1. Trang chủ
  2. » Tất cả

CÁC TRƯỜNG PHÁI PHÊ BÌNH VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY 1 (1)

19 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 552 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHTRƯỜNG ĐH KHXH & NV TPHCM KHOA VĂN HỌC Chuyên đề: CÁC TRƯỜNG PHÁI PHÊ BÌNH VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY Đề tài: NGUYỄN NHẬT ÁNH- NHÌN TỪ LÍ THUYẾT “TRƯỜNG” C

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐH KHXH & NV TPHCM

KHOA VĂN HỌC

Chuyên đề:

CÁC TRƯỜNG PHÁI PHÊ BÌNH VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY

Đề tài:

NGUYỄN NHẬT ÁNH- NHÌN TỪ LÍ THUYẾT “TRƯỜNG” CỦA PIERRE BOURDIEU

GVHD: PGS.TS NGUYỄN THỊ THANH XUÂN HVTH: Nguyễn Thị Nhân

Lớp: CH Lí luận Văn học 2016-1

Trang 2

PHẦN 1: BÀI TẬP GIỮA KÌ

1 ĐẶC ĐIỂM VẬN ĐỘNG CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY THẾ KỈ

XX

Trong “Lí thuyết văn học hậu hiện đại” (Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2011), GS Phương Lựu đã khái quát đặc điểm vận động của phê bình văn học Phương Tây thế kỉ

XX thành ba ý lớn: đổi mới mạnh mẽ; phong phú và đa dạng; phát triển không ngừng

1.1. Một nền lí luận đổi mới mạnh mẽ

Lí luận phê bình văn học kỉ nguyên hiện đại gắn bó với triết học Trước thế kỉ XX,

Mĩ học Hegel chi phối hệ thống lí luận nghệ thuật Thế kỉ XX đã chứng kiến những cuộc cách mạng trong lĩnh vực triết học Đây là thời kì những quan niệm mang tính chất lí tính cực đoan của Hegel được đem ra phê phán bởi các học thuyết của F.W.Nietzsche, H Bergson, … Và như thế, lí luận phê bình văn học thế kỉ XX cũng chống lại hai khuynh hướng phi nhân bản và phi thực chứng trước đó để hình thành hai trào lưu “thiên nhân bản” và “thiên khoa học”

1.2. Một nền lí luận phong phú và đa dạng

Lí luận phê bình văn học thế kỉ XX đặt cơ sở không chỉ ở triết học mà còn nhiều ngành khoa học khác Vì thế, bên cạnh nhưng trường phái lí luận tựa hẳn vào các trường phái triết học cụ thể (như lí luận phê bình trực giác chủ nghĩa, lí luận phê bình hiện sinh chủ nghĩa, lí luận phê bình hiện tượng luận,…) còn có các trường phái lí luận phê bình đặt cơ sở lí thuyết ở những ngành khác: tâm lí học (Thuyết Empathetics, Thuyết Gestalt),

xã hội học (Xã hội học văn học theo trường phái Bourdieu), mĩ học (Mĩ học tiếp nhận của trường phái Kontanz ), ngôn ngữ học (Chủ nghĩa hình thức Nga), kí hiệu học (Kí hiệu học nghệ thuật của S Langer),…

1.3. Một nền lí luận phát triển không ngừng

Trang 3

Ở cấp độ trường phái- mà là các trường phái chính- lí luận phê bình phương Tấy thế

kỉ XX đếm đến mấy mươi Các trường phái này cũng diễn biến khá nhanh chóng trong thời gian lịch đại Kể cả những trường phái lớn, từ khi xuất hiện đến lúc tàn lụi, thời gian chừng vài ba mươi năm Nghĩa là chỉ sau chừng ấy thời gian, người ta đã có những kiến giải khác với trước đó- dù rằng trước đó là những trường phái lớn như Chủ nghĩa trực giác H.Bergson, Chủ nghĩa hiện sinh, Chủ nghĩa cấu trúc,… Chính điều này đã khẳng định sự phát triển không ngừng của lí luận phê bình văn học phương Tây

2 VẤN ĐỀ PHƯƠNG TÂY ĐANG TIẾN DẦN VỀ PHƯƠNG ĐÔNG TRÊN

TINH THẦN BỔ SUNG LÍ THUYẾT

Việc tái khám phá di sản văn tự của Hi Lạp và La Mã cổ đại làm phương Tây bừng tỉnh Thế kỉ XIV, XV phương Tây bước vào thời đại Phục hưng, một thời đại của

sự hồi sinh niềm hứng thú lớn lao đối với nghiên cứu khoa học, nghệ thuật Những thành tựu vĩ đại về việc phát minh máy in, la bàn đã tạo điều kiện cho việc truyền bá tri thức khoa học cũng như những phát kiến địa lí của những đoàn thám hiểm châu Âu Thuyết

nhật tâm (heliocentrism) của Copernicus, đã bác bỏ quan niệm trái đất là trung tâm của

vũ trụ- vốn là niềm tin cố hữu của nhà thờ Thêm vào đó, 95 luận đề của Martin Luther

phát động cuộc Cải cách Tin Lành (Protestant Reformation) là lời tuyên chiến trực tiếp

với quyền lực tuyệt đối của Giáo hội

Cuối thế kỉ XVIII, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 1 đã thực sự đảo lộn đời sống vật chất và tinh thần của châu Âu Sự lớn mạnh về kinh tế của giai cấp tư sản khiến

xã hội xuất hiện những quyền lực mới chi phối đời sống văn hóa Văn học bắt đầu tăng cường tính chất thế tục Xu hướng tách đời sống thế tục ra khỏi đời sống thần thánh trong văn học đã manh nha ý thức cái thực trở thành vấn đề quan trọng để đánh giá một tác phẩm Hơn nữa, những thành tựu của khoa học thực nghiệm khiến con người tràn trề niềm tin vào năng lực chinh phục tự nhiên của mình Quan điểm duy lí khiến văn học

Trang 4

mang tinh thần mới, đề cao tính sáng rõ, sự mạch lạc, logic, ngôn từ rõ ràng trong sáng và chú trọng khả năng phân tích cấu trúc đời sống xã hội cũng như đời sống tâm lí bên trong của con người Điều đó khiến ta hiểu tại sao khi cầm bút, Honoré de Balzac từng đặt cho mình mục tiêu “sẽ viết lịch sử trái tim người” một cách đầy tự tin

Yêu cầu về cái thực như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt văn học phương Tây 5 thế kỉ Trên đỉnh cao của nó, thế kỉ XVIII, Gothold Ephraim Lessing tuyên bố “Không tác phẩm

vĩ đại nào không bắt nguồn từ hiện thực” và đến tận nửa cuối thế kỉ XIX, Emile Zola- nhà lập thuyết mĩ học tự nhiên và được coi là nhà văn hiện thực lớn nhất nửa sau thế kỉ XIX-vẫn khẳng định “Mọi cái phải được đặt ra dưới ánh sáng mặt trời”

Không thể phủ nhận rằng tư tưởng duy lí đề cao thực tiễn, thúc đẩy xã hội giàu có,

ưu tiên đáp ứng sự thỏa mãn ngày càng cao của con người Nhưng điều đó lại vô tình khiến con người rơi vào cái bẫy “hợp lí hóa”, chương trình hóa Cuối thế kỉ XIX, phương Tây rơi vào khủng hoảng và phải đối diện với những thử thách kéo dài đến thế kỉ

XX khi nhận ra khía cạnh bất cập của quan điểm duy lí trong nhận thức đời sống, diễn giải đời sống Thật ra điều này đã được dự báo từ thế kỉ XVIII khi toán học nhận ra cái đã biết về thế giới là quá nhỏ so với cái ta chưa biết về nó Tiểu thuyết “Những cuộc phiêu lưu của Gulliver” của Ronathan Snift đã châm biếm niềm tin ngây thơ trong quan điểm duy lí khi mô tả cuộc tranh luận của các viện sĩ Viện Hàn lâm Lagado và các xứ sở kì lạ được thống trị bởi những con ngựa thông minh.Tư tưởng duy lí đến cuối thế kỉ XIX đã phát triển thành chủ nghĩa duy lợi, duy vật chất thù địch với đời sống tinh thần, tâm linh của con người Nietzche là người đầu tiên nói về vấn đề này, những “ảo tưởng duy lí” Ông tuyên bố “Thượng đế đã chết”.Tất nhiên hàm ý tư tưởng của triết gia vô thần này hoàn toàn không có ý phỉ báng tôn giáo Nó là một cách nói để chỉ ra chân lí không phải

ở thượng giới mà là ở trần gian Nhưng đồng thời với điều đó là hình ảnh con người trong trạng thái bơ vơ, không điểm tựa, trở thành “đao phủ của chính mình” Phương Tây rơi vào khủng hoảng “thi vị”- khi con người đã nhận ra những giới hạn của mình, rằng đời

Trang 5

sống bên cạnh những qui luật là không qui luật, bên cạnh những mối quan hệ nhân quả là không nhân quả Đặc biệt trong thế giới tinh thần con người

Như một lẽ tự nhiên, phương Tây quay về với phương Đông, tìm kiếm những giá trị nhân văn của phương Đông minh triết trên tinh thần bổ sung lí thuyết

2.2 Điều kiện và thành tựu:

Trong việc tiến dần về phương Đông một cách có ý thức, phương Tây có nhiều thuận lợi Những thành tựu của công nghệ thông tin khiến con người tiết kiệm thời gian

và công sức trong việc tiếp cận với vốn tri thức mình cần tìm kiếm Việc giao lưu Đông-Tây trong các lĩnh vực cũng khiến con người có cái nhìn cởi mở hơn, bình đẳng hơn với nền văn hóa khác mình Những thành tựu ghi nhận được gắn liền với hoạt động của các

cá nhân tiêu biểu: Nietzsche, Lev Tolstoy, Romain Rolland, Edward W Said, André Chieng

Friedrich Nietzsche (1844-1900), như đã đề cập, là người đầu tiên nói về những

“ảo tưởng duy lí” Hành trình để đi đến phát biểu: “Thượng đế đã chết” của ông đồng thời với việc cổ vũ con người đi sâu vào cái tôi cá nhân, tìm hiểu, lắng nghe chính mình Quan điểm này, rất ngẫu nhiên, lại khá tương đồng với Phật giáo, một tôn giáo đậm chất phương Đông, cũng là một trong những tôn giáo mà lúc sinh thời Nietzsche luôn tìm mọi

cơ hội để đả phá, hạ bệ, kết án

Lev Tolstoy (1828-1910) có lẽ là người phương Tây đầu tiên có khuynh hướng

quay về phương Đông khi mà “những dấu hiệu phương Đông” trong Chiến tranh và hòa

bình trở thành đề tài gây tranh cãi trong các học giả phương Tây Những nghiên cứu về

tôn giáo và chính trị như Một cuộc xưng tội, Tôn giáo của tôi, Vương quốc của Chúa là ở

bên trong bạn thể hiện rõ những ảnh hưởng của Phật giáo trong tư tưởng của ông Đấy là

chưa kể những tương đồng của Tolstoy với Lão Tử về tư tưởng Vô vi được nhà nghiên

cứu Suekane Takeo trình bày một cách công phu trong Tolstoi và Lão Tử [Đại học

Dosisia, Kioto, 1961].

Trang 6

Romain Rolland (1866 –1944), nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng người Pháp bằng những hiểu biết về châu Á qua sự tiếp xúc lâu dài với nền văn hóa Ấn Độ (gần 30 năm)

đã lên tiếng kêu gọi châu Âu: “Sau cuộc tai biến thảm khốc của cái trận thế giới chiến tranh nhục nhã ấy nó đánh dấu sự phá sản của nền văn minh châu Âu Châu Âu hiển nhiên không còn đủ sức để tự cứu chữa mình nữa Tư tưởng của họ phải cần đến tư tưởng châu Á, cũng như tư tưởng của chân Á có lợi mà tựa vào nó vậy Đấy là 2 bộ phận của một khối óc chung nhân loại Nếu một bộ phận mà tê liệt, thì toàn thể cũng suy đồi Vậy, phải cố gắng mà lập lại sự hợp nhứt và sự phát triển lành mạnh của 2 bộ phận ấy”[Dẫn

theo Thu Giang Nguyễn Duy Cần- Văn minh Đông phương và Tây phương, tr36.]

Edward Wadie Said (1935- 2003) là một nhà phê bình văn học nổi tiếng quốc

tịch Mỹ Tác phẩm Orientalism (Đông Phương luận), xuất bản 1978, của ông đã vạch ra

những ngộ nhận của phương Tây về phương Đông Vận dụng lý thuyết diễn ngôn của Foucault và quan hệ giữa diễn ngôn và quyền lực, Said đã chứng minh rằng, những quan niệm, nhận định đầy sai lạc của phương Tây về phương Đông bắt nguồn từ diễn ngôn của nhóm người phương Tây đầu tiên đặt chân lên phương Đông với vai trò là người đi chinh phục Quan điểm trọng tâm Châu Âu khiến họ nhìn phương Đông bằng cái nhìn của kẻ

bề trên Điều đó khiến nhận định của họ là thiên kiến, chủ quan, phiến diện và không ít người trong số họ đã góp phần “sáng tạo ra” nội hàm cho khái niệm “phương Đông” trong suy nghĩ của phương Tây

Đông Phương luận của Edward W.Said không đề cập đến phương Đông chung chung,

hay một phương Đông với những vùng văn hóa tiêu biểu như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản Tác phẩm này cũng không đề cập hết những đặc trưng của phương Đông như kì vọng của chúng ta về một giáo trình xã hội học Tuy nhiên những đóng góp không thể phủ nhận của tác phẩm là những khơi gợi, kích thích sự tò mò, tìm tòi về một phương Đông, như nó vốn có, của phương Tây

Trang 7

Andre Chieng(1953), người Pháp gốc Hoa, bằng sự nghiên cứu thực tiễn Trung

Hoa đương đại đã kiểm chứng và nhận ra những lí thuyết của các học giả phương Tây về Trung Hoa là chưa chuẩn xác bởi họ đã nghiên cứu Trung Hoa bằng các khái niệm

phương Tây Tác phẩm “La pratique de la Chine en compagnie de Francois Jullien”

(Bàn về thực tiễn Trung Hoa cùng với Francois Jullien), xuất bản 2006, là một cuộc đối

thoại với phương Tây về Trung Hoa từ cái nhìn của một người Trung Hoa nhận được nền giáo dục, văn hóa của phương Tây Tác phẩm của ông đặt ra câu hỏi: tính phổ quát của trí năng phương Tây thể hiện trong những thành tự khoa học tự nhiên và công nghệ là điều hiển nhiên Nhưng trong triết học, trong những lĩnh vực khoa học xã hội, đặt biệt là

khoa học nhân văn, những phương thức tư duy, những nếp nghĩ của phương Tây phải

chăng cũng có giá trị phổ quát như họ nghĩ? Phải chăng những luật, những chân lí họ đề

ra trong những lĩnh vực phải được xem là căn cứ tham chiếu duy nhất? A.Chieng đã

vạch ra, giữa Trung Quốc và phương Tây có sự khác biệt về “văn hóa”(culture), cái được gọi là văn hóa ở đây là những phương thức tư duy hay là những hệ tư duy (système de

pensée), phương Tây là hệ tư duy hướng về chân lí (culture de la vérité) đối lập với Trung Hoa là hệ tư duy hướng về dịch lí (culture de la transformation) Dịch lí trong

văn hóa Trung Hoa chính là sự biến hóa uyển chuyển, linh hoạt trong thực tiễn chứ không khuôn khổ cứng nhắc Dịch lí chính là Đạo, một khái niệm thường được các nhà minh triết Trung Hoa đề cập Bằng việc chỉ ra sự khác biệt này, A.Chieng đã chỉ ra sự phiến diện của phương Tây khi so sánh khập khiễng phương Đông với mình để đi đến kết luận rằng đó là những người phi lí Không đề cập đến E.W Said nhưng theo chúng tôi,

tư tưởng của Andre Chieng chính là sự nối dài con đường mà Said đã gợi mở từ 1978

Trang 8

PHẦN 2: BÀI TẬP CUỐI KÌ

1 Tiêu điểm nghiên cứu của một số trường phái phê bình văn học phương Tây

Trong phạm vi chuyên đề “Các trường phái phê bình văn học phương Tây”, chúng tôi được giới thiệu kĩ 5 trường phái của kỷ nguyên hiện đại và hậu hiện đại là: Phê bình Nữ quyền, Phê bình Đồng tính, Phê bình Giải cấu trúc, Phê bình Hậu thực dân và Phê bình Sinh thái Với các hiện tượng văn học, mỗi trường phái phê bình này đều xác định tiêu điểm nghiên cứu khác nhau

a Phê bình Nữ quyền tập trung khám phá về sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trong đời sống văn học

b Phê bình Đồng tính đi tìm các yếu tố giới tính và phái tính trong tác phẩm văn học

c Phê bình Giải cấu trúc đi tìm ý nghĩa của các tương quan trong và ngoài văn học Tra vấn về tính liên văn bản của tác phẩm

d Phê bình Hậu thực dân đi tìm trong tác phẩm văn học các dấu vết của chính sách thực dân

e Phê bình Sinh thái vận dụng những kiến thức từ sinh thái học để cắt nghĩa các hiện tượng văn học

2 Vận dụng:

NGUYỄN NHẬT ÁNH-NHÌN TỪ LÍ THUYẾT “TRƯỜNG” CỦA PIERRE BOURDIE

I DẪN NHẬP

Ngày 28/2/2016 quyển sách Con chó nhỏ mang giỏ hoa hồng của nhà văn Nguyễn

Nhật Ánh mới phát hành nhưng từ trước đó, 14 đơn vị phát hành đã đặt hàng Nhà xuất bản Trẻ hơn 70.000 cuốn để chờ tung ra phục vụ độc giả Trong lần in đầu tiên, Nhà xuất

Trang 9

bản Trẻ đã in 100.000 quyển Chưa kể 5000 ấn bản đặc biệt bìa cứng đã được đặt hàng hết trước ngày ra mắt sách Một con số phát hành khá lớn trong bối cảnh thị trường sách hiện nay-khi mà không ít tập thơ in 500 quyển chủ yếu không phải để bán mà là để…tác giả tặng bạn bè Nhưng đây không phải là trường hợp cá biệt trong sự nghiệp sáng tác của ông Các tác phẩm cũ của nhà văn được yêu thích nhất trong 20 năm (1975-1995), 30

năm (1975-2005) luôn được tái bản thường xuyên Tôi là Bêtô - viết năm 2007, năm

2013 đã in lần thứ 23 - 3.000 bản Cho tôi một vé đi tuổi thơ viết năm 2008 –năm 2013 đã

in lần thứ 38 - 5.000 bản Có hai con mèo ngồi bên cửa sổ (mới ra năm 2012) - năm 2013

đã in lần thứ 13 - 3.000 bảni

Không thể phủ nhận Nguyễn Nhật Ánh là hiện tượng xuất bản mà chắc phải lâu lắm nữa, Việt Nam mới có một tác giả văn học vượt qua được Trong phạm vi bài viết, chúng tôi thử đưa ra một vài tìm hiểu về hiện tượng này dưới góc nhìn phê bình xã hội học theo lí thuyết “trường ” của Pierre Bourdieu

II NỘI DUNG

II.1 Nhà văn có duyên với kỉ lục xuất bản

Nguyễn Nhật Ánh sinh ngày7 tháng 5 năm 1955 tại xã Bình Quế, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam Thuở nhỏ ông theo học tại các trường Tiểu La, Trần Cao Vân và Phan Chu Trinh Từ 1973 Nguyễn Nhật Ánh chuyển vào sống tại Sài Gòn, theo học ngành sư phạm Ông đã từng đi Thanh niên xung phong, dạy học, làm công tác Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh Từ 1986 đến nay ông là phóng viên nhật báo Sài Gòn Giải Phóng, lần lượt viết về sân khấu, phụ trách mục tiểu phẩm, phụ trách trang thiếu nhi và hiện nay là bình luận viên thể thao trên báo Sài Gòn Giải Phóng Chủ nhật với bút danh Chu Đình Ngạn

Khởi đầu sự nghiệp bằng thơ ca với các tập thơ : Thành phố tháng Tư (in chung với Lê Thị Kim, 1984), Đầu xuân ra sông giặt áo (1986), Thơ tình Nguyễn Nhật Ánh (1988) Nàng thơ vẫn hành trình cùng ông để đến năm 1994, ông xuất bản thêm Lễ hội

của đêm đen và Tứ tuyệt cho nàng Thế nhưng, những vinh quang ông nhận được lại

Trang 10

phải chờ đến khi ông chạm vào một loại thể văn học khác: văn xuôi, mà cụ thể là những tác phẩm văn xuôi viết cho trẻ em, đủ mọi lứa tuổi

Một cách nói vui, nếu xếp chồng lên nhau, những tác phẩm đã xuất bản của Nguyễn Nhật Ánh sẽ cao hơn chính ông Điều đó không phải là không có cơ sở khi mà gia tài sáng tác của ông thật đồ sộ với các tác phẩm truyện dài, truyện ngắn, thơ, tạp văn Thử xếp theo năm xuất bản, ta có 46 đầu sách cho 33 năm cầm bút:

1 Thành phố tháng tư (thơ, in chung với Lê Thị Kim, 1984)

2 Trước vòng chung kết (truyện dài, 1984)

3 Cú phạt đền (truyện ngắn, 1985)

4 Đầu xuân ra sông giặt áo (thơ, 1986)

5 Trò chơi lãng mạn của tình yêu (tập truyện, 1987)

6 Chuyện cổ tích dành cho người lớn (tập truyện, 1987)

7 Bàn có năm chỗ ngồi (truyện dài, 1987)

8 Còn chút gì để nhớ (truyện dài, 1988)

9 Bí mật của một võ sĩ (tập truyện, 1989)

10 Cô gái đến từ hôm qua (truyện dài, 1989)

11 Chú bé rắc rối (truyện dài, 1989)

12 Nữ sinh (truyện dài, 1989)

13 Thiên thần nhỏ của tôi (truyện dài, 1990)

14 Phòng trọ ba người (truyện dài, 1990)

15 Mắt biếc (truyện dài, 1990)

Ngày đăng: 11/03/2019, 23:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w