Thạc sĩ, tiến sĩ, chuyên đề, luận văn, khóa luận, đề tài
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cạnh tranh là quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế
đó các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển buộc phải chấp nhận cạnh tranh vàtuân theo các quy luật cạnh tranh của thị trường Đặc biệt, khi Việt Nam đã gia nhập
tổ chức thương mại thế giới WTO thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các sảnphẩm lại càng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết Kinh tế thị trường là nền kinh tế tựvận động, tự phát triển, tự đào thải Bên cạnh các cơ hội mới không ngừng được mở
ra, nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn những mối đe dọa mang tính thách thức đốivới mỗi doanh nghiệp hoạt động ở trong đó Doanh nghiệp phải hoạt động trongmột môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt với những đòi hỏi ngày càng khắtkhe từ phía khách hàng Khả năng cạnh tranh là yếu tố tổng hợp mang tính quyếtđịnh đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp
Các Công ty bia trên thị trường Việt Nam cũng không nằm ngoài bối cảnh đó.Theo thống kê hiện cả nước có gần 350 cơ sở sản xuất bia, phân bổ hầu hết trên cáctỉnh, thành phố trong cả nước Trong đó, có hơn 20 nhà máy đạt công suất trên 20triệu lít/năm; 15 nhà máy có công suất lớn hơn 15 triệu lít/năm và có tới 268 cơ sở
có năng lực sản xuất dưới 1 triệu lít/năm
Chỉ tính đến cuối năm 2008 đến nay, có trên 400 triệu lít bia được các doanhnghiệp đầu tư sản xuất Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà máy Bia Hà Tây đã công
bố việc hoàn thành mở rộng công suất nhà máy, tăng tổng công suất từ 30 triệulít/năm lên 50 triệu lít bia/năm với tổng kinh phí của dự án là hơn 10 triệu USD.Công ty Bia Huế - Huda cũng công bố sẽ từng bước nâng công suất nhà máy bia tạiPhú Bài từ 100 triệu lít/năm lên 160 triệu lít/năm, rồi lên 240 triệu lít/năm và đạt
290 triệu lít/năm vào năm 2011- 2012 Hãng bia Pháp Kronenbourg vừa chính thức
có mặt tại thị trường Việt Nam Nhà máy bia Kronenbourg (liên doanh giữa 2 tậpđoàn Scottish & Newcastle và Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam) đã được động thổxây dựng tại Đức Hòa - Long An, công suất giai đoạn đầu là 150 triệu lít bia/năm,vốn đầu tư khoảng 43 triệu USD.Tập đoàn San Miguel của Philippines thông báo sẽchi 8 triệu USD để nâng công suất nhà máy tại Việt Nam.[48]
Đó là chưa kể thời gian qua hàng loạt các dự án bia đã được đầu tư mới, mởrộng nâng công suất như liên doanh SABMiller Việt Nam (Bình Dương) 100 triệulít/năm; Công ty Bia Việt Nam nâng công suất từ 150 lên 230 triệu lít/năm; Công tyBia Foster’s (Đà Nẵng) nâng công suất từ 45 lên 85 triệu lít/năm; Công ty Vilaken
Trang 2(Nghệ An) 100 triệu lít/năm; Công ty Tân Hiệp Phát (Bình Dương) nâng công suất
từ 100 lên 150 triệu lít/năm; Công ty Bia Quy Nhơn nâng công suất từ 20 lên 100
triệu lít/năm v.v [48]
Việc nhiều doanh nghiệp quan tâm đến đầu tư sản xuất bia và mở rộng quy môsản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường bia và lẽ dĩ nhiêncùng với nó là cạnh tranh trong ngành càng trở nên gay gắt
Công ty cổ phần Bia Hà Nội - Quảng Bình là thành viên thuộc Tổng Công ty Bia
- Rượu - Nước giải khát Hà Nội hoạt động theo mô hình công ty Mẹ, công ty Contheo quyết định số 2092/QĐ -TCCB ngày 11 tháng 8 năm 2004 của Bộ Côngnghiệp nay là Bộ Công thương Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trongnhững năm qua phát triển khá nhanh, tốc độ tăng trưởng cao, hàng năm đóng gópvào ngân sách địa phương từ 70 đến 80 tỷ đồng, giải quyết công ăn việc làm, tạo thunhập ổn định cho hàng trăm lao động địa phương Với thương hiệu trên 100 nămbia Hà Nội - Quảng Bình bước đầu đã quảng bá được hình ảnh và có được chổ đứngnhất định trên thị trường bia Việt Nam Nhưng, nếu so sánh với các hãng bia kháctrên thị trường Quảng Bình như: bia Sabeco, Huda, Larue, Tiger, Halida v.v thìkhả năng cạnh tranh của bia Hà Nội - Quảng Bình còn nhiều hạn chế Trước các đốithủ này việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần bia Hà Nội - Quảng
Bình đang gặp nhiều khó khăn Xuất phát từ thực trạng này tôi chọn đề tài: “Nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm bia của Công ty cổ phần Bia Hà Nội - Quảng Bình” làm luận văn Thạc sỹ của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích thực trạng về khả năng cạnh tranh sản phẩm bia củaCông ty cổ phần bia Hà Nội - Quảng Bình trong những năm qua, đề xuất các giảipháp nhằm góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm này trong thờigian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu chung trên đây, đề tài đặt ra các mục tiêu cụ thể sau:
- Khái quát hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về cạnh tranh và khả năngcạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường
- Đánh giá đúng thực trạng về khả năng cạnh tranh sản phẩm bia, xác định cácđiểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ của Công ty Cổ phần bia Hà Nội - QuảngBình trong những năm qua
Trang 3- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm Bia củaCông ty cổ phần bia Hà Nội - Quảng Bình trong thời gian tới.
3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề, hiện tượng liên quan đến cạnh tranh vàkhả năng cạnh tranh sản phẩm bia của Công ty Cổ phần bia Hà Nội - Quảng Bình trên
ba đối tượng chủ yếu đó là: công ty, khách hàng và đối thủ cạnh tranh
4 Phạm vi và nội dung nghiên cứu
4.1 Về không gian
Đề tài nghiên cứu khả năng cạnh tranh sản phẩm bia của Công ty Cổ phần bia
Hà Nội Quảng Bình, đóng tại Tiểu khu 13 Phường Bắc Lý Thành phố Đồng Hới Quảng Bình, trên cơ sở điều tra khảo sát ý kiến khách hàng tiêu thụ sản phẩm bia củacông ty tại các tại các huyện Minh Hóa, Bố Trạch, Lệ Thủy, Quảng Trạch và Thànhphố Đồng Hới thuộc địa bàn Tỉnh Quảng Bình
-4.2 Về thời gian
Đề tài được thực hiện trên cơ sở tổng hợp và phân tích số liệu phản ánh tình
hình hoạt động của công ty trong giai đoạn từ năm 2006 - 2008 và các số liệu sơ cấpthu thập qua điều tra khảo sát ý kiến khách hàng được thực hiện trong khoảng thời gian
từ tháng 10/2008 đến tháng 6/2009
4.3 Về nội dung
Việc phân tích và đánh giá khả năng cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệptrong nền kinh tế thị trường là một vấn đề rộng lớn và hết sức phức tạp Tuy nhiên, dođiều kiện về thời gian nên đề tài chỉ tập trung phân tích đánh giá những khía cạnh mangtính cơ bản liên quan đến năng lực cạnh tranh sản phẩm bia của Công ty cổ phần bia
Hà Nội - Quảng Bình như các chính sách Maketing - Mix, các nhân tố ảnh hưởng đếnkhả năng cạnh tranh, giá trị của khách hàng, nhận diện các đối thủ cạnh tranh của công
ty, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và các thách thức để từ đó đề xuất các giải pháp nhằmnâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm bia của công ty trong thời gian tới
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Luận văn quán triệt phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử xem xétđối tượng nghiên cứu trong sự vận động và phát triển trong mối quan hệ tương hỗ vớicác tác động môi trường, để khái quát đối tượng nghiên cứu và nhận thức đầy đủ kháchquan về bản chất của các hiện tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội
5.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
Các số liệu và thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung
và năng lực cạnh tranh của công ty được thu thập từ nguồn thứ cấp và sơ cấp
Trang 4- Nguồn số liệu thứ cấp: Thu thập từ sách, báo, tạp chí, các quyết định của
Chính Phủ, các trang tin điện tử, và các tài liệu do công ty cung cấp có liên quan đến đềtài như: báo cáo tài chính, báo cáo tổng kết, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, kếhoạch phát triển công ty từ năm 2005 - 2010 v.v
- Nguồn số liệu sơ cấp: Để tiến hành phân tích đánh giá giá trị khách hàng về
tiêu thụ sản phẩm bia của công ty, đề tài sử dụng nguồn số liệu sơ cấp được thu thậpbằng bảng hỏi đối với khách hàng tại các địa bàn nghiên cứu được thực hiện từ tháng10/2008 đến tháng 6/2009
Ngoài ra luận văn còn kế thừa hợp lý các kết quả của các công trình nghiên cứutrong và ngoài nước về lĩnh vực có liên quan đến đề tài
5.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Các số liệu sau khi thu thập được tổng hợp và xử lý thông qua phần mềm Excel
và SPSS, sử dụng các phương pháp phân tích thống kê, so sánh, mô hình hoá, phân tíchnhân tố, kiểm định mô hình, phân tích diễn giải, phương pháp ma trận SWOT v.v đểphân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh sản phẩmbia của công ty và đề xuất các giải pháp nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu đề ra
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Đóng góp của luận văn:
- Hệ thống hóa được những vấn đề lý luận và thực tiễn về cạnh tranh sản phẩmnói chung và sản phẩm bia nói riêng của các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tếthị trường
- Phân tích và đánh giá đúng thực trạng khả năng cạnh tranh sản phẩm bia củaCông ty Cổ phần bia Hà Nội - Quảng Bình trong những năm qua
- Đề xuất hệ thống các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranhsản phẩm bia của Công ty Cổ phần bia Hà Nội - Quảng Bình trong những năm tới
7 Kết cấu của luận văn
- Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về cạnh tranh và cạnh tranh sản phẩm Chương 2: Thực trạng khả năng cạnh tranh sản phẩm bia của Công ty cổ
phần bia Hà Nội - Quảng Bình
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh sản
phẩm bia của Công ty Cổ phần bia Hà Nội - Quảng Bình
Trang 5CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ CẠNH TRANH
SẢN PHẨM BIA
1.1 Lý luận chung về cạnh tranh và cạnh tranh sản phẩm
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh
1.1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Sản xuất xã hội đã trải qua quá trình phát triển từ hình thức tự cấp, tự túc lênsản xuất hàng hóa Sản xuất hàng hóa là sản xuất không phải để mình dùng, mà là
để bán thông qua trao đổi, phân phối trên thị trường Động lực mạnh mẽ cho sự pháttriển của sản xuất hàng hóa là nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của con người.Hình thức trao đổi, mua - bán trên thị trường đã làm xuất hiện cạnh tranh giữa cácnhà sản xuất trong quá trình này
Cho đến nay có rất nhiều quan điểm không giống nhau về khái niệm cạnhtranh tùy thuộc vào từng giai đoạn lịch sử cụ thể
Trong các lý thuyết cổ điển, cạnh tranh được luận giãi thông qua nhiều quanđiểm khác nhau như: Thuyết lợi thế tuyệt đối, thuyết lợi thế so sánh, thuyết sở hữu
tự nhiên các yếu tố sản xuất, thuyết chu kỳ sản phẩm v.v
Với quan điểm cạnh tranh là lợi thế tuyệt đối của mỗi quốc gia, A.Smit cho
rằng: “Cạnh tranh rất quan trọng, cạnh tranh bảo đảm mỗi một cá nhân hay quốc gia thực hiện những công việc mà chúng có thể thực hiện tốt nhất và nó bảo đảm mỗi thành viên sẽ thu được phần thưởng xứng đáng cho công việc của mình và đóng góp tối đa cho phúc lợi chung Vì lẽ đó, vai trò của nhà nước, hay chủ quyền nên giảm tối thiểu Các chính sách của nhà nước là nhằm loại bỏ độc quyền và bảo
Từ điển tiếng Việt giải thích:“ Cạnh tranh là sự cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau”[29].
Cạnh tranh phát triển mạnh trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.Giá cả thị trường, lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất hình thành thông qua sự
Trang 6cạnh tranh giữa các nhà tư bản Cạnh tranh là một hiện tượng vốn có của mọi nền
kinh tế hàng hóa Theo C.Max: “Cạnh tranh hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là sự ganh đua giữa những người sản xuất và lưu thông hàng hóa bằng những hình thức
và thủ đoạn khác nhau, nhằm giành giật cho mình những điều kiện và sản xuất kinh doanh có lợi nhất Động lực của cạnh tranh là lợi nhuận tối đa” [10]
Trong phạm vi doanh nghiệp "Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua nhau giữa các nhà doanh nghiệp trong việc giành giật nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được một mục tiêu kinh doanh cụ thể nào đó” [24] Sự ganh đua ở đây là sự ganh đua về tất cả các mặt như
số lượng, chất lượng, giá cả, dịch vụ khách hàng v.v hoặc kết hợp các yếu tố nàycùng với các nhân tố khác để tác động đến khách hàng một cách mạnh mẽ nhất
Theo tác giả, thực chất của cạnh tranh là cuộc ganh đua gay gắt giữa các chủthể kinh tế bằng mọi biện pháp nhằm chiếm ưu thế trên thị trường về sản phẩm củamình, nhờ đó thu được lợi ích kinh tế cao nhất trong ngắn hạn và dài hạn, trongphạm vi cho phép
1.1.1.2 Khái niệm về khả năng cạnh tranh
Quan điểm của M.Porter cho rằng: “Khả năng cạnh tranh liên quan đến việc xác định vị trí của doanh nghiệp để phát huy các năng lực độc đáo của mình trước các lực lượng cạnh tranh: Đối thủ tiềm năng, đối thủ hiện tại, sản phẩm thay thế, nhà cung cấp và khách hàng”[45].
Theo tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm thì cho rằng: “Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào giá trị gia tăng mà doanh nghiệp đó mang lại cho khách hàng”[23].
Từ những quan niệm trên theo quan điểm của tác giả: Khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp chính là năng lực vượt trội của bản thân nội tại của chính doanhnghiệp so với các đối thủ trong việc giành dật những điều kiện sản xuất và nơi tiêuthụ có lợi nhất trên thị trường để thực hiện mục tiêu của mình
Khả năng cạnh tranh trong kinh tế thị trường, thường được tiếp cận theo 3cấp độ: Khả năng cạnh tranh của từng mặt hàng (sản phẩm), khả năng cạnh tranhcủa các doanh nghiệp (ngành) và khả năng cạnh tranh của quốc gia
a, Khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Theo định nghĩa của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc thì: “Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ được đo bằng thị phần của sản phẩm hay dịch vụ
cụ thể trên thị trường”[28] Khả năng cạnh tranh của sản phẩm là sự thể hiện thông
qua các lợi thế so sánh đối với những sản phẩm cùng loại Lợi thế so sánh của một
Trang 7sản phẩm bao hàm các yếu tố bên trong và bên ngoài tạo nên như: năng lực sảnxuất, chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm, dung lượng thị trường của sản phẩm.Khi nói sản phẩm A của doanh nghiệp M có khả năng cạnh tranh cao hơn sản phẩm
A của doanh nghiệp N tức là nói đến những lợi thế vượt trội của sản phẩm do doanhnghiệp M sản xuất, nhờ có năng lực sản xuất lớn hơn, chi phí sản xuất trên một đơn
vị sản phẩm thấp hơn, sản phẩm có chất lượng cao hơn, có dung lượng thị trườngchiếm lĩnh nhiều hơn v.v Còn nếu so sánh với các sản phẩm cùng loại nhập khẩuthì yếu tố lợi thế được thể hiện cơ bản qua giá bán sản phẩm, giá trị sử dụng của sảnphẩm và một phần không nhỏ là tâm lý người tiêu dùng
Như vậy, khả năng cạnh tranh của sản phẩm là một khái niệm động và hếtsức phức tạp, được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu tác động của cả môi trường
vĩ mô lẫn vi mô Một sản phẩm tại một thời điểm nào đó có thể có khả năng cạnhtranh nhưng tại thời điểm khác nó không còn khả năng đấy nữa
b, Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Có nhiều định nghĩa khác nhau về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp:
TheoTrung tâm kinh tế quốc tế Úc thì: “Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp được hiểu là khả năng tồn tại và phát triển mà không cần sự hỗ trợ của nhà nước”[13].
Theo Bộ Thương mại Hoa Kỳ thì: “Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng tiêu thụ một cách bền vững, có lợi nhuận những sản phẩm dịch
vụ của mình và khách hàng sẵn sàng mua những sản phẩm, dịch vụ này hơn của các đối thủ cạnh tranh”[49].
Một quan điểm khác lại cho rằng: “ Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
là khả năng mà doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường, có nghĩa là doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác nhưng với chi phí thấp hơn thì được coi là có khả năng cạnh tranh cao hơn”[21].
M Porter xem xét “ Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp như là một quá trình gia tăng liên tục về lợi nhuận và tăng trưởng bền vững về năng suất lao động Khả năng cạnh tranh được xem xét trên hai góc độ là ngắn hạn và dài hạn Về ngắn hạn, một doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng cạnh tranh của mình trên cơ
sở phát huy lợi thế của các yếu tố sẵn có như: tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, khí hậu, thời tiết, dân số, lao động rẽ v.v Về dài hạn, nếu doanh nghiệp hoàn toàn chỉ dựa vào những tài nguyên sẵn có mà không chịu đổi mới, đầu tư vào yếu tố con
Trang 8người, tài sản v.v thì sẽ không thể cải thiện được khả năng cạnh tranh của mình”[48].
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, song các quan điểm đã đề cập đến haivấn đề cơ bản khi nói về khả năng cạnh tranh Đó là: khả năng chiếm lĩnh thị trường
và khả năng đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của nhà sản xuất
c, Khả năng cạnh tranh của quốc gia.
Khả năng cạnh tranh của quốc gia được hiểu và định nghĩa theo nhiều cáchkhác nhau:
Theo quan điểm của Gerry Sharkey thì “ Khả năng cạnh tranh của một quốc gia là mức độ kháng cự thử thách từ bên ngoài trong việc sản xuất hàng hoá và dịch vụ, đồng thời đảm bảo duy trì và gia tăng thu nhập thực tế của quốc gia đó”[28].
Theo quan điểm của J.E Austin Associates thì “ Khả năng cạnh tranh có thể được xác định nghĩa như là sự gia tăng một cách ổn định và bền vững năng suất lao động thể hiện bằng sự tăng lên về tiền lương và cải thiện về mức sống Nó được thể hiện ở khả năng chịu đựng thử thách trên thị trường Quốc tế, thông qua việc tạo
ra giá trị cao hơn bằng việc năng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, dịch vụ và đổi mới”[43].
Theo báo cáo về năng lực cạnh tranh toàn cầu định nghĩa: “Khả năng cạnh tranh quốc gia là khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian”[13].
Theo diễn đàn kinh tế thế giới thì: “Khả năng cạnh tranh quốc gia là khả năng của nền kinh tế quốc dân đạt và duy trì được mức tăng trưởng trên cơ sở các chính sách, thể chế và các đặc trưng kinh tế khác tương đối vững chắc”[46].
Từ những quan điểm trên đây, chúng tôi cho rằng: Khả năng cạnh tranh củaquốc gia là vị thế của quốc gia đó trên thị trường quốc tế và là khả năng của nềnkinh tế quốc dân duy trì được mức tăng trưởng cao và bền vững
Ba cấp độ cạnh tranh có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫnnhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định và phụ thuộc lẫn nhau Khả năng cạnh tranhcủa từng loại sản phẩm là cơ sở tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp,ngành và tổng thể của nó tạo nên khả năng cạnh tranh của quốc gia Một nền kinh tế
có khả năng cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có khả năng cạnhtranh mạnh, ngược lại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh thì
Trang 9môi trường kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ môphải rõ ràng, có thể dự báo được, nền kinh tế phải ổn định, bộ máy nhà nước phảitrong sạch, hoạt động có hiệu quả.
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm là một trong những yếu tố cấu thành khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được thểhiện qua khả năng cạnh tranh của sản phẩm mà doanh nghiệp kinh doanh Doanhnghiệp có thể có một hay nhiều sản phẩm với khả năng cạnh tranh khác nhau.Thông thường, nếu một doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh tốt thì sản phẩm của
họ thường có khả năng cạnh tranh tốt và ngược lại Vì vậy, trên thực tế người tathường dùng khái niệm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và khả năng cạnhtranh của sản phẩm như những thuật ngữ có thể thay thế nhau Tuy nhiên, chúngcũng có những khác biệt cơ bản Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và khảnăng cạnh tranh của sản phẩm khác nhau ở chỗ doanh nghiệp là một tổ chức có thểsản xuất đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau với khả năng cạnh tranh khác nhau,trong khi đó sản phẩm mặc dù có thể đa dạng nhưng vẫn không đồng nhất về mức
độ cạnh tranh
Trong khuôn khổ phạm vi của đề tài tác giả chỉ tập trung nghiên cứu cấp độcạnh tranh sản phẩm trong doanh nghiệp trong mối quan hệ tác động qua lại lẫnnhau với cạnh tranh doanh nghiệp và cạnh tranh quốc gia
1.1.2 Vai trò và các hình thức của cạnh tranh
1.1.2.1 Vai trò của cạnh tranh
- Cạnh tranh là động lực thúc đẩy đổi mới
Thực vậy, cạnh tranh chính là động lực để thúc đẩy đổi mới một cách nhanhchóng và mạnh mẽ nhất Cạnh tranh đã tạo ra sức ép đối với doanh nghiệp, kíchthích ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất, cải tiến công nghệ, thiết
bị và phương thức quản lý để không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giáthành và giá bán của sản phẩm Sự đổi mới ấy có tác dụng tích cực đối với doanhnghiệp nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung Đổi mới là tất yếu do áp lực cạnhtranh vì thế dường như các doanh nghiệp không ngừng tìm tòi, đổi mới và nâng caosức cạnh tranh sản phẩm của mình
- Cạnh tranh là nhân tố đóng vai trò quyết định đối với sự tồn tại phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì khả năngcạnh tranh ngày càng trở thành nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển doanhnghiệp Cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm thị trường, mở
Trang 10rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của mình nhằm tăng doanh thu, lợi nhuậncủa doanh nghiệp giúp các doanh nghiệp có chỗ đứng vững chắc trên thị trường.
Cạnh tranh có thể được coi là một cuộc chạy đua khốc liệt, các doanhnghiệp không thể lẫn tránh mà phải tìm mọi cách để vươn lên và chiếm lĩnh ưu thế
Để thu hút được khách hàng về phía mình buộc các doanh nghiệp phải tìm cách hạgiá thành sản phẩm, để có thể đưa ra mức giá thấp hơn mức giá của đối thủ Chínhđiều này đã buộc các nhà sản xuất phải lựa chọn phương án sản xuất tối ưu
Bên cạnh những vai trò to lớn đó thì cạnh tranh cũng chứa đựng nhữngkhuyết tật Trong quá trình cạnh tranh vì đảm bảo lợi ích của mình các doanhnghiệp không chú ý đến giải quyết các vấn đề xã hội, có thể làm ô nhiễm môitrường, ô nhiễm nguồn nước, làm cạn kiệt tài nguyên v.v Mục tiêu của cạnh tranh
là giành thắng lợi về mình do đó các doanh nghiệp phải dùng mọi biện pháp khôngtrừ cả thủ đoạn, dễ tạo ra tình trạng không lành mạnh trong cạnh tranh Chính vì thếcần phải có sự quản lý của nhà nước đảm bảo cho các doanh nghiệp cạnh tranh mộtcách bình đẳng có hiệu quả và làm giảm bớt các bất lợi cho xã hội
1.1.2.2 Các hình thức cạnh tranh sản phẩm
Mọi sản phẩm được doanh nghiệp sản xuất ra là đều nhằm thoả mãn nhữngnhu cầu của khách hàng khi tiêu dùng nó Mặt khác, trong bản thân mỗi sản phẩmluôn chứa đựng vô số các yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyết định mua của kháchhàng Vì vậy, mỗi yếu tố cấu thành nên sản phẩm hay từng đặc tính của sản phẩmđều có thể là xuất phát điểm tạo ra khả năng cạnh tranh cho sản phẩm [6] Tuynhiên, có thể quy về một số hình thức cạnh tranh sản phẩm sau:
- Cạnh tranh về hình thức kết cấu, kiểu dáng sản phẩm: Đây là sự cạnh tranh
giữa các sản phẩm cùng loại, cùng đáp ứng một loại nhu cầu nào đó của khách hàngnhưng có hình thức kết cấu, kiểu dáng sản phẩm hoặc các yếu tố liên quan đến sảnphẩm khác nhau như chất lượng, giá cả, các thuộc tính v.v khác nhau [6]
- Cạnh tranh giữa các sản phẩm thay thế: Đó là hình thức cạnh tranh giữa các
sản phẩm khác loại nhưng cùng thoả mãn một loại nhu cầu nào đó của khách hàng.Hiện nay hình thức cạnh tranh này đang được rất nhiều doanh nghiệp sử dụng [6]
- Cạnh tranh giữa các nhãn hiệu: Đây là sự cạnh tranh giữa các sản phẩm
cùng loại, cùng đáp ứng một nhu cầu của khách hàng, có hình thức kết cấu, kiểudáng giống nhau chỉ khác nhau về tên gọi, nhãn hiệu [6]
- Cạnh tranh giữa các nhu cầu: Với sự giới hạn về ngân sách chi tiêu khách
hàng thường phải cân nhắc giữa các quyết định mua Do đó việc chi tiêu cho sảnphẩm này sẽ ảnh hưởng tới việc chi tiêu cho sản phẩm khác và sẽ ảnh hưởng tớiquyết định mua của khách hàng [6]
Trang 111.1.3 Các công cụ cạnh tranh sản phẩm Maketing- Mix
1.1.3.1 Cạnh tranh bằng yếu tố sản phẩm
Sản phẩm là những hàng hoá, dịch vụ, tiện nghi mà người bán mong muốn
và đem ra thị trường nhằm thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng để thực hiện mục tiêulợi nhuận của doanh nghiệp Câu hỏi đặt ra là : sản phẩm của doanh nghiệp có khảnăng cạnh tranh hay không? có được người tiêu dùng chấp nhận hay không? Để trảlời được các câu hỏi này thì doanh nghiệp phải xem xét và đưa ra thị trường nhữngsản phẩm đáp ứng tối đa sự thoả mãn của khách hàng Muốn vậy, sản phẩm trướchết phải đáp ứng về mặt chất lượng phù hợp và đa dạng về chủng loại, độc đáo vềtính năng tác dụng, đẹp về mẫu mã [16]
a,Sử dụng khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm
Nâng cao chất lượng sản phẩm là biện pháp cạnh tranh bằng sản phẩm hữuhiệu Doanh nghiệp tìm tòi, phát minh sáng kiến và sử dụng chúng để nâng cao chấtlượng, tăng thêm hiệu quả, tính năng sử dụng sản phẩm cho khách hàng Bên cạnh
đó doanh nghiệp còn có thể sử dụng hoặc thay thế vật liệu tạo ra sản phẩm có những
ưu thế vượt trội Điều này có nghĩa là phải thực hiện khác biệt hoá sản phẩm củadoanh nghiệp Thực tế thị trường đòi hỏi những sản phẩm có chất lượng cao vàngười tiêu dùng sẵn sàng mua chúng với mức giá cao hơn Nếu làm được điều đódoanh nghiệp đã nâng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm của mình
Chất lượng là tổng thể các chỉ tiêu, những đặc tính của sản phẩm thể hiệnđược sự thoả mãn nhu cầu trong điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với côngdụng của sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn Như vậy theo quan niệm vềchất lượng hướng theo các cam kết của người sản xuất thì để cạnh tranh bằng chấtlượng sản phẩm các doanh nghiệp không những phải chú ý đến các tiêu chuẩn kinh
tế - kỹ thuật của sản phẩm mà còn phải đáp ứng sự phù hợp của nó với nhu cầu thịtrường Nâng cao chất lượng sản phẩm có ý nghĩa lớn lao trong việc nâng cao nănglực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp sản xuất bia nóiriêng Do đặc tính của sản phẩm bia nên dù chỉ là một sự cải tiến nhỏ cũng có thểtạo nên một hương vị bia khác biệt tạo sức hấp dẫn đối với người tiêu dùng Sởthích của người tiêu dùng được đặt lên hàng đầu vì đây là sản phẩm giải khát đượcđánh giá trực tiếp sau khi sử dụng Do đó chất lượng sản phẩm tăng lên sẽ thu hútkhách hàng một cách nhanh chóng, mức sản lượng bán ra tăng, thị trường mở rộng,
uy tín doanh nghiệp được củng cố cũng có nghĩa năng lực cạnh tranh tiêu thụ sảnphẩm tăng và hiệu quả sản xuất được nâng cao
Trang 12b, Đa dạng hoá sản phẩm
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường như hiện nay dường như nâng caochất lượng sản phẩm thôi chưa đủ Để cạnh tranh được các doanh nghiệp còn có xuhướng mở rộng mặt hàng hay đa dạng hoá sản phẩm Với tốc độ thay đổi thị hiếungười tiêu dùng diễn ra rất nhanh trên thị trường nếu doanh nghiệp luôn chỉ có mộtsản phẩm quen thuộc mặc dù chất lượng tốt, mẫu mã đẹp cũng sẽ trở nên tụt hậu vớicác đối thủ cạnh tranh khác và với thị hiếu của khách hàng [16]
Hình thức đa dạng hoá sản phẩm mà doanh nghiệp sử dụng có thể là hoànthiện các sản phẩm hiện có trên thị trường, đa dạng hoá theo chiều sâu của mỗi loạisản phẩm hoặc đa dạng hoá theo bề rộng nhu cầu các loại sản phẩm, thiết kế sảnxuất những sản phẩm mới
Hoàn thiện các sản phẩm hiện có là phương thức tốt nhất để giữ vững thịtrường mà doanh nghiệp đang chiếm lĩnh, đồng thời dần đi sâu và chiếm lĩnh các thịtrường mới bằng cách đa dạng hoá kiểu dáng, điều kiện sử dụng và khả năng thanhtoán của khách hàng
Thiết kế, sản xuất những sản phẩm mới là công việc cần thiết đối với mọidoanh nghiệp Mọi sản phẩm đều có chu kỳ sống của nó với 4 giai đoạn: sản phẩmmới đưa ra trên thị trường, phát triển, chín muồi và suy thoái Vì thế doanh nghiệpnên bổ sung những sản phẩm mới, có thể mới tương đối hoặc mới tuyệt đối Nếudoanh nghiệp quyết định sản xuất sản phẩm mới tuyệt đối thì rủi ro cao hơn song nóluôn là ý tưởng hay của sự đổi mới
1.1.3.2 Cạnh tranh bằng giá cả
Giá cả được sử dụng như là công cụ cạnh tranh phổ biến trên thương trường.Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá Giá cả của hàng hoá trên thịtrường được hình thành thông qua quan hệ cung cầu Người bán và người mua thoảthuận với nhau để đi tới mức giá cuối cùng đảm bảo hai bên cùng có lợi Giá cảđóng vai trò vô cùng quan trọng trong quyết định mua của khách hàng Trong nềnkinh tế thị trường cạnh tranh, khách hàng có quyền lựa chọn sản phẩm mà họ cho là
có ưu thế nhất Với cùng một loại sản phẩm có chất lượng tương đương khách hàngsẵn sàng mua sản phẩm có giá rẻ hơn Giá cả là một trong những công cụ cạnh tranhchủ yếu của sản phẩm, vì vậy việc định giá cho sản phẩm có ý nghĩa rất lớn trongviệc nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm Cùng một loại sản phẩm có chấtlượng như nhau nhưng giá của sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất thấp hơn giá thịtrường sẽ giúp doanh nghiệp tăng lượng bán, tạo cơ hội để doanh nghiệp thâm nhập
và chiếm lĩnh thị trường
Trang 13Để chiếm lĩnh được ưu thế cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có sự lựa chọncác chính sách giá thích hợp cho từng loại sản phẩm và cho từng giai đoạn cụ thểtrong chu kỳ sống của sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trường, giá cả được coi là “bàn tay vô hình” điều phối
các quan hệ thị trường và hành vi của người bán và người mua nhằm tối đa hoá lợiích của mỗi bên tham gia trao đổi Vì vậy, các quyết định mà doanh nghiệp đưa rakhông chỉ nhằm bảo đảm lợi ích của bản thân doanh nghiệp mà còn phải cân nhắc
và đánh giá các yếu tố khác như: lợi ích khách hàng, phản ứng của đối thủ cạnhtranh và các yếu tố bên ngoài khác Mọi quyết định về giá phải đồng thời thoả mãncác điều kiện ràng buộc bên ngoài và bên trong doanh nghiệp.[16]
Bản chất của cạnh tranh qua giá là dựa trên những lợi thế cạnh tranh nhấtđịnh, doanh nghiệp sử dụng giá cả để đạt được các mục tiêu marketing đã địnhnhằm tăng cường khả năng cạnh tranh ổn định và bền vững Cạnh tranh về giákhông có nghĩa là sử dụng công cụ giá cả một cách đơn độc mà phải biết và dự kiếnnhững tác động của chính sách giá trong ngắn hạn cũng như dài hạn, nhờ đó có thểcân bằng lợi ích trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp
1.1.3.3 Cạnh tranh về phân phối và các hoạt động hỗ trợ tiêu thụ
a, Lựa chọn hệ thống kênh phân phối thích hợp
Khả năng cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào hệthống kênh phân phối được lựa chọn và áp dụng Lựa chọn được một hệ thống kênhphân phối thích hợp thì sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ nhanh chóng và đạt hiệuquả cao Xác định kênh phân phối là nội dung cuối cùng của chiến lược phân phối
vì vậy kênh phân phối phải phù hợp với đặc điểm của sản phẩm và đặc điểm củakhách hàng Nếu làm được điều này doanh nghiệp không những đạt được mục tiêucủa mình mà còn vượt trên các đối thủ cạnh tranh Theo M Porter trong thực tế cócác loại kênh phân phối sau:
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ kênh phân phối của M Porter [45]
Trang 14Thông thường, đối với các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp sản xuấtbia nói riêng có từ hai kênh phân phối trở lên Về mặt lý thuyết thì doanh nghiệpcàng sử dụng được nhiều kênh phân phối khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanhnghiệp càng tăng Tuy nhiên, tùy thuộc vào đặc điểm của sản phẩm, đặc điểm thịtrường tiêu thụ và các yếu tố khác về địa hình, giao thông v.v để có thể lựa chọn
và áp dụng một hệ thống kênh phân phối cho thích hợp với từng điều kiện cụ thểcủa doanh nghiệp
c, Quảng cáo, tuyên truyền
Quảng cáo, tuyên truyền là cách sử dụng chữ viết, tiếng nói, hình ảnh v.v đểtrình bày, thông báo cho khách hàng về sản phẩm của doanh nghiệp nhằm mục đíchthu hút sự chú ý của người tiêu dùng đối với những ưu thế sản phẩm doanh nghiệpcung cấp ra thị trường và lôi kéo người tiêu dùng mua hàng của mình
Quảng cáo, tuyên truyền có thể thực hiện bằng nhiều phương tiện như: ápphích, tờ rơi, pano, quảng cáo trên đài phát thanh, truyền hình, băng hình, mạnginternet v.v Đây là những phương tiện có khả năng quảng bá rộng rãi nhất hìnhảnh sản phẩm và ở các giác độ có lợi nhất để người tiêu dùng bị kích thích, lôi cuốn
và quan tâm đến sản phẩm Ngoài ra, một cách quảng cáo hiệu quả nữa đó là đónggói bao bì để sản phẩm tự giới thiệu mình hoặc dùng sách, báo, tạp chí, phim ảnhriêng về sản phẩm v.v từ đó khách hàng có ý thức về sự tồn tại của sản phẩm, tìmhiểu và quyết định mua nó
Quảng cáo dù ở bất kỳ phương tiện nào cũng phải đảm bảo nguyên tắc: gợi
mở, đặc trưng, tiêu biểu, độc đáo với ưu điểm rõ ràng so với các sản phẩm cạnhtranh, quảng cáo đúng ngưỡng, trung thực, văn minh, tôn trọng người tiêu dùngđồng thời phải hiệu quả, thiết thực và dừng lại đúng lúc.[45]
d, Chào hàng
Đây là phương pháp sử dụng các nhân viên giao hàng đưa hàng đến giới
Trang 15thiệu và bán trực tiếp cho khách Chào hàng có kết quả sẽ tạo được khả năng tiêuthụ lớn Nhân viên chào hàng có vị trí khá quan trọng, vừa phải hiểu rõ sản phẩmcủa doanh nghiệp đem đi chào hàng vừa phải biết nghệ thuật trình bày sản phẩmcho khách để thuyết phục họ từ chỗ chưa biết đến biết rồi ưa thích và cuối cùng làmua hàng Do đó việc tuyển chọn, bồi dưỡng và đãi ngộ xứng đáng nhân viên chàohàng là thực sự cần thiết.
e, Bán hàng trực tiếp
Bán hàng trực tiếp cũng là cách thức mang tính thử nghiệm để doanh nghiệptheo giõi thị hiếu khách hàng, từ đó có những thay đổi cần thiết cho phù hợp vớinhững đòi hỏi của họ, làm tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm và thúc đẩy sản xuấtkinh doanh phát triển
g, Chiêu thị (yểm trợ, xúc tiến bán hàng)
Ngoài các biện pháp trên, chiêu thị là biện pháp tổng hợp để khuyến khíchtiêu thụ sản phẩm Có thể sử dụng các biện pháp chủ yếu như: tham gia hội chợtriển lãm, tổ chức hội nghị khách hàng, tham gia các hoạt động từ thiện xã hội, tàitrợ, trợ cấp, chính sách tín dụng
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh sản phẩm
Trên thực tế có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sảnphẩm Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm
có ý nghĩa rất lớn đối với các doanh nghiệp Khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởngđến khả năng cạnh tranh của sản phẩm chúng ta thường hay đồng nhất các nhân tốảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm với các nhân tố ảnh hưởng đếnkhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, bởi lẽ sản phẩm là do doanh nghiệp sản xuất
ra nên các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng phầnnào ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Khi phân tích khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp M.Porter xác định cónăm nhóm các yếu tố tác động ảnh hưởng đến vị thế của doanh nghiệp so với cácdoanh nghiệp có cùng loại sản phẩm trong cùng một lĩnh vực hoạt động, trong cùngmột quốc gia hay trên phạm vi quốc tế Theo ông năm nhóm yếu tố này tác độngảnh hưởng và quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tác động ảnhhưởng của chúng là sự tác động đa chiều và hết sức phức tạp Chúng có thể đượcxem như những hệ thống riêng biệt tương đối Ngoài năm nhóm yếu tố này trong
mô hình của mình M.Porter còn đề cập đến hai nhóm nhân tố khác đó là nhà nước
và cơ hội [45]
Trang 16
Sơ đồ 1.2: Mô hình về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của M Porter
Theo mô hình này
Các yếu tố nguồn lực bao gồm (1):
-Nguồn lực sẵn có: Khí hậu, đất đai, nguồn nước, vị trí địa lý, nguồn nguyênliệu sẵn có, môi trường sinh thái lao động
- Nguồn lực được hoàn thiện: Trình độ, tay nghề, kỹ năng lao động, điềukiện tiếp cận nguồn tài chính, cơ sở hạ tầng, năng lực nghiên cứu khoa học, quản trị,công nghệ
Nhu cầu thị trường bao gồm(2): Khả năng gặp gở tiếp xúc trực tiếp với khách
hàng, quy mô và chủng loại nhu cầu của dân cư trong vùng, tốc độ tăng trưởng củacầu, khả năng đáp ứng nhanh nhu cầu nội địa, số lượng người mua độc lập
Chuỗi các ngành sản xuất và lĩnh vực có liên quan bao gồm(3): Các nhà
cung cấp, ngành tài chính, dịch vụ kinh doanh, các hiệp hội, quan hệ với các cơ sởnghiên cứu, các cơ sở giáo dục và đào tạo
Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh bao gồm(4): Chiến lược hoạt động của
doanh nghiệp, hợp tác trong ngành, mức độ cạnh tranh trên thị trường nội địa, tìnhtrạng độc quyền, đặc điểm của đối thủ dẫn đầu, số lượng các đối thủ, quan hệ chấtlượng - giá cả của sản phẩm, kênh phân phối, sản phẩm đầu ra và sản phẩm chuyênmôn hoá
Doanh nghiệp
Nhà
hội
Nhu cầu thị trường (2)
Trang 17Nhưng trên thực tế thì khả năng cạnh tranh của sản phẩm là kết quả tổng hoàcủa khả năng cạnh tranh của ngành, doanh nghiệp và quốc gia Khả năng cạnh tranhcủa một nước được phản ánh ở khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nước đó
và khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp lại được phản ánh ở khả năng cạnhtranh của sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất Do đó có thể nói khả năng cạnhtranh của sản phẩm chịu tác động của các yếu tố vĩ mô được thể hiện ở khả năngcạnh tranh quốc gia và yếu tố vi mô là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp
Các nhân tố vi mô là nhóm nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp tạo ra khả năng cạnh tranh của sản phẩm Nhómcác nhân tố này bao gồm: khả năng tài chính, lao động, trình độ kỹ thuật công nghệ,trình độ quản lý [2] Chúng ta lần lượt xem xét các yếu tố này
a, Khả năng tài chính
Trên thực tế người tiêu dùng cũng bị ảnh hưởng nhiều bởi khả năng tài chínhcủa doanh nghiệp Khách hàng thường đánh giá các doanh nghiệp có khả năng tàichính mạnh đồng nghĩa với việc sản phẩm của họ có chất lượng cao và được ưachuộng hơn trên thị trường.[2]
Trong cơ chế thị trường cạnh tranh, các đối thủ thường dùng hình thức cạnhtranh bằng cách giảm giá bán sản phẩm, cung cấp tín dụng cho khách hàng Nếudoanh nghiệp không có khả năng tài chính đủ mạnh sẽ không trụ vững trong cuộccạnh tranh, bởi vì cuộc cạnh tranh về giá sẽ làm giảm doanh thu và lợi nhuận củadoanh nghiệp ít nhất là trong giai đoạn đầu Do đó hiện nay các doanh nghiệp có xuhướng sát nhập vào nhau để tạo thành các tập đoàn, tổng công ty mạnh về tài chính
để nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường
b,Trình độ kỹ thuật,công nghệ
Máy móc thiết bị là yếu tố trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hoá và tác độngtrực tiếp đến chất lượng sản phẩm và năng suất lao động Máy móc thiết bị là bộphận quan trọng bậc nhất, là thước đo trình độ kỹ thuật và thể hiện khả năng sảnxuất của doanh nghiệp Công nghệ sản xuất ảnh hưởng tới giá thành và giá bán sảnphẩm Một doanh nghiệp có công nghệ phù hợp sẽ có lợi thế cạnh tranh lớn do chiphí sản xuất thấp, chất lượng sản phẩm cao và ngược lại [2]
Với sự phát triển như vũ bảo của khoa học kỹ thuật như hiện nay thì chu kỳsống của công nghệ ngày càng bị rút ngắn Công nghệ tiên tiến sẽ quyết định tớinăng suất, chất lượng và sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm
Trang 18c, Lao động
Đối với bất kỳ quá trình sản xuất kinh doanh nào thì yếu tố con người là cực
kỳ quan trọng Con người là yếu tố cơ bản quyết định hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp, yếu tố con người bao trùm lên toàn bộ mọi hoạt động của doanhnghiệp Quy mô, cơ cấu lao động, khả năng, trình độ, ý thức tổ chức lao động củađội ngũ cán bộ công nhân viên có ảnh hưởng lớn tới hoạt động của doanh nghiệp.Đội ngũ lao động tác động tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua cácyếu tố như: năng suất lao động, thái độ phục vụ khách hàng, ý thức tổ chức kỷ luật,
sự năng động sáng tạo v.v…Các yếu tố này tác động trực tiếp tới việc nâng cao chấtlượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất Đội ngũ lao động có trình độ cao vận hànhmáy móc thiết bị hiệu quả sẽ nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, từ
đó sẽ tác động tới giá thành sản xuất sản phẩm tạo ra khả năng cạnh tranh cho sảnphẩm [2]
1.1.4.2 Các nhân tố gián tiếp
Bên cạnh các nhân tố trực tiếp tác động đến khả năng cạnh tranh của sảnphẩm (nhân tố vi mô) còn có các nhân tố gián tiếp (nhân tố vĩ mô) tác động đến khảnăng cạnh tranh của sản phẩm như: môi trường kinh tế, môi trường tự nhiên, vănhoá - xã hội, các đối thủ cạnh tranh, khách hàng [2]
a, Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế rất quan trọng đối với quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Tính ổn định hay bất ổn định của nền kinh tế có tác độnglớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nền kinh tế ổn định sẽ làđiều kiện tốt cho sự tăng trưởng, khi đó các doanh nghiệp sẽ yên tâm đầu tư vàonhững mục tiêu dài hạn mà không sợ những rủi ro do tính bất ổn của nền kinh tếgây ra [2]
b,Môi trường chính trị, luật pháp
Chính trị và luật pháp là hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động.Luật pháp rõ ràng, chính trị ổn định là môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệphoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cạnh tranh mộtcách bình đẳng và có hiệu quả Hệ thống pháp luật quy định những ngành nghề, lĩnhvực mà doanh nghiệp được phép kinh doanh cũng như những ngành nghề khôngđược phép kinh doanh, do đó có tác dụng định hướng cho các doanh nghiệp trongviệc lựa chọn ngành nghề kinh doanh Môi trường chính trị ổn định làm cho cácdoanh nghiệp yên tâm trong đầu tư, nhất là các quyết định có tính chất dài hạn, nhưđầu tư mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởngv.v tạo điều kiện để doanh
Trang 19nghiệp có thể tăng số lượng sản phẩm sản xuất cũng như tăng chất lượng của sảnphẩm tạo ra khả năng cạnh tranh cao của sản phẩm [2].
c, Môi trường khoa học, công nghệ
Khoa học và công nghệ có tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh của sảnphẩm Công nghệ sản xuất sản phẩm sẽ quyết định chất lượng sản phẩm và chi phísản xuất ra sản phẩm Nếu một doanh nghiệp có công nghệ sản xuất phù hợp sẽ tạo
ra những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành sản xuất thấp từ đó doanh nghiệp
có thể sử dụng biện pháp cạnh tranh thông qua giá hay chất lượng sản phẩm để làmtăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Bên cạnh đó khoa học, côngnghệ hiện đại còn giúp các doanh nghiệp thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền đạt thôngtin một cách nhanh chóng, đầy đủ, chính xác về thị trường và đối thủ cạnh tranh từ
đó giúp các doanh nghiệp đưa ra các quyết định kinh doanh một cách chính xácnhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm cũng như của doanh nghiệp trênthị trường
d,Môi trường tự nhiên, văn hoá - xã hội
Điều kiện tự nhiên là yếu tố góp phần tạo nên khả năng cạnh tranh cho sảnphẩm cũng như doanh nghiệp Điều kiện tự nhiên của từng vùng sẽ tạo điều kiệnthuận lợi hoặc khó khăn cho các doanh nghiệp trong cạnh tranh Nếu như doanhnghiệp được đặt gần nguồn nguyên liệu, gần nơi tiêu thụ sản phẩm, thuận tiện giaothông…thì đây là cơ hội cho các doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất sản phẩm từ
đó sẽ làm giảm giá bán để tạo ra khả năng cạnh tranh cho sản phẩm thông qua giá
cả Tuy nhiên, các doanh nghiệp đang phải chi phí ngày càng nhiều cho các giảipháp chống ô nhiểm môi trường làm tăng chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh.Tình trạng thiếu hụt nguyên vật liệu, chi phí nhiên liệu gia tăng đang ngày càngnghiêm trọng Đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm kiếm các nguồn nguyên liệu thaythế làm ảnh hưởng đến đầu vào của doanh nghiệp [2]
Những phong tục, tập quán, lối sống, thị hiếu v.v có ảnh hưởng lớn đến nhucầu cũng như tâm lý tiêu dùng của khách hàng từ đó ảnh hưởng đến khả năng cạnhtranh của sản phẩm Mỗi sản phẩm sản xuất ra không những là một thương hiệu củamột quốc gia mà nó còn mang đậm bản sắc văn hóa của một dân tộc, hoặc mộtvùng, miền của quốc gia đó [2]
e, Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là những đối thủ chưa xuất hiện trên thị trườngnhưng sẽ có tác động rất lớn tới khả năng cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệpnếu như nó xuất hiện Việc nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn rất cần thiết
Trang 20trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp, các đối thủcạnh tranh tiềm ẩn có thể ở tầm các doanh nghiệp nhưng cũng có thể ở tầm quốcgia Nếu nắm bắt được các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn thì doanh nghiệp sẽ có các đốisách hợp lý để giữ và phát triển thị phần của mình Để hạn chế các đe doạ này cácdoanh nghiệp thường dùng các biện pháp như: khác biệt hoá sản phẩm, mở rộngquy mô sản xuất, tăng lượng bán để giảm giá thành, đổi mới công nghệ ,đầu tư vàocác hoạt động xúc tiến bán hàng v.v [43]
1.1.5 Phân tích giá trị của khách hàng và xác định đối thủ cạnh tranh
1.1.5.1 Phân tích giá trị của khách hàng
Khách hàng là những cá nhân hay tổ chức mua sản phẩm hay dịch vụ củadoanh nghiệp Suy cho cùng thì quyết định của khách hàng mua hay không mua sảnphẩm của một doanh nghiệp sẽ quyết định trực tiếp doanh thu của doanh nghiệp đó
và cuối cùng là sự sống sót của nó [16]
Để đáp ứng tốt hơn nhu cầu mong đợi của khách hàng, doanh nghiệp cầnphải nghiên cứu khách hàng, tập trung vào cả những khách hàng hiện có và cảnhững khách hàng tiềm ẩn Phải tìm cách xác định mức độ hài lòng của khách hàngcủa mình về các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp và khám phá mọi sở thích
luôn biến đổi của họ [16].
Theo Philip Kotler : “Giá trị dành cho khách hàng là chênh lệch giữa tổng giá trị của khách hàng và tổng chi phí của khách hàng Tổng giá trị khách hàng là toàn
bộ những lợi ích mà khách hàng trông đợi ở một sản phẩm hay dịch vụ nhất định, tổng chi phí khách hàng là toàn bộ những phí tổn mà khách hàng sẵn sàng bỏ ra để mua sản phẩm hay dịch vụ đó”[16]
- Tổng giá trị khách hàng bao gồm: giá trị sản phẩm, giá trị dịch vụ, giá trịnhân sự, giá trị về hình ảnh
- Tổng chi phí khách hàng bao gồm: giá tiền, phí tổn thời gian, phí tổn côngsức, phí tổn tinh thần
Để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, một trong những bước quantrọng nhất là tiến hành phân tích giá trị khách hàng Phân tích giá trị khách hàng làchìa khóa để giành ưu thế cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp Mục đích củaviệc phân tích giá trị khách hàng là xác định các ích lợi mà khách hàng trên khúc thịtrường mục tiêu xem họ mong muốn và nhận thức như thế nào về giá trị tương đốicủa hàng hóa do những người cung ứng cạnh tranh cung cấp Sau đây là nhữngbước chủ yếu khi phân tích giá trị của khách hàng [16]:
Trang 21a, Phát hiện những tính năng chủ yếu mà khách hàng coi trọng: Xác định
những chức năng và mức công năng mà khách hàng tìm kiếm khi lựa chọn sảnphẩm và người bán [16]
b, Đánh giá định lượng tầm quan trọng của các tính năng khác nhau: Thực
hiện đánh giá ý kiến xếp hạng của khách hàng về tầm quan trọng của những tínhnăng khác nhau Nếu ý kiến của khách hàng khác nhau quá nhiều thì cần phân chiathành những nhóm khách hàng khác nhau [16]
c, Đánh giá thành tích của doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh về giá trị của khách hàng khác nhau theo tầm quan trọng được xếp hạng: Đề nghị khách
hàng cho biết họ thấy đâu là thành tích của doanh nghiệp và của từng đối thủ cạnhtranh về từng tính năng Thành tích của doanh nghiệp nếu được đánh giá cao hơn sovới các đối thủ thì rất lý tưởng [16]
d, Nghiên cứu một nhóm khách hàng về sản phẩm: Xem sản phẩm của doanh
nghiệp được so sánh với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh chủ yếu của mình như thếnào Nếu sản phẩm của doanh nghiệp hơn hẳn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh đó
về tất cả những tính chất quan trọng, thì doanh nghiệp có thể tính giá cao hơn, vànhư vậy sẽ kiếm được nhiều lợi nhuận hơn [16]
e, Theo dõi giá trị của khách hàng theo thời gian: Mặc dù giá trị khách hàng
khá ổn định trong những khoảng thời gian ngắn, chắc chắn nó sẽ thay đổi do môitrường kinh tế, thị hiếu Bởi vậy, doanh nghiệp phải định kỹ nghiên cứu lại các giátrị của khách hàng và vị thế của các đối thủ cạnh tranh, nếu muốn có hiệu quả chiếnlược [16]
1.1.5.2 Xác định đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh là những tổ chức hay cá nhân có khả năng thoả mãn nhucầu của khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp bằng loại sản phẩm hoặc dịch vụ cócùng nhãn hiệu, khác nhãn hiệu hoặc những sản phẩm có khả năng thay thế sảnphẩm của doanh nghiệp [16]
Cùng với khách hàng, các đối thủ cạnh tranh luôn tạo ra những áp lực mạnh mẽ,liên tục đối với doanh nghiêp Bởi vậy, hiểu được các đối thủ cạnh tranh của mình làđiều cực kỳ quan trọng để doanh nghiệp có thể lập kế hoạch marketing có hiệu quả.Doanh nghiệp phải thường xuyên so sánh các sản phẩm, giá cả, các kênh và quảng cáocủa mình với các đối thủ cạnh tranh gần nhất Bằng cách này doanh nghiệp có thể pháthiện được những lĩnh vực mình có ưu thế cạnh tranh hay bất lợi trong cạnh tranh Để
có thể tung ra những đòn tiến công chính xác hơn vào đối thủ cạnh tranh cũng nhưchuẩn bị phòng thủ vững chắc hơn trước các cuộc tấn công [16]
Trang 22Các doanh nghiệp cần biết ít nhất năm vấn đề về các đối thủ cạnh tranh củamình: Những ai là đối thủ cạnh tranh của mình? Chiến lược của họ như thế nào?Mục tiêu của họ là gì? Những điểm mạnh và điểm yếu của họ là gì? Cách thức phảnứng của họ ra sao? Những thông tin này giúp ích cho doanh nghiệp trong việc hoạchđịnh chiến lược maketing của mình [16].
Sơ đồ 1.3: Các bước phân tích các đối thủ cạnh tranh của Philip Kotler
a, Nhận diện các đối thủ cạnh tranh
Thông thường, việc nhận diện các đối thủ cạnh tranh đối với một doanhnghiệp có vẻ như một việc làm đơn giản, Ở mức độ hẹp nhất, một doanh nghiệp cóthể xác định các đối thủ cạnh tranh của mình là những công ty khác đang sản xuấtsản phẩm và dịch vụ không khác gì mình Thế nhưng, thực ra các doanh nghiệpđang đứng trước một diện đối thủ cạnh tranh là tất cả các doanh nghiệp đang sảnxuất sản phẩm y như vậy Vì vậy có thể phát hiện các đối thủ cạnh tranh của mộtdoanh nghiệp theo quan điểm ngành và quan điểm thị trường
- Theo quan điểm ngành, đối thủ cạnh tranh được định nghĩa là nhóm nhữngdoanh nghiệp đang chào bán một sản phẩm hay một lớp sản phẩm có thể hoàn toànthay thế nhau được
- Theo quan điểm thị trường, đối thủ cạnh tranh là các doanh nghiệp đang nỗlực làm hài lòng cùng nhu cầu khách hàng hay đang phục vụ cùng nhóm khách hàng
Do vậy, chìa khóa để nhận diện các đối thủ cạnh tranh là phân tích ngành vàphân tích thị trường.[16]
b, Xác định các mục tiêu của đối thủ cạnh tranh
Sau khi nhận diện được các đối thủ cạnh tranh các doanh nghiệp phải hỏi tiếprằng: Mỗi đối thủ đang tìm kiếm gì trên thị trường và điều gì dẫn đến hành vi củatừng đối thủ?
c, Nhận diện các chiến lược của đối thủ cạnh tranh
Những đối thủ cạnh tranh gần nhất của doanh nghiệp là những đối thủ theođuổi những thị trường mục tiêu giống nhau với chiến lược giống nhau Chiến lượccạnh tranh càng giống nhau thì cạnh tranh giữa hai doanh nghiệp càng gay gắt và
đối thủ cạnh
tranh
Nhận diện các chiến lược của
Đánh giá mặt mạnh,yếu của các đối thủ
Trang 23quyết liệt hơn Vì vậy doanh nghiệp phải nhận diện được toàn bộ chiến lược của đốithủ cạnh tranh để phát hiện được điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ để tấn công hoặc
né tránh
d, Đánh giá mặt mạnh và mặt yếu của đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp thực hiện được chiến lược và đạt đượccác mục đích hay không? Điều đó còn tùy thuộc vào các nguồn tài nguyên và khảnăng của họ, chính vì vậy doanh nghiệp cần phát hiện những mặt mạnh và nhữngmặt yếu của từng đối thủ cạnh tranh Bước đầu tiên doanh nghiệp phải thu thậpnhững số liệu mới về kết quả kinh doanh của từng đối thủ cạnh tranh như: mức tiêuthụ, thị phần, lợi nhuận trên vốn đầu tư Doanh nghiệp thường tìm hiểu những mặtmạnh, mặt yếu của đối thủ cạnh tranh thông qua số liệu thứ cấp
Theo Philip Kotler, ba biến số mà doanh nghiệp cần quan tâm theo giỏitrong đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của đối thủ cạnh tranh là:
- Thị phần: Phần khối lượng bán ra của đối thủ cạnh tranh trên thị trường
mục tiêu [16]
- Phần trái tim: Tỷ lệ % khách hàng nêu tên đối thủ cạnh tranh khi trả lời câu
hỏi “ Hãy nêu tên doanh nghiệp mà bạn thích mua sản phẩm của họ” [16]
- Phần tâm trí: Tỷ lệ % khách hàng nêu tên đối thủ cạnh tranh khi trả lời câu
hỏi “ Hãy nêu tên doanh nghiệp nảy ra trong đầu bạn khi nghỉ đến ngành này”[16]
e, Đánh giá cách phản ứng của đối thủ cạnh tranh
Những mục tiêu và các mặt mạnh, yếu của đối thủ cạnh tranh góp phần rấtlớn vào việc chỉ rõ những biện pháp và phản ứng của họ đối với những biện phápcủa doanh nghiệp như giảm giá bán, tăng cường khuyến mãi, tiếp thị , tung ra sảnphẩm mới Ngoài ra, mỗi đối thủ cạnh tranh còn có một triết lý nhất định về việckinh doanh, một nề nếp văn hóa nội bộ nhất định và một số niềm tin chủ đạo nhấtđịnh Cần phải hiểu một cách sâu sắc toàn bộ ý đồ của một đối thủ cạnh tranh nhấtđịnh thì mới có thể dự đoán được cách đối thủ hành động
Theo Philip Kotler những cách phản ứng phổ biến của đối thủ: Đối thủ cạnhtranh điềm tĩnh, đối thủ cạnh tranh kén chọn, đối thủ cạnh tranh hung dữ, đối thủcạnh tranh khôn ngoan
f, Chọn lựa đối thủ cạnh tranh để tấn công và né tránh
Khi có những thông tin tốt doanh nghiệp dễ dàng hoạch định được nhữngchiến lược cạnh tranh của mình Doanh nghiệp sẽ hình dung rõ hơn những đối thủ
mà họ có thể cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường Người quản lý phải quyết địnhcần cạnh tranh quyết liệt nhất với những đối thủ nào Doanh nghiệp có thể tập trung
Trang 24những đòn tấn công của mình vào những đối thủ cạnh tranh sau đây: Tấn công vàonhững đối thủ cạnh tranh “mạnh” và “yếu”, vào những đối thủ cạnh tranh “gần” và
“xa”, vào những đối thủ cạnh tranh “tốt” và “xấu”[16]
1.1.6 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Để đánh giá xem một sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường haykhông cần phải dựa vào một số chỉ tiêu cụ thể Các chỉ tiêu này có thể là định tínhhoặc định lượng song chung quy lại chúng phải phản ánh một cách rõ ràng nhất khảnăng cạnh tranh mạnh hay yếu của doanh nghiệp Các chỉ tiêu định tính có thể là:chất lượng sản phẩm, kiểu dáng của sản phẩm, thị trường của sản phẩm v.v Tuynhiên, để đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm thông thường người ta sửdụng một số chỉ tiêu định lượng sau:
- Sản lượng, doanh thu của sản phẩm[6]
Có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá khả năng cạnh tranh của sảnphẩm trong đó sản lượng và doanh thu là một trong những chỉ tiêu quan trọng hàngđầu
Công thức tính doanh thu như sau:
Trong đ ó :
TR: là tổng doanh thu của hàng hoáP: là giá bán của hàng hoá
Q: là sản lượng tiêu thụNếu sản lượng hàng hoá tiêu thụ tăng cao qua các năm tức là hàng hoá đượcduy trì và giữ vững được thị phần Cũng tương tự như vậy, nếu doanh thu tăng vớimột tốc độ hợp lý qua các năm chứng tỏ hàng hoá có khả năng cạnh tranh cao, đượcthị trường chấp nhận Còn nếu như khối lượng tiêu thụ lớn nhưng doanh thu khôngtăng chứng tỏ giá bán sản phẩm giảm sút tức là khả năng cạnh tranh của hàng hoá
đó giảm sút, doanh nghiệp đã phải dùng biện pháp hạ giá bán để kích thích tiêu thụ
Vì vậy nếu rơi vào trường hợp này thì doanh nghiệp cần đưa ra các giải pháp để kịpthời khắc phục và lấy lại phần thị trường đã mất
- Lợi nhuận thu được từ tiêu thụ sản phẩm[6]
Lợi nhuận là cái đích cuối cùng của bất kỳ doanh nghiệp nào khi tiến hànhsản xuất, kinh doanh Tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệpnào cũng mong muốn đạt được lợi nhuận tối đa, đó chính là động lực để các doanhnghiệp hoạt động và cạnh tranh với nhau trên thương trường
TR = P x Q
Trang 25Công thức tính lợi nhuận:
- Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm tính theo doanh thu [6]:
Trong đó:
GTt: Tốc độ tăng trưởng thời kỳ nghiên cứu
DTt : Doanh thu thời kỳ nghiên cứu
DTt-1: Doanh thu kỳ trướcChỉ tiêu này phản ánh mức độ tăng lên hay giảm xuống của lượng doanh thutiêu thụ sản phẩm, điều này đồng nghĩa với sự tăng lên hay giảm xuống khả năngcạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Nếu sản phẩm có khả năng cạnh tranh tốtthì doanh thu tiêu thụ thời kỳ nghiên cứu sẽ tăng và ngược lại nếu khả năng cạnhtranh của sản phẩm giảm thì doanh thu tiêu thụ thời kỳ nghiên cứu sẽ giảm so với
kỳ trước
- Thị phần sản phẩm của doanh nghiệp[16]
Thị phần sản phẩm của doanh nghiệp là một chỉ tiêu thường được dùng đểđánh giá mức độ cạnh tranh và vị thế của phẩm trên thị trường Thị phần sản phẩmcủa doanh nghiệp trong một thời kỳ (thường tính trong 1 năm) là tỷ lệ phần trăm(%) giữa tổng sản lượng tiêu thụ sản phẩm đó của doanh nghiệp so với tổng lượngsản phẩm tiêu thụ trên thị trường trong thời kỳ đó Chỉ tiêu này cũng có thể đo bằng
tỷ lệ phần trăm (%) giữa sản lượng của doanh nghiệp về một loại sản phẩm nào đó
so với sản lượng của đối thủ cạnh tranh dẫn đầu Thị phần sản phẩm của doanhnghiệp được tính theo công thức:
Π = P.Q – C.Q
GT t = (DT t – DT t-1 )/ DT t-1
Sqi = Qi/Q
Trang 26Trong đó:
Sqi: Thị phần của sản phẩm q của doanh nghiệp i
Qi: Sản lượng tiêu thụ sản phẩm q của doanh nghiệp i trên thị trường
Q: Sản lượng tiêu thụ của đối thủ cạnh tranh dẫn đầu
Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ sản phẩm của doanh nghiệp có khả năng cạnhtranh càng cao và được thị trường chấp nhận
Và ngược lại, nếu thị phần của sản phẩm nhỏ thì chứng tỏ sản phẩm có sứccạnh tranh kém hơn so với đối thủ Thông qua sự biến động của chỉ tiêu này có thểđánh giá mức độ hoạt động có hiệu quả hay không của doanh nghiệp cũng như sảnphẩm của doanh nghiệp trên thị trường
Mức độ biến động thị phần của doanh nghiệp (∆Sqi) phán ánh xu hướng biếnđộng về khả năng cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp giữa các thời kỳ Chỉ tiêunày được đo bằng mức thay đổi thị phần của doanh nghiệp qua các thời kỳ khácnhau, thường là giữa các năm
Trong đó:
Sqi(t): Thị phần sản phẩm q của doanh nghiệp i thời kỳ t
Sqi (t-1): Thị phần sản phẩm q doanh nghiệp i thời kỳ t -1
Mức biến động của thị phần sản phẩm q tỷ lệ thuận với khả năng cạnh tranhcủa sản phẩm, thị phần sản phẩm của doanh nghiệp cao thể hiện khả năng cạnhtranh của sản phẩm cao, sản phẩm ngày càng được thị trường chấp nhận, ngược lạithị phần sản phẩm của doanh nghiệp giảm chứng tỏ khả năng cạnh tranh sản phẩmcũng giảm và sản phẩm đang bị mất uy tín trên thị trường
- Các chỉ tiêu đánh giá về năng lực tài chính của doanh nghiệp[19]
Năng lực tài chính trong một doanh nghiệp phản ánh kết quả sản xuất kinhdoanh của nội bộ doanh nghiệp đó và là sức mạnh nguồn lực khẳng định vị thế cạnhtranh của doanh nghiệp đó trên thị trường Một doanh nghiệp có năng lực tài chínhmạnh thì sẽ có nhiều cơ hội thuận lợi trong việc cạnh tranh sản sản phẩm so với đốithủ, ngược lại các sản phẩm của doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao trên thịtrường sẽ tạo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao,đảm bảo cân đối bền vững và điều đó tạo nên sức mạnh tài chính cho doanhnghiệp Chính vì vậy, đánh giá năng lực tài chính là nhằm đo lường sức mạnh tàichính để khẳng định vị thế của doanh nghiệp nhằm đảm bảo nguồn lực để tăng sứccạnh tranh sản phẩm trên thị trường
∆Sqi = Sqi (t) – Sqi (t-1)
Trang 27+ Tỷ lệ tổng tài sản ngắn hạn và tổng nợ ngắn hạn: Chỉ tiêu này phản ánh doanhnghiệp đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính
1.2.1 Vài nét khái quát về thị trường bia tại Việt Nam
1.2.1.1 Quy mô thị trường bia Việt nam
Mặc dù nền kinh tế có nhiều yếu tố không thuận lợi, lạm phát tăng cao, mứctăng trưởng nền kinh tế còn thấp, thị trường bia Việt Nam vẫn được coi là một thịtrường có tiềm năng lớn, với hơn 87 triệu dân trong đó có dân số trẻ với khoảng 33triệu người trong độ tuổi từ 20 đến 40, độ tuổi có tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm bia caonhất Trong thời gian từ năn 1994 đến năm 2008, tỷ lệ gia tăng dân số và thu nhậpbình quân tăng nhanh, đặc biệt là ở thành phố, thị xã, mặt khác cơ cấu dân cư cũngthay đổi, xuất hiện nhiều tầng lớp có thu nhập cao nên nhu cầu ngày càng phongphú và đa dạng Người tiêu dùng không những quan tâm đến chất lượng mà còn
Tổng tài sản ngắn hạnKhả năng thanh toán ngắn hạn =
Tổng tài sản
Thu nhập ròngBiên lợi nhuận ròng (%) = x 100
Doanh thu hoạt động
Trang 28quan tâm đến chủng loại, nhãn hiệu, hương vị bia và các dịch vụ đi kèm Điều này
là lý do giải thích vì sao đầu tư vào bia đã bùng nổ mạnh mẽ như hiện nay [49]
Theo số liệu của các doanh nghiệp, hiện tại mức tiêu thụ bia bình quân đầungười của Việt Nam là 18lít/ năm Tuy nhiên, mức tiêu thụ này chỉ bằng 1/2 so vớiHàn Quốc và bằng 1/6-1/7 so với Ireland, Đức, Séc [49]
Với mức thu nhập của người dân tăng lên cộng với sự thay đổi tập quán uống
(chuyển từ uống rượu nấu sang uống bia) của người dân ở nhiều vùng nông thôn thì
vào năm 2010, mức tiêu thụ bia bình quân đầu người của Việt Nam ước sẽ tăng tới
28 lít/người/ năm.[49]
Trên thực tế sản lượng bia ở Việt Nam đã tăng nhanh trong thời gian qua từ1,29 tỷ lít năm 2003 tăng lên 1,37 tỷ lít năm 2004, gấp 2 lần so với năm 1997; 1,5 tỷlít năm 2005; 1,7 tỷ lít năm 2006; Năm 2008 đạt 2 tỷ lít và dự báo năm 2010, tổngsản lượng bia trong nước đạt 2,5 tỷ lít [49]
Theo dự báo, quy mô dân số Việt Nam sẽ tăng từ 85 triệu lên 100 triệu vàonăm 2023 và ổn định ở mức 120 triệu dân Trong vòng 15 năm nữa, sự tăng trưởng20% về quy mô dân số, 200% GDP bình quân đầu người cùng với mức tiêu thụ biabình quân đầu người như mức của Hàn Quốc hiện nay thì nhu cầu tiêu thụ bia ướctính sẽ tăng gấp 5 lần [48]
1.2.1.2 Cơ cấu thị trường bia Việt Nam
Thị trường bia Việt Nam được cơ cấu thành ba cấp [49]:
- Thị trường bia cao cấp: Dùng cho những người có thu nhập cao gồm các
loại bia như: Tiger, Carlberg, Heineken v.v và các hãng bia nước ngoài Các hãngbia này chiếm thị phần còn thấp nên liên tục sử dụng những chiến dịch quảng cáorầm rộ với chi phí tương đối cao Một đặc điểm nổi bật đối với sản phẩm bia caocấp là thị trường mục tiêu chủ yếu là các nhà hàng, khách sạn, quầy Bar cao cấp vàdùng cho những khách hàng có thu nhập cao
- Thị trường bia trung cấp: Dùng cho những người có thu nhập trung bình
trong xã hội gồm các loại bia như: Huda, Larue, Hà Nội, Sài gòn, Halida v.v cáchãng bia này chiếm đa số thị phần trên thị trường, đạt tốc độ tăng trưởng nhanhnhất, khi thu nhập người dân tăng lên sẽ có sự chuyển dịch của nhóm khách hàngthuộc thị trường bia bình dân sang thị trường bia trung cấp Thị trường bia trung cấpđang là mục tiêu cạnh tranh rất quyết liệt của các doanh nghiệp vì đem lại doanhthu, lợi nhuận cao trong cơ cấu mặt hàng tiêu thụ của doanh nghiệp
- Thị trường bia bình dân: Dùng cho những khách hàng có thu nhập thấp
gồm các loại bia như: bia hơi, bia tươi, bia chai giá rẽ v.v đối tượng tiêu dùng là
Trang 29những người lao động nông thôn, các loại bia này chất lượng không cao, chiếm thịphần thấp trong thị trường, sản lượng tiêu thụ chủ yếu vào mùa hè, tiêu thụ mạnhvào dịp lễ, tết.
Theo trang Web ASSET.vn.BVSC thì cơ cấu bia trên thị trường Việt Nam là: Bia cao
cấp: 9%, Bia trung cấp: 64%, Bia bình dân: 27%
Biểu đồ 1.1: Cơ cấu thị trường bia Việt Nam
9%
27%
64%
Bia cao cấp Bia trung cấp Bia bình dân
Nguồn:Trang WEB ASSET.vn.BVSC [49]
1.2.1.3 Tình hình cung cấp bia trên thị trường Việt Nam
Ngành sản xuất bia, rượu, nước giải khát là một trong những ngành mang lạilợi nhuận tương đối cao và có thời gian quay vòng vốn nhanh Do đó, có rất nhiềudoanh nghiệp trong nước đầu tư đổi mới thiết bị khoa học công nghệ hay liêndoanh, liên kết với nước ngoài để ứng dụng những công nghệ hiện đại nhằm tăngsức cạnh tranh, đưa ra thị trường sản phẩm bia cao cấp để phục vụ cho nhu cầu ngàycàng tăng của người tiêu dùng [49]
Trên thị trường hiện nay đã có gần 50 nhãn hiệu bia xuất hiện do vậy cuộcchiến tranh giành dật thị trường của các hãng ngày càng diễn ra một cách gay gắt vàsôi động Các doanh nghiệp sản xuất bia ngoài việc phải cạnh tranh với các loại biangoại nhập họ còn phải đối phó với các loại bia không nhãn mác, chất lượng kém,các loại bia dởm đang lưu hành trên thị trường [49]
Ngành bia Việt Nam đang đứng thứ 2 tại khu vực ASEAN về sản lượng.Trong 10 năm trở lại đây, ngành bia có tốc độ phát triển cao và ổn định Trong đó,
có 3 doanh nghiệp lớn là Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội(HABECO), Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn(SABECO) và Công ty bia Việt Nam (VBL) chiếm trên 50% sản lượng bia của cảnước [49]
Trang 30Bảng 1.1: Các nhà máy cung cấp bia chính ở Việt Nam
bia
Nhãn hiệu sản xuất
Công suất bia chai,lon
(Triệu lít/
năm)
Công suất bia hơi
(Triệu lít/
năm)
Tổng cộng
(Triệu lít/năm)
(Nguồn Tổng công ty Bia - Rượu - NGK Hà Nội cung cấp)[39]
Thị trường bia cao cấp tại Việt Nam có sự có mặt của các nhãn hiệu bia nướcngoài như Heiniken, Carlsberg, Tiger và một số nhãn hiệu bia nội (chiếm tỷ trọngnhỏ) như Sài Gòn Special, Hà Nội Beer Premium v.v Chiếm chủ yếu tại Việt Nam
là thị trường bia trung cấp với các nhãn hiệu của Habeco, Sabeco, Huda, Halida Với 64% thị phần và thị trường bia bình dân là sản phẩm của các công ty bia địaphương, chiếm 27% thị phần Ngoài ra, thị trường bia Việt Nam hiện cũng có sựphân khúc cụ thể Bia Habeco chủ yếu chiếm lĩnh ở các thị trường phía Bắc; Biacủa Sabeco lại tập trung ở phía nam và một số tỉnh, thành khác trong cả nước; BiaHuda - Huế chủ yếu dành cho thị trường Huế và các tỉnh miền Trung Riêng thịtrường bia hơi tiêu thụ chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung [49]
Hiện nay cả nước có 8 nhà máy bia có công suất 100 triệu lít trở lên, đượcđầu tư đồng bộ trang thiết bị hiện đại của các hãng nổi tiếng trên thế giới như
Trang 31Krones, KHS, GER Có 10 nhà máy có công suất từ 50 triệu lít đến dưới 100 triệulít, trên 20 nhà máy có công suất từ 20 triệu - 50 triệu lít Các nhà máy này đềuđược đầu tư theo chiều sâu, đầu tư đồng bộ hệ thồng thiết bị nhập khẩu và chế tạotrong nước Nhìn chung, các công ty bia có công suất lớn hiện nay đều đạt tiêuchuẩn quản lý chất lượng ISO và an toàn vệ sinh thực phẩm HACCP [48].
Tuy nhiên, từ năm 2008, ngành Bia - Rượu - NGK Việt Nam đã phải đối mặtvới nhiều khó khăn chung của đất nước như suy giảm kinh tế, lạm phát tăng cao,sức mua giảm, giá nguyên vật liệu đầu vào tăng; riêng mặt hàng bia hơi còn chịuảnh hưởng của thuế tiêu thụ đặc biệt tăng 40% nên nhiều dự án đầu tư vào bia hơigiản tiến độ hoặc tạm ngừng đầu tư [49]
Trong thời gian tới, để tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm trên thị trường,các doanh nghiệp cần tập trung đầu tư cải tạo, mở rộng, nâng công suất các nhà máyquy mô vừa và nhỏ gắn với đổi mới thiết bị công nghệ hiện đại, việc đầu tư cần cótrọng điểm và tránh tràn lan Phát triển các sản phẩm mới gắn với thương hiệu, chất
lượng tốt, giá thấp hơn các sản phẩm cùng loại nhập khẩu, phù hợp với “gu” của
người Việt Nam, có như vậy bia Việt Nam mới khẳng định vị thế, hình ảnh trongtâm trí người tiêu dùng và chiếm lĩnh được “sân nhà” trong cuộc cạnh tranh với cáchãng bia ngoại nhập [49]
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm bia trên thị trường
1.2.2.1 Áp lực từ phía khách hàng
Trong nền kinh tế thị trường “Khách hàng là thượng đế” Với sự phát triển
đa dạng và phong phú về chủng loại, hình thức, kiểu dáng, nhãn mác v.v của cácsản phẩm bia trên thị trường thì khách hàng sẽ đứng trước rất nhiều cơ hội lựa chọn
và bao giờ họ cũng sẽ tìm cho mình loại sản phẩm dịch vụ, chất lượng tốt, ổn địnhnhất phù hợp với phí tổn bỏ ra và thuận tiện cho việc sử dụng bia, đảm bảo sức khỏe
vệ sinh an toàn thực phẩm Cùng một loại sản phẩm bia có giá bán như nhau nhưngkhách hàng sẽ lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp nào có chất lượng tốt hơn, mẫu
mã đẹp hơn, cung cấp dịch vụ tốt hơn Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp phải khôngngừng cố gắng tìm ra mọi biện pháp nhằm giành được những điều kiện có lợi nhấttrong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng Như vậy,
áp lực từ phía khách hàng là một yêu cầu tất yếu buộc các doanh nghiệp sản xuấtbia phải nâng cao vị thế để chiến thắng trong cạnh tranh
Nhu cầu khách hàng uống bia luôn thay đổi theo thu nhập, tập quán, thóiquen, tâm lý, địa điểm, lứa tuổi v.v vì vậy buộc doanh nghiệp phải thường xuyênnghiên cứu thị trường, nắm bắt kịp thời nhu cầu của khách hàng trên thị trường để
Trang 32thường xuyên cải tiến những sản phẩm mới có mẫu mã đẹp hơn, hương vị độc đáohơn, có tính khác biệt, phù hợp với từng thời điểm để kích thích tiêu thụ nhằm thỏamãn nhu cầu mong muốn của khách hàng
Nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm bia là nâng cao năng lực quản lý,trình độ tay nghề công nhân, đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị để làm tăng chấtlượng và hạ giá thành sản phẩm, tạo ra sự khác biệt, với những tính năng vượt trộinhằm xây dựng uy tín, thương hiệu và hình ảnh sản phẩm của doanh nghiệp trongtâm trí khách hàng, từ đó sẽ thúc đẩy hành động mua của khách hàng và tạo nêntình cảm yêu mến của khách hàng đối với các sản phẩm bia của doanh nghiệp
1.2.2.2 Áp lực từ phía các đối thủ cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và phát triển ổn định và bền vững đốivới doanh nghiệp không phải là một điều dễ dàng Bởi lẽ, mức độ cạnh tranh ngàycàng gay gắt hơn do có nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất một loại sản phẩm, cácdoanh nghiệp luôn tìm mọi cách lôi kéo khách hàng về phía mình, nên muốn giữđược khách hàng truyền thống thì doanh nghiệp phải xây dựng được một chính sáchhợp lý trong môi trường cạnh tranh bình đẳng có nhiều đối thủ, có nghĩa là doanhnghiệp phải sử dụng các biện pháp cạnh tranh hiệu quả để nâng cao doanh số, lợinhuận và giành thế chủ động trên thương trường Như vậy, chính cơ chế thị trường
và áp lực từ phía các đối thủ đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao khả năng cạnhtranh sản phẩm để tồn tại và phát huy vai trò vị thế của mình là một tất yếu
Có rất nhiều doanh nghiệp bia cùng sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩmtrên thị trường, tất yếu phải cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường, và các doanh nghiệpluôn tìm mọi cách để dành phần thắng về mình Chính vì vậy, trong sân chơi cạnhtranh bình đẵng giữa các doanh nghiệp không có cách lựa chọn nào khác họ phải nổlực phấn đấu nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm của mình để đạt được hiệu quảcao trong kinh doanh Họ phải quan tâm đến các đối thủ cạnh tranh, phải thườngxuyên so sánh các loại sản phẩm bia của mình, giá cả, kênh và hoạt động khuyến mạicủa mình với các đối thủ cạnh tranh Nhờ vậy, mà họ có thể phát hiện những điểmmạnh, điểm yếu của mình có ưu thế cạnh tranh hay bất lợi trong cạnh tranh
1.2.2.3 Xu thế tự do hóa, toàn cầu hóa
Một sự kiện vô cùng quan trọng Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mạiThế giới WTO, sự cọ xát trong cạnh tranh của các doanh nghiệp và của cả nền kinh
tế ngày càng khốc liệt hơn trong sân chơi toàn cầu Khả năng cạnh tranh các doanhnghiệp Việt Nam còn hạn chế, chúng ta cạnh tranh trong điều kiện thiếu vốn, thiếukhoa học kỹ thuật, thiếu trình độ quản lý, công nghệ,v.v Hàng hóa sản xuất ra ở
Trang 33trong nước sức cạnh tranh kém so với hàng hóa nước ngoài Chính vì vậy, nâng cao
khả năng cạnh sản phẩm trong xu thế hội nhập là chúng ta phải thiết lập được nhữngrào cản mang tính kỹ thuật phù hợp với quy định của WTO để bảo hộ hàng hóatrong nước, đồng thời các doanh nghiệp phải không ngừng cải thiện môi trườngkinh doanh, chủ động, sáng tạo nâng cao trình độ quản lý, chú ý đến việc đào tạonguồn nhân lực, đổi mới thiết bị công nghệ hiện đại nhằm giúp doanh nghiệp tồn tại
và phát triển trong xu thế tự do hóa, toàn cầu hóa
Trong xu thế hội nhập các công ty bia Việt Nam có nhiều cơ hội phát triển,tuy nhiên cũng phải đối mặt không ít những khó khăn thách thức.Với việc phá dởhàng rào thuế quan, tự do hóa thương mại đã tạo nhiều cơ hội thuận lợi để các công
ty bia nỗ lực hết mình xây dựng thương hiệu, liên doanh liên kết, thu hút vốn đầu
tư, mở rộng thị trường xuất khẩu bia ra nước ngoài Nhưng, các công ty bia ViệtNam phải chấp nhận cạnh tranh với các hãng bia nhập khẩu nước ngoài có uy tín,thương hiệu lớn, điều này dẫn đến cuộc “chạy đua” giành giật thị trường không cânsức, dù muốn hay không cuộc chơi này cuối cùng đều về tay các hãng bia lớn giàutiềm lực Vì vậy, nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm bia của các doanh nghiệpViệt Nam là một yêu cầu cần thiết trong xu thế hiện nay
Trang 34CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CẠNH TRANH SẢN PHẨM BIA CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BIA HÀ NỘI - QUẢNG BÌNH
2.1 Tổng quan về đặc điểm địa bàn và đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của Tỉnh Quảng Bình
Quảng Bình là tỉnh thuộc miền Bắc trung bộ, giới hạn trong toạ độ địa lý
18005’ vĩ độ bắc và 103037’ kinh độ đông, có chung địa giới với các tỉnh: Phía Bắcgiáp với tỉnh Hà Tỉnh, phía Nam giáp với tỉnh Quảng Trị, phía Tây là dãy TrườngSơn giáp đất bạn Lào, phía Đông là biển Đông Thái Bình Dương Với diện tích tựnhiên 8.055 km2, dân số khoảng 87 vạn người, trong đó có khoảng trên 52% dân sốtrong độ tuổi lao động Số lượng đơn vị hành chính tỉnh Quảng Bình bao gồm 6huyện và một Thành phố: Tuyên Hoá, Minh Hoá, Quảng Trạch, Bố Trạch, QuảngNinh, Lệ Thuỷ và Thành phố Đồng Hới
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Bình
Nguồn (Trang điện tử WEB Tỉnh Quảng Bình)[47]
Trang 35Là tỉnh có bờ biển dài 116,04 km, địa hình Quảng Bình hẹp và dốc từ Tâysang Đông, 85% tổng diện tích là đồi núi Quảng Bình nằm ở vùng nhiệt đới giómùa và luôn bị tác động bởi khí hậu của phía Bắc và phía Nam được chia làm haimùa rõ rệt: Mùa khô ( từ tháng 4 đến tháng 8), mùa mưa ( từ tháng 9 đến tháng 3).Dãi đất Quảng Bình như một bức tranh hoành tráng, có rừng, có biển với nhiềucảnh quan thiên nhiên đẹp có nhiều thắng cảnh nổi tiếng: Đèo Ngang, đèo Lý Hoà,cửa biển Nhật Lệ, Phá Hạc Hải và vườn Phong Nha - Kẻ Bàng được công nhận là disản thiên nhiên thế giới Là mãnh đất có nhiều tiềm năng và cơ hội để phát triểncông nghiệp, du lịch và dịch vụ.
Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của đảng, nhân dânQuảng Bình đã nỗ lực phấn đấu, khai thác mọi tiềm năng, lợi thế, phát huy cácnguồn lực trong và ngoài tỉnh, xây dựng phát triển quê hương ngày càng giàu đẹp.Tình hình phát triển kinh tế - xã hội Quảng Bình được thể hiện qua các chỉ tiêu cơbản sau:
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu cơ bản về kinh tế- xã hội Quảng Bình
giai đoạn 2006 - 2008
T
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Tốc độ ( %) Năm 2007 2006
Nă m 2008 2006
1
-Dân số
-Lao động
Người Người
846.020 415.950
854.918 421.328
857.81 8 423.04 4
1,05 1,3
0,33 0,4
3
Cơ cấu GDP:
- Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản
- Công nghiệp, xây dựng
25,8 35,3 38,9
24,2 36,59 39,21
-2,1 1,7 0,4
-1,6 1,29 0,31
5 Tổng kim ngạch xuất khẩu 1000
Trang 367 Sản lượng lương thực Vạn tấn 25,1 23,5 26,1 -6,4 11,1
(Nguồn : Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình năm 2008)[40]
Qua số liệu bảng trên ta thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh khá cao:GDP năm 2007 so với năm 2006 tăng 21,5%; GDP năm 2008 so với năm 2007 tăng34,8 % Tuy nhiên, do điểm xuất phát thấp, mặc dù tốc độ tăng trưởng khá cao,nhưng tính về số tuyệt đối thì GDP năm 2006 chỉ đạt 5.478 tỷ đồng và GDP bìnhquân đầu người chỉ đạt 6,5 triệu đồng/người/năm, năm 2007 đạt 6.659 tỷ đồng vàGDP bình quân đầu người đạt 7,8 triệu đồng/người/năm, năm 2008 đạt 8979 tỷđồng và GDP bình quân đầu người đạt 10,4 triệu đồng/người/năm Mức bình quânnày còn thấp so với cả nước
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng
tỷ trọng công nghiệp, xây dựng từ 33,6% năm 2006 lên 36,59% năm 2008; Dịch vụchỉ tăng ít và khá ổn định ở mức trên 39% trong tổng GDP Giảm dần tỷ trọng nông,lâm nghiệp và thủy sản, cơ cấu GDP trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sảnnăm 2007 giảm so với năm 2006 là 2,1%; năm 2008 giảm so với năm 2007 là 1,6%
Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2007 tăng 52,8% so với năm 2006, năm
2008 tăng 7,7% so với năm 2007
Thu ngân sách trên địa bàn năm 2007 tăng 23,7% so với năm 2006, năm
2008 tăng 17,7% so với năm 2007, ngân sách tập trung chủ yếu thu từ các lĩnh vựccông nghiệp và dịch vụ
Với vị trí địa lý, tài nguyên rừng và biển, dân số, khí hậu và tình hình pháttriển kinh tế - xã hội trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2008, có thể nói QuảngBình là một mảnh đất thuận lợi giàu tiềm năng, là môi trường, cơ hội tốt cho cácnhà đầu tư Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Quảng Bình đóng trên địa bàn tỉnhQuảng Bình không nằm ngoài những lợi thế đó Nằm ở trung tâm Thành phố ĐồngHới - Tỉnh Quảng Bình công ty có một vị trí tốt về lợi thế thương mại, cạnh Quốc
Lộ 1A là tuyến giao thông huyết mạch Bắc - Nam có điều kiện thuận lợi cho việcvận chuyển, giao lưu buôn bán sản phẩm, công ty còn có thể quảng cáo hình ảnhcủa công ty và giới thiệu sản phẩm ngay tại trung tâm Thành phố Đồng Hới Với bờbiển dài, khí hậu nóng nực, dân số trẻ, có nhiều danh lam thắng cảnh tài nguyênbiển và rừng, con người Quảng Bình mến khách, đã thu hút hàng triệu lượt khách
du lịch đến Quảng Bình tham quan trong những năm qua, đây là môi trường đầytiềm năng và cơ hội thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổphần bia Hà Nội - Quảng Bình đạt hiệu quả cao
Trang 372.1.2 Tổng quan về Công ty cổ phần bia Hà Nội - Quảng Bình
xí nghiệp được đặt trong các hang lèn đá vôi của Bồng Lai thuộc xã Sơn Trạch - Bốtrạch - Quảng Bình với lực lượng cán bộ công nhân khoảng 150 người Mặt hàngsản xuất chính là chưng cất cồn phục vụ y tế, vệ sinh vết thương, sát trùng cho bộđội và nhân dân, công suất ban đầu còn khiêm tốn khoảng 2000 đến 3000 lít/năm.Đội ngũ cán bộ công nhân kỹ thuật từ 20 đến 30 người được cử đi đào tạo 6 thángtại nhà máy rượu Hà Nội
Đầu năm 1976, khi thống nhất đất nước, tỉnh Quảng Bình quyết định cho dichuyển xí nghiệp về Đồng Hới đóng tại vùng đồi Bắc Lý Ninh Xí nghiệp vừa thựchiện xây dựng vừa sản xuất, trang thiết bị sản xuất được thay thế tiên tiến hơn, cấtcồn tháp tầng công nghệ lên men mở Nguyên liệu chủ yếu là khoai, ngô, sắn, sảnphẩm chế biến là rượu dâu, rượu sim, bạc hà, chanh, cam
Năm 1978 do lương thực khó khăn, nguyên liệu sản xuất được thay thế bằngmía đường, năng lực sản xuất được tăng lên, sản phẩm sản xuất ra cung ứng chongành thương nghiệp Năm 1988 Công suất đạt 500.000 lít cồn 90o Xí nghiệp tiếnhành sản xuất rượu xuất khẩu, xây dựng một làng mới cho công nhân tại phía tây
Đồng Hới nay gọi là “Làng Rượu” Đây là mô hình sản xuất công nhân tập trung đầu
tiên của Tỉnh Các cơ sở vật chất của xí nghiệp được trang bị đàng hoàng hơn
Sản phẩm của công ty được tặng huy chương tại Hội chợ triển lãm thành tựukhoa học kỹ thuật Việt Nam năm 1982 (Giảng Võ - Hà Nội) Về rượu Dâu tiên, sảnphẩm được sản xuất từ quả dâu tiên (Mirica Rubratsied) có hương vị đặc trưng vàkhó quên
Sau khi nhà nước chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang hạch toán độc lập trongsản xuất kinh doanh, tỉnh Quảng Bình đã chuyển hướng sang phương án sản xuấtBia và nước giải khát
Công ty được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình cấp giấy phépĐKKD số 2903000010 ngày 19/11/1993 được phép kinh doanh trên các lĩnh vựcsản xuất và thương mại Cụ thể là:
- Sản xuất, mua bán đồ uống nước giải khát các loại
Trang 38- Xuất nhập khẩu thiết bị dây chuyền sản xuất, nguyên vật liệu sản xuất bia
Từ năm 1995 nhà máy đã đầu tư nâng công suất lên 10 triệu lít/năm bia chai,bia hơi Sla’dek
Trải qua chặng đường xây dựng và phát triển sản xuất kinh doanh, lãnh đạocông ty, đội ngũ cán bộ quản lý điều hành đã không ngừng học hỏi, nâng cao trình
độ về mọi mặt, đặc biệt là công tác quản lý, trình độ tiếp cận công nghệ, đào tạo độingũ công nhân lao động kỹ thuật có chất lượng tay nghề cao, sản xuất ra những sảnphẩm có chất lượng và uy tín Doanh nghiệp đã thực sự khẳng định vị thế của mìnhtrên thị trường, khách hàng ngày càng mến mộ sản phẩm bia Sla’dek của công ty
Tháng 11 năm 2003 thực hiện chủ trương của nhà nước, UBND tỉnh QuảngBình quyết định chuyển doanh nghiệp nhà nước “Nhà máy Bia - Rượu QuảngBình” thành “Công ty cổ phần Bia - Rượu Quảng Bình” theo quyết định số59/2003/QĐ - UBND ngày 22/10/2003 Nay trụ sở chính của công ty đóng tại Tiểukhu 13 - Phường Bắc Lý - Thành phố Đồng Hới - Tỉnh Quảng Bình
Được sự cho phép của Chính phủ, Bộ Công nghiệp, UBND tỉnh Quảng Bình,Công ty cổ phần Bia - Rượu Quảng Bình đã liên kết với Tổng Công ty Bia Rượu -Nước giải khát Hà Nội được Tổng Công ty đầu tư vốn và trở thành doanh nghiệpthành viên của Tổng Công ty hoạt động theo mô hình công ty Mẹ, công ty Con theoquyết định số 2092/QĐ - TCCB ngày 11/8/2004 của Bộ Công nghiệp
Tên tiếng việt: Công ty Cổ phần bia Hà Nội - Quảng Bình
Tên tiếng Anh: Ha Noi - Quang Binh Beer - Joint Stock Company
Tên viết tắt: HABIBECO
Trụ sở chính của công ty đóng tại Tiểu khu 13 - Phường Bắc Lý - Thành phố
Đồng Hới - Tỉnh Quảng Bình
Trang 39Công ty hoạt động theo luật của doanh nghiệp và điều lệ của Công ty cổ
phần Bia Hà Nội - Quảng Bình được thành lập trên cơ sở góp vốn của các cổ đông,trong đó Tổng công ty Bia - Rượu - NGK Hà Nội chiếm 51% cổ phần
2.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ, lĩnh vực kinh doanh, địa bàn hoạt động và đặc điểm hạch toán kinh doanh
a, Chức năng nhiệm vụ, lĩnh vực kinh doanh và địa bàn hoạt động
Căn cứ vào giấy phép đăng ký kinh doanh số 2903000010 do Sở Kế hoạch
và Đầu tư Quảng Bình cấp ngày 04 tháng 6 năm 2007 thì lĩnh vực ngành nghề kinhdoanh của Công ty cổ phần bia Hà Nội - Quảng Bình gồm:
- Kinh doanh các loại bia, rượu, nước giải khát
- Xuất nhập khẩu các loại sản phẩm bia, rượu, nước giải khát, vật tư nguyênliệu, thiết bị phụ tùng có liên quan tới ngành sản xuất bia, rượu, nước giải khát, cácloại hương liệu, nước cốt để sản xuất bia, rượu, nước giải khát
- Dịch vụ đầu tư, tư vấn tạo nguồn vốn đầu tư Nghiên cứu đào tạo chuyểngiao công nghệ, thiết kế, chế tạo, lắp đặt thiết bị và công trình chuyên ngành bia,rượu, nước giải khát
- Kinh doanh khách sạn, nhà hàng, dịch vụ du lịch, hỗ trợ, triển lãm, thôngtin quảng cáo và các ngành nghề khác theo quy định của pháp luật
Hiện nay công ty đang sản xuất hai loại bia chủ yếu:
Bia chai: với công suất thiết kế 30 triệu lít/ năm là sản phẩm mủi nhọn của
công ty, mang lại doanh thu lớn cho công ty Đóng chai 450ml, được xếp trong kétnhựa với số lượng 20 chai/két, mang nhãn hiệu có in biểu tượng của Tổng công tyvới dòng chữ HABECO Thời gian sử dụng của sản phẩm không quá 6 tháng
Thị trường tiêu thụ sản phẩm này bao gồm các tỉnh: Hà Tỉnh, Nghệ An,Thanh Hoá, Nam Định, Hà Nội, Quảng Trị và Quảng Bình,v.v
Bia hơi Sla’dek: Là loại bia có mặt trên thị trường Quảng Bình rất lâu Với
công suất thiết kế 10 triệu lít/năm, được đóng thành những bom nhựa 25 lít vậnchuyển đến nơi tiêu thụ, hoặc bom Inox 75 lít được bơm vào các tăng bia hơi đếncác đại lý Loại bia này có tính chất thời vụ, mang tính chất tươi sống, bảo quản vàvận chuyển khó khăn, chỉ sử dụng trong 24 giờ, nên đa phần chỉ được tiêu thụ trênthị trường Quảng Bình
b, Đặc điểm hạch toán kinh doanh
Công tác hạch toán kế toán và xác định kết quả kinh doanh của Công ty Cổphần Bia Hà Nội - Quảng Bình được thực hiện chủ yếu bởi phòng Tài chính - Kếtoán Về hình thức kế toán, công ty áp dụng hình thức nhật ký chứng từ, tiến hành
Trang 40theo phương pháp kê khai thường xuyên Hàng ngày kế toán của công ty tiến hànhtheo ghi sổ nhật ký các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, sau đó cuối kỳ thực hiện khoá
sổ và kế toán tổng hợp tính toán kết quả kinh doanh của kỳ, lập báo cáo tài chínhgửi lên kế toán trưởng sau đó là lên ban Giám đốc điều hành
2.1.2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy và chức năng nhiệm vụ của các bộ phận
a, Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty được thể hiện ở phần (phụ lục 6)
b, Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận
Cơ cấu tổ chức Công ty cổ phần bia Hà Nội - Quảng Bình được xây dựngtheo mô hình hổn hợp trực tuyến - chức năng Bộ máy gồm:
* Đại hội cổ đông: Là cơ quan cao nhất của công ty, bầu ra Hội đồng Quản
trị, Ban kiểm soát Đại hội cổ đông ban hành, sửa đổi, bổ sung điều lệ của công ty
và là cơ quan đưa ra những quyết định quan trọng của công ty
* Hội đồng quản trị: Do Đại hội cổ đông bầu ra bằng phương pháp bỏ phiếu
kín Là cơ quan quản lý nhân danh công ty toàn quyền giải quyết mọi vấn đề liênquan đến hoạt động của công ty, trừ những vấn đề thuộc phạm vi giải quyết của Đạihội cổ đông
* Ban kiểm soát: Do Đại hội cổ đông bầu và bãi nhiệm, là tổ chức thay mặt
các cổ đông kiểm soát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Giám sát Hộiđồng quản trị và Giám đốc trong việc chấp hành điều lệ, thanh lý tài sản, hoàn trảvốn hoặc tài sản cho các chủ nợ và cổ đông khi giải thể, phá sản, nhượng bán v.v
* Giám đốc: Là người do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, được quyền điều hành
mọi hoạt động của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thựchiện các quyền và nghĩa vụ được giao cụ thể như sau:
* Phó giám đốc kỹ thuật và sản xuất: Chịu trách nhiệm về kỹ thuật, theo giõi
và điều hành sản xuất để đảm bảo hoàn thành kế hoạch sản xuất Cải tiến kỹ thuậtcông nghệ, đề xuất những đề tài thay đổi quy trình công nghệ hoặc quy trình cho rasản phẩm mới Lập kế hoạch thiết kế và phát triển sản phẩm mới
* Phó giám đốc kinh doanh: Lập kế hoạch và phân bổ nhiệm vụ kế hoạch
cho từng thời kỳ, theo giõi và tổng kết tình hình sản xuất kinh doanh, báo cáo và đềđạt những biện pháp quản lý thực hiện Điều hành hoạt động tiêu thụ sản phẩm.Quản lý các nguồn vốn vay đầu tư vào dự án khi đã được phê duyệt
* Phòng Tài chính - Kế toán (TC-KT): Chịu trách nhiệm trước Ban Giám đốc
về công tác tài chính và công nợ khách hàng, tăng cường công tác quản lý sử dụngvốn có hiệu quả, thực hiện bảo toàn vốn, giữ gìn bí mật số liệu về nghiệp vụ quản lýtài chính