lượng đội ngũ lao động, cán bộ quản lý là yếu tố quyết định hiệu quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp Trình độ, năng lực của cán bộ quản lý ảnh hưởng rất lớn đến kếtquả kinh doanh của doanh nghiệp Nếu các thành viên có trình độ, kinh nghiệm, khảnăng đánh giá, năng động, có mối quan hệ tốt với bên ngoài thì họ sẽ mang lạinhững lợi ích dài hạn cho doanh nghiệp Trình độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụcủa người lao động và cả lòng hăng say làm việc của họ cũng là một yếu tố tác độngmạnh mẽ đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Đây là tiền đề để doanh nghiệp

có thể tham gia và đứng vững trong cạnh tranh

1.2.4 Trình độ công nghệ sản xuất

Để có năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp phải được trang bị bằng công nghệhiện đại Công nghệ hiện đại là công nghệ sử dụng ít nhân lực (người điều khiển ít),thời gian tạo ra sản phẩm ngắn, tiêu hao năng lượng và nguyên liệu thấp, năng suấtcao, chất lượng sản phẩm tốt, không gây ô nhiễm môi trường… Sử dụng công nghệhiện đại giúp cho doanh nghiệp tăng năng năng lực cạnh tranh của mình trên thịtrường Để sử dụng công nghệ có hiệu quả, doanh nghiệp cần lựa chọn công nghệthích hợp, có nghĩa là doanh nghiệp phải dự báo được chu kỳ sống (chu kỳ đổi mới)công nghệ để thay đổi công nghệ, để tạo ra sản phẩm phù hợp với yêu cầu thịtrường; đồng thời phải đào tạo công nhân đủ trình độ để điều khiển và kiểm soátcông nghệ, nếu không sẽ xảy ra trường hợp công nghệ hiện đại nhưng không đượckhai thác hiệu quả Trong thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển với tốc độ

Trang 17

lớn, các công nghệ rất chóng bị lạc hậu Vì vậy, các doanh nghiệp cần chú ý sửdụng các công nghệ hiện đại, có độ linh hoạt cao để dễ dàng cải tiến, đổi mới.Doanh nghiệp được trang bị công nghệ, máy móc hiện đại, nguyên vật liệu tốt thìmới có điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất, hạ giá thành, tạođiều kiện tăng khả năng cạnh tranh.

1.2.5 Chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế quan trọng gắn liền vớisản xuất và lưu thông hàng hoá Ðó là những hao phí lao động xã hội được biểuhiện bằng tiền trong quá trình hoạt động kinh doanh Chi phí của doanh nghiệp là tất

cả những chi phí phát sinh gắn liền với doanh nghiệp trong quá trình hình thành, tồntại và hoạt động từ khâu mua nguyên vật liệu, tạo ra sản phẩm đến khâu tiêu thụ nó.Trong quá trình sản xuất doanh nghiệp phải chi ra các chi phí về lao động vật hoánhư nguyên vật liệu, dụng cụ… Đồng thời doanh nghiệp cũng phải chi ra các khoản

về chi phí lao động sống như tiền lương (tiền công của người lao động), các khoảntrích theo lương… Chi phí sản xuất kinh doanh cũng bao gồm cả chi phí nghiên cứuphát triển (R&D), các chi phí tiện ích (điện, nước…), chi phí vận tải, chi phí thuêmặt bằng sản xuất kinh doanh… Chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới làchi phí quan trọng trong nền kinh tế hiện đại bởi các doanh nghiệp muốn tồn tại,muốn có sức cạnh tranh thì cần phải biết đổi mới mình Các chi phí điện, nước…luôn là một yếu tố được xem xét khi có dự án đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài.Điều này cho thấy chi phí điện, nước… ảnh hưởng không nhỏ tới giá thành sảnphẩm trong và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2.6 Các yếu tố liên quan đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Muốn nói tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không thể không bàn tớinăng lực cạnh tranh của sản phẩm do doanh nghiệp đó tạo ra Vì một doanh nghiệp

có năng lực cạnh tranh thì một trong những yếu tố quan trọng là các sản phẩm dodoanh nghiệp tạo ra phải có năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của sản phẩmchịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, thời giancung cấp, dịch vụ đi kèm, danh tiếng - uy tín doanh nghiệp

Trang 18

1.2.6.1 Chất lượng, mẫu mã

Chất lượng sản phẩm là mức độ của một tập hợp các đặc tính của sản phẩmlàm thoả mãn nhu cầu Một số sản phẩm có nhiều đặc tính, nhiều chỉ tiêu chấtlượng Nếu tập hợp các đặc tính đó làm thoả mãn được yêu cầu của khách hàng thìsản phẩm mới gọi là có chất lượng

Sản xuất sản phẩm đảm bảo chất lượng, thoả mãn yêu cầu khách hàng manglại hiệu quả lớn cho nền kinh tế, mang lại giàu có cho doanh nghiệp và quốc gia.Thực tiễn thế giới đã cho chúng ta thấy rằng các nước như Hàn Quốc, Singapore,Nhật Bản là những nước có nền kinh tế phát triển đã lấy chất lượng làm nền tảng,

đã tạo ra những “chuyện thần kỳ” về kinh tế mà cả thế giới phải khâm phục

Trước hết, chất lượng sản phẩm tốt mang lại hiệu quả kinh tế cao Chấtlượng là tiết kiệm Sở dĩ có thể khẳng định như vậy bởi nếu mọi sản phẩm được sảnxuất ra đều đảm bảo chất lượng, không có phế phẩm hoặc tỷ lệ phế phẩm nhỏ thìnhững lao động quá khứ nằm trong nguyên vật liệu, trong máy móc thiết bị, trongnhà xưởng và những lao động hiện tại để làm ra sản phẩm không bị bỏ đi (do lượngphế phẩm) mà còn được gia tăng giá trị (nhờ đảm bảo chất lượng) Sản xuất khôngkhuyết tật thì doanh nghiệp không phải bỏ thêm lao động, thời gian, nguyên liệu,hao mòn máy móc để khắc phục những hư hỏng, từ đó mà tiết kiệm chi phí sảnxuất Mặt khác, chất lượng sản phẩm tốt làm cho chi phí sử dụng và chi phí môitrường giảm Như vậy, rõ ràng là chất lượng mang lại tiết kiệm cho cả quốc gia vàdoanh nghiệp

Chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng nhất để nâng cao năng lực cạnhtranh cho sản phẩm Trước đây, giá cả thường là yếu tố quan trọng nhất của nănglực cạnh tranh do đời sống vật chất của con người chưa cao Nhưng từ những năm

80 của thể kỷ XX đến nay thì xu thế cạnh tranh của sản phẩm đã nghiêng về chấtlượng Chất lượng cao đồng nghĩa với nhu cầu của người tiêu dùng được thoả mãncao, tạo được niềm tin và nhờ vậy mà doanh thu của doanh nghiệp mới tăng, cóđiều kiện để mở rộng quy mô sản xuất và ngày càng khẳng định vị trí của mình

Trang 19

1.2.6.2 Quản lý chất lượng sản phẩm

Tổ chức quản lý tốt trước hết tổ chức đó phải áp dụng phương pháp quản lýhiện đại mà nhiều doanh nghiệp trên thế giới đã áp dụng thành công vào quản trịsản xuất và kinh doanh từ nửa sau thế kỷ XX Đó là các phương pháp quản lý theotình huống, quản lý theo tiếp cận quá trình và tiếp cận hệ thống, quản lý theophương pháp của quản lý chất lượng như ISO 9001, TQM, COC/FSC Các doanhnghiệp của nhiều nước đã áp dụng các phương pháp và biện pháp quản trị mớimang lại năng suất và hiệu suất cao, giảm được nhiều chi phí, tạo cơ sở cho nângcao năng lực cạnh tranh Việc áp dụng các phương pháp quản trị mới ở nước ta hiệnnay vẫn còn rất hạn chế, nhiều doanh nghiệp chưa nhận thức đúng đắn tầm quantrọng của việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế, chưa áp dụng các biện pháp thống kêtrong kiểm soát, kiểm tra chất lượng dẫn đến chất lượng sản phẩm không ổn định

Hoạt động quản lý chất lượng là hoạt động bao trùm mọi bộ phận (phòng,ban) của doanh nghiệp Hệ thống quản lý tốt có nghĩa là hệ thống đó phải có chấtlượng Các phòng ban của nó hoạt động có chất lượng thì sản phẩm cuối cùng mớiđảm bảo chất lượng Thực chất hoạt động quản trị doanh nghiệp ngày nay chính làhoạt động quản lý chất lượng Do vai trò của chất lượng rất quan trọng như đã được

đề cập ở phần trên cho nên nhiều nhà kinh tế học cho rằng thế kỷ XX là thế kỷ củachất lượng

Hiệu quả quản lý biểu hiện ở năng suất, chất lượng cao, lợi nhuận tăng, pháttriển bền vững, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước

1.2.6.3 Giá cả

Giá cả là yếu tố quan trọng thứ hai đối với năng lực cạnh tranh của sản phẩmsau yếu tố chất lượng Ngày nay, khoa học kỹ thuật đã phát triển với trình độ cao,chất lượng sản phẩm của các công ty gần như tương đương nhau thì giá cả là yếu tốtrở nên hấp dẫn Để có giá cả thấp, doanh nghiệp phải tìm mọi cách cắt giảm chiphí Ở đây cần hiểu cắt giảm chi phí nhưng vẫn phải đảm bảo về chất lượng, cónghĩa là doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, quản lý theo phươngpháp hiện đại, nâng cao trình độ nhân viên, áp dụng công nghệ hiện đại, đẩy mạnh

Trang 20

công tác nghiên cứu, quản lý tốt các chi phí phát sinh Giảm chi phí là điều kiện rấtquan trọng để doanh nghiệp có thể giảm được giá bán mà vẫn đảm bảo lợi nhuậnkhi chất lượng tương đương với chất lượng của đối thủ cạnh tranh.

1.2.6.4 Uy tín thương hiệu

Thương hiệu cho sản phẩm là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp Khi thâm nhập thị trường mới, nếu không có nhãn hiệu,thương hiệu thì người tiêu dùng sẽ không biết sản phẩm đó của ai, sản xuất từđâu…, và như vậy đồng nghĩa với việc không được thị trường chấp nhận Bởi vậy,việc quảng bá cho sản phẩm, xây dựng thương hiệu, củng cố và phát triển nó là vấn

đề rất quan trọng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

Đây là yếu tố mang tính tổng hợp các yếu tố đã trình bày ở trên Uy tín, danhtiếng trước hết được xây dựng nên bằng con đường chất lượng: chất lượng của hệthống quản lý doanh nghiệp, chất lượng của ban lãnh đạo, chất lượng của từng conngười trong doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm mà doanh nghiệp tạo ra Uy tíncũng được xây đắp bằng sự đóng góp của doanh nghiệp vào sự phát triển bền vữngnền kinh tế - xã hội Uy tín còn được tạo nên từ các dịch vụ đi kèm trước và saukhi bán sản phẩm Cuối cùng, hoạt động marketing và quảng cáo là phương tiện đểkhách hàng biết đến doanh nghiệp, đem thông tin về sản phẩm đến khách hàng và từ

đó mới có cơ hội xây dựng uy tín cho mình

Trang 21

cách Do đó, các doanh nghiệp phải nỗ lực vươn cải thiện vị thế của mình trên thịtrường quốc tế.

Thị trường đầu ra của ngành chế biến gỗ không chỉ trong nước mà còn xuấtkhẩu sang nhiều nước trên thế giới Trong tương lai xuất khẩu các mặt hàng đồ gỗvẫn còn có nhu cầu lớn trên thị trường trọng điểm, điều này mở ra hướng phát triểntích cực cho ngành sản xuất, chế biến sản phẩm gỗ xuất khẩu Một số thị trường

trọng điểm của ngành chế biến gỗ nước ta hiện nay bao gồm: thị trường Mỹ có tốc

độ phát triển cao nhất thế giới; thị trường EU hàng năm nhập một khối lượng lớn gỗ

và sản phẩm gỗ đang có xu hướng ngày càng tăng; thị trường Nhật Bản vẫn còn đầytiềm năng và hứa hẹn, đặc biệt là tiềm năng sản xuất, nhập khẩu nguyên liệu chochế biến dăm và bột giấy, đồ nội thất mà Việt Nam chưa có nhiều cơ hội để tiếp cậnthị trường này

1.2.8 Xúc tiến thương mại

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm xúc tiến thương mại Theogiáo trình ''Lý luận và nghệ thuật ứng xử trong kinh doanh'' của trường Đại họcKinh tế quốc dân thì: xúc tiến thương mại là các biện pháp và nghệ thuật mà cácnhà kinh doanh dùng để thông tin về hàng hoá, tác động tới người mua, lôi kéo họ

về phía mình và các biện pháp hỗ trợ cho bán hàng Cách hiểu này cho rằng xúc tiếnthương mại gồm 3 nội dung chính là: quảng cáo, các hoạt động yểm trợ và xúc tiếnbán hàng

Theo quan niệm của Trung tâm thương mại quốc tế (ITC) thì xúc tiến thươngmại là tất cả các biện pháp có thể tác động hỗ trợ, khuyến khích phát triển thươngmại Các biện pháp có thể tác động hỗ trợ gián tiếp hay trực tiếp đến quá trình sảnxuất, phân phối lưu thông hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ nhằm thúc đẩy, tìm kiếm

cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ để tăng hiệu quả hoạt động thươngmại, đáp ứng nhu cầu giao thương ngày càng cao của xã hội như: hỗ trợ cho hoạtđộng nghiên cứu triển khai, hỗ trợ việc tăng khối lượng sản phẩm sản xuất ra, hỗ trợ

về mặt tài chính, kích thích nhu cầu tiêu dùng tăng lên thông qua việc ký kết các

Trang 22

Hiệp định thương mại, thông qua hội chợ triển lãm, thông qua mở rộng hệ thốngphân phối, thiết lập văn phòng đại diện ở nước ngoài.

Với mục tiêu tạo sự quan tâm của khách hàng, làm cho họ thích thú muốnđược sở hữu, sử dụng món hàng hay loại hình dịch vụ mà nhà kinh doanh cung cấp,

để từ đó thôi thúc khách hàng phải trả tiền mua hàng hoặc trả tiền sử dụng dịch vụ đó,hoạt động xúc tiến thương mại rất đa dạng Có thể kể ra đây những hoạt động chínhnhư: quảng cáo; khuyến mại; hội chợ; triển lãm thương mại; trưng bày, giới thiệuhàng hoá sản phẩm; hội thảo và hội nghị khách hàng; tham quan khảo sát, phân tích

và tìm kiếm thị trường; cung cấp thông tin, tư vấn cho doanh nghiệp… Nhận thứcđược tầm quan trọng của xúc tiến thương mại và coi đó là một hoạt động không thểthiếu được trong nền kinh tế thị trường để nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quảsản xuất kinh doanh của mình, trong những năm gần đây các doanh nghiệp đã chú ýđầu tư nhiều cho hoạt động xúc tiến thương mại Tham gia với hoạt động xúc tiếnthương mại có nhiều thành phần: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các

tổ chức phi Chính phủ, Hiệp hội doanh nghiệp… Sự đa dạng của các thành phầntham gia và sự phong phú, nhiều vẻ của hoạt động xúc tiến thương mại đã làm chohoạt động này trở nên sôi động và phát triển với tốc độ khá nhanh

1.2.9 Nhận thức về cạnh tranh, đánh giá đối thủ và xác định lợi thế

Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng làm nên sự khác nhau giữa các doanhnghiệp Thực tế cho thấy hai doanh nghiệp có thể có cùng điều kiện về đất đai, tàichính, v.v nhưng với những nhận thức khác nhau về vấn đề cạnh tranh của ngườichủ doanh nghiệp và đội ngũ cán bộ chắc chắn sẽ có những kết quả khác nhau.Đánh giá đối thủ và xác định lợi thế của mình cũng là một trong những chỉ tiêu hếtsức quan trọng trong phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanhnghiệp có nhận thức đúng đắn về cạnh tranh, xác định được đối thủ, nhìn nhận đượclợi thế sẽ có định hướng đúng đắn và phù hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.Việc đánh giá đối thủ, xác định lợi thế là một chỉ tiêu định lượng tổng hợp rất khó

có thể tích hợp được tất cả các yếu tố liên quan, do vậy trong quá trình thực hiệnphải cố gắng lựa chọn những yếu tố có tác động quan trọng theo từng ngành cụ thể

Trang 23

1.3 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.3.1 Lý thuyết của Micheal Porter (1985)

Theo Michial Porter, có bốn nhân tố tác động đến khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp:

Chi phí là một trong những lợi thế cạnh tranh mà công ty có thể sở hữu Do

đó, những nghiên cứu về chi phí có khuynh hướng tập trung vào chi phí sản xuất,chi phí marketing, chi phí dịch vụ và những chi phí về cơ sở hạ tầng

Sự khác biệt sản phẩm: Doanh nghiệp có thể nâng cao năng lực cạnh tranh

của mình thông qua việc tạo ra những sản phẩm khác biệt so với các đối thủ trongcùng ngành, sự khác biệt sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêuthụ, tăng doanh thu, tăng uy tín thương hiệu Doanh nghiệp có thể tạo ra sự khácbiệt sản phẩm thông qua chất lượng, mẫu mã, bao bì, các chương trình khuyến mãi,quảng cáo, hệ thống phân phối…

Trình độ công nghệ: Bất kỳ một trình độ công nghệ nào được áp dụng ở

doanh nghiệp đều có tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Có thểnói rằng, trình độ công nghệ là một nhân tố rất quan trọng cho cạnh tranh, giúpdoanh nghiệp tăng lợi thế cạnh tranh

Chiến lược cạnh tranh của đối thủ: việc tồn tại đối thủ cạnh tranh sẽ giúp

doanh nghiệp tăng lợi thế cạnh tranh Đối thủ có thể làm tăng khả năng tạo sự khácbiệt cho doanh nghiệp bởi vì nếu không có đối thủ thì người tiêu dùng rất khó nhậnbiết những lợi thế khác biệt của doanh nghiệp

1.3.2 Lý thuyết về chuỗi giá trị (Raphael Kaplinsky and Mike Morris, 2000)

Chuỗi giá trị là một loạt các hoạt động nhằm đưa một sản phẩm hoặc dịch vụ

từ ý tưởng thành sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể để cung cấp cho người tiêu dùngcuối cùng Quá trình chuyển từ ý tưởng thành sản phẩm cụ thể sẽ trải qua hàng loạtcác công đoạn sản xuất Mô hình sau sẽ mô tả về sự kết nối trong chuỗi giá trị:

Trang 24

Nguồn: A handbook for value chain research (2000)

Hình 1.1: Các kết nối trong chuỗi giá trị

Qua sơ đồ trên cho thấy, quá trình sản xuất chỉ là một bộ phận trong chuỗigiá trị Ngoài ra, những hoạt động khác cũng tham gia vào chuỗi như thiết kế, pháttriển sản phẩm và marketing

Phân tích chuỗi giá trị đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp Việc xem xét các nhân tố đầu vào sẽ giúp doanhnghiệp xác định được nhân tố nào đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp Từ đó doanh nghiệp sẽ có những chính sách,chiến lược thích hợp để phát huy và cải tiến các nhân tố này

Phân tích chuỗi giá trị sẽ giúp cho doanh nghiệp thấy được sự đóng góp củacác bộ phận như thiết kế, sản xuất, marketing Và khi những bộ phận này được liênkết chặt chẽ với nhau sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh Mặt khác,

để nâng cao năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp phải luôn đổi mới, cải tiến quátrình sản xuất Và chính quá trình đổi mới đó sẽ tạo ra giá trị của doanh nghiệp giúpdoanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh của mình Việc cải tiến có thể dựa vàoviệc nâng cao trình độ công nghệ sản xuất, năng lực của người lao động, giảm chiphí, tăng chất lượng, đa dạng hoá các dịch vụ đi kèm, đẩy mạnh công tác quảng báhình ảnh sản phẩm

Đầu vàoĐóng gói

Marketing Tiêu dùng/

Tái chế

Trang 25

Nguồn: A handbook for value chain research (2000)

Hình 1.2: Quá trình đổi mới và sự giá tăng giá trị của doanh nghiệp

Ngoài ra, lý thuyết giá trị gia tăng cũng cho rằng những nhân tố ngoại sinhcũng tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ví dụ như những chínhsách hiệu quả của chính phủ về đào tạo nguồn nhân lực, nâng cấp cơ sở hạ tầng, hỗtrợ tài chính cũng góp phần giúp doanh nghiệp cải thiện năng lực cạnh tranh

1.3.3 Các yếu tố bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh

Ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không những có cácyếu tố bên trong mà còn có các yếu tố bên ngoài Một số yếu tố bên ngoài có ảnhhưởng lớn tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:

1.3.3.1 Người cung ứng các đầu vào

Trong thời đại của sự phân công lao động và chuyên môn hoá cao thì khôngmột doanh nghiệp nào có thể tự lo cho mình các đầu vào được Làm như vậy sẽ cóhiệu quả thấp hoặc không có hiệu quả vì không phát huy hết lợi thế so sánh giữa cácngành hoặc giữa các quốc gia Để kinh doanh đạt hiệu quả cao doanh nghiệp phảitìm mua các đầu vào từ bên ngoài với điều kiện là người cung ứng phải giao hàngđúng hẹn, đúng chủng loại và đảm bảo yêu cầu về chất lượng, nếu không doanhnghiệp cũng sẽ sai hẹn với khách hàng của mình và như vậy sẽ phương hại tới nănglực cạnh tranh

Cải tiến 1

Cải tiến 2

Cải tiến 3

Giá trị gia tăng của doanh nghiệp

Tỷ lệ lợi nhuận

Cải tiến 1

Cải tiến 2

Cải tiến 3

Giá trị gia tăng của doanh nghiệp

Tỷ lệ lợi nhuận

Tỷ lệ bình quân

của lợi nhuận

Trang 26

Để đảm bảo việc mua các đầu vào đúng hẹn, đủ chủng loại, đảm bảo yêu cầuchất lượng doanh nghiệp phải lựa chọn người cung ứng một cách cẩn thận, có nghĩa

là phải điều tra các điều kiện và hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà cung ứng cóphù hợp cho việc cung cấp sản phẩm cho doanh nghiệp hay không Mặt khác, phảithiết lập quan hệ tốt với người cung ứng, giúp đỡ nhau giải quyết khó khăn trong quátrình thực hiện hợp đồng, tạo niềm tin cho nhau trong quan hệ bạn hàng Việc muađầu vào là khâu thứ ba của quá trình quản lý chất lượng (thứ nhất là marketing, thứhai là thiết kế, thứ ba là mua hàng), nó giữ vị trí quan trọng trong quá trình hình thànhchất lượng sản phẩm, đồng thời là yếu tố cấu thành chất lượng sản phẩm, có ảnhhưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.3.3.3 Sản phẩm thay thế

Với trình độ khoa học kỹ thuật cao, con người đã tạo ra nhiều chủng loại sảnphẩm có thể thay thế cho nhau Hiện tượng này đã, đang và sẽ gây trở ngại cho việctiêu thụ các sản phẩm, làm cho môi trường cạnh tranh trở nên gay gắt hơn Trướctình hình hàng thay thế phong phú và giá rẻ các doanh nghiệp yếu phải bán tống bántháo sản phẩm của mình Nếu tình hình diễn biến lâu dài chắc chắn doanh nghiệp sẽrơi vào tình trạng phá sản Để thoát khỏi sức ép đó doanh nghiệp phải cải tiến, đổi

Trang 27

mới công nghệ để tạo được sản phẩm có tính khác biệt cao hoặc về chất lượng hoặc

về mẫu mã, kiểu dáng hoặc về giá cả; hoặc là doanh nghiệp phải chuyến hướng kinhdoanh sang mặt hàng khác hay ngành khác Tóm lại, để có thể chủ động ứng phó thìdoanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh đúng đắn, trong đó cần có nhiềuphương án để lựa chọn

1.3.3.4 Rủi ro

Rủi ro thường là các yếu tố đột biến, không lường trước được Rủi ro có thể

do thiên nhiên gây ra, có thể do hoàn cảnh kinh tế - xã hội như thay đổi giá, thay đổichính sách, biến động chính trị…tác động tiêu cực đến quá trình sản xuất kinhdoanh, từ đó ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp

1.3.3.5 Sự thay đổi các yếu tố kinh tế - xã hội

Là sự thay đổi về dân số, sự thâm nhập của sản phẩm mới hay sản phẩm thaythế làm cho sản lượng tiêu thụ sụt giảm…

1.3.3.6 Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng

Như hệ thống giao thông, hệ thống cung cấp điện, nước, hệ thống thông tinliên lạc, hệ thống trường học, bệnh viện… đều có ảnh hưởng mạnh tới hiệu quảkinh doanh, tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Doanh nghiệp nào kinhdoanh ở khu vực có cơ sở hạ tầng phát triển, dân cư đông đúc, trình độ dân trí cao,được chăm sóc sức khoẻ đầy đủ sẽ có nhiều lợi thế cạnh tranh

1.3.3.7 Các chính sách và biện pháp kinh tế vĩ mô

 Môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý bao gồm luật và các văn bản dưới luật Luật gồm có luậttrong nước và luật quốc tế; các văn bản dưới luật cũng vậy, có các quy định doChính phủ Việt Nam ban hành, có những quy định do các tổ chức quốc tế (WTO,AFTA, ASEAN) ban hành mà các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào hộinhập và toàn cầu hoá phải chấp hành Mọi luật lệ và quy định trong hợp tác và kinhdoanh quốc tế đều có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

và tới năng lực cạnh tranh của nó Các luật lệ, quy định sẽ tạo ra môi trường cạnh

Trang 28

tranh và hợp tác bình đẳng giữa mọi doanh nghiệp trong nước và ngoài nước, bởivậy việc tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh là rất quan trọng Môi trường pháp lýlành mạnh, một mặt tạo thuận lợi cho mọi doanh nghiệp kinh doanh, mặt khácdoanh nghiệp dựa vào đó mà điều chỉnh hoạt động của mình để hài hoà lợi ích củacác doanh nghiệp khác trong xã hội và trên thương trường quốc tế Việc chấp hànhluật pháp nghiêm minh của các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp sẽ đưa lại hiệuquả kinh doanh tốt Ngược lại, việc thực thi luật pháp không nghiêm minh, thiếutrong sáng sẽ dẫn doanh nghiệp vào con đường bất chính (trốn thuế, gian lận thuế,sản xuất và kinh doanh hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại…) Trong môitrường pháp lý không lành mạnh, nhiều khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệpkhông được đánh giá đúng thực chất của nó (vì không do nội lực, không do sự nỗlực của doanh nghiệp quyết định) Điều đó dẫn tới thiệt hại kinh tế lớn và rối loạntrật tự xã hội.

 Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế bao gồm các chính sách phát triển kinh tế, chính sáchthương mại, chính sách cạnh tranh, chính sách đầu tư, chính sách hợp tác với nướcngoài… Các chính sách và biện pháp kinh tế nhằm khuyến khích hay hạn chế, ưutiên hay kìm hãm sự phát triển của từng ngành cụ thể, do đó có ảnh hưởng tới nănglực cạnh tranh của từng doanh nghiệp thuộc các ngành đó Các chính sách kinh tế,các quy định, thủ tục phải minh bạch, đơn giản, không phân biệt đối xử giữa cácloại hình doanh nghiệp sẽ có tác động mạnh tới kết quả, hiệu quả và năng lực cạnhtranh của các doanh nghiệp

1.3.3.8 Năng lực cạnh tranh quốc gia

Năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nănglực cạnh tranh của sản phẩm có mối liên hệ khăng khít với nhau Doanh nghiệp cónăng lực cạnh tranh khi phải ít nhất 90% sản phẩm có năng lực cạnh tranh kết hợpvới một số tiêu chí khác như khả năng tài chính, nguồn nhân lực, công nghệ… Mộtnền kinh tế có năng lực cạnh tranh khi mọi tổ chức trong nó đều có năng lực cạnhtranh; ngoài ra năng lực cạnh tranh quốc gia còn được đánh giá theo các các tiêu chí

Trang 29

quan trọng khác như hoạt động của Chính phủ, thể chế Nhà nước, nền tài chínhquốc gia, trình độ nhân lực và công nghệ, cơ sở hạ tầng, độ mở của nền kinh tế Mộtquốc gia có khả năng cạnh tranh cao sẽ là chỗ dựa tốt cho các doanh nghiệp tạo lậpđược năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường thế giới Ngược lại, khi mộtdoanh nghiệp có năng lực cạnh tranh thì nó sẽ góp phần vào nâng cao năng lực cạnhtranh quốc gia.

1.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH

Vào tháng 1 năm 2000, trung tâm thương mại quốc tế về lâm sản

(CINTRAFOR – Center for International Trade in Forest Products) đã nghiên cứu

để xác định những nhân tố chính tác động đến khả năng cạnh tranh của các doanhnghiệp gỗ Người trả lời phỏng vấn được yêu cầu đánh giá các nhân tố tác động đếnnăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việc đánh giá được thực hiện bằng cách sửdụng thang đo từ 1 đến 7, trong đó 1 là tác động tiêu cực mạnh và 7 là tác động tíchcực mạnh đến năng lực cạnh tranh Theo nghiên cứu này thì có sáu nhân tố tác độngmạnh đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gỗ, cụ thể như sau: uy tín củadoanh nghiệp (sự liên hệ thường xuyên với khách hàng, quản lý chất lượng, giaohàng đúng hạn, sự nổi tiếng của công ty); sản xuất hiệu quả (trình độ nhân viên,trang thiết bị mới, lợi thế về nguyên vật liệu, sản xuất hiệu quả); sự khác biệt sảnphẩm (phát triển sản phẩm mới, cung cấp sản phẩm đặc biệt, nhãn hiệu sản phẩm);

hệ thống phân phối; hoạt động marketing (quảng cáo và khuyến mãi, hoạt độngnghiên cứu thị trường, sử dụng các biện pháp xúc tiến thương mại mới); sở hữunguồn lực (sở hữu rừng)

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố do GS.TS Võ Thanh Thu chủnhiệm mang tên “Nghiên cứu các chính sách, biện pháp nhằm phát huy những lợithế cạnh tranh các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế trên địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh” Nghiên cứu này đã cho ta thấy rằng các yếu tố ngoại sinh có tácđộng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Ở trong một môitrường kinh doanh thuận lợi, các chính sách kinh tế rõ ràng, minh bạch, các thủ tục

Trang 30

hành chính nhanh gọn là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát huy tốtnội lực của mình Do đó, nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp không chỉ chú ý cải thiện bản thân doanh nghiệp mà còn phải tích cực gópphần hoàn thiện thể chế chính sách nhằm phát huy tốt hơn nội lực, nâng cao nănglực cạnh tranh với các đối thủ, đặc biệt là đối thủ bên ngoài biên giới quốc gia.

1.5 KINH NGHIỆM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN GỖ TỈNH BÌNH ĐỊNH

1.5.1 Nghiên cứu kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ tỉnh Bình Định

Bình Định hiện là 1 trong 3 trung tâm sản xuất đồ gỗ xuất khẩu hàng đầutrong cả nước và là “thủ phủ đồ gỗ xuất khẩu” của miền Trung Giá trị kim ngạchxuất khẩu hàng năm của đồ gỗ xuất khẩu chiếm trên 60% kim ngạch xuất khẩu toàntỉnh Ngoài những lợi thế chung của các tỉnh ven biển miền trung là có rừng, cóbiển, có hệ giao thông đi qua gồm quốc lộ 1A, đường sắt thống nhất bắc - nam vàđường hàng không, Bình Ðịnh còn có thêm quốc lộ 19 - hiện nay trở thành conđường huyết mạch nối với Tây Nguyên, các tỉnh Nam Lào và Ðông BắcCampuchia Ðây là cánh cửa mở cho ngành công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu ởBình Ðịnh và các vùng nguyên liệu tiếp cận thị trường thế giới Hằng năm, cảngQuy Nhơn nhập gỗ tròn nguyên liệu lên đến 200.000 m3 và thông quan các mặthàng gỗ xuất khẩu lên đến 3,5 triệu tấn

Tháng 6-2007, Bình Ðịnh đã có 110 doanh nghiệp hoạt động chế biến gỗxuất khẩu Từ giai đoạn 2001 - 2005, sản lượng gỗ tinh chế của Bình Ðịnh tăng25,8%/năm Năm 2006 đạt 137.800 m3, tăng 27% so với cùng kỳ, giá trị sản xuấtcông nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu chiếm 19% giá trị toàn ngành sản xuất côngnghiệp, tạo ra doanh thu hơn 3.800 tỷ đồng, nộp ngân sách 107 tỷ đồng Về hiệuquả xã hội, đã tạo việc làm cho hơn 38.000 lao động với thu nhập bình quân 1,1triệu đồng/người/tháng

Để đủ sức cạnh tranh trên thị trường, thời gian qua ngành chế biến gỗ BìnhĐịnh đã có nhiều nỗ lực đầu tư cải tiến thiết bị công nghệ, hạ giá thành, nâng cao

Trang 31

chất lượng sản phẩm Đáng chú ý là nhiều doanh nghiệp đã bỏ ra chi phí lớn để tiếpcận, tìm hiểu các nhu cầu khách hàng, thị hiếu tiêu dùng đồ gỗ ở các khu vực thịtrường khác nhau trên thế giới, cải tiến thay đổi mẫu mã sản phẩm, tăng cường cácbiện pháp xúc tiến thương mại Qua đó, một số doanh nghiệp đã dần dần đi vào sảnxuất những sản phẩm đồ gỗ hợp với khả năng nguồn nguyên liệu của mình và nhucầu người tiêu dùng đang cần Do sự cạnh tranh gay gắt về chủng loại và mẫu hàng

đồ gỗ ngoài trời, xu hướng mới đang diễn ra là nhiều doanh nghiệp đã bắt đầuchuyển sang sản xuất đồ gỗ nội thất với các loại vật liệu dễ tìm; dùng công nghệhiện đại để nâng cao giá trị sản phẩm Một vài doanh nghiệp tìm kiếm hướng điriêng bằng các nguồn nguyên liệu rẻ tiền, thiết kế mẫu mã theo yêu cầu khách hàng,đầu tư gia công để cho ra sản phẩm giá trị thẩm mỹ cao Nhờ đó, từ sự đơn điệu mặthàng, mẫu mã, khách hàng hạn chế của những năm trước đây, đến nay đồ gỗ vàhàng chế biến lâm sản xuất khẩu của Bình Định đã ngày càng đa dạng, phong phú,không chỉ có đồ gỗ ngoài trời, đồ dùng trong nhà, mà còn cả trang trí nội thất , vàkhách hàng không chỉ một vài đơn vị truyền thống, mà nhiều khách hàng đã tìm đếnhợp đồng làm ăn với các doanh nghiệp Với sự mở hướng và thu hút khách hàng,gần đây, không ít doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ đã thoát khỏi sự chi phối, ép giá dođộc quyền khai thác nguồn hàng của khách hàng, tạo nên chỗ đứng doanh nghiệp vàhàng gỗ Bình Định trên thị trường trong nước và thế giới Hàng chục doanh nghiệpchế biến gỗ xuất khẩu được cấp chứng chỉ COC, áp dụng quản lý theo tiêu chuẩnISO 9000-2001, đồng thời sử dụng nguồn gỗ nhập khẩu có nguồn gốc được khaithác trong các khu rừng được quản lý bền vững (FSC)

Ngoài ra, để hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến gỗ, hàng lâm sản xuất khẩuphát triển, Bình Định đã thành lập Hiệp hội sản xuất và xuất nhập khẩu lâm sản.Với các chương trình hoạt động, bước đầu Hiệp hội đã tạo các điều kiện để cácdoanh nghiệp có tiếng nói chung trong sản xuất kinh doanh và sức mạnh cạnh tranh,cũng như tìm hiểu tiếp cận các thị trường đồ gỗ thế giới

Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Sở Công nghiệp và Ban quản lý các khucông nghiệp tiến hành rà soát các chính sách khuyến khích đầu tư, tạo hành lang

Trang 32

thông thoáng cho các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu tiếp tục tìm kiếm mởrộng thị trường và đa dạng hoá các mặt hàng, nhanh chóng thích nghi với yêu cầucủa thị trường thế giới Thực hiện một số biện pháp mang tính tình thế trong giaiđoạn hiện nay:

Một là, trong tình hình gỗ nguyên liệu trong nước ngày càng khan hiếm cả về

số lượng và chủng loại, việc nhập gỗ nguyên liệu gặp nhiều khó khăn ách tắc từnước ngoài, giá đầu vào nguyên liệu gỗ nhập tăng đột biến, tỉnh có chủ trươngkhuyến khích các doanh nghiệp đầu tư trồng rừng trong nước và nước ngoài, nhất làliên kết trồng rừng nguyên liệu tại Lào và Cam-pu-chia Ði đầu trong nỗ lực chuyểnhướng này có một số doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu như: Khải Vy, Tiến Ðạt,Quốc Thắng, Ðại Thành, Mỹ Tài, Duyên Hải

Hai là, trước nhu cầu đa dạng, phong phú về mặt hàng của thị trường thế

giới, tỉnh chủ trương chuyển hướng một số doanh nghiệp chế biến các mặt hàng gỗngoài trời sang sản xuất các mặt hàng gỗ nội thất Ðiều này liên quan đến vốn đầu

tư mở rộng nhà xưởng, công nghệ mới, đào tạo công nhân kỹ thuật và thiết kế mẫu

mã để đáp ứng yêu cầu các thị trường Chính nhờ sự nhanh nhạy chuyển hướng này,thị trường xuất khẩu gỗ của Bình Ðịnh đã tăng từ 36 lên 56 đầu mối Trong đó châu

Á chiếm tỷ trọng 1,7%; châu Âu: 89%; châu Mỹ: 5,9%; châu Ðại Dương: 3,1%;châu Phi: 0,33% Ðặc biệt, đã mở thêm các thị trường mới chiếm tỷ trọng lớn như:Pháp, Ðức, Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, I-ta-li-a, Mỹ, Bỉ, Hy Lạp và Ðan Mạch

Ba là, tập trung chỉ đạo quy hoạch các khu công nghiệp nhất là khu kinh tế

Nhơn Hội; trong đó ưu tiên phát triển tập trung các doanh nghiệp chế biến gỗ xuấtkhẩu, phấn đấu đến năm 2010 đưa tổng năng lực chế biến gỗ xuất khẩu của BìnhÐịnh lên 250.000m3, trong đó gỗ nội thất chiếm từ 3% trở lên Từng bước đa dạnghoá sử dụng nguyên liệu gỗ đầu vào như gỗ nông nghiệp, gỗ vườn, gỗ ép côngnghệ; đồng thời tìm kiếm những mẫu mã mới có khả năng kết hợp sản phẩm gỗ vớicác loại nguyên liệu khác nhằm giảm sức ép về nguồn nguyên liệu nhập khẩu

Sở Thương mại Bình Định cũng đã thực hiện nhiều giải pháp chuyên môn cụthể và thiết thực như: cung cấp thông tin thị trường kịp thời để các doanh nghiệp

Trang 33

chủ động trong chỉ đạo, điều hành hoạt động sản xuất, xuất khẩu; hỗ trợ các doanhnghiệp đăng ký thương hiệu, hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm xuất khẩu phùhợp với tiêu chuẩn quốc tế; phối hợp với Chương trình phát triển kinh tế tư nhân(MPDF) tổ chức các lớp đào tạo, tư vấn về quản lý sản xuất, công nghệ chế biến gỗ,quy trình lập chứng chỉ gỗ , phối hợp với ngành Bưu chính Viễn thông phổ biến,hướng dẫn cho doanh nghiệp về Luật giao dịch điện tử và Nghị định thương mạiđiện tử Ngành Thương mại cũng sẽ phối hợp với Hiệp hội sản xuất và xuất nhậpkhẩu lâm sản Bình Định và các doanh nghiệp chế biến gỗ xúc tiến thành lập Chợđầu mối gỗ nguyên liệu tại thành phố Quy Nhơn nhằm đảm bảo nguồn cung ứng ổnđịnh nguyên liệu gỗ phục vụ cho sản xuất - chế biến gỗ của địa phương và khu vực.

1.5.2 Rút ra bài học kinh nghiệm

Qua việc tìm hiểu ngành chế biến gỗ Bình Định, có thể rút ra bài học kinhnghiệm trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗtrên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi như sau:

- Các doanh nghiệp cần chủ động trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh,nghiên cứu đánh giá bản thân và đối thủ, tìm hiểu thị trường và đẩy mạnh hoạt độngquảng bá thương hiệu

- Chính quyền địa phương cần thực hiện các biện pháp để giúp doanh nghiệptiếp cận thị trường, quảng bá sản phẩm, giải quyết vấn đề nguyên liệu, công nghệ vàđào tạo nguồn nhân lực

- Định hướng phát triển về cơ cấu sản phẩm, các chương trình chiến lượcnâng cao nhận thức cạnh tranh cho các doanh nghiệp

- Xây dựng tốt cơ sở hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính, thực hiện quyhoạch chiến lược phát triển ngành chế biến gỗ trong thời gian tới

Trang 34

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHẾ BIẾN GỖ TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1.1 Giới thiệu chung về ngành chế biến gỗ

Các nghề thuộc ngành gia công chế biến gỗ có một lịch sử rất lâu đời và mộttruyền thống vẻ vang Có thể nói khởi đầu của nghề mộc từ việc tạo lập chuồng trạichăn thả gia súc, vật nuôi, làm nhà ở cho con người, dần dần theo sự tiến bộ củacông nghệ xây dựng, nghề nghiệp phát triển dần và biến đổi theo yêu cầu tiến bộcông nghệ chung, đáp ứng ngày càng phong phú nhu cầu về phương tiện, công cụ,vật dụng và cả thẩm mỹ

Gia công chế biến gỗ bao gồm từ việc pha, xẻ gỗ thành các thanh hoặc vánvới các kích cỡ theo tiêu chuẩn chung Gỗ đã xẻ thường được hong khô, hoặc phảiqua quá trình qua ngâm, tẩm hoá chất, hong - sấy khô trước khi sử dụng Ngày nayvới yêu cầu bảo vệ môi trường, cùng với sự phát triển của công nghệ và vật liệumới, gỗ nguyên liệu (không phân biệt phẩm chất, kích cỡ) được gia công chế biếnthành gỗ thành phẩm với chất lượng cao hơn và kích thước theo yêu cầu định trướcmột cách hoàn chỉnh, có giá trị gia tăng về công nghệ và lao động Theo Cẩm nangngành lâm nghiệp thì: “Chế biến gỗ là quá trình chuyển hoá gỗ nguyên liệu dưới tácdụng của thiết bị, máy móc hoặc công cụ, hoá chất để tạo thành các sản phẩm cóhình dáng, kích thước, thành phần hoá học làm thay đổi hẳn so với nguyên liệu banđầu”[15] Có thể chia các sản phẩm gỗ thành 4 nhóm chính:

1) Nhóm sản phẩm đồ mộc ngoài trời bao gồm các loại bàn ghế vườn, ghếbăng, dù che nắng, ghế xích đu làm hoàn toàn từ gỗ hoặc gỗ kết hợp với các vậtliệu khác như sắt, nhôm, nhựa

2) Nhóm sản phẩm đồ mộc trong nhà bao gồm các loại bàn ghế, giường, tủ,giá kê sách, đồ chơi, ván sàn làm hoàn toàn từ gỗ hay gỗ kết hợp với các vật liệukhác như da, vải

Trang 35

3) Nhóm đồ mỹ nghệ chủ yếu từ gỗ rừng tự nhiên bao gồm bàn, ghế, tủ ápdụng các công nghệ chạm, khắc, khảm…

4) Sản phẩm dăm gỗ sản xuất từ gỗ rừng trồng mọc nhanh như gỗ keo, gỗbạch đàn

Ðối tượng lao động của ngành chế biến gỗ chính là gỗ và những sản phẩm từ

gỗ đã qua gia công chế biến, là những phôi liệu trong quá trình gia công sản xuất.Trong thực tiễn sản xuất, gỗ và những sản phẩm từ gỗ đã qua gia công chế biến vớikích thước, tiết diện và cỡ khác nhau sẽ được biến đổi theo quy trình công nghệ, sảnphẩm của quá trình gia công biến đổi ấy là những vật phẩm, thiết bị, phương tiện hữu ích theo yêu cầu sử dụng

Mục đích lao động: ngành chế biến gỗ có nhiệm vụ biến đổi gỗ thành nhữngvật phẩm, thiết bị, phương tiện bằng phương pháp cắt gọt và lắp ghép định dạng

Công cụ lao động: công cụ lao động của ngành chế biến gỗ gồm:

- Công cụ lao động chủ yếu : các loại dụng cụ cầm tay và các máy móc thiết

bị như: máy cưa, máy khoan, máy bào, máy đục lỗ mộng, máy tiện

- Dụng cụ đo: thước kẻ, thước đo, thước đo góc

- Dụng cụ phụ: các loại búa, kềm, cờ lê, bàn kẹp, cảo, trục giá để khoan

- Ngoài ra, trong quá trình gia công sản xuất, còn có các tài liệu như bản vẽ kỹthuật, bản vẽ quy trình công nghệ, những hồ sơ động của các máy mộc, những bảnđịnh mức tiêu chuẩn kỹ thuật

2.1.2 Quá trình phát triển của ngành chế biến gỗ Quảng Ngãi

Ngành chế biến gỗ Việt Nam bắt đầu phục hồi vào cuối những năm 90 và đã

có những chuyển biến cơ bản Tại khu vực Đông Nam Á, sản phẩm đồ gỗ của ViệtNam có những nét riêng, mang tính truyền thống, không trùng lắp với sản phẩm củacác nước khác Xuất khẩu sản phẩm gỗ chế biến trong những năm qua đã đạt đượcnhiều kết quả khả quan, kim ngạch xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng mạnh, từ chỗsản phẩm xuất khẩu chủ yếu là gỗ sơ chế, đến nay sản phẩm gỗ chế biến đã trởthành một trong mười mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam Có được thànhtích này là nhờ sự nỗ lực cố gắng của các doanh nghiệp chế biến gỗ cả nước nói

Trang 36

chung, và cũng có một phần nhỏ của Quảng Ngãi nói riêng Tuy ngành chế biến gỗcủa Quảng Ngãi không có quy mô rộng lớn và phổ biến như ở một số tỉnh thànhkhác mà điển hình là thành phố Hồ Chí Minh, Bình Định, Bình Dương… nhưngcũng đã góp phần không nhỏ vào giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh nhà, đồng thờigóp mặt cùng các đơn vị khác trong ngành trên thị trường thế giới

Quá trình phát triển của ngành chế biến gỗ Quảng Ngãi có thể chia thành cácgiai đoạn :

Từ năm 1991 trở về trước: Ngành chế biến đồ gỗ Quảng Ngãi chỉ sản xuất

gỗ cưa xẻ dùng trong xây dựng cơ bản và gỗ sơ chế, sản lượng sản xuất đồ gỗ tinhchế rất ít Có thể nói đây là thời kỳ khai thác và sử dụng lãng phí nguồn nguyên liệu

gỗ thiên nhiên, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng của đất nước Sản phẩm xuấtkhẩu chủ yếu là gỗ tròn, gỗ xẻ, gỗ sơ chế Sản xuất mộc tinh chế (ghế xếp, bàn…),mộc cao cấp (giả cổ có điêu khắc, chạm trổ …), mộc mỹ nghệ (tượng gỗ…) đã bắtđầu phát triển

Giai đoạn từ năm 1992 đến nay: Nền kinh tế thị trường làm đa dạng hoá các

thành phần kinh tế tạo điều kiện cho các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanhphát triển Các doanh nghiệp tư nhân thấy được tiềm năng của mặt hàng này nênmạnh dạn mở rộng đầu tư, đặc biệt khi tỉnh quy hoạch các khu công nghiệp, khu kinh

tế thì các nhà kinh doanh lại càng mạnh dạn mở rộng sản xuất kinh doanh và đưa sảnphẩm với công nghệ phát triển làm cho chất lượng sản phẩm ngày càng được nângcao, mẫu mã ngày càng đa dạng, đáp ứng được nhu cầu nội địa và xuất khẩu Bắt đầu

từ năm 2000, ngành chế biến gỗ Quảng Ngãi phát triển mạnh với sự ra đời của nhiềudoanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu như Việt Tiến, Nam Phong, Hoàn Vũ…Năm

2004, cả tỉnh chỉ có 3 doanh nghiệp đủ năng lực xuất khẩu với giá trị đạt 3.739.779USD thì đến chín tháng đầu năm 2007 con số doanh nghiệp có khả năng xuất khẩu đã

là 10 với giá trị đạt 6.627.131 USD chiếm 16,3% giá trị xuất khẩu toàn tỉnh

Ngành chế biến gỗ trong những năm qua trải qua nhiều thăng trầm, số cơ sởsản xuất luôn biến động lúc tăng, lúc giảm Có thể nói, loại cơ sở sản xuất cá thểchiếm đa phần trong tổng số cơ sở chế biến gỗ của Quảng Ngãi (hơn 97%) Đây là

Trang 37

loại hình sản xuất nhỏ, thường không ổn định và hay biến động Trong bối cảnh hộinhập kinh tế toàn cầu, đây sẽ là một trong những điều yếu thế trong cạnh tranh cần

có biện pháp khắc phục kịp thời Cụ thể theo Thực trạng doanh nghiệp qua kết quảđiều tra năm 2004, 2005, 2006 của Cục Thống kê Quảng Ngãi thì chỉ có một doanhnghiệp có vốn nằm trong nhóm từ 10 – 50 tỷ đồng, còn phổ biến là ở nhóm 0,5 đếndưới 1 tỷ đồng và 1 tỷ đến dưới 5 tỷ đồng Điều này cho thấy hoạt động của cácdoanh nghiệp chế biến gỗ vẫn còn nhiều hạn chế và đứng trước những khó khăn,thách thức nhất định Các doanh nghiệp còn sử dụng vốn vay ngân hàng là chính,còn ảnh hưởng lối làm ăn nhỏ lẻ, manh mún, thiếu thông tin về thị trường, giá cả,trình độ tay nghề, ý thức, tác phong công nghiệp của lao động địa phương khôngcao vì không được đào tạo (đa số là nông dân) Tất cả những điều này dẫn đến chấtlượng sản phẩm chưa cao, khả năng cạnh tranh thấp Trong khi đó xu thế hiện nay

là hướng đến việc bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, ngày càng nhiều kháchhàng tiêu dùng nước ngoài chỉ chọn mua sản phẩm đồ gỗ của những doanh nghiệp

đã được chứng nhận hệ thống quản lý nguồn gốc gỗ theo tiêu chuẩn COC (chain ofCostudy), tiêu chuẩn về chuỗi hành trình sản phẩm do Hội đồng quản trị rừng thếgiới (FSC) ban hành Hàng loạt những vấn đề cần được phân tích mổ xẻ để khắcphục nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địabàn tỉnh Quảng Ngãi, nhất là khi cảng biến Dung Quất hoàn thành, cơ hội giaothương ngày càng rộng mở và thuận lợi hơn

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Phương pháp điều tra và thu thập số liệu

2.2.1.1 Nguồn số liệu thứ cấp

Để đánh giá tổng quát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, đề tài tham khảo số liệu từcác nguồn:

+ Niên giám thống kê năm 2007 của tỉnh Quảng Ngãi;

+ Ghi chép số liệu tổng hợp từ các phòng chức năng của Sở Thương Mại,Cục thống kê tỉnh Quảng Ngãi;

+ Từ Internet;

Trang 38

2.2.1.2 Nguồn số liệu sơ cấp

- Chọn mẫu điều tra

Đến tại thời điểm nghiên cứu, toàn tỉnh Quảng Ngãi có 36 doanh nghiệp hoạtđộng trong ngành chế biến gỗ, với 20 doanh nghiệp nằm ở khu công nghiệp QuảngPhú, khu công nghiệp Tịnh Phong và khu kinh tế Dung Quất, số còn lại nằm rải rác

ở các địa phương: huyện Trà Bồng, Sơn Hà, Ba Tơ, Nghĩa Hành, Tư Nghĩa, BìnhSơn, Sơn Tịnh, thành phố Quảng Ngãi… Với số lượng mẫu không lớn nên đề tài đãtiến hành điều tra toàn bộ bằng cách gửi cho mỗi doanh nghiệp một phiếu khảo sát

để thu thập các thông tin liên quan, sau đó tiến hành phân tích trên cơ sở phân tổtheo vị trí, theo thị trường tiêu thụ sản phẩm để có được những đánh giá chi tiết,phục vụ cho việc đề xuất giải pháp

Bảng 2.1: Quy mô, cơ cấu mẫu điều tra

Số mẫu điều tra

Nguồn: Xử lý từ kết quả khảo sát các doanh nghiệp chế biến gỗ Quảng Ngãi 2007

- Nội dung tổng quan của phiếu khảo sát:

Để phản ánh đầy đủ những thông tin cần thiết cho việc xác định năng lựccạnh tranh của các các doanh nghiệp, phiếu khảo sát được thiết kế nhằm thu thậpnhững thông tin mà nguồn số liệu thứ cấp không cung cấp đủ, đặc biệt là các tiêuthức định lượng Nội dung khảo sát gồm những thông tin chủ yếu sau:

+ Một số thông tin cơ bản của mẫu điều tra: Tên doanh nghiệp, địa chỉ, nămthành lập, sản phẩm chính, diện tích đất đai nhà xưởng, tên và chức vụ của người trảlời…

Trang 39

+ Bên cạnh các thông tin định lượng, phiếu khảo sát được thiết kế nhằm thuthập các thông tin định tính trên cơ sở đánh giá các nhận định bằng cách cho điểm

từ 1 đến 5 (thang đo Likert): nhận định về các chính sách của Nhà nước, vai trò củaHiệp hội ngành cũng như những ưu tiên Nhà nước cần thực hiện nhằm mục tiêu hỗtrợ doanh nghiệp; nhận định về trình độ công nghệ, chi phí sản xuất, khả năng cạnhtranh của sản phẩm trên cơ sở so sánh với đối thủ cạnh tranh trong ngành; công tácxúc tiến thương mại…

+ Bên cạnh các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp, phiếu khảo sát còn dành một phần để các doanh nghiệp đánh giá đối thủ,xác định lợi thế của mình, trên cơ sở đó đề tài tổng hợp và nhìn nhận tổng quannhững mặt mạnh, mặt yếu nhằm có những giải pháp hợp lý nâng cao năng lực cạnhtranh Đây là chỉ tiêu định lượng tổng hợp trên cơ sở thu thập ý kiến của các doanhnghiệp, với điểm thấp nhất là 1, cao nhất là 5, tổng hợp và tính bình quân, thể hiệntrên đồ thị để dễ dàng cho việc phân tích

2.2.2 Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã trao đổi, tham khảo ý kiến củacán bộ Sở Thương mại, chủ tịch Hiệp hội chế biến gỗ Quảng Ngãi Lưu Văn Bảy,cán bộ quản lý các doanh nghiệp…, làm cơ sở hoàn thiện nội dung và kiểm chứngkết quả nghiên cứu của đề tài

2.2.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích

Trên cơ sở các tài liệu đã được tổng hợp, vận dụng các phương pháp phântích thống kê như số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân; phương pháp so sánh đểphân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành qua các năm Ngoài racác phương pháp nói trên còn được sử dụng để phân tích so sánh các tiêu thức liênquan đến năng lực cạnh tranh so với các đối thủ nhằm đáp ứng được mục đíchnghiên cứu đã đặt ra

Số liệu tổng hợp được tiến hành phân tổ thống kê căn cứ vào kết quả điều traphỏng vấn theo các tiêu thức vị trí doanh nghiệp (trong khu công nghiệp, khu kinh

tế và ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế), thị trường tiêu thụ sản phẩm (nội địa,xuất khẩu, nội địa và xuất khẩu) thông qua các tiện ích của phần mềm tin học ứngdụng SPSS 15.0 Từ việc phân tổ thống kê này sẽ cho thấy sự khác biệt giữa cácdoanh nghiệp trong các nhóm tổ khác nhau, cụ thể hoá bằng những con số và giảithích nguyên nhân, đề xuất giải pháp phù hợp cho từng đối tượng

Trang 40

Ngoài các phương pháp phân tích thống kê đã nêu ở trên, trong luận văncòn sử dụng phương pháp kiểm định phương sai (ANOVA) để kiểm định giả thiếtHo: Sự đồng nhất kiến đánh giá của các doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau.

2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Từ nghiên cứu các yếu tố cấu thành, các nhân tố có ảnh hưởng đến năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp kết hợp với lý thuyết của Micheal Porter và lý thuyết

về chuỗi giá trị, đồng thời tham khảo một số công trình khoa học có liên quan đếnvấn đề nghiên cứu, có thể kết luận rất nhiều yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp Tuy nhiên, do điều kiện thông tin thu thập còn nhiều hạn chế nên

đề tài đi vào phân tích năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ QuảngNgãi qua hai nhóm nhân tố chính sau đây:

 Sản phẩm (bao gồm việc áp dụng các tiêu quản lý chất lượng, mẫu mã, giá

cả, dịch vụ hậu mãi, uy tín thương hiệu);

 Thị trường đầu ra;

 Xúc tiến thương mại;

 Nhận thức về cạnh tranh, đánh giá đối thủ và xác định lợi thế

Ngày đăng: 22/08/2013, 23:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Các kết nối trong chuỗi giá trị - Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh quảng ngãi
Hình 1.1 Các kết nối trong chuỗi giá trị (Trang 24)
Hình 1.2: Quá trình đổi mới và sự giá tăng giá trị của doanh nghiệp - Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh quảng ngãi
Hình 1.2 Quá trình đổi mới và sự giá tăng giá trị của doanh nghiệp (Trang 25)
Bảng 2.1: Quy mô, cơ cấu mẫu điều tra Tiêu thức phân tổ Số doanh nghiệp - Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh quảng ngãi
Bảng 2.1 Quy mô, cơ cấu mẫu điều tra Tiêu thức phân tổ Số doanh nghiệp (Trang 38)
Bảng 3.1: Tổng số doanh nghiệp, tổng lao động, lao động bình quân và thu nhập Chỉ tiêu ĐVT 2004 2005 2006 2005/2004 - Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.1 Tổng số doanh nghiệp, tổng lao động, lao động bình quân và thu nhập Chỉ tiêu ĐVT 2004 2005 2006 2005/2004 (Trang 41)
Bảng 3.2: Tình hình vốn, doanh thu và lợi nhuận - Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.2 Tình hình vốn, doanh thu và lợi nhuận (Trang 42)
Bảng 3.3: Số doanh nghiệp kinh doanh có lãi hoặc lỗ - Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.3 Số doanh nghiệp kinh doanh có lãi hoặc lỗ (Trang 43)
Bảng 3.9: Kiểm định sự khác biệt trong nhận định của các doanh nghiệp về chính sách hỗ trợ kỹ thuật - Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.9 Kiểm định sự khác biệt trong nhận định của các doanh nghiệp về chính sách hỗ trợ kỹ thuật (Trang 50)
Bảng 3.15: Tình hình chuẩn bị cho hội nhập của các doanh nghiệp - Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.15 Tình hình chuẩn bị cho hội nhập của các doanh nghiệp (Trang 60)
Bảng 3.22: Trình độ lao động theo vị trí doanh nghiệp Trình độ Tổng số - Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.22 Trình độ lao động theo vị trí doanh nghiệp Trình độ Tổng số (Trang 70)
Bảng 3.24: Tỷ lệ trình độ máy móc thiết bị - Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.24 Tỷ lệ trình độ máy móc thiết bị (Trang 73)
Bảng 3.28: Đánh giá chi phí sản xuất so với các doanh nghiệp trong nước - Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.28 Đánh giá chi phí sản xuất so với các doanh nghiệp trong nước (Trang 78)
Bảng 3.29: Đánh giá chi phí sản xuất so với các doanh nghiệp nước ngoài - Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.29 Đánh giá chi phí sản xuất so với các doanh nghiệp nước ngoài (Trang 80)
Bảng 3.31: Số doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng ĐVT: doanh nghiệp - Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.31 Số doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng ĐVT: doanh nghiệp (Trang 83)
Bảng 3.32: Đánh giá lợi thế của các doanh nghiệp về chất lượng, mẫu mã ĐVT: % người trả lời - Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.32 Đánh giá lợi thế của các doanh nghiệp về chất lượng, mẫu mã ĐVT: % người trả lời (Trang 85)
Bảng 3.33: Số lượng mẫu tự thiết kế trong hai năm qua - Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.33 Số lượng mẫu tự thiết kế trong hai năm qua (Trang 86)
Bảng 3.34: Đánh giá lợi thế về giá sản phẩm của các doanh nghiệp - Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.34 Đánh giá lợi thế về giá sản phẩm của các doanh nghiệp (Trang 87)
Hình thức quảng bá - Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh quảng ngãi
Hình th ức quảng bá (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w